Hai Vạn Dặm Dưới Đáy Biển
Một Cuộc Du Hành Dưới Nước Vòng Quanh Thế Giới
Jules Verne
[OBS] Twenty Thousand Leagues Under the Seas: An Underwater Tour of the World
Bản dịch Gutenberg đã hoàn tất. Bạn có thể đọc theo bố cục EPUB, đọc text thuần, hoặc nghe từng block audio ngay trong thư viện.
Tác giả
Verne, Jules, 1828-1905; Walter, Frederick Paul, 1943-2024 [Translator]; Winter, Milo, 1888-1956 [Illustrator]
Ngôn ngữ
en
Blocks
24
Preserved structure
EPUB reader
“Những nơi sâu thẳm nhất của đại dương hoàn toàn xa lạ với chúng ta,” Giáo sư Aronnax thừa nhận ngay ở phần đầu cuốn tiểu thuyết này. “Điều gì diễn ra nơi những vực sâu xa xôi ấy? Những sinh vật nào cư ngụ, hay có thể cư ngụ, ở những miền mười hai hoặc mười lăm dặm bên dưới mặt nước? Điều ấy hầu như vượt khỏi mọi phỏng đoán.”
Jules Verne (1828-1905) đã công bố những câu tương đương bằng tiếng Pháp ấy vào năm 1869, và từ đó đến nay chẳng mấy điều thay đổi. 126 năm sau, một bài viết trang bìa của Time về thám hiểm biển sâu cũng đưa ra lời thừa nhận gần như tương tự: “Chúng ta biết về sao Hỏa nhiều hơn biết về các đại dương.” Thực tại này phần nào giải thích sức mạnh u tối và sức mê hoặc như thuộc về thế giới khác của Hai Vạn Dặm Dưới Đáy Biển.
Sinh ra tại thành phố ven sông Nantes của nước Pháp, Verne mang trong mình niềm say mê biển cả suốt đời. Thoạt đầu là một nhà môi giới chứng khoán ở Paris, về sau là một tác giả lừng danh kiêm người chơi du thuyền, ông thường xuyên thực hiện những chuyến hải hành—đến Anh, Mỹ, Địa Trung Hải. Nhưng kích thích cụ thể cho cuốn tiểu thuyết này là một lá thư hâm mộ năm 1865 từ một nhà văn đồng nghiệp, bà George Sand. Bà ca ngợi hai tiểu thuyết đầu tay của Verne, Năm Tuần Trên Khinh Khí Cầu (1863) và Hành Trình Vào Tâm Trái Đất (1864), rồi viết thêm: “Tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa ông sẽ đưa chúng tôi xuống những vực sâu đại dương, để các nhân vật của ông du hành trong những bộ đồ lặn được khoa học và trí tưởng tượng của ông hoàn thiện.” Được gợi hứng như thế, Verne đã sáng tạo nên một trong những kẻ nổi loạn vĩ đại của văn chương, một chiến sĩ tự do lao mình xuống dưới làn sóng để tiến hành một hình thức chiến tranh du kích độc nhất vô nhị.
Ban đầu, tự sự của Verne chịu ảnh hưởng từ cuộc khởi nghĩa năm 1863 của Ba Lan chống lại nước Nga Sa hoàng. Người Ba Lan bị đàn áp bằng một thứ bạo lực khiến không chỉ Verne mà cả châu Âu đều kinh hoàng. Theo ý tưởng ban đầu, Thuyền trưởng Nemo của Verne là một quý tộc Ba Lan có cả gia đình bị quân đội Nga tàn sát. Nemo chế tạo một chiếc tàu ngầm tương lai kỳ vĩ, chiếc Nautilus, rồi phát động một chiến dịch báo thù dưới nước chống lại kẻ áp bức đế quốc của mình.
Nhưng trong thập niên 1860, Pháp phải đối xử với Sa hoàng như một đồng minh, và nhà xuất bản của Verne, Pierre Hetzel, tuyên bố cuốn sách không thể in được. Verne phải chỉnh sửa lại nội dung chính trị của nó, nghĩ ra những quốc tịch mới cho Nemo và kẻ thù lớn của ông—những thông tin chỉ được tiết lộ trong một tiểu thuyết về sau, Hòn Đảo Bí Ẩn (1875); còn trong tác phẩm hiện tại, lai lịch của Nemo vẫn là một bí mật u tối. Nhìn chung, cuốn tiểu thuyết đã trải qua một quá trình thai nghén khó nhọc. Verne và Hetzel thường xuyên xung đột, cuốn sách phải qua nhiều bản thảo, những vật lộn ấy phản chiếu trong mấy nhan đề dự kiến của nó trong giai đoạn 1865-69: thuở đầu, nó lần lượt được gọi là Chuyến Du Hành Dưới Làn Nước, Hai Mươi Lăm Nghìn Dặm Dưới Làn Nước, Hai Mươi Nghìn Dặm Dưới Làn Nước, và Một Nghìn Dặm Dưới Các Đại Dương.
Verne thường được gọi, theo cách nói của Isaac Asimov, là “nhà văn khoa học viễn tưởng đầu tiên của thế giới.” Và quả thật, nhiều trong số hơn sáu mươi cuốn sách của ông đã dự báo các sự kiện và công nghệ tương lai: Từ Trái Đất Đến Mặt Trăng (1865) và Hector Servadac (1877) nói về du hành không gian, còn Hành Trình Vào Tâm Trái Đất miêu tả chuyến đi vào lõi địa cầu. Nhưng với Verne, từ khóa vận hành là “du hành”, và một số nhan đề nổi tiếng nhất của ông thật ra không hẳn thuộc về khoa học viễn tưởng: Vòng Quanh Thế Giới Trong Tám Mươi Ngày (1872) và Michael Strogoff (1876) gần với “du ký” hơn—những câu chuyện phiêu lưu ở các miền xa lạ.
Những nhận xét ấy phần nào cũng áp dụng ở đây. Phụ đề của cuốn sách này là Một Cuộc Du Hành Dưới Nước Vòng Quanh Thế Giới, vì thế, đúng theo phong cách du ký, các kỳ công của chiếc Nautilus tạo nên một tuyến truyện theo từng hồi. Những cuộc tấn công của cá mập, mực khổng lồ, thổ dân ăn thịt người, bão tố, săn cá voi, và những cuộc phiêu lưu sôi nổi khác bùng phát gần như ngẫu nhiên. Thế nhưng cấu trúc lỏng này lại đem cho cuốn tiểu thuyết một vẻ hiện thực như phim tài liệu. Hơn nữa, Verne tạo xương sống cho hành động bằng cách phát triển ba mô-típ tái diễn: bí ẩn ngày càng sâu về đời trước và ý định tương lai của Nemo, căng thẳng gia tăng giữa Nemo và người phóng lao nóng nảy Ned Land, cùng những mưu tính liên tục của Ned nhằm trốn khỏi chiếc Nautilus. Những sợi dây thống nhất này siết chặt tự sự và đẩy nhanh đà chuyển động của nó.
Những nét tinh vi khác hiện ra bên trong từng hồi, với những lớp chất liệu lấp lánh trí tuệ, thông tin và minh kiến. Verne nhìn biển cả từ nhiều góc độ: trong lĩnh vực sinh học biển, ông cho ta những phác họa ngắn gọn về cá, vỏ sò, san hô, đôi khi bằng những bảng liệt kê dài cuộn qua như những thác nhạc; trong địa chất học, ông nghiên cứu núi lửa theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, từ trong ra ngoài; trong thế giới thương mại, ông tán dương những nhà doanh nghiệp đầy năng lực đã đặt Cáp Đại Tây Dương hay đào Kênh Suez. Và kỹ thuật hàng hải của Verne tỏ ra đặc biệt xác đáng. Các thông số ông đưa ra cho một tàu ngầm đại dương và một bộ đồ lặn tự cung tự cấp đã đi trước thời đại hàng chục năm, vậy mà công nghệ hiện đại đã chứng thực chúng một cách rực rỡ.
Đúng là các nhà khoa học ngày nay biết vài điều mà ông chưa biết: Nam Cực không nằm ở mép nước mà ở sâu trong nội địa; cá mập không lật ngửa trước khi tấn công; mực khổng lồ có mười xúc tu chứ không phải tám; cá nhà táng không săn những họ hàng có tấm sừng hàm của mình. Dẫu vậy, Verne đã đem đến chân dung gợi cảm nhất về những vực sâu đại dương trước khi Jacques Cousteau và phim màu technicolor xuất hiện.
Sau cùng, cuốn sách còn có tầm vóc như một tiểu thuyết về tính cách. Ngay cả dàn nhân vật phụ cũng được khắc họa sắc sảo: Giáo sư Aronnax, nhà khoa học chuyên nghiệp mắc kẹt trong một xung đột đạo đức; Conseil, người phân loại đầy ám ảnh chuyên cung cấp những câu kết hài hước cho các dữ kiện nhanh của Verne; người phóng lao Ned Land, một sinh thể của những thèm muốn thường trực, con người như một loài thú anh hùng.
Nhưng phần lớn sức mạnh trầm uất của cuốn tiểu thuyết đến từ Thuyền trưởng Nemo. Nhà phát minh, nhạc sĩ, thiên tài kiểu Phục Hưng, ông là một sáng tạo mở đường, nguyên mẫu không chỉ cho vô số nhà khoa học phản nghịch trong văn chương đại chúng, mà thậm chí còn cho những nhân vật khác biệt như Sherlock Holmes hay Wolf Larsen. Tuy nhiên, Verne trao cho trí tuệ và lòng nhân ái của người anh hùng ấy một mặt tối—mối căm hận ám ảnh đối với kẻ thù xưa. Sự cưỡng bách này dẫn Nemo vào những mâu thuẫn xấu xí: ông là chiến sĩ đấu tranh cho tự do, vậy mà tất cả những ai bước lên tàu của ông đều bị giam cầm ở đó vĩnh viễn; ông ra tay cứu mạng sống, cả người lẫn vật, vậy mà chính ông lại tạo ra một cuộc hủy diệt; ông ghê tởm chủ nghĩa đế quốc, vậy mà lại tự nhận Nam Cực là của riêng mình. Và trong hành động cuối cùng ấy, ông sa vào tội lỗi cổ điển của Kiêu Ngạo. Ông nhanh chóng bị trừng phạt. Chiếc Nautilus suýt bỏ mạng ở Nam Cực, và Nemo chìm vào một cơn suy sụp ngày càng nặng.
Như vua Lear của Shakespeare, ông ve vãn cái chết và cơn điên trong một trận bão lớn, rồi phạm tội sát nhân hàng loạt, gục xuống trong trạng thái tê liệt câm lặng, và như tự sát, lái con tàu của mình vào xoáy nước nguy hiểm nhất đại dương. Lòng thù hận nuốt trọn ông.
Vì thế, đối với nhiều người, cuốn sách này đã là một nguồn mê hoặc, chắc chắn là một trong những tiểu thuyết có ảnh hưởng lớn nhất từng được viết ra, nguồn cảm hứng cho các nhà khoa học và nhà khám phá như kỹ sư Simon Lake, nhà hải dương học William Beebe, nhà thám hiểm địa cực Sir Ernest Shackleton. Tương tự, Tiến sĩ Robert D. Ballard, người tìm thấy xác tàu Titanic chìm dưới biển, thừa nhận đây là cuốn sách ông yêu thích nhất khi còn là thiếu niên, và chính Cousteau, nhà thám hiểm biển nổi danh nhất, đã gọi nó là cuốn kinh thánh trên tàu của mình.
Bản dịch hiện tại là một chuyển ngữ trung thành nhưng truyền đạt rõ ràng từ các văn bản tiếng Pháp nguyên bản do J. Hetzel et Cie. xuất bản tại Paris—bản in đầu bìa cứng phát hành vào mùa thu năm 1871, được đối chiếu với các bản bìa mềm của Phần Thứ Nhất và Phần Thứ Hai phát hành riêng vào mùa thu năm 1869 và mùa hè năm 1870. Dù các bản tiếng Anh trước đây thường bị lược bỏ nặng nề, bản dịch mới này hoàn chỉnh đến từng chi tiết nội dung nhỏ nhất.
Bởi vì, như bài viết trang bìa của Time kia gợi ý, chúng ta vẫn chưa bắt kịp Verne. Ngay cả trong thời đại của chảo vệ tinh và trò chơi điện tử, biển cả vẫn giữ kín các bí mật của mình. Chúng ta đã tiến bộ trong sonar, ngư lôi và những cỗ máy hiếu chiến khác, nhưng các thủy thủ và nhà khoa học—chưa nói đến du khách—vẫn chưa từng du hành trong một chiếc tàu ngầm có sự xa hoa và hiệu quả như chiếc Nautilus.
F. P. WALTER
Đại học Houston
### CHƯƠNG 1
Một rạn đá biết chạy
NĂM 1866 được đánh dấu bằng một biến cố kỳ dị, một hiện tượng không giải thích được và thật sự không thể nào giải thích nổi, chắc chắn chưa ai quên. Không cần đi sâu vào những lời đồn đã làm dân chúng ở các hải cảng hoang mang và khiến đầu óc công chúng, ngay cả sâu trong nội địa, cũng rối loạn, vẫn phải nói rằng giới đi biển chuyên nghiệp đặc biệt kinh hãi. Các thương nhân, chủ tàu, thuyền trưởng tàu biển, chủ thuyền và thuyền trưởng lão luyện ở châu Âu và châu Mỹ, sĩ quan hải quân của mọi quốc gia, và theo sau họ là các chính phủ khác nhau trên hai lục địa ấy, tất cả đều hết sức xôn xao vì vụ việc này.
Về thực chất, trong một thời gian, nhiều con tàu đã gặp trên biển “một vật khổng lồ”, một vật thể dài hình thoi, đôi khi phát ra ánh lân quang, to lớn và nhanh hơn bất cứ con cá voi nào không biết bao nhiêu lần.
Những dữ liệu liên quan đến bóng dáng hiện hình ấy, như được ghi trong nhiều nhật ký hàng hải khác nhau, khá thống nhất với nhau về cấu trúc của vật thể hay sinh vật đang được nói tới, về tốc độ di chuyển chưa từng thấy của nó, về năng lực vận động đáng kinh ngạc, và về sức sống độc nhất vô nhị mà nó dường như được ban cho. Nếu đó là một loài cá voi, thì về khối lượng nó vượt xa bất cứ loài cá voi nào khoa học từng phân loại. Không một nhà tự nhiên học nào, dù là Cuvier hay Lacépède, dù là Giáo sư Dumeril hay Giáo sư de Quatrefages, lại chấp nhận sự tồn tại của một con quái vật như thế khi chưa tận mắt thấy nó—cụ thể là chưa được nhìn thấy bằng chính đôi mắt khoa học của họ.
Nếu lấy trung bình các quan sát thực hiện vào những thời điểm khác nhau—gạt bỏ những ước lượng rụt rè cho rằng vật thể ấy dài 200 foot, và bỏ qua những nhận định phóng đại thấy nó rộng một dặm, dài ba dặm—người ta vẫn có thể khẳng định rằng sinh vật phi thường này, nếu quả thật nó tồn tại, vượt xa mọi kích thước của bất cứ loài nào khi ấy các nhà ngư học từng biết đến.
Thế nhưng, nó đã tồn tại, đó là một sự thật không thể chối cãi; và vì tâm trí con người vốn say mê những đối tượng kỳ diệu, ta có thể hiểu được sự náo động khắp thế giới do bóng dáng hiện hình không thuộc về cõi trần ấy gây ra. Còn việc xếp nó vào địa hạt hư cấu, lời cáo buộc ấy đành phải bị gạt bỏ.
Về thực chất, ngày 20 tháng 7 năm 1866, tàu hơi nước Governor Higginson của Công ty Hàng hải Hơi nước Calcutta & Burnach đã gặp khối di động này cách bờ đông Australia năm dặm.
Thoạt đầu, Thuyền trưởng Baker tưởng mình đang đứng trước một rạn đá chưa từng được biết đến; ông thậm chí sắp sửa xác định vị trí chính xác của nó thì hai cột nước bắn vọt ra từ vật thể không thể giải thích ấy và rít lên lao vào không trung chừng 150 foot. Vậy nên, trừ phi rạn đá này chịu những đợt phun gián đoạn của một mạch nước nóng, chiếc Governor Higginson hẳn đã giao thiệp công bằng và thành thật với một loài thú có vú dưới nước, cho đến lúc ấy chưa từng được biết đến, có khả năng phun từ lỗ thở của nó những cột nước pha lẫn không khí và hơi nước.
Những sự kiện tương tự cũng được quan sát ở các vùng biển Thái Bình Dương, vào ngày 23 tháng 7 cùng năm ấy, bởi chiếc Christopher Columbus của Công ty Hàng hải Hơi nước West India & Pacific. Do đó, loài cá voi phi thường này có thể tự chuyển dịch từ nơi này sang nơi khác với tốc độ đáng kinh ngạc, bởi chỉ trong khoảng thời gian ba ngày, chiếc Governor Higginson và chiếc Christopher Columbus đã quan sát thấy nó tại hai vị trí trên hải đồ cách nhau hơn 700 dặm biển.
Mười lăm ngày sau và cách đó 2.000 dặm, chiếc Helvetia của Compagnie Nationale và chiếc Shannon thuộc tuyến Royal Mail, đang chạy theo hai hướng ngược nhau trong phần Đại Tây Dương nằm giữa Hoa Kỳ và châu Âu, lần lượt báo hiệu cho nhau rằng con quái vật đã được trông thấy ở vĩ độ 42 độ 15′ bắc và kinh độ 60 độ 35′ tây so với kinh tuyến Greenwich. Từ các quan sát đồng thời của họ, họ có thể ước lượng chiều dài tối thiểu của con thú có vú ấy là hơn 350 foot Anh;\* bởi cả chiếc Shannon lẫn chiếc Helvetia đều có kích thước nhỏ hơn, dù mỗi chiếc đo từ mũi đến đuôi tàu cũng dài 100 mét. Thế mà những con cá voi lớn nhất, tức những con cá voi rorqual thường lui tới các thủy lộ thuộc quần đảo Aleutian, chưa bao giờ vượt quá chiều dài 56 mét—nếu chúng có đạt đến mức ấy.
\*Ghi chú của tác giả: Khoảng 106 mét. Một foot Anh chỉ bằng 30,4 xentimét.
Hết báo cáo này đến báo cáo khác kéo đến và gây ảnh hưởng sâu sắc đến dư luận: những quan sát mới do tàu khách xuyên Đại Tây Dương Pereire thực hiện, chiếc Etna của tuyến Inman va phải con quái vật, một báo cáo chính thức do các sĩ quan trên tàu hộ vệ Pháp Normandy lập ra, những phép tính hết sức nghiêm túc do ban tham mưu của Chuẩn tướng Fitz-James trên tàu Lord Clyde thu thập. Ở những xứ sở nhẹ dạ, người ta bông đùa về hiện tượng này, nhưng những quốc gia nghiêm cẩn, thực tế như Anh, Mỹ và Đức thì hết sức quan ngại.
Trong mọi thành phố lớn, con quái vật trở thành cơn sốt mới nhất; người ta hát về nó trong các quán cà phê, chế giễu nó trên báo chí, đưa nó lên sân khấu. Báo lá cải xem đây là một cơ hội tốt để ấp nở đủ thứ trò bịp. Trên những tờ báo thiếu tin bài, người ta thấy mọi sinh vật tưởng tượng khổng lồ tái xuất hiện, từ “Moby Dick”, con cá voi trắng đáng sợ ở các vùng cực bắc, cho đến con kraken kinh khủng có những xúc tu quấn được một con tàu 500 tấn và kéo nó xuống đáy đại dương. Người ta thậm chí còn in lại các báo cáo từ thời cổ đại: những ý kiến của Aristotle và Pliny chấp nhận sự tồn tại của các quái vật như thế, rồi những truyện kể Na Uy của Giám mục Pontoppidan, các tường thuật của Paul Egede, và cuối cùng là các báo cáo của Thuyền trưởng Harrington—người có thiện chí không thể bị nghi ngờ—trong đó ông khẳng định đã thấy, khi ở trên tàu Castilian năm 1857, một trong những con rắn khổng lồ mà cho đến lúc ấy chỉ thường lui tới các vùng biển của tờ báo cực đoan cũ ở Pháp, The Constitutionalist.
Một cuộc tranh luận bất tận khi ấy bùng lên giữa những người tin và những kẻ hoài nghi trong các hội học thuật và tạp chí khoa học. “Vấn đề quái vật” làm mọi đầu óc bốc cháy. Trong chiến dịch đáng nhớ ấy, các nhà báo lấy khoa học làm nghề giao chiến với những người lấy óc dí dỏm làm nghề, làm đổ từng đợt sóng mực và có người còn đổ cả hai ba giọt máu, vì từ rắn biển họ chuyển sang những lời công kích cá nhân xúc phạm nhất.
Trong sáu tháng, cuộc chiến giằng co. Với lòng hăng hái không cạn, báo chí bình dân nhắm bắn vào các bài chuyên đề của Viện Địa lý Brazil, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Berlin, Hiệp hội Anh quốc, Viện Smithsonian ở Washington, D.C., vào những cuộc thảo luận trên The Indian Archipelago, trên Cosmos do Cha Moigno xuất bản, trên Petermann’s Mittheilungen,\* và vào các chuyên mục khoa học trong những tờ báo lớn của Pháp cũng như nước ngoài. Khi những người bài bác con quái vật viện dẫn câu nói của nhà thực vật học Linnaeus rằng “tự nhiên không nhảy vọt”, các cây bút dí dỏm trên những tạp chí bình dân liền nhại lại, về thực chất khẳng định rằng “tự nhiên không sinh ra lũ điên”, và ra lệnh cho người đương thời của họ đừng bao giờ vu oan cho tự nhiên bằng cách tin vào kraken, rắn biển, “Moby Dick” và những nỗ lực đến cùng khác của các thủy thủ say rượu. Sau cùng, trong một tạp chí trào phúng rất đáng sợ, một bài viết của cây bút chuyên mục được yêu thích nhất đã kết liễu con quái vật hẳn hoi, hắt hủi nó theo phong cách Hippolytus cự tuyệt những lời tán tỉnh si mê của mẹ kế Phaedra, và đưa sinh vật ấy vào cõi im lặng giữa một tràng cười vang khắp thiên hạ. Óc dí dỏm đã đánh bại khoa học.
\*Tiếng Đức: “Tập san.” BTV.
Trong những tháng đầu năm 1867, vấn đề dường như đã bị chôn vùi, và tưởng như không còn cơ hội sống lại, thì những sự kiện mới được đưa ra trước công chúng. Nhưng lúc này không còn là chuyện một vấn đề khoa học cần giải quyết nữa, mà là một mối nguy rất thực và nghiêm trọng cần tránh né. Vấn đề rẽ sang một hướng hoàn toàn mới. Con quái vật lại trở thành một đảo nhỏ, tảng đá, hay rạn đá, nhưng là một rạn đá biết chạy, không cố định và khó nắm bắt.
Ngày 5 tháng 3 năm 1867, chiếc Moravian của Công ty Montreal Ocean, trong đêm ở vĩ độ 27 độ 30′ và kinh độ 72 độ 15′, đã để phần hông mạn phải phía đuôi va phải một tảng đá không được đánh dấu trên bất cứ hải đồ nào của các thủy lộ ấy. Dưới sức kết hợp của gió và máy hơi nước 400 mã lực, nó đang đi với tốc độ mười ba nút. Nếu không nhờ chất lượng cao của thân tàu, chiếc Moravian chắc chắn đã toác ra vì cú va chạm ấy và chìm xuống cùng 237 hành khách mà nó đang đưa từ Canada trở về.
Tai nạn này xảy ra khoảng năm giờ sáng, đúng lúc ngày bắt đầu rạng. Các sĩ quan trực gác vội chạy về phía đuôi tàu. Họ xem xét mặt biển với sự cẩn trọng tột cùng. Họ chẳng thấy gì ngoài một xoáy nước mạnh đang tan vỡ cách đó ba tầm dây cáp, như thể những lớp nước ấy vừa bị khuấy động dữ dội. Phương vị chính xác của địa điểm được ghi lại, và chiếc Moravian tiếp tục hành trình, bề ngoài xem ra không hư hại. Nó đã va phải một tảng đá ngầm hay mảnh vỡ của một xác tàu khổng lồ trôi dạt nào đó? Họ không thể nói được. Nhưng khi kiểm tra phần đáy tàu trong xưởng sửa chữa, người ta phát hiện một phần sống tàu đã bị đập nát.
Sự việc này, tự thân đã hết sức nghiêm trọng, có lẽ cũng sẽ bị quên đi như biết bao sự việc khác, nếu ba tuần sau nó không được tái diễn trong những điều kiện y hệt. Chỉ có điều, nhờ quốc tịch của con tàu trở thành nạn nhân trong cú húc mới này, và nhờ danh tiếng của công ty sở hữu con tàu ấy, sự kiện đã gây nên một tiếng vang khổng lồ.
Không ai là không biết tên nhà chủ tàu Anh quốc nổi tiếng ấy, Cunard. Năm 1840, nhà công nghiệp sắc sảo này đã sáng lập một tuyến dịch vụ bưu chính giữa Liverpool và Halifax, gồm ba con tàu gỗ có bánh guồng 400 mã lực và trọng tải 1.162 tấn mét. Tám năm sau, tài sản của công ty được tăng thêm bốn con tàu 650 mã lực, trọng tải 1.820 tấn mét, và thêm hai năm nữa lại có hai tàu khác với công suất và trọng tải còn lớn hơn. Năm 1853, Công ty Cunard, vừa được gia hạn hợp đồng chở thư, lần lượt bổ sung vào tài sản của mình các tàu Arabia, Persia, China, Scotia, Java và Russia, tất cả đều là những con tàu có tốc độ hàng đầu và, sau chiếc Great Eastern, là những tàu lớn nhất từng rẽ sóng biển khơi. Vì thế, năm 1867 công ty này sở hữu mười hai con tàu, tám chiếc dùng bánh guồng và bốn chiếc dùng chân vịt.
Nếu tôi đưa ra những chi tiết đã được rút gọn tối đa này, đó là để mọi người có thể hiểu đầy đủ tầm quan trọng của công ty vận tải biển này, vốn nổi tiếng khắp thế giới nhờ cung cách quản trị khôn khéo. Không một doanh nghiệp hàng hải xuyên đại dương nào được điều hành với năng lực lớn hơn, không một cuộc làm ăn nào được thành công rực rỡ hơn. Trong hai mươi sáu năm, tàu của Cunard đã thực hiện 2.000 chuyến vượt Đại Tây Dương mà không hủy một chuyến, không ghi nhận một lần chậm trễ, không mất một người, một con tàu, hay thậm chí một lá thư. Vì vậy, bất chấp sự cạnh tranh mạnh mẽ từ Pháp, hành khách vẫn chọn tuyến Cunard hơn tất cả các tuyến khác, như có thể thấy trong một cuộc khảo sát gần đây các tài liệu chính thức. Xét như thế, sẽ chẳng ai ngạc nhiên trước sự náo động do tai nạn liên quan đến một trong những tàu hơi nước đẹp nhất của công ty ấy gây ra.
Ngày 13 tháng 4 năm 1867, trong điều kiện biển êm và gió vừa, chiếc Scotia ở kinh độ 15 độ 12′ và vĩ độ 45 độ 37′. Nó đang đi với tốc độ 13,43 nút dưới sức đẩy của các động cơ 1.000 mã lực. Các bánh guồng của nó khuấy biển với sự đều đặn hoàn hảo. Khi ấy nó chìm dưới nước 6,7 mét và chiếm chỗ 6.624 mét khối nước.
Vào lúc 4 giờ 17 phút chiều, trong buổi trà chiều dành cho hành khách tụ họp ở phòng khách chính, một cú va chạm xảy ra, nhìn chung hầu như không nhận thấy, tác động vào thân chiếc Scotia ở phần hơi lùi về phía sau bánh guồng mạn trái.
Chiếc Scotia không va phải một vật gì, mà bị một vật gì va vào, và là bởi một dụng cụ cắt hay khoan thủng hơn là một vật tù. Cuộc chạm trán này có vẻ nhỏ đến mức không ai trên tàu phải xao động vì nó, nếu không có tiếng kêu của những thủy thủ dưới hầm tàu, leo lên boong và la lớn:
“Chúng ta đang chìm! Chúng ta đang chìm!”
Thoạt đầu hành khách khá hoảng sợ, nhưng Thuyền trưởng Anderson vội trấn an họ. Thực ra, không thể có nguy hiểm tức thời. Được chia thành bảy khoang bằng các vách ngăn kín nước, chiếc Scotia có thể ngang nhiên đương đầu với bất cứ chỗ rò nào.
Thuyền trưởng Anderson lập tức xuống hầm tàu. Ông phát hiện khoang thứ năm đã bị nước biển tràn vào, và tốc độ nước xâm nhập chứng tỏ vết rò rất đáng kể. May thay, khoang này không chứa các nồi hơi, vì nếu có, các lò đốt của chúng đã bị dập tắt đột ngột.
Thuyền trưởng Anderson lập tức ra lệnh dừng tàu, và một thủy thủ của ông lặn xuống để đánh giá hư hại. Chỉ trong chốc lát, họ đã phát hiện một lỗ thủng rộng hai mét ở đáy tàu hơi nước. Một vết rò như thế không thể vá được, và với các bánh guồng đã bị nước ngập một nửa, chiếc Scotia không còn lựa chọn nào ngoài việc tiếp tục chuyến đi. Khi ấy nó cách Cape Clear 300 dặm, và sau ba ngày chậm trễ khiến Liverpool lo lắng dữ dội, nó tiến vào ụ tàu của công ty.
Các kỹ sư khi ấy tiến hành kiểm tra chiếc Scotia, đã được đưa vào ụ khô. Họ không thể tin vào mắt mình. Cách đường nước hai mét rưỡi bên dưới, há ra một vết rạch cân xứng có hình tam giác cân. Chỗ thủng trên tấm sắt ấy được tạo thành hoàn hảo đến mức không một cái đột nào có thể làm gọn hơn. Do đó, hẳn nó phải do một công cụ khoan thủng có độ cứng khác thường gây ra—hơn nữa, sau khi được phóng đi với sức mạnh phi thường rồi xuyên qua bốn xentimét tôn sắt, công cụ này còn phải tự rút lui bằng một chuyển động ngược thật sự không thể giải thích.
Đó là giọt nước tràn ly, và hậu quả là khơi dậy trở lại mọi đam mê của công chúng. Quả thật, kể từ lúc này, bất cứ tai nạn hàng hải nào không xác định được nguyên nhân đều được ghi vào tài khoản của con quái vật. Con vật quá quắt này phải gánh trách nhiệm cho mọi tàu thuyền mất tích, con số ấy không may lại rất đáng kể, bởi trong số 3.000 con tàu bị ghi nhận là tổn thất hằng năm tại cơ quan bảo hiểm hàng hải, số tàu hơi nước hay tàu buồm được cho là mất tích cùng toàn bộ thủy thủ đoàn, do không có tin tức gì, lên tới ít nhất 200 chiếc!
Thế rồi, dù đúng hay sai, chính “con quái vật” bị buộc tội gây ra sự biến mất của chúng; và vì nhờ nó, việc đi lại giữa các lục địa khác nhau ngày càng trở nên nguy hiểm, công chúng lên tiếng và thẳng thừng yêu cầu rằng, bằng mọi giá, các đại dương phải được quét sạch khỏi loài cá voi đáng sợ này.
### CHƯƠNG 2
Thuận và nghịch
TRONG THỜI GIAN những biến cố ấy xảy ra, tôi vừa trở về từ một chuyến khảo sát khoa học được tổ chức để thám hiểm vùng đất xấu Nebraska ở Hoa Kỳ. Với tư cách Phó Giáo sư tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris, tôi được chính phủ Pháp cử đi cùng đoàn thám hiểm này. Sau sáu tháng ở Nebraska, tôi đến New York vào gần cuối tháng Ba, mang theo nhiều bộ sưu tập quý giá. Việc tôi khởi hành về Pháp được ấn định vào đầu tháng Năm. Trong thời gian chờ đợi, tôi bận phân loại các báu vật khoáng vật học, thực vật học và động vật học của mình thì sự cố với chiếc Scotia xảy ra.
Tôi hoàn toàn nắm rõ vấn đề này, vốn là tin tức lớn trong ngày, và làm sao tôi lại có thể không biết? Tôi đã đọc đi đọc lại mọi tờ báo Mỹ và châu Âu mà vẫn chẳng tiến thêm được chút nào. Bí ẩn ấy làm tôi bối rối. Không thể hình thành một quan điểm nào, tôi trôi dạt từ cực này sang cực kia. Ngoài kia có một cái gì đó, điều ấy là chắc chắn, và bất cứ kẻ đa nghi nào cũng được mời đặt ngón tay mình lên vết thương của chiếc Scotia.
Khi tôi đến New York, vấn đề đã tới điểm sôi. Giả thuyết về một đảo nhỏ trôi dạt hay một rạn đá khó nắm bắt, do những người không thật tỉnh táo đưa ra, đã hoàn toàn bị loại bỏ. Và thật vậy, trừ phi rạn đá này có một động cơ trong bụng, làm sao nó có thể di chuyển với tốc độ phi thường đến thế?
Ý tưởng về một thân tàu nổi hay một khối xác tàu khổng lồ nào đó cũng mất tín nhiệm, lại một lần nữa vì tốc độ di chuyển ấy.
Vì thế chỉ còn lại hai lời giải khả dĩ cho vấn đề, tạo thành hai nhóm ủng hộ rất khác biệt: một bên thiên về một con quái vật có sức mạnh khổng lồ; bên kia thiên về một “con tàu dưới nước” có công suất động cơ ghê gớm.
Thế nhưng, dù giả thuyết sau hoàn toàn có thể chấp nhận được, nó không đứng vững trước những cuộc điều tra được tiến hành cả ở Tân Thế giới lẫn Cựu Thế giới. Việc một cá nhân tư nhân có một cơ cấu như thế trong tay là điều ít khả năng hơn cả. Người ấy đã đóng nó ở đâu và khi nào, và làm sao có thể đóng nó trong bí mật?
Chỉ một chính phủ nào đó mới có thể sở hữu một cỗ máy hủy diệt như vậy, và trong thời đại đầy tai họa này, khi con người vắt óc để chế tạo những vũ khí tấn công ngày càng mạnh hơn, rất có thể, ngoài tầm biết của phần còn lại thế giới, một quốc gia nào đó đang thử nghiệm một cỗ máy đáng sợ như vậy. Súng trường Chassepot dẫn đến ngư lôi, và ngư lôi đã dẫn đến chiếc chùy công thành dưới nước này, thứ đến lượt nó sẽ khiến thế giới phải đặt chân xuống mà ngăn lại. Ít nhất tôi hy vọng là thế.
Nhưng giả thuyết về một cỗ máy chiến tranh sụp đổ trước những lời phủ nhận chính thức từ các chính phủ khác nhau. Vì lợi ích công cộng đang bị đe dọa và việc đi lại xuyên đại dương đang chịu thiệt hại, sự thành thật của các chính phủ ấy không thể bị nghi ngờ. Vả lại, làm sao việc lắp ráp con tàu dưới nước này lại thoát khỏi sự chú ý của công chúng? Giữ bí mật trong những hoàn cảnh như vậy đã đủ khó đối với một cá nhân, và chắc chắn là bất khả đối với một quốc gia mà mọi động thái đều bị các cường quốc đối thủ giám sát thường xuyên.
Vì thế, sau các cuộc điều tra tiến hành ở Anh, Pháp, Nga, Phổ, Tây Ban Nha, Ý, Mỹ, và thậm chí cả Thổ Nhĩ Kỳ, giả thuyết về một chiếc Monitor dưới nước rốt cuộc bị bác bỏ.
Và thế là con quái vật lại nổi lên, bất chấp vô số lời khôi hài mà báo chí bình dân trút lên nó, và trí tưởng tượng con người chẳng mấy chốc bị cuốn vào những ảo tưởng ngư học lố bịch nhất.
Sau khi tôi đến New York, nhiều người đã dành cho tôi vinh dự được tham khảo ý kiến về hiện tượng đang được nói tới. Ở Pháp, tôi đã xuất bản một công trình hai tập khổ quarto, nhan đề Những Bí Ẩn Của Các Vực Sâu Đại Dương. Được giới học thuật đón nhận tốt, cuốn sách này đã xác lập tôi như một chuyên gia trong lĩnh vực khá mờ tối này của lịch sử tự nhiên. Người ta cần đến quan điểm của tôi. Chừng nào còn có thể phủ nhận thực tại của vụ việc, tôi chỉ tự hạn chế bằng một câu “miễn bình luận” dứt khoát. Nhưng chẳng bao lâu, bị dồn vào chân tường, tôi buộc phải giải thích thẳng thắn. Và theo hướng ấy, “ngài Pierre Aronnax đáng kính, Giáo sư tại Bảo tàng Paris,” được The New York Herald triệu mời để trình bày quan điểm, bất kể là gì.
Tôi tuân theo. Vì không thể giữ im lặng được nữa, tôi để lưỡi mình tự do hoạt động. Tôi bàn vấn đề trên mọi phương diện, cả chính trị lẫn khoa học, và đây là một đoạn trích từ bài viết khá dày dặn mà tôi đăng trong số ra ngày 30 tháng Tư.
“Do đó,” tôi viết, “sau khi lần lượt xem xét các giả thuyết khác nhau này, chúng ta buộc phải, mọi giả định khác đều đã bị bác bỏ, chấp nhận sự tồn tại của một loài động vật biển cực kỳ mạnh mẽ.
“Những nơi sâu thẳm nhất của đại dương hoàn toàn xa lạ với chúng ta. Không phép đo sâu nào có thể chạm tới chúng. Điều gì diễn ra nơi những vực sâu xa xôi ấy? Những sinh vật nào cư ngụ, hay có thể cư ngụ, ở những miền mười hai hoặc mười lăm dặm bên dưới mặt nước? Cấu tạo của những động vật ấy ra sao? Điều ấy hầu như vượt khỏi mọi phỏng đoán.
“Tuy nhiên, lời giải cho vấn đề được đưa đến cho tôi này có thể mang hình thức của một lựa chọn giữa hai khả năng.
“Hoặc chúng ta biết mọi giống loài sinh vật đang cư trú trên hành tinh của mình, hoặc chúng ta không biết.
“Nếu chúng ta không biết hết tất cả chúng, nếu tự nhiên vẫn còn giữ những bí mật ngư học đối với chúng ta, thì không gì dễ chấp nhận hơn việc thừa nhận sự tồn tại của những loài cá hoặc cá voi thuộc loài mới, thậm chí giống mới, những động vật có cấu tạo về cơ bản là ‘gang đúc’, cư trú trong những tầng nước vượt ngoài tầm đo sâu của chúng ta, và nhờ một sự phát triển nào đó, một thôi thúc hay một ý thích, nếu các vị muốn, có thể được đưa lên tầng trên của đại dương trong những khoảng thời gian dài.
“Nếu, mặt khác, chúng ta biết mọi loài sinh vật sống, ta phải tìm con vật đang nói tới trong số các sinh vật biển đã được lập danh mục, và trong trường hợp này, tôi nghiêng về việc chấp nhận sự tồn tại của một con kỳ lân biển khổng lồ.
“Kỳ lân biển thông thường, hay ngựa một sừng biển, thường đạt chiều dài sáu mươi foot. Hãy tăng kích thước của nó lên gấp năm, thậm chí gấp mười, rồi ban cho loài cá voi này một sức mạnh tương xứng với kích cỡ của nó, đồng thời phóng đại các vũ khí tấn công của nó, và các vị sẽ có con vật mà chúng ta đang tìm kiếm. Nó sẽ có những tỷ lệ do các sĩ quan của chiếc Shannon xác định, có công cụ cần thiết để khoan thủng chiếc Scotia, và có sức mạnh để xuyên qua thân một tàu hơi nước.
“Về thực chất, kỳ lân biển được trang bị một thứ kiếm ngà, hay ngọn giáo, như một số nhà tự nhiên học đã diễn tả. Đó là một chiếc răng cỡ lớn cứng như thép. Một số chiếc răng như vậy đã được tìm thấy cắm trong thân các cá voi tấm sừng, loài mà kỳ lân biển tấn công với thành công không thay đổi. Những chiếc khác đã bị kéo ra, không dễ dàng gì, từ đáy những con tàu bị kỳ lân biển đâm xuyên sạch sẽ, như mũi khoan xoắn đâm thủng một thùng rượu. Bảo tàng thuộc Khoa Y Paris sở hữu một chiếc ngà như thế, dài 2,25 mét và rộng bốn mươi tám xentimét ở gốc!
“Được rồi! Hãy tưởng tượng vũ khí này mạnh gấp mười lần và con vật mạnh gấp mười lần, phóng nó đi với tốc độ hai mươi dặm mỗi giờ, nhân khối lượng của nó với vận tốc của nó, và các vị sẽ có đúng cú va chạm cần thiết để gây ra thảm họa đã nêu.
“Vậy nên, cho đến khi thông tin trở nên dồi dào hơn, tôi chọn đứng về phía một con kỳ lân biển có kích thước khổng lồ, không còn được trang bị chỉ bằng một ngọn giáo đơn thuần mà bằng một chiếc cựa thật sự, giống như các tàu hộ vệ bọc sắt hay những chiến hạm gọi là ‘tàu húc’, đồng thời sở hữu cả khối lượng lẫn công suất động cơ của chúng.
“Hiện tượng không thể giải thích này như vậy đã được giải thích xong—trừ phi nó là một thứ hoàn toàn khác, điều vẫn còn có thể, bất chấp mọi thứ đã được nhìn thấy, nghiên cứu, thám hiểm và trải nghiệm!”
Những lời cuối này của tôi thật hèn nhát; nhưng trong mức có thể, tôi muốn bảo vệ phẩm giá giáo sư của mình và không để bản thân trở thành trò cười cho người Mỹ, những người khi cười thì cười rất ầm ĩ. Tôi đã chừa cho mình một lối thoát. Tuy nhiên, trong thâm tâm, tôi đã chấp nhận sự tồn tại của “con quái vật.”
Bài viết của tôi được tranh luận sôi nổi, gây nên một trận náo động đúng nghĩa. Nó tập hợp được một số người ủng hộ. Hơn nữa, giải pháp mà nó đề xuất cho phép trí tưởng tượng tự do tung hoành. Tâm trí con người ưa thích những viễn ảnh đồ sộ về các sinh vật không thuộc cõi trần. Thế thì biển chính là môi trường tốt nhất của chúng, khung cảnh duy nhất thích hợp cho việc sinh sản và lớn lên của những kẻ khổng lồ như thế—so với chúng, các động vật trên cạn như voi hay tê giác chỉ là những chú lùn. Các khối chất lỏng nâng đỡ những loài thú có vú lớn nhất từng được biết đến và có lẽ còn che giấu những loài thân mềm có kích thước vô song hay những loài giáp xác đáng sợ đến mức khó tưởng tượng, chẳng hạn tôm hùm dài 100 mét hoặc cua nặng 200 tấn mét! Tại sao không? Xưa kia, trong thời tiền sử, các động vật trên cạn (thú bốn chân, vượn, bò sát, chim) được tạo dựng theo quy mô khổng lồ. Đấng Tạo hóa của chúng ta đã đúc chúng bằng một khuôn mẫu đồ sộ mà thời gian dần dần thu nhỏ lại. Với những vực sâu khôn kể, biển cả chẳng lẽ không thể giữ cho sống sót những mẫu vật sự sống khổng lồ từ một thời đại khác, biển cả ấy vốn không bao giờ đổi thay trong khi các khối đất liền chịu sự biến đổi gần như liên tục? Phải chăng trái tim đại dương không thể che giấu những giống loài cuối cùng còn sót lại của các loài khổng lồ ấy, đối với chúng năm tháng là thế kỷ và thế kỷ là thiên niên kỷ?
Nhưng tôi không được để những ảo tưởng ấy cuốn mình đi! Những chuyện thần tiên ấy đã đủ rồi, bởi thời gian đã biến chúng thành những thực tại khắc nghiệt đối với tôi. Tôi xin nhắc lại: dư luận đã kết tinh quanh bản chất của hiện tượng này, và công chúng chấp nhận không tranh cãi sự tồn tại của một sinh vật phi thường chẳng có gì chung với con rắn biển trong truyền thuyết.
Tuy nhiên, nếu có người xem nó đơn thuần như một vấn đề khoa học cần giải quyết, thì những người thực tế hơn, đặc biệt ở Mỹ và Anh, lại quyết tâm quét sạch con quái vật đáng gờm này khỏi đại dương, nhằm bảo đảm an toàn cho việc đi lại xuyên đại dương. Các tờ báo công nghiệp và thương mại xử lý vấn đề chủ yếu từ quan điểm ấy. The Shipping & Mercantile Gazette, Lloyd’s List, France’s Packetboat và Maritime & Colonial Review, tất cả những tờ báo rẻ tiền dành cho các công ty bảo hiểm—những nơi đang đe dọa tăng mức phí bảo hiểm—đều nhất trí về điểm này.
Khi dư luận đã được bày tỏ rõ ràng, các Bang trong Liên bang là những người đầu tiên ra tay. Ở New York, việc chuẩn bị đang được tiến hành cho một cuộc viễn chinh nhằm truy đuổi con kỳ lân biển này. Một tàu hộ vệ tốc độ cao, chiếc Abraham Lincoln, được trang bị để ra khơi càng sớm càng tốt. Các kho vũ khí hải quân được mở khóa cho Chỉ huy Farragut, người thúc đẩy mạnh mẽ việc vũ trang cho tàu hộ vệ của mình.
Nhưng, như vẫn luôn xảy ra, đúng lúc quyết định truy đuổi con quái vật đã được đưa ra, con quái vật lại không xuất hiện nữa. Trong hai tháng, không ai nghe thêm một lời nào về nó. Không một con tàu nào gặp nó. Rõ ràng con kỳ lân biển đã đánh hơi được những âm mưu đang giăng quanh nó. Người ta liên tục lảm nhảm về sinh vật ấy, thậm chí qua Cáp Đại Tây Dương! Vì vậy, những kẻ khôi hài tuyên bố rằng tên ranh ma trơn tuột này đã chặn một bức điện tín đi ngang qua và tận dụng nó triệt để.
Thế là tàu hộ vệ được trang bị cho một chuyến hải hành xa và vũ trang bằng những ngư cụ đáng sợ, nhưng không ai biết phải lái đi đâu. Và sự nôn nóng lớn dần cho đến ngày 2 tháng 6, tin tức truyền đến rằng chiếc Tampico, một tàu hơi nước trên tuyến San Francisco đi từ California đến Thượng Hải, đã lại nhìn thấy con vật ba tuần trước tại các vùng biển phía bắc của Thái Bình Dương.
Tin này gây nên sự kích động mãnh liệt. Chỉ huy Farragut thậm chí không được cho nghỉ lấy hai mươi bốn giờ. Lương thực của ông đã được đưa lên tàu. Các hầm than của ông tràn đầy. Không một thủy thủ nào vắng mặt khỏi vị trí. Để nhổ neo, ông chỉ cần châm lửa và tiếp than cho các lò! Trì hoãn nửa ngày cũng là điều không thể tha thứ! Nhưng Chỉ huy Farragut chẳng muốn gì hơn là lên đường.
Tôi nhận được một lá thư ba giờ trước khi chiếc Abraham Lincoln rời cầu tàu Brooklyn;\* lá thư viết như sau:
\*Ghi chú của tác giả: Pier là một loại cầu tàu được dành riêng cho từng con tàu cụ thể.
> Pierre Aronnax
> Giáo sư tại Bảo tàng Paris
> Khách sạn Fifth Avenue
> New York
>
> Thưa ngài:
>
> Nếu ngài muốn tham gia cuộc viễn chinh trên tàu Abraham Lincoln, chính phủ Liên bang sẽ rất hân hạnh xem ngài là đại diện của Pháp trong công việc này. Chỉ huy Farragut có một cabin dành sẵn cho ngài.
>
> Trân trọng,
>
> J. B. HOBSON,
> Bộ trưởng Hải quân.
### CHƯƠNG 3
Theo ý ngài
BA GIÂY trước khi lá thư của J. B. Hobson đến, tôi còn không mơ đến chuyện đuổi theo con kỳ lân biển hơn là thử tìm Con đường Tây Bắc. Ba giây sau khi đọc lá thư ấy của ngài Bộ trưởng Hải quân đáng kính, rốt cuộc tôi hiểu rằng thiên chức thật sự của mình, mục đích duy nhất của đời mình, là truy lùng con quái vật gây xáo động này và giải thoát thế giới khỏi nó.
Dẫu vậy, tôi vừa trở về từ một chuyến đi gian khổ, kiệt sức và rất cần nghỉ ngơi. Tôi không muốn gì hơn là lại được nhìn thấy đất nước mình, bạn bè mình, căn phòng khiêm tốn của mình cạnh Vườn Bách thảo, những bộ sưu tập thân yêu của mình! Nhưng lúc này chẳng có gì giữ chân tôi lại được. Tôi quên hết mọi thứ khác, và không nghĩ thêm về mệt mỏi, bạn bè hay các bộ sưu tập, tôi chấp nhận lời mời của chính phủ Mỹ.
“Vả lại,” tôi tự nhủ, “mọi con đường đều dẫn về nhà ở châu Âu, và con kỳ lân biển của chúng ta có thể đủ tử tế để đưa tôi về phía bờ biển nước Pháp! Con vật tuyệt đẹp ấy thậm chí có thể để mình bị bắt ở các vùng biển châu Âu—như một ân huệ riêng dành cho tôi—và tôi sẽ mang về Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ít nhất nửa mét ngọn giáo ngà của nó!”
Nhưng trong khi chờ đợi, tôi sẽ phải tìm con kỳ lân biển này ở bắc Thái Bình Dương; điều ấy có nghĩa là trở về Pháp bằng đường vòng qua miền Đối cực.
“Conseil!” tôi gọi bằng giọng sốt ruột.
Conseil là người hầu của tôi. Một chàng trai tận tụy luôn đi cùng tôi trong mọi chuyến đi; một chàng trai Flemish can đảm mà tôi thật lòng quý mến và anh cũng đáp lại như thế; một người khắc kỷ bẩm sinh, câu nệ vì nguyên tắc, thường ngày cần mẫn, hiếm khi bị những bất ngờ của đời sống làm giật mình, rất khéo tay, hiệu quả trong mọi bổn phận, và dù có một cái tên mang nghĩa là “lời khuyên”, lại chẳng bao giờ đưa ra lời khuyên—ngay cả loại không ai hỏi!
Nhờ giao tiếp gần gũi với các nhà khoa học trong vũ trụ nhỏ bé của chúng tôi bên Vườn Bách thảo, chàng trai ấy đã biết được đôi điều. Ở Conseil, tôi có một chuyên gia dày dạn về phân loại sinh học, một người say mê có thể chạy lên chạy xuống toàn bộ bậc thang các ngành, nhóm, lớp, phân lớp, bộ, họ, giống, phân giống, loài và biến chủng với sự nhanh nhẹn của một nghệ sĩ nhào lộn. Nhưng khoa học của anh dừng lại ở đó. Phân loại là tất cả đối với anh, nên anh chẳng biết gì khác. Thông thạo lý thuyết phân loại, anh lại kém thông thạo việc áp dụng thực tế, và tôi ngờ rằng anh không phân biệt nổi một con cá nhà táng với một con cá voi tấm sừng! Thế nhưng, thật là một chàng trai tốt đẹp, can đảm!
Trong mười năm qua, Conseil đã theo tôi đến bất cứ nơi nào khoa học vẫy gọi. Chưa một lần anh bình luận về độ dài hay những gian khổ của một chuyến đi. Chưa bao giờ anh phản đối việc khóa vali để lên đường đến bất cứ xứ sở nào, Trung Hoa hay Congo, dù xa đến đâu. Anh đi chỗ này, chỗ kia, và khắp mọi nơi với sự bằng lòng hoàn hảo. Hơn nữa, anh có một sức khỏe tuyệt vời thách thức mọi bệnh tật, sở hữu cơ bắp rắn chắc, nhưng trong người chẳng có một dây thần kinh nào, không một dấu hiệu thần kinh—ý tôi là kiểu thần kinh về tinh thần.
Chàng trai ấy ba mươi tuổi, và tuổi anh so với tuổi chủ mình cũng như mười lăm so với hai mươi. Xin tha thứ cho cách quanh co này để thú nhận rằng tôi đã bước sang tuổi bốn mươi.
Nhưng Conseil có một khuyết điểm. Anh cuồng tín về hình thức lễ nghi, và chỉ gọi tôi ở ngôi thứ ba—đến mức đôi khi khiến người ta mệt mỏi.
“Conseil!” tôi lặp lại, trong khi sốt sắng bắt đầu chuẩn bị lên đường.
Chắc chắn tôi tin cậy chàng trai tận tụy này. Thông thường, tôi chẳng bao giờ hỏi liệu anh có thuận tiện đi cùng tôi trong các chuyến đi hay không; nhưng lần này, vấn đề là một cuộc viễn chinh có thể kéo dài vô hạn, một công việc nguy hiểm nhằm săn một con vật có thể đánh chìm một tàu hộ vệ dễ như bóp vỡ vỏ quả óc chó! Có lý do chính đáng để dừng lại suy nghĩ, ngay cả đối với người ít cảm xúc nhất trên đời. Conseil sẽ nói gì?
“Conseil!” tôi gọi lần thứ ba.
Conseil xuất hiện.
“Ngài gọi tôi?” anh nói khi bước vào.
“Đúng, anh bạn. Chuẩn bị đồ đạc của tôi, chuẩn bị đồ của anh. Hai giờ nữa chúng ta khởi hành.”
“Theo ý ngài,” Conseil điềm tĩnh đáp.
“Chúng ta không có một khoảnh khắc nào để mất. Hãy nhét vào rương của tôi nhiều nhất có thể, túi du hành, bộ quần áo, áo sơ mi và tất, đừng mất công đếm, cứ ép tất cả vào—và nhanh lên!”
“Còn các bộ sưu tập của ngài?” Conseil dè dặt nhận xét.
“Chúng ta sẽ xử lý chúng sau.”
“Sao ạ! Con archaeotherium, hyracotherium, oreodont, cheiropotamus, và các bộ xương hóa thạch khác của ngài?”
“Khách sạn sẽ giữ chúng cho chúng ta.”
“Còn con babirusa sống của ngài?”
“Người ta sẽ cho nó ăn trong thời gian chúng ta vắng mặt. Dù sao, chúng ta sẽ để lại chỉ thị gửi cả bầy thú ấy về Pháp.”
“Vậy là chúng ta không trở về Paris sao?” Conseil hỏi.
“Có chứ, chúng ta sẽ về... tất nhiên...” tôi đáp lảng tránh, “nhưng sau khi đi đường vòng.”
“Đường vòng nào cũng theo ý ngài.”
“Ồ, thật ra chẳng có gì đâu! Một tuyến đường hơi kém trực tiếp một chút, thế thôi. Chúng ta sẽ đi trên chiếc Abraham Lincoln.”
“Theo điều ngài thấy tốt nhất,” Conseil điềm nhiên đáp.
“Anh thấy đó, bạn tôi, đây là chuyện con quái vật, con kỳ lân biển khét tiếng. Chúng ta sẽ giải thoát biển cả khỏi nó! Tác giả của một công trình hai tập, khổ quarto, về Những Bí Ẩn Của Các Vực Sâu Đại Dương không có lý do gì để không lên tàu cùng Chỉ huy Farragut. Đó là một sứ mệnh vinh quang nhưng cũng nguy hiểm! Chúng ta không biết nó sẽ đưa ta đến đâu! Những con thú này có thể rất khó lường! Nhưng dù sao chúng ta cũng đi! Chúng ta có một vị chỉ huy sẵn sàng cho bất cứ chuyện gì!”
“Điều ngài làm, tôi sẽ làm,” Conseil đáp.
“Nhưng hãy nghĩ cho kỹ, vì tôi không muốn giấu anh điều gì. Đây là một trong những chuyến đi mà người ta không phải lúc nào cũng trở về!”
“Theo ý ngài.”
Mười lăm phút sau, các rương của chúng tôi đã sẵn sàng. Conseil làm chúng trong nháy mắt, và tôi chắc chắn chàng trai ấy không bỏ sót thứ gì, vì anh phân loại áo sơ mi và bộ quần áo thành thạo chẳng kém gì chim và thú có vú.
Thang máy khách sạn đưa chúng tôi xuống tiền sảnh chính ở tầng lửng. Tôi đi xuống một cầu thang ngắn dẫn đến tầng trệt. Tôi thanh toán hóa đơn tại chiếc quầy lớn luôn bị một đám đông đáng kể vây quanh. Tôi để lại chỉ thị gửi các thùng chứa thú nhồi bông và cây khô của tôi về Paris, Pháp. Tôi mở một khoản tín dụng đủ để nuôi con babirusa và, Conseil theo sát gót, tôi nhảy lên một cỗ xe ngựa.
Với giá hai mươi franc, chiếc xe đi xuống Broadway đến Union Square, rẽ vào Đại lộ Bốn tới chỗ giao với phố Bowery, quẹo vào phố Katrin và dừng lại ở Bến 34. Tại đó, phà Katrin chuyển người, ngựa và xe sang Brooklyn, vùng phụ thuộc rộng lớn của New York nằm trên bờ trái sông East, và chỉ vài phút sau chúng tôi đến bến tàu cạnh đó chiếc Abraham Lincoln đang phun từng luồng khói đen cuồn cuộn từ hai ống khói.
Hành lý của chúng tôi lập tức được đưa lên boong tàu hộ vệ. Tôi vội vã lên tàu. Tôi hỏi tìm Chỉ huy Farragut. Một thủy thủ dẫn tôi đến boong sau, nơi tôi đứng trước một sĩ quan có dáng vẻ sắc sảo, người đưa tay về phía tôi.
“Giáo sư Pierre Aronnax?” ông nói với tôi.
“Chính tôi,” tôi đáp. “Chỉ huy Farragut?”
“Đích thân. Chào mừng lên tàu, giáo sư. Cabin của ngài đang chờ.”
Tôi cúi chào, và để vị chỉ huy lo việc khởi hành, tôi được đưa đến cabin đã dành riêng cho mình.
Chiếc Abraham Lincoln đã được chọn và trang bị hoàn hảo cho nhiệm vụ mới. Đó là một tàu hộ vệ tốc độ cao, được trang bị thiết bị quá nhiệt cho phép áp suất hơi nước tăng đến bảy át-mốt-phe. Dưới áp suất này, chiếc Abraham Lincoln đạt tốc độ trung bình 18,3 dặm mỗi giờ, một tốc độ đáng kể nhưng vẫn chưa đủ để đối phó với loài cá voi khổng lồ của chúng tôi.
Các tiện nghi bên trong tàu hộ vệ tương xứng với phẩm chất hàng hải của nó. Tôi rất hài lòng với cabin của mình, nằm ở đuôi tàu và mở thông vào phòng ăn của sĩ quan.
“Chúng ta sẽ khá thoải mái ở đây,” tôi nói với Conseil.
“Xin ngài lượng thứ,” Conseil đáp, “thoải mái như một con ốc mượn hồn trong vỏ ốc hương.”
Tôi để Conseil cất đặt hành lý cho đúng chỗ rồi trèo lên boong để xem việc chuẩn bị khởi hành.
Ngay lúc ấy, Chỉ huy Farragut đang ra lệnh tháo những dây buộc cuối cùng giữ chiếc Abraham Lincoln với cầu tàu Brooklyn. Và vì thế, nếu tôi chậm trễ một phần tư giờ, thậm chí ít hơn, tàu hộ vệ đã đi mà không có tôi, và tôi đã bỏ lỡ cuộc viễn chinh không thuộc cõi trần, phi thường và không thể tưởng tượng nổi này, câu chuyện thật của nó rất có thể sẽ gặp một ít hoài nghi.
Nhưng Chỉ huy Farragut không muốn lãng phí một ngày, hay thậm chí một giờ nào, để tiến đến những vùng biển nơi con vật vừa được nhìn thấy. Ông gọi kỹ sư của mình.
“Áp suất đủ chưa?” ông hỏi người ấy.
“Rồi, thưa ngài,” kỹ sư đáp.
“Vậy thì tiến lên!” Chỉ huy Farragut gọi.
Theo mệnh lệnh này, được truyền tới máy bằng một thiết bị khí nén, các thợ máy kích hoạt bánh khởi động. Hơi nước rít lên tràn vào các van mở toang. Những piston nằm ngang dài rên rỉ và đẩy các thanh truyền của trục truyền động. Các cánh chân vịt khuấy sóng với tốc độ ngày càng tăng, và chiếc Abraham Lincoln uy nghi rời bến giữa đoàn hộ tống đầy người xem gồm khoảng 100 chiếc phà và tàu phụ trợ.\*
\*Ghi chú của tác giả: Tàu phụ trợ là những tàu hơi nước nhỏ hỗ trợ các tàu khách lớn.
Các cầu tàu Brooklyn, và mọi phần của New York giáp sông East, đều chật kín những người hiếu kỳ. Từ 500.000 cuống họng, ba tràng hoan hô nối tiếp nhau bùng lên. Hàng nghìn chiếc khăn tay vẫy trên những đám đông chen chúc ấy, chào mừng chiếc Abraham Lincoln cho đến khi nó tới vùng nước sông Hudson, ở mũi bán đảo dài tạo thành thành phố New York.
Sau đó tàu hộ vệ đi dọc bờ biển New Jersey—bờ phải tuyệt đẹp của con sông này, phủ đầy các dinh thự thôn dã—và đi ngang các pháo đài trong tiếng chào từ những khẩu đại bác lớn nhất của họ. Chiếc Abraham Lincoln đáp lại bằng cách hạ rồi kéo lên ba lần lá cờ Mỹ, ba mươi chín ngôi sao lấp lánh trên gaff của buồm sau; rồi, đổi tốc độ để đi vào luồng có phao đánh dấu uốn vào vịnh trong được tạo thành bởi mũi cát Sandy Hook, nó ôm sát dải đất phủ cát nơi hàng nghìn khán giả lại một lần nữa hoan hô chúng tôi.
Đoàn hộ tống gồm thuyền và tàu phụ trợ vẫn bám theo tàu hộ vệ và chỉ rời chúng tôi khi chúng tôi đi ngang tàu đèn, hai ngọn đèn hiệu của nó đánh dấu lối vào eo biển hẹp dẫn đến Vịnh Thượng New York.
Khi ấy chuông điểm ba giờ. Hoa tiêu cảng xuống chiếc xuồng nhỏ của mình và trở lại một chiếc thuyền buồm nhỏ đang chờ ông ở phía dưới gió. Các lò được tiếp than; chân vịt khuấy sóng nhanh hơn; tàu hộ vệ lướt dọc bờ biển phẳng màu vàng của Long Island; và lúc tám giờ tối, sau khi các ánh đèn của Fire Island biến mất về phía tây bắc, chúng tôi chạy hết hơi nước vào vùng nước tối của Đại Tây Dương.
### CHƯƠNG 4
Ned Land
CHỈ HUY FARRAGUT là một thủy thủ giỏi, xứng đáng với tàu hộ vệ mà ông chỉ huy. Con tàu và ông là một. Ông chính là linh hồn của nó. Về vấn đề loài cá voi, trong tâm trí ông không nảy sinh chút nghi ngờ nào, và ông không cho phép sự tồn tại của con vật bị tranh cãi trên tàu của mình. Ông tin vào nó như một số phụ nữ ngoan đạo tin vào con Leviathan trong Sách Job—bằng đức tin, không phải lý trí. Con quái vật tồn tại, và ông đã thề giải thoát biển cả khỏi nó. Người đàn ông ấy là một kiểu Hiệp sĩ Rhodes, một Sir Dieudonné xứ Gozo thời sau, trên đường giao chiến với con rồng đang tàn phá hòn đảo. Hoặc Chỉ huy Farragut sẽ giết kỳ lân biển, hoặc kỳ lân biển sẽ giết Chỉ huy Farragut. Không có con đường ở giữa cho hai kẻ này.
Các sĩ quan trên tàu chia sẻ quan điểm của thủ lĩnh mình. Người ta có thể nghe họ trò chuyện, bàn bạc, tranh luận, tính toán những khả năng khác nhau của một cuộc chạm trán, và quan sát khoảng mênh mông của đại dương. Hơn một người tự nguyện nhận các phiên gác từ crosstree của buồm thượng cao nhất, những người trong hoàn cảnh khác hẳn sẽ nguyền rủa thứ lao dịch ấy. Mỗi khi mặt trời quét qua vòng cung hằng ngày của nó, các cột buồm lại đầy thủy thủ, chân họ ngứa ngáy không thể đứng yên trên ván boong bên dưới! Vậy mà sống mũi của chiếc Abraham Lincoln còn chưa hề cắt vào các vùng nước đáng ngờ của Thái Bình Dương.
Còn về thủy thủ đoàn, họ chỉ muốn gặp con kỳ lân biển, phóng lao vào nó, kéo nó lên tàu và xẻ thịt nó. Họ quan sát mặt biển với sự cẩn trọng tỉ mỉ. Ngoài ra, Chỉ huy Farragut đã nói rằng một khoản tiền 2.000 đô la đang chờ người đầu tiên phát hiện ra con vật, dù người ấy là chú bé phụ việc hay thủy thủ, thuyền phó hay sĩ quan. Tôi xin để độc giả tự quyết định xem trên tàu Abraham Lincoln, đôi mắt có được vận dụng đúng mức hay không.
Về phần tôi, tôi không hề tụt lại sau những người khác và không nhường cho ai phần của mình trong những cuộc quan sát hằng ngày ấy. Tàu hộ vệ của chúng tôi có đến năm mươi lý do xác đáng để đổi tên thành Argus, theo tên con vật thần thoại có 100 mắt! Kẻ phản loạn duy nhất giữa chúng tôi là Conseil, người dường như hoàn toàn không quan tâm đến vấn đề đang làm chúng tôi phấn khích và lạc nhịp với sự hăng hái chung trên tàu.
Như tôi đã nói, Chỉ huy Farragut đã cẩn thận trang bị cho tàu của mình mọi dụng cụ cần thiết để đánh bắt một loài cá voi khổng lồ. Không một tàu săn cá voi nào có thể được vũ trang tốt hơn. Chúng tôi có mọi cơ cấu từng biết đến, từ lao phóng bằng tay, đến súng loe nòng bắn tên có ngạnh, đến súng săn vịt dùng đạn nổ. Trên boong mũi đặt một khẩu đại bác nạp hậu mẫu mới nhất, nòng rất nặng và cỡ nòng hẹp, một vũ khí sẽ xuất hiện trong Triển lãm Hoàn vũ năm 1867. Được chế tạo ở Mỹ, dụng cụ quý giá này có thể bắn một quả đạn hình nón nặng bốn kilôgam đi xa trung bình mười sáu kilômét mà chẳng chút khó nhọc.
Vậy là chiếc Abraham Lincoln không thiếu phương tiện hủy diệt. Nhưng nó còn có thứ tốt hơn. Nó có Ned Land, Vua của những người phóng lao.
Được ban cho khả năng tay chân hiếm có, Ned Land là một người Canada không có đối thủ trong nghề nguy hiểm của mình. Sự khéo léo, bình tĩnh, can đảm và mưu trí là những đức tính ông sở hữu ở mức cao, và phải là một con cá voi tấm sừng thật sự ranh mãnh hay một con cá nhà táng đặc biệt tinh khôn mới thoát được những cú phóng lao của ông.
Ned Land khoảng bốn mươi tuổi. Là một người đàn ông rất cao—hơn sáu foot Anh—ông có thân hình lực lưỡng, cử chỉ nghiêm nghị, không mấy hòa đồng, đôi khi bướng bỉnh, và khá nóng nảy khi bị trái ý. Vẻ ngoài của ông thu hút sự chú ý, trên hết là sức mạnh trong ánh mắt, điều đem lại cho gương mặt ông một nét nhấn độc nhất vô nhị.
Theo tôi, Chỉ huy Farragut đã hành động khôn ngoan khi thuê người này. Với con mắt và cánh tay ném lao của mình, một mình ông đáng giá bằng cả thủy thủ đoàn. Tôi không thể so sánh ông tốt hơn là với một kính viễn vọng mạnh có thể kiêm luôn một khẩu đại bác lúc nào cũng sẵn sàng khai hỏa.
Nói Canada tức là nói Pháp, và dù Ned Land không hòa đồng đến đâu, tôi phải thừa nhận ông có thiện cảm rõ rệt với tôi. Chắc hẳn chính quốc tịch của tôi đã thu hút ông. Đó là một cơ hội để ông nói, và để tôi nghe, thứ thổ ngữ Rabelais cổ xưa vẫn còn được dùng ở một số tỉnh Canada. Gia đình người phóng lao xuất thân từ Quebec, và họ đã là một dòng những ngư phủ gan dạ từ thời thành phố này còn thuộc về nước Pháp.
Dần dần, Ned có hứng thú trò chuyện, và tôi thích nghe những câu chuyện về các cuộc phiêu lưu của ông ở những vùng biển cực. Ông miêu tả những chuyến đánh cá và các trận chiến của mình bằng một chất trữ tình tự nhiên hùng vĩ. Những câu chuyện của ông mang hình thức một bản trường ca, và tôi cảm thấy như mình đang nghe một Homer người Canada ngâm bản Iliad của ông về các vùng cực bắc.
Tôi viết về người bạn đồng hành táo bạo này như tôi biết ông hiện nay. Bởi chúng tôi đã trở thành những người bạn cũ, gắn bó trong tình đồng đội bền chặt chỉ được sinh ra và tôi luyện giữa những cơn khủng hoảng kinh hoàng nhất! Ôi, Ned can đảm của tôi! Tôi chỉ mong được sống thêm 100 năm nữa, để càng lâu càng nhớ đến ông!
Và giờ đây, quan điểm của Ned Land về vấn đề con quái vật biển này là gì? Tôi phải thừa nhận rằng ông dứt khoát không tin vào con kỳ lân biển, và là người duy nhất trên tàu, ông không chia sẻ niềm xác tín chung. Ông thậm chí còn tránh đả động đến đề tài ấy, đến nỗi một ngày kia tôi thấy buộc phải chất vấn ông.
Trong buổi chiều tuyệt đẹp ngày 25 tháng 6—nói cách khác, ba tuần sau khi chúng tôi khởi hành—tàu hộ vệ nằm ngang Cabo Blanco, cách bờ biển Patagonia ba mươi dặm về phía dưới gió. Chúng tôi đã vượt qua chí tuyến Nam, và eo biển Magellan mở ra cách chưa đầy 700 dặm về phía nam. Chưa đầy tám ngày nữa, chiếc Abraham Lincoln sẽ rẽ sóng Thái Bình Dương.
Ngồi trên boong sau, Ned Land và tôi trò chuyện đủ chuyện nọ kia, mắt nhìn đăm đăm ra vùng biển bí ẩn mà cho đến ngày nay những vực sâu của nó vẫn vượt khỏi tầm mắt con người. Hết sức tự nhiên, tôi đưa câu chuyện của chúng tôi quay về con kỳ lân biển khổng lồ, và cân nhắc các cơ may thành bại khác nhau của cuộc viễn chinh. Rồi, thấy Ned cứ để tôi nói mà bản thân không nói mấy, tôi thúc ông sát hơn.
“Ned,” tôi hỏi ông, “làm sao ông vẫn còn nghi ngờ thực tại của loài cá voi mà chúng ta đang truy đuổi? Ông có lý do đặc biệt nào để hoài nghi đến thế không?”
Người phóng lao nhìn tôi một lúc lâu trước khi trả lời, vỗ lên vầng trán rộng của mình bằng một trong những cử chỉ quen thuộc, nhắm mắt lại như để tự trấn tĩnh, rồi cuối cùng nói:
“Có thể lắm, Giáo sư Aronnax.”
“Nhưng Ned, ông là thợ săn cá voi chuyên nghiệp, một người quen thuộc với mọi loài thú có vú lớn dưới biển—đầu óc ông hẳn phải dễ dàng chấp nhận giả thuyết về một loài cá voi khổng lồ, và trong hoàn cảnh này ông phải là người cuối cùng nghi ngờ nó mới đúng!”
“Chính ở điểm đó ngài nhầm, thưa giáo sư,” Ned đáp. “Người thường có thể vẫn tin vào những sao chổi kỳ dị bay qua không gian ngoài kia, hay những quái vật tiền sử sống trong lõi trái đất, nhưng các nhà thiên văn và địa chất không nuốt những chuyện thần tiên ấy. Với thợ săn cá voi cũng vậy. Tôi đã đuổi theo rất nhiều loài cá voi, đã phóng lao vào không ít con, đã giết vài con. Nhưng dù chúng mạnh đến đâu và được vũ trang kỹ đến đâu, cả đuôi lẫn ngà của chúng cũng không thể đâm thủng các tấm sắt của một tàu hơi nước.”
“Dẫu vậy, Ned, người ta có nhắc đến những con tàu bị ngà kỳ lân biển xuyên thủng sạch sẽ.”
“Tàu gỗ thì có thể,” người Canada đáp. “Nhưng tôi chưa bao giờ thấy chuyện tương tự. Vì vậy, cho đến khi có bằng chứng ngược lại, tôi phủ nhận rằng cá voi tấm sừng, cá nhà táng hay kỳ lân biển có thể làm bất cứ điều gì như thế.”
“Nghe tôi nói đã, Ned—”
“Không, không, giáo sư. Ngài muốn gì tôi cũng theo, trừ chuyện đó. Có thể là một con mực quỷ khổng lồ nào chăng...?”
“Lại càng ít khả năng hơn, Ned. Mực quỷ chỉ là một loài thân mềm, và ngay cái tên ấy cũng gợi đến phần thịt nửa lỏng của nó, vì nó bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là loài mềm. Mực quỷ không thuộc ngành động vật có xương sống, và dù nó dài 500 foot, nó vẫn hoàn toàn vô hại đối với những con tàu như Scotia hay Abraham Lincoln. Do đó, những kỳ công của kraken hay các quái vật cùng loại phải bị xếp vào địa hạt hư cấu.”
“Vậy thì, ngài nhà tự nhiên học,” Ned Land tiếp tục bằng giọng bông đùa, “ngài vẫn cứ tin vào sự tồn tại của một loài cá voi khổng lồ nào đó...?”
“Phải, Ned, tôi nhắc lại điều ấy với một niềm tin được logic thực tế hậu thuẫn. Tôi tin vào sự tồn tại của một loài thú có vú có cấu tạo mạnh mẽ, thuộc ngành động vật có xương sống như cá voi tấm sừng, cá nhà táng hay cá heo, và được trang bị một chiếc ngà bằng sừng có sức xuyên phá ghê gớm.”
“Hừm!” người phóng lao chen vào, lắc đầu với thái độ của một người không muốn bị thuyết phục.
“Xin lưu ý cho kỹ, người Canada tốt bụng của tôi,” tôi tiếp tục, “nếu một con vật như thế tồn tại, nếu nó sống sâu trong đại dương, nếu nó thường lui tới những tầng nước nằm cách mặt nước nhiều dặm, nó cần phải có một cấu tạo rắn chắc đến mức không gì sánh được.”
“Và tại sao lại cần cấu tạo mạnh mẽ ấy?” Ned hỏi.
“Vì chỉ riêng việc sống trong những tầng sâu ấy và chịu được áp lực của chúng đã đòi hỏi một sức mạnh không thể tính toán nổi.”
“Thật vậy sao?” Ned nói, nháy mắt với tôi.
“Thật vậy, và tôi có thể chứng minh cho ông bằng vài con số đơn giản.”
“Nhảm nhí!” Ned đáp. “Người ta muốn bắt các con số nói gì mà chẳng được!”
“Trong kinh doanh thì vậy, Ned, nhưng trong toán học thì không. Hãy nghe tôi. Ta hãy chấp nhận rằng áp suất của một át-mốt-phe được biểu thị bằng áp lực của một cột nước cao ba mươi hai foot. Trên thực tế, một cột nước như thế sẽ không cao đến vậy, vì ở đây ta đang nói đến nước mặn, đặc hơn nước ngọt. Thế thì, khi ông lặn xuống dưới sóng, Ned, cứ mỗi ba mươi hai foot nước phía trên, thân thể ông lại chịu thêm áp suất của một át-mốt-phe, nói cách khác, thêm một kilôgam trên mỗi xentimét vuông bề mặt cơ thể. Vì thế, ở độ sâu 320 foot, áp suất này bằng mười át-mốt-phe, ở 3.200 foot là 100 át-mốt-phe, và ở 32.000 foot là 1.000 át-mốt-phe, tức là khoảng hai dặm rưỡi theo chiều thẳng đứng. Điều ấy cũng có nghĩa rằng nếu ông có thể xuống tới độ sâu như thế trong đại dương, mỗi xentimét vuông trên bề mặt cơ thể ông sẽ chịu áp lực 1.000 kilôgam. Nào, Ned can đảm của tôi, ông có biết trên bề mặt thân thể mình có bao nhiêu xentimét vuông không?”
“Tôi chẳng có chút khái niệm mờ nhạt nào, Giáo sư Aronnax.”
“Khoảng 17.000.”
“Nhiều đến thế sao?”
“Phải, và vì áp suất khí quyển thật ra nặng hơn một kilôgam mỗi xentimét vuông đôi chút, 17.000 xentimét vuông của ông đang chịu 17.568 kilôgam ngay lúc này.”
“Mà tôi không nhận ra?”
“Mà ông không nhận ra. Và nếu ông không bị nghiền nát bởi áp lực lớn đến thế, đó là vì không khí thâm nhập vào bên trong thân thể ông với áp suất tương đương. Khi áp suất bên trong và bên ngoài cân bằng hoàn hảo, chúng triệt tiêu nhau và cho phép ông chịu đựng chúng mà không khó chịu. Nhưng ở trong nước thì lại là chuyện khác.”
“Phải, tôi hiểu,” Ned đáp, bắt đầu quan tâm hơn. “Vì nước bao quanh tôi nhưng không thâm nhập vào tôi.”
“Chính xác, Ned. Vậy ở ba mươi hai foot bên dưới mặt biển, ông sẽ chịu áp lực 17.568 kilôgam; ở 320 foot, tức áp lực lớn gấp mười, là 175.680 kilôgam; ở 3.200 foot, tức áp lực lớn gấp 100, là 1.756.800 kilôgam; cuối cùng, ở 32.000 foot, tức áp lực lớn gấp 1.000, là 17.568.000 kilôgam; nói cách khác, ông sẽ bị ép bẹp dí như vừa bị kéo ra từ giữa hai tấm ép của một máy ép thủy lực!”
“Lửa địa ngục!” Ned chen vào.
“Được rồi, người phóng lao tốt bụng của tôi, nếu những động vật có xương sống dài mấy trăm mét và có khối lượng tương xứng sống ở những độ sâu như thế, diện tích bề mặt của chúng lên tới hàng triệu xentimét vuông, và áp lực chúng phải chịu cần được tính bằng hàng tỉ kilôgam. Vậy hãy tính thử xem, cấu trúc xương và sức bền cơ thể của chúng phải kháng chịu đến mức nào mới chống nổi những áp lực như thế!”
“Chúng phải được chế tạo,” Ned Land đáp, “bằng những tấm sắt dày tám inch, như tàu hộ vệ bọc sắt.”
“Đúng vậy, Ned, và rồi hãy hình dung khối lượng ấy có thể gây ra thiệt hại gì nếu nó lao với tốc độ của một đoàn tàu tốc hành vào thân một con tàu.”
“Phải... quả thật... có thể,” người Canada đáp, choáng váng trước các con số nhưng vẫn chưa chịu nhượng bộ.
“Thế nào, tôi đã thuyết phục được ông chưa?”
“Ngài đã thuyết phục tôi về một điều, thưa ngài nhà tự nhiên học. Rằng dưới sâu trong biển, những con vật như thế cần phải mạnh đúng như ngài nói—nếu chúng tồn tại.”
“Nhưng nếu chúng không tồn tại, người phóng lao bướng bỉnh của tôi, ông giải thích thế nào về tai nạn xảy ra với chiếc Scotia?”
“Có thể là...” Ned nói, ngập ngừng.
“Nói tiếp đi!”
“Bởi vì... chuyện ấy không thể là thật!” người Canada đáp, vô thức lặp lại câu nói nổi tiếng của nhà khoa học Arago.
Nhưng câu trả lời này chẳng chứng minh được gì, ngoài việc người phóng lao có thể cứng đầu đến mức nào. Ngày hôm ấy tôi không thúc ép ông thêm nữa. Tai nạn của chiếc Scotia là điều không thể phủ nhận. Lỗ thủng của nó đủ thật để buộc phải được bịt lại, và tôi không nghĩ sự tồn tại của một cái lỗ còn có thể được chứng minh hùng hồn hơn thế. Thế thì, cái lỗ này không tự tạo ra, và vì nó không phải do đá ngầm hay máy móc dưới nước gây nên, nó hẳn phải do công cụ xuyên thủng của một con vật nào đó gây ra.
Nào, vì tất cả những lý do đã nêu đến đây, tôi tin rằng con vật ấy là một thành viên của ngành Vertebrata, lớp Mammalia, nhóm Pisciforma, và cuối cùng, bộ Cetacea. Còn về họ mà nó sẽ được xếp vào (cá voi tấm sừng, cá nhà táng, hay cá heo), giống mà nó thuộc về, và loài trong đó nó sẽ tìm được vị trí thích hợp của mình, những câu hỏi ấy phải để lại sau. Muốn trả lời chúng cần phải mổ xẻ con quái vật chưa biết này; muốn mổ xẻ nó cần bắt được nó; muốn bắt nó cần phóng lao vào nó—việc của Ned Land; muốn phóng lao vào nó cần nhìn thấy nó—việc của thủy thủ đoàn; và muốn nhìn thấy nó cần gặp được nó—một việc phụ thuộc vào may rủi.
### CHƯƠNG 5
Tình cờ!
TRONG MỘT THỜI GIAN, chuyến đi của chiếc Abraham Lincoln không có sự kiện nào đáng kể. Nhưng một tình huống đã nảy sinh, phô bày kỹ năng kỳ diệu của Ned Land và cho thấy chúng tôi có thể đặt vào ông bao nhiêu niềm tin.
Ngoài khơi quần đảo Falkland ngày 30 tháng 6, tàu hộ vệ tiếp xúc với một đội tàu săn cá voi Mỹ, và chúng tôi biết rằng họ chưa thấy con kỳ lân biển. Nhưng một trong số họ, thuyền trưởng chiếc Monroe, biết rằng Ned Land đã lên chiếc Abraham Lincoln nên xin ông giúp săn một con cá voi tấm sừng đang ở trong tầm mắt. Nôn nóng muốn thấy Ned Land ra tay, Chỉ huy Farragut cho phép ông sang tàu Monroe. Và người Canada may mắn đến mức, với hai cú phóng liên tiếp, ông phóng trúng không phải một mà là hai con cá voi, đánh thẳng vào tim con thứ nhất và bắt được con kia sau vài phút đuổi theo!
Chắc chắn, nếu con quái vật từng phải đối đầu với lao của Ned Land, tôi sẽ không đặt cược vào con quái vật.
Tàu hộ vệ chạy dọc bờ đông Nam Mỹ với tốc độ phi thường. Đến ngày 3 tháng 7, chúng tôi ở lối vào eo biển Magellan, ngang Cabo de las Virgenes. Nhưng Chỉ huy Farragut không muốn thử con đường ngoằn ngoèo ấy mà thay vào đó điều khiển tàu vòng qua mũi Horn.
Thủy thủ đoàn nhất trí đứng về phía ông. Quả thật, liệu chúng tôi có khả năng gặp con kỳ lân biển trong một eo biển chật hẹp như thế không? Nhiều thủy thủ của chúng tôi thề rằng con quái vật không thể đi qua lối ấy chỉ vì “nó quá to đối với nơi đó!”
Gần ba giờ chiều ngày 6 tháng 7, cách bờ mười lăm dặm về phía nam, chiếc Abraham Lincoln vòng qua hòn đảo cô độc ở mút lục địa Nam Mỹ, tảng đá lạc loài mà các thủy thủ Hà Lan đã đặt tên là mũi Horn theo quê hương Hoorn của họ. Hướng đi của chúng tôi được đặt về phía tây bắc, và hôm sau chân vịt của tàu hộ vệ chúng tôi cuối cùng khuấy nước Thái Bình Dương.
“Mở mắt ra! Mở mắt ra!” các thủy thủ trên chiếc Abraham Lincoln nhắc đi nhắc lại.
Và họ mở mắt rộng một cách đáng kinh ngạc. Mắt và ống nhòm (đúng là hơi lóa đi trước viễn cảnh 2.000 đô la) không nghỉ ngơi lấy một khoảnh khắc. Ngày đêm chúng tôi quan sát mặt biển, và những người có mắt nhìn đêm, nhờ khả năng nhìn trong bóng tối làm tăng cơ hội của họ thêm năm mươi phần trăm, có một cơ may tuyệt hảo để giành giải thưởng.
Về phần tôi, dù hầu như không bị sức hấp dẫn của tiền bạc lôi cuốn, tôi vẫn không hề thuộc số những người kém chú ý nhất trên tàu. Chỉ tranh thủ vài phút để ăn và vài giờ để ngủ, dù mưa hay nắng, tôi không còn rời boong tàu nữa. Khi thì cúi mình qua lan can boong mũi, khi thì tựa vào lan can đuôi tàu, tôi háo hức rà soát vệt nước màu bông trắng xóa kéo dài trên đại dương đến tận chân trời! Và biết bao lần tôi đã chia sẻ sự kích động của ban tham mưu và thủy thủ đoàn khi một con cá voi bất ngờ nhô tấm lưng đen sẫm lên trên sóng. Trong khoảnh khắc, boong tàu hộ vệ sẽ trở nên đông nghẹt. Các chụp thông gió phía trên lối thang sẽ phun ra một dòng thác thủy thủ và sĩ quan. Ngực phập phồng, mắt lo âu, mỗi chúng tôi quan sát chuyển động của loài cá voi ấy. Tôi nhìn chằm chằm; tôi nhìn đến mức gần như mù lòa vì võng mạc mệt lả, trong khi Conseil, khắc kỷ như mọi khi, cứ lặp lại với tôi bằng giọng bình thản:
“Nếu ngài vui lòng đừng trợn mắt nữa, ngài sẽ nhìn được xa hơn!”
Nhưng thật là phí sức! Chiếc Abraham Lincoln sẽ đổi hướng và lao theo con vật vừa phát hiện, chỉ để nhận ra đó là một con cá voi tấm sừng bình thường hay một con cá nhà táng thông thường, chẳng mấy chốc biến mất giữa một hợp xướng những lời nguyền rủa!
Tuy nhiên, thời tiết vẫn tốt. Chuyến đi của chúng tôi đang diễn ra trong những điều kiện thuận lợi nhất. Khi ấy là mùa xấu ở những vùng cực nam này, vì tháng Bảy ở khu vực ấy tương ứng với tháng Giêng của chúng ta ở châu Âu; nhưng biển vẫn êm và dễ quan sát trên một chu vi rộng lớn.
Ned Land vẫn giữ thái độ hoài nghi ngoan cố nhất; ngoài những phiên trực, ông giả vờ rằng mình thậm chí chẳng bao giờ nhìn mặt sóng, ít nhất là khi không có cá voi nào trong tầm mắt. Thế nhưng năng lực thị giác kỳ diệu của ông lẽ ra có thể phục vụ đắc lực. Nhưng người Canada bướng bỉnh này dành tám giờ trong mỗi mười hai giờ để đọc sách hoặc ngủ trong cabin. Hàng trăm lần tôi trách ông vì sự dửng dưng ấy.
“Pờ!” ông đáp. “Ngoài kia chẳng có gì cả, Giáo sư Aronnax, và nếu có con vật nào đó, thì chúng ta có cơ hội gì để phát hiện nó? Ngài không thấy chúng ta chỉ đang lang thang bừa bãi sao? Người ta nói họ lại nhìn thấy con thú trơn tuột ấy ở vùng biển khơi Thái Bình Dương—tôi thật lòng sẵn sàng tin điều đó, nhưng hai tháng đã trôi qua kể từ lúc ấy, và xét theo tính khí của con kỳ lân biển của ngài, nó ghét bị mốc meo vì lảng vảng quá lâu trong cùng một thủy lộ! Nó được ban cho một năng khiếu tuyệt vời trong việc đi đây đi đó. Nào, giáo sư, ngài biết rõ hơn tôi rằng tự nhiên không vi phạm lẽ phải, và tự nhiên sẽ không ban cho một con vật vốn chậm chạp khả năng di chuyển nhanh nếu nó không có nhu cầu dùng tài năng ấy. Vì vậy, nếu con thú ấy tồn tại, thì nó đã đi xa từ lâu rồi!”
Tôi không có gì để đáp. Rõ ràng chúng tôi chỉ đang mò mẫm trong bóng tối. Nhưng còn có thể làm cách nào khác? Dẫu vậy, cơ may của chúng tôi tự nhiên khá hạn chế. Thế mà mọi người vẫn cảm thấy tin tưởng vào thành công, và không một thủy thủ nào trên tàu lại dám cược rằng con kỳ lân biển sẽ không xuất hiện, và sớm thôi.
Ngày 20 tháng 7, chúng tôi cắt chí tuyến Nam ở kinh độ 105 độ, và đến ngày 27 cùng tháng, chúng tôi đã vượt qua xích đạo trên kinh tuyến 110. Các tọa độ ấy đã xác định xong, tàu hộ vệ đổi sang hướng tây dứt khoát hơn và đương đầu với các vùng biển trung tâm Thái Bình Dương. Chỉ huy Farragut cảm thấy, và có lý do chính đáng, rằng tốt nhất là ở lại vùng nước sâu và giữ khoảng cách với các lục địa hay đảo, những vùng lân cận mà con vật dường như luôn tránh né—“Hẳn là,” thủy thủ trưởng của chúng tôi nói, “vì không đủ nước cho nó!” Vì thế tàu hộ vệ tránh xa khi đi ngang Tuamotu, Marquesas và quần đảo Hawaii, rồi cắt chí tuyến Bắc ở kinh độ 132 độ và hướng về các vùng biển Trung Hoa.
Cuối cùng chúng tôi đã ở trong khu vực những trò náo động mới nhất của con quái vật! Và thành thật mà nói, điều kiện trên tàu trở nên nguy hiểm đến tính mạng. Tim đập khủng khiếp, chuẩn bị cho những tương lai đầy chứng phình mạch không thể chữa khỏi. Toàn bộ thủy thủ đoàn chịu một trạng thái kích động thần kinh mà tôi không sao mô tả nổi. Không ai ăn, không ai ngủ. Mỗi ngày hai mươi lần, một sai lầm trong nhận thức, hay những ảo ảnh quang học của một thủy thủ nào đó ngồi trên crosstree, gây nên nỗi thống khổ không thể chịu nổi, và cảm xúc ấy, lặp đi lặp lại hai mươi lần, giữ chúng tôi trong một trạng thái cáu kỉnh dữ dội đến mức chắc chắn phải có phản ứng ngược.
Và phản ứng ấy không lâu sau đã đến. Trong ba tháng, mỗi ngày dường như dài bằng một thế kỷ, chiếc Abraham Lincoln rẽ sóng khắp các vùng biển phía bắc Thái Bình Dương, lao theo những con cá voi được trông thấy, đột ngột bẻ hướng, lạng gấp từ mạn này sang mạn kia, dừng sững, tăng hơi và đảo máy liên tiếp, với nguy cơ làm hỏng cả bộ truyền động, và nó không bỏ sót một điểm nào từ các bãi biển Nhật Bản đến bờ biển châu Mỹ. Và chúng tôi chẳng tìm thấy gì! Không gì ngoài một mênh mông sóng vắng! Không gì dù chỉ hơi giống một con kỳ lân biển khổng lồ, hay một đảo nhỏ dưới nước, hay một xác tàu trôi dạt, hay một rạn đá biết chạy, hay bất cứ thứ gì dù chỉ hơi không thuộc cõi trần!
Vì thế phản ứng ngược bắt đầu. Thoạt tiên, sự nản lòng chiếm lấy tâm trí mọi người, mở cửa cho hoài nghi. Một cảm giác mới xuất hiện trên tàu, gồm ba phần mười hổ thẹn và bảy phần mười giận dữ. Thủy thủ đoàn tự gọi mình là “lũ ngu chính hiệu” vì đã bị một chuyện thần tiên lừa phỉnh, rồi ngày càng giận dữ hơn. Những núi lập luận tích lũy suốt một năm sụp đổ trong chớp mắt, và giờ đây mỗi người chỉ muốn ăn và ngủ bù, bù lại thời gian mình đã ngu ngốc hy sinh.
Với thói thất thường điển hình của con người, họ nhảy từ cực này sang cực kia. Không tránh khỏi, những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho công cuộc này trở thành những kẻ phản đối mạnh mẽ nhất. Phản ứng ấy dâng lên từ lòng tàu, từ khu ở của những người xúc than đến phòng ăn của ban tham mưu; và chắc chắn, nếu không nhờ tính bướng bỉnh đặc trưng của Chỉ huy Farragut, tàu hộ vệ rốt cuộc đã quay về mũi đất phía nam ấy.
Nhưng cuộc tìm kiếm vô ích này không thể kéo dài hơn nữa. Chiếc Abraham Lincoln đã làm mọi điều có thể để thành công và không có lý do gì tự trách mình. Chưa bao giờ thủy thủ đoàn của một chiến hạm Mỹ thể hiện nhiều kiên nhẫn và nhiệt tình hơn; họ không chịu trách nhiệm về thất bại này; chẳng còn gì để làm ngoài việc trở về.
Một yêu cầu theo hướng ấy được trình lên vị chỉ huy. Vị chỉ huy giữ vững lập trường. Các thủy thủ của ông không giấu được sự bất mãn, và công việc của họ bị ảnh hưởng vì điều đó. Tôi không muốn nói rằng đã có nổi loạn trên tàu, nhưng sau một thời gian bướng bỉnh hợp lý, Chỉ huy Farragut, như Christopher Columbus trước ông, xin gia hạn thêm đúng ba ngày. Sau thời hạn ba ngày này, nếu con quái vật không xuất hiện, người lái tàu của chúng tôi sẽ xoay bánh lái ba vòng, và chiếc Abraham Lincoln sẽ vạch đường hướng về các vùng biển châu Âu.
Lời hứa này được đưa ra vào ngày 2 tháng 11. Nó lập tức có tác dụng vực dậy tinh thần đang suy sụp của thủy thủ đoàn. Đại dương lại được quan sát với sự cẩn thận mới. Mỗi người đều muốn nhìn lần cuối để tổng kết kinh nghiệm của mình. Các ống nhòm hoạt động với năng lượng sốt sắng. Một lời thách thức tối hậu đã được gửi đến con kỳ lân biển khổng lồ, và sinh vật ấy không có lý do chấp nhận được nào để phớt lờ Lệnh Trình Diện này!
Hai ngày trôi qua. Chiếc Abraham Lincoln giữ nửa hơi nước. Trong trường hợp con vật có thể được tìm thấy tại các thủy lộ này, cả nghìn phương pháp được dùng để khơi gợi sự chú ý hay đánh thức nó khỏi sự thờ ơ. Những tảng thịt xông khói khổng lồ được kéo theo vệt nước sau tàu của chúng tôi, phải nói thật là rất làm hài lòng đủ loại cá mập. Trong khi chiếc Abraham Lincoln hạ buồm nằm yên, các xuồng dài của nó tỏa ra mọi hướng xung quanh và không bỏ sót một điểm nào trên mặt biển. Nhưng tối ngày 4 tháng 11 đã đến mà bí ẩn dưới nước này vẫn chưa được giải quyết.
Trưa hôm sau, ngày 5 tháng 11, thời hạn đã thỏa thuận chấm dứt. Sau khi xác định vị trí, đúng như lời hứa, Chỉ huy Farragut sẽ phải đặt hướng đi về phía đông nam và dứt khoát rời khỏi các vùng phía bắc Thái Bình Dương.
Khi ấy tàu hộ vệ nằm ở vĩ độ 31 độ 15′ bắc và kinh độ 136 độ 42′ đông. Bờ biển Nhật Bản cách chúng tôi chưa đầy 200 dặm về phía dưới gió. Đêm đang xuống. Tám giờ vừa điểm. Những đám mây khổng lồ che phủ vành trăng, khi ấy mới ở thượng huyền. Biển nhấp nhô yên ả dưới sống mũi tàu hộ vệ.
Đúng lúc ấy tôi đang ở mũi tàu, nghiêng mình qua lan can mạn phải. Conseil đứng cạnh tôi, nhìn thẳng về phía trước. Bám trên các dây néo, thủy thủ đoàn quan sát đường chân trời đang dần co lại và tối sẫm. Các sĩ quan dò xét bóng tối ngày càng dày bằng ống nhòm đêm. Đôi khi đại dương u ám lấp lánh dưới những tia trăng lao qua giữa rìa hai đám mây. Rồi mọi vệt sáng lại biến mất vào bóng tối.
Quan sát Conseil, tôi nhận ra rằng, chỉ vừa đủ thôi, chàng trai can đảm ấy đã rơi vào ảnh hưởng chung. Ít nhất tôi nghĩ như vậy. Có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử, thần kinh của anh đang rung lên vì tò mò.
“Nào, Conseil!” tôi nói với anh. “Đây là cơ hội cuối cùng để anh bỏ túi 2.000 đô la!”
“Nếu ngài cho phép tôi nói,” Conseil đáp, “tôi chưa bao giờ trông đợi giành được phần thưởng ấy, và chính phủ Liên bang dù có hứa 100.000 đô la cũng chẳng nghèo đi chút nào.”
“Anh nói đúng, Conseil, rốt cuộc đây là một việc ngu xuẩn, và chúng ta đã nhảy vào nó quá vội vã. Thật phí thời gian, thật hao tổn cảm xúc vô ích! Sáu tháng trước chúng ta đã có thể trở lại Pháp—”
“Trong căn hộ nhỏ của ngài,” Conseil đáp. “Trong bảo tàng của ngài! Và đến giờ tôi đã phân loại xong các hóa thạch của ngài. Còn con babirusa của ngài hẳn đã an vị trong chuồng ở vườn thú thuộc Vườn Bách thảo, và nó sẽ thu hút mọi người hiếu kỳ trong thành phố!”
“Đúng thế, Conseil, hơn nữa, tôi tưởng tượng rằng chẳng mấy chốc người ta sẽ châm chọc chúng ta!”
“Chắc chắn rồi,” Conseil điềm tĩnh đáp, “tôi nghĩ họ sẽ vui đùa trên lưng ngài. Và có cần phải nói ra không...?”
“Cần phải nói, Conseil.”
“Vậy thì, như thế cũng đáng đời ngài!”
“Đúng làm sao!”
“Khi người ta có vinh dự là một chuyên gia như ngài, người ta không nên tự đặt mình vào chỗ—”
Conseil không kịp hoàn tất lời khen. Giữa sự im lặng chung, một giọng nói vang lên. Đó là giọng Ned Land, và nó hô lớn:
“Kìa! Chính nó đó, ngang chúng ta về phía dưới gió!”
### CHƯƠNG 6
Hết tốc lực
TRƯỚC TIẾNG HÔ ấy, toàn bộ thủy thủ đoàn lao về phía người phóng lao—chỉ huy, sĩ quan, thuyền phó, thủy thủ, chú bé phụ việc, cho đến các kỹ sư rời máy móc và những người xúc than bỏ mặc lò đốt. Lệnh dừng tàu được ban ra, và tàu hộ vệ chỉ còn trôi theo quán tính.
Khi ấy bóng tối đã sâu thẳm, và dù mắt người Canada tốt đến đâu, tôi vẫn tự hỏi làm sao ông có thể thấy—và ông đã thấy gì. Tim tôi đập như muốn vỡ tung.
Nhưng Ned Land không nhầm, và tất cả chúng tôi đều nhận ra vật mà bàn tay ông đang chỉ.
Cách góc mạn phải phía đuôi chiếc Abraham Lincoln hai tầm dây cáp, mặt biển dường như được chiếu sáng từ bên dưới. Rõ ràng đây không phải là một hiện tượng lân quang đơn thuần. Con quái vật chìm dưới mặt nước vài sải, tỏa ra thứ ánh sáng rất mạnh nhưng không thể giải thích, thứ mà nhiều thuyền trưởng đã nhắc đến trong báo cáo của họ. Ánh rạng rỡ kỳ diệu này hẳn phải phát ra từ một lực có khả năng chiếu sáng lớn. Rìa ánh sáng của nó quét trên mặt biển thành một hình bầu dục mênh mông, rất dài, tụ lại ở trung tâm thành một lõi rực cháy, nơi ánh chói không thể chịu nổi giảm dần ra bên ngoài.
“Chỉ là một đám hạt lân quang thôi!” một sĩ quan kêu lên.
“Không, thưa ngài,” tôi đáp với niềm xác tín. “Ngay cả trai cánh thiên thần hay salp cũng chưa từng phát ra ánh sáng mạnh đến thế. Ánh sáng ấy về cơ bản có bản chất điện. Hơn nữa... nhìn kìa, nhìn kìa! Nó đang dịch chuyển! Nó đang lui tới! Nó lao về phía chúng ta!”
Một tiếng hô vang khắp tàu hộ vệ.
“Im lặng!” Chỉ huy Farragut nói. “Bẻ lái hết sang phía dưới gió! Đảo máy!”
Thủy thủ lao tới bánh lái, kỹ sư lao về máy móc. Ngay dưới hơi nước đảo chiều, chiếc Abraham Lincoln ngoặt sang mạn trái, quét thành một nửa vòng tròn.
“Trả lái! Máy tiến!” Chỉ huy Farragut gọi.
Những mệnh lệnh này được thi hành, và tàu hộ vệ nhanh chóng lùi xa khỏi lõi sáng ấy.
Tôi đã nhầm. Nó muốn lùi xa, nhưng con vật không thuộc cõi trần lao đến chúng tôi với tốc độ gấp đôi tốc độ của chúng tôi.
Chúng tôi nín thở. Kinh ngạc hơn là sợ hãi, chúng tôi đứng câm lặng và bất động. Con vật đuổi kịp chúng tôi, đùa giỡn với chúng tôi. Nó lượn một vòng trọn quanh tàu hộ vệ—khi ấy đang chạy mười bốn nút—và bao bọc chúng tôi trong những lớp điện như bụi sáng. Rồi nó lùi ra hai hay ba dặm, để lại một vệt lân quang có thể sánh với những xoáy hơi nước bắn ra sau đầu máy của một đoàn tàu tốc hành. Đột nhiên, từ tận đường chân trời tối nơi nó đã đi để lấy đà, con quái vật bất thần lao về phía chiếc Abraham Lincoln với tốc độ kinh hoàng, dừng phắt lại cách các tấm mạn tàu của chúng tôi hai mươi foot, và tắt ngấm—không phải do lặn xuống nước, vì ánh sáng của nó không rút đi dần dần—mà tắt tức thì, như thể nguồn phát sáng rực rỡ ấy đột ngột cạn kiệt. Rồi nó lại hiện ra ở phía bên kia con tàu, hoặc bằng cách lượn quanh chúng tôi, hoặc bằng cách lướt dưới thân tàu. Bất cứ khoảnh khắc nào cũng có thể xảy ra một cú va chạm chí mạng đối với chúng tôi.
Trong lúc ấy tôi kinh ngạc trước các thao tác của tàu hộ vệ. Nó đang chạy trốn, không phải chiến đấu. Được đóng để truy đuổi, nó lại bị truy đuổi, và tôi nhận xét điều này với Chỉ huy Farragut. Gương mặt ông, thường ngày vốn ít biểu cảm, in dấu một sự kinh ngạc không thể tả.
“Giáo sư Aronnax,” ông trả lời tôi, “tôi không biết mình đang đối mặt với loại sinh vật đáng sợ nào, và tôi không muốn tàu hộ vệ của mình liều lĩnh một cách ngu xuẩn trong bóng tối này. Hơn nữa, chúng ta nên tấn công sinh vật chưa biết này ra sao, nên tự vệ chống lại nó thế nào? Hãy đợi trời sáng, rồi chúng ta sẽ đóng một vai khác.”
“Ngài không còn nghi ngờ gì nữa, thưa chỉ huy, về bản chất của con vật này chứ?”
“Không, thưa ngài, rõ ràng nó là một con kỳ lân biển khổng lồ, và lại còn là một con chạy điện nữa.”
“Có thể,” tôi nói thêm, “nó không dễ đến gần hơn lươn điện hay cá đuối điện!”
“Đúng,” vị chỉ huy đáp. “Và nếu nó có năng lực phóng điện của chúng, chắc chắn nó là con vật kinh khiếp nhất từng được Đấng Tạo hóa của chúng ta nghĩ ra. Vì vậy tôi sẽ luôn cảnh giác, thưa ngài.”
Cả thủy thủ đoàn thức trắng suốt đêm. Không ai nghĩ đến chuyện ngủ. Không thể cạnh tranh với tốc độ của con quái vật, chiếc Abraham Lincoln giảm tốc và giữ nửa hơi. Về phần mình, kỳ lân biển bắt chước tàu hộ vệ, chỉ đơn giản cưỡi trên sóng, và dường như quyết không rời khỏi chiến trường.
Tuy nhiên, gần nửa đêm nó biến mất, hay dùng một cách nói thích hợp hơn, “nó tắt đi”, như một con đom đóm khổng lồ. Nó đã chạy trốn chúng tôi chăng? Chúng tôi buộc phải sợ điều ấy hơn là hy vọng điều ấy. Nhưng lúc 12 giờ 53 phút sáng, một tiếng rít điếc tai vang lên, giống âm thanh do một cột nước phun ra với cường độ khủng khiếp.
Khi ấy Chỉ huy Farragut, Ned Land và tôi đang ở boong sau, chăm chú nhìn vào bóng tối sâu thẳm.
“Ned Land,” vị chỉ huy hỏi, “ông thường nghe cá voi rống chứ?”
“Thường lắm, thưa ngài, nhưng chưa từng nghe con cá voi nào như con này, việc phát hiện ra nó đem cho tôi 2.000 đô la.”
“Đúng, phần thưởng chính đáng thuộc về ông. Nhưng nói tôi nghe, đó chẳng phải là tiếng cá voi tạo ra khi chúng phun nước từ lỗ thở sao?”
“Chính tiếng ấy, thưa ngài, nhưng con này lớn hơn nhiều. Vậy nên không thể lầm được. Chắc chắn có một con cá voi đang rình trong vùng nước của chúng ta. Với sự cho phép của ngài,” người phóng lao nói thêm, “sáng mai lúc rạng đông chúng ta sẽ nói chuyện với nó.”
“Nếu nó có tâm trạng để nghe ông, ông Land,” tôi đáp bằng giọng hoàn toàn không tin chắc.
“Hãy để tôi đến trong vòng bốn tầm lao của nó,” người Canada đáp trả, “và tốt hơn là nó nên nghe!”
“Nhưng để đến gần nó,” vị chỉ huy tiếp tục, “tôi phải đặt một xuồng săn cá voi cho ông sử dụng?”
“Tất nhiên, thưa ngài.”
“Như thế là đánh bạc với mạng sống của người của tôi.”
“Và với mạng sống của tôi!” người phóng lao giản dị đáp.
Gần hai giờ sáng, lõi sáng lại xuất hiện, không kém phần mãnh liệt, cách chiếc Abraham Lincoln năm dặm về phía đầu gió. Bất chấp khoảng cách, bất chấp tiếng gió và tiếng biển, chúng tôi vẫn nghe rõ những cú quẫy đáng sợ từ đuôi con vật, và cả hơi thở hổn hển của nó. Dường như khoảnh khắc con kỳ lân biển khổng lồ này ngoi lên mặt đại dương để thở, không khí bị hút vào phổi nó như hơi nước vào các xi lanh khổng lồ của một động cơ 2.000 mã lực.
“Hừm!” tôi tự nhủ. “Một loài cá voi mạnh bằng cả một trung đoàn kỵ binh—quả là cá voi trong các cá voi!”
Chúng tôi cảnh giác cho đến sáng, sẵn sàng hành động. Dụng cụ săn cá voi được bố trí dọc lan can. Sĩ quan trưởng của chúng tôi nạp các khẩu súng loe nòng, có thể phóng lao xa đến một dặm, và những khẩu súng săn vịt dài với đạn nổ có thể gây thương tích chí mạng ngay cả cho những con vật mạnh nhất. Ned Land chỉ bằng lòng mài sắc ngọn lao của mình, một vũ khí đáng sợ trong tay ông.
Lúc sáu giờ, trời bắt đầu rạng, và cùng ánh sáng ban mai đầu tiên, ánh điện của kỳ lân biển biến mất. Lúc bảy giờ, ngày đã sáng rõ, nhưng một màn sương sớm rất dày thu hẹp chân trời, và những ống nhòm tốt nhất của chúng tôi cũng không thể xuyên qua nó. Kết quả là thất vọng và tức giận.
Tôi leo lên crosstree của buồm sau. Một số sĩ quan đã ngồi trên các đỉnh cột buồm.
Lúc tám giờ, sương mù lăn nặng nề trên sóng, và những cuộn lớn của nó dần dần bốc lên. Đường chân trời bỗng mở rộng và sáng rõ hơn.
Đột nhiên, đúng như tối hôm trước, giọng Ned Land vang lên.
“Kìa, chính nó đó, phía đuôi bên mạn trái!” người phóng lao hét lớn.
Mọi con mắt đều nhìn về điểm được chỉ.
Ở đó, cách tàu hộ vệ một dặm rưỡi, một thân hình đen sẫm dài nhô lên khỏi sóng một mét. Run lên dữ dội, cái đuôi của nó tạo ra một xoáy nước đáng kể. Chưa từng có bộ phận đuôi nào quất biển với sức mạnh như thế. Một vệt nước mênh mông trắng xóa rực sáng đánh dấu đường đi của con vật, quét thành một đường cong dài.
Tàu hộ vệ của chúng tôi tiến gần loài cá voi ấy. Tôi xem xét nó với tâm trí hoàn toàn rộng mở. Các báo cáo từ chiếc Shannon và Helvetia đã hơi phóng đại kích thước của nó, và tôi ước lượng chiều dài nó chỉ khoảng 250 foot. Chu vi thân nó khó đánh giá hơn, nhưng nói chung, con vật có vẻ cân đối kỳ diệu trong cả ba chiều.
Trong khi tôi quan sát sinh vật phi thường này, hai luồng hơi nước và nước bắn vọt từ các lỗ thở của nó và vươn lên cao bốn mươi mét, điều ấy xác định cho tôi phương thức hô hấp của nó. Từ đó cuối cùng tôi kết luận rằng nó thuộc ngành Vertebrata, lớp Mammalia, phân lớp Monodelphia, nhóm Pisciforma, bộ Cetacea, họ... nhưng đến đây tôi không thể quyết định được. Bộ Cetacea gồm ba họ, cá voi tấm sừng, cá nhà táng, cá heo, và chính trong nhóm cuối này kỳ lân biển được xếp vào. Mỗi họ này lại chia thành nhiều giống, mỗi giống thành các loài, mỗi loài thành các biến chủng. Vậy là tôi vẫn còn thiếu biến chủng, loài, giống và họ, nhưng chắc chắn tôi sẽ hoàn tất việc phân loại của mình nhờ sự trợ giúp của Trời và Chỉ huy Farragut.
Thủy thủ đoàn nôn nóng chờ mệnh lệnh từ người chỉ huy. Người này, sau khi quan sát kỹ con vật, gọi kỹ sư của mình. Kỹ sư chạy tới.
“Thưa anh,” vị chỉ huy nói, “áp suất đủ chưa?”
“Rồi, thưa ngài,” kỹ sư đáp.
“Tốt. Tiếp than vào lò và tăng hết hơi!”
Ba tràng hoan hô chào đón mệnh lệnh này. Giờ giao chiến đã điểm. Vài khoảnh khắc sau, hai ống khói của tàu hộ vệ phun ra những dòng khói đen cuồn cuộn, và boong tàu rung lên vì sự run rẩy của các nồi hơi.
Được chân vịt mạnh mẽ đẩy tới, chiếc Abraham Lincoln tiến thẳng về phía con vật. Dửng dưng, con vật để chúng tôi đến trong khoảng cách nửa tầm dây cáp; rồi, chẳng buồn lặn xuống, nó tăng tốc đôi chút, lùi ra, và chỉ bằng lòng giữ khoảng cách.
Cuộc rượt đuổi này kéo dài khoảng ba phần tư giờ mà tàu hộ vệ không rút ngắn được hai sải so với loài cá voi. Với tốc độ này, rõ ràng chúng tôi sẽ không bao giờ bắt kịp nó.
Tức giận, Chỉ huy Farragut cứ xoắn chùm râu rậm mọc dưới cằm.
“Ned Land!” ông gọi.
Người Canada lập tức trình diện.
“Sao, ông Land,” vị chỉ huy hỏi, “ông vẫn khuyên tôi thả các xuồng dài xuống biển chứ?”
“Không, thưa ngài,” Ned Land đáp, “vì con thú ấy sẽ không bị bắt nếu nó không muốn.”
“Vậy chúng ta nên làm gì?”
“Tăng thêm hơi nữa, thưa ngài, nếu có thể. Còn tôi, với sự cho phép của ngài, tôi sẽ ra bám ở các dây chống dưới cần mũi, và nếu chúng ta có thể đến trong tầm phóng lao, tôi sẽ phóng lao vào con súc sinh ấy.”
“Làm đi, Ned,” Chỉ huy Farragut đáp. “Kỹ sư,” ông gọi, “tiếp tục tăng áp suất!”
Ned Land đi đến vị trí của mình. Các lò được thúc hoạt động mạnh hơn; chân vịt của chúng tôi quay bốn mươi ba vòng mỗi phút, và hơi nước bắn ra từ các van. Thả dây đo tốc độ, chúng tôi xác nhận rằng chiếc Abraham Lincoln đang đi với vận tốc 18,5 dặm mỗi giờ.
Nhưng con vật đáng nguyền rủa ấy cũng chạy với tốc độ 18,5.
Trong suốt giờ tiếp theo, tàu hộ vệ của chúng tôi giữ nhịp này mà không rút ngắn được một sải! Thật nhục nhã cho một trong những tay đua nhanh nhất của hải quân Mỹ. Thủy thủ đoàn bị kích lên đến cơn thịnh nộ mù quáng. Hết thủy thủ này đến thủy thủ khác ném lời chửi rủa vào con quái vật, mà nó chẳng thèm đáp lại. Chỉ huy Farragut không còn chỉ hài lòng với việc xoắn chòm râu dê nữa; ông nhai nó.
Kỹ sư lại được gọi đến.
“Anh đã lên áp suất tối đa chưa?” vị chỉ huy hỏi ông ta.
“Rồi, thưa ngài,” kỹ sư đáp.
“Và các van của anh được nạp tới...?”
“Tới sáu át-mốt-phe rưỡi.”
“Nạp chúng tới mười át-mốt-phe.”
Một mệnh lệnh Mỹ điển hình, nếu tôi từng nghe thấy. Nó hẳn sẽ nghe rất hợp trong một cuộc đua tàu bánh guồng trên Mississippi, để “vượt mặt đối thủ!”
“Conseil,” tôi nói với người hầu can đảm của mình, lúc ấy đang ở cạnh tôi, “anh nhận ra rằng chúng ta có lẽ sẽ tự nổ tung lên trời chứ?”
“Theo ý ngài!” Conseil đáp.
Được thôi, tôi thừa nhận: tôi quả có muốn liều như vậy!
Các van được nạp. Nhiều than hơn bị các lò nuốt chửng. Quạt thông gió phóng từng luồng không khí lên các lò than hồng. Tốc độ của chiếc Abraham Lincoln tăng lên. Các cột buồm của nó run xuống tận puli, và những xoáy khói khó nhọc lắm mới ép được qua các ống khói hẹp.
Chúng tôi thả dây đo tốc độ lần thứ hai.
“Sao rồi, lái tàu?” Chỉ huy Farragut hỏi.
“19,3 dặm mỗi giờ, thưa ngài.”
“Tiếp tục thúc lò.”
Kỹ sư làm như thế. Đồng hồ áp suất chỉ mười át-mốt-phe. Nhưng chắc chắn chính loài cá voi ấy cũng đã “nóng máy”, vì chẳng chút khó khăn, nó cũng đạt 19,3.
Thật là một cuộc rượt đuổi! Không, tôi không thể mô tả cơn kích động làm rung chuyển toàn bộ con người tôi. Ned Land ở nguyên vị trí, tay cầm lao. Mấy lần con vật để chúng tôi tới gần.

“Chúng ta đang bắt kịp nó!” người Canada hô lên.
Rồi, đúng lúc ông sắp ra đòn, loài cá voi lại lẩn đi với tốc độ mà tôi ước tính không dưới ba mươi dặm mỗi giờ. Và ngay cả khi chúng tôi chạy ở tốc độ tối đa, nó vẫn cả gan giễu cợt tàu hộ vệ bằng cách chạy một vòng trọn quanh chúng tôi! Một tiếng hú giận dữ bùng ra từ mọi cuống họng!
Đến trưa, chúng tôi chẳng tiến triển hơn chút nào so với lúc tám giờ sáng.
Khi ấy Chỉ huy Farragut quyết định dùng những phương pháp trực tiếp hơn.
“Pờ!” ông nói. “Vậy con vật ấy nhanh hơn chiếc Abraham Lincoln. Được rồi, chúng ta sẽ xem nó có chạy nhanh hơn đạn hình nón của chúng ta không! Thuyền phó, bố trí pháo ở mũi!”
Khẩu đại bác ở boong mũi của chúng tôi lập tức được nạp và chỉnh hướng. Pháo thủ bắn một phát, nhưng quả đạn bay cao hơn loài cá voi vài foot, trong khi nó ở cách nửa dặm.
“Đến lượt người ngắm giỏi hơn!” vị chỉ huy hét lên. “Và 500 đô la cho người nào có thể xuyên thủng con thú địa ngục ấy!”
Mắt bình thản, nét mặt lạnh lùng, một pháo thủ già râu bạc—đến nay tôi vẫn còn thấy ông—bước tới khẩu đại bác, đưa nó vào vị trí và ngắm rất lâu. Một tiếng nổ dữ dội vang lên, hòa lẫn với tiếng hoan hô của thủy thủ đoàn.
Quả đạn chạm mục tiêu; nó đánh trúng con vật, nhưng không theo cách thông thường—nó bật khỏi bề mặt tròn ấy rồi biến mất vào biển cách đó hai dặm.
“Quỷ thật!” người pháo thủ già nói trong cơn giận. “Tên lưu manh ấy hẳn phải được phủ giáp dày sáu inch!”
“Nguyền rủa con thú!” Chỉ huy Farragut hét lên.
Cuộc săn lại tiếp diễn, và Chỉ huy Farragut nghiêng người về phía tôi, nói:
“Tôi sẽ đuổi theo con vật ấy cho đến khi tàu hộ vệ của tôi nổ tung!”
“Vâng,” tôi đáp, “và chẳng ai trách ngài cả!”
Chúng tôi vẫn còn có thể hy vọng rằng con vật sẽ mệt mỏi và không trơ lì trước kiệt sức như các động cơ hơi nước của chúng tôi. Nhưng chẳng có may mắn như vậy. Hết giờ này sang giờ khác trôi qua mà nó không cho thấy dấu hiệu mỏi mệt nhỏ nhất.
Tuy nhiên, để ghi công cho chiếc Abraham Lincoln, cần phải nói rằng chúng tôi đã vật lộn với sự bền bỉ không mệt mỏi. Tôi ước tính chúng tôi đã đi được ít nhất 500 kilômét trong ngày 6 tháng 11 xấu số ấy. Nhưng đêm buông xuống và bọc đại dương cuộn sóng trong bóng tối của nó.
Khi ấy tôi nghĩ cuộc viễn chinh của chúng tôi đã đến hồi kết, rằng chúng tôi sẽ không bao giờ thấy con vật kỳ ảo này nữa. Tôi đã lầm.
Lúc 10 giờ 50 phút tối, ánh điện ấy lại xuất hiện cách tàu hộ vệ ba dặm về phía đầu gió, rõ ràng và mãnh liệt y như đêm trước.
Con kỳ lân biển dường như bất động. Có lẽ nó đang ngủ, mệt mỏi sau một ngày làm việc, chỉ cưỡi theo sóng? Đây là cơ hội của chúng tôi, và Chỉ huy Farragut quyết tâm tận dụng triệt để.
Ông ra lệnh. Chiếc Abraham Lincoln giữ nửa hơi nước, tiến lên thận trọng để khỏi đánh thức đối thủ. Giữa đại dương, không hiếm khi gặp những con cá voi ngủ say đến mức có thể tấn công thành công, và Ned Land đã phóng lao vào hơn một con đang say ngủ. Người Canada trở lại vị trí của mình trên các dây chống dưới cần mũi.
Tàu hộ vệ tiến lại gần không một tiếng động, dừng cách con vật hai tầm dây cáp và trôi theo quán tính. Không một linh hồn nào thở trên tàu. Một sự im lặng sâu thẳm ngự trị trên boong. Chúng tôi cách lõi sáng rực cháy chưa đầy 100 foot, ánh sáng của nó mạnh hơn và làm lóa mắt.
Đúng lúc ấy, nghiêng mình qua lan can boong mũi, tôi thấy Ned Land bên dưới mình, một tay nắm dây chống mũi, tay kia vung ngọn lao đáng sợ. Chỉ vỏn vẹn hai mươi foot ngăn cách ông với con vật bất động.
Đột nhiên cánh tay ông phóng tới và ngọn lao được tung ra. Tôi nghe vũ khí ấy va chạm vang dội, như thể nó đập vào một chất cứng nào đó.
Ánh điện đột ngột tắt phụt, và hai cột nước khổng lồ đổ ập xuống boong tàu hộ vệ, lao như thác lũ từ mũi đến đuôi tàu, quật ngã thủy thủ, bẻ gãy các cột buồm và xà buồm dự phòng khỏi dây buộc của chúng.
Một cú va chạm ghê rợn xảy ra, và bị ném qua lan can mà không kịp bám lấy nó, tôi bị hất xuống biển.
### CHƯƠNG 7
Một loài cá voi chưa biết
DÙ TÔI KINH HOÀNG trước cú rơi bất ngờ này, ít nhất tôi vẫn còn nhớ rất rõ các cảm giác của mình trong lúc ấy.
Thoạt đầu tôi bị kéo xuống khoảng hai mươi foot. Tôi bơi khá giỏi, dù không dám tự nhận ngang hàng với những tác giả khác như Byron và Edgar Allan Poe, những tay lặn cừ khôi, và tôi không mất bình tĩnh trên đường chìm xuống. Với hai cú đạp gót mạnh mẽ, tôi trở lại mặt biển.
Mối bận tâm đầu tiên của tôi là tìm tàu hộ vệ. Thủy thủ đoàn có thấy tôi rơi xuống biển không? Chiếc Abraham Lincoln có đang quay mạn lại không? Chỉ huy Farragut có thả xuồng dài xuống biển không? Tôi có thể hy vọng được cứu không?
Bóng tối sâu thẳm. Tôi thoáng thấy một khối đen đang biến mất về phía đông, nơi các đèn hành trình của nó mờ dần trong khoảng cách. Đó là tàu hộ vệ. Tôi cảm thấy mình đã hết đời.
“Cứu! Cứu!” tôi hét lên, tuyệt vọng bơi về phía chiếc Abraham Lincoln.
Quần áo đang kéo tôi xuống. Nước dán chúng vào thân thể tôi, chúng làm tê liệt cử động của tôi. Tôi đang chìm! Tôi đang ngạt thở...!
“Cứu!”
Đó là tiếng kêu cuối cùng tôi thốt ra. Miệng tôi đầy nước. Tôi vật lộn chống lại việc bị kéo xuống vực sâu....
Đột nhiên quần áo của tôi bị những bàn tay mạnh mẽ nắm lấy, tôi cảm thấy mình bị kéo phắt trở lại mặt biển, và đúng vậy, tôi nghe những lời này vang lên bên tai:
“Nếu ngài vui lòng tựa vào vai tôi, ngài sẽ bơi dễ dàng hơn nhiều.”
Bằng một tay, tôi nắm lấy cánh tay của Conseil trung thành.
“Anh!” tôi nói. “Anh!”
“Chính tôi,” Conseil đáp, “và theo lệnh ngài.”
“Cú va chạm ấy ném anh xuống biển cùng với tôi sao?”
“Không hề. Nhưng vì đang phụng sự ngài, tôi đi theo ngài.”
Chàng trai tốt bụng ấy xem điều này là hoàn toàn tự nhiên!
“Còn tàu hộ vệ?” tôi hỏi.
“Tàu hộ vệ?” Conseil đáp, lật ngửa người trên lưng. “Tôi nghĩ tốt nhất ngài không nên trông cậy vào nó quá nhiều!”
“Anh nói gì?”
“Tôi nói rằng ngay khi tôi nhảy xuống biển, tôi nghe những người ở bánh lái hét: ‘Chân vịt và bánh lái của chúng ta bị phá hỏng rồi!’”
“Bị phá hỏng?”
“Vâng, bị ngà của con quái vật phá hỏng! Tôi tin đó là thương tổn duy nhất mà chiếc Abraham Lincoln phải chịu. Nhưng hết sức bất tiện cho chúng ta, con tàu không còn lái được nữa.”
“Vậy thì chúng ta xong đời!”
“Có lẽ,” Conseil điềm tĩnh đáp. “Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn vài giờ trước mắt, và trong vài giờ người ta có thể làm được rất nhiều việc!”
Sự điềm nhiên không gì lay chuyển của Conseil làm tôi phấn chấn. Tôi bơi mạnh hơn, nhưng bị quần áo vướng víu nặng như một chiếc áo choàng bằng chì cản trở, tôi chỉ xoay xở được với khó khăn lớn nhất. Conseil nhận ra điều ấy.
“Ngài sẽ cho phép tôi rạch một đường,” anh nói.
Và anh luồn một con dao gấp mở sẵn dưới quần áo tôi, rạch chúng từ trên xuống dưới bằng một nhát nhanh gọn. Rồi anh nhanh nhẹn cởi đồ cho tôi trong khi tôi bơi cho cả hai.
Sau đó tôi cũng giúp Conseil như thế, và chúng tôi tiếp tục “đi biển” bên nhau.
Nhưng hoàn cảnh của chúng tôi vẫn không kém phần ghê rợn. Có lẽ họ đã không thấy chúng tôi rơi xuống biển; và ngay cả nếu họ có thấy, tàu hộ vệ—vì đã hỏng bánh lái—cũng không thể quay lại phía dưới gió để đón chúng tôi. Vậy chúng tôi chỉ có thể trông cậy vào các xuồng dài của nó.
Conseil đã lạnh lùng suy xét giả thuyết này và lập kế hoạch tương ứng. Một tính cách đáng kinh ngạc, chàng trai ấy; giữa đại dương, chàng trai khắc kỷ này dường như hoàn toàn ở nhà!
Vậy nên, sau khi kết luận rằng cơ hội cứu rỗi duy nhất của chúng tôi nằm ở việc được các xuồng dài của chiếc Abraham Lincoln vớt lên, chúng tôi phải tìm cách chờ chúng càng lâu càng tốt. Do đó, tôi quyết định chia sức lực của chúng tôi để cả hai không cùng kiệt quệ một lúc, và sự sắp đặt như sau: trong khi một người nằm ngửa, bất động, hai tay khoanh lại và hai chân duỗi thẳng, người kia sẽ bơi và đẩy bạn mình tiến lên. Vai trò kéo này không được kéo dài quá mười phút, và bằng cách thay phiên nhau như thế, chúng tôi có thể nổi trên mặt nước hàng giờ, có lẽ thậm chí cho đến rạng đông.
Cơ may mong manh, nhưng niềm hy vọng vẫn mãi nảy sinh trong lồng ngực con người! Vả lại, chúng tôi có hai người. Sau cùng, tôi có thể cam đoan—dù nghe có vẻ khó tin—rằng ngay cả nếu tôi muốn phá hủy mọi ảo tưởng của mình, ngay cả nếu tôi sẵn lòng “buông mình cho tuyệt vọng”, tôi cũng không thể làm được!
Loài cá voi đã húc tàu hộ vệ của chúng tôi khoảng mười một giờ đêm. Vì vậy, tôi tính rằng chúng tôi phải bơi tám giờ cho đến khi mặt trời mọc. Một nhiệm vụ mệt nhọc, nhưng có thể thực hiện được, nhờ việc thay phiên nhau. Biển khá êm và hầu như không làm chúng tôi mệt. Đôi khi tôi cố nhìn xuyên qua bóng tối dày đặc, chỉ bị phá vỡ bởi những tia lân quang lóe lên từ các cử động của chúng tôi. Tôi nhìn chằm chằm những gợn sóng sáng vỡ trên tay mình, những tấm lấp lánh rải những vệt xanh xám. Dường như chúng tôi đã lao vào một bể thủy ngân lỏng.
Gần một giờ sáng, tôi bị cơn kiệt sức khủng khiếp chế ngự. Tứ chi tôi cứng đờ trong những cơn chuột rút dữ dội. Conseil phải giữ cho tôi tiếp tục, và việc chăm lo cho sự sống còn của chúng tôi trở thành trách nhiệm duy nhất của anh. Chẳng mấy chốc tôi nghe chàng trai tội nghiệp thở hổn hển; hơi thở của anh trở nên nông và gấp. Tôi không nghĩ anh có thể chịu đựng nỗ lực như thế lâu hơn nữa.
“Tiếp tục đi! Tiếp tục đi!” tôi nói với anh.
“Bỏ ngài lại phía sau sao?” anh đáp. “Không bao giờ! Tôi sẽ chết đuối trước ngài!”
Đúng lúc ấy, bên ngoài những rìa của một đám mây lớn đang bị gió đẩy về phía đông, mặt trăng hiện ra. Mặt biển lấp lánh dưới những tia sáng của nó. Ánh sáng hiền hòa ấy thắp lại sức lực của chúng tôi. Tôi lại ngẩng đầu lên. Mắt tôi phóng tới mọi điểm trên đường chân trời. Tôi phát hiện tàu hộ vệ. Nó cách chúng tôi năm dặm và chỉ còn là một khối đen, khó nhận thấy. Nhưng còn xuồng dài thì chẳng thấy chiếc nào!
Tôi cố kêu lên. Có ích gì ở khoảng cách như thế! Đôi môi sưng phồng của tôi không để lọt ra một âm thanh nào. Conseil vẫn còn phát ra được vài lời, và tôi nghe anh lặp lại từng lúc:
“Cứu! Cứu!”
Ngừng mọi cử động trong một khoảnh khắc, chúng tôi lắng nghe. Và có thể đó là tiếng ù trong tai tôi, do cơ quan ấy bị máu ứ lại làm đầy, nhưng tôi có cảm giác tiếng kêu của Conseil đã nhận được một lời đáp.
“Anh nghe thấy không?” tôi lẩm bẩm.
“Có, có!”
Và Conseil ném vào không gian một lời cầu cứu tuyệt vọng khác.
Lần này thì không thể nhầm được! Một giọng người đã đáp lại chúng tôi! Đó là giọng của một kẻ khốn khổ nào bị bỏ lại giữa đại dương, một nạn nhân khác của cú va chạm mà con tàu chúng tôi chịu đựng? Hay đó là một trong những xuồng dài của tàu hộ vệ đang gọi chúng tôi từ bóng tối?
Conseil dốc một nỗ lực cuối cùng, và chống hai tay lên vai tôi, trong khi tôi gắng sức tối đa để làm điểm tựa, anh nâng nửa thân mình khỏi mặt nước, rồi lại ngã xuống kiệt sức.
“Anh đã thấy gì?”
“Tôi thấy...” anh lẩm bẩm, “tôi thấy... nhưng chúng ta không được nói... giữ sức...!”
Anh đã thấy gì? Rồi, Chúa mới biết vì sao, ý nghĩ về con quái vật lần đầu tiên nảy ra trong đầu tôi...! Nhưng dẫu vậy, giọng nói ấy...? Đã qua rồi thời những Jonah ẩn náu trong bụng cá voi!
Tuy nhiên, Conseil vẫn tiếp tục kéo tôi. Thỉnh thoảng anh ngẩng đầu, nhìn thẳng về phía trước, và hô xin chỉ hướng, được một giọng nói ngày càng gần hơn đáp lại. Tôi hầu như không nghe được. Tôi đã đến tận cùng sức lực; các ngón tay tôi rã rời; hai bàn tay không còn giúp gì được cho tôi; miệng tôi co giật mở ra, đầy nước muối; cái lạnh của nó chạy xuyên qua người tôi; tôi ngẩng đầu lên lần cuối, rồi tôi gục xuống....
Đúng lúc ấy, một vật cứng va mạnh vào tôi. Tôi bám lấy nó. Rồi tôi cảm thấy mình bị kéo lên, trở lại mặt nước; lồng ngực tôi lõm xuống, và tôi ngất đi....
Chắc chắn tôi tỉnh lại nhanh chóng, vì có người xoa bóp tôi mạnh đến mức để lại những vệt hằn trên da thịt. Tôi hé mắt....
“Conseil!” tôi lẩm bẩm.
“Ngài gọi tôi sao?” Conseil đáp.
Đúng lúc ấy, trong ánh sáng cuối cùng của vầng trăng đang lặn xuống đường chân trời, tôi nhận ra một gương mặt không phải của Conseil nhưng tôi lập tức nhận ra.
“Ned!” tôi kêu lên.
“Đích thân đây, thưa ngài, và vẫn đang theo đuổi phần thưởng của mình!” người Canada đáp.
“Ông bị ném xuống biển sau cú va chạm của tàu hộ vệ sao?”
“Vâng, giáo sư, nhưng tôi may mắn hơn ngài, và ngay lập tức tôi đã đặt được chân lên đảo nhỏ nổi này.”
“Đảo nhỏ?”
“Hay nói cách khác, lên con kỳ lân biển khổng lồ của chúng ta.”
“Hãy giải thích đi, Ned.”
“Chỉ là chẳng mấy chốc tôi hiểu vì sao ngọn lao của mình bị cùn đi và không thể xuyên thủng da nó.”
“Vì sao, Ned, vì sao?”
“Bởi vì, giáo sư, con thú này làm bằng thép tấm nồi hơi!”
Đến điểm này trong câu chuyện của mình, tôi cần phải tự trấn tĩnh, tái dựng chính xác những gì mình đã trải qua, và bảo đảm gấp đôi mọi điều tôi viết.
Những lời cuối của người Canada gây nên một chấn động đột ngột trong óc tôi. Tôi nhanh chóng leo lên đỉnh của sinh vật hay vật thể nửa chìm nửa nổi này, thứ đang làm nơi trú ẩn cho chúng tôi. Tôi dùng chân thử nó. Rõ ràng đó là một chất cứng, không thể xuyên thủng, chứ không phải chất mềm tạo nên thân thể các loài thú có vú lớn dưới biển của chúng ta.
Nhưng chất cứng này có thể là một mai xương, giống như những mai từng phủ trên một số động vật thời tiền sử, và tôi có thể dừng lại ở đó mà xếp con quái vật này vào nhóm những loài bò sát lưỡng cư như rùa hay cá sấu.
Nhưng không. Tấm lưng đen sẫm đỡ tôi nhẵn và bóng, không có vảy chồng lên nhau. Khi va chạm, nó phát ra âm vang kim loại, và dù điều này nghe khó tin đến đâu, tôi thề rằng nó có vẻ được làm bằng những tấm kim loại tán đinh.
Không thể còn nghi ngờ gì nữa! Con vật này, con quái vật này, hiện tượng tự nhiên này đã làm bối rối cả thế giới khoa học, đã làm rối trí và đánh lạc hướng giới đi biển ở cả hai bán cầu, không thể tránh khỏi kết luận, là một hiện tượng còn đáng kinh ngạc hơn nữa—một hiện tượng do bàn tay con người tạo ra.
Ngay cả nếu tôi phát hiện rằng một sinh vật kỳ ảo trong thần thoại thật sự tồn tại, điều đó cũng không đem lại cho tôi một cú chấn động tinh thần khủng khiếp như thế. Chấp nhận rằng những điều kỳ vĩ có thể đến từ Đấng Tạo hóa của chúng ta thì dễ thôi. Nhưng bất thần thấy ngay trước mắt mình rằng điều bất khả đã được chính con người thực hiện một cách bí ẩn: điều này làm tâm trí choáng váng!
Nhưng bây giờ không còn nghi vấn nữa. Chúng tôi đang nằm duỗi trên lưng của một loại tàu dưới nước nào đó, theo như tôi có thể phán đoán, mang hình dáng của một con cá thép khổng lồ. Ned Land có quan điểm rõ ràng về vấn đề này. Conseil và tôi chỉ có thể đứng về phía ông.
“Nhưng nếu thế,” tôi nói, “cơ cấu này có chứa một kiểu máy vận hành nào đó, và một thủy thủ đoàn để điều khiển nó chăng?”
“Có vẻ thế,” người phóng lao đáp. “Thế nhưng trong ba giờ tôi sống trên hòn đảo nổi này, nó chưa cho thấy dấu hiệu sống nào.”
“Con tàu này hoàn toàn không di chuyển sao?”
“Không, Giáo sư Aronnax. Nó chỉ cưỡi theo sóng, còn ngoài ra không hề động đậy.”
“Nhưng chúng ta biết chắc nó được ban cho tốc độ rất lớn. Thế thì, vì cần có một động cơ để tạo ra tốc độ ấy, và một thợ máy để vận hành động cơ ấy, tôi kết luận: chúng ta được cứu rồi.”
“Hừm!” Ned Land chen vào, giọng biểu lộ sự dè dặt.
Đúng lúc ấy, như để đứng về phía tôi trong cuộc tranh luận, một tiếng sủi bọt bắt đầu ở đuôi chiếc tàu lặn kỳ lạ này—cơ cấu truyền động của nó rõ ràng là chân vịt—và con tàu bắt đầu chuyển động. Chúng tôi vừa kịp bám lấy mặt trên của nó, nhô lên khỏi mặt nước khoảng tám mươi xentimét. May thay, tốc độ của nó không quá lớn.
“Chừng nào nó còn đi ngang,” Ned Land lẩm bẩm, “tôi chẳng phàn nàn gì. Nhưng nếu nó nổi hứng lặn xuống, tôi sẽ chẳng trả 2 đô la cho bộ da của mình!”
Người Canada lẽ ra có thể nêu một cái giá thấp hơn nhiều. Vì vậy điều cấp bách là phải tiếp xúc với bất cứ sinh vật nào bị nhốt bên trong lớp vỏ của cỗ máy này. Tôi tìm trên bề mặt nó một lỗ mở hay một cửa sập, một “lỗ người chui”, dùng theo thuật ngữ chính thức; nhưng các hàng đinh tán đã được đóng chặt vào các mối ghép tôn sắt, thẳng và đều.
Hơn nữa, mặt trăng khi ấy biến mất và để chúng tôi lại trong bóng tối sâu thẳm. Chúng tôi phải chờ ban ngày để tìm cách nào đó vào bên trong con tàu dưới nước này.
Vậy sự sống còn của chúng tôi hoàn toàn nằm trong tay những người lái tàu bí ẩn đang điều khiển chiếc tàu lặn này, và nếu nó lặn xuống, chúng tôi xong đời! Nhưng ngoài khả năng ấy, tôi không nghi ngờ việc chúng tôi có thể tiếp xúc với họ. Thật vậy, nếu họ không tự sản xuất không khí, tất yếu họ phải định kỳ lên mặt đại dương để bổ sung nguồn oxy. Từ đó phát sinh nhu cầu có một cửa mở nào đó đặt bên trong tàu tiếp xúc với khí quyển.
Còn mọi hy vọng được Chỉ huy Farragut cứu, chúng tôi phải hoàn toàn từ bỏ. Chúng tôi đang bị cuốn về phía tây, và tôi ước tính tốc độ tương đối vừa phải của chúng tôi đạt mười hai dặm mỗi giờ. Chân vịt khuấy sóng với sự đều đặn toán học, đôi khi nhô lên khỏi mặt nước và tung những tia bọt lân quang lên rất cao.
Gần bốn giờ sáng, chiếc tàu lặn tăng tốc. Chúng tôi hầu như không chống chọi nổi với cú lao đi chóng mặt này, và sóng đập vào chúng tôi ở cự ly gần. May thay tay Ned chạm được một vòng neo lớn gắn chặt trên mặt trên của tấm lưng tôn sắt này, và tất cả chúng tôi bám vào đó vì mạng sống.
Cuối cùng, đêm dài ấy cũng kết thúc. Những ký ức không hoàn chỉnh của tôi không cho phép tôi nhớ lại từng ấn tượng trong đêm ấy. Chỉ một chi tiết trở lại với tôi. Mấy lần, trong những lúc gió và biển tạm lắng, tôi tưởng mình nghe thấy những âm thanh mơ hồ, một thứ hòa âm khó nắm bắt do những hợp âm xa xăm tạo nên. Bí mật đằng sau cuộc hải hành dưới nước này là gì, điều mà cả thế giới đã tìm kiếm lời giải trong vô vọng? Những sinh vật nào sống bên trong con tàu lạ lùng này? Sức mạnh cơ học nào cho phép nó di chuyển với tốc độ phi thường đến thế?
Ánh ngày hiện ra. Những màn sương sớm bao quanh chúng tôi, nhưng chẳng mấy chốc chúng tan đi. Tôi sắp tiến hành một cuộc kiểm tra cẩn thận phần thân tàu, mặt trên của nó tạo thành một kiểu sàn ngang, thì tôi cảm thấy nó đang chìm xuống từng chút một.
“Ôi, đồ khốn kiếp!” Ned Land hét lên, dậm chân lên tấm sắt vang rền. “Mở ra đó, lũ hoa tiêu khó gần!”
Nhưng thật khó làm cho mình được nghe thấy giữa những nhịp đập điếc tai của chân vịt. May thay, chuyển động lặn xuống này dừng lại.
Từ bên trong con tàu, đột nhiên vang ra những tiếng chốt sắt bị đẩy mạnh sang một bên. Một tấm thép bật lên, một người xuất hiện, thốt ra một tiếng kêu kỳ dị, rồi lập tức biến mất.
Vài khoảnh khắc sau, tám gã lực lưỡng xuất hiện lặng lẽ, gương mặt như mặt nạ, và lôi chúng tôi xuống cỗ máy đáng sợ của họ.
### CHƯƠNG 8
“Mobilis in Mobili”
CUỘC BẮT GIỮ được thực hiện thô bạo này diễn ra nhanh như chớp. Các bạn đồng hành của tôi và tôi không kịp trấn tĩnh. Tôi không biết họ cảm thấy thế nào khi bị đẩy vào bên trong nhà tù dưới nước này, nhưng về phần tôi, tôi run lên toàn thân. Chúng tôi đang giao thiệp với ai? Chắc chắn là một giống hải tặc mới, khai thác biển cả theo cách riêng của họ.
Cửa sập hẹp vừa khép lại trên đầu tôi thì tôi đã bị bóng tối sâu thẳm bao quanh. Mắt tôi, ngập đầy ánh sáng bên ngoài, không phân biệt được gì. Tôi cảm thấy bàn chân trần của mình bám vào các bậc thang của một chiếc thang sắt. Ned Land và Conseil, bị bắt giữ bằng sức mạnh, ở phía sau tôi. Dưới chân thang, một cánh cửa mở ra rồi lập tức đóng lại sau lưng chúng tôi với một tiếng clang vang dội.
Chúng tôi ở một mình. Ở đâu? Tôi không thể nói, thậm chí hầu như không thể tưởng tượng. Tất cả đều là bóng tối, nhưng một thứ bóng tối tuyệt đối đến mức sau mấy phút, mắt tôi vẫn không bắt được dù chỉ một trong những ánh lờ mờ thường trôi qua ngay cả trong những đêm đen nhất.
Trong khi đó, phẫn nộ trước những việc đang diễn ra, Ned Land mặc sức trút cơn giận của mình.
“Quỷ tha ma bắt!” ông kêu lên. “Những người này hiếu khách chẳng khác gì bọn man rợ ở New Caledonia! Chỉ còn thiếu chuyện họ là loài ăn thịt người nữa thôi! Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu họ đúng là thế, nhưng tin tôi đi, họ sẽ không ăn tôi mà không thấy tôi vùng vẫy phản kháng đâu!”
“Bình tĩnh đi, Ned bạn tôi,” Conseil điềm tĩnh đáp. “Đừng nổi nóng nhanh thế! Chúng ta chưa ở trong nồi đâu!”
“Trong nồi thì chưa,” người Canada đáp trả, “nhưng chắc chắn là trong lò. Tối om thế này cơ mà. May thay dao Bowie của tôi chưa rời khỏi người, và tôi vẫn còn nhìn đủ rõ để dùng nó.\* Tên cướp đầu tiên nào đặt tay lên tôi—”
\*Ghi chú của tác giả: Dao Bowie là một loại dao găm lưỡi rộng mà người Mỹ lúc nào cũng mang bên mình.
“Đừng cáu kỉnh như thế, Ned,” tôi nói với người phóng lao, “và đừng phá hỏng chuyện cho chúng ta bằng bạo lực vô ích. Ai biết được họ có đang nghe chúng ta không? Thay vào đó, hãy cố tìm hiểu xem chúng ta đang ở đâu!”
Tôi bắt đầu di chuyển, lần mò đường đi. Sau năm bước, tôi chạm phải một vách sắt làm bằng tấm thép nồi hơi tán đinh. Rồi, quay lại, tôi va vào một chiếc bàn gỗ cạnh đó có đặt vài chiếc ghế đẩu. Sàn của nhà tù này bị che dưới lớp thảm gai dầu dày làm giảm tiếng bước chân. Những bức vách trần trụi của nó không để lộ dấu vết nào của cửa ra vào hay cửa sổ. Đi vòng theo hướng ngược lại, Conseil gặp tôi, và chúng tôi trở về giữa cabin này, hẳn dài hai mươi foot và rộng mười foot. Còn chiều cao của nó, ngay cả Ned Land với vóc dáng cao lớn cũng không thể xác định được.
Nửa giờ đã trôi qua mà tình thế của chúng tôi vẫn không thay đổi, thì mắt chúng tôi đột nhiên bị cuốn từ bóng tối tuyệt đối sang ánh sáng chói lòa. Nhà tù của chúng tôi sáng lên tức thì; nói cách khác, nó đầy một chất phát quang mạnh đến mức lúc đầu tôi không thể chịu nổi độ sáng của nó. Qua ánh chói và sắc trắng của nó, tôi nhận ra thứ ánh điện đã chơi quanh con tàu dưới nước này như một hiện tượng lân quang kỳ diệu. Sau khi vô thức nhắm mắt lại, tôi mở ra lần nữa và thấy lực phát sáng này đến từ một nửa quả cầu mờ đục cong xuống từ trần cabin.
“Cuối cùng! Đủ sáng để nhìn rồi!” Ned Land kêu lên, tay cầm dao, vẫn giữ thế phòng thủ.
“Phải,” tôi đáp, rồi đưa ra nhận định trái ngược. “Nhưng về tình thế của chúng ta thì chúng ta vẫn còn trong bóng tối.”
“Ngài phải học kiên nhẫn,” Conseil vô cảm nói.
Việc cabin của chúng tôi đột ngột được chiếu sáng cho phép tôi xem xét từng chi tiết nhỏ nhất của nó. Nó chỉ chứa một chiếc bàn và năm chiếc ghế đẩu. Cánh cửa vô hình hẳn đã được bịt kín tuyệt đối. Không một âm thanh nào lọt đến tai chúng tôi. Mọi thứ trong con tàu này dường như chết lặng. Nó đang chuyển động, hay đứng yên trên mặt đại dương, hay đang chìm xuống vực sâu? Tôi không thể nói.
Nhưng quả cầu phát sáng này hẳn không được bật lên nếu không có lý do chính đáng. Do đó, tôi hy vọng một số thủy thủ đoàn sẽ sớm xuất hiện. Nếu muốn giao phó người ta cho lãng quên, người ta không thắp sáng hầm ngục của họ.
Tôi đã không nhầm. Tiếng mở khóa vang lên, một cánh cửa mở ra, và hai người xuất hiện.
Một người thấp và chắc nịch, cơ bắp mạnh mẽ, vai rộng, tay chân cường tráng, đầu bẹt, tóc đen và dày, ria mép rậm, mắt sáng và xuyên thấu, và toàn bộ con người mang dấu ấn của sự sôi nổi dòng máu phương nam mà ở Pháp, là nét tiêu biểu của người Provence. Triết gia Diderot đã rất xác đáng khi khẳng định rằng dáng điệu của một người là chìa khóa của tính cách người ấy, và người đàn ông thấp đậm này chắc chắn là bằng chứng sống cho nhận định ấy. Có thể cảm thấy rằng lời ăn tiếng nói hằng ngày của ông hẳn đầy những phép tu từ sống động như nhân cách hóa, tượng trưng và bổ ngữ đặt sai chỗ. Nhưng tôi chưa bao giờ ở trong vị thế kiểm chứng điều đó, bởi quanh tôi, ông chỉ dùng một phương ngữ kỳ lạ và hoàn toàn không thể hiểu.
Người lạ thứ hai đáng được mô tả chi tiết hơn. Một môn đồ của những nhà giải phẫu học xét đoán tính cách như Gratiolet hay Engel hẳn có thể đọc các nét mặt của người này như một cuốn sách mở. Không chút do dự, tôi nhận ra các phẩm chất nổi trội của ông—sự tự tin, bởi đầu ông vươn lên như đầu một quý tộc phía trên vòng cung do các đường vai tạo thành, và đôi mắt đen của ông nhìn với sự bảo đảm lạnh như băng; sự điềm tĩnh, bởi làn da ông, nhợt hơn là hồng hào, cho thấy sự yên tĩnh của dòng máu; năng lực, biểu lộ qua các cơ trán nhanh chóng cau lại; và cuối cùng là lòng can đảm, bởi hơi thở sâu của ông cho thấy những nguồn sinh lực ghê gớm.
Tôi có thể nói thêm rằng đây là một người đàn ông rất kiêu hãnh, rằng cái nhìn điềm tĩnh, vững vàng của ông dường như phản chiếu tư duy ở một bình diện cao, và rằng sự hài hòa trong các biểu cảm gương mặt và chuyển động thân thể của ông tạo nên một hiệu ứng tổng thể của sự ngay thẳng không thể nghi ngờ—theo những kết luận của các nhà tướng diện học, những người phân tích tính cách qua gương mặt.
Trước sự hiện diện của ông, tôi cảm thấy “vô thức được trấn an”, và điều này báo hiệu tốt cho cuộc gặp gỡ của chúng tôi.
Cá nhân này ở tuổi ba mươi lăm hay năm mươi, tôi không thể nói chính xác. Ông cao, trán rộng, mũi thẳng, miệng khắc nét rõ ràng, răng tuyệt đẹp, đôi tay thanh nhã, thon dài, và dùng một từ trong thuật xem chỉ tay, hết sức “tâm linh”, nói cách khác, xứng đáng phụng sự một tinh thần cao cả và nồng nhiệt. Người đàn ông này chắc chắn là mẫu hình thể tuyệt vời nhất mà tôi từng gặp. Một chi tiết khác thường: hai mắt ông hơi cách xa nhau và có thể ngay lập tức thu vào gần một phần tư đường chân trời. Khả năng này—như về sau tôi kiểm chứng—còn được tăng cường bởi tầm nhìn thậm chí còn lớn hơn Ned Land. Khi người lạ này tập trung ánh nhìn vào một vật thể, các đường lông mày của ông cau lại, mí mắt nặng khép quanh đồng tử để thu hẹp trường nhìn khổng lồ, và ông nhìn! Một cái nhìn làm sao—như thể ông có thể phóng đại những vật đang nhỏ dần trong khoảng cách; như thể ông có thể thăm dò chính linh hồn ta; như thể ông có thể xuyên qua những lớp nước quá đục đối với mắt chúng ta và quét nhìn các biển sâu nhất...!
Đội mũ làm bằng lông rái cá biển và mang ủng đánh cá bằng da hải cẩu, hai người lạ này mặc quần áo làm từ một loại vải độc đáo nào đó, tôn dáng người và cho phép cử động rất tự do.
Người cao hơn trong hai người—rõ ràng là thủ lĩnh trên tàu—xem xét chúng tôi hết sức cẩn thận nhưng không thốt ra lời nào. Rồi, quay sang bạn đồng hành, ông trò chuyện với người ấy bằng một ngôn ngữ tôi không nhận ra. Đó là một phương ngữ vang, hài hòa, linh hoạt, trong đó các nguyên âm dường như chịu một sự nhấn giọng hết sức biến hóa.
Người kia đáp lại bằng một cái lắc đầu và thêm hai ba từ hoàn toàn không thể hiểu. Rồi dường như ông trực tiếp chất vấn tôi bằng một cái nhìn dài.
Tôi đáp bằng tiếng Pháp rõ ràng rằng tôi không quen thuộc với ngôn ngữ của ông; nhưng ông dường như không hiểu tôi, và tình thế trở nên khá bối rối.
“Dẫu vậy, ngài nên kể chuyện của chúng ta,” Conseil nói với tôi. “Có lẽ các quý ông này sẽ nắm được vài từ!”
Tôi thử lại, kể câu chuyện về những cuộc phiêu lưu của chúng tôi, phát âm rõ từng âm tiết, và không bỏ sót một chi tiết nào. Tôi nêu tên và tước vị của chúng tôi; rồi, theo thứ tự, tôi giới thiệu Giáo sư Aronnax, người hầu Conseil của ông, và ông Ned Land, người phóng lao.
Người đàn ông có đôi mắt điềm tĩnh, dịu dàng lắng nghe tôi một cách thanh thản, thậm chí lịch sự, và chú ý đáng kể. Nhưng không có gì trên nét mặt ông cho thấy ông hiểu câu chuyện của tôi. Khi tôi nói xong, ông không thốt ra một lời nào.
Vẫn còn một phương tiện nữa là nói tiếng Anh. Có lẽ họ sẽ quen với thứ ngôn ngữ gần như phổ quát này. Nhưng tôi chỉ biết nó, cũng như tiếng Đức, đủ để đọc trôi chảy, chứ không đủ để nói cho đúng. Tuy nhiên, ở đây nhu cầu tối thượng của chúng tôi là làm cho mình được hiểu.
“Nào, đến lượt ông,” tôi nói với người phóng lao. “Tới đi, ông Land. Hãy lôi từ túi mánh khóe của ông thứ tiếng Anh hay nhất từng được một người Anglo-Saxon nói ra, và thử giành lấy kết quả thuận lợi hơn tôi.”
Ned chẳng cần thuyết phục và bắt đầu lại toàn bộ câu chuyện của chúng tôi, phần lớn tôi có thể theo dõi được. Nội dung giống nhau, nhưng hình thức khác hẳn. Bị khí chất dễ bùng nổ của mình cuốn đi, người Canada đặt vào đó nhiều sinh khí. Ông kịch liệt phàn nàn về việc bị giam giữ bất chấp các quyền công dân của mình, hỏi theo luật nào mà ông bị giữ lại tại đây, viện dẫn lệnh habeas corpus, dọa kiện bất cứ ai giam giữ ông trái pháp luật, nói năng ầm ĩ, khoa tay múa chân, la hét, và cuối cùng truyền đạt bằng một cử chỉ giàu biểu cảm rằng chúng tôi đang chết đói.
Điều này hoàn toàn đúng, nhưng chúng tôi gần như đã quên mất sự thật ấy.
Trước sự kinh ngạc lớn lao của mình, người phóng lao dường như cũng không dễ hiểu hơn tôi. Các vị khách của chúng tôi không hề chớp mắt. Rõ ràng họ là những kỹ sư không hiểu ngôn ngữ của cả nhà vật lý Pháp Arago lẫn nhà vật lý Anh Faraday.
Hoàn toàn bối rối sau khi vô ích vắt kiệt các nguồn lực ngôn ngữ học của chúng tôi, tôi không còn biết phải theo chiến thuật nào, thì Conseil nói với tôi:
“Nếu ngài cho phép, tôi sẽ kể toàn bộ vụ việc bằng tiếng Đức.”
“Sao! Anh biết tiếng Đức?” tôi kêu lên.
“Như đa số người Flemish, xin ngài lượng thứ.”
“Trái lại, tôi phải kính phục anh. Cứ làm đi, anh bạn.”
Và Conseil, bằng giọng thanh thản của mình, miêu tả lần thứ ba các biến cố thăng trầm khác nhau trong câu chuyện của chúng tôi. Nhưng bất chấp giọng đọc đẹp và những lối diễn đạt tao nhã của người kể, tiếng Đức cũng không thành công.
Sau cùng, như một phương sách cuối, tôi lôi ra tất cả những gì còn nhớ từ thời đi học, và cố kể lại những cuộc phiêu lưu của chúng tôi bằng tiếng Latin. Cicero hẳn đã bịt tai lại và đuổi tôi xuống nhà rửa bát, nhưng bằng cách nào đó tôi cũng xoay xở vượt qua. Với cùng một kết quả tiêu cực.
Nỗ lực cuối cùng này rốt cuộc cũng thất bại, hai người lạ trao đổi vài lời bằng ngôn ngữ không thể hiểu của họ rồi rút lui, thậm chí không ban cho chúng tôi lấy một trong những cử chỉ khích lệ vốn được dùng ở mọi quốc gia trên thế giới. Cánh cửa lại đóng.
“Thật quá đáng!” Ned Land hét lên, bùng nổ lần thứ hai mươi. “Tôi hỏi ngài! Chúng ta nói tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Latin với bọn lưu manh này, mà chẳng tên nào trong hai tên có đủ phép lịch sự để đáp lại dù chỉ một lời!”
“Bình tĩnh, Ned,” tôi nói với người phóng lao đang sôi sục. “Giận dữ sẽ chẳng đưa chúng ta đến đâu.”
“Nhưng giáo sư,” người bạn đồng hành nóng nảy của chúng tôi tiếp tục, “ngài không thấy rằng chúng ta có thể chết đói trong cái lồng sắt này sao?”
“Pờ!” Conseil chen vào một cách triết lý. “Chúng ta còn có thể chịu đựng khá lâu!”
“Các bạn của tôi,” tôi nói, “chúng ta không được tuyệt vọng. Chúng ta đã thoát khỏi những tình thế còn ngặt nghèo hơn. Vì vậy xin hãy làm ơn đợi thêm một chút trước khi hình thành quan điểm về vị chỉ huy và thủy thủ đoàn của con tàu này.”
“Quan điểm của tôi đã hoàn toàn hình thành,” Ned Land đáp trả. “Chúng là lũ lưu manh!”
“Ồ tốt! Và đến từ xứ sở nào?”
“Xứ Lưu Manh!”
“Ned can đảm của tôi, cho đến nay xứ sở ấy chưa được đánh dấu rõ ràng trên bản đồ thế giới, nhưng tôi thừa nhận rằng quốc tịch của hai người lạ này khó xác định! Không phải Anh, Pháp, hay Đức, đó là tất cả những gì chúng ta có thể nói. Nhưng tôi nghiêng về ý nghĩ rằng vị chỉ huy và sĩ quan trưởng của ông ta sinh ra ở những vĩ độ thấp. Trong họ hẳn có dòng máu phương nam. Nhưng về việc họ là người Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập hay Đông Ấn, các đặc điểm thể chất của họ không cho tôi đủ căn cứ. Còn lời nói của họ thì hoàn toàn không thể hiểu được.”
“Đó là điều phiền toái khi không biết mọi ngôn ngữ,” Conseil đáp, “hay là bất lợi của việc không có một ngôn ngữ phổ quát!”
“Dù có cũng chẳng ăn thua!” Ned Land đáp. “Ngài không thấy sao, những người này có một ngôn ngữ riêng của họ, một ngôn ngữ họ phát minh chỉ để làm tuyệt vọng những người tử tế muốn xin một bữa tối nhỏ! Chao ôi, ở mọi xứ sở trên trái đất, khi người ta mở miệng, đập hàm, chép môi và nghiến răng, chẳng phải đó là thông điệp dễ hiểu nhất thế giới sao? Từ Quebec đến quần đảo Tuamotu, từ Paris đến miền Đối cực, chẳng phải nó có nghĩa là: Tôi đói, cho tôi chút gì ăn!”
“Ồ,” Conseil chen vào, “có một số người vốn tự nhiên kém thông minh...”
Khi anh đang nói những lời này, cánh cửa mở ra. Một tiếp viên bước vào.\* Anh ta mang đến cho chúng tôi một ít quần áo, áo khoác và quần thủy thủ, làm từ một loại vải mà bản chất tôi không nhận ra. Tôi vội thay chúng vào, và các bạn đồng hành của tôi cũng làm theo.
\*Ghi chú của tác giả: Tiếp viên là người phục vụ trên tàu hơi nước.
Trong khi đó, người tiếp viên im lặng của chúng tôi, có lẽ là một người câm điếc, dọn bàn và bày ba bộ đồ ăn.
“Có chuyện nghiêm túc đang diễn ra,” Conseil nói, “và điều ấy báo hiệu tốt.”
“Pờ!” người phóng lao đầy ác cảm đáp. “Anh đoán họ ăn cái quỷ gì ở đây? Gan rùa, thăn cá mập, bít tết cá nhám?”
“Chẳng mấy chốc chúng ta sẽ biết!” Conseil nói.
Được phủ bằng các nắp đĩa bạc, nhiều đĩa thức ăn khác nhau đã được đặt gọn gàng trên khăn trải bàn, và chúng tôi ngồi xuống ăn. Chắc chắn chúng tôi đang giao thiệp với những người văn minh, và nếu không có thứ ánh điện này tràn ngập quanh chúng tôi, tôi đã tưởng mình đang ở trong phòng ăn của khách sạn Adelphi ở Liverpool, hay Grand Hotel ở Paris. Tuy nhiên, tôi buộc phải nói rằng bánh mì và rượu hoàn toàn vắng mặt. Nước thì trong lành và sạch sẽ, nhưng vẫn chỉ là nước—không phải điều Ned Land mong muốn. Trong số các món ăn được phục vụ, tôi có thể nhận ra nhiều món cá được chế biến tinh tế; nhưng đối với một số món khác, tuy tuyệt hảo, tôi không thể quyết đoán, và thậm chí không thể nói thành phần của chúng thuộc giới thực vật hay động vật. Còn về bộ đồ ăn, nó tao nhã và hoàn toàn đúng gu. Mỗi vật dụng, thìa, nĩa, dao và đĩa, ở mặt sau đều mang một chữ cái được bao quanh bởi một khẩu hiệu Latin, và đây là bản sao chính xác của nó:
> MOBILIS IN MOBILI
> N
Chuyển động trong yếu tố chuyển động! Đó là một khẩu hiệu hết sức thích hợp cho cỗ máy dưới nước này, miễn là giới từ in được dịch là trong chứ không phải trên. Chữ N hẳn là chữ cái đầu của tên cá nhân bí ẩn đang chỉ huy dưới các biển!
Ned và Conseil không có thời gian cho những suy tưởng như thế. Họ đang ăn ngấu nghiến, và không chần chừ thêm, tôi cũng làm như vậy. Lúc này tôi đã cảm thấy yên tâm về số phận của chúng tôi, và rõ ràng là chủ nhà của chúng tôi không có ý định để chúng tôi chết đói.
Nhưng mọi thứ trần thế đều có hồi kết, mọi sự đều phải qua đi, ngay cả cơn đói của những người đã mười lăm giờ không ăn. Khi sự thèm ăn đã được xoa dịu, chúng tôi cảm thấy một nhu cầu cấp thiết là ngủ. Một phản ứng tự nhiên sau đêm dài vô tận vật lộn để giữ mạng sống.
“Lạy các thần, tôi sẽ ngủ thật say,” Conseil nói.
“Còn tôi, tôi tắt phụt như đèn!” Ned Land đáp.
Hai bạn đồng hành của tôi nằm xuống tấm thảm trong cabin và chẳng mấy chốc chìm sâu vào giấc ngủ.
Còn tôi, tôi ít dễ dàng khuất phục trước nhu cầu ngủ mãnh liệt này hơn. Quá nhiều ý nghĩ đã chất đống trong tâm trí tôi, quá nhiều câu hỏi không thể giải đã nảy sinh, quá nhiều hình ảnh đang giữ mí mắt tôi mở! Chúng tôi đang ở đâu? Quyền năng kỳ lạ nào đang mang chúng tôi đi? Tôi cảm thấy—hay ít nhất tôi tưởng mình cảm thấy—chiếc tàu lặn đang chìm xuống những tầng thấp hơn của biển. Những cơn ác mộng dữ dội vây hãm tôi. Trong những thánh địa biển bí ẩn ấy, tôi hình dung những đoàn động vật chưa biết, và con tàu dưới nước này dường như là họ hàng ruột thịt của chúng: sống, thở, cũng đáng sợ như thế...! Rồi tâm trí tôi dịu lại, trí tưởng tượng tan vào cơn buồn ngủ mờ mịt, và chẳng mấy chốc tôi rơi vào một giấc ngủ bất an.
### CHƯƠNG 9
Những cơn nổi nóng của Ned Land
TÔI KHÔNG BIẾT giấc ngủ này kéo dài bao lâu; nhưng hẳn là khá lâu, bởi chúng tôi đã hoàn toàn qua khỏi cơn kiệt sức. Tôi là người đầu tiên thức dậy. Các bạn đồng hành của tôi vẫn chưa động đậy và còn nằm trong góc như những vật vô tri.
Tôi vừa mới đứng dậy khỏi tấm đệm tương đối cứng thì cảm thấy đầu óc mình sáng rõ, bộ não trở nên cảnh giác. Vì vậy tôi bắt đầu kiểm tra lại kỹ lưỡng phòng giam của chúng tôi.
Không có gì thay đổi trong cách bố trí bên trong. Nhà tù vẫn là nhà tù và tù nhân vẫn là tù nhân. Nhưng, nhân lúc chúng tôi ngủ, người tiếp viên đã dọn bàn. Do đó, không có gì cho thấy bất cứ sự cải thiện sắp tới nào trong tình thế của chúng tôi, và tôi nghiêm túc tự hỏi liệu chúng tôi có bị định đoạt phải sống nốt phần đời còn lại trong chiếc lồng này không.
Viễn cảnh này đối với tôi ngày càng đau đớn hơn bởi, dù bộ não đã thoát khỏi những ám ảnh của đêm trước, tôi đang cảm thấy một sự hụt hơi kỳ lạ trong lồng ngực. Tôi bắt đầu khó thở. Không khí nặng nề không còn đủ cho phổi tôi hoạt động đầy đủ. Dù phòng giam của chúng tôi rộng, rõ ràng chúng tôi đã dùng hết phần lớn oxy mà nó chứa. Về thực chất, trong một giờ, một con người duy nhất tiêu thụ toàn bộ oxy có trong 100 lít không khí, và khi ấy không khí ấy đã bị nạp một lượng gần tương đương khí carbon dioxide và không còn thích hợp để hô hấp.
Vì vậy lúc này việc khẩn cấp là phải làm mới không khí trong nhà tù của chúng tôi, và chắc chắn cả không khí trong toàn bộ con tàu dưới nước này nữa.
Ở đây một câu hỏi nảy ra trong đầu tôi. Vị chỉ huy của nơi cư trú dưới nước này thực hiện việc ấy bằng cách nào? Ông ta có lấy không khí bằng các phương pháp hóa học, giải phóng oxy chứa trong potassium chlorate bằng cách đun nóng, đồng thời hấp thụ carbon dioxide bằng potassium hydroxide không? Nếu vậy, ông ta sẽ phải duy trì một kiểu quan hệ nào đó với bờ, để có được các vật liệu cần thiết cho thao tác ấy. Hay ông ta chỉ đơn giản giới hạn mình ở việc tích trữ không khí trong các bình áp suất cao rồi phân phối nó theo nhu cầu của thủy thủ đoàn? Có lẽ vậy. Hoặc, theo một cách tiện lợi hơn, kinh tế hơn, và do đó có khả năng hơn, ông ta chỉ bằng lòng thỉnh thoảng trở lại thở trên mặt nước như loài cá voi, đổi mới nguồn oxy của mình mỗi hai mươi bốn giờ? Dù sao, phương pháp của ông ta là gì đi nữa, tôi thấy thận trọng hơn cả là ông ta nên sử dụng phương pháp ấy không chậm trễ.
Thật vậy, tôi đã phải tăng tốc các nhịp hít vào để rút từ căn phòng lượng oxy ít ỏi còn lại, thì đột nhiên tôi được làm tươi lại bởi một luồng không khí sạch, phảng phất hương mặn. Đó hẳn phải là một làn gió biển, đem sự sống và chứa đầy iốt! Tôi há miệng thật rộng, và phổi tôi no nê những phần tử tươi mới. Đồng thời, tôi cảm thấy một sự chòng chành, một chuyển động lắc lư với biên độ vừa phải nhưng chắc chắn nhận thấy được. Con tàu này, con quái vật bằng tôn sắt này, rõ ràng vừa nổi lên mặt đại dương, để thở theo kiểu cá voi đích thực. Vậy là phương thức thông gió của con tàu cuối cùng đã được xác lập.
Khi đã hít đầy lồng ngực thứ không khí sạch này, tôi tìm ống dẫn—“vật chuyển khí”, nếu quý vị thích—cho phép luồng gió lành ấy đến với chúng tôi, và chẳng mấy chốc tôi tìm thấy nó. Phía trên cánh cửa mở ra một lỗ thông khí để một luồng oxy tươi tràn vào, làm mới bầu không khí loãng trong phòng giam của chúng tôi.
Tôi đã đến điểm này trong các quan sát của mình thì Ned và Conseil thức dậy gần như cùng lúc, dưới ảnh hưởng của sự thanh lọc không khí hồi sinh ấy. Họ dụi mắt, duỗi tay, và bật dậy.
“Ngài ngủ ngon chứ?” Conseil hỏi tôi với phép lịch sự thường hằng của mình.
“Rất ngon, chàng trai can đảm của tôi,” tôi đáp. “Còn ông thì sao, ông Ned Land?”
“Như khúc gỗ, giáo sư. Nhưng hẳn là tôi đang tưởng tượng, vì dường như tôi đang thở một làn gió biển!”
Một người đi biển không thể nhầm về đề tài này, và tôi kể cho người Canada nghe những gì đã diễn ra trong khi ông ngủ.
“Tốt!” ông nói. “Điều đó giải thích hoàn hảo mọi tiếng rống chúng ta đã nghe, khi con kỳ lân biển giả hiệu của chúng ta nằm trong tầm nhìn của chiếc Abraham Lincoln.”
“Hoàn hảo, ông Land. Nó đang lấy hơi!”
“Chỉ có điều tôi không biết bây giờ là mấy giờ, Giáo sư Aronnax, trừ phi có lẽ đã đến giờ ăn tối?”
“Giờ ăn tối, người phóng lao tốt bụng của tôi? Tôi sẽ nói ít nhất là giờ điểm tâm, vì chắc chắn chúng ta đã thức dậy sang một ngày mới.”
“Điều đó cho thấy,” Conseil đáp, “rằng chúng ta đã ngủ hai mươi bốn giờ.”
“Đó là đánh giá của tôi,” tôi đáp.
“Tôi sẽ không tranh luận với ngài,” Ned Land trả lời. “Nhưng ăn tối hay ăn sáng, người tiếp viên ấy sẽ rất được hoan nghênh dù anh ta mang món này hay món kia.”
“Món này và món kia,” Conseil nói.
“Nói đúng lắm,” người Canada đáp. “Chúng ta xứng đáng có hai bữa, và nói riêng về phần tôi, tôi sẽ ăn cho xứng cả hai.”
“Được rồi, Ned, hãy chờ xem!” tôi đáp. “Rõ ràng những người lạ này không có ý định để chúng ta chết đói, nếu không bữa tối hôm qua chẳng có nghĩa gì.”
“Trừ phi họ đang vỗ béo chúng ta!” Ned đáp trả.
“Tôi phản đối,” tôi đáp. “Chúng ta không rơi vào tay những kẻ ăn thịt người.”
“Chỉ vì họ không thường làm thế,” người Canada hết sức nghiêm túc đáp, “không có nghĩa là thỉnh thoảng họ không thưởng thức. Ai biết được? Có lẽ những người này đã thiếu thịt tươi lâu rồi, và trong trường hợp ấy ba mẫu vật khỏe mạnh, rắn chắc như giáo sư, người hầu của ông, và tôi——”
“Dẹp những ý nghĩ ấy đi, ông Land,” tôi trả lời người phóng lao. “Và trên hết, đừng để chúng khiến ông nổi nóng với chủ nhà của chúng ta, điều chỉ làm tình thế của chúng ta tệ hơn.”
“Dù sao,” người phóng lao nói, “tôi đói như quỷ địa ngục, mà ăn tối hay ăn sáng, chưa có một bữa còm cõi nào xuất hiện!”
“Ông Land,” tôi đáp, “chúng ta phải thích nghi với lịch trình trên tàu, và tôi tưởng tượng dạ dày của chúng ta đang chạy trước chuông ăn của bếp trưởng.”
“Thế thì chúng ta sẽ điều chỉnh dạ dày theo thời khóa biểu của đầu bếp!” Conseil điềm tĩnh đáp.
“Anh lại thế nữa, Conseil bạn tôi!” người Canada thiếu kiên nhẫn đáp trả. “Anh chẳng bao giờ cho phép mình nổi mật hay lên cơn thần kinh! Anh lúc nào cũng bình thản! Anh sẽ đọc lời tạ ơn sau bữa ăn ngay cả khi không nhận được thức ăn cho lời chúc phúc trước bữa—và anh sẽ chết đói còn hơn là phàn nàn!”
“Phàn nàn thì được ích gì?” Conseil hỏi.
“Phàn nàn không nhất thiết phải có ích, chỉ cần thấy dễ chịu là đủ! Và nếu bọn hải tặc này—tôi nói hải tặc vì nể cảm xúc của giáo sư, bởi ngài ấy không muốn chúng ta gọi chúng là bọn ăn thịt người—nếu bọn hải tặc này nghĩ chúng sẽ làm tôi ngạt chết trong cái lồng này mà không nghe những câu chửi nào làm cay thêm các cơn bùng nổ của tôi, thì chúng đã lầm to! Này, Giáo sư Aronnax, nói thẳng đi. Ngài tính họ sẽ giữ chúng ta trong cái hộp sắt này bao lâu?”
“Thú thật, bạn Land, tôi biết về chuyện ấy chẳng nhiều hơn ông bao nhiêu.”
“Nhưng tóm lại, ngài đoán chuyện gì đang diễn ra?”
“Tôi phỏng đoán rằng sự tình cờ thuần túy đã khiến chúng ta biết một bí mật quan trọng. Thế thì, nếu thủy thủ đoàn của con tàu dưới nước này có lợi ích cá nhân trong việc giữ bí mật ấy, và nếu lợi ích cá nhân của họ quan trọng hơn mạng sống của ba người, tôi tin rằng chính sự tồn tại của chúng ta đang gặp nguy hiểm. Nếu không phải thế, thì ở cơ hội đầu tiên, con quái vật đã nuốt chúng ta này sẽ trả chúng ta về thế giới nơi đồng loại chúng ta cư trú.”
“Trừ phi họ tuyển chúng ta vào phục vụ trong thủy thủ đoàn,” Conseil nói, “và giữ chúng ta ở đây—”
“Cho đến khoảnh khắc,” Ned Land đáp, “một tàu hộ vệ nào đó nhanh hơn hay khôn khéo hơn chiếc Abraham Lincoln bắt được hang ổ hải tặc này, rồi treo cổ tất cả chúng ta lên đầu xà buồm chính!”
“Suy nghĩ tốt đấy, ông Land,” tôi đáp. “Nhưng cho đến nay, tôi chưa tin rằng chúng ta đã nhận được bất cứ lời mời nhập ngũ nào. Do đó, tranh luận về những chiến thuật nên theo trong trường hợp ấy là vô ích. Tôi nhắc lại: hãy chờ, hãy để sự kiện dẫn dắt, và đừng làm gì cả, vì ngay lúc này chúng ta chẳng thể làm gì.”
“Trái lại, giáo sư,” người phóng lao đáp, không muốn nhượng bộ. “Có việc chúng ta có thể làm.”
“Ồ? Và việc gì, ông Land?”
“Phá cửa thoát ra!”
“Thoát khỏi một nhà tù trên bờ đã đủ khó, nhưng với một nhà tù dưới nước, theo tôi thì hoàn toàn không thể thực hiện.”
“Thôi nào, Ned bạn tôi,” Conseil hỏi, “ông sẽ trả lời thế nào trước phản bác của ngài? Tôi không tin một người Mỹ lại đến bước đường cùng.”
Rõ ràng bối rối, người phóng lao không nói gì. Trong những điều kiện số phận đã đặt chúng tôi vào, trốn thoát là điều tuyệt đối không thể. Nhưng trí khôn của người Canada mang nửa chất Pháp, và ông Ned Land đã làm rõ điều này trong câu trả lời của mình.
“Vậy thì, Giáo sư Aronnax,” ông tiếp tục sau khi suy nghĩ vài khoảnh khắc, “ngài chưa nhận ra người ta làm gì khi không thể thoát khỏi nhà tù của mình sao?”
“Không, bạn tôi.”
“Dễ thôi. Họ sắp xếp để ở lại đó.”
“Tất nhiên!” Conseil chen vào. “Vì chúng ta đang ở sâu trong đại dương, ở bên trong con tàu này vẫn tốt hơn rất nhiều so với ở bên trên nó hay bên dưới nó!”
“Nhưng chúng ta sắp xếp bằng cách đá văng mọi tên cai ngục, lính gác và quản ngục ra ngoài,” Ned Land thêm vào.
“Gì cơ, Ned?” tôi hỏi. “Ông nghiêm túc nghĩ đến việc chiếm lấy con tàu này sao?”
“Rất nghiêm túc,” người Canada đáp.
“Không thể được.”
“Và tại sao lại không, thưa ngài? Một cơ hội hứa hẹn nào đó có thể xuất hiện, và tôi không thấy điều gì ngăn chúng ta tận dụng nó. Nếu chỉ có khoảng hai mươi người trên cỗ máy này, tôi không nghĩ họ có thể chống lại hai người Pháp và một người Canada!”
Có vẻ khôn ngoan hơn khi chấp nhận đề xuất của người phóng lao thay vì tranh luận với nó. Do đó, tôi chỉ đáp:
“Hãy để những hoàn cảnh như thế đến, ông Land, rồi chúng ta sẽ xem. Nhưng cho đến lúc ấy, tôi xin ông kiểm soát sự thiếu kiên nhẫn của mình. Chúng ta cần hành động khôn khéo, và những cơn bùng nổ của ông sẽ không tạo ra bất cứ cơ hội hứa hẹn nào. Vậy hãy thề với tôi rằng ông sẽ chấp nhận tình thế của chúng ta mà không nổi cơn tam bành vì nó.”
“Tôi hứa với ngài, giáo sư,” Ned Land đáp bằng giọng không mấy hào hứng. “Không lời lẽ dữ dội nào sẽ rời khỏi miệng tôi, không cử chỉ ác liệt nào sẽ để lộ cảm xúc của tôi, ngay cả khi họ không cho chúng ta ăn đúng giờ.”
“Tôi có lời hứa của ông, Ned,” tôi trả lời người Canada.
Rồi cuộc trò chuyện của chúng tôi lụi dần, và mỗi người rút vào những suy nghĩ riêng. Về phần tôi, bất chấp những lời nói đầy tin tưởng của người phóng lao, tôi thừa nhận rằng mình không nuôi ảo tưởng nào. Tôi không tin vào những cơ hội hứa hẹn mà Ned Land nhắc đến. Để hoạt động hiệu quả như thế, con tàu dưới nước này phải có một thủy thủ đoàn khá đông, nên nếu đi đến một cuộc đối đầu thể lực, chúng tôi sẽ phải đối mặt với một đối thủ áp đảo. Hơn nữa, trước khi có thể làm bất cứ điều gì, chúng tôi phải được tự do, mà điều ấy chắc chắn là không. Tôi không thấy lối thoát nào khỏi phòng giam bằng tôn sắt được bịt kín tuyệt đối này. Và nếu vị chỉ huy kỳ lạ của con tàu này thật sự có một bí mật cần giữ—điều có vẻ khá có khả năng—ông ta sẽ không bao giờ cho chúng tôi tự do đi lại trên tàu của ông ta. Vậy thì, liệu ông ta sẽ dùng bạo lực để loại bỏ chúng tôi, hay một ngày nào đó sẽ thả chúng tôi xuống một bờ biển xa xôi nào? Đó là điều chưa biết. Tất cả những giả thuyết này đối với tôi đều có vẻ hết sức hợp lý, và muốn hy vọng vào tự do bằng cách dùng vũ lực, người ta phải là một người phóng lao.
Hơn nữa, tôi nhận ra rằng sự u uất của Ned Land đang làm ông tức giận hơn từng phút. Từng chút một, tôi nghe những câu chửi nói trên dâng lên từ đáy cổ họng ông, và tôi thấy các cử động của ông lại trở nên đe dọa. Ông đứng dậy, đi vòng quanh như một con thú hoang trong lồng, dùng chân và nắm đấm đập vào vách. Trong khi đó giờ giấc trôi qua, cơn đói giày vò chúng tôi không thương xót, và lần này người tiếp viên không xuất hiện. Nếu họ thật sự có thiện ý, thì điều ấy chẳng khác gì quên thân phận người bị nạn của chúng tôi quá lâu.
Bị tiếng réo của cái dạ dày khỏe mạnh hành hạ, Ned Land ngày càng nổi nóng hơn, và bất chấp lời danh dự của ông, tôi thật sự sợ một vụ bùng nổ khi ông đứng trước mặt một trong những người trên tàu.
Trong hai giờ nữa, cơn giận của Ned Land tăng lên. Người Canada la hét và van nài, nhưng vô ích. Những vách tôn sắt điếc đặc. Tôi không nghe một âm thanh nào bên trong con tàu dường như đã chết này. Con tàu không hề cựa quậy, bởi rõ ràng tôi hẳn đã cảm thấy thân tàu rung dưới tác động của chân vịt. Nó chắc chắn đã chìm vào vực nước sâu và không còn thuộc về thế giới bên ngoài. Tất cả sự im lặng ảm đạm này thật đáng sợ.
Còn về việc chúng tôi bị bỏ mặc, sự cô lập của chúng tôi trong đáy phòng giam này, tôi sợ phải đoán nó có thể kéo dài bao lâu. Từng chút một, những hy vọng tôi từng nuôi sau cuộc gặp với vị chỉ huy của con tàu đang phai nhạt. Sự dịu dàng trong ánh mắt người ấy, vẻ hào hiệp được biểu lộ qua nét mặt, phong thái cao quý của ông, tất cả biến mất khỏi trí nhớ tôi. Tôi nhìn cá nhân bí ẩn này một lần nữa như điều ông ta tất yếu phải là: tàn nhẫn và không thương xót. Tôi xem ông ta như ở bên ngoài nhân loại, vượt ngoài mọi cảm xúc trắc ẩn, kẻ thù không đội trời chung của đồng loại mình, những người mà hẳn ông ta đã thề một mối căm hận bất diệt!
Nhưng dẫu vậy, liệu người đàn ông ấy có định để chúng tôi chết đói, bị nhốt trong nhà tù chật hẹp này, phơi mình trước những cám dỗ ghê rợn mà cơn đói cùng cực đẩy con người tới không? Khả năng u ám ấy trong tâm trí tôi mang một cường độ đáng sợ, và bị trí tưởng tượng nung cháy, tôi cảm thấy một nỗi kinh hoàng phi lý chạy xuyên qua người. Conseil vẫn bình tĩnh. Ned Land gầm lên.
Đúng lúc ấy, một tiếng động vang lên bên ngoài. Tiếng bước chân dội trên nền lát kim loại. Các ổ khóa được vặn, cánh cửa mở ra, người tiếp viên xuất hiện.
Trước khi tôi kịp làm dù chỉ một cử động để ngăn ông, người Canada đã lao vào người tội nghiệp ấy, quật anh ta xuống, bóp cổ anh ta. Người tiếp viên nghẹt thở trong vòng siết của những bàn tay mạnh mẽ ấy.
Conseil đã đang cố gỡ bàn tay của người phóng lao khỏi nạn nhân gần như bị bóp nghẹt của ông, và tôi vừa bước tới để cùng giải cứu, thì đột ngột bị đóng đinh tại chỗ bởi những lời này, thốt ra bằng tiếng Pháp:
“Bình tĩnh, ông Land! Còn ông, giáo sư, xin vui lòng nghe tôi!”
### CHƯƠNG 10
Con người của nước
CHÍNH VỊ CHỈ HUY của con tàu vừa lên tiếng.
Nghe những lời ấy, Ned Land nhanh chóng đứng dậy. Gần như bị bóp cổ, người tiếp viên lảo đảo bước ra theo hiệu lệnh của cấp trên; nhưng uy quyền của vị chỉ huy trên con tàu của ông lớn đến mức, không một cử chỉ nào để lộ sự oán giận mà người này hẳn phải cảm thấy đối với người Canada. Trong im lặng, chúng tôi chờ kết cục của cảnh tượng này; Conseil, bất chấp bản thân, dường như gần như bị mê hoặc, còn tôi thì sững sờ.
Hai tay khoanh trước ngực, tựa vào một góc bàn, vị chỉ huy chăm chú quan sát chúng tôi. Ông có ngần ngại nói tiếp không? Ông có hối tiếc những lời vừa thốt ra bằng tiếng Pháp không? Người ta hẳn đã nghĩ như vậy.
Sau vài khoảnh khắc im lặng, mà không ai trong chúng tôi dám mơ đến việc cắt ngang:
“Thưa các ông,” ông nói bằng một giọng bình tĩnh, xuyên thấu, “tôi nói tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Latin đều lưu loát như nhau. Vì thế, tôi có thể trả lời các ông ngay từ cuộc gặp đầu tiên của chúng ta, nhưng trước hết tôi muốn làm quen với các ông rồi suy xét kỹ. Bốn phiên bản của cùng một câu chuyện do các ông kể, nhìn chung hoàn toàn nhất quán, đã xác lập danh tính cá nhân của các ông đối với tôi. Giờ tôi biết rằng sự tình cờ thuần túy đã đặt trước mặt tôi Giáo sư Pierre Aronnax, chuyên gia lịch sử tự nhiên tại Bảo tàng Paris và được giao một sứ mệnh khoa học ở nước ngoài, người hầu Conseil của ông, và Ned Land, một người phóng lao gốc Canada trên tàu Abraham Lincoln, một tàu hộ vệ thuộc hải quân quốc gia của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.”
Tôi cúi đầu tỏ ý đồng tình. Vị chỉ huy không đặt câu hỏi cho tôi. Vì vậy không cần câu trả lời. Người này diễn đạt với sự dễ dàng hoàn hảo và không hề có dấu vết giọng địa phương. Cách đặt câu của ông rõ ràng, lời lẽ được chọn lọc kỹ, khả năng hùng biện đáng kinh ngạc. Thế nhưng, đối với tôi, ông không có “cảm giác” của một đồng bào.
Ông tiếp tục cuộc trò chuyện như sau:
“Không nghi ngờ gì, thưa ông, ông cảm thấy rằng tôi đã chờ hơi quá lâu trước khi dành cho các ông chuyến thăm thứ hai này. Sau khi khám phá danh tính của các ông, tôi muốn cân nhắc cẩn thận chính sách phải theo đối với các ông. Tôi đã rất khó quyết định. Một số hoàn cảnh hết sức bất tiện đã đưa các ông đến trước mặt một người đã tự cắt đứt mình khỏi nhân loại. Việc các ông đến đây đã làm xáo trộn toàn bộ sự tồn tại của tôi.”
“Không cố ý,” tôi nói.
“Không cố ý?” người lạ đáp, hơi cao giọng. “Có phải chiếc Abraham Lincoln không cố ý săn đuổi tôi trên mọi vùng biển không? Có phải ông không cố ý đi trên tàu hộ vệ ấy không? Có phải các quả đạn pháo của ông không cố ý bật khỏi thân tàu của tôi không? Có phải ông Ned Land không cố ý đánh trúng tôi bằng ngọn lao của mình không?”
Tôi nhận ra một sự bực bội được kiềm chế trong những lời này. Nhưng có một câu trả lời hoàn toàn tự nhiên cho các lời buộc tội ấy, và tôi đã đưa ra.
“Thưa ông,” tôi nói, “chắc hẳn ông không biết những cuộc thảo luận đã diễn ra ở châu Âu và châu Mỹ với chính ông là đối tượng. Ông không nhận ra rằng nhiều tai nạn khác nhau, do va chạm với cỗ máy dưới nước của ông gây ra, đã khơi dậy đam mê công chúng trên hai lục địa ấy. Tôi sẽ miễn cho ông vô số giả thuyết mà chúng tôi đã dùng để cố giải thích hiện tượng không thể giải thích này, hiện tượng mà bí mật chỉ thuộc về một mình ông. Nhưng xin ông hiểu rằng chiếc Abraham Lincoln đã truy đuổi ông trên biển khơi Thái Bình Dương vì tin rằng mình đang săn một con quái vật biển mạnh mẽ nào đó, thứ phải được quét sạch khỏi đại dương bằng mọi giá.”
Một nửa nụ cười cong lên trên môi vị chỉ huy; rồi, bằng một giọng bình tĩnh hơn:
“Giáo sư Aronnax,” ông đáp, “ông có dám khẳng định rằng tàu hộ vệ của ông sẽ không truy đuổi và nã pháo vào một con tàu dưới nước cũng sẵn lòng như với một con quái vật không?”
Câu hỏi này làm tôi lúng túng, bởi Chỉ huy Farragut chắc chắn sẽ không hề do dự như thế. Ông ấy hẳn sẽ xem việc phá hủy một thiết bị loại này là bổn phận đã thề, cũng nhanh chóng như với một con kỳ lân biển khổng lồ.
“Vậy là ông hiểu, thưa ông,” người lạ tiếp tục, “rằng tôi có quyền đối xử với ông như kẻ thù của mình.”
Tôi im lặng, và có lý do chính đáng. Tranh luận một mệnh đề như thế thì ích gì, khi sức mạnh vượt trội có thể xóa sạch những lập luận tốt nhất?
“Tôi đã mất khá lâu để quyết định,” vị chỉ huy tiếp tục. “Không điều gì buộc tôi phải ban cho các ông lòng hiếu khách. Nếu tôi chia tay các ông, tôi chẳng có lợi ích cá nhân nào trong việc gặp lại các ông. Tôi có thể đặt các ông trở lại trên sàn của con tàu này, thứ đã làm nơi trú ẩn cho các ông. Tôi có thể chìm xuống dưới biển, và tôi có thể quên rằng các ông từng tồn tại. Đó chẳng phải là quyền của tôi sao?”
“Có lẽ đó là quyền của một kẻ man rợ,” tôi đáp. “Nhưng không phải quyền của một con người văn minh.”
“Giáo sư,” vị chỉ huy đáp ngay, “tôi không phải điều ông gọi là một con người văn minh! Tôi đã cắt đứt mọi ràng buộc với xã hội, vì những lý do mà chỉ một mình tôi có quyền đánh giá. Vì thế tôi không tuân theo bất cứ quy định nào của nó, và tôi yêu cầu ông đừng bao giờ viện dẫn chúng trước mặt tôi!”
Đó là lời nói thẳng thừng. Một tia giận dữ và khinh miệt thắp sáng đôi mắt người lạ, và tôi thoáng nhìn thấy trong đời người này một quá khứ đáng sợ. Không chỉ đặt mình ngoài luật lệ của con người, ông còn khiến mình độc lập, vượt ngoài mọi tầm với, tự do theo nghĩa nghiêm ngặt nhất của từ ấy! Bởi ai dám đuổi theo ông xuống đáy biển khi ông đã đẩy lui mọi cuộc tấn công trên mặt nước? Con tàu nào có thể chịu nổi một cú va chạm với chiếc Monitor dưới nước của ông? Tấm giáp nào, dù nặng đến đâu, có thể chịu được những cú đâm của chiếc cựa của ông? Không một con người nào giữa loài người có thể đòi ông giải trình về hành động của mình. Chúa, nếu ông tin vào Người, lương tâm ông nếu ông có một lương tâm—đó là những quan tòa duy nhất mà ông phải chịu trách nhiệm.
Những ý nghĩ này nhanh chóng lướt qua tâm trí tôi trong lúc cá nhân kỳ lạ ấy rơi vào im lặng, như một người hoàn toàn chìm trong chính mình. Tôi nhìn ông với cảm giác pha trộn giữa sợ hãi và mê hoặc, hẳn cũng giống như cách Oedipus nhìn Nhân sư.
Sau một khoảng im lặng khá dài, vị chỉ huy tiếp tục cuộc trò chuyện của chúng tôi.
“Vậy là tôi đã khó quyết định,” ông nói. “Nhưng tôi kết luận rằng lợi ích cá nhân của mình có thể dung hòa với lòng trắc ẩn tự nhiên mà mọi con người đều có quyền hưởng. Vì số phận đã đưa các ông đến đây, các ông sẽ ở lại trên tàu của tôi. Các ông sẽ được tự do ở đây, và để đổi lấy sự tự do ấy, hơn nữa còn hoàn toàn liên quan đến nó, tôi chỉ đặt lên các ông một điều kiện duy nhất. Lời hứa của các ông rằng các ông sẽ phục tùng điều kiện ấy là đủ.”
“Xin nói tiếp, thưa ông,” tôi đáp. “Tôi cho rằng điều kiện này là điều một người lương thiện có thể chấp nhận?”
“Phải, thưa ông. Chỉ thế này. Có thể một số sự kiện không lường trước sẽ buộc tôi phải giam các ông trong cabin vài giờ, hoặc thậm chí vài ngày tùy trường hợp. Vì tôi không bao giờ muốn dùng bạo lực, trong trường hợp ấy, hơn bất cứ trường hợp nào khác, tôi trông đợi ở các ông sự vâng lời không chất vấn. Hành động như thế, tôi che chở các ông khỏi sự đồng lõa, tôi miễn trừ các ông khỏi mọi trách nhiệm, bởi chính tôi khiến các ông không thể thấy điều các ông không được phép thấy. Các ông chấp nhận điều kiện này chứ?”
Vậy là trên tàu có những điều xảy ra, ít nhất phải nói là khá kỳ lạ, những điều không bao giờ được những người không tự đặt mình ngoài luật lệ xã hội nhìn thấy! Trong số mọi bất ngờ mà tương lai dành sẵn cho tôi, đây sẽ không phải điều nhẹ nhàng nhất.
“Chúng tôi chấp nhận,” tôi đáp. “Có điều, tôi xin ông cho phép, thưa ông, để đặt với ông một câu hỏi, chỉ một câu thôi.”
“Cứ hỏi, thưa ông.”
“Ông nói chúng tôi sẽ được tự do trên tàu của ông?”
“Hoàn toàn.”
“Vậy tôi xin hỏi ông hiểu sự tự do này là gì.”
“Thì là tự do đi, đến, xem, và thậm chí quan sát thật kỹ mọi điều xảy ra ở đây—ngoại trừ trong một số hoàn cảnh hiếm hoi—tóm lại, là sự tự do mà chính chúng tôi, các bạn đồng hành của tôi và tôi, đang hưởng.”
Rõ ràng chúng tôi không hiểu nhau.
“Xin thứ lỗi, thưa ông,” tôi tiếp tục, “nhưng đó chỉ là sự tự do mà mọi tù nhân đều có, sự tự do đi lại trong phòng giam của mình! Như thế không đủ cho chúng tôi.”
“Dẫu vậy, nó sẽ phải đủ!”
“Sao! Chúng tôi phải từ bỏ việc được gặp lại quê hương, bạn bè và thân quyến của mình mãi mãi ư?”
“Phải, thưa ông. Nhưng từ bỏ cái ách trần thế không thể chịu nổi mà một số người gọi là tự do có lẽ ít đau đớn hơn ông nghĩ!”
“Sấm sét thật!” Ned Land hét lên. “Tôi sẽ không bao giờ hứa rằng tôi sẽ không cố thoát khỏi đây!”
“Tôi không yêu cầu một lời hứa như thế, ông Land,” vị chỉ huy lạnh lùng đáp.
“Thưa ông,” tôi đáp, bất chấp bản thân nổi nóng lên, “ông đang lợi dụng bất công tình thế của chúng tôi! Đây là sự tàn nhẫn thuần túy!”
“Không, thưa ông, đây là một hành động nhân từ! Các ông là tù binh của tôi! Tôi đã chăm sóc các ông khi chỉ bằng một lời, tôi có thể ném các ông trở lại vực sâu đại dương! Các ông đã tấn công tôi! Các ông vừa tình cờ phát hiện một bí mật mà không người sống nào được phép thăm dò, bí mật của toàn bộ sự tồn tại của tôi! Các ông nghĩ tôi sẽ gửi các ông trở lại một thế giới không được phép biết thêm bất cứ điều gì về tôi sao? Không bao giờ! Khi giữ các ông trên tàu, không phải các ông là người tôi chăm lo, mà là chính tôi!”
Những lời này cho thấy vị chỉ huy theo đuổi một chính sách bất khả xâm nhập trước mọi lập luận.
“Vậy thì, thưa ông,” tôi tiếp tục, “ông trao cho chúng tôi, hết sức đơn giản, một lựa chọn giữa sống và chết?”
“Hết sức đơn giản.”
“Các bạn tôi,” tôi nói, “với một câu hỏi được đặt ra bằng những lời lẽ như thế, câu trả lời của chúng ta đã có thể được xem là hiển nhiên. Nhưng không lời hứa long trọng nào ràng buộc chúng ta với vị chỉ huy của con tàu này.”
“Không lời nào, thưa ông,” người lạ đáp.
Rồi, bằng một giọng dịu hơn, ông tiếp tục:
“Giờ, hãy cho phép tôi nói nốt điều tôi phải nói với ông. Tôi đã nghe nói về ông, Giáo sư Aronnax. Ông, nếu không phải các bạn đồng hành của ông, có lẽ sẽ không than phiền quá nhiều về cú đánh của số phận đã đưa chúng ta đến với nhau. Trong số những cuốn sách tạo nên phần đọc ưa thích của tôi, ông sẽ tìm thấy công trình ông đã xuất bản về các vực sâu đại dương. Tôi đã nghiền ngẫm nó. Ông đã đưa các nghiên cứu của mình đi xa đến mức khoa học trên mặt đất có thể đi. Nhưng ông không biết tất cả, bởi ông chưa thấy tất cả. Hãy để tôi nói với ông, giáo sư, ông sẽ không hối tiếc thời gian ở trên tàu của tôi. Ông sẽ du hành qua một xứ sở kỳ quan. Sự kinh ngạc choáng váng hẳn sẽ là trạng thái thường trực của tâm trí ông. Sẽ còn lâu ông mới chán những cảnh tượng liên tục hiện ra trước mắt mình. Tôi sắp thực hiện một chuyến du hành dưới nước vòng quanh thế giới khác—có lẽ là chuyến cuối cùng của tôi, ai biết được?—và tôi sẽ ôn lại mọi điều tôi đã nghiên cứu trong những vực sâu của các vùng biển mà tôi đã vượt qua biết bao lần, và ông có thể là bạn học của tôi. Bắt đầu từ chính hôm nay, ông sẽ bước vào một yếu tố mới, ông sẽ thấy điều chưa một con người nào từng thấy—bởi người của tôi và tôi không còn được tính nữa—và nhờ tôi, ông sẽ biết những bí mật cuối cùng của hành tinh chúng ta.”
Tôi không thể phủ nhận; những lời của vị chỉ huy có một tác động ghê gớm lên tôi. Ông đã đánh trúng điểm yếu của tôi, và trong chốc lát tôi quên rằng ngay cả trải nghiệm cao cả này cũng không đáng để đánh đổi lấy sự mất tự do của mình. Vả lại, tôi trông cậy vào tương lai để giải quyết câu hỏi quan trọng này. Vì vậy tôi chỉ đáp:
“Thưa ông, dù ông đã cắt đứt mình khỏi nhân loại, tôi thấy rằng ông chưa từ bỏ mọi tình cảm con người. Chúng tôi là những người bị nạn được ông nhân từ đưa lên tàu, chúng tôi sẽ không bao giờ quên điều ấy. Riêng phần tôi, tôi không loại trừ rằng lợi ích của khoa học có thể vượt lên cả nhu cầu tự do, điều hứa hẹn với tôi rằng, để đổi lại, cuộc gặp gỡ của chúng ta sẽ đem đến những phần thưởng lớn lao.”
Tôi tưởng vị chỉ huy sẽ chìa tay cho tôi để đóng dấu thỏa thuận của chúng tôi. Ông không làm gì như thế. Tôi tiếc điều đó.
“Một câu hỏi cuối cùng,” tôi nói, đúng lúc con người không thể giải thích này dường như sẵn sàng rút lui.
“Xin hỏi, giáo sư.”
“Tôi phải gọi ông bằng tên gì?”
“Thưa ông,” vị chỉ huy đáp, “đối với ông, tôi đơn giản là Thuyền trưởng Nemo;\* đối với tôi, ông và các bạn đồng hành của ông đơn giản là hành khách trên tàu Nautilus.”
\*Tiếng Latin: nemo nghĩa là “không ai.” BTV.
Thuyền trưởng Nemo gọi lớn. Một tiếp viên xuất hiện. Thuyền trưởng trao mệnh lệnh cho anh ta bằng thứ ngôn ngữ kỳ lạ mà tôi không thể nhận diện. Rồi, quay sang người Canada và Conseil:
“Một bữa ăn đang chờ các ông trong cabin của các ông,” ông nói với họ. “Xin vui lòng đi theo người này.”
“Đó là một lời mời tôi không thể từ chối!” người phóng lao đáp.
Sau hơn ba mươi giờ bị giam giữ, ông và Conseil cuối cùng cũng ra khỏi phòng giam này.
“Còn bây giờ, Giáo sư Aronnax, bữa điểm tâm của chúng ta đã sẵn sàng. Cho phép tôi đi trước.”
“Xin theo lệnh thuyền trưởng.”
Tôi đi theo Thuyền trưởng Nemo, và ngay khi bước qua khung cửa, tôi đi xuống một loại hành lang được chiếu sáng bằng điện, giống một lối đi trên tàu. Sau một đoạn chừng mười mét, một cánh cửa thứ hai mở ra trước mặt tôi.
Rồi tôi bước vào một phòng ăn, được trang trí và bày biện theo gu thẩm mỹ nghiêm nhã. Khảm viền mun, những tủ đứng bằng gỗ sồi cao đặt ở hai đầu căn phòng, và lấp lánh trên các kệ của chúng là những hàng đồ đất nung, đồ sứ và thủy tinh xếp so le, có giá trị không thể tính xuể. Ở đó, bộ đồ ăn mạ bạc rực sáng dưới những tia sáng tuôn xuống từ các đèn trần, ánh chói của chúng được làm dịu và điều hòa bởi những hoa văn được vẽ tinh tế.
Giữa căn phòng là một chiếc bàn, được bày biện sang trọng. Thuyền trưởng Nemo chỉ chỗ tôi phải ngồi.
“Xin ngồi,” ông nói với tôi, “và ăn như một người đói lả, đúng như ông hẳn đang thế.”
Bữa điểm tâm của chúng tôi gồm vài món mà thành phần đều do biển cung cấp, cùng một số thức ăn mà bản chất và nguồn gốc tôi không biết. Tôi thừa nhận, chúng ngon, nhưng có một hương vị riêng mà chẳng bao lâu tôi sẽ quen. Các thức ăn khác nhau này dường như giàu phosphor, và tôi nghĩ chúng cũng hẳn có nguồn gốc biển.
Thuyền trưởng Nemo nhìn tôi. Tôi không hỏi ông điều gì, nhưng ông đọc được ý nghĩ của tôi, và tự mình trả lời những câu hỏi tôi đang nóng lòng muốn đặt cho ông.
“Phần lớn các món này đều mới đối với ông,” ông nói với tôi. “Nhưng ông có thể dùng chúng mà không sợ. Chúng lành mạnh và bổ dưỡng. Tôi đã từ bỏ thức ăn trên đất liền từ lâu, và tôi chẳng vì thế mà kém đi chút nào. Thủy thủ đoàn của tôi mạnh mẽ và đầy năng lượng, và họ ăn những gì tôi ăn.”
“Vậy,” tôi nói, “tất cả những thức ăn này đều là sản phẩm của biển?”
“Phải, giáo sư, biển cung cấp mọi nhu cầu của tôi. Đôi khi tôi thả lưới theo vệt nước sau tàu, và tôi kéo chúng lên sắp vỡ tung. Đôi khi tôi đi săn ngay giữa yếu tố từ lâu dường như quá xa tầm với của con người này, và dồn những con thú cư ngụ trong các khu rừng dưới nước của tôi vào đường cùng. Như những đàn vật của Proteus xưa kia, người chăn cừu của Vua Neptune, bầy gia súc của tôi không sợ hãi gặm cỏ trên các đồng cỏ mênh mông của đại dương. Ở đó tôi sở hữu những điền sản rộng lớn mà chính tôi thu hoạch, và chúng mãi mãi được gieo trồng bởi bàn tay của Đấng Tạo Hóa Muôn Vật.”
Tôi nhìn Thuyền trưởng Nemo với sự kinh ngạc rõ rệt, và đáp ông:
“Thưa thuyền trưởng, tôi hoàn toàn hiểu lưới của ông có thể cung cấp cá tuyệt hảo cho bàn ăn của ông; tôi kém hiểu hơn cách ông có thể săn thú dưới nước trong những khu rừng dưới nước của mình; nhưng làm sao một miếng thịt đỏ, dù nhỏ đến đâu, lại có thể xuất hiện trong thực đơn của ông, điều ấy tôi hoàn toàn không hiểu.”
“Tôi cũng không, thưa ông,” Thuyền trưởng Nemo đáp tôi. “Tôi không bao giờ chạm đến thịt của động vật trên cạn.”
“Thế nhưng, món này...,” tôi tiếp tục, chỉ vào một đĩa nơi vẫn còn vài lát thăn.
“Thứ ông tin là thịt đỏ, giáo sư, chẳng qua là thăn rùa biển. Tương tự, đây là gan cá heo, mà ông có thể nhầm với thịt heo hầm. Đầu bếp của tôi là một người chế biến thực phẩm khéo léo, xuất sắc trong việc ngâm muối và bảo quản những mẫu vật khác nhau từ đại dương này. Cứ tự nhiên nếm thử tất cả các thức ăn này. Đây là ít đồ hộp từ hải sâm mà một người Malaysia sẽ tuyên bố là không có đối thủ trên toàn thế giới, đây là kem từ sữa do bầu vú của loài cá voi cung cấp, và đường từ những cây fucus khổng lồ ở Biển Bắc; và cuối cùng, cho phép tôi mời ông một ít mứt hải quỳ, ngang với thứ làm từ những trái cây ngon nhất.”
Vậy là tôi nếm thử, nhiều vì tò mò hơn là vì sành ăn, trong khi Thuyền trưởng Nemo làm tôi thích thú bằng những giai thoại không thể tin nổi của ông.
“Nhưng biển cả này, Giáo sư Aronnax,” ông nói với tôi, “biển cả phi thường, bất tận, vú nuôi ẩm ướt này không chỉ nuôi tôi, nó còn mặc cho tôi nữa. Tấm vải đang phủ lên người ông được dệt từ những đám sợi neo giữ một số loài vỏ sò; như người xưa thường làm, nó được nhuộm bằng mực tím từ ốc murex và pha những sắc tím mà tôi chiết xuất từ một loài sên biển, thỏ biển Địa Trung Hải. Nước hoa ông sẽ thấy trên bàn rửa mặt trong cabin của mình được sản xuất từ những chất rỉ ra của thực vật biển. Nệm của ông được làm từ loài cỏ biển mềm nhất đại dương. Bút lông của ông sẽ là sừng cá voi, mực của ông là chất dịch do mực nang hay mực ống tiết ra. Mọi thứ đến với tôi từ biển, cũng như một ngày nào đó mọi thứ sẽ trở về với nó!”
“Ông yêu biển, thuyền trưởng.”
“Phải, tôi yêu nó! Biển là tất cả và là tận cùng! Nó phủ bảy phần mười hành tinh trái đất. Hơi thở của nó sạch và lành mạnh. Nó là một hoang mạc mênh mông nơi con người không bao giờ cô độc, bởi người ấy cảm thấy sự sống lay động ở mọi phía. Biển đơn giản là phương tiện cho một phương thức tồn tại phi thường, không thuộc cõi trần; nó đơn giản là chuyển động và tình yêu; nó là vô tận sống động, như một nhà thơ của ông đã nói. Và về thực chất, giáo sư, ở đây tự nhiên hiển hiện qua cả ba giới của nàng: khoáng vật, thực vật và động vật. Giới cuối cùng được đại diện phong phú bởi bốn nhóm động vật hình cây, ba lớp động vật có đốt, năm lớp thân mềm và ba lớp động vật có xương sống: thú có vú, bò sát, và vô số binh đoàn cá, một bộ động vật vô tận gồm hơn 13.000 loài, trong đó chỉ một phần mười thuộc nước ngọt. Biển là một bể chứa mênh mông của tự nhiên. Có thể nói địa cầu của chúng ta bắt đầu bằng biển, và ai có thể nói rằng chúng ta sẽ không kết thúc với nó! Ở đây có sự yên tĩnh tối thượng. Biển không thuộc về bạo chúa. Trên mặt biển, chúng vẫn còn có thể thực thi những yêu sách bất công của mình, giao chiến với nhau, nuốt chửng nhau, kéo theo mọi nỗi kinh hoàng trần thế. Nhưng ba mươi foot dưới mực nước biển, quyền thống trị của chúng chấm dứt, ảnh hưởng của chúng phai tàn, sức mạnh của chúng biến mất! Ôi, thưa ông, hãy sống! Hãy sống trong trái tim của biển cả! Chỉ ở đây mới có độc lập! Ở đây tôi không thừa nhận ai là bề trên! Ở đây tôi tự do!”
Thuyền trưởng Nemo đột ngột im lặng giữa dòng tuôn trào nhiệt thành ấy. Phải chăng ông đã để mình bị cuốn đi, vượt quá giới hạn dè dặt thường ngày? Phải chăng ông đã nói quá nhiều? Trong vài khoảnh khắc, ông đi đi lại lại, toàn thân run lên. Rồi thần kinh ông dịu xuống, nét mặt ông lấy lại vẻ điềm tĩnh lạnh băng quen thuộc, và quay sang tôi:
“Bây giờ, giáo sư,” ông nói, “nếu ông muốn kiểm tra chiếc Nautilus, tôi xin tuân lệnh ông.”
### CHƯƠNG 11
Chiếc Nautilus
THUYỀN TRƯỞNG NEMO đứng dậy. Tôi đi theo ông. Được thiết kế ở phía sau phòng ăn, một cánh cửa đôi mở ra, và tôi bước vào một căn phòng có kích thước bằng căn phòng tôi vừa rời khỏi.
Đó là một thư viện. Những tủ sách cao bằng gỗ cẩm lai đen, khảm đồng, chứa trên các kệ rộng một số lượng lớn sách đóng bìa đồng bộ. Các đồ đạc này chạy theo đường nét của căn phòng, phần dưới của chúng dẫn đến những chiếc đi-văng lớn bọc da màu hạt dẻ sẫm và uốn cong để đem lại sự thoải mái tối đa. Những giá đọc sách nhẹ, có thể di chuyển, có thể đẩy ra xa hoặc kéo lại gần tùy ý, cho phép đặt sách lên đó để nghiên cứu dễ dàng. Ở giữa là một chiếc bàn lớn phủ đầy các tập sách mỏng, giữa chúng lộ ra một số tờ báo đã quá cũ. Ánh điện tràn ngập toàn bộ tổng thể hài hòa này, rơi xuống từ bốn nửa quả cầu mờ đục gắn trong hoa văn uốn lượn của trần. Tôi nhìn căn phòng được bố trí tài tình ấy với sự kinh ngạc chân thật, và không thể tin vào mắt mình.
“Thuyền trưởng Nemo,” tôi nói với chủ nhà của mình, người vừa nằm dài trên một chiếc đi-văng, “đây là một thư viện có thể làm vinh dự cho không ít cung điện trên lục địa, và tôi thật sự kinh ngạc khi nghĩ nó có thể đi cùng ông xuống những biển sâu nhất.”
“Người ta có thể tìm đâu ra sự yên lặng hay cô tịch lớn hơn, giáo sư?” Thuyền trưởng Nemo đáp. “Phòng làm việc của ông ở bảo tàng có cho ông một nơi ẩn dật hoàn hảo như thế không?”
“Không, thưa ông, và tôi có thể nói thêm rằng nó khá khiêm tốn bên cạnh phòng của ông. Ở đây ông sở hữu 6.000 hay 7.000 quyển sách...”
“12.000, Giáo sư Aronnax. Chúng là những ràng buộc cuối cùng còn lại của tôi với đất khô. Nhưng tôi đã đoạn tuyệt với bờ biển vào ngày chiếc Nautilus của tôi lần đầu tiên chìm xuống dưới nước. Hôm ấy tôi mua những quyển sách cuối cùng, những tập sách mỏng cuối cùng, những tờ báo cuối cùng của mình, và từ đó đến nay tôi chọn tin rằng nhân loại không còn nghĩ hay viết nữa. Dù sao đi nữa, giáo sư, những cuốn sách này tùy ông sử dụng, và ông có thể dùng chúng tự do.”
Tôi cảm ơn Thuyền trưởng Nemo và bước đến các kệ của thư viện này. Sách khoa học, luân lý và văn chương, viết bằng mọi ngôn ngữ, có ở đó rất phong phú, nhưng tôi không thấy một tác phẩm kinh tế học nào—dường như chúng bị nghiêm cấm trên tàu. Một chi tiết lạ: tất cả những cuốn sách này được xếp lên kệ lẫn lộn, không quan tâm đến ngôn ngữ mà chúng được viết, và sự pha trộn ấy chứng tỏ thuyền trưởng của chiếc Nautilus có thể đọc trôi chảy bất cứ quyển nào ông tình cờ cầm lấy.
Trong số những cuốn sách này, tôi nhận thấy những kiệt tác của các bậc vĩ nhân thời cổ đại và hiện đại, nói cách khác, mọi thành tựu tinh hoa nhất của nhân loại trong lịch sử, thi ca, tiểu thuyết và khoa học, từ Homer đến Victor Hugo, từ Xenophon đến Michelet, từ Rabelais đến bà George Sand. Nhưng khoa học, đặc biệt, chiếm phần đầu tư chủ yếu của thư viện này: sách về cơ học, đạn đạo học, thủy văn học, khí tượng học, địa lý, địa chất học, v.v., giữ ở đó một vị trí không kém quan trọng so với các tác phẩm về lịch sử tự nhiên, và tôi nhận ra rằng chúng tạo thành phần đọc chính của thuyền trưởng. Ở đó tôi thấy toàn bộ tác phẩm của Humboldt, toàn bộ Arago, cũng như các công trình của Foucault, Henri Sainte-Claire Deville, Chasles, Milne-Edwards, Quatrefages, John Tyndall, Faraday, Berthelot, Cha Secchi, Petermann, Chỉ huy Maury, Louis Agassiz, v.v., cùng với các biên bản của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, các tập san từ những hội địa lý khác nhau, v.v., và ở một vị trí nổi bật, hai tập sách về các vực sâu đại dương có lẽ đã đem lại cho tôi sự tiếp đón tương đối nhân từ này từ Thuyền trưởng Nemo. Trong các tác phẩm của Joseph Bertrand, cuốn sách nhan đề Những Người Sáng Lập Thiên Văn Học thậm chí cho tôi một mốc ngày tháng rõ ràng; và vì tôi biết nó đã xuất hiện trong năm 1865, tôi kết luận rằng việc trang bị chiếc Nautilus không thể diễn ra trước thời điểm ấy. Theo đó, nhiều nhất là ba năm trước, Thuyền trưởng Nemo đã bắt đầu sự tồn tại dưới nước của mình. Hơn nữa, tôi hy vọng một số cuốn sách còn mới hơn sẽ cho phép tôi xác định chính xác ngày tháng; nhưng tôi còn nhiều thời gian để tìm chúng, và tôi không muốn trì hoãn lâu hơn cuộc dạo quanh các kỳ quan của chiếc Nautilus.
“Thưa ông,” tôi nói với thuyền trưởng, “cảm ơn ông đã đặt thư viện này dưới quyền sử dụng của tôi. Ở đây có những kho báu khoa học, và tôi sẽ tận dụng chúng.”
“Căn phòng này không chỉ là thư viện,” Thuyền trưởng Nemo nói, “nó còn là phòng hút thuốc.”
“Phòng hút thuốc?” tôi kêu lên. “Vậy người ta có thể hút thuốc trên tàu sao?”
“Chắc chắn.”
“Trong trường hợp đó, thưa ông, tôi buộc phải tin rằng ông vẫn giữ quan hệ với Havana.”
“Không chút nào,” thuyền trưởng đáp. “Hãy thử điếu xì gà này, Giáo sư Aronnax, và dù nó không đến từ Havana, nó sẽ làm ông hài lòng nếu ông là người sành.”
Tôi cầm điếu xì gà được đưa cho mình, hình dáng gợi nhớ những điếu từ Cuba; nhưng nó dường như được làm bằng lá vàng. Tôi châm nó ở một lò than nhỏ được đỡ bởi một giá đồng thanh nhã, và hít những hơi đầu tiên với khoái cảm của một người hút thuốc đã nhiều ngày không được rít một hơi.
“Nó tuyệt hảo,” tôi nói, “nhưng nó không phải từ cây thuốc lá.”
“Đúng vậy,” thuyền trưởng đáp, “loại thuốc này không đến từ Havana cũng không từ phương Đông. Đó là một loại rong biển giàu nicotine mà đại dương cung cấp cho tôi, dù khá dè sẻn. Ông còn nhớ những điếu Cuba của mình không, thưa ông?”
“Thuyền trưởng, từ hôm nay trở đi tôi khinh chúng.”
“Vậy hãy hút những điếu xì gà này bất cứ khi nào ông thích, không cần tranh luận về nguồn gốc của chúng. Chúng không mang dấu chấp thuận của chính phủ, nhưng tôi tưởng chúng chẳng vì thế mà kém đi.”
“Trái lại.”
Đúng lúc ấy, Thuyền trưởng Nemo mở một cánh cửa đối diện với cửa tôi đã dùng để vào thư viện, và tôi bước vào một phòng khách mênh mông, được chiếu sáng rực rỡ.
Đó là một tứ giác lớn với các góc vát, dài mười mét, rộng sáu mét, cao năm mét. Một trần sáng, trang trí bằng những họa tiết Ả Rập tinh tế, phân phối một thứ ánh sáng ban ngày dịu và trong lên mọi kỳ vật tập hợp trong bảo tàng này. Bởi đây thật sự là một bảo tàng, nơi những bàn tay khéo léo đã không tiếc chi phí để gom góp mọi kho báu tự nhiên và nghệ thuật, trưng bày chúng với vẻ hỗn độn nên thơ vốn phân biệt xưởng vẽ của một họa sĩ.
Khoảng ba mươi bức tranh của các bậc thầy, đóng khung đồng bộ và được ngăn cách bằng những bộ vũ khí lấp lánh, trang hoàng các bức tường căng những tấm thảm có hoa văn nghiêm nhã. Ở đó tôi thấy những bức họa có giá trị cao nhất, loại tôi từng chiêm ngưỡng trong các bộ sưu tập tư nhân và triển lãm nghệ thuật ở châu Âu. Các trường phái khác nhau của các bậc thầy cổ được đại diện bởi một Đức Mẹ của Raphael, một Trinh Nữ của Leonardo da Vinci, một nữ thần của Correggio, một phụ nữ của Titian, một cảnh ba nhà thông thái chiêm bái của Veronese, một cảnh Đức Mẹ lên trời của Murillo, một chân dung của Holbein, một tu sĩ của Velazquez, một vị tử đạo của Ribera, một hội chợ làng của Rubens, hai phong cảnh Flemish của Teniers, ba bức tranh sinh hoạt nhỏ của Gerard Dow, Metsu và Paul Potter, hai bức vải của Gericault và Prud’hon, cùng những cảnh biển của Backhuysen và Vernet. Trong số các tác phẩm nghệ thuật hiện đại có những bức ký tên Delacroix, Ingres, Decamps, Troyon, Meissonier, Daubigny, v.v., và một số tượng thu nhỏ tuyệt đẹp bằng cẩm thạch hay đồng, mô phỏng những nguyên bản đẹp nhất của thời cổ đại, đứng trên bệ trong các góc của bảo tàng tráng lệ này. Đúng như vị chỉ huy của chiếc Nautilus đã dự báo, tâm trí tôi đã bắt đầu rơi vào trạng thái kinh ngạc choáng váng đã được hứa hẹn.
“Giáo sư,” người đàn ông kỳ lạ này khi ấy nói, “ông phải thứ lỗi cho sự xuề xòa trong cách tôi tiếp ông, và sự lộn xộn đang ngự trị trong phòng khách này.”
“Thưa ông,” tôi đáp, “không tò mò về việc ông là ai, liệu tôi có thể mạo muội nhận định ông là một nghệ sĩ không?”
“Một nhà sưu tập, thưa ông, không hơn. Trước kia tôi yêu việc thu nhận những tác phẩm đẹp đẽ do bàn tay con người tạo ra này. Tôi tìm kiếm chúng một cách háo hức, lùng sục chúng không mệt mỏi, và tôi đã có thể tập hợp một số vật phẩm có giá trị lớn. Chúng là những kỷ vật cuối cùng của tôi về các bờ biển nay đã chết đối với tôi. Trong mắt tôi, các nghệ sĩ hiện đại của ông đã già như người xưa. Họ đã tồn tại 2.000 hay 3.000 năm, và trong tâm trí mình tôi trộn lẫn họ với nhau. Các bậc thầy không có tuổi.”
“Còn các nhà soạn nhạc này?” tôi nói, chỉ vào các bản nhạc của Weber, Rossini, Mozart, Beethoven, Haydn, Meyerbeer, Hérold, Wagner, Auber, Gounod, Victor Massé, và một số người khác rải trên một cây dương cầm đại phong cầm chiếm một mảng tường trong phòng khách này.
“Các nhà soạn nhạc này,” Thuyền trưởng Nemo trả lời tôi, “là người cùng thời với Orpheus, bởi trong biên niên sử của người chết, mọi khác biệt niên đại đều phai đi; và tôi đã chết, giáo sư, cũng chết hệt như những người bạn của ông đang ngủ dưới sáu foot đất!”
Thuyền trưởng Nemo im lặng và dường như chìm trong mộng tưởng. Tôi nhìn ông với sự xúc động mãnh liệt, lặng lẽ phân tích nét mặt kỳ lạ của ông. Tựa khuỷu tay lên góc một chiếc bàn ghép khảm quý giá, ông không còn thấy tôi, ông đã quên chính sự hiện diện của tôi.
Tôi không quấy rầy những suy tưởng của ông mà tiếp tục điểm qua những kỳ vật làm giàu cho phòng khách này.
Sau các tác phẩm nghệ thuật, những vật hiếm tự nhiên chiếm ưu thế. Chúng chủ yếu gồm thực vật, vỏ sò, và các mẫu vật khác từ đại dương hẳn là những phát hiện cá nhân của chính Thuyền trưởng Nemo. Ở giữa phòng khách, một tia nước, được chiếu sáng bằng điện, rơi trở lại vào một bồn làm từ một vỏ trai khổng lồ duy nhất. Vành được xếp nếp tinh tế của chiếc vỏ này, do loài thân mềm lớn nhất trong lớp Acephala cung cấp, đo được khoảng sáu mét chu vi; vì thế nó còn lớn hơn những vỏ trai khổng lồ đẹp đẽ mà Cộng hòa Venice tặng Vua François I, và nhà thờ Saint-Sulpice ở Paris đã biến thành hai bồn nước thánh khổng lồ.
Quanh bồn này, bên trong những tủ kính thanh nhã được gắn bằng dải đồng, là các mẫu vật biển quý giá nhất từng đặt trước mắt một nhà tự nhiên học, được phân loại và dán nhãn. Niềm hân hoan giáo sư của tôi có thể dễ dàng hình dung.
Ngành động vật hình cây cung cấp một số mẫu vật rất khác thường từ hai nhóm của nó, polyp và động vật da gai. Trong nhóm thứ nhất: san hô ống đàn, san hô gorgonia xếp thành hình quạt, bọt biển mềm từ Syria, san hô isis từ quần đảo Molucca, san hô bút biển, san hô kỳ diệu thuộc giống Virgularia từ vùng nước Na Uy, nhiều san hô thuộc giống Umbellularia, san hô alcyonarian, rồi cả một loạt những madrepores mà thầy tôi, Giáo sư Milne-Edwards, đã phân loại thành các phân bộ một cách rất tinh tế, và trong số đó tôi nhận thấy giống Flabellina tuyệt đẹp cũng như giống Oculina từ đảo Réunion, thêm một “cỗ xe của Neptune” từ biển Caribbean—mọi giống san hô tuyệt mỹ, và tóm lại, mọi loài polypary kỳ lạ này tụ lại để tạo thành những hòn đảo trọn vẹn một ngày kia sẽ biến thành lục địa. Trong số động vật da gai, nổi bật vì được phủ gai: sao biển, huệ biển lông chim, huệ biển, huệ biển bơi tự do, sao biển giòn, nhím biển, hải sâm, v.v., đại diện cho một bộ sưu tập đầy đủ các cá thể trong nhóm này.
Một nhà vỏ ốc học dễ xúc động chắc chắn sẽ ngất lịm trước những tủ kính khác, nhiều hơn, trong đó phân loại các mẫu vật thuộc ngành thân mềm. Ở đó tôi thấy một bộ sưu tập có giá trị không thể tính xuể mà tôi không có thời gian mô tả trọn vẹn. Trong số các mẫu vật này, tôi sẽ chỉ nhắc để ghi nhớ: một vỏ sò búa hoàng gia thanh nhã từ Ấn Độ Dương, những đốm trắng đều nhau của nó nổi bật sắc nét trên nền đỏ và nâu; một con hàu gai đế vương, màu sắc rực rỡ, tua tủa gai, một mẫu vật hiếm đối với các bảo tàng châu Âu, mà tôi ước tính trị giá 20.000 franc; một vỏ sò búa thường từ các vùng biển gần Queensland, rất khó kiếm; những sò huyết ngoại lai từ Senegal, những vỏ hai mảnh trắng mỏng manh mà một hơi thở cũng có thể làm vỡ như bong bóng xà phòng; vài giống vỏ bình tưới từ Java, một loại ống đá vôi viền các nếp gấp như lá và được các nhà sưu tập tranh giành dữ dội; cả một loạt ốc đụn—những con vàng lục được vớt từ biển châu Mỹ, những con khác màu nâu đỏ thường lui tới vùng nước ngoài khơi Queensland, loại trước đến từ Vịnh Mexico và đáng chú ý vì vỏ chồng lớp, loại sau là một số vỏ mang mặt trời tìm thấy ở các biển cực nam, cuối cùng và hiếm nhất trong tất cả, vỏ sao gai lộng lẫy từ New Zealand; rồi một số vỏ rãnh tiêu tuyệt đẹp; vài loài sò cythera và sò venus quý giá; ốc cầu thang lưới từ Tranquebar trên bờ đông Ấn Độ; một ốc khăn xếp vân cẩm thạch lấp lánh xà cừ; vỏ két xanh từ biển Trung Hoa; loài ốc nón hầu như chưa biết thuộc giống Coenodullus; mọi giống ốc tiền được dùng làm tiền ở Ấn Độ và châu Phi; một “vinh quang biển cả”, chiếc vỏ quý nhất ở Đông Ấn; cuối cùng, ốc dừa thường, ốc delphinula, ốc tháp, ốc tím, ốc tiền châu Âu, ốc volute, vỏ olive, vỏ mũ giám mục, vỏ mũ sắt, ốc murex, ốc hương, vỏ đàn hạc, ốc dừa gai, ốc triton, vỏ sừng, vỏ thoi, vỏ tù và, ốc nhện, vỏ nón úp, ốc thủy tinh, bướm biển—mọi loại vỏ sò biển tinh tế, mong manh mà khoa học đã rửa tội bằng những cái tên duyên dáng nhất của mình.
Ở một bên và trong những ngăn đặc biệt, những chuỗi ngọc trai đẹp tuyệt đỉnh được trải ra, ánh điện rắc lên chúng những tia lửa nhỏ: ngọc trai hồng lấy từ các vỏ sò quạt nước mặn ở Biển Đỏ; ngọc trai xanh từ bào ngư cầu vồng; ngọc trai vàng, xanh dương và đen, công trình kỳ lạ của nhiều loài thân mềm từ mọi đại dương và của một số loài trai từ các sông phương bắc; tóm lại, nhiều mẫu vật có giá trị không thể tính xuể do những loài có vỏ hiếm nhất tiết ra. Một số viên ngọc này lớn hơn trứng bồ câu; chúng hơn hẳn viên mà nhà thám hiểm Tavernier bán cho Shah xứ Ba Tư với giá 3.000.000 franc, và chúng vượt cả viên ngọc khác thuộc sở hữu của Imam xứ Muscat, viên mà tôi từng tin là vô song trên toàn thế giới.
Do đó, để tính giá trị của bộ sưu tập này, tôi phải nói là điều không thể. Thuyền trưởng Nemo hẳn đã tiêu hàng triệu để mua các mẫu vật khác nhau này, và tôi đang tự hỏi ông lấy nguồn tài chính nào để thỏa mãn những thú vui sưu tập của mình, thì những lời này cắt ngang tôi:
“Ông đang xem các vỏ sò của tôi, giáo sư? Quả thật chúng có thể mê hoặc một nhà tự nhiên học; nhưng đối với tôi chúng còn có một sức quyến rũ thêm, vì tôi đã tự tay thu thập từng cái một, và không một vùng biển nào trên địa cầu thoát khỏi các cuộc điều tra của tôi.”

“Tôi hiểu, thuyền trưởng, tôi hiểu niềm vui của ông khi dạo giữa sự giàu có này. Ông là người tự mình gom kho báu của mình. Không bảo tàng nào ở châu Âu sở hữu một bộ sưu tập mẫu vật đại dương như thế. Nhưng nếu tôi dốc hết mọi kinh ngạc của mình cho chúng, tôi sẽ chẳng còn gì dành cho con tàu chở chúng! Tôi hoàn toàn không muốn thăm dò những bí mật của ông! Nhưng tôi thú nhận rằng sự tò mò của tôi bị chiếc Nautilus này, sức mạnh động cơ mà nó chứa, thiết bị cho phép nó hoạt động, lực siêu mạnh đem lại sự sống cho nó, kích thích đến cực điểm. Tôi thấy một số dụng cụ treo trên tường phòng khách này mà mục đích của chúng tôi không biết. Liệu tôi có thể biết—”
“Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo đáp tôi, “tôi đã nói ông sẽ được tự do trên tàu của tôi, vì thế không phần nào của chiếc Nautilus bị cấm đối với ông. Ông có thể xem xét nó chi tiết, và tôi sẽ vui lòng làm người hướng dẫn cho ông.”
“Tôi không biết cảm ơn ông thế nào, thưa ông, nhưng tôi sẽ không lạm dụng thiện ý của ông. Tôi chỉ muốn hỏi ông về công dụng dành cho những dụng cụ đo lường vật lý này—”
“Giáo sư, chính những dụng cụ này cũng có trong phòng riêng của tôi, nơi tôi sẽ có hân hạnh giải thích chức năng của chúng cho ông. Nhưng trước hết, xin hãy đến xem cabin dành riêng cho ông. Ông cần biết mình sẽ được bố trí chỗ ở thế nào trên chiếc Nautilus.”
Tôi đi theo Thuyền trưởng Nemo, người, qua một trong những cánh cửa khoét vào các góc vát của phòng khách, dẫn tôi trở lại các lối đi của tàu. Ông đưa tôi đến mũi tàu, và ở đó tôi thấy không chỉ một cabin mà là một phòng riêng thanh nhã với giường, bàn rửa mặt, và nhiều đồ đạc khác.
Tôi chỉ có thể cảm ơn chủ nhà của mình.
“Phòng riêng của ông kề với phòng của tôi,” ông nói với tôi, mở một cánh cửa, “và phòng của tôi dẫn vào phòng khách mà chúng ta vừa rời.”
Tôi bước vào phòng riêng của thuyền trưởng. Nó có vẻ nghiêm nhã, gần như tu viện. Một khung giường sắt, một bàn làm việc, vài thiết bị rửa mặt. Ánh sáng dịu. Không xa hoa. Chỉ có những thứ tối cần.
Thuyền trưởng Nemo chỉ cho tôi một ghế dài.
“Xin vui lòng ngồi,” ông nói với tôi.
Tôi ngồi xuống, và ông bắt đầu nói như sau:
### CHƯƠNG 12
Tất cả bằng điện
“THƯA ÔNG,” THUYỀN TRƯỞNG NEMO NÓI, chỉ cho tôi những dụng cụ treo trên tường phòng riêng của ông,
“đây là những thiết bị cần thiết để điều khiển chiếc Nautilus. Ở đây, cũng như trong phòng khách, tôi luôn có chúng trước mắt, và chúng cho biết vị trí cùng hướng đi chính xác của tôi giữa đại dương. Ông quen thuộc với một số trong chúng, chẳng hạn như nhiệt kế, cho biết nhiệt độ bên trong chiếc Nautilus; khí áp kế, đo độ nặng của không khí bên ngoài và dự báo những thay đổi thời tiết; ẩm kế, cho biết mức độ khô trong khí quyển; phong vũ kế, hỗn hợp trong đó phân rã để báo trước sự xuất hiện của bão tố; la bàn, định hướng đường đi của tôi; kính lục phân, đo độ cao của mặt trời và cho tôi biết vĩ độ; đồng hồ bấm giờ, cho phép tôi tính kinh độ; và cuối cùng, ống nhòm dùng cả ngày lẫn đêm, cho phép tôi dò xét mọi điểm trên đường chân trời khi chiếc Nautilus đã nổi lên mặt sóng.”
“Đây là những dụng cụ hàng hải thông thường,” tôi đáp, “và tôi quen thuộc với công dụng của chúng. Nhưng chắc chắn những dụng cụ khác này đáp ứng các nhu cầu cấp bách riêng của chiếc Nautilus. Mặt đồng hồ tôi thấy kia, với kim đang chuyển động trên đó—chẳng phải là một áp kế sao?”
“Đúng là một áp kế. Nó được đặt tiếp xúc với nước, và nó chỉ áp suất bên ngoài lên thân tàu của chúng tôi, điều này lần lượt cho tôi biết độ sâu nơi tàu lặn của tôi đang nằm.”
“Còn đây là một giống dây đo sâu mới?”
“Chúng là dây đo sâu nhiệt kế, cho biết nhiệt độ nước ở các tầng khác nhau.”
“Còn những dụng cụ kia, chức năng của chúng tôi thậm chí không đoán được?”
“Ở đây, giáo sư, tôi cần cung cấp cho ông một ít thông tin nền,” Thuyền trưởng Nemo nói. “Vì vậy xin vui lòng nghe tôi nói hết.”
Ông im lặng trong vài khoảnh khắc, rồi nói:
“Có một lực mạnh mẽ, vâng phục, nhanh nhẹn và không tốn sức, có thể uốn theo mọi công dụng và ngự trị tối cao trên tàu của tôi. Nó làm mọi việc. Nó chiếu sáng cho tôi, sưởi ấm cho tôi, là linh hồn của thiết bị cơ khí của tôi. Lực ấy là điện.”
“Điện!” tôi kêu lên, hơi ngạc nhiên.
“Phải, thưa ông.”
“Nhưng, thuyền trưởng, ông có một tốc độ di chuyển ghê gớm không phù hợp với sức mạnh của điện. Cho đến nay, tiềm năng động lực của nó vẫn còn khá hạn chế, chỉ có khả năng tạo ra những lượng công suất nhỏ!”
“Giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo đáp, “điện của tôi không phải loại tầm thường, và nếu ông cho phép, tôi sẽ dừng ở đó.”
“Tôi sẽ không ép, thưa ông, và tôi sẽ hài lòng với việc đơn giản là kinh ngạc trước kết quả của ông. Tuy nhiên, tôi muốn hỏi một câu, mà ông không cần trả lời nếu nó bất nhã. Các pin điện mà ông dùng để tạo ra lực kỳ diệu này hẳn phải cạn rất nhanh. Thành phần kẽm của chúng, chẳng hạn: ông thay thế nó thế nào, vì ông không còn giữ liên lạc với bờ?”
“Câu hỏi ấy đáng được trả lời,” Thuyền trưởng Nemo đáp. “Trước hết, tôi sẽ nói rằng dưới đáy biển có những mạch kẽm, sắt, bạc và vàng mà việc khai thác chắc chắn hoàn toàn khả thi. Nhưng tôi không dùng đến bất cứ kim loại nào có nguồn gốc đất liền ấy, và tôi muốn chỉ đòi hỏi từ chính biển cả các nguồn điện của mình.”
“Chính biển cả?”
“Phải, giáo sư, và những nguồn như thế không hề thiếu. Thật vậy, bằng cách thiết lập một mạch giữa hai dây dẫn nhúng ở các độ sâu khác nhau, tôi có thể thu được điện nhờ những nhiệt độ khác biệt mà chúng trải qua; nhưng tôi thích sử dụng một phương pháp thực tế hơn.”
“Và đó là?”
“Ông quen thuộc với thành phần của nước mặn. Trong 1.000 gam, người ta tìm thấy 96,5% nước và khoảng 2,66% natri clorua; rồi những lượng nhỏ magiê clorua, kali clorua, magiê bromua, magiê sulfat, canxi sulfat và canxi cacbonat. Vì thế ông thấy rằng natri clorua có ở đó với tỷ lệ đáng kể. Thế thì, chính natri này là thứ tôi chiết xuất từ nước mặn và dùng để cấu tạo các pin điện của mình.”
“Natri?”
“Phải, thưa ông. Trộn với thủy ngân, nó tạo thành một hỗn hống thay thế kẽm trong pin Bunsen. Thủy ngân không bao giờ cạn. Chỉ natri là bị tiêu hao, và chính biển cả cung cấp nó cho tôi. Ngoài ra, tôi sẽ nói rằng các pin natri đã được chứng minh là tạo ra năng lượng lớn hơn, và sức điện động của chúng gấp đôi pin kẽm.”
“Thuyền trưởng, tôi hoàn toàn hiểu sự ưu việt của natri trong những điều kiện mà ông đang ở. Biển chứa nó. Tốt thôi. Nhưng vẫn phải sản xuất nó, nói ngắn gọn là chiết xuất nó. Và ông làm điều này thế nào? Rõ ràng các pin của ông có thể thực hiện việc chiết xuất; nhưng nếu tôi không nhầm, lượng natri mà thiết bị điện của ông tiêu thụ sẽ lớn hơn lượng ông chiết xuất được. Khi ấy sẽ xảy ra điều này: trong quá trình sản xuất natri, ông sẽ dùng nhiều hơn số ông làm ra!”
“Theo đó, giáo sư, tôi không chiết xuất nó bằng pin; đơn giản là tôi sử dụng nhiệt của than từ lòng đất.”
“Từ lòng đất?” tôi nói, giọng nâng lên ở chữ ấy.
“Ta sẽ nói là than từ đáy biển, nếu ông thích,” Thuyền trưởng Nemo đáp.
“Và ông có thể khai thác những mạch than dưới nước này?”
“Ông sẽ thấy tôi khai thác chúng, Giáo sư Aronnax. Tôi chỉ xin ông một chút kiên nhẫn, vì ông sẽ có dư thời gian để kiên nhẫn. Chỉ cần nhớ một điều: tôi nợ đại dương tất cả; nó tạo ra điện, và điện đem cho chiếc Nautilus nhiệt, ánh sáng, chuyển động, và nói một lời, chính sự sống.”
“Nhưng không phải không khí ông thở?”
“Ồ, tôi có thể sản xuất không khí cần thiết trên tàu, nhưng điều ấy vô ích, vì tôi có thể nổi lên mặt biển bất cứ khi nào tôi muốn. Tuy nhiên, dù điện không cung cấp cho tôi không khí hô hấp, ít nhất nó vận hành những máy bơm mạnh mẽ để tích trữ nó dưới áp suất trong các bình đặc biệt; điều này, nếu cần, cho phép tôi kéo dài thời gian ở các tầng thấp bao lâu tùy ý.”
“Thuyền trưởng,” tôi đáp, “tôi sẽ hài lòng với việc kinh ngạc. Rõ ràng ông đã tìm thấy điều mà chắc chắn một ngày kia toàn nhân loại sẽ tìm ra, sức mạnh động lực chân chính của điện.”
“Tôi không chắc họ sẽ tìm ra đâu,” Thuyền trưởng Nemo lạnh lùng đáp. “Nhưng dù thế nào đi nữa, ông đã quen với công dụng đầu tiên mà tôi tìm thấy cho lực quý giá này. Nó chiếu sáng cho chúng ta, với sự đều đặn và liên tục mà ngay cả ánh mặt trời cũng không có. Giờ hãy nhìn chiếc đồng hồ kia: nó chạy bằng điện, chạy với độ chính xác sánh ngang những chronometer tinh xảo nhất. Tôi đã chia nó thành hai mươi bốn giờ như đồng hồ Ý, bởi đối với tôi không có ngày hay đêm, mặt trời hay mặt trăng, mà chỉ có thứ ánh sáng nhân tạo này, thứ tôi đem xuống tận các vực sâu của biển cả! Nhìn kìa, ngay lúc này là mười giờ sáng.”
“Thật hoàn hảo.”
“Một công dụng khác của điện: mặt đồng hồ treo trước mắt chúng ta kia cho biết chiếc Nautilus đang đi nhanh đến đâu. Một dây điện đặt nó tiếp xúc với máy đo tốc độ kiểu mới; chiếc kim này cho tôi thấy tốc độ thực của tàu lặn của tôi. Và... khoan đã... ngay lúc này chúng ta đang đi với nhịp độ vừa phải, mười lăm dặm mỗi giờ.”
“Thật kỳ diệu,” tôi đáp, “và tôi thật sự thấy, thuyền trưởng, ông hoàn toàn có lý khi sử dụng lực này; chắc chắn nó sẽ thay thế gió, nước và hơi nước.”
“Nhưng đó chưa phải tất cả, Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo nói, đứng dậy. “Và nếu ông muốn đi theo tôi, chúng ta sẽ xem xét phần đuôi của chiếc Nautilus.”
Về thực chất, tôi đã quen với toàn bộ phần trước của con tàu dưới nước này, và đây là các phân khu chính xác của nó, tính từ giữa tàu đến chiếc cựa: phòng ăn, dài 5 mét và được ngăn với thư viện bằng một vách ngăn kín nước, nói cách khác, biển không thể xuyên vào; thư viện, dài 5 mét; phòng khách chính, dài 10 mét, được ngăn với phòng riêng của thuyền trưởng bằng một vách ngăn kín nước thứ hai; phòng riêng nói trên, dài 5 mét; phòng của tôi, dài 2,5 mét; và cuối cùng, các bình chứa khí, dài 7,5 mét và kéo dài tới sống mũi tàu. Tổng cộng: chiều dài 35 mét. Các cửa được khoét vào những vách ngăn kín nước và được đóng kín tuyệt đối bằng các gioăng cao su Ấn Độ, bảo đảm an toàn hoàn toàn trên chiếc Nautilus trong trường hợp có rò rỉ ở bất cứ khoang nào.
Tôi đi theo Thuyền trưởng Nemo xuống những lối đi được bố trí để qua lại dễ dàng, và đến giữa tàu. Ở đó tôi thấy một kiểu giếng thông hướng lên trên giữa hai vách ngăn kín nước. Một chiếc thang sắt, kẹp vào vách, dẫn lên đầu trên của giếng ấy. Tôi hỏi thuyền trưởng chiếc thang này dùng để làm gì.
“Nó dẫn đến xuồng nhỏ,” ông đáp.
“Sao! Ông có một xuồng nhỏ?” tôi đáp, hơi kinh ngạc.
“Chắc chắn. Một chiếc xuồng dài tuyệt hảo, nhẹ và không thể chìm, dùng cho những chuyến dạo chơi và đánh cá.”
“Nhưng khi ông muốn lên đường, chẳng phải ông phải trở lại mặt biển sao?”
“Hoàn toàn không. Xuồng nhỏ được gắn vào mặt trên của thân chiếc Nautilus và đặt trong một khoang lõm được thiết kế riêng để chứa nó. Nó hoàn toàn có boong che, tuyệt đối kín nước, và được giữ chắc bằng chốt. Chiếc thang này dẫn đến một lỗ người chui khoét vào thân chiếc Nautilus, tương ứng với một lỗ tương tự khoét vào mạn xuồng nhỏ. Tôi chui qua cửa mở kép này vào xuồng dài. Thủy thủ đoàn của tôi đóng lỗ thuộc về chiếc Nautilus; tôi đóng lỗ thuộc về xuồng nhỏ, chỉ bằng cách vặn nó vào đúng chỗ. Tôi tháo các chốt giữ xuồng nhỏ với tàu lặn, và xuồng dài nổi lên mặt biển với tốc độ phi thường. Rồi tôi mở tấm boong, vốn đến lúc ấy vẫn được đóng kín cẩn thận; tôi dựng cột buồm và kéo buồm lên—hoặc lấy mái chèo ra—và đi một vòng.”
“Nhưng ông trở về tàu bằng cách nào?”
“Tôi không trở về, Giáo sư Aronnax; chiếc Nautilus trở về với tôi.”
“Theo lệnh ông?”
“Theo lệnh tôi. Một dây điện nối tôi với con tàu. Tôi gửi đi một bức điện tín, và thế là xong.”
“Đúng,” tôi nói, choáng váng vì tất cả những kỳ quan này, “chẳng có gì cả!”
Sau khi đi ngang giếng cầu thang dẫn lên sàn ngoài, tôi thấy một cabin dài 2 mét, trong đó Conseil và Ned Land, mê mải với bữa ăn, đang bận rộn ăn sạch đến mẩu cuối cùng. Rồi một cánh cửa mở vào bếp, dài 3 mét và nằm giữa những kho chứa đồ khổng lồ của con tàu.
Ở đó, điện làm hầu hết việc nấu nướng, còn mạnh mẽ và vâng phục hơn cả khí đốt. Đi tới dưới các bếp lò, các dây dẫn truyền tới những vỉ bạch kim một sức nóng được phân phối và duy trì với sự ổn định hoàn hảo. Nó cũng đun nóng một cơ cấu chưng cất, nhờ bay hơi, cung cấp nước uống tuyệt hảo. Kề bên bếp này là một phòng tắm, được bố trí tiện lợi, có vòi cấp nước nóng hay lạnh tùy ý.
Sau bếp là khoang thủy thủ đoàn, dài 5 mét. Nhưng cửa đóng kín và tôi không thể thấy cách bài trí bên trong, điều có thể cho tôi biết số người cần thiết để vận hành chiếc Nautilus.
Ở cuối xa là một vách ngăn kín nước thứ tư, ngăn khoang thủy thủ đoàn với phòng máy. Một cánh cửa mở ra, và tôi đứng trong khoang nơi Thuyền trưởng Nemo, không thể tranh cãi là một kỹ sư tầm cỡ thế giới, đã lắp đặt thiết bị động lực của mình.
Được chiếu sáng rực rỡ, phòng máy đo được ít nhất 20 mét chiều dài. Theo chức năng, nó được chia thành hai phần: phần thứ nhất chứa các pin tạo ra điện, phần thứ hai là cơ cấu truyền chuyển động tới chân vịt.
Ngay lập tức, tôi nhận ra một mùi thấm khắp khoang, sui generis.\* Thuyền trưởng Nemo nhận thấy ấn tượng không dễ chịu mà nó gây ra cho tôi.
\*Tiếng Latin: “thuộc một loại riêng.” BTV.
“Đó,” ông nói với tôi, “là khí thoát ra do việc chúng tôi sử dụng natri, nhưng chỉ là một bất tiện nhẹ. Dù sao, mỗi sáng chúng tôi khử sạch con tàu bằng cách thông gió ngoài trời.”
Trong khi đó, tôi xem xét động cơ của chiếc Nautilus với sự say mê dễ hình dung.
“Ông thấy đấy,” Thuyền trưởng Nemo nói với tôi, “tôi dùng pin Bunsen, không phải pin Ruhmkorff. Loại sau sẽ không có hiệu quả. Người ta dùng ít pin Bunsen hơn, nhưng chúng lớn và mạnh, và kinh nghiệm đã chứng minh sự ưu việt của chúng. Dòng điện tạo ra ở đây đi về phía đuôi tàu, nơi các nam châm điện có kích thước khổng lồ kích hoạt một hệ thống đòn bẩy và bánh răng đặc biệt truyền chuyển động tới trục chân vịt. Trục sau có đường kính 6 mét, bước xoắn 7,5 mét, và có thể quay tới 120 vòng mỗi phút.”
“Và điều đó cho ông?”
“Tốc độ năm mươi dặm mỗi giờ.”
Ở đó có một bí ẩn, nhưng tôi không cố khám phá nó. Làm sao điện có thể hoạt động với sức mạnh như vậy? Nguồn năng lượng gần như vô hạn này bắt nguồn từ đâu? Có phải ở điện áp phi thường thu được từ một loại cuộn cảm ứng mới nào đó? Liệu sự truyền lực của nó đã được tăng lên vô hạn bằng một hệ thống đòn bẩy chưa từng biết nào chăng?\*\* Đây là điểm tôi không thể nắm bắt.
\*\*Ghi chú của tác giả: Và quả nhiên, nay đã có lời bàn về một phát minh như thế, trong đó một hệ đòn bẩy mới tạo ra sức mạnh đáng kể. Phải chăng nhà phát minh của nó đã gặp Thuyền trưởng Nemo?
“Thuyền trưởng Nemo,” tôi nói, “tôi sẽ bảo đảm cho kết quả và không cố giải thích chúng. Tôi đã thấy chiếc Nautilus hoạt động trước chiếc Abraham Lincoln, và tôi biết mình nên nghĩ gì về tốc độ của nó. Nhưng chỉ di chuyển thôi thì chưa đủ, chúng ta còn phải thấy mình đang đi đâu! Chúng ta phải có thể lái sang phải hay sang trái, lên hay xuống! Ông xuống tới các vực sâu thấp hơn bằng cách nào, nơi ông gặp một sức cản ngày càng tăng được tính bằng hàng trăm át-mốt-phe? Ông trở lại mặt đại dương bằng cách nào? Sau cùng, ông giữ con tàu của mình ở bất cứ tầng nào vừa ý ông bằng cách nào? Tôi có bất nhã không khi hỏi ông tất cả những điều ấy?”
“Hoàn toàn không, giáo sư,” thuyền trưởng đáp sau một thoáng do dự, “bởi ông sẽ không bao giờ rời con tàu dưới nước này. Hãy vào phòng khách. Thật ra đó là phòng làm việc của chúng ta, và ở đó ông sẽ biết toàn bộ câu chuyện về chiếc Nautilus!”
### CHƯƠNG 13
Vài con số
MỘT LÚC SAU chúng tôi ngồi trên một chiếc đi-văng trong phòng khách, ngậm xì gà giữa môi. Thuyền trưởng đặt trước mắt tôi một bản vẽ kỹ thuật cho thấy mặt bằng, mặt cắt ngang và hình chiếu bên của chiếc Nautilus. Rồi ông bắt đầu mô tả như sau:
“Đây, Giáo sư Aronnax, là các kích thước khác nhau của con tàu hiện đang chở ông. Nó là một hình trụ rất dài với hai đầu hình nón. Hình dáng của nó rõ rệt giống một điếu xì gà, một hình dáng đã được chấp nhận ở London cho một số dự án cùng loại. Chiều dài của hình trụ này từ đầu đến đầu đúng bảy mươi mét, và chiều ngang lớn nhất của nó là tám mét. Vậy nó không hoàn toàn được đóng theo tỷ lệ mười-một như các tàu hơi nước tốc độ cao của ông; nhưng các đường nét của nó đủ dài, và độ thuôn của chúng đủ từ tốn, để nước bị rẽ ra dễ dàng lướt qua và không gây trở ngại cho chuyển động của con tàu.
“Hai kích thước này cho phép ông, bằng một phép tính đơn giản, thu được diện tích bề mặt và thể tích của chiếc Nautilus. Diện tích bề mặt của nó là 1.011,45 mét vuông, thể tích 1.507,2 mét khối—điều ấy cũng có nghĩa rằng khi nó hoàn toàn chìm dưới nước, nó chiếm chỗ 1.500 mét khối nước, hay nặng 1.500 tấn mét.
“Khi vạch kế hoạch cho một con tàu dùng để đi dưới nước, tôi muốn nó, khi nổi trên sóng, nằm chín phần mười dưới mặt nước và chỉ nhô lên một phần mười. Do đó, trong những điều kiện này, nó chỉ cần chiếm chỗ chín phần mười thể tích của nó, tức 1.356,48 mét khối; nói cách khác, nó chỉ được nặng đúng số tấn mét ấy. Vì vậy tôi buộc không được vượt quá trọng lượng này khi đóng nó theo những kích thước nói trên.
“Chiếc Nautilus gồm hai thân tàu, một trong một ngoài; giữa chúng, nối chúng lại với nhau, là các thanh sắt chữ T đem cho con tàu này độ cứng tối đa. Thật vậy, nhờ cách bố trí dạng ô này, nó có sức chịu của một khối đá, như thể hoàn toàn đặc. Lớp vỏ của nó không thể nhượng bộ; nó tự bám chắc và không phụ thuộc vào độ kín của các đinh tán; và nhờ sự kết hợp hoàn hảo của các vật liệu, tính thống nhất trong cấu trúc cho phép nó thách thức những vùng biển dữ dội nhất.
“Hai thân tàu được chế tạo từ thép tấm nồi hơi, có tỷ trọng tương đối bằng 7,8 lần nước. Thân thứ nhất dày không dưới năm xentimét và nặng 394,96 tấn mét. Thân thứ hai của tôi, lớp vỏ ngoài, bao gồm một sống tàu cao năm mươi xentimét, rộng hai mươi lăm xentimét, chỉ riêng nó đã nặng 62 tấn mét; thân này, động cơ, két dằn, các phụ kiện và tiện nghi khác nhau, cộng với các vách ngăn và thanh giằng bên trong, có tổng trọng lượng 961,52 tấn mét, cộng với 394,96 tấn mét sẽ cho chúng ta tổng mong muốn là 1.356,48 tấn mét. Rõ chứ?”
“Rõ,” tôi đáp.
“Vậy,” thuyền trưởng tiếp tục, “khi chiếc Nautilus nằm trên sóng trong những điều kiện này, một phần mười của nó nhô lên khỏi nước. Thế thì, nếu tôi bố trí các két dằn có dung tích bằng đúng một phần mười ấy, tức có thể chứa 150,72 tấn mét, và nếu tôi đổ đầy nước vào chúng, con tàu khi ấy chiếm chỗ 1.507,2 tấn mét—hay nặng chừng ấy—và nó sẽ hoàn toàn chìm. Đó là điều xảy ra, giáo sư. Các két dằn này tồn tại ở những vị trí dễ tiếp cận trong các phần dưới của chiếc Nautilus. Tôi mở vài van chặn, các két đầy nước, con tàu chìm xuống, và nó nằm đúng ngang mặt nước.”
“Tốt, thuyền trưởng, nhưng bây giờ chúng ta đến một khó khăn thật sự. Tôi hiểu rằng ông có thể nằm ngang mặt đại dương. Nhưng xuống sâu hơn, khi lặn dưới mặt nước ấy, chẳng phải tàu lặn của ông sẽ gặp một áp lực, và do đó chịu một lực đẩy lên, phải tính là một át-mốt-phe cho mỗi ba mươi foot nước, tức khoảng một kilôgam trên mỗi xentimét vuông sao?”
“Chính xác, thưa ông.”
“Vậy trừ phi ông đổ đầy toàn bộ chiếc Nautilus, tôi không thấy làm sao ông có thể ép nó xuống tận lòng các khối chất lỏng này.”
“Giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo đáp, “không được nhầm lẫn các vật tĩnh với các vật động, nếu không chúng ta sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng. Nỗ lực tương đối ít được tiêu tốn để xuống các vùng thấp hơn của đại dương, bởi mọi vật đều có khuynh hướng trở thành ‘vật chìm’. Hãy theo dõi logic của tôi ở đây.”
“Tôi đang lắng nghe, thuyền trưởng.”
“Khi tôi muốn xác định phần tăng trọng lượng cần thêm cho chiếc Nautilus để lặn xuống, tôi chỉ cần lưu ý tỷ lệ giảm thể tích mà nước mặn trải qua ở các tầng ngày càng sâu.”
“Điều đó hiển nhiên,” tôi đáp.
“Thế thì, nếu nước không hoàn toàn không nén được, ít nhất nó nén rất ít. Thật vậy, theo các tính toán gần đây nhất, mức giảm này chỉ là 0,0000436 cho mỗi át-mốt-phe, hay cho mỗi ba mươi foot chiều sâu. Chẳng hạn, để xuống sâu 1.000 mét, tôi phải tính đến sự giảm thể tích xảy ra dưới một áp suất tương đương áp suất từ một cột nước 1.000 mét, nói cách khác, dưới áp suất 100 át-mốt-phe. Trong trường hợp này mức giảm sẽ là 0,00436. Do đó, tôi phải tăng trọng lượng của mình từ 1.507,2 tấn mét lên 1.513,77. Vậy phần trọng lượng thêm chỉ là 6,57 tấn mét.”
“Chỉ có thế thôi?”
“Chỉ có thế thôi, Giáo sư Aronnax, và phép tính rất dễ kiểm tra. Thế thì, tôi có những két dằn phụ có thể nhận 100 tấn mét nước. Vì vậy tôi có thể xuống những độ sâu đáng kể. Khi muốn nổi lại và nằm ngang mặt nước, tôi chỉ cần đẩy lượng nước ấy ra; và nếu muốn chiếc Nautilus nhô lên trên sóng một phần mười tổng dung tích, tôi xả hết toàn bộ các két dằn.”
Logic này, được các con số hậu thuẫn, khiến tôi không còn một phản bác nào.
“Tôi chấp nhận các phép tính của ông, thuyền trưởng,” tôi đáp, “và tôi sẽ bất lịch sự nếu tranh cãi chúng, vì kinh nghiệm hằng ngày của ông chứng thực chúng. Nhưng đến chỗ này, tôi linh cảm rằng vẫn còn lại một khó khăn thật sự.”
“Khó khăn gì, thưa ông?”
“Khi ông ở độ sâu 1.000 mét, lớp vỏ của chiếc Nautilus chịu áp suất 100 át-mốt-phe. Nếu lúc này ông muốn xả các két dằn phụ để làm nhẹ con tàu và nổi lên mặt nước, các máy bơm của ông phải thắng được áp suất 100 át-mốt-phe ấy, tức 100 kilôgam trên mỗi xentimét vuông. Điều này đòi hỏi một sức mạnh—”
“Mà chỉ điện mới có thể đem cho tôi,” Thuyền trưởng Nemo nhanh chóng nói. “Thưa ông, tôi nhắc lại: sức mạnh động lực của các máy của tôi gần như vô hạn. Các máy bơm của chiếc Nautilus có sức mạnh phi thường, như ông hẳn đã nhận thấy khi các cột nước của chúng quét qua chiếc Abraham Lincoln như thác lũ. Hơn nữa, tôi chỉ dùng các két dằn phụ để đạt tới độ sâu trung bình 1.500 đến 2.000 mét, và đó là nhằm bảo tồn máy móc của tôi. Theo đó, khi tôi muốn ghé thăm các vực sâu đại dương hai hay ba dặm theo chiều thẳng đứng bên dưới mặt nước, tôi dùng những thao tác mất nhiều thời gian hơn nhưng không kém phần chắc chắn.”
“Chúng là gì, thuyền trưởng?” tôi hỏi.
“Ở đây tôi tự nhiên được dẫn đến việc nói với ông cách điều khiển chiếc Nautilus.”
“Tôi nóng lòng muốn biết.”
“Để lái con tàu này sang mạn trái hay mạn phải, tóm lại, để quay trên một mặt phẳng ngang, tôi dùng một bánh lái bình thường, bản rộng, gắn vào phía sau sống đuôi tàu và vận hành bằng bánh lái cùng palăng. Nhưng tôi cũng có thể đưa chiếc Nautilus lên và xuống trên một mặt phẳng đứng bằng phương pháp đơn giản là nghiêng hai cánh ổn định của nó, gắn hai bên ở tâm nổi; các cánh này linh hoạt, có thể nhận bất cứ vị trí nào, và được vận hành từ bên trong bằng những đòn bẩy mạnh mẽ. Nếu các cánh này song song với con tàu, con tàu chuyển động ngang. Nếu chúng nghiêng, chiếc Nautilus đi theo góc nghiêng ấy và, dưới lực đẩy của chân vịt, hoặc chìm xuống theo một đường chéo dốc tùy ý tôi, hoặc nổi lên theo đường chéo ấy. Và tương tự, nếu tôi muốn trở lại mặt nước nhanh hơn, tôi cho chân vịt ăn khớp, và áp lực nước khiến chiếc Nautilus nổi thẳng đứng, như một khí cầu bơm hydro bay nhanh lên trời.”
“Tuyệt diệu, thuyền trưởng!” tôi kêu lên. “Nhưng giữa lòng nước, làm sao người lái tàu của ông theo được hướng đi ông giao cho anh ta?”
“Người lái của tôi đóng tại phía sau các cửa sổ của một phòng lái, nhô lên từ mặt trên thân chiếc Nautilus và được lắp kính hai mặt lồi.”
“Kính có thể chịu được áp suất như thế sao?”
“Hoàn toàn có thể. Dù dễ vỡ khi va đập, pha lê vẫn có thể chịu lực đáng kể. Năm 1864, trong các thí nghiệm đánh cá bằng ánh sáng điện giữa Biển Bắc, người ta thấy những tấm kính dày chưa tới bảy milimét chống chịu được áp suất mười sáu át-mốt-phe, trong khi vẫn cho xuyên qua các tia mạnh, sinh nhiệt, mà độ ấm phân bố không đều. Thế thì, tôi dùng các cửa kính dày không dưới hai mươi mốt xentimét ở giữa; nói cách khác, chúng có độ dày gấp ba mươi lần.”
“Khá hợp lý, thuyền trưởng, nhưng nếu muốn thấy, chúng ta cần ánh sáng để xua bóng tối, và giữa vùng nước u ám, tôi tự hỏi người lái của ông có thể—”
“Đặt ở phía sau phòng lái là một đèn phản xạ điện mạnh, các tia của nó chiếu sáng biển cả trong bán kính nửa dặm.”
“Ôi, tuyệt diệu! Tuyệt diệu ba lần, thuyền trưởng! Điều đó giải thích ánh lân quang từ con kỳ lân biển giả hiệu này, thứ đã làm chúng tôi, các nhà khoa học, bối rối đến thế! Liên quan đến điều này, tôi muốn hỏi ông liệu việc chiếc Nautilus va phải chiếc Scotia, gây nên một tiếng vang lớn như vậy, có phải là kết quả của một cuộc chạm trán tình cờ không?”
“Hoàn toàn tình cờ, thưa ông. Tôi đang đi cách mặt nước hai mét khi cú va chạm xảy ra. Tuy nhiên, tôi có thể thấy nó không gây hậu quả nghiêm trọng.”
“Không, thưa ông. Nhưng còn cuộc chạm trán của ông với chiếc Abraham Lincoln...?”
“Giáo sư, điều đó khiến tôi phiền lòng, vì nó là một trong những con tàu tốt nhất của hải quân Mỹ can đảm, nhưng họ đã tấn công tôi và tôi buộc phải tự vệ! Dẫu vậy, tôi chỉ bằng lòng đặt tàu hộ vệ ấy vào tình trạng không còn có thể làm hại tôi; nó sẽ không gặp khó khăn gì khi được sửa chữa ở cảng gần nhất.”
“Ôi, chỉ huy,” tôi kêu lên với niềm xác tín, “chiếc Nautilus của ông thật sự là một con tàu kỳ diệu!”
“Phải, giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo đáp với sự xúc động chân thật, “và tôi yêu nó như chính máu thịt của mình! Trên một con tàu thông thường, đối mặt với hiểm nguy của đại dương, nguy hiểm rình rập khắp nơi; trên mặt biển, cảm giác chủ yếu của ông là cảm giác thường trực về một vực thẳm nằm bên dưới, như người Hà Lan Jansen đã nói rất xác đáng; nhưng dưới sóng, trên chiếc Nautilus, tim ông không bao giờ thất đảm! Không có biến dạng cấu trúc nào phải lo, bởi thân kép của con tàu này có độ cứng của sắt; không có hệ dây buồm nào bị hao mòn vì tàu lắc ngang và chúi dọc trên sóng; không có buồm để gió cuốn đi; không có nồi hơi để hơi nước làm nổ tung; không có lửa phải sợ, vì tàu lặn này làm bằng tôn sắt chứ không phải gỗ; không có than để cạn, vì điện là lực cơ học của nó; không có va chạm phải sợ, bởi nó đi trong vực nước sâu một mình; không có bão tố phải đương đầu, bởi chỉ vài mét dưới sóng, nó tìm thấy sự yên tĩnh tuyệt đối! Đó, thưa ông. Đó là con tàu lý tưởng! Và nếu đúng là kỹ sư tin tưởng một con tàu hơn người đóng tàu, người đóng tàu lại hơn chính thuyền trưởng, thì ông có thể hiểu sự phó thác tuyệt đối mà tôi đặt vào chiếc Nautilus này, bởi tôi vừa là thuyền trưởng, vừa là người đóng, vừa là kỹ sư của nó!”
Thuyền trưởng Nemo nói với tài hùng biện lôi cuốn. Ngọn lửa trong mắt và niềm say mê trong cử chỉ làm ông biến dạng. Phải, ông yêu con tàu của mình như một người cha yêu đứa con!
Nhưng một câu hỏi, có lẽ bất nhã, tự nhiên nảy ra, và tôi không thể cưỡng lại việc hỏi nó.
“Vậy ông là kỹ sư, Thuyền trưởng Nemo?”
“Phải, giáo sư,” ông trả lời tôi. “Tôi từng học ở London, Paris và New York vào những ngày tôi còn là cư dân của các lục địa trên trái đất.”
“Nhưng làm sao ông có thể bí mật đóng chiếc Nautilus kỳ diệu này?”
“Mỗi phần của nó, Giáo sư Aronnax, đến từ một nơi khác nhau trên địa cầu và đến tay tôi tại một địa chỉ che giấu. Sống tàu của nó được Creusot ở Pháp rèn, trục chân vịt do Pen & Co. ở London chế tạo, các tấm tôn sắt cho thân tàu do Laird’s ở Liverpool làm, chân vịt do Scott’s ở Glasgow. Các két của nó được Cail & Co. ở Paris chế tạo, động cơ của nó do Krupp ở Phổ, chiếc cựa của nó do các xưởng Motala ở Thụy Điển, các dụng cụ chính xác của nó do Hart Bros. ở New York, v.v.; và mỗi nhà cung cấp này nhận thông số kỹ thuật của tôi dưới một tên khác nhau.”
“Nhưng,” tôi tiếp tục, “một khi các bộ phận này đã được chế tạo, chẳng phải chúng phải được lắp ráp và hiệu chỉnh sao?”
“Giáo sư, tôi dựng các xưởng của mình trên một đảo nhỏ hoang vắng giữa đại dương. Ở đó chiếc Nautilus của chúng ta được tôi và các thợ của tôi hoàn thành, nói cách khác, bởi những bạn đồng hành can đảm mà tôi đã uốn nắn và giáo dục. Rồi, khi công việc kết thúc, chúng tôi đốt sạch mọi dấu vết lưu trú của mình trên đảo nhỏ ấy, nơi nếu có thể, tôi đã cho nổ tung.”
“Từ tất cả những điều này, tôi có thể giả định rằng một con tàu như thế tốn cả một gia tài?”
“Một con tàu sắt, Giáo sư Aronnax, tốn 1.125 franc mỗi tấn mét. Thế thì, chiếc Nautilus có trọng tải 1.500 tấn mét. Do đó, nó tốn 1.687.000 franc, tức 2.000.000 franc kể cả các tiện nghi, và 4.000.000 hay 5.000.000 với tất cả các bộ sưu tập và tác phẩm nghệ thuật chứa trong nó.”
“Một câu hỏi cuối, Thuyền trưởng Nemo.”
“Hỏi đi, giáo sư.”
“Vậy ông giàu có?”
“Giàu vô hạn, thưa ông, và không chút khó khăn, tôi có thể trả hết món nợ quốc gia mười tỉ franc của Pháp!”
Tôi há hốc nhìn cá nhân kỳ dị vừa thốt ra những lời ấy. Phải chăng ông đang đùa giỡn với sự cả tin của tôi? Thời gian sẽ trả lời.
### CHƯƠNG 14
Hải lưu Đen
PHẦN CỦA hành tinh trái đất mà biển chiếm giữ đã được đánh giá là 3.832.558 myriamét vuông, tức hơn 38.000.000.000 hecta. Khối chất lỏng này tổng cộng 2.250.000.000 dặm khối và có thể tạo thành một quả cầu đường kính sáu mươi dặm biển, trọng lượng của nó sẽ là ba quintillion tấn mét. Để hiểu con số như thế, ta nên nhớ rằng một quintillion so với một tỉ cũng như một tỉ so với một, nói cách khác, trong một quintillion có bao nhiêu tỉ thì trong một tỉ có bấy nhiêu đơn vị! Thế thì, khối chất lỏng này gần bằng tổng lượng nước đã chảy qua tất cả các dòng sông trên trái đất trong 40.000 năm qua!
Trong thời tiền sử, một thời đại lửa được tiếp nối bằng một thời đại nước. Ban đầu, đại dương ở khắp nơi. Rồi, trong kỷ Silur, các đỉnh núi dần dần hiện ra trên sóng, các đảo nổi lên, biến mất dưới những trận lụt tạm thời, lại nổi lên, kết hợp để hình thành các lục địa, và cuối cùng địa lý trái đất ổn định thành như chúng ta có ngày nay. Vật chất rắn đã giành được từ vật chất lỏng khoảng 37.657.000 dặm vuông, tức 12.916.000.000 hecta.
Đường nét của các lục địa cho phép chia biển thành năm phần lớn: các đại dương băng giá Bắc Băng Dương và Nam Băng Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
Thái Bình Dương trải dài từ bắc xuống nam giữa hai vòng cực và từ đông sang tây giữa châu Mỹ và châu Á trên một khoảng 145 độ kinh tuyến. Nó là vùng biển yên tĩnh nhất; các dòng hải lưu của nó rộng và chảy chậm, thủy triều của nó ôn hòa, lượng mưa của nó dồi dào. Và đây là đại dương mà số phận đã định cho tôi lần đầu vượt qua dưới những điềm báo kỳ lạ nhất.
“Nếu ông không phiền, giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo nói với tôi, “chúng ta sẽ xác định vị trí chính xác và ấn định điểm khởi đầu của chuyến đi. Còn mười lăm phút nữa là giữa trưa. Tôi sẽ nổi lên mặt nước.”
Thuyền trưởng nhấn chuông điện ba lần. Các máy bơm bắt đầu đẩy nước ra khỏi các két dằn; trên áp kế, một chiếc kim đánh dấu áp suất giảm dần cho biết chiếc Nautilus đang đi lên; rồi chiếc kim dừng lại.
“Chúng ta đến rồi,” thuyền trưởng nói.
Tôi đi tới cầu thang trung tâm dẫn lên sàn ngoài. Tôi trèo các bậc kim loại, đi qua những cửa sập mở, và lên tới mặt trên chiếc Nautilus.
Sàn ngoài chỉ nhô khỏi sóng tám mươi xentimét. Mũi và đuôi của chiếc Nautilus mang đường nét hình thoi đã khiến con tàu được so sánh thích đáng với một điếu xì gà dài. Tôi nhận thấy sự chồng nhẹ của các tấm tôn sắt, trông giống vảy phủ trên thân các loài bò sát lớn trên cạn của chúng ta. Vì thế tôi đã có một lời giải thích hoàn toàn tự nhiên cho việc tại sao, bất chấp những ống nhòm tốt nhất, con tàu này luôn bị nhầm với một sinh vật biển.
Gần giữa sàn ngoài, xuồng nhỏ nửa chìm vào thân tàu, tạo thành một chỗ phồng nhẹ. Phía trước và phía sau dựng lên hai vòm nhỏ có chiều cao vừa phải, các cạnh nghiêng và một phần được lắp kính hai mặt lồi dày, một dành cho người lái điều khiển chiếc Nautilus, cái kia dành cho ánh rực của đèn hiệu điện mạnh mẽ soi đường cho anh ta.
Biển tuyệt đẹp, bầu trời trong sáng. Phương tiện thủy dài này hầu như không cảm thấy những đợt nhấp nhô rộng của đại dương. Một làn gió nhẹ từ phía đông làm gợn mặt nước. Đường chân trời, không còn chút sương mù, rất lý tưởng để đo vị trí.
Không có gì để thấy. Không một rạn đá, không một đảo nhỏ. Không còn Abraham Lincoln. Một mênh mông hoang vắng.
Nâng kính lục phân của mình, Thuyền trưởng Nemo đo độ cao của mặt trời, điều sẽ cho ông vĩ độ. Ông chờ vài phút cho đến khi quả cầu chạm rìa đường chân trời. Trong khi đo, ông không động một cơ, và dụng cụ ấy không thể nào vững hơn trong những bàn tay làm bằng cẩm thạch.
“Giữa trưa,” ông nói. “Giáo sư, bất cứ khi nào ông sẵn sàng...”
Tôi nhìn biển lần cuối, hơi vàng nhạt gần những bến đổ bộ của Nhật Bản, rồi lại xuống dưới phòng khách chính.
Ở đó thuyền trưởng xác định vị trí và dùng một chronometer để tính kinh độ, ông đối chiếu lại với các quan sát trước đó về góc giờ. Rồi ông nói với tôi:
“Giáo sư Aronnax, chúng ta ở kinh độ 137 độ 15′ tây—”
“Tây so với kinh tuyến nào?” tôi vội hỏi, hy vọng câu trả lời của thuyền trưởng có thể cho tôi một manh mối về quốc tịch của ông.
“Thưa ông,” ông đáp, “tôi có chronometer được đặt theo các kinh tuyến Paris, Greenwich và Washington, D.C. Nhưng để vinh danh ông, tôi sẽ dùng chiếc theo Paris.”
Câu trả lời này chẳng cho tôi biết gì. Tôi cúi đầu, và vị chỉ huy tiếp tục:
“Chúng ta ở kinh độ 137 độ 15′ tây so với kinh tuyến Paris, và vĩ độ 30 độ 7′ bắc, nói cách khác, cách bờ biển Nhật Bản khoảng 300 dặm. Vào giữa trưa ngày 8 tháng 11 này, chúng ta chính thức bắt đầu chuyến du hành thám hiểm dưới nước.”
“Cầu Chúa ở cùng chúng ta!” tôi đáp.
“Và bây giờ, giáo sư,” thuyền trưởng nói thêm, “tôi để ông với các công việc trí tuệ của mình. Tôi đã đặt hướng đi đông-đông bắc ở độ sâu năm mươi mét. Đây là một số hải đồ tỷ lệ lớn mà trên đó ông có thể theo dõi hành trình ấy. Phòng khách tùy ông sử dụng, và với sự cho phép của ông, tôi xin cáo lui.”
Thuyền trưởng Nemo cúi chào. Tôi bị bỏ lại một mình, chìm trong suy nghĩ. Tất cả chúng đều xoay quanh vị chỉ huy chiếc Nautilus. Liệu tôi có bao giờ biết quốc tịch của người đàn ông lập dị đã khoe rằng mình không có quốc tịch này không? Mối căm ghét mà ông đã thề với nhân loại, một mối căm ghét có lẽ đang hướng tới một cuộc báo thù khủng khiếp—điều gì đã gây ra nó? Ông có phải một trong những học giả không được thừa nhận, một trong những thiên tài “bị thế gian làm cho cay đắng”, như Conseil diễn đạt, một Galileo thời sau, hay có lẽ một trong những người khoa học như Chỉ huy Maury của Mỹ, sự nghiệp bị các cuộc cách mạng chính trị hủy hoại? Tôi chưa thể nói. Còn tôi, kẻ vừa được số phận đưa lên con tàu của ông, kẻ mà mạng sống ông đã nắm trong tay: ông tiếp nhận tôi lạnh lùng nhưng hiếu khách. Chỉ có điều, ông không bao giờ nắm lấy bàn tay tôi đưa ra cho ông. Ông cũng không bao giờ đưa tay mình ra.
Suốt một giờ, tôi chìm sâu trong những suy tưởng này, cố thăm dò bí ẩn làm tôi mê hoặc đến thế. Rồi mắt tôi tập trung vào một bản đồ thế giới lớn trải trên bàn, và tôi đặt ngón tay lên đúng điểm nơi kinh độ và vĩ độ vừa xác định của chúng tôi giao nhau.
Cũng như các lục địa, biển có những dòng sông của nó. Đó là những hải lưu riêng biệt có thể nhận ra bằng nhiệt độ và màu sắc, nổi bật nhất là dòng gọi là Gulf Stream. Khoa học đã xác định các đường đi toàn cầu của năm dòng hải lưu chính: một ở bắc Đại Tây Dương, dòng thứ hai ở nam Đại Tây Dương, dòng thứ ba ở bắc Thái Bình Dương, dòng thứ tư ở nam Thái Bình Dương, và dòng thứ năm ở nam Ấn Độ Dương. Cũng có khả năng một dòng thứ sáu từng tồn tại ở bắc Ấn Độ Dương, khi biển Caspi và Aral nối với một số hồ lớn ở châu Á để tạo thành một dải nước đồng nhất.
Thế thì, tại điểm được chỉ trên bản đồ thế giới, một trong những dòng sông biển này đang cuộn chảy, Kuroshio của người Nhật, Hải lưu Đen: được các tia thẳng đứng của mặt trời nhiệt đới sưởi nóng, nó rời vịnh Bengal, băng qua eo biển Malacca, đi lên dọc bờ châu Á, và uốn vào bắc Thái Bình Dương đến tận quần đảo Aleutian, mang theo thân cây long não và những vật phẩm địa phương khác, màu chàm tinh khiết của nước ấm của nó tương phản sắc nét với sóng đại dương. Chính dòng hải lưu này chiếc Nautilus sắp vượt qua. Tôi nhìn nó trên bản đồ bằng mắt mình, tôi thấy nó mất hút trong mênh mông Thái Bình Dương, và tôi cảm thấy mình bị cuốn theo nó, thì Ned Land và Conseil xuất hiện ở cửa phòng khách.
Hai bạn đồng hành can đảm của tôi đứng sững trước cảnh những kỳ quan được trưng bày.
“Chúng ta đang ở đâu đây?” người Canada kêu lên. “Trong Bảo tàng Quebec sao?”
“Xin ngài lượng thứ,” Conseil đáp, “nhưng nơi này giống triển lãm cổ vật Sommerard hơn!”
“Các bạn tôi,” tôi đáp, ra hiệu cho họ vào, “các bạn không ở Canada cũng không ở Pháp, mà an toàn trên chiếc Nautilus, năm mươi mét dưới mực nước biển.”
“Nếu ngài nói vậy thì cứ như vậy,” Conseil đáp. “Nhưng nói thật, phòng khách này đủ làm kinh ngạc ngay cả một người Flemish như tôi.”
“Hãy chiều theo sự kinh ngạc của anh, bạn tôi, và nhìn cho kỹ, bởi ở đây có nhiều việc cho một nhà phân loại có tài như anh.”
Conseil không cần khích lệ. Cúi xuống các tủ kính, chàng trai can đảm đã lẩm bẩm những thuật ngữ chọn lọc trong từ vựng của nhà tự nhiên học: lớp Gastropoda, họ Buccinoidea, giống ốc tiền, loài Cypraea madagascariensis, v.v.
Trong khi đó Ned Land, ít tận tụy hơn với vỏ ốc học, hỏi tôi về cuộc gặp của tôi với Thuyền trưởng Nemo. Tôi đã phát hiện ông ta là ai chưa, đến từ đâu, đi về đâu, đưa chúng tôi xuống sâu thế nào? Tóm lại, cả nghìn câu hỏi mà tôi không có thời gian trả lời.
Tôi kể cho ông mọi điều tôi biết—hay đúng hơn, mọi điều tôi không biết—và hỏi ông về phần mình đã thấy hay nghe gì.
“Chẳng thấy hay nghe gì cả!” người Canada đáp. “Tôi thậm chí chưa nhìn thấy thủy thủ đoàn của con tàu này. Nhỡ đâu họ cũng chạy bằng điện thì sao?”
“Bằng điện?”
“Ôi lạy trời, tôi gần như bị cám dỗ tin vậy! Nhưng trở lại với ngài, Giáo sư Aronnax,” Ned Land nói, vẫn bám lấy các ý tưởng của mình. “Ngài không thể nói cho tôi biết trên tàu có bao nhiêu người sao? Mười, hai mươi, năm mươi, một trăm?”
“Tôi không thể trả lời ông, ông Land. Và hãy tin tôi về điểm này: hiện thời, hãy bỏ những ý nghĩ chiếm lấy chiếc Nautilus hay trốn khỏi nó. Con tàu này là một kiệt tác của công nghệ hiện đại, và tôi sẽ tiếc nếu đã bỏ lỡ nó! Nhiều người sẽ hoan nghênh những hoàn cảnh được trao cho chúng ta, chỉ để đi giữa các kỳ quan này. Vậy hãy giữ bình tĩnh, và hãy xem điều gì đang xảy ra quanh chúng ta.”
“Xem!” người phóng lao kêu lên. “Chẳng có gì để xem, chẳng có gì chúng ta sẽ thấy từ nhà tù tôn sắt này! Chúng ta chỉ đang chạy quanh với mắt bị bịt—”
Ned Land vừa thốt ra những lời cuối này thì chúng tôi đột ngột bị ném vào bóng tối, bóng tối hoàn toàn. Đèn trần tắt nhanh đến mức mắt tôi thật sự đau nhói, y như thể chúng tôi vừa trải qua cảm giác ngược lại, đi từ bóng tối sâu thẳm nhất sang ánh mặt trời sáng nhất.
Chúng tôi đứng bất động, không biết bất ngờ nào đang chờ mình, dễ chịu hay khó chịu. Nhưng một tiếng trượt vang lên. Có thể nhận ra một số tấm che đang dịch chuyển trên hai bên mạn chiếc Nautilus.
“Đây là khởi đầu của kết thúc!” Ned Land nói.
“...bộ Hydromedusa,” Conseil lẩm bẩm.
Đột nhiên, qua hai cửa mở thuôn dài, ánh ngày xuất hiện ở cả hai bên phòng khách. Các khối chất lỏng hiện ra trước mắt, được những luồng điện của con tàu chiếu sáng rực rỡ. Chúng tôi bị ngăn cách với biển bởi hai tấm kính. Ban đầu tôi rùng mình khi nghĩ rằng những vách ngăn mong manh này có thể vỡ; nhưng những đai đồng chắc chắn giữ chặt chúng, đem cho chúng sức chịu gần như vô hạn.
Biển hiện rõ trong bán kính một dặm quanh chiếc Nautilus. Thật là cảnh tượng! Ngòi bút nào có thể mô tả nó? Ai có thể khắc họa những hiệu ứng của ánh sáng này xuyên qua các tấm nước trong mờ, sự tinh tế trong những sắc độ chuyển dần của nó vào các tầng trên và dưới của đại dương?
Từ lâu người ta đã biết độ trong suốt của nước mặn. Người ta tin rằng độ trong của nó vượt quá nước suối. Các chất khoáng và hữu cơ lơ lửng trong đó thật ra lại làm tăng độ trong. Ở một số phần của biển Caribbean, người ta có thể thấy đáy cát với độ rõ đáng kinh ngạc ở sâu tới 145 mét, và sức xuyên của các tia mặt trời dường như chỉ tắt ở độ sâu 300 mét. Nhưng trong môi trường chất lỏng mà chiếc Nautilus đi qua này, ánh điện của chúng tôi được tạo ra ngay trong lòng sóng. Đó không còn là nước được chiếu sáng, mà là ánh sáng lỏng.
Nếu chúng ta chấp nhận các giả thuyết của nhà vi sinh vật học Ehrenberg—người tin rằng các vực sâu dưới nước này được thắp sáng bởi những sinh vật lân quang—thì tự nhiên chắc chắn đã dành một trong những cảnh tượng kỳ vĩ nhất của nàng cho các cư dân biển, và tôi có thể tự mình phán đoán qua trò chơi muôn nghìn lần của ánh sáng. Hai bên tôi có các cửa sổ mở ra những vực sâu chưa từng được khám phá ấy. Bóng tối trong phòng khách làm tăng độ sáng bên ngoài, và chúng tôi nhìn chằm chằm như thể tấm kính trong này là cửa sổ của một bể thủy sinh khổng lồ.
Chiếc Nautilus dường như đang đứng yên. Điều này là do thiếu mốc tham chiếu. Nhưng những vệt nước, bị chiếc cựa của con tàu tách ra, đôi khi luồn qua trước mắt chúng tôi với tốc độ phi thường.
Trong sự kinh ngạc, chúng tôi chống khuỷu tay trước những ô trưng bày này, và sự im lặng choáng váng của chúng tôi không bị phá vỡ cho đến khi Conseil nói:
“Ông muốn thấy gì đó, Ned bạn tôi; vậy thì bây giờ ông có cái để thấy rồi!”
“Thật lạ thường!” người Canada chen vào, gác sang một bên những cơn nổi nóng và các kế hoạch đào thoát trong khi khuất phục trước sức hấp dẫn không cưỡng nổi này. “Một người hẳn sẽ đi xa hơn nữa chỉ để nhìn một cảnh tượng như thế!”
“Ôi!” tôi kêu lên. “Tôi hiểu lối sống của thuyền trưởng chúng ta! Ông ấy đã tìm cho mình một thế giới riêng, nơi giữ những kỳ quan đáng kinh ngạc nhất chỉ cho ông ấy!”
“Nhưng cá đâu?” người Canada bạo dạn nhận xét. “Tôi chẳng thấy con cá nào!”
“Sao ông lại bận tâm, Ned bạn tôi?” Conseil đáp. “Vì ông chẳng biết gì về chúng.”
“Tôi ư? Một ngư phủ!” Ned Land kêu lên.
Và về đề tài này, một cuộc tranh luận nổi lên giữa hai người bạn, bởi cả hai đều hiểu biết về cá, nhưng từ những quan điểm hoàn toàn khác nhau.
Ai cũng biết cá tạo thành lớp thứ tư và cuối cùng trong ngành động vật có xương sống. Chúng đã được định nghĩa khá xác đáng là: “động vật có xương sống máu lạnh với hệ tuần hoàn kép, thở bằng mang, và được thiết kế để sống trong nước.” Chúng gồm hai dãy riêng biệt: dãy cá xương, nói cách khác, những loài có cột sống với đốt sống làm bằng xương; và cá sụn, nói cách khác, những loài có cột sống với đốt sống làm bằng sụn.
Có thể người Canada quen thuộc với sự phân biệt này, nhưng Conseil biết nhiều hơn ông rất xa; và vì anh cùng Ned lúc này đã trở thành bạn thân, anh nhất định phải khoe. Vì vậy anh nói với người phóng lao:
“Ned bạn tôi, ông là kẻ giết cá, một ngư phủ rất lành nghề. Ông đã bắt được rất nhiều động vật hấp dẫn này. Nhưng tôi dám cược ông không biết chúng được phân loại thế nào.”
“Dĩ nhiên tôi biết,” người phóng lao hết sức nghiêm túc đáp. “Chúng được phân thành cá chúng ta ăn và cá chúng ta không ăn!”
“Đúng giọng một kẻ tham ăn thật sự,” Conseil đáp. “Nhưng nói tôi nghe, ông có quen thuộc với sự khác nhau giữa cá xương và cá sụn không?”
“Có thể, Conseil.”
“Còn các phân bộ của hai lớp lớn này?”
“Tôi chẳng có chút khái niệm mờ nhạt nào,” người Canada đáp.
“Được rồi, nghe và học đi, Ned bạn tôi! Cá xương được chia thành sáu bộ. Primo, bộ cá gai vây, có hàm trên hoàn toàn hình thành và cử động tự do, và mang có dạng chiếc lược. Bộ này gồm mười lăm họ, nói cách khác, ba phần tư mọi loài cá đã biết. Ví dụ: cá rô thường.”
“Ăn khá được,” Ned Land đáp.
“Secundo,” Conseil tiếp tục, “bộ cá bụng, có vây bụng treo dưới bụng ở phía sau vây ngực nhưng không gắn với xương vai, một bộ được chia thành năm họ và tạo nên phần lớn cá nước ngọt. Ví dụ: cá chép, cá chó.”
“Úi!” người Canada chen vào với vẻ khinh miệt rõ rệt. “Giữ cá nước ngọt cho anh đi!”
“Tertio,” Conseil nói, “bộ cá dưới tay, có vây bụng gắn dưới vây ngực và treo trực tiếp từ xương vai. Bộ này gồm bốn họ. Ví dụ: cá dẹt như cá sole, cá bơn turbot, cá dab, cá plaice, cá brill, v.v.”
“Tuyệt hảo, thật sự tuyệt hảo!” người phóng lao kêu lên, chỉ quan tâm đến cá từ góc nhìn ăn được.
“Quarto,” Conseil tiếp tục, không hề nao núng, “bộ cá không chân, thân dài, thiếu vây bụng và được phủ bởi một lớp da dày, thường nhớt, một bộ chỉ gồm một họ. Ví dụ: lươn thường và lươn điện.”
“Tàm tạm, chỉ tàm tạm thôi!” Ned Land đáp.
“Quinto,” Conseil nói, “bộ cá mang chùm, có hàm hoàn toàn hình thành, cử động tự do, nhưng mang gồm những chùm nhỏ xếp thành từng cặp dọc theo cung mang. Bộ này chỉ gồm một họ. Ví dụ: cá ngựa và cá rồng biển.”
“Tệ, rất tệ!” người phóng lao đáp.
“Sexto và cuối cùng,” Conseil nói, “bộ cá hàm dính, có xương hàm trên gắn chặt vào cạnh của xương gian hàm tạo thành hàm, và cung vòm miệng khóa vào sọ bằng các đường khớp khiến hàm bất động, một bộ thiếu vây bụng thật sự và gồm hai họ. Ví dụ: cá nóc và cá mặt trăng.”
“Chúng là sự sỉ nhục đối với chảo rán!” người Canada kêu lên.
“Ông nắm được hết chưa, Ned bạn tôi?” Conseil uyên bác hỏi.
“Không một chút nào, Conseil bạn tôi,” người phóng lao đáp. “Nhưng cứ tiếp tục, vì anh làm tôi say mê.”
“Còn về cá sụn,” Conseil tiếp tục một cách không nao núng, “chúng chỉ gồm ba bộ.”
“Tin tốt,” Ned chen vào.
“Primo, bộ miệng tròn, có hàm hợp lại thành một vòng linh hoạt và các lỗ mang chỉ đơn giản là rất nhiều lỗ nhỏ, một bộ chỉ gồm một họ. Ví dụ: cá mút đá.”
“Phải tập mới ăn được,” Ned Land đáp.
“Secundo, bộ cá nhám, với mang giống bộ miệng tròn nhưng hàm dưới cử động tự do. Bộ này, quan trọng nhất trong lớp, gồm hai họ. Ví dụ: cá đuối và cá mập.”
“Sao!” Ned Land kêu lên. “Cá đuối và cá ăn thịt người cùng một bộ? Thế thì, Conseil bạn tôi, nhân danh cá đuối, tôi không khuyên anh đặt chúng trong cùng một bể cá đâu!”
“Tertio,” Conseil đáp, “bộ cá tầm, có lỗ mang là khe đơn thông thường được trang hoàng bằng nắp mang, một bộ gồm bốn giống. Ví dụ: cá tầm.”
“À, Conseil bạn tôi, theo ý tôi thì anh đã để món ngon nhất lại cuối cùng! Và hết rồi chứ?”
“Phải, Ned can đảm của tôi,” Conseil đáp. “Và lưu ý cho kỹ, ngay cả khi người ta đã nắm được tất cả điều này, người ta vẫn gần như chẳng biết gì, bởi các họ này lại chia thành giống, phân giống, loài, biến chủng—”
“Được rồi, Conseil bạn tôi,” người phóng lao nói, nghiêng mình về phía tấm kính, “giờ có vài biến chủng của anh đang đến kia!”
“Phải! Cá!” Conseil kêu lên. “Người ta tưởng như mình đang đứng trước một bể thủy sinh!”
“Không,” tôi đáp, “bởi bể thủy sinh chẳng qua chỉ là một chiếc lồng, còn những con cá này tự do như chim trong không trung!”
“Vậy, Conseil bạn tôi, nhận diện chúng đi! Bắt đầu gọi tên chúng đi!” Ned Land kêu lên.
“Tôi ư?” Conseil đáp. “Tôi không thể! Đó là địa hạt của chủ tôi!”
Và quả thật, dù chàng trai tốt bụng là một kẻ cuồng phân loại, anh không phải nhà tự nhiên học, và tôi ngờ rằng anh có thể phân biệt được cá ngừ nhỏ với cá ngừ lớn. Tóm lại, anh là đối cực chính xác của người Canada, người không biết gì về phân loại nhưng có thể lập tức gọi tên bất cứ con cá nào.
“Một con cá bò,” tôi nói.
“Nó là cá bò Trung Hoa,” Ned Land đáp.
“Giống Balistes, họ Scleroderma, bộ Plectognatha,” Conseil lẩm bẩm.
Chắc chắn, Ned và Conseil kết hợp lại sẽ thành một nhà tự nhiên học xuất sắc.
Người Canada không nhầm. Quanh chiếc Nautilus đang nô đùa một đàn cá bò có thân dẹt, da sần, được trang bị gai trên vây lưng, và với bốn hàng gai nhọn rung rinh ở hai bên đuôi. Không gì có thể kỳ diệu hơn lớp da phủ chúng: trắng bên dưới, xám bên trên, với những đốm vàng lấp lánh trong các xoáy nước tối của sóng. Quanh chúng, cá đuối đang uốn lượn như những tấm vải phất phơ trong gió, và giữa chúng, làm tôi hết sức vui mừng, tôi nhận ra một con cá đuối Trung Hoa, vàng nhạt ở mặt trên, hồng nhã nhặn ở bụng, và được trang bị ba gai phía sau mắt; một loài hiếm mà sự tồn tại của nó vẫn còn bị nghi ngờ vào thời Lacépède, bởi nhà phân loại cá tiên phong ấy chỉ từng thấy một con trong tập tranh Nhật Bản.
Trong suốt hai giờ, cả một đạo quân dưới nước hộ tống chiếc Nautilus. Giữa những cú nhảy vọt và đùa giỡn của chúng, trong khi chúng thi nhau khoe vẻ đẹp, ánh rực rỡ và tốc độ, tôi có thể phân biệt vài con cá bàng chài xanh, cá đối râu mép có những cặp vạch đen, cá bống trắng thuộc giống Eleotris với vây đuôi cong và các đốm tím trên lưng, cá thu Nhật Bản tuyệt đẹp thuộc giống Scomber với thân xanh và đầu bạc, cá vàng xanh da trời lấp lánh mà chỉ riêng cái tên đã mô tả trọn vẹn chúng, nhiều giống cá tráp hay cá đầu vàng (một số cá đầu vàng có dải với vây xanh và vàng khác nhau, một số có những vạch ngang như huy hiệu và nổi bật hơn nhờ một dải đen quanh vùng đuôi, một số có các vùng màu và được thắt eo duyên dáng bằng sáu đai lưng), cá kèn với mõm như ống sáo trông giống những con dẽ gà đi biển thật sự và đôi khi dài một mét, kỳ giông Nhật Bản, cá chình moray ngoằn ngoèo thuộc giống Echidna dài sáu foot, với đôi mắt nhỏ sắc và cái miệng khổng lồ tua tủa răng; v.v.
Sự kinh ngạc của chúng tôi luôn ở mức sôi sục tột độ. Những tiếng cảm thán của chúng tôi không dứt. Ned nhận diện cá, Conseil phân loại chúng, còn tôi thì ngây ngất trước sinh khí trong chuyển động và vẻ đẹp hình thể của chúng. Chưa bao giờ trước đó tôi có cơ hội thoáng thấy những con vật này còn sống và tự do trong yếu tố bản sinh của chúng.
Với một bộ sưu tập hoàn chỉnh như thế từ các vùng biển Nhật Bản và Trung Hoa, tôi sẽ không nhắc đến mọi giống loài đã đi qua trước đôi mắt choáng ngợp của chúng tôi. Đông hơn chim trên trời, những con cá này lao thẳng đến chúng tôi, hẳn bị thu hút bởi ánh sáng rực rỡ của đèn hiệu điện.
Đột nhiên ánh ngày xuất hiện trong phòng khách. Các tấm tôn sắt trượt đóng lại. Cảnh tượng ma thuật biến mất. Nhưng tôi còn mơ màng rất lâu, cho đến lúc mắt tôi tập trung vào các dụng cụ treo trên tường. La bàn vẫn cho thấy hướng đi của chúng tôi là đông-đông bắc, áp kế chỉ áp suất năm át-mốt-phe (tương ứng với độ sâu năm mươi mét), và máy đo tốc độ điện cho biết vận tốc của chúng tôi là mười lăm dặm mỗi giờ.
Tôi chờ Thuyền trưởng Nemo. Nhưng ông không xuất hiện. Đồng hồ chỉ năm giờ.
Ned Land và Conseil trở về cabin của họ. Còn tôi, tôi lui về phòng riêng. Ở đó tôi thấy bữa tối đã được chuẩn bị sẵn cho mình. Nó gồm súp rùa nấu từ loại đồi mồi tinh tế nhất, một con cá đối đỏ có thịt trắng, hơi tơi, gan của nó, khi được chế biến riêng, là một món ăn ngon lành, thêm thăn cá hoàng đế, hương vị khiến tôi thấy còn ngon hơn cá hồi.
Tôi trải qua buổi tối bằng đọc, viết và suy nghĩ. Rồi cơn buồn ngủ chế ngự tôi, tôi duỗi mình trên tấm nệm cỏ lươn, và rơi vào giấc ngủ sâu, trong khi chiếc Nautilus lướt qua Hải lưu Đen đang chảy xiết.
### CHƯƠNG 15
Một lời mời bằng văn bản
NGÀY HÔM SAU, 9 tháng 11, tôi chỉ thức dậy sau một giấc ngủ dài mười hai giờ. Conseil, một sinh vật của thói quen, đến hỏi “đêm của ngài thế nào,” và dâng các dịch vụ của mình. Anh đã để người bạn Canada ngủ như một người chưa bao giờ làm việc gì khác.
Tôi để chàng trai can đảm ấy luyên thuyên tùy thích, không đáp lại bao nhiêu. Tôi bận tâm về sự vắng mặt của Thuyền trưởng Nemo trong buổi chiều hôm trước của chúng tôi, và hy vọng hôm nay sẽ lại gặp ông.
Chẳng mấy chốc tôi đã mặc quần áo, được dệt từ những sợi mô vỏ sò. Thành phần của chúng hơn một lần gợi ra những lời nhận xét từ Conseil. Tôi cho anh biết chúng được làm từ những sợi mảnh, mượt như lụa mà loài trai quạt, một loại vỏ sò khá phong phú dọc các bãi biển Địa Trung Hải, dùng để bám mình vào đá. Thời xưa, người ta làm các loại vải mịn, tất và găng tay từ những sợi như vậy, bởi chúng vừa rất mềm vừa rất ấm. Vậy là thủy thủ đoàn của chiếc Nautilus có thể mặc áo quần với chi phí rất nhỏ, không cần đến bất cứ thứ gì từ những người trồng bông, cừu, hay tằm trên bờ.
Ngay khi mặc xong, tôi đi tới phòng khách chính. Nơi ấy vắng tanh.
Tôi đắm mình nghiên cứu những kho báu vỏ ốc tích tụ trong các tủ kính. Tôi cũng khảo sát các tập tiêu bản thực vật lớn chứa đầy những loài thảo mộc biển hiếm nhất, dù đã được ép và phơi khô, vẫn giữ được những màu sắc tuyệt vời. Trong số những thực vật nước quý giá ấy, tôi ghi nhận nhiều loài rong biển khác nhau: một số Cladostephus verticillatus, đuôi công, caulerpa lá sung, bụi mỹ nhân kết hạt, hồng tảo mảnh mai nhuộm sắc đỏ thắm, rong rây biển xếp thành hình quạt, chén nàng tiên cá trông giống mũ của những cây nấm lùn và trong nhiều năm từng được xếp vào nhóm động vật hình cây; tóm lại, một loạt tảo hoàn chỉnh.
Cả ngày trôi qua mà tôi không được vinh dự tiếp một chuyến thăm nào từ Thuyền trưởng Nemo. Các tấm che trong phòng khách không mở ra. Có lẽ người ta không muốn chúng tôi chán những vật đẹp đẽ này.
Chiếc Nautilus giữ hướng đông-đông bắc, vận tốc mười hai dặm mỗi giờ, và độ sâu giữa năm mươi và sáu mươi mét.
Ngày hôm sau, 10 tháng 11: cùng sự bỏ mặc ấy, cùng sự cô độc ấy. Tôi không thấy một linh hồn nào trong thủy thủ đoàn. Ned và Conseil ở với tôi phần lớn trong ngày. Họ kinh ngạc trước sự vắng mặt không thể giải thích của thuyền trưởng. Người đàn ông lập dị này có ốm không? Ông có muốn thay đổi kế hoạch liên quan đến chúng tôi không?
Nhưng rốt cuộc, như Conseil nhận xét, chúng tôi được hưởng tự do hoàn toàn, được cho ăn tinh tế và dồi dào. Chủ nhà của chúng tôi đã giữ đúng các điều khoản trong thỏa thuận của ông. Chúng tôi không thể phàn nàn, hơn nữa tính độc nhất vô nhị của tình thế chúng tôi lại dành sẵn cho chúng tôi những phần thưởng phong phú đến mức chúng tôi không có căn cứ để chỉ trích.
Ngày hôm ấy tôi bắt đầu ghi nhật ký về các cuộc phiêu lưu này, điều đã cho phép tôi kể lại chúng với độ chính xác tỉ mỉ nhất; và một chi tiết lạ: tôi viết nó trên giấy chế tạo từ cỏ lươn biển.
Sáng sớm ngày 11 tháng 11, không khí tươi tràn qua bên trong chiếc Nautilus, cho tôi biết rằng chúng tôi đã trở lại mặt đại dương để đổi mới nguồn oxy. Tôi đi tới cầu thang trung tâm và trèo lên sàn ngoài.
Lúc ấy sáu giờ. Tôi thấy trời u ám, biển xám nhưng lặng. Hầu như không có một gợn sóng lớn. Tôi hy vọng gặp Thuyền trưởng Nemo ở đó—liệu ông có đến không? Tôi chỉ thấy người lái bị giam trong phòng lái có cửa kính. Ngồi trên gờ do thân xuồng tạo thành, tôi hít hương mặn của biển với niềm thích thú lớn.
Từng chút một, sương mù tan đi dưới tác động của các tia mặt trời. Quả cầu rực rỡ vượt khỏi chân trời phía đông. Dưới cái nhìn của nó, biển bốc cháy như một vệt thuốc súng. Rải rác trên cao, các đám mây được nhuộm những sắc màu sáng rỡ, chuyển bóng kỳ diệu, và vô số “ngón tay phụ nữ” báo trước những cơn gió suốt ngày.\*
\*Ghi chú của tác giả: “Ngón tay phụ nữ” là những đám mây nhỏ, mỏng, trắng, với rìa xơ xác.
Nhưng gió thì có nghĩa gì đối với chiếc Nautilus, con tàu mà không cơn bão nào có thể làm khiếp sợ!
Vì thế tôi đang chiêm ngưỡng cảnh mặt trời mọc vui tươi ấy, đầy sức sống và hân hoan, thì nghe thấy có người trèo lên sàn ngoài.
Tôi đã chuẩn bị chào Thuyền trưởng Nemo, nhưng người xuất hiện là sĩ quan trưởng của ông—người tôi đã gặp trong lần đầu chúng tôi đến thăm thuyền trưởng. Ông ta tiến lên sàn ngoài, dường như không nhận thấy sự hiện diện của tôi. Đưa một ống nhòm mạnh lên mắt, ông quan sát từng điểm trên chân trời với sự cẩn thận tối đa. Rồi, sau khi xem xét xong, ông tiến lại gần cửa sập và phát âm một câu có nguyên văn chính xác như sau. Tôi nhớ nó vì, mỗi sáng, nó được lặp lại trong cùng hoàn cảnh. Câu ấy như sau:
“Nautron respoc lorni virch.”
Nó có nghĩa gì, tôi không thể nói.
Nói xong những lời ấy, sĩ quan trưởng lại đi xuống. Tôi nghĩ chiếc Nautilus sắp trở lại hành trình dưới nước. Vì vậy tôi xuống cửa sập và trở qua các lối đi về phòng riêng của mình.
Năm ngày trôi qua như vậy, tình thế của chúng tôi không thay đổi. Mỗi sáng tôi trèo lên sàn ngoài. Cùng một câu được cùng một cá nhân phát ra. Thuyền trưởng Nemo không xuất hiện.
Tôi đang theo chính sách cho rằng chúng tôi đã thấy ông lần cuối, thì ngày 16 tháng 11, khi trở vào phòng riêng cùng Ned và Conseil, tôi thấy trên bàn một mẩu giấy gửi cho mình.
Tôi sốt ruột mở nó ra. Nó được viết bằng nét chữ rõ và gọn nhưng hơi mang phong cách “Old English”, các ký tự gợi tôi nhớ đến thư pháp Đức.
Mẩu giấy viết như sau:
> Giáo sư Aronnax
> Trên tàu Nautilus
> Ngày 16 tháng 11 năm 1867
>
> Thuyền trưởng Nemo mời Giáo sư Aronnax tham gia một chuyến săn sẽ diễn ra sáng mai trong các khu rừng của ông ở đảo Crespo. Ông hy vọng không gì ngăn giáo sư tham dự, và vui lòng mong các bạn đồng hành của giáo sư cùng tham gia.
>
> THUYỀN TRƯỞNG NEMO,
> Chỉ huy tàu Nautilus.
“Một chuyến săn!” Ned kêu lên.
“Và trong các khu rừng của ông ấy trên đảo Crespo!” Conseil thêm vào.
“Nhưng vậy có nghĩa lão già ấy lên bờ sao?” Ned Land tiếp tục.
“Có vẻ đại ý là thế,” tôi nói, đọc lại lá thư.
“Chà, chúng ta phải nhận lời!” người Canada đáp. “Một khi đặt chân lên đất liền, chúng ta sẽ tính đường hành động. Hơn nữa, ăn vài lát thịt nai tươi cũng chẳng làm tôi đau đớn gì!”
Không cố dung hòa những mâu thuẫn giữa nỗi ghê sợ các lục địa hay đảo mà Thuyền trưởng Nemo tuyên bố và lời mời đi săn trong một khu rừng của ông, tôi chỉ đáp:
“Trước hết hãy tìm hiểu đảo Crespo này.”
Tôi tra bản đồ thế giới; và ở vĩ độ 32 độ 40′ bắc cùng kinh độ 167 độ 50′ tây, tôi tìm thấy một đảo nhỏ do Thuyền trưởng Crespo phát hiện năm 1801, mà các hải đồ Tây Ban Nha cũ gọi là Rocca de la Plata, nói cách khác, “Đá Bạc.” Vậy là chúng tôi cách điểm xuất phát khoảng 1.800 dặm, và bằng một thay đổi hướng nhẹ, chiếc Nautilus đang đưa chúng tôi trở lại phía đông nam.
Tôi chỉ cho các bạn đồng hành của mình tảng đá nhỏ lạc lõng giữa bắc Thái Bình Dương ấy.
“Nếu Thuyền trưởng Nemo đôi khi có lên bờ,” tôi nói với họ, “ít nhất ông ấy chỉ chọn những đảo hoang!”
Ned Land lắc đầu không đáp; rồi ông và Conseil rời tôi. Sau khi bữa tối được người tiếp viên câm lặng và vô cảm dọn cho tôi, tôi ngủ thiếp đi; nhưng không phải không có ít nhiều lo âu.
Khi thức dậy ngày hôm sau, 17 tháng 11, tôi cảm thấy chiếc Nautilus hoàn toàn bất động. Tôi vội mặc quần áo rồi bước vào phòng khách chính.
Thuyền trưởng Nemo ở đó chờ tôi. Ông đứng dậy, cúi chào, và hỏi liệu tôi có thuận tiện đi cùng không.
Vì ông không nhắc gì đến sự vắng mặt của mình trong tám ngày qua, tôi cũng tránh đề cập đến nó, và chỉ đáp rằng các bạn đồng hành của tôi và tôi đã sẵn sàng đi với ông.
“Có điều, thưa ông,” tôi nói thêm, “tôi xin mạn phép đặt với ông một câu hỏi.”
“Cứ đặt đi, Giáo sư Aronnax, và nếu có thể trả lời, tôi sẽ trả lời.”
“Vậy thì, thuyền trưởng, làm sao ông đã cắt đứt mọi ràng buộc với bờ mà lại sở hữu các khu rừng trên đảo Crespo?”
“Giáo sư,” thuyền trưởng đáp, “những khu rừng của tôi không tắm mình trong nhiệt và ánh sáng của mặt trời. Chúng không bị sư tử, hổ, báo hay các loài thú bốn chân khác lui tới. Chúng chỉ được một mình tôi biết. Chúng chỉ mọc cho tôi. Những khu rừng này không ở trên đất liền, chúng là những khu rừng thật sự dưới nước.”
“Rừng dưới nước!” tôi kêu lên.
“Phải, giáo sư.”
“Và ông đề nghị đưa tôi đến đó?”
“Chính xác.”
“Đi bộ?”
“Mà không làm ướt chân ông.”
“Trong lúc săn?”
“Trong lúc săn.”
“Súng trường trong tay?”
“Súng trường trong tay.”
Tôi nhìn chằm chằm vị chỉ huy chiếc Nautilus với vẻ chẳng hề xu nịnh người đàn ông ấy.
“Chắc chắn,” tôi tự nhủ, “ông ta mắc một thứ bệnh tâm thần nào đó. Ông ta đã lên một cơn kéo dài tám ngày và đến nay vẫn chưa hết. Thật đáng tiếc! Tôi thích ông ta lập dị hơn điên rồ!”
Những ý nghĩ này rõ ràng hiện trên mặt tôi; nhưng Thuyền trưởng Nemo chỉ bằng lòng mời tôi đi theo ông, và tôi đi theo như một người cam chịu điều tệ nhất.
Chúng tôi đến phòng ăn, nơi bữa điểm tâm đã được dọn sẵn.
“Giáo sư Aronnax,” thuyền trưởng nói với tôi, “tôi xin ông cùng ăn điểm tâm với tôi không cần nghi thức. Chúng ta có thể trò chuyện trong khi ăn. Bởi dù tôi đã hứa với ông một cuộc dạo trong các khu rừng của tôi, tôi không hề cam kết sẽ sắp đặt cho ông gặp một nhà hàng ở đó. Do vậy, hãy ăn điểm tâm như một người có lẽ chỉ ăn tối khi đã cực muộn.”
Tôi ăn xứng đáng với bữa này. Nó gồm nhiều loại cá khác nhau và vài lát hải sâm, loài động vật hình cây đáng khen ấy, tất cả được trang trí bằng những loài rong biển rất kích thích vị giác như Porphyra laciniata và Laurencia primafetida. Thức uống của chúng tôi gồm nước trong, theo gương thuyền trưởng, tôi thêm vào vài giọt rượu lên men được chiết xuất theo phương pháp Kamchatka từ loài rong biển có tên Rhodymenia palmata.
Ban đầu Thuyền trưởng Nemo ăn mà không thốt một lời. Rồi ông nói với tôi:
“Giáo sư, khi tôi đề nghị ông đi săn trong các khu rừng Crespo của tôi, ông đã nghĩ tôi tự mâu thuẫn. Khi tôi cho ông biết đó là chuyện các khu rừng dưới nước, ông đã nghĩ tôi phát điên. Giáo sư, ông không bao giờ được phán xét vội vàng về đồng loại của mình.”
“Nhưng, thuyền trưởng, xin tin tôi—”
“Xin vui lòng nghe tôi, và ông sẽ thấy liệu ông có căn cứ để buộc tội tôi điên rồ hay tự mâu thuẫn không.”
“Tôi xin chăm chú lắng nghe.”
“Giáo sư, ông cũng biết như tôi rằng một người có thể sống dưới nước chừng nào người ấy mang theo nguồn không khí thở được của riêng mình. Trong các công trình lao động dưới nước, người thợ mặc một bộ đồ không thấm nước, đầu bị giam trong một mũ kim loại, trong khi nhận không khí từ bên trên nhờ các bơm ép và bộ điều chỉnh lưu lượng.”
“Đó là thiết bị tiêu chuẩn cho một bộ đồ lặn,” tôi nói.
“Đúng, nhưng trong những điều kiện ấy con người không có tự do. Anh ta bị buộc vào một máy bơm gửi không khí cho anh qua một ống cao su Ấn Độ; đó là một sợi xích thật sự trói anh vào bờ, và nếu chúng ta cũng bị buộc theo cách ấy vào chiếc Nautilus, chúng ta cũng không thể đi xa.”
“Vậy ông thoát khỏi ràng buộc ấy bằng cách nào?” tôi hỏi.
“Chúng tôi dùng thiết bị Rouquayrol-Denayrouze, do hai người đồng hương của ông phát minh nhưng được tôi cải tiến cho các công dụng đặc biệt của mình, nhờ đó cho phép ông mạo hiểm trong những điều kiện sinh lý mới này mà không chịu bất cứ rối loạn cơ quan nào. Nó gồm một bình chứa làm bằng tôn sắt dày, trong đó tôi tích trữ không khí dưới áp suất năm mươi át-mốt-phe. Bình này được buộc vào lưng bằng dây đeo, như ba lô của lính. Phần trên của nó tạo thành một hộp nơi không khí được điều chỉnh bằng cơ cấu ống bễ và chỉ được giải phóng ở sức căng thích hợp. Trong thiết bị Rouquayrol đang được sử dụng phổ biến, hai ống cao su Ấn Độ rời khỏi hộp này và dẫn đến một loại lều nhỏ giam mũi và miệng người vận hành; một ống để không khí hít vào đi vào, ống kia để không khí thở ra đi ra, và lưỡi đóng ống này hoặc ống kia tùy nhu cầu của người thở. Nhưng trong trường hợp của tôi, vì tôi đối mặt với những áp suất đáng kể ở đáy biển, tôi cần nhốt đầu mình trong một quả cầu đồng, như những quả cầu trên các bộ đồ lặn tiêu chuẩn, và hai ống dùng cho việc hít vào và thở ra nay dẫn tới quả cầu ấy.”
“Điều đó hoàn hảo, Thuyền trưởng Nemo, nhưng lượng không khí ông mang theo hẳn sẽ nhanh chóng cạn kiệt; và một khi nó chỉ còn không quá 15% oxy, nó trở nên không thích hợp để thở.”
“Chắc chắn, nhưng như tôi đã nói với ông, Giáo sư Aronnax, các máy bơm của chiếc Nautilus cho phép tôi tích trữ không khí dưới áp suất đáng kể, và trong hoàn cảnh ấy, bình chứa trên thiết bị lặn của tôi có thể cung cấp không khí thở được trong chín hoặc mười giờ.”
“Tôi không còn phản đối gì nữa,” tôi đáp. “Tôi chỉ xin hỏi ông, thuyền trưởng: ông soi đường dưới đáy đại dương bằng cách nào?”
“Bằng thiết bị Ruhmkorff, Giáo sư Aronnax. Nếu cái thứ nhất được mang trên lưng, thì cái thứ hai được gắn vào thắt lưng. Nó gồm một pin Bunsen mà tôi kích hoạt không bằng kali dicromat mà bằng natri. Một cuộn cảm ứng gom điện sinh ra và dẫn nó tới một đèn lồng được thiết kế đặc biệt. Trong đèn lồng này có một ống xoắn thủy tinh chỉ chứa một phần dư khí carbon dioxide. Khi thiết bị hoạt động, khí này trở nên phát sáng và tỏa ra một thứ ánh sáng trắng liên tục. Được cung cấp như vậy, tôi thở và tôi thấy.”
“Thuyền trưởng Nemo, trước mọi phản bác của tôi, ông đều đưa ra những câu trả lời áp đảo đến mức tôi sợ không dám nuôi một nghi ngờ nào. Tuy nhiên, dù tôi không có lựa chọn nào ngoài việc chấp nhận cả thiết bị Rouquayrol lẫn Ruhmkorff, tôi vẫn muốn giữ vài dè dặt về khẩu súng trường mà ông sẽ trang bị cho tôi.”
“Nhưng đó không phải súng trường dùng thuốc súng,” thuyền trưởng đáp.
“Vậy là súng hơi?”
“Chắc chắn. Làm sao tôi chế tạo thuốc súng trên tàu của mình khi tôi không có diêm tiêu, lưu huỳnh hay than củi?”
“Dẫu vậy,” tôi đáp, “để bắn dưới nước trong một môi trường đặc hơn không khí 855 lần, ông sẽ phải thắng một lực cản đáng kể.”
“Không nhất thiết như vậy. Có những khẩu súng kiểu Fulton do các người Anh Philippe-Coles và Burley, người Pháp Furcy, và người Ý Landi hoàn thiện; chúng được trang bị một hệ thống bịt kín đặc biệt và có thể bắn trong điều kiện dưới nước. Nhưng tôi nhắc lại: vì không có thuốc súng, tôi đã thay thế nó bằng không khí áp suất cao, thứ các máy bơm của chiếc Nautilus cung cấp cho tôi dồi dào.”
“Nhưng không khí này hẳn phải nhanh chóng cạn.”
“Chà, trong lúc khó khăn, bình Rouquayrol của tôi chẳng thể cung cấp thêm cho tôi sao? Tôi chỉ cần lấy nó từ một vòi ad hoc.\* Hơn nữa, Giáo sư Aronnax, ông sẽ tự thấy rằng trong các chuyến săn dưới nước này, chúng tôi không tiêu hao nhiều không khí hay đạn.”
\*Tiếng Latin: một vòi “dành riêng cho mục đích ấy.” BTV.
“Nhưng tôi thấy rằng trong thứ nửa tối này, giữa chất lỏng quá đặc so với khí quyển này, một phát súng không thể đi xa và khó lòng chứng tỏ chí mạng!”
“Trái lại, thưa ông, với khẩu súng này, phát nào cũng chí mạng; và ngay khi con vật bị trúng, dù nhẹ đến đâu, nó ngã xuống như bị sét đánh.”
“Vì sao?”
“Vì khẩu súng này không bắn đạn thường mà bắn những viên nang thủy tinh nhỏ do nhà hóa học Áo Leniebroek phát minh, và tôi có một nguồn cung đáng kể. Những viên nang thủy tinh này được phủ một dải thép và gắn đế chì cho nặng; chúng là những bình Leyden nhỏ thật sự, được nạp điện áp cao. Chúng nổ ra khi va chạm nhẹ nhất, và con vật, dù mạnh đến đâu, cũng ngã chết. Tôi có thể nói thêm rằng các viên nang này không lớn hơn đạn ghém số 4, và buồng đạn của bất cứ súng trường thường nào cũng có thể chứa mười viên.”
“Tôi xin thôi tranh luận,” tôi đáp, đứng dậy khỏi bàn. “Và tất cả những gì còn lại là tôi vác súng lên vai. Vậy nơi nào ông đi, tôi sẽ đi.”
Thuyền trưởng Nemo dẫn tôi về phía đuôi chiếc Nautilus, và khi đi ngang cabin của Ned và Conseil, tôi gọi hai bạn đồng hành của mình; họ lập tức theo chúng tôi.
Rồi chúng tôi đến một buồng nằm gần phòng máy; trong buồng này chúng tôi sẽ mặc đồ cho cuộc dạo chơi.
### CHƯƠNG 16
Dạo bước trên các đồng bằng
NÓI CHO ĐÚNG, buồng này là kho vũ khí và phòng trang phục của chiếc Nautilus. Trên các vách của nó, một tá bộ đồ lặn đang treo, chờ bất cứ ai muốn đi dạo.
Sau khi nhìn thấy chúng, Ned Land tỏ ra ghê sợ rõ rệt trước ý định mặc một bộ vào.
“Nhưng Ned can đảm của tôi,” tôi nói với ông, “các khu rừng của đảo Crespo chỉ đơn giản là những khu rừng dưới nước!”
“Ôi tuyệt!” người phóng lao thất vọng chen vào, nhìn những giấc mơ về thịt tươi của mình tan biến. “Còn ngài, Giáo sư Aronnax, ngài sẽ tự nhét mình vào những bộ đồ ấy sao?”
“Phải thế thôi, ông Ned.”
“Ngài cứ làm theo ý mình,” người phóng lao đáp, nhún vai. “Nhưng riêng tôi, tôi sẽ không bao giờ chui vào những thứ ấy trừ phi người ta ép tôi!”
“Không ai sẽ ép ông, ông Land,” Thuyền trưởng Nemo nói.
“Và Conseil sẽ liều sao?” Ned hỏi.
“Nơi nào ngài đi, tôi đi,” Conseil đáp.
Theo lời gọi của thuyền trưởng, hai thủy thủ đến giúp chúng tôi mặc những bộ đồ nặng, không thấm nước này, làm bằng cao su Ấn Độ không đường nối và được thiết kế riêng để chịu những áp suất đáng kể. Có thể nói chúng giống những bộ giáp vừa mềm dẻo vừa bền chắc. Các bộ đồ này gồm áo và quần. Quần kết thúc bằng đôi giày cồng kềnh gắn đế chì nặng. Vải áo được gia cố bằng lưới đồng bảo vệ ngực, che chở nó khỏi áp lực của nước, và cho phép phổi hoạt động tự do; tay áo kết thúc bằng đôi găng mềm dẻo không cản trở chuyển động của bàn tay.
Dễ thấy những bộ đồ lặn hoàn thiện này khác xa các trang phục méo mó như áo giáp ngực bằng bấc, áo chui đầu bằng da, áo đi biển, mũ thùng, v.v., từng được phát minh và ca ngợi trong thế kỷ 18.
Conseil và tôi chẳng mấy chốc đã mặc xong các bộ đồ lặn này, Thuyền trưởng Nemo và một trong các bạn đồng hành của ông cũng thế—một kiểu người Hercule hẳn phải mạnh phi thường. Chỉ còn việc nhốt đầu người ta trong quả cầu kim loại. Nhưng trước khi tiến hành thao tác này, tôi xin thuyền trưởng cho phép xem xét các khẩu súng trường dành cho chúng tôi.
Một người của chiếc Nautilus đưa cho tôi một khẩu súng trường thuôn gọn, báng làm bằng thép tấm nồi hơi, rỗng bên trong và có kích thước khá lớn. Nó làm bình chứa cho không khí nén, mà một van do cò điều khiển có thể phóng vào buồng kim loại. Trong một rãnh nơi phần báng nặng nhất, một kẹp đạn giữ khoảng hai mươi viên đạn điện, nhờ một lò xo, tự động vào vị trí trong nòng súng. Ngay khi một phát đã bắn, phát khác sẵn sàng nổ.
“Thuyền trưởng Nemo,” tôi nói, “đây là một vũ khí lý tưởng, dễ dùng. Tôi chỉ xin được thử nó. Nhưng chúng ta sẽ tới đáy biển bằng cách nào?”
“Ngay lúc này, giáo sư, chiếc Nautilus mắc cạn trong mười mét nước, và chúng ta chỉ việc khởi hành.”
“Nhưng chúng ta ra ngoài bằng cách nào?”
“Ông sẽ thấy.”
Thuyền trưởng Nemo đưa sọ mình vào mũ cầu. Conseil và tôi cũng làm như vậy, nhưng không phải không nghe người Canada ném cho chúng tôi một câu châm biếm “chúc săn vui vẻ.” Phía trên, bộ đồ kết thúc bằng một cổ áo bằng đồng có ren, trên đó mũ kim loại được vặn vào. Ba lỗ, được bảo vệ bằng kính dày, cho phép chúng tôi nhìn về mọi hướng chỉ bằng cách xoay đầu bên trong quả cầu. Đặt trên lưng chúng tôi, thiết bị Rouquayrol bắt đầu hoạt động ngay khi vào vị trí, và về phần tôi, tôi có thể thở dễ dàng.
Đèn Ruhmkorff treo ở thắt lưng, súng trường trong tay, tôi đã sẵn sàng lên đường. Nhưng nói thật, khi bị giam trong bộ quần áo nặng này và bị đóng đinh vào boong bởi đế chì, tôi không thể bước nổi một bước.
Nhưng hoàn cảnh này đã được dự liệu, bởi tôi cảm thấy mình bị đẩy vào một căn phòng nhỏ kề bên phòng trang phục. Các bạn đồng hành của tôi cũng bị kéo theo cùng cách. Tôi nghe một cánh cửa có gioăng kín nước đóng lại sau lưng chúng tôi, và chúng tôi bị bóng tối sâu thẳm bao quanh.
Sau vài phút, một tiếng rít sắc lọt đến tai tôi. Tôi cảm thấy rõ một cảm giác lạnh dâng từ chân lên ngực. Rõ ràng một van bên trong con tàu đang cho nước từ bên ngoài vào, nước tràn qua chúng tôi và chẳng mấy chốc lấp đầy căn phòng. Được thiết kế trên mạn chiếc Nautilus, một cánh cửa thứ hai khi ấy mở ra. Chúng tôi được chiếu sáng bởi một thứ ánh sáng dịu. Một khoảnh khắc sau, chân chúng tôi giẫm lên đáy biển.
Và giờ đây, làm sao tôi có thể truyền đạt những ấn tượng còn lại trong tôi từ cuộc dạo dưới nước này. Ngôn từ bất lực trước việc mô tả những kỳ quan như thế! Khi ngay cả cọ vẽ của họa sĩ cũng không thể khắc họa các hiệu ứng riêng của yếu tố chất lỏng, thì bút của nhà văn làm sao hy vọng tái hiện chúng?
Thuyền trưởng Nemo đi phía trước, và bạn đồng hành của ông theo sau chúng tôi vài bước. Conseil và tôi ở cạnh nhau, như thể mơ mộng rằng qua lớp mai kim loại của mình, một cuộc trò chuyện lịch sự nhỏ vẫn còn có thể diễn ra! Tôi đã không còn cảm thấy sự cồng kềnh của áo quần, giày dép và bình khí, cũng chẳng cảm thấy sức nặng của quả cầu nặng nơi đầu tôi đang lắc như hạt hạnh nhân trong vỏ. Một khi chìm trong nước, mọi vật ấy mất đi một phần trọng lượng bằng trọng lượng của chất lỏng mà chúng chiếm chỗ, và nhờ định luật vật lý do Archimedes khám phá, tôi xoay xở rất tốt. Tôi không còn là một khối trơ, và nói một cách tương đối, tôi có tự do chuyển động lớn.
Dù ở sâu ba mươi foot dưới mặt đại dương, mặt trời vẫn làm tôi kinh ngạc bằng sức mạnh của nó khi chiếu sáng đáy biển. Các tia mặt trời dễ dàng xuyên qua khối nước này và xua tan các sắc tối của nó. Tôi có thể dễ dàng phân biệt các vật ở cách 100 mét. Xa hơn, đáy biển được nhuộm những sắc thái ultramarine tinh tế; rồi, ở phía xa, nó chuyển xanh và nhạt dần giữa một bóng tối mờ. Thật vậy, thứ nước bao quanh tôi chỉ là một kiểu không khí, đặc hơn khí quyển trên đất liền nhưng gần như trong suốt. Phía trên tôi có thể thấy mặt đại dương phẳng lặng.
Chúng tôi đang đi trên cát mịn và nhẵn, không nhăn như cát bãi biển, thứ giữ lại dấu vết do sóng để lại. Tấm thảm chói lọi này là một tấm gương thật sự, hắt lại các tia mặt trời với cường độ đáng kinh ngạc. Kết quả: một quang cảnh phản chiếu mênh mông xuyên vào từng phân tử chất lỏng. Liệu có ai tin tôi nếu tôi khẳng định rằng ở độ sâu ba mươi foot này, tôi có thể nhìn như giữa ban ngày?
Trong một phần tư giờ, tôi giẫm lên thứ cát rực cháy này, rải đầy những mảnh vụn vỏ sò li ti. Thân chiếc Nautilus, lờ mờ như một rạn đá dài, dần dần biến mất, nhưng khi màn đêm buông giữa lòng nước, đèn hiệu của con tàu chắc chắn sẽ giúp chúng tôi trở về tàu dễ dàng, bởi các tia của nó chiếu đi với sự rõ ràng hoàn hảo. Hiệu ứng này khó hiểu đối với bất cứ ai chưa từng thấy các chùm sáng được xác định sắc nét như vậy trên bờ. Ở đó, bụi bão hòa không khí khiến các tia sáng ấy mang dáng vẻ của một màn sương sáng; nhưng trên mặt nước cũng như dưới nước, các cột ánh sáng điện được truyền đi với độ trong không gì sánh được.
Trong lúc ấy chúng tôi vẫn đi mãi, và những đồng bằng cát mênh mông này dường như không có tận cùng. Hai tay tôi rẽ những tấm màn chất lỏng khép lại sau lưng, và dấu chân tôi nhanh chóng mờ đi dưới áp lực của nước.
Chẳng mấy chốc, chỉ hơi nhòe đi vì khoảng cách, các hình thể của vài vật thể hiện ra trước mắt tôi. Tôi nhận ra các sườn thấp của một số tảng đá tráng lệ được trải thảm bằng những mẫu động vật hình cây tinh tế nhất, và ngay lập tức, tôi bị một hiệu ứng độc đáo của môi trường này gây ấn tượng.
Khi ấy là mười giờ sáng. Các tia mặt trời chạm vào mặt sóng với góc khá xiên, phân tách nhờ khúc xạ như thể đi qua một lăng kính; và khi ánh sáng này tiếp xúc với hoa, đá, chồi, vỏ sò và polyp, các rìa của những vật ấy được tô bóng bằng cả bảy sắc của quang phổ mặt trời. Sự hỗn loạn của những sắc cầu vồng này là một kỳ quan, một bữa tiệc cho mắt: một kính vạn hoa đích thực gồm đỏ, lục, vàng, cam, tím, chàm và xanh; tóm lại, toàn bộ bảng màu của một họa sĩ mê sắc màu! Giá như tôi có thể chia sẻ với Conseil những cảm giác mãnh liệt đang dâng trong óc mình, tranh với anh trong những tiếng cảm thán kinh ngạc! Giá như tôi biết, như Thuyền trưởng Nemo và bạn đồng hành của ông, cách trao đổi ý nghĩ bằng những tín hiệu đã định trước! Vì thiếu cách nào khá hơn, tôi tự nói với mình: tôi diễn thuyết trong chiếc hộp đồng đội trên đầu mình, tiêu tốn nhiều không khí cho những lời rỗng hơn có lẽ là điều khôn ngoan.
Conseil, giống tôi, đã dừng lại trước cảnh tượng huy hoàng này. Rõ ràng, trước sự hiện diện của những mẫu động vật hình cây và thân mềm ấy, chàng trai tốt bụng đang phân loại đến quên mình. Polyp và động vật da gai đầy rẫy trên đáy biển: nhiều loại san hô isis, san hô cornularia sống đơn độc, những bụi Oculina trinh trắng trước kia được biết dưới tên “san hô trắng”, san hô nấm gai hình cây nấm, hải quỳ bám bằng đĩa cơ của chúng, tạo thành một luống hoa đúng nghĩa được trang hoàng bởi sứa thuộc giống Porpita đeo những vòng xúc tu xanh da trời, và sao biển điểm lốm đốm trên cát, gồm sao lông vân mạch thuộc giống Asterophyton giống như ren mịn do bàn tay các nữ thủy thần thêu, các dải rủ của chúng đung đưa theo những dao động yếu do bước đi của chúng tôi gây ra. Tôi thật sự buồn bực khi giẫm nát dưới chân những mẫu thân mềm lấp lánh rải rác hàng nghìn trên đáy biển: sò lược đồng tâm, vỏ sò búa, coquina (những vỏ sò thật sự nhảy nhót), ốc đụn, vỏ mũ sắt đỏ, ốc cánh thiên thần, thỏ biển, và biết bao mẫu vật khác từ đại dương không bao giờ cạn này. Nhưng chúng tôi phải tiếp tục bước, và chúng tôi tiến lên trong khi phía trên đầu có những đàn sứa Bồ Đào Nha lướt qua, để những xúc tu xanh thẫm trôi theo vệt sau, những medusa có tán trắng sữa hay hồng thanh nhã được viền bằng tua xanh da trời và che chúng tôi khỏi tia nắng mặt trời, thêm những con sứa thuộc loài Pelagia panopyra mà trong bóng tối hẳn đã rải dọc đường chúng tôi những ánh lân quang chập chờn!
Tất cả những kỳ quan ấy tôi thoáng thấy trong khoảng một phần tư dặm, hầu như không dừng lại, đi theo Thuyền trưởng Nemo, những cử chỉ của ông cứ liên tục gọi tôi tiến lên. Chẳng mấy chốc bản chất của đáy biển thay đổi. Các đồng bằng cát được tiếp nối bởi một lớp bùn nhớt mà người Mỹ gọi là “ooze”, cấu tạo hoàn toàn từ vỏ sò giàu đá vôi hoặc silica. Rồi chúng tôi băng qua một đồng cỏ tảo, những thực vật biển khơi mà nước chưa xé rời, thảm thực vật của chúng mọc hoang dã sum suê. Mềm dưới chân, những bãi cỏ có kết cấu dày này hẳn có thể sánh với những tấm thảm xa hoa nhất do bàn tay con người dệt nên. Nhưng trong khi màu xanh ấy bò lan dưới bước chân chúng tôi, nó cũng không bỏ quên chúng tôi phía trên đầu. Mặt nước bị đan chéo bởi một giàn nổi các thực vật biển thuộc họ tảo phong phú quá mức ấy, gồm hơn 2.000 loài đã biết. Tôi thấy những dải fucus dài trôi phía trên mình, có loài hình cầu, có loài hình ống: Laurencia, Cladostephus với tán lá mảnh nhất, Rhodymenia palmata giống những hình quạt của xương rồng. Tôi nhận thấy thực vật màu xanh giữ gần mặt biển hơn, trong khi màu đỏ chiếm độ sâu trung bình, còn màu đen và nâu đảm trách việc thiết kế các vườn và luống hoa ở các tầng thấp hơn của đại dương.
Những loài tảo này là một kỳ công thật sự của tạo hóa, một trong những kỳ quan của hệ thực vật thế giới. Họ này sinh ra cả những thực vật lớn nhất và nhỏ nhất trên đời. Bởi cũng như người ta đã đếm được 40.000 chồi gần như vô hình trong một khoảng năm milimét vuông, thì người ta cũng đã thu được những cây fucus dài hơn 500 mét!
Chúng tôi đã rời chiếc Nautilus khoảng một giờ rưỡi. Gần như đã giữa trưa. Tôi nhận ra điều ấy qua sự vuông góc của các tia mặt trời, không còn bị khúc xạ nữa. Phép màu của những màu sắc mặt trời này dần dần biến mất, các sắc lục ngọc và lam ngọc bích hoàn toàn tan khỏi xung quanh chúng tôi. Chúng tôi bước đều, tiếng chân vang trên đáy biển với cường độ đáng kinh ngạc. Những âm thanh nhỏ nhất được truyền đi với một tốc độ mà tai trên bờ không quen. Thật vậy, nước là chất dẫn âm tốt hơn không khí, và dưới sóng, tiếng động truyền nhanh gấp bốn lần.

Đúng lúc ấy, đáy biển bắt đầu dốc mạnh xuống. Ánh sáng mang một sắc màu đồng nhất. Chúng tôi đạt tới độ sâu 100 mét, lúc ấy phải chịu áp suất mười át-mốt-phe. Nhưng quần áo lặn của tôi được chế tạo theo những đường nét khiến tôi không bao giờ đau đớn vì áp suất này. Tôi chỉ cảm thấy một sự bó chặt nhất định ở các khớp ngón tay, và ngay cả sự khó chịu ấy cũng nhanh chóng biến mất. Còn sự kiệt sức hẳn phải đi kèm một cuộc dạo hai giờ trong trang bị xa lạ như thế—thì hoàn toàn không có. Được nước trợ giúp, các chuyển động của tôi được thực hiện với sự dễ dàng đáng kinh ngạc.
Đến độ sâu 300 foot này, tôi vẫn nhận ra các tia mặt trời, nhưng chỉ vừa đủ. Sự rực rỡ mãnh liệt của chúng đã được thay bằng một hoàng hôn đỏ nhạt, điểm giữa giữa ngày và đêm. Nhưng chúng tôi vẫn thấy đủ rõ để tìm đường, và vẫn chưa cần kích hoạt thiết bị Ruhmkorff.
Đúng lúc ấy Thuyền trưởng Nemo dừng lại. Ông chờ đến khi tôi nhập cùng, rồi chỉ tay về phía vài khối tối in nét trong bóng râm cách đó không xa.
“Đó là khu rừng của đảo Crespo,” tôi nghĩ; và tôi đã không nhầm.
### CHƯƠNG 17
Một khu rừng dưới nước
CUỐI CÙNG CHÚNG TÔI đã đến rìa khu rừng này, chắc chắn là một trong những nơi đẹp nhất trong các lãnh địa mênh mông của Thuyền trưởng Nemo. Ông xem nó là của riêng mình và đã tuyên bố quyền sở hữu đối với nó giống như, trong những ngày đầu của thế giới, những con người đầu tiên đã có đối với các khu rừng trên đất liền. Vả lại, còn ai có thể tranh chấp quyền sở hữu tài sản dưới nước này của ông? Còn nhà tiên phong nào khác, táo bạo hơn, sẽ đến đây, rìu trong tay, để phát quang lớp bụi rậm tối tăm của nó?
Khu rừng này được tạo thành từ những thực vật lớn như cây, và khi chúng tôi bước vào dưới các vòm khổng lồ của chúng, mắt tôi lập tức bị cách sắp xếp độc đáo của các cành nhánh đánh động—một cách sắp xếp mà trước đây tôi chưa từng gặp.
Không một loài cỏ nào phủ đáy biển, không một cành nào tua tủa từ bụi cây, bò, nghiêng, hay vươn trên một mặt phẳng ngang. Tất cả đều dựng thẳng lên mặt đại dương. Mọi sợi hay dải, dù mảnh đến đâu, đều đứng thẳng cứng như thước. Fucus và dây leo mọc thành những đường vuông góc cứng nhắc, bị chi phối bởi mật độ của yếu tố đã sinh ra chúng. Sau khi tôi rẽ chúng bằng tay, những cây tưởng như bất động ấy sẽ bật thẳng trở lại vị trí ban đầu. Đó là chế độ của tính thẳng đứng.
Tôi nhanh chóng quen với cách sắp xếp kỳ dị này, cũng như với bóng tối tương đối bao quanh chúng tôi. Đáy biển trong khu rừng này rải đầy những mảnh đá sắc nhọn khó tránh. Ở đây, phạm vi của hệ thực vật dưới nước đối với tôi có vẻ khá toàn diện, cũng như phong phú hơn hẳn so với ở các vùng bắc cực hay nhiệt đới, nơi các mẫu vật như vậy ít phổ biến hơn. Nhưng trong vài phút, tôi cứ vô tình lẫn lộn hai giới, nhầm động vật hình cây với thực vật nước, động vật với thực vật. Và ai chưa từng mắc sai lầm ấy? Hệ thực vật và hệ động vật liên kết chặt chẽ đến thế trong thế giới dưới nước!
Tôi quan sát thấy tất cả những mẫu vật thuộc giới thực vật này chỉ bám vào đáy biển bằng những phương pháp tạm bợ nhất. Chúng không có rễ và không quan tâm vật rắn nào giữ mình, cát, vỏ sò, vỏ trấu hay sỏi; chúng không đòi vật chủ nuôi dưỡng, chỉ cần một điểm bám. Những loài cây này hoàn toàn tự sinh sôi, và nguyên lý tồn tại của chúng nằm trong nước nâng đỡ và nuôi dưỡng chúng. Thay cho lá, phần lớn chúng mọc ra những phiến có hình dạng khó lường, chỉ bị giới hạn trong một dải màu hẹp gồm hồng, đỏ thẫm, xanh lục, ô liu, nâu vàng và nâu. Ở đó tôi lại thấy, nhưng chưa bị ép và phơi khô như các mẫu vật của chiếc Nautilus, vài cây đuôi công xòe rộng như quạt để khuấy lên một làn gió mát, hồng tảo đỏ thắm, tảo biển vươn những chồi non ăn được, những sợi tảo bẹ xoắn thuộc giống Nereocystis nở tới chiều cao mười lăm mét, những bó chén nàng tiên cá có thân rộng hơn ở đỉnh, và một số thực vật biển khơi khác, tất cả đều không hoa. “Đúng là một dị thường lạ lùng trong yếu tố kỳ dị này!” như một nhà tự nhiên học dí dỏm từng nói. “Giới động vật thì nở hoa, còn giới thực vật thì không!”
Những kiểu bụi cây khác nhau này lớn như cây ở vùng ôn đới; trong bóng râm ẩm giữa chúng, tụ thành những bụi hoa chuyển động thật sự, những hàng rào động vật hình cây, nơi mọc lên san hô đá sọc những rãnh xoắn, hải quỳ vàng nhạt thuộc giống Caryophylia với xúc tu trong mờ, cùng hải quỳ có chùm như cỏ thuộc giống Zoantharia; và để hoàn tất ảo giác, cá nhỏ lượn từ cành này sang cành khác như một đàn chim ruồi, trong khi dưới chân nổi lên, như một bầy chim dẽ, những con cá vàng thuộc giống Lepisocanthus với hàm tua tủa và vảy sắc, cá chuồn gurnard, và cá trái thông.
Gần một giờ, Thuyền trưởng Nemo ra hiệu dừng lại. Riêng tôi thì vui lòng vâng theo, và chúng tôi duỗi mình dưới một giàn tảo bẹ có cánh, những tua dài mảnh của chúng dựng lên như mũi tên.
Khoảng nghỉ ngắn này thật dễ chịu. Nó chỉ thiếu sức quyến rũ của trò chuyện. Nhưng nói là bất khả, đáp lại cũng bất khả. Tôi chỉ đơn giản húc nhẹ chiếc đầu đồng lớn của mình vào chiếc đầu của Conseil. Tôi thấy một tia vui sướng trong mắt chàng trai can đảm, và để truyền đạt niềm vui của mình, anh lắc lư bên trong lớp mai theo cách ngớ ngẩn nhất trên đời.
Sau bốn giờ dạo bước, tôi khá ngạc nhiên vì không cảm thấy đói dữ dội. Điều gì giữ dạ dày tôi trong trạng thái tốt như thế, tôi không thể nói. Nhưng bù lại, tôi trải nghiệm cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại vốn đến với mọi thợ lặn. Theo đó, mắt tôi chẳng mấy chốc khép lại sau các ô kính dày, và tôi rơi vào một cơn ngủ gà không thể kiểm soát, điều cho đến lúc ấy tôi chỉ chống lại được nhờ các chuyển động của cuộc đi bộ. Thuyền trưởng Nemo và bạn đồng hành lực lưỡng của ông đã duỗi mình trong thứ pha lê trong suốt này, nêu cho chúng tôi một tấm gương nghỉ trưa tuyệt hảo.
Tôi không thể ước lượng mình chìm trong trạng thái lờ đờ ấy bao lâu; nhưng khi tỉnh dậy, dường như mặt trời đang hạ về phía chân trời. Thuyền trưởng Nemo đã đứng dậy, và tôi vừa bắt đầu duỗi chân tay thì một bóng hiện bất ngờ khiến tôi bật dậy.
Cách đó vài bước, một con nhện biển quái dị cao một mét đang nhìn tôi bằng đôi mắt tròn như hạt cườm, sẵn sàng nhảy bổ vào tôi. Dù bộ đồ lặn của tôi đủ nặng để bảo vệ tôi khỏi những cú cắn của con vật này, tôi vẫn không kìm được một cơn rùng mình kinh hãi. Đúng lúc ấy Conseil thức dậy, cùng thủy thủ của chiếc Nautilus. Thuyền trưởng Nemo báo cho bạn đồng hành của mình về loài giáp xác gớm ghiếc này, và một cú vung báng súng nhanh chóng hạ gục nó, còn tôi nhìn những chiếc chân ghê tởm của con quái vật co giật trong những cơn giãy dụa khủng khiếp.
Cuộc chạm trán này nhắc tôi rằng những loài vật khác, đáng sợ hơn, hẳn đang ẩn nấp trong các vùng tối này, và bộ đồ lặn của tôi có thể không đủ bảo vệ trước những cuộc tấn công của chúng. Những ý nghĩ ấy trước đó chưa từng thoáng qua tâm trí tôi, và tôi quyết định giữ cảnh giác. Trong khi đó tôi đã cho rằng quãng nghỉ này sẽ là điểm quay đầu của cuộc dạo, nhưng tôi đã nhầm; và thay vì quay về chiếc Nautilus, Thuyền trưởng Nemo tiếp tục chuyến thám hiểm táo bạo của mình.
Đáy biển tiếp tục hạ thấp, và sườn dốc rõ rệt hơn của nó đưa chúng tôi xuống các độ sâu lớn hơn. Hẳn gần ba giờ khi chúng tôi tới một thung lũng hẹp bị khoét giữa những vách cao thẳng đứng và nằm ở độ sâu 150 mét. Nhờ sự hoàn hảo của thiết bị, chúng tôi như vậy đã xuống thấp hơn chín mươi mét so với giới hạn mà cho đến lúc ấy tự nhiên đặt ra cho các cuộc du ngoạn dưới nước của con người.
Tôi nói 150 mét, dù không có dụng cụ nào để ước lượng khoảng cách này. Nhưng tôi biết rằng các tia mặt trời, ngay cả trong những vùng biển trong nhất, cũng không thể tới sâu hơn. Vì thế chính tại điểm này bóng tối trở nên sâu thẳm. Không một vật nào nhìn thấy được quá mười bước. Do đó, tôi đã bắt đầu lần mò đường đi thì đột nhiên thấy ánh rực của một thứ ánh sáng trắng mãnh liệt. Thuyền trưởng Nemo vừa kích hoạt thiết bị điện của mình. Bạn đồng hành của ông cũng làm như vậy. Conseil và tôi làm theo. Bằng cách xoay một công tắc, tôi thiết lập tiếp xúc giữa cuộn cảm ứng và ống xoắn thủy tinh, và biển, được bốn đèn lồng của chúng tôi chiếu sáng, bừng lên trong bán kính hai mươi lăm mét.
Thuyền trưởng Nemo tiếp tục lao xuống những vực tối của khu rừng này, nơi bụi cây ngày càng thưa thớt. Tôi quan sát thấy đời sống thực vật biến mất nhanh hơn đời sống động vật. Các thực vật biển khơi đã để lại phía sau đáy biển ngày càng khô cằn, nơi vô số động vật kỳ lạ vẫn còn tụ tập: động vật hình cây, động vật có đốt, thân mềm và cá.
Trong khi đi, tôi nghĩ ánh sáng của các thiết bị Ruhmkorff hẳn sẽ tự động thu hút một số cư dân của những tầng tối này. Nhưng nếu chúng có tiến lại gần chúng tôi, thì ít nhất chúng vẫn giữ ở một khoảng cách đáng tiếc từ quan điểm của người đi săn. Mấy lần tôi thấy Thuyền trưởng Nemo dừng lại và ngắm bằng súng trường; rồi, sau khi nhìn dọc nòng súng vài giây, ông lại đứng thẳng và tiếp tục bước.
Cuối cùng, khoảng bốn giờ, chuyến thám hiểm kỳ diệu này kết thúc. Một bức tường đá tráng lệ dựng trước mặt chúng tôi, đồ sộ trong khối lượng thẳng đứng: một đống các khối đá khổng lồ, một sườn vách granit mênh mông lỗ chỗ những hang tối nhưng không có một độ dốc nào để chúng tôi có thể leo lên. Đây là chân móng của đảo Crespo. Đây là đất liền.
Thuyền trưởng đột ngột dừng lại. Một cử chỉ của ông khiến chúng tôi đứng lại, và dù tôi muốn vượt qua bức tường này đến đâu, tôi cũng phải dừng. Ở đây kết thúc các lãnh địa của Thuyền trưởng Nemo. Ông không có ý muốn đi xa hơn chúng. Xa hơn nữa là một phần địa cầu mà ông sẽ không còn đặt chân lên.
Hành trình trở về của chúng tôi bắt đầu. Thuyền trưởng Nemo lại dẫn đầu nhóm nhỏ của chúng tôi, luôn tiến tới mà không do dự. Tôi nhận thấy chúng tôi không đi lại con đường cũ để trở về chiếc Nautilus. Tuyến đường mới này, rất dốc và do đó rất nhọc nhằn, nhanh chóng đưa chúng tôi gần mặt biển. Nhưng cuộc trở lại các tầng trên này không đột ngột đến mức giảm áp xảy ra quá nhanh, điều có thể dẫn đến những rối loạn cơ thể nghiêm trọng và gây cho chúng tôi những chấn thương nội tạng chí mạng đối với thợ lặn. Rất nhanh, ánh sáng tái hiện và mạnh lên; và khúc xạ của mặt trời, đã thấp trên chân trời, lại viền các rìa của nhiều vật thể bằng toàn bộ quang phổ.
Ở độ sâu mười mét, chúng tôi bước đi giữa một đàn cá nhỏ đủ mọi loài, đông hơn chim trên trời, lại còn nhanh nhẹn hơn; nhưng chưa có con mồi dưới nước nào xứng đáng với một phát súng được đưa ra trước mắt chúng tôi.
Đúng lúc ấy, tôi thấy vũ khí của thuyền trưởng bật lên vai ông và dõi theo một vật đang chuyển động qua các bụi cây. Một phát súng nổ ra, tôi nghe một tiếng rít khẽ, và một con vật rơi xuống cách đó vài bước, đúng nghĩa là bị sét đánh.
Đó là một con rái cá biển tuyệt đẹp thuộc giống Enhydra, loài thú bốn chân duy nhất sống hoàn toàn ngoài biển. Dài một mét rưỡi, con rái cá này hẳn phải đáng một giá rất cao. Bộ lông của nó, màu nâu hạt dẻ phía trên và bạc phía dưới, hẳn sẽ làm nên một trong những món đồ lông tuyệt diệu được săn lùng đến thế trên các thị trường Nga và Trung Hoa; độ mịn và ánh bóng của tấm da bảo đảm rằng nó sẽ được giá ít nhất 2.000 franc. Tôi đầy kinh ngạc trước loài thú có vú khác thường này, với cái đầu tròn điểm đôi tai ngắn, đôi mắt tròn, ria trắng như ria mèo, bàn chân có màng và vuốt, chiếc đuôi rậm. Bị ngư dân săn bắt và đặt bẫy, loài thú ăn thịt quý giá này đã trở nên cực kỳ hiếm, và chủ yếu trú ẩn ở những phần cực bắc của Thái Bình Dương, nơi rất có khả năng loài của nó chẳng bao lâu nữa sẽ đối mặt với tuyệt chủng.
Bạn đồng hành của Thuyền trưởng Nemo nhặt con vật lên, vác nó lên vai, và chúng tôi lại lên đường.
Trong một giờ, những đồng bằng cát trải ra trước bước chân chúng tôi. Thường khi đáy biển nhô lên chỉ còn cách mặt nước hai mét. Khi ấy tôi có thể thấy hình ảnh của chúng tôi phản chiếu rõ ràng trên mặt dưới của sóng, nhưng phản chiếu lộn ngược: phía trên chúng tôi hiện ra một dải giống hệt, sao lại từng chuyển động và cử chỉ của chúng tôi; tóm lại, một hình ảnh hoàn hảo của bộ tứ đang đi gần nó, nhưng đầu chúc xuống và chân chổng lên không.
Một hiệu ứng khác thường nữa. Những đám mây nặng nề trôi qua phía trên chúng tôi, hình thành và tan biến rất nhanh. Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi nhận ra những đám mây được gọi như thế đơn giản là do các mật độ thay đổi của những đợt sóng ngầm dài, và tôi thậm chí còn nhận ra những “đầu sóng trắng” sủi bọt mà các đỉnh vỡ của chúng sinh sôi trên mặt nước. Cuối cùng, tôi không thể không thấy những bóng thật sự của các loài chim lớn bay qua trên đầu chúng tôi, lướt nhanh trên mặt biển.
Nhân dịp này tôi chứng kiến một trong những phát súng tuyệt nhất từng làm tủy xương người thợ săn rung lên vì khoái cảm. Một con chim lớn với sải cánh rộng, có thể nhìn thấy khá rõ, tiến lại gần và lượn phía trên chúng tôi. Khi nó chỉ còn cách mặt sóng vài mét, bạn đồng hành của Thuyền trưởng Nemo ngắm bắn. Con vật rơi xuống, bị điện giật chết, và cú rơi đưa nó vào tầm với của người thợ săn khéo léo, người lập tức chiếm lấy nó. Đó là một con hải âu thuộc loài đẹp nhất, một mẫu vật tuyệt vời của các loài chim biển khơi này.
Sự việc này không làm gián đoạn cuộc đi bộ của chúng tôi. Trong hai giờ, chúng tôi khi thì được dẫn qua những đồng bằng cát, khi thì qua các đồng cỏ rong biển khá nhọc nhằn để băng qua. Thành thật mà nói, tôi mệt chết đi được vào lúc nhận ra một ánh sáng mờ cách đó nửa dặm, cắt xuyên bóng tối của làn nước. Đó là đèn hiệu của chiếc Nautilus. Trong vòng hai mươi phút chúng tôi sẽ lên tàu, và ở đó tôi có thể lại thở dễ dàng—bởi nguồn không khí hiện tại trong bình của tôi dường như đã khá ít oxy. Nhưng tôi đã tính mà không lường đến một cuộc chạm trán làm chậm đôi chút việc chúng tôi trở về.
Tôi tụt lại phía sau khoảng hai mươi bước thì thấy Thuyền trưởng Nemo đột nhiên quay lại phía tôi. Bằng đôi tay mạnh mẽ, ông ấn tôi khuỵu xuống đất, trong khi bạn đồng hành của ông cũng làm như vậy với Conseil. Lúc đầu tôi không hiểu cuộc tấn công đột ngột này là sao, nhưng tôi yên tâm khi thấy thuyền trưởng nằm bất động bên cạnh mình.
Tôi nằm duỗi trên đáy biển, ngay dưới vài bụi tảo, thì ngẩng đầu lên và trông thấy hai khối khổng lồ lao vút qua, tỏa ra những tia lân quang chập chờn.
Máu trong huyết quản tôi đông lại! Tôi thấy chúng tôi đang bị đe dọa bởi một cặp cá mập đáng sợ. Chúng là cá mập xanh, những loài ăn thịt người ghê gớm với chiếc đuôi khổng lồ, ánh nhìn đục lờ như thủy tinh, và chất lân quang rỉ ra từ các lỗ quanh mõm. Chúng giống những con đom đóm quái dị có thể nghiền nát hoàn toàn một người trong đôi hàm sắt của mình! Tôi không biết Conseil có bận rộn phân loại chúng hay không, nhưng về phần tôi, tôi nhìn những cái bụng bạc của chúng, những cái miệng đáng sợ tua tủa răng của chúng, từ một quan điểm chẳng mấy khoa học—như một nạn nhân hơn là một giáo sư lịch sử tự nhiên.
May thay, những con vật tham ăn này có thị lực kém. Chúng đi qua mà không nhận ra chúng tôi, quệt chúng tôi bằng những chiếc vây nâu nâu; và như một phép màu, chúng tôi thoát khỏi một hiểm nguy lớn hơn việc gặp hổ sâu trong rừng rậm.
Nửa giờ sau, được vệt điện của nó dẫn đường, chúng tôi đến chiếc Nautilus. Cửa ngoài được để mở, và Thuyền trưởng Nemo đóng nó lại sau khi chúng tôi vào lại buồng thứ nhất. Rồi ông nhấn một nút. Tôi nghe các máy bơm hoạt động trong tàu, tôi cảm thấy nước hạ xuống quanh mình, và trong vài khoảnh khắc căn buồng hoàn toàn rỗng. Cửa trong mở ra, và chúng tôi đi vào phòng trang phục.
Ở đó các bộ đồ lặn của chúng tôi được cởi ra, không phải không khó khăn; và hoàn toàn kiệt sức, lả đi vì thiếu thức ăn và nghỉ ngơi, tôi lui về phòng riêng, đầy kinh ngạc trước chuyến du ngoạn sửng sốt này dưới đáy biển.
### CHƯƠNG 18
Bốn nghìn dặm biển dưới Thái Bình Dương
ĐẾN SÁNG HÔM SAU, ngày 18 tháng 11, tôi đã hoàn toàn hồi phục khỏi cơn kiệt sức của ngày hôm trước, và trèo lên sàn ngoài đúng lúc sĩ quan trưởng của chiếc Nautilus đang phát âm câu nói hằng ngày. Khi ấy tôi chợt nghĩ rằng những lời ấy hoặc liên quan đến trạng thái của biển, hoặc có nghĩa là: “Không có gì trong tầm mắt.”
Và quả thật, đại dương hoang vắng. Không một cánh buồm trên đường chân trời. Các chóp đảo Crespo đã biến mất trong đêm. Biển, hấp thụ mọi màu của lăng kính trừ các tia xanh của nó, phản chiếu những tia sau theo mọi hướng và mang một sắc chàm tuyệt đẹp. Những đợt sóng nhấp nhô đều đặn khoác vẻ của vải lụa vân nước có những sọc rộng.
Tôi đang kinh ngạc trước cảnh biển tráng lệ này thì Thuyền trưởng Nemo xuất hiện. Ông dường như không nhận ra sự hiện diện của tôi và bắt đầu một loạt quan sát thiên văn. Rồi, sau khi hoàn tất công việc, ông đi tới tựa khuỷu tay lên vỏ đèn hiệu, mắt lơ đãng trên mặt đại dương.
Trong khi đó khoảng hai mươi thủy thủ của chiếc Nautilus—tất cả đều mạnh mẽ, thân hình rắn chắc—leo lên sàn ngoài. Họ đến để kéo lên những tấm lưới đã thả theo vệt sau tàu trong đêm. Những người đi biển này rõ ràng thuộc các quốc tịch khác nhau, dù dấu hiệu của những nét thể chất châu Âu có thể thấy ở tất cả họ. Nếu tôi không nhầm, tôi nhận ra vài người Ireland, vài người Pháp, một số người Slav, và một người bản xứ hoặc Hy Lạp hoặc Crete. Dẫu vậy, những người này rất kiệm lời và chỉ dùng với nhau thứ phương ngữ kỳ dị mà nguồn gốc tôi thậm chí không đoán nổi. Vì vậy tôi phải từ bỏ mọi ý định chất vấn họ.
Các tấm lưới được kéo lên tàu. Chúng là một loại lưới kéo giống những loại dùng ngoài khơi bờ Normandy, những túi lớn được giữ nửa mở bằng một cây sào nổi và một dây xích luồn qua các mắt dưới. Kéo lê như vậy từ những gọng sắt ấy, những túi chứa này cào quét đáy đại dương và thu lấy mọi mẫu vật biển trên đường đi. Ngày hôm ấy chúng gom lên một số mẫu vật khác thường từ các thủy lộ đầy cá này: cá cần câu với những chuyển động hài hước xứng đáng với biệt hiệu “hề”, cá cần câu Commerson đen được trang bị râu dò, cá bò uốn lượn bao quanh bởi những dải đỏ nhỏ, cá nóc phồng có nọc độc cực kỳ âm hiểm, vài con cá mút đá màu ô liu, cá mõm nhọn phủ vảy bạc, cá dao có sức phóng điện ngang với lươn điện và cá đuối điện, cá thát lát vảy với các dải nâu ngang thân, cá tuyết xanh lục, vài giống cá bống, v.v.; cuối cùng, một số cá có kích thước lớn hơn: một con cá jack dài một mét với đầu nổi bật, vài con cá ngừ nhỏ đẹp thuộc giống Scomber khoác hai màu xanh và bạc, và ba con cá ngừ tuyệt đẹp mà tốc độ cao cũng không cứu chúng khỏi lưới kéo của chúng tôi.
Tôi ước tính mẻ lưới này đem lại hơn 1.000 pound cá. Đó là một mẻ bắt tốt nhưng không đáng ngạc nhiên. Về thực chất, những tấm lưới này ở lại trong vệt sau tàu chúng tôi suốt nhiều giờ, giam cả một thế giới dưới nước trong những nhà tù bằng sợi. Vì vậy chúng tôi chẳng bao giờ thiếu những nguồn dự trữ có chất lượng cao nhất, thứ tốc độ của chiếc Nautilus và sức hấp dẫn của ánh điện có thể liên tục bổ sung.
Các mẫu vật khác nhau từ biển này lập tức được hạ xuống cửa sập về phía các kho chứa, một số để ăn tươi, số khác để bảo quản.
Sau khi việc đánh cá kết thúc và nguồn không khí được đổi mới, tôi tưởng chiếc Nautilus sẽ lại tiếp tục chuyến đi dưới nước, và tôi đang chuẩn bị trở về phòng riêng thì Thuyền trưởng Nemo quay sang tôi và nói không một lời mở đầu:
“Hãy nhìn đại dương này, giáo sư! Chẳng phải nó có món quà thật sự của sự sống sao? Chẳng phải nó trải nghiệm cả giận dữ lẫn âu yếm sao? Tối qua nó đi ngủ như chúng ta, và kia, nó đang thức dậy sau một đêm yên bình!”
Không chào hỏi, không chúc buổi sáng tốt lành gì với quý ông này! Người ta hẳn tưởng cá nhân lập dị ấy chỉ đang tiếp tục một cuộc trò chuyện chúng tôi đã bắt đầu sẵn!
“Nhìn kìa!” ông tiếp tục. “Nó đang thức dậy dưới những vuốt ve của mặt trời! Nó sắp sống lại sự tồn tại hằng ngày của mình! Thật là một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn khi quan sát trò diễn của cơ thể nó. Nó có mạch đập và động mạch, nó có những cơn co thắt, và tôi đứng về phía học giả Chỉ huy Maury, người đã khám phá rằng nó có một sự tuần hoàn thật như sự tuần hoàn máu ở động vật.”
Tôi chắc rằng Thuyền trưởng Nemo không mong tôi đáp lời, và dường như chẳng cần chen vào bằng những câu “À vâng,” “Chính xác,” hay “Ông thật đúng!” Thay vào đó, ông chỉ đang tự nói với mình, với những khoảng ngừng dài giữa các câu. Ông đang suy tưởng thành tiếng.
“Phải,” ông nói, “đại dương có một sự tuần hoàn đích thực, và để khởi động nó, Đấng Tạo Hóa Muôn Vật chỉ cần tăng nhiệt, muối và đời sống vi sinh vật của nó. Về thực chất, nhiệt tạo ra các tỷ trọng khác nhau dẫn đến các dòng hải lưu và phản lưu. Sự bốc hơi, vốn bằng không ở các vùng cực bắc nhưng rất hoạt động ở các khu vực xích đạo, gây nên một sự trao đổi liên tục giữa nước nhiệt đới và nước vùng cực. Hơn nữa, tôi đã phát hiện những dòng chảy xuống và chảy lên tạo thành hơi thở thật sự của đại dương. Tôi đã thấy một phân tử nước mặn nóng lên ở bề mặt, chìm xuống các vực sâu, đạt tỷ trọng tối đa ở -2 độ bách phân, rồi lạnh đi, nhẹ hơn, và lại nổi lên. Ở các cực, ông sẽ thấy hệ quả của hiện tượng này, và qua quy luật của tự nhiên biết nhìn xa ấy, ông sẽ hiểu tại sao nước chỉ có thể đóng băng ở bề mặt!”
Khi thuyền trưởng kết thúc câu nói, tôi tự nhủ: “Cực! Cá nhân táo bạo này đang định nói rằng ông ta sẽ đưa chúng ta đến tận nơi ấy sao?”
Trong khi đó, thuyền trưởng im lặng và nhìn chằm chằm vào yếu tố mà ông đã nghiên cứu thật kỹ và không ngừng. Rồi, tiếp tục:
“Muối,” ông nói, “lấp đầy biển cả với số lượng đáng kể, giáo sư, và nếu ông loại bỏ toàn bộ lượng muối hòa tan trong đó, ông sẽ tạo ra một khối đo được 4.500.000 dặm khối, nếu trải khắp địa cầu sẽ tạo thành một lớp cao hơn mười mét. Và đừng nghĩ sự hiện diện của những loại muối này chỉ do một ý thích thất thường nào đó của tự nhiên. Không. Chúng làm nước đại dương ít bốc hơi hơn và ngăn gió cuốn đi những lượng hơi quá lớn, thứ khi ngưng tụ sẽ nhấn chìm các vùng ôn đới. Muối đóng một vai trò hàng đầu, vai trò ổn định cho hệ sinh thái chung của địa cầu!”
Thuyền trưởng Nemo dừng lại, đứng thẳng, đi vài bước dọc sàn ngoài, rồi trở lại với tôi:
“Còn về hàng tỉ động vật nhỏ bé ấy,” ông tiếp tục, “những infusoria sống hàng triệu trong một giọt nước, cần 800.000 con mới nặng một miligam, vai trò của chúng không kém phần quan trọng. Chúng hấp thụ các muối biển, chúng đồng hóa các nguyên tố rắn trong nước, và vì chúng tạo ra san hô cùng madrepores, chúng là những nhà xây dựng thật sự của các lục địa đá vôi! Và vì thế, sau khi chúng đã hoàn tất việc tước các dưỡng chất khoáng khỏi giọt nước của chúng ta, giọt nước ấy nhẹ hơn, nổi lên bề mặt, ở đó hấp thụ thêm muối bị bỏ lại qua bốc hơi, trở nên nặng hơn, lại chìm xuống, và đem đến cho những động vật nhỏ bé ấy các nguyên tố mới để hấp thụ. Kết quả: một dòng chảy kép, lên và xuống, chuyển động liên tục, sự sống liên tục! Mãnh liệt hơn trên đất liền, phong phú hơn, vô tận hơn, sự sống ấy nở rộ trong mọi phần của đại dương này, một yếu tố mà người ta bảo là chí mạng đối với con người, nhưng lại thiết yếu cho vô số động vật—và cho tôi!”
Khi Thuyền trưởng Nemo nói như thế, ông như biến hình, và ông lấp đầy tôi bằng một sự kích động phi thường.
“Ở đó,” ông nói thêm, “ngoài kia mới là tồn tại đích thực! Và tôi có thể hình dung việc thành lập các đô thị hàng hải, những cụm hộ gia đình dưới nước, giống như chiếc Nautilus, sẽ trở lại mặt biển để thở mỗi sáng, những thành phố tự do nếu từng có thành phố nào, những đô thị độc lập! Rồi lại nữa, ai biết liệu một bạo chúa nào đó...”
Thuyền trưởng Nemo kết thúc câu nói bằng một cử chỉ dữ dội. Rồi, trực tiếp quay sang tôi, như để xua đi một ý nghĩ xấu xa:
“Giáo sư Aronnax,” ông hỏi tôi, “ông có biết độ sâu của đáy đại dương không?”
“Ít nhất, thuyền trưởng, tôi biết những phép đo sâu chủ yếu cho chúng ta biết gì.”
“Ông có thể trích dẫn chúng cho tôi, để tôi có thể kiểm tra lại khi cần không?”
“Đây,” tôi đáp, “là vài con số còn đọng trong trí nhớ tôi. Nếu tôi không nhầm, độ sâu trung bình 8.200 mét đã được tìm thấy ở bắc Đại Tây Dương, và 2.500 mét ở Địa Trung Hải. Những phép đo sâu đáng chú ý nhất được thực hiện ở nam Đại Tây Dương gần vĩ tuyến 35, và chúng cho kết quả 12.000 mét, 14.091 mét, và 15.149 mét. Nói chung, người ta ước tính rằng nếu đáy biển được làm phẳng, độ sâu trung bình của nó sẽ khoảng bảy kilômét.”
“Chà, giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo đáp, “hy vọng chúng tôi sẽ cho ông thấy hơn thế. Còn về độ sâu trung bình của phần Thái Bình Dương này, tôi thông báo với ông rằng nó chỉ vỏn vẹn 4.000 mét.”
Nói xong, Thuyền trưởng Nemo đi tới cửa sập và biến mất xuống thang. Tôi theo ông và trở lại phòng khách chính. Chân vịt lập tức được khởi động, và máy đo tốc độ cho biết chúng tôi chạy hai mươi dặm mỗi giờ.
Trong những ngày và tuần sau đó, Thuyền trưởng Nemo rất ít ghé thăm. Tôi chỉ thấy ông trong những khoảng hiếm hoi. Sĩ quan trưởng của ông thường xuyên xác định các vị trí mà tôi thấy được ghi trên hải đồ, và bằng cách ấy tôi có thể vạch chính xác đường đi của chiếc Nautilus.
Conseil và Land trải qua những giờ dài với tôi. Conseil đã kể cho bạn mình nghe về các kỳ quan trong cuộc dạo dưới biển của chúng tôi, và người Canada tiếc rằng mình đã không đi cùng. Nhưng tôi hy vọng sẽ có cơ hội cho một chuyến thăm các khu rừng của Oceania.
Hầu như mỗi ngày, các tấm che trong phòng khách được mở trong vài giờ, và mắt chúng tôi không bao giờ chán việc thăm dò những bí ẩn của thế giới dưới nước.
Hướng đi chung của chiếc Nautilus là đông nam, và nó ở độ sâu giữa 100 và 150 mét. Tuy nhiên, do Chúa mới biết ý thích thất thường nào, một ngày nọ nó lặn chéo bằng các cánh nghiêng, đạt tới các tầng nằm 2.000 mét dưới nước. Nhiệt kế chỉ nhiệt độ 4,25 độ bách phân, điều ở độ sâu này dường như là một nhiệt độ chung cho mọi vĩ độ.
Ngày 26 tháng 11, lúc ba giờ sáng, chiếc Nautilus vượt chí tuyến Bắc ở kinh độ 172 độ. Ngày 27, nó đi trong tầm nhìn của quần đảo Hawaii, nơi vị Thuyền trưởng Cook nổi tiếng gặp cái chết ngày 14 tháng 2 năm 1779. Khi ấy chúng tôi đã đi được 4.860 dặm biển từ điểm xuất phát. Khi lên sàn ngoài sáng hôm đó, tôi thấy đảo Hawaii cách hai dặm về phía dưới gió, đảo lớn nhất trong bảy đảo tạo nên nhóm này. Tôi có thể phân biệt rõ đất canh tác ở vùng ngoại vi của nó, các dãy núi khác nhau chạy song song với bờ biển, và các núi lửa, được Mauna Kea đội lên như vương miện, với độ cao 5.000 mét trên mực nước biển. Trong số các mẫu vật khác từ những thủy lộ này, lưới của chúng tôi kéo lên vài san hô flabellaria đuôi công, những polyp dẹt thành những hình dạng phong nhã và độc nhất ở phần đại dương này.
Chiếc Nautilus giữ hướng đông nam. Ngày 1 tháng 12, nó cắt xích đạo ở kinh độ 142 độ, và ngày 4 cùng tháng, sau một cuộc vượt biển nhanh không sự cố, chúng tôi nhìn thấy quần đảo Marquesas. Cách ba dặm, ở vĩ độ 8 độ 57′ nam và kinh độ 139 độ 32′ tây, tôi nhận ra mũi Martin trên Nuku Hiva, thành viên chính của nhóm đảo thuộc về Pháp này. Tôi chỉ nhìn ra các ngọn núi phủ rừng của nó trên đường chân trời, bởi Thuyền trưởng Nemo ghét đi sát bờ. Ở đó lưới của chúng tôi kéo lên vài mẫu cá đẹp: cá nục heo với vây xanh da trời, đuôi vàng, và thịt không gì sánh được trên toàn thế giới, cá bàng chài thuộc giống Hologymnosus gần như không có vảy nhưng hương vị tinh tế, cá hàm dao với mõm xương, cá ngừ vây dài vàng nhạt ngon như cá ngừ nhỏ, tất cả đều là cá đáng được phân loại trong kho thực phẩm của tàu.
Sau khi để lại những hòn đảo duyên dáng này dưới sự che chở của quốc kỳ Pháp, chiếc Nautilus đi khoảng 2.000 dặm từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 12. Chuyến đi của nó được đánh dấu bằng một cuộc chạm trán với một đàn mực ống mênh mông, những loài thân mềm khác thường là hàng xóm gần của mực nang. Ngư dân Pháp gọi chúng bằng tên “cá mọc sừng”, và chúng thuộc lớp Cephalopoda, họ Dibranchiata, gồm chính chúng cùng mực nang và argonaut. Các nhà tự nhiên học thời cổ đại đã nghiên cứu đặc biệt chúng, và những con vật này cung cấp nhiều hình ảnh tục tĩu cho các nhà hùng biện đứng bục ở chợ Hy Lạp, cũng như những món ăn tuyệt hảo cho bàn của các công dân giàu có, nếu ta tin Athenaeus, một thầy thuốc Hy Lạp sống trước Galen.
Chính trong đêm 9 sang 10 tháng 12, chiếc Nautilus gặp đạo quân thân mềm rõ rệt về đêm này. Chúng có hàng triệu con. Chúng đang di cư từ các vùng ôn đới về những vùng còn ấm hơn, theo các lộ trình của cá trích và cá mòi. Chúng tôi nhìn chúng qua những cửa kính dày: chúng bơi lùi với tốc độ ghê gớm, di chuyển nhờ các ống vận động của mình, đuổi theo cá và thân mềm, ăn những con nhỏ, bị những con lớn ăn, và vung trong một sự hỗn loạn không thể tả mười cái chân mà tự nhiên đã cắm vào đầu chúng như một bộ tóc giả bằng những con rắn khí nén. Bất chấp tốc độ của mình, chiếc Nautilus đi trong vài giờ giữa đàn động vật này, và lưới của nó kéo lên một số lượng không thể tính, trong đó tôi nhận ra cả chín loài mà Giáo sư Orbigny đã phân loại là bản địa của Thái Bình Dương.
Trong suốt cuộc vượt biển này, biển không ngừng hào phóng ban cho chúng tôi những cảnh tượng kỳ diệu nhất. Sự đa dạng của nó là vô tận. Nó thay đổi bối cảnh và trang trí chỉ để làm vui mắt chúng tôi, và chúng tôi được kêu gọi không chỉ chiêm ngưỡng công trình của Đấng Tạo Hóa giữa yếu tố chất lỏng, mà còn thăm dò những bí ẩn đáng sợ nhất của đại dương.
Trong ngày 11 tháng 12, tôi đang bận đọc trong phòng khách chính. Ned Land và Conseil đang quan sát làn nước sáng qua các tấm che mở rộng. Chiếc Nautilus bất động. Các két dằn đầy, nó đang nằm ở độ sâu 1.000 mét trong một vùng đại dương tương đối ít cư dân, nơi chỉ có những loài cá lớn thỉnh thoảng mới xuất hiện.
Đúng lúc ấy tôi đang nghiên cứu một cuốn sách thú vị của Jean Macé, Những Người Phục Vụ Dạ Dày, và thưởng thức các bài học khéo léo của nó, thì Conseil cắt ngang việc đọc của tôi.
“Ngài có vui lòng đến đây một lát không?” anh nói với tôi bằng một giọng lạ.
“Có chuyện gì vậy, Conseil?”
“Có một thứ ngài nên xem.”
Tôi đứng dậy, đi tới, chống khuỷu tay trước cửa sổ, và tôi thấy nó.
Trong ánh sáng điện rộng lớn, một khối đen khổng lồ, hoàn toàn bất động, treo lơ lửng giữa làn nước. Tôi quan sát nó cẩn thận, cố tìm ra bản chất của loài cá voi khổng lồ này. Rồi một ý nghĩ đột ngột lướt qua tâm trí tôi.
“Một con tàu!” tôi kêu lên.
“Phải,” người Canada đáp, “một con tàu hỏng đang chìm thẳng xuống!”
Ned Land không nhầm. Chúng tôi đang đứng trước một con tàu mà các dây néo bị đứt của nó vẫn còn treo lủng lẳng từ những móc kẹp. Thân tàu trông còn tốt, và hẳn nó chỉ mới chìm vài giờ trước. Những gốc của ba cột buồm, bị chặt cách boong hai foot, cho thấy một con tàu ngập nước đã buộc phải hy sinh hệ cột buồm của mình. Nhưng nó đã nghiêng sang một bên, đầy nước hoàn toàn, và vẫn còn nghiêng về mạn trái. Một cảnh đáng thương, cái xác này mất hút dưới sóng, nhưng còn đáng thương hơn là cảnh trên boong của nó, nơi, bị buộc bằng dây để tránh bị cuốn trôi khỏi tàu, vài xác người vẫn nằm đó! Tôi đếm được bốn—bốn người đàn ông, một người vẫn đứng ở bánh lái—rồi một phụ nữ, nửa người nhô ra khỏi một cửa trời trên boong sau, ôm một đứa trẻ trong tay. Người phụ nữ này còn trẻ. Dưới ánh sáng rực rỡ từ các tia của chiếc Nautilus, tôi có thể nhận ra các nét mặt của cô, mà nước chưa kịp làm phân hủy. Với một nỗ lực tối hậu, cô đã nâng con mình lên trên đầu, và hai tay sinh vật nhỏ tội nghiệp vẫn còn quấn quanh cổ mẹ! Tư thế của bốn thủy thủ đối với tôi trông ghê rợn, vặn vẹo bởi những cử động co giật, như thể đang thực hiện một nỗ lực cuối cùng để thoát khỏi những sợi dây trói họ vào con tàu của mình. Còn người lái, đứng một mình, điềm tĩnh hơn, gương mặt phẳng lặng và nghiêm trang, mái tóc hoa râm bết lên trán, hai tay nắm chặt bánh lái, dường như ngay cả lúc này vẫn đang điều khiển chiếc tàu ba cột buồm bị đắm của mình qua các vực sâu đại dương!
Thật là một cảnh tượng! Chúng tôi đứng chết lặng, tim đập mạnh, trước vụ đắm tàu bị bắt quả tang này, như thể nó đã được chụp lại trong những khoảnh khắc cuối cùng, có thể nói như vậy! Và tôi đã thấy những con cá mập khổng lồ tiến đến, mắt rực lửa, bị mồi nhử thịt người lôi cuốn!
Trong khi đó, chiếc Nautilus quay lại, lượn một vòng quanh con tàu đang chìm, và trong một khoảnh khắc tôi có thể đọc tấm bảng ở đuôi nó:
The Florida Sunderland, England
### CHƯƠNG 19
Vanikoro
CẢNH TƯỢNG KHỦNG KHIẾP này là cảnh đầu tiên trong cả một loạt thảm họa hàng hải mà chiếc Nautilus sẽ gặp trên hành trình của nó. Khi nó đi qua các vùng biển có nhiều tàu bè qua lại hơn, chúng tôi thường thấy những thân tàu đắm mục rữa giữa lòng nước, và sâu hơn nữa, đại bác, đạn pháo, neo, xích, và nghìn vật sắt khác đang rỉ đi.
Trong khi đó, không ngừng bị chiếc Nautilus cuốn đi, nơi chúng tôi sống gần như cô lập, chúng tôi nhìn thấy quần đảo Tuamotu ngày 11 tháng 12, “nhóm nguy hiểm” xưa kia gắn với nhà hàng hải vòng quanh thế giới người Pháp Chỉ huy Bougainville; nó trải dài từ đảo Ducie đến đảo Lazareff trên một diện tích 500 dặm biển từ đông-đông nam đến tây-tây bắc, giữa vĩ độ 13 độ 30′ và 23 độ 50′ nam, và giữa kinh độ 125 độ 30′ và 151 độ 30′ tây. Nhóm đảo này bao phủ một diện tích 370 dặm biển vuông, và gồm khoảng sáu mươi nhóm nhỏ, trong đó chúng tôi ghi nhận nhóm Gambier, một xứ bảo hộ của Pháp. Các đảo này là những kiến tạo san hô. Nhờ công trình của polyp, một sự trồi lên chậm nhưng đều đặn một ngày nào đó sẽ nối các đảo này với nhau. Về sau, hòn đảo mới này sẽ hợp nhất với các nhóm đảo lân cận, và một lục địa thứ năm sẽ trải dài từ New Zealand và New Caledonia đến tận quần đảo Marquesas.
Ngày tôi trình bày lý thuyết này với Thuyền trưởng Nemo, ông lạnh lùng đáp tôi:
“Trái đất không cần lục địa mới, mà cần những con người mới!”
Vận may của thủy thủ đưa chiếc Nautilus thẳng đến đảo Reao, một trong những đảo khác thường nhất trong nhóm này, được Thuyền trưởng Bell phát hiện năm 1822 trên tàu Minerva. Vì thế tôi có thể nghiên cứu quá trình madreporic đã tạo nên các đảo trong đại dương này.
Madrepores, thứ người ta phải tránh nhầm với san hô quý, phủ mô của mình bằng một lớp vỏ đá vôi, và những biến dị trong cấu trúc của chúng đã khiến vị thầy nổi tiếng của tôi, Giáo sư Milne-Edwards, phân loại chúng thành năm phân bộ. Những động vật cực nhỏ tiết ra polypary này sống hàng tỉ trong các chiều sâu của tế bào chúng. Các chất lắng đá vôi của chúng tích tụ thành đá, rạn, đảo nhỏ, đảo. Ở một số nơi, chúng tạo thành atoll, một vòng tròn bao quanh một đầm phá hay hồ nhỏ bên trong mà các khe hở đặt liên thông với biển. Ở nơi khác, chúng mang hình dạng rạn chắn, như những rạn tồn tại dọc bờ biển New Caledonia và một số đảo Tuamotu. Ở những địa phương khác nữa, như đảo Réunion và đảo Mauritius, chúng xây các rạn viền bờ, những bức tường cao, thẳng, bên cạnh đó độ sâu đại dương là đáng kể.
Trong khi đi dọc chỉ cách chân đảo Reao vài tầm dây cáp, tôi kinh ngạc trước khối công trình khổng lồ do những người lao động cực nhỏ này hoàn thành. Các bức tường này là thành quả rõ rệt của những madrepores được biết dưới các tên san hô lửa, san hô ngón tay, san hô sao và san hô đá. Những polyp này chỉ mọc ở các tầng chuyển động trên mặt biển, và vì thế chính ở các tầng trên mà chúng bắt đầu những cấu trúc nền này, vốn chìm từng chút một cùng với đống vụn tiết ra kết dính chúng. Ít nhất, đó là lý thuyết của ông Charles Darwin, người giải thích sự hình thành của atoll theo cách ấy—một lý thuyết theo tôi là vượt trội hơn lý thuyết nói rằng các công trình madreporic này nằm trên các đỉnh núi hay núi lửa bị chìm vài foot dưới mực nước biển.
Tôi có thể quan sát những bức tường kỳ lạ này khá sát: dây đo sâu của chúng tôi cho thấy chúng đổ thẳng xuống hơn 300 mét, và các chùm điện của chúng tôi khiến đá vôi sáng rực thật sự lấp lánh.
Đáp lại một câu hỏi Conseil đặt cho tôi về tốc độ tăng trưởng của những hàng rào khổng lồ này, tôi làm anh hết sức kinh ngạc khi nói rằng các nhà khoa học đặt nó ở một phần tám inch mỗi hai năm.
“Vậy,” anh nói với tôi, “để xây những bức tường này, cần...?”
“192.000 năm, Conseil can đảm của tôi, điều kéo dài đáng kể các Ngày Sáng Thế trong Kinh Thánh. Hơn nữa, sự hình thành than đá—nói cách khác, sự hóa đá của các khu rừng bị lũ lụt nuốt chửng—và sự nguội đi của các đá bazan cũng đòi hỏi một khoảng thời gian dài hơn rất nhiều. Tôi có thể nói thêm rằng những ‘ngày’ ấy trong Kinh Thánh phải đại diện cho toàn bộ các kỷ nguyên chứ không phải theo nghĩa đen là khoảng thời gian giữa hai lần mặt trời mọc, bởi theo chính Kinh Thánh, mặt trời không có từ ngày đầu tiên của Sáng Thế.”
Khi chiếc Nautilus trở lại mặt đại dương, tôi có thể nhìn trọn đảo Reao trong toàn bộ dải đất phẳng phủ cây của nó. Rõ ràng những đá madreporic của nó đã được làm màu mỡ bởi lốc xoáy và giông bão. Một ngày kia, bị một cơn bão cuốn khỏi những bờ biển lân cận, một hạt giống rơi xuống các lớp đá vôi này, trộn với các hạt phân hủy của cá và thực vật biển để tạo thành mùn thực vật. Được sóng đẩy tới, một quả dừa đến bờ mới này. Mầm của nó bén rễ. Cây của nó vươn cao, hứng hơi nước từ mặt biển. Một con suối ra đời. Từng chút một, thảm thực vật lan rộng. Những động vật nhỏ bé—giun, côn trùng—cưỡi những thân cây bị giật khỏi các đảo phía đầu gió trôi dạt vào bờ. Rùa đến đẻ trứng. Chim làm tổ trong các cây non. Bằng cách ấy đời sống động vật phát triển, và bị màu xanh cùng đất đai phì nhiêu thu hút, con người xuất hiện. Và đó là cách những đảo này hình thành, thành tựu mênh mông của các động vật cực nhỏ.
Gần tối đảo Reao tan vào khoảng xa, và chiếc Nautilus đổi hướng rõ rệt. Sau khi chạm chí tuyến Nam ở kinh độ 135 độ, nó hướng tây-tây bắc, đi ngược lên toàn bộ vùng liên chí tuyến. Dù mặt trời mùa hè hào phóng rải các tia nắng lên chúng tôi, chúng tôi chưa bao giờ chịu nóng, bởi dưới nước ba mươi hay bốn mươi mét, nhiệt độ không vượt quá 10 đến 12 độ bách phân.
Đến ngày 15 tháng 12, chúng tôi đã bỏ lại phía tây quần đảo Society đầy quyến rũ, cũng như Tahiti thanh nhã, nữ hoàng của Thái Bình Dương. Buổi sáng, tôi nhận ra các đỉnh cao của đảo này cách vài dặm về phía dưới gió. Vùng nước của nó cung cấp những con cá tuyệt hảo cho bàn ăn trên tàu: cá thu, cá ngừ nhỏ, cá ngừ vây dài, và vài giống thuộc loài rắn biển mang tên cá chình moray.
Chiếc Nautilus đã vượt 8.100 dặm. Chúng tôi ghi được 9.720 dặm khi đi qua giữa quần đảo Tonga, nơi thủy thủ đoàn của các tàu Argo, Port-au-Prince và Duke of Portland đã bỏ mạng, và nhóm đảo Samoa, hiện trường vụ sát hại Thuyền trưởng de Langle, bạn của nhà hàng hải mất tích từ lâu, Bá tước de La Pérouse. Rồi chúng tôi nhìn thấy quần đảo Fiji, nơi những kẻ man rợ tàn sát thủy thủ từ tàu Union, cũng như Thuyền trưởng Bureau, chỉ huy tàu Darling Josephine từ Nantes, Pháp.
Trải dài trên một khoảng 100 dặm biển từ bắc xuống nam, và hơn 90 dặm biển từ đông sang tây, nhóm đảo này nằm giữa vĩ độ 2 độ và 6 độ nam, và giữa kinh độ 174 độ và 179 độ tây. Nó gồm một số đảo, đảo nhỏ, và rạn đá, trong đó chúng tôi ghi nhận các đảo Viti Levu, Vanua Levu và Kadavu.
Chính nhà hàng hải Hà Lan Tasman đã phát hiện nhóm đảo này năm 1643, cùng năm nhà vật lý Ý Torricelli phát minh khí áp kế và Vua Louis XIV lên ngôi nước Pháp. Tôi để độc giả quyết định việc nào trong các việc ấy có ích hơn cho nhân loại. Về sau, Thuyền trưởng Cook năm 1774, Chuẩn đô đốc d’Entrecasteaux năm 1793, và cuối cùng Thuyền trưởng Dumont d’Urville năm 1827, đã gỡ rối toàn bộ địa lý hỗn loạn của nhóm đảo này. Chiếc Nautilus đến gần vịnh Wailea, một nơi không may đối với Thuyền trưởng Dillon của Anh, người đầu tiên soi sáng bí ẩn lâu đời quanh sự biến mất của các con tàu dưới quyền Bá tước de La Pérouse.
Vịnh này, nhiều lần được nạo vét, cung cấp một nguồn hàu tuyệt hảo khổng lồ. Như nhà viết kịch La Mã Seneca khuyến nghị, chúng tôi mở chúng ngay tại bàn, rồi ăn đến no căng. Những loài thân mềm này thuộc loài được biết dưới tên Ostrea lamellosa, các thành viên của chúng khá phổ biến ngoài khơi Corsica. Bãi hàu Wailea này hẳn phải rộng lớn, và chắc chắn, nếu chúng không bị kiểm soát bởi nhiều sự kiềm chế tự nhiên, các cụm động vật có vỏ này rốt cuộc sẽ nhồi nghẹt cả vịnh, bởi người ta đã đếm được tới 2.000.000 trứng trong một cá thể duy nhất.
Và nếu ông Ned Land không hối hận vì thói tham ăn của mình trong bữa tiệc hàu của chúng tôi, đó là bởi hàu là món duy nhất không bao giờ gây khó tiêu. Thật vậy, phải cần không dưới mười sáu tá loài thân mềm không đầu này mới cung cấp được 315 gam thỏa mãn nhu cầu nitơ tối thiểu hằng ngày của một người.
Ngày 25 tháng 12, chiếc Nautilus đi giữa nhóm đảo New Hebrides, do nhà hàng hải Bồ Đào Nha Queirós phát hiện năm 1606, được Chỉ huy Bougainville thám hiểm năm 1768, và được Thuyền trưởng Cook đặt tên hiện nay năm 1773. Nhóm này chủ yếu gồm chín đảo lớn và tạo thành một dải dài 120 dặm biển từ bắc-tây bắc đến nam-đông nam, nằm giữa vĩ độ 2 độ và 15 độ nam, và giữa kinh độ 164 độ và 168 độ. Vào thời điểm quan sát giữa trưa của chúng tôi, chúng tôi đi khá gần đảo Aurou, đối với tôi trông như một khối rừng xanh được đội lên bởi một đỉnh rất cao.
Ngày hôm ấy là lễ Giáng sinh, và tôi chợt nghĩ Ned Land nhớ da diết việc mừng “Christmas”, ngày lễ gia đình đích thực mà người Tin Lành hết sức nhiệt thành.
Tôi đã không thấy Thuyền trưởng Nemo hơn một tuần, thì sáng ngày 27, ông bước vào phòng khách chính, như thường lệ hành động cứ như mình mới vắng mặt năm phút. Tôi đang bận vạch đường đi của chiếc Nautilus trên bản đồ thế giới. Thuyền trưởng tiến lại, đặt một ngón tay lên một vị trí trên hải đồ, và chỉ thốt một từ:
“Vanikoro.”
Cái tên này có ma lực! Đó là tên của những đảo nhỏ nơi các con tàu dưới quyền Bá tước de La Pérouse đã gặp nạn. Tôi bật thẳng dậy.
“Chiếc Nautilus đang đưa chúng ta đến Vanikoro sao?” tôi hỏi.
“Phải, giáo sư,” thuyền trưởng đáp.
“Và tôi sẽ có thể ghé thăm những hòn đảo nổi tiếng nơi La Boussole và Astrolabe gặp nạn?”
“Nếu ông thích, giáo sư.”
“Khi nào chúng ta sẽ đến Vanikoro?”
“Chúng ta đã ở đó rồi, giáo sư.”
Được Thuyền trưởng Nemo theo sau, tôi trèo lên sàn ngoài, và từ đó mắt tôi háo hức quét đường chân trời.
Ở phía đông bắc hiện ra hai đảo núi lửa có kích thước không đều, được bao quanh bởi một rạn san hô có chu vi bốn mươi dặm. Chúng tôi đang đối diện chính đảo Vanikoro, nơi Thuyền trưởng Dumont d’Urville đã đặt tên là “Đảo Tìm Kiếm”; chúng tôi nằm ngay trước cảng nhỏ Vana, ở vĩ độ 16 độ 4′ nam và kinh độ 164 độ 32′ đông. Bờ biển của nó dường như phủ đầy cây xanh từ các bãi biển đến các đỉnh trong nội địa, được ngọn Kapogo đội lên, cao 476 sải.
Sau khi vượt qua vành đá bên ngoài qua một lối hẹp, chiếc Nautilus nằm trong vùng sóng vỡ, nơi biển sâu ba mươi đến bốn mươi sải. Dưới bóng xanh của vài cây thường xanh nhiệt đới, tôi nhận ra vài người man rợ trông hết sức kinh ngạc trước sự đến gần của chúng tôi. Trong vật thể dài, đen sẫm, tiến tới ngang mặt nước này, chẳng phải họ đang thấy một loài cá voi đáng sợ mà họ buộc phải nhìn với sự ngờ vực sao?
Đúng lúc ấy Thuyền trưởng Nemo hỏi tôi biết gì về vụ đắm tàu của Bá tước de La Pérouse.
“Điều mọi người đều biết, thuyền trưởng,” tôi trả lời ông.
“Và ông có thể vui lòng nói cho tôi biết điều mọi người đều biết không?” ông hỏi tôi bằng một giọng mỉa mai nhẹ nhàng.
“Rất dễ.”
Tôi kể cho ông những gì các hành động cuối cùng của Thuyền trưởng Dumont d’Urville đã đưa ra ánh sáng, những hành động được mô tả ở đây trong bản tóm lược hết sức cô đọng của toàn bộ sự việc.
Năm 1785, Bá tước de La Pérouse và cấp dưới của ông, Thuyền trưởng de Langle, được Vua Louis XVI của Pháp phái đi trong một chuyến hải hành vòng quanh địa cầu. Họ lên hai tàu chiến nhỏ, La Boussole và Astrolabe, những con tàu không bao giờ được thấy lại.
Năm 1791, chính đáng lo lắng về số phận của hai tàu chiến nhỏ này, chính phủ Pháp trang bị hai tàu hàng lớn, La Recherche và L’Espérance, rời Brest ngày 28 tháng 9 dưới quyền Chuẩn đô đốc Bruni d’Entrecasteaux. Hai tháng sau, lời khai của một Chỉ huy Bowen nào đó trên tàu Albemarle cho rằng các mảnh vụn từ những tàu đắm đã được thấy trên bờ New Georgia. Nhưng d’Entrecasteaux không biết tin này—vả lại tin ấy có vẻ hơi đáng ngờ—và hướng về quần đảo Admiralty, vốn được nêu trong một báo cáo của một Thuyền trưởng Hunter nào đó là nơi tàu của Bá tước de La Pérouse đắm.
Họ tìm kiếm vô ích. La Recherche và L’Espérance đi ngang Vanikoro mà không dừng lại đó; và xét chung, chuyến đi này bị tai họa đeo bám, cuối cùng cướp đi mạng sống của Chuẩn đô đốc d’Entrecasteaux, hai sĩ quan cấp dưới của ông, và nhiều thủy thủ trong thủy thủ đoàn.
Một tay lão luyện ở Thái Bình Dương, nhà phiêu lưu người Anh Thuyền trưởng Peter Dillon, là người đầu tiên lần được dấu vết do những người sống sót từ các con tàu đắm để lại. Ngày 15 tháng 5 năm 1824, tàu của ông, St. Patrick, đi ngang đảo Tikopia, một trong quần đảo New Hebrides. Ở đó một người lái thuyền bản xứ ghé tới bằng thuyền độc mộc và bán cho Dillon một chuôi gươm bạc mang dấu các ký tự được khắc bằng một dụng cụ cắt gọi là burin. Hơn nữa, người lái thuyền bản xứ này khẳng định rằng trong thời gian ở Vanikoro sáu năm trước, anh ta đã thấy hai người châu Âu thuộc những con tàu đã mắc cạn trên các rạn đá của đảo nhiều năm trước.
Dillon đoán rằng những con tàu được nói đến là tàu dưới quyền Bá tước de La Pérouse, những con tàu mà sự biến mất đã làm chấn động toàn thế giới. Ông cố tới Vanikoro, nơi, theo người lái thuyền bản xứ, vẫn còn có thể tìm thấy nhiều mảnh vụn từ vụ đắm tàu, nhưng gió và dòng chảy ngăn ông làm vậy.
Dillon trở về Calcutta. Ở đó ông có thể khiến Hội Á châu và Công ty Đông Ấn quan tâm đến phát hiện của mình. Một con tàu mang tên La Recherche được đặt dưới quyền sử dụng của ông, và ông khởi hành ngày 23 tháng 1 năm 1827, cùng một phó viên người Pháp.
Chiếc La Recherche mới này, sau khi ghé nhiều điểm dừng trên Thái Bình Dương, thả neo trước Vanikoro ngày 7 tháng 7 năm 1827, trong chính cảng Vana nơi chiếc Nautilus lúc này đang nổi.
Ở đó Dillon thu thập nhiều di vật của vụ đắm tàu: dụng cụ sắt, neo, khoen từ puli, súng xoay, một quả đạn mười tám pound, phần còn lại của vài dụng cụ thiên văn, một mảnh lan can đuôi tàu, và một quả chuông đồng mang dòng chữ “Made by Bazin”, dấu xưởng đúc tại Arsenal Brest khoảng năm 1785. Không còn có thể nghi ngờ gì nữa.
Kết thúc các cuộc điều tra, Dillon ở lại hiện trường tai nạn cho đến tháng Mười. Rồi ông rời Vanikoro, hướng về New Zealand, thả neo tại Calcutta ngày 7 tháng 4 năm 1828, và trở về Pháp, nơi ông được Vua Charles X đón tiếp rất thân tình.
Nhưng đúng lúc ấy, nhà thám hiểm Pháp lừng danh Thuyền trưởng Dumont d’Urville, không hay biết các hoạt động của Dillon, đã ra khơi để tìm kiếm nơi xảy ra vụ đắm ở chỗ khác. Về thực chất, một tàu săn cá voi đã báo cáo rằng một số huy chương và một Huân chương Saint Louis đã được tìm thấy trong tay những người man rợ ở quần đảo Louisiade và New Caledonia.
Vì vậy Thuyền trưởng Dumont d’Urville đã ra khơi chỉ huy một con tàu mang tên Astrolabe, và chỉ hai tháng sau khi Dillon rời Vanikoro, Dumont d’Urville thả neo trước Hobart. Ở đó ông nghe về những phát hiện của Dillon, và ông còn biết thêm rằng một James Hobbs nào đó, sĩ quan trưởng trên tàu Union từ Calcutta, đã ghé bờ một đảo ở vĩ độ 8 độ 18′ nam và kinh độ 156 độ 30′ đông, và đã nhận thấy người bản xứ ở những thủy lộ ấy sử dụng các thanh sắt và vải đỏ.
Khá bối rối, Dumont d’Urville không biết có nên tin các báo cáo này, vốn đã được đăng trên vài tờ báo kém đáng tin; tuy nhiên, ông quyết định lần theo dấu Dillon.
Ngày 10 tháng 2 năm 1828, chiếc Astrolabe mới hiện ra trước đảo Tikopia, đón một người dẫn đường kiêm thông dịch là một kẻ đào ngũ đã định cư ở đó, đi theo hướng Vanikoro, nhìn thấy nó ngày 12 tháng 2, đi dọc các rạn của nó cho đến ngày 14, và chỉ đến ngày 20 mới thả neo bên trong vành chắn của nó trong cảng Vana.
Ngày 23, vài sĩ quan đi vòng quanh đảo và mang về một số mảnh vụn không mấy quan trọng. Người bản xứ, áp dụng một hệ thống phủ nhận và né tránh, từ chối dẫn họ đến nơi xảy ra tai nạn. Cách cư xử khá mờ ám này làm dấy lên nghi ngờ rằng người bản xứ đã ngược đãi những người sống sót; và quả thật, người bản xứ dường như sợ rằng Dumont d’Urville đến để báo thù cho Bá tước de La Pérouse và những bạn đồng hành bất hạnh của ông.
Nhưng ngày 26, được xoa dịu bằng quà tặng và thấy rằng họ không cần sợ bất cứ sự trả đũa nào, người bản xứ dẫn sĩ quan trưởng, ông Jacquinot, đến nơi đắm tàu.
Tại vị trí này, trong ba hay bốn sải nước giữa các rạn Paeu và Vana, có một số neo, đại bác, và thỏi sắt cùng chì, tất cả phủ đầy kết hạch đá vôi. Một xuồng lớn và xuồng săn cá voi từ chiếc Astrolabe mới được điều tới địa điểm này, và sau những nỗ lực kiệt sức, thủy thủ đoàn của chúng đã kéo lên được một chiếc neo nặng 1.800 pound, một khẩu đại bác gang tám pound, một thỏi chì, và hai khẩu súng xoay bằng đồng.
Tra hỏi người bản xứ, Thuyền trưởng Dumont d’Urville còn biết rằng sau khi hai con tàu của La Pérouse gặp nạn trên các rạn của đảo, vị bá tước đã đóng một con tàu nhỏ hơn, chỉ để ra đi rồi gặp nạn lần thứ hai. Ở đâu? Không ai biết.
Vị chỉ huy của chiếc Astrolabe mới khi ấy cho dựng một đài kỷ niệm dưới một bụi đước, để tưởng nhớ nhà hàng hải nổi tiếng và các bạn đồng hành của ông. Đó là một kim tự tháp tứ giác đơn giản, đặt trên nền san hô, không có đồ sắt nào để cám dỗ lòng tham của người bản xứ.
Rồi Dumont d’Urville cố rời đi; nhưng thủy thủ đoàn của ông kiệt quệ vì những cơn sốt hoành hành trên các bờ biển mất vệ sinh này, và chính ông cũng khá ốm, ông không thể nhổ neo cho đến ngày 17 tháng 3.
Trong khi đó, sợ rằng Dumont d’Urville không nắm được các hoạt động của Dillon, chính phủ Pháp phái một tàu chiến nhỏ đến Vanikoro, chiếc Bayonnaise dưới quyền Chỉ huy Legoarant de Tromelin, người đã đóng ở bờ tây châu Mỹ. Thả neo trước Vanikoro vài tháng sau khi chiếc Astrolabe mới rời đi, chiếc Bayonnaise không tìm thấy thêm bằng chứng nào nhưng xác minh rằng những người man rợ đã không quấy phá đài tưởng niệm vinh danh Bá tước de La Pérouse.
Đó là phần cốt yếu trong câu chuyện tôi kể cho Thuyền trưởng Nemo.
“Vậy,” ông nói với tôi, “những người sống sót đã đóng một con tàu thứ ba trên đảo Vanikoro, và cho đến ngày nay, không ai biết nó đã đi đâu và chết ở đâu?”
“Không ai biết.”
Thuyền trưởng Nemo không đáp mà ra hiệu cho tôi theo ông tới phòng khách chính. Chiếc Nautilus chìm xuống vài mét dưới sóng, và các tấm che mở ra.
Tôi lao tới cửa sổ và thấy những lớp vỏ san hô: san hô nấm, san hô siphonula, san hô alcyon, hải quỳ thuộc giống Caryophylia, cùng vô số cá duyên dáng, gồm cá xanh, cá thia, cá sweepers, cá snapper, và cá squirrelfish; bên dưới lớp phủ san hô này, tôi nhận ra một số mảnh vụn mà các cuộc nạo vét cũ chưa thể giật ra—móc sắt, neo, đại bác, đạn pháo, dây tời từ một trục neo, một sống mũi tàu, tất cả đều là vật từ những con tàu đắm, nay được trải thảm bằng những bông hoa chuyển động.
Và khi tôi nhìn chằm chằm đống xác tàu hoang tàn này, Thuyền trưởng Nemo nói với tôi bằng giọng trang nghiêm:
“Chỉ huy La Pérouse khởi hành ngày 7 tháng 12 năm 1785, với hai con tàu của mình, La Boussole và Astrolabe. Trước hết ông thả neo ở vịnh Botany, ghé thăm quần đảo Tonga và New Caledonia, hướng về quần đảo Santa Cruz, và ghé vào Nomuka, một trong các đảo thuộc nhóm Ha’apai. Rồi các con tàu của ông đến những rạn đá chưa biết của Vanikoro. Đi dẫn đầu, La Boussole mắc vào vùng sóng vỡ trên bờ biển phía nam. Astrolabe đến cứu nó và cũng mắc cạn. Con tàu thứ nhất bị phá hủy gần như ngay lập tức. Con tàu thứ hai, mắc cạn ở phía dưới gió, cầm cự được vài ngày. Người bản xứ đón tiếp những người bị nạn khá tử tế. Những người sau cư trú trên đảo và đóng một con tàu nhỏ hơn bằng các mảnh vụn từ hai con tàu lớn. Vài thủy thủ tự nguyện ở lại Vanikoro. Những người khác, yếu ớt và đau ốm, ra khơi cùng Bá tước de La Pérouse. Họ hướng đến quần đảo Solomon, và họ bỏ mạng cùng toàn bộ thủy thủ đoàn trên bờ biển phía tây của đảo chính trong nhóm ấy, giữa mũi Deception và mũi Satisfaction!”
“Và làm sao ông biết tất cả chuyện này?” tôi kêu lên.
“Đây là thứ tôi tìm được tại chính nơi xảy ra vụ đắm tàu cuối cùng ấy!”
Thuyền trưởng Nemo cho tôi xem một chiếc hộp thiếc, đóng dấu quốc huy Pháp và bị nước mặn ăn mòn toàn bộ. Ông mở nó ra và tôi thấy một bó giấy, đã ố vàng nhưng vẫn đọc được.
Đó chính là các mệnh lệnh quân sự do Bộ trưởng Hải quân Pháp trao cho Chỉ huy La Pérouse, với những ghi chú bên lề bằng nét chữ của Vua Louis XVI!
“Ôi, cái chết huy hoàng biết bao cho một người đi biển!” Thuyền trưởng Nemo khi ấy nói. “Một nấm mồ san hô là một nấm mồ yên tĩnh, và cầu Trời cho các bạn đồng hành của tôi và tôi không yên nghỉ ở nơi nào khác!”
### CHƯƠNG 20
Eo biển Torres
TRONG ĐÊM 27 rạng 28 tháng 12, chiếc Nautilus bỏ lại sau lưng các thủy lộ của Vanikoro với tốc độ phi thường. Hướng đi của nó là tây nam, và trong ba ngày nó đã vượt qua 750 dặm biển ngăn cách các đảo của La Pérouse với mũi đông nam của Papua.
Sáng sớm ngày 1 tháng 1 năm 1868, Conseil đến với tôi trên sàn ngoài.
“Liệu ngài,” chàng trai can đảm nói với tôi, “có cho phép tôi chúc ngài một năm mới hạnh phúc không?”
“Trời đất, Conseil, cứ như ngày xưa trong phòng làm việc của tôi ở Vườn Bách thảo Paris! Tôi nhận những lời chúc tốt lành của anh và cảm ơn anh vì chúng. Có điều, tôi muốn biết anh hiểu một ‘năm hạnh phúc’ là gì trong hoàn cảnh chúng ta đang ở. Đó là một năm sẽ đem việc giam cầm của chúng ta đến hồi kết, hay một năm sẽ thấy chuyến du hành kỳ lạ này tiếp tục?”
“Lạy trời,” Conseil đáp, “tôi khó biết phải nói gì với ngài. Chúng ta chắc chắn đang thấy những điều khác thường, và trong hai tháng qua chúng ta không có thời gian để buồn chán. Kỳ quan mới nhất luôn là kỳ quan đáng kinh ngạc nhất, và nếu sự tiến triển này cứ tiếp tục, tôi không thể hình dung đỉnh điểm của nó sẽ là gì. Theo ý tôi, chúng ta sẽ không bao giờ còn có một cơ hội như thế.”
“Không bao giờ, Conseil.”
“Hơn nữa, ông Nemo thật sự sống đúng với tên Latin của mình, bởi ông ấy không thể ít vướng víu hơn được nữa nếu ông ấy không tồn tại.”
“Đúng vậy, Conseil.”
“Vì thế, với tất cả sự kính trọng dành cho ngài, tôi nghĩ một ‘năm hạnh phúc’ sẽ là một năm cho phép chúng ta thấy mọi thứ—”
“Mọi thứ, Conseil? Không năm nào có thể dài đến thế. Nhưng Ned Land nghĩ gì về tất cả chuyện này?”
“Ý nghĩ của Ned Land hoàn toàn trái ngược với tôi,” Conseil đáp. “Ông ấy có đầu óc thực tế và một cái dạ dày đòi hỏi. Ông ấy đã chán việc ngày này qua ngày khác nhìn cá và ăn cá. Sự thiếu thốn rượu vang, bánh mì và thịt này không thích hợp với một người Anglo-Saxon đứng đắn, một người quen với bít tết bò và không nao núng trước những liều brandy hay gin thường kỳ!”
“Về phần tôi, Conseil, điều đó chẳng làm tôi bận tâm chút nào, và tôi đã thích nghi rất tốt với chế độ ăn trên tàu.”
“Tôi cũng vậy,” Conseil đáp. “Do đó, tôi nghĩ đến việc ở lại nhiều như ông Land nghĩ đến việc trốn thoát. Vì vậy, nếu năm mới này không phải một năm hạnh phúc cho tôi, thì nó sẽ là thế với ông ấy, và ngược lại. Dù chuyện gì xảy ra, một trong chúng ta sẽ hài lòng. Cho nên, kết luận lại, tôi chúc ngài có bất cứ điều gì trái tim ngài mong muốn.”
“Cảm ơn anh, Conseil. Có điều tôi phải xin anh hoãn câu hỏi về quà năm mới, và tạm thời nhận thay bằng một cái bắt tay nồng hậu. Đó là tất cả những gì tôi có trong người.”
“Ngài chưa bao giờ rộng lượng hơn,” Conseil đáp.
Và nói xong, chàng trai can đảm đi khỏi.
Đến ngày 2 tháng 1, chúng tôi đã đi được 11.340 dặm, tức 5.250 dặm biển, từ điểm xuất phát của mình trong các vùng biển Nhật Bản. Trước chiếc cựa của Nautilus trải ra những thủy lộ nguy hiểm của biển Coral, ngoài khơi bờ đông bắc Australia. Con tàu của chúng tôi lướt cách vài dặm khỏi bãi cạn đáng sợ nơi các tàu của Thuyền trưởng Cook suýt gặp nạn ngày 10 tháng 6 năm 1770. Con tàu mà Cook đi đã lao vào một khối san hô, và nếu tàu của ông không chìm, đó là nhờ tình huống một mảnh san hô vỡ ra trong cú va chạm và bịt kín chính lỗ thủng mà nó đã tạo trên thân tàu.
Tôi hẳn đã hết sức thích thú nếu được ghé thăm rạn đá dài 360 dặm biển này, nơi biển cả dâng trào không ngừng vỡ ra với cường độ đáng sợ như những tiếng sấm. Nhưng đúng lúc ấy, các cánh nghiêng của chiếc Nautilus đưa chúng tôi xuống các vực sâu, và tôi không thể thấy gì về những bức tường san hô cao ấy. Tôi đành hài lòng với các mẫu cá khác nhau mà lưới của chúng tôi kéo lên. Trong số đó, tôi ghi nhận một số cá ngừ vây dài có vây dài, một loài thuộc giống Scomber, lớn bằng cá ngừ, xanh nhạt ở hai bên sườn và có những sọc ngang biến mất khi con vật chết. Những con cá này đi theo chúng tôi thành đàn và cung cấp cho bàn ăn của chúng tôi thứ thịt rất tinh tế. Chúng tôi cũng bắt được nhiều cá đầu vàng xanh vàng, dài nửa đềximét và có vị như cá dorado, cùng một số cá chuồn gurnard, những con én dưới nước đích thực, vào những đêm tối, luân phiên vạch ngang không khí và nước bằng những tia lân quang chập chờn. Trong số thân mềm và động vật hình cây, tôi tìm thấy trong mắt lưới kéo của chúng tôi nhiều loài san hô alcyonarian, nhím biển, vỏ sò búa, vỏ sao gai, ốc cầu thang, vỏ sừng, ốc thủy tinh. Hệ thực vật địa phương được đại diện bởi những loài tảo nổi tuyệt đẹp: tảo biển và tảo bẹ thuộc giống Macrocystis, thấm đẫm chất nhầy rỉ ra từ các lỗ của chúng, từ đó tôi chọn một mẫu Nemastoma geliniaroidea tuyệt vời, xếp nó vào các kỳ vật tự nhiên trong bảo tàng.
Ngày 4 tháng 1, hai ngày sau khi vượt biển Coral, chúng tôi nhìn thấy bờ biển Papua. Nhân dịp này Thuyền trưởng Nemo bảo tôi rằng ông định đến Ấn Độ Dương qua eo biển Torres. Nhận xét của ông chỉ có thế. Ned vui mừng thấy lộ trình này một lần nữa đưa chúng tôi lại gần các vùng biển châu Âu hơn.
Eo biển Torres được xem là nguy hiểm không kém vì những rạn san hô tua tủa của nó lẫn những cư dân man rợ trên các bờ biển của nó. Nó ngăn Queensland với hòn đảo lớn Papua, cũng gọi là New Guinea.
Papua dài 400 dặm biển, rộng 130 dặm biển, với diện tích 40.000 dặm địa lý vuông. Nó nằm giữa vĩ độ 0 độ 19′ và 10 độ 2′ nam, và giữa kinh độ 128 độ 23′ và 146 độ 15′. Vào giữa trưa, trong lúc sĩ quan trưởng đo độ cao của mặt trời, tôi nhận ra các đỉnh của dãy núi Arfak, vươn lên thành từng tầng và kết thúc bằng những chóp nhọn.
Được người Bồ Đào Nha Francisco Serrano phát hiện năm 1511, các bờ biển này lần lượt được Don Jorge de Meneses ghé thăm năm 1526, Juan de Grijalva năm 1527, tướng Tây Ban Nha Alvaro de Saavedra năm 1528, Inigo Ortiz năm 1545, người Hà Lan Schouten năm 1616, Nicolas Sruick năm 1753, rồi Tasman, Dampier, Fumel, Carteret, Edwards, Bougainville, Cook, McClure và Thomas Forrest, Chuẩn đô đốc d’Entrecasteaux năm 1792, Louis-Isidore Duperrey năm 1823, và Thuyền trưởng Dumont d’Urville năm 1827. “Đó là vùng trung tâm của người da đen chiếm cứ toàn bộ Malaysia,” ông de Rienzi đã nói; và tôi chẳng hề mảy may biết rằng vận may của thủy thủ sắp đưa tôi mặt đối mặt với những thổ dân Andaman đáng sợ ấy.
Vậy là chiếc Nautilus hiện ra trước lối vào eo biển nguy hiểm nhất thế giới, một lối đi mà ngay cả những nhà hàng hải táo bạo nhất cũng ngần ngại vượt qua: eo biển mà Luis Vaez de Torres đã đối mặt khi trở về từ các biển phương Nam ở Melanesia, eo biển nơi các tàu chiến nhỏ dưới quyền Thuyền trưởng Dumont d’Urville mắc cạn năm 1840 và suýt gặp nạn cùng toàn bộ thủy thủ đoàn. Và ngay cả chiếc Nautilus, vượt cao hơn mọi hiểm nguy trong biển cả, cũng sắp trở nên quen thuộc với các rạn san hô của nó.
Eo biển Torres rộng khoảng ba mươi bốn dặm biển, nhưng nó bị chặn bởi vô số đảo, đảo nhỏ, vùng sóng vỡ và đá ngầm khiến việc đi lại gần như bất khả. Do đó, Thuyền trưởng Nemo thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa cần thiết khi vượt qua nó. Nổi ngang mặt nước, chiếc Nautilus tiến lên với tốc độ vừa phải. Giống đuôi một loài cá voi, chân vịt của nó khuấy sóng chậm rãi.
Lợi dụng tình thế này, hai bạn đồng hành của tôi và tôi tìm chỗ ngồi trên sàn ngoài mãi mãi vắng vẻ. Trước mặt chúng tôi là phòng lái, và nếu tôi không nhầm lắm, Thuyền trưởng Nemo hẳn đang ở bên trong, tự mình điều khiển chiếc Nautilus.
Dưới mắt tôi là các hải đồ tuyệt hảo của eo biển Torres do kỹ sư thủy văn Vincendon Dumoulin và Thiếu úy hải quân (nay là Đô đốc) Coupvent-Desbois khảo sát và vẽ ra, những người thuộc bộ tham mưu của Dumont d’Urville trong chuyến đi vòng quanh địa cầu cuối cùng của ông. Những hải đồ này, cùng với các công trình của Thuyền trưởng King, là những bản đồ tốt nhất để gỡ rối mớ bòng bong của lối đi hẹp này, và tôi tham khảo chúng với sự cẩn trọng tỉ mỉ.
Quanh chiếc Nautilus, biển sôi lên dữ dội. Một dòng sóng, chảy từ đông nam sang tây bắc với tốc độ hai dặm rưỡi mỗi giờ, vỡ trên những đầu san hô nhô lên đây đó.
“Biển động dữ đấy!” Ned Land nói với tôi.
“Quả thật đáng ghét,” tôi đáp, “và hầu như không thích hợp cho một phương tiện như chiếc Nautilus.”
“Lão thuyền trưởng chết tiệt ấy,” người Canada tiếp tục, “hẳn phải thật sự chắc chắn về lộ trình của mình, bởi chỉ cần những cụm san hô này sượt qua chúng ta, chúng sẽ xé thân tàu thành nghìn mảnh!”
Tình thế quả thật nguy hiểm, nhưng như thể bằng phép thuật, chiếc Nautilus dường như lướt ngay giữa những rạn đá cuồng loạn này. Nó không đi theo đúng lộ trình của Zealous và chiếc Astrolabe mới, vốn đã tỏ ra quá bất hạnh cho Thuyền trưởng Dumont d’Urville. Nó đi lên phía bắc hơn, ôm sát quần đảo Murray, rồi trở lại phía tây nam gần lối Cumberland. Tôi tưởng nó sắp lao hết mình vào cửa mở này, nhưng nó đi lên phía tây bắc, xuyên qua rất nhiều đảo và đảo nhỏ ít được biết, rồi hướng về đảo Tound và Kênh Xấu.
Tôi đã tự hỏi liệu Thuyền trưởng Nemo, liều lĩnh đến mức gần như điên rồ, có muốn con tàu của mình thử sức với các eo hẹp nơi hai tàu chiến nhỏ của Dumont d’Urville đã mắc cạn không, thì ông đổi hướng lần thứ hai và cắt thẳng về phía tây, hướng tới đảo Gueboroa.
Khi ấy là ba giờ chiều. Dòng chảy đang yếu đi, gần như triều cao. Chiếc Nautilus đến gần hòn đảo này, thứ tôi còn thấy rõ đến hôm nay với viền cây dứa dại đáng chú ý của nó. Chúng tôi ôm sát đảo ở khoảng cách chưa đầy hai dặm.
Một cú giật đột ngột quật tôi ngã xuống. Chiếc Nautilus vừa va phải một rạn đá, và nó nằm bất động, hơi nghiêng về mạn trái.
Khi đứng dậy, tôi thấy Thuyền trưởng Nemo và sĩ quan trưởng của ông trên sàn ngoài. Họ đang xem xét tình trạng của con tàu, trao đổi vài lời bằng thứ phương ngữ không thể hiểu của họ.
Đây là hoàn cảnh lúc ấy. Cách hai dặm về mạn phải là đảo Gueboroa, bờ biển của nó uốn từ bắc sang tây như một cánh tay mênh mông. Về phía nam và đông, những đầu san hô đã hiện ra, bị nước rút để lộ. Chúng tôi mắc cạn vào lúc triều cao và trong một vùng biển có thủy triều ôn hòa, một tình trạng bất tiện cho việc đưa chiếc Nautilus nổi trở lại. Tuy nhiên, con tàu không hề hư hại gì, vì thân tàu của nó được ghép chắc chắn đến thế. Nhưng dù nó không thể chìm cũng không thể nứt vỡ, nó vẫn gặp nguy cơ nghiêm trọng là bị gắn vĩnh viễn vào các rạn này, và như vậy sẽ là kết thúc của tàu lặn của Thuyền trưởng Nemo.
Tôi đang nghiền ngẫm điều này thì thuyền trưởng tiến lại, lạnh lùng và bình tĩnh, mãi mãi tự chủ, trông không hoảng hốt cũng không bực tức.
“Một tai nạn?” tôi nói với ông.
“Không, một sự cố,” ông đáp.
“Nhưng là một sự cố,” tôi đáp, “có thể buộc ông trở lại làm cư dân của những bờ biển ông tránh né!”
Thuyền trưởng Nemo nhìn tôi bằng một ánh mắt kỳ lạ và ra dấu không. Điều đó cho tôi biết khá rõ rằng không gì có thể buộc ông đặt chân lên một khối đất liền nữa. Rồi ông nói:
“Không, Giáo sư Aronnax, chiếc Nautilus không bị phó cho diệt vong. Nó vẫn sẽ đưa ông đi giữa những kỳ quan của đại dương. Chuyến đi của chúng ta chỉ mới bắt đầu, và tôi chưa muốn tước khỏi mình quá sớm niềm vui được ông đồng hành.”
“Dẫu vậy, Thuyền trưởng Nemo,” tôi tiếp tục, bỏ qua sắc thái mỉa mai trong lời ông, “chiếc Nautilus đã mắc cạn đúng lúc biển đầy nước. Thế thì, thủy triều ở Thái Bình Dương không mạnh, và nếu ông không thể tháo nước dằn của chiếc Nautilus, điều đối với tôi có vẻ bất khả, tôi không thấy làm sao nó sẽ nổi lên.”
“Ông đúng, giáo sư, thủy triều Thái Bình Dương không mạnh,” Thuyền trưởng Nemo đáp. “Nhưng trong eo biển Torres, người ta vẫn thấy chênh lệch một mét rưỡi giữa nước triều cao và nước triều thấp. Hôm nay là ngày 4 tháng 1, và trong năm ngày nữa trăng sẽ tròn. Thế thì, tôi sẽ rất kinh ngạc nếu vệ tinh hiền lành ấy không nâng đủ các khối nước này và làm cho tôi một ơn mà tôi sẽ mãi mãi biết ơn.”
Nói xong, Thuyền trưởng Nemo lại đi xuống bên trong chiếc Nautilus, theo sau là sĩ quan trưởng của ông. Còn con tàu của chúng tôi thì không nhúc nhích nữa, bất động như thể các polyp san hô này đã xây kín nó trong thứ xi măng không thể phá hủy của chúng.
“Chà, thưa ngài?” Ned Land nói với tôi, tiến lại sau khi thuyền trưởng rời đi.
“Chà, Ned bạn tôi, chúng ta sẽ thanh thản chờ đợt triều ngày 9, bởi có vẻ mặt trăng sẽ tốt bụng đưa chúng ta nổi đi!”
“Đơn giản thế thôi sao?”
“Đơn giản thế thôi.”
“Vậy thuyền trưởng của chúng ta sẽ không thả neo, đặt máy vào xích, hay làm gì để kéo chúng ta ra?”
“Vì thủy triều sẽ đủ,” Conseil đơn giản đáp.
Người Canada nhìn Conseil, rồi nhún vai. Người thủy thủ trong ông lúc này đang lên tiếng.
“Thưa ngài,” ông đáp, “ngài có thể tin tôi khi tôi nói đống sắt này sẽ không bao giờ đi lại nữa, trên biển hay dưới biển. Nó chỉ còn hợp để bán theo trọng lượng. Vì vậy tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta đánh bài chuồn với Thuyền trưởng Nemo.”
“Ned bạn tôi,” tôi đáp, “khác với ông, tôi chưa từ bỏ chiếc Nautilus dũng cảm của chúng ta, và bốn ngày nữa chúng ta sẽ biết mình đang đứng ở đâu với thủy triều Thái Bình Dương này. Hơn nữa, một cuộc trốn thoát có thể đúng lúc nếu chúng ta ở trong tầm nhìn của các bờ biển Anh hay Provence, nhưng trong các thủy lộ của Papua thì lại là chuyện khác. Và chúng ta sẽ luôn giữ chuyện ấy như phương sách cuối cùng nếu chiếc Nautilus không tự đứng thẳng lại, điều mà tôi xem là một tai họa thật sự.”
“Nhưng chẳng lẽ ít nhất chúng ta không thể xem xét địa hình sao?” Ned tiếp tục. “Đây là một hòn đảo. Trên đảo này có cây. Dưới những cây ấy có động vật trên cạn chất đầy sườn cốt lết và thịt bò nướng, mà tôi sẵn lòng cắm răng vào.”
“Trong trường hợp này bạn Ned của chúng ta nói đúng,” Conseil nói, “và tôi đứng về phía ý kiến của ông ấy. Ngài không thể thuyết phục bạn mình Thuyền trưởng Nemo phái ba chúng ta lên bờ sao, dù chỉ để chân chúng ta không quên cách bước trên những phần rắn của hành tinh?”
“Tôi có thể hỏi ông ấy,” tôi đáp, “nhưng ông ấy sẽ từ chối.”
“Xin ngài cứ mạo hiểm,” Conseil nói, “và chúng ta sẽ biết mình đang đứng ở đâu về sự dễ thương của thuyền trưởng.”
Thật bất ngờ đối với tôi, Thuyền trưởng Nemo cho tôi sự cho phép tôi xin, và ông làm vậy với vẻ nhã nhặn cùng nhanh chóng, thậm chí không đòi tôi hứa sẽ trở lại tàu. Nhưng trốn qua các lãnh thổ New Guinea sẽ cực kỳ nguy hiểm, và tôi sẽ không khuyên Ned Land thử làm điều ấy. Thà làm tù nhân trên chiếc Nautilus còn hơn rơi vào tay người bản xứ Papua.
Xuồng nhỏ được đặt dưới quyền sử dụng của chúng tôi cho sáng hôm sau. Tôi hầu như không cần hỏi liệu Thuyền trưởng Nemo có đi cùng không. Tôi cũng giả định rằng không thủy thủ nào được phân công đi với chúng tôi, rằng Ned Land sẽ một mình phụ trách lái xuồng dài. Hơn nữa, bờ biển chỉ cách không quá hai dặm, và đối với người Canada, dẫn chiếc xuồng nhỏ lanh lẹ ấy qua các hàng rạn đá từng đem tai họa cho những con tàu lớn sẽ chỉ là trò trẻ con.
Ngày hôm sau, 5 tháng 1, sau khi tấm boong của nó được mở, xuồng nhỏ được giật khỏi hốc và hạ xuống biển từ trên sàn ngoài. Hai người là đủ cho thao tác này. Mái chèo ở bên trong xuồng dài và chúng tôi chỉ việc ngồi vào chỗ.
Lúc tám giờ, trang bị súng trường và rìu, chúng tôi rời khỏi chiếc Nautilus. Biển khá lặng. Một làn gió nhẹ thổi từ bờ. Conseil và tôi vào vị trí bên mái chèo, chèo mạnh, còn Ned lái chúng tôi vào các lối hẹp giữa những dải sóng vỡ. Xuồng nhỏ dễ điều khiển và lao đi nhanh chóng.
Ned Land không thể giấu niềm hân hoan của mình. Ông là một tù nhân trốn khỏi nhà tù và không hề mơ rằng mình sẽ phải vào lại đó.
“Thịt!” ông cứ lặp đi lặp lại. “Giờ chúng ta sẽ ăn thịt đỏ! Thịt thú thật sự! Một bữa gọi món thật sự, sấm sét ơi! Tôi không nói cá không tốt cho sức khỏe, nhưng không được lạm dụng chúng, và một lát thịt nai tươi nướng trên than hồng sẽ là một thay đổi dễ chịu so với khẩu phần chuẩn của chúng ta.”
“Đồ tham ăn,” Conseil đáp, “ông làm tôi chảy nước miếng rồi!”
“Còn phải xem,” tôi nói, “liệu những khu rừng này có thú săn không, và liệu các loại thú săn có thuộc kích thước đến mức chúng có thể săn lại người đi săn không.”
“Được thôi, Giáo sư Aronnax!” người Canada đáp, răng ông dường như sắc như lưỡi rìu. “Nhưng nếu không có loài bốn chân nào khác trên đảo này, tôi sẽ ăn hổ—thăn hổ, thưa ngài.”
“Bạn Ned của chúng ta bắt đầu đáng lo rồi,” Conseil đáp.
“Dù là gì,” Ned Land tiếp tục, “bất cứ con vật nào có bốn chân không lông vũ, hay hai chân có lông vũ, sẽ được chào bằng chính một phát súng của tôi.”
“Ồ tốt!” tôi đáp. “Ông Land liều lĩnh lại bắt đầu rồi!”
“Đừng lo, Giáo sư Aronnax, cứ tiếp tục chèo!” người Canada đáp. “Tôi chỉ cần hai mươi lăm phút để phục vụ ngài một trong các sáng tạo đặc biệt của riêng tôi.”
Đến 8 giờ 30, xuồng nhỏ của chiếc Nautilus vừa nhẹ nhàng mắc lên một dải cát, sau khi vượt qua thành công vòng san hô bao quanh đảo Gueboroa.
### CHƯƠNG 21
Vài ngày trên bờ
VIỆC BƯỚC LÊN BỜ có một tác dụng phấn chấn đối với tôi. Ned Land thử đất bằng chân, như thể ông đang tuyên bố quyền sở hữu nó. Vậy mà mới chỉ hai tháng kể từ khi chúng tôi trở thành, như Thuyền trưởng Nemo diễn đạt, “hành khách trên chiếc Nautilus,” nói cách khác, những tù nhân đúng nghĩa của vị chỉ huy nó.
Trong vài phút, chúng tôi đã ở cách bờ một tầm súng. Đất gần như hoàn toàn là madreporic, nhưng một số lòng suối khô rải đầy đá vụn granit, chứng tỏ hòn đảo này có nguồn gốc nguyên thủy. Toàn bộ chân trời bị che sau một bức màn rừng tuyệt đẹp. Những cây khổng lồ, đôi khi cao tới 200 foot, được nối với nhau bằng các vòng hoa dây leo nhiệt đới, những chiếc võng tự nhiên thật sự đung đưa trong làn gió nhẹ. Có các cây mimosa, cây đa, cây phi lao, gỗ tếch, dâm bụt, dứa dại, cọ, tất cả hòa lẫn trong sự sum suê hoang dã; và dưới bóng những tán xanh của chúng, dưới chân các thân cây khổng lồ, mọc lên phong lan, cây họ đậu và dương xỉ.
Trong khi đó, phớt lờ tất cả những mẫu thực vật Papua tuyệt đẹp này, người Canada bỏ qua cái trang trí để chọn cái hữu dụng. Ông nhận ra một cây dừa, đánh rụng vài quả, bổ chúng ra, và chúng tôi uống sữa cùng ăn cùi của chúng với một niềm vui là sự phản kháng chống lại khẩu phần chuẩn trên chiếc Nautilus.
“Tuyệt hảo!” Ned Land nói.
“Tinh tế!” Conseil đáp.
“Và tôi không nghĩ,” người Canada nói, “rằng Nemo của ngài sẽ phản đối việc chúng ta chất một chuyến dừa lên tàu của ông ấy?”
“Tôi nghĩ là không,” tôi đáp, “nhưng ông ấy sẽ không muốn nếm chúng.”
“Thiệt cho ông ấy!” Conseil nói.
“Và lợi nhiều cho chúng ta!” Ned Land bắn trả. “Sẽ còn dư lại nhiều hơn!”
“Một lời thận trọng, ông Land,” tôi nói với người phóng lao, người đang định tàn phá một cây dừa khác. “Dừa là thứ đáng quý, nhưng trước khi chúng ta nhồi đầy xuồng nhỏ bằng chúng, sẽ khôn ngoan nếu tìm hiểu liệu hòn đảo này có những chất liệu khác cũng hữu ích như vậy không. Một ít rau tươi hẳn sẽ được đón nhận nồng nhiệt trong kho thực phẩm của chiếc Nautilus.”
“Ngài nói đúng,” Conseil đáp, “và tôi đề nghị chúng ta dành ba chỗ trong xuồng dài của mình: một cho trái cây, một cho rau, và một phần ba cho thịt nai, thứ mà tôi vẫn chưa thoáng thấy mẫu vật nhỏ nhất nào.”
“Đừng bỏ cuộc dễ thế, Conseil,” người Canada đáp.
“Vậy chúng ta tiếp tục cuộc du ngoạn,” tôi nói tiếp, “nhưng phải cảnh giác. Hòn đảo này trông không có người ở, nhưng vẫn có thể che chở vài cá nhân không quá kén chọn loại thú họ ăn!”
“Hê hê!” Ned chen vào, với một cử động đầy hàm ý của hai hàm.
“Ned! Ôi kinh quá!” Conseil kêu lên.
“Lạy trời,” người Canada bắn trả, “tôi bắt đầu biết thưởng thức sức quyến rũ của tục ăn thịt người rồi!”
“Ned, Ned! Đừng nói thế!” Conseil đáp. “Ông là một kẻ ăn thịt người sao? Vậy thì tôi sẽ không còn an toàn bên cạnh ông nữa, tôi, người cùng chung cabin với ông! Có nghĩa là một ngày đẹp trời nào đó tôi sẽ thức dậy trong tình trạng bị ăn mất nửa người sao?”
“Tôi hết sức quý anh, Conseil bạn tôi, nhưng chưa đến mức ăn anh khi quanh đây còn đồ ăn ngon hơn.”
“Vậy tôi không dám trì hoãn,” Conseil đáp. “Cuộc săn bắt đầu! Chúng ta tuyệt đối phải hạ vài con thú để xoa dịu tay ăn thịt người này, nếu không một trong những buổi sáng tới, ngài sẽ không tìm thấy đủ mảnh của người hầu để hầu hạ ngài.”
Trong khi trao đổi những lời đùa bỡn ấy, chúng tôi bước vào dưới các tán tối của khu rừng, và trong hai giờ chúng tôi thăm dò nó theo mọi hướng.
Chúng tôi không thể may mắn hơn trong cuộc tìm kiếm thực vật ăn được, và một số sản vật hữu ích nhất của các vùng nhiệt đới cung cấp cho chúng tôi một thứ lương thực quý giá vốn thiếu trên tàu.
Tôi muốn nói đến cây sa kê, khá phong phú trên đảo Gueboroa, và ở đó tôi chủ yếu ghi nhận giống không hạt mà ở Malaysia gọi là “rima.”
Cây này khác với các cây khác bởi một thân thẳng cao bốn mươi foot. Đối với con mắt nhà tự nhiên học, tán tròn duyên dáng của nó, tạo thành từ những chiếc lá lớn nhiều thùy, đủ để biểu thị loài artocarpus đã được chuyển trồng rất thành công tới quần đảo Mascarene phía đông Madagascar. Từ khối xanh của nó, những quả hình cầu khổng lồ nổi bật, rộng một đềximét và bên ngoài có các nếp nhăn tạo thành hoa văn lục giác. Đó là một loài cây tiện dụng mà tự nhiên ban cho các vùng thiếu lúa mì; không cần được trồng trọt, nó ra quả tám tháng trong năm.
Ned Land rất quen với loại quả này. Ông đã ăn nó trong nhiều chuyến đi và biết cách nấu phần ăn được của nó. Vì thế chỉ nhìn thấy nó cũng làm ông thèm ăn, và ông không thể tự kiềm chế.
“Thưa ngài,” ông nói với tôi, “tôi sẽ chết nếu không được nếm một ít bột sa kê!”
“Nếm đi, Ned bạn tôi, nếm thỏa thích. Chúng ta ở đây để làm thí nghiệm, vậy hãy làm đi.”
“Không mất một phút đâu,” người Canada đáp.
Trang bị một kính lúp, ông nhóm một đống lửa bằng củi khô, chẳng mấy chốc đã reo lách tách vui tai. Trong khi đó Conseil và tôi chọn những quả artocarpus đẹp nhất. Một số còn chưa đủ chín, và lớp vỏ dày của chúng phủ lên phần ruột trắng, hơi xơ. Nhưng rất nhiều quả khác vàng nhạt và dạng thạch, như chỉ chờ được hái.
Loại quả này không có hạt. Conseil đem một tá đến cho Ned Land, người cắt chúng thành lát dày và đặt lên than hồng, miệng không ngừng lặp lại:
“Các ngài sẽ thấy, thưa ngài, thứ bánh mì này ngon thế nào!”
“Đặc biệt là vì chúng ta đã không có đồ nướng lò quá lâu,” Conseil nói.
“Nó còn hơn cả bánh mì,” người Canada thêm. “Nó là bánh ngọt tinh tế. Ngài chưa bao giờ ăn phải không, thưa ngài?”
“Chưa, Ned.”
“Được rồi, hãy chuẩn bị cho một thứ thật sự ngon lành! Nếu ngài không quay lại ăn thêm phần hai, tôi không còn là Vua của Những Người Phóng Lao nữa!”
Sau vài phút, những phần quả phơi trên lửa đã hoàn toàn nướng chín. Bên trong hiện ra một thứ bột trắng, một loại ruột bánh mềm có hương vị làm tôi nhớ đến atisô.
Tôi phải thừa nhận, thứ bánh mì này tuyệt hảo, và tôi ăn nó với niềm thích thú lớn.
“Không may,” tôi nói, “thứ bột này sẽ không giữ tươi được, nên có vẻ vô ích nếu làm nguồn dự trữ đem lên tàu.”
“Sấm sét ơi, thưa ngài!” Ned Land kêu lên. “Ngài lại thế rồi, nói như một nhà tự nhiên học, còn trong lúc đó tôi sẽ hành động như một thợ làm bánh! Conseil, thu hoạch ít quả này để mang theo khi chúng ta trở lại.”
“Và ông sẽ chuẩn bị nó thế nào?” tôi hỏi người Canada.
“Tôi sẽ làm từ ruột của nó một thứ bột lên men có thể giữ vô hạn mà không hỏng. Khi muốn ăn, tôi chỉ cần nấu nó trong bếp trên tàu—nó sẽ có vị hơi chua, nhưng ngài sẽ thấy nó tuyệt hảo.”
“Vậy, ông Ned, tôi thấy rằng thứ bánh mì này là tất cả những gì chúng ta cần—”
“Chưa hẳn, giáo sư,” người Canada đáp. “Chúng ta cần một ít trái cây đi kèm, hoặc ít nhất là một ít rau.”
“Vậy hãy tìm trái cây và rau.”
Khi việc thu hoạch sa kê hoàn tất, chúng tôi lên đường để hoàn thiện “bữa tối trên đất khô” này.
Chúng tôi không tìm kiếm vô ích, và gần giữa trưa, chúng tôi có một nguồn chuối dồi dào. Sản vật ngon lành này từ các vùng Nhiệt Đới chín quanh năm, và người Malaysia, những người gọi chúng là “pisang”, ăn chúng mà không cần nấu. Ngoài chuối, chúng tôi hái một số quả mít khổng lồ có hương vị rất đậm, vài quả xoài ngon, và những quả dứa có kích thước không thể tin nổi. Nhưng việc kiếm thức ăn này chiếm khá nhiều thời gian của chúng tôi, dù vậy chúng tôi không có lý do gì hối tiếc.
Conseil luôn quan sát Ned. Người phóng lao đi dẫn đầu, và trong cuộc dạo qua khu rừng này, ông hái bằng đôi tay chắc chắn một số trái cây tuyệt hảo hẳn sẽ hoàn thiện nguồn lương thực của mình.
“Vậy,” Conseil hỏi, “ông có đủ mọi thứ mình cần rồi chứ, Ned bạn tôi?”
“Hừm!” người Canada chen vào.
“Sao! Ông còn phàn nàn?”
“Toàn bộ cây cỏ này không làm nên một bữa ăn,” Ned đáp. “Chỉ là món phụ, món tráng miệng thôi. Nhưng món súp đâu? Món quay đâu?”
“Đúng,” tôi nói. “Ned đã hứa với chúng ta sườn cốt lết, điều đối với tôi có vẻ rất đáng nghi.”
“Thưa ngài,” người Canada đáp, “cuộc săn của chúng ta không những chưa kết thúc, mà còn chưa bắt đầu. Kiên nhẫn! Chắc chắn cuối cùng chúng ta sẽ đụng phải con vật nào đó có lông vũ hoặc lông mao, nếu không ở vùng này thì ở vùng khác.”
“Và nếu không phải hôm nay, thì ngày mai, bởi chúng ta không được lang thang quá xa,” Conseil thêm. “Đó là lý do tôi đề nghị chúng ta trở về xuồng nhỏ.”
“Sao! Đã thế rồi ư!” Ned kêu lên.
“Chúng ta nên trở về trước khi trời tối,” tôi nói.
“Nhưng giờ là mấy giờ rồi?” người Canada hỏi.
“Ít nhất hai giờ,” Conseil đáp.
“Thời gian trôi nhanh biết bao trên đất rắn!” ông Ned Land thở dài tiếc nuối.
“Chúng ta đi thôi!” Conseil đáp.
Vậy là chúng tôi trở lại qua khu rừng, và chúng tôi hoàn tất mùa gặt bằng cách quét sạch vài đọt cọ phải hái từ ngọn cây, vài loại đậu nhỏ mà tôi nhận ra là “abrou” của người Malaysia, và một số củ mỡ chất lượng cao.
Khi đến xuồng nhỏ, chúng tôi đã chất nặng. Tuy nhiên, Ned Land vẫn thấy những nguồn dự trữ này chưa đủ. Nhưng vận may mỉm cười với ông. Đúng lúc chúng tôi lên xuồng, ông nhận ra vài cây cao hai mươi lăm đến ba mươi foot, thuộc loài cọ. Quý giá như artocarpus, những cây này được xếp một cách chính đáng vào số sản vật hữu ích nhất ở Malaysia.
Đó là cọ sago, loài thực vật mọc mà không cần trồng trọt; giống cây dâu tằm, chúng sinh sản bằng chồi và hạt.
Ned Land biết cách xử lý những cây này. Cầm rìu và vung nó hết sức mạnh mẽ, chẳng mấy chốc ông đã đặt nằm trên mặt đất hai hay ba cây cọ sago, độ trưởng thành của chúng lộ ra nhờ lớp bụi trắng rắc trên tàu lá cọ.
Tôi quan sát ông như một nhà tự nhiên học hơn là một người đang đói. Ông bắt đầu bằng cách bóc khỏi mỗi thân một dải vỏ dày một inch, bên dưới phủ một mạng lưới những sợi dài, rối bời vô vọng, được trét bằng một loại bột dính. Bột này là sago dạng tinh bột, một chất ăn được chủ yếu do các dân tộc Melanesia tiêu thụ.
Tạm thời, Ned Land chỉ chặt các thân cây này thành từng khúc, như thể ông đang bổ củi; về sau ông sẽ lấy bột bằng cách rây nó qua vải để tách khỏi các bó sợi, phơi nó khô dưới nắng, và để nó cứng lại trong khuôn.
Cuối cùng, lúc năm giờ chiều, chất đầy mọi kho báu của mình, chúng tôi rời bãi biển của đảo và nửa giờ sau cập mạn chiếc Nautilus. Không ai xuất hiện khi chúng tôi đến. Khối trụ tôn sắt khổng lồ dường như bị bỏ hoang. Sau khi chất các nguồn dự trữ lên tàu, tôi đi xuống phòng riêng. Ở đó tôi thấy bữa tối của mình đã sẵn sàng. Tôi ăn rồi ngủ thiếp đi.
Ngày hôm sau, 6 tháng 1: không có gì mới trên tàu. Không một âm thanh bên trong, không một dấu hiệu sự sống. Xuồng nhỏ vẫn nằm cạnh tàu ở đúng nơi chúng tôi đã để nó. Chúng tôi quyết định trở lại đảo Gueboroa. Ned Land hy vọng cuộc săn sẽ may mắn hơn hôm trước, và ông muốn ghé thăm một phần khác của khu rừng.
Lúc mặt trời mọc, chúng tôi đã khởi hành. Được một dòng chảy vào bờ đưa đi, xuồng dài đến đảo trong chốc lát.
Chúng tôi lên bờ, và cho rằng tốt nhất là làm theo bản năng của người Canada, chúng tôi đi theo Ned Land, người với đôi chân dài suýt bỏ xa chúng tôi.
Ned Land đi về phía tây dọc bờ biển; rồi, lội qua vài lòng suối, ông tới những đồng bằng trống được viền bởi các khu rừng tuyệt đẹp. Vài con chim bói cá rình dọc các dòng nước, nhưng chúng không để chúng tôi đến gần. Sự thận trọng của chúng chứng minh với tôi rằng những sinh vật có cánh này biết mình đang ở đâu trước các loài hai chân thuộc giống chúng ta, và tôi kết luận rằng nếu hòn đảo này không có người ở, thì ít nhất con người cũng thường ghé thăm nó.
Sau khi băng qua một đồng cỏ khá um tùm, chúng tôi đến rìa một khu rừng nhỏ, rộn rã bởi tiếng hát và những đường bay vút của một số lượng lớn chim chóc.
“Dẫu vậy, chúng chỉ là chim thôi,” Conseil nói.
“Nhưng một số ăn được,” người phóng lao đáp.
“Sai rồi, Ned bạn tôi,” Conseil trả lời, “bởi tôi chỉ thấy vẹt thường ở đây.”
“Conseil bạn tôi,” Ned đáp hết sức nghiêm túc, “vẹt cũng như gà lôi đối với những người chẳng có gì khác trên đĩa.”
“Và tôi có thể nói thêm,” tôi nói, “rằng khi được nấu đúng cách, những con chim này ít nhất cũng đáng để nếm bằng nĩa.”
Thật vậy, dưới tán lá rậm của khu rừng này, cả một đàn vẹt đông đúc bay lượn từ cành này sang cành khác, chỉ thiếu sự giáo dục thích hợp để nói các phương ngữ của loài người. Hiện giờ chúng đang quang quác hợp xướng với vẹt đuôi dài đủ màu, với những con vẹt mào trang nghiêm dường như đang suy tư về một vấn đề triết học nào đó, trong khi các con vẹt lory đỏ tươi bay qua như những mảnh cờ đuôi nheo được gió mang đi, giữa những con vẹt kalao ồn ào trên cánh, vẹt lory Papua được tô những sắc xanh da trời tinh tế nhất, và cả một loạt sinh vật có cánh tuyệt đẹp, không con nào quá ăn được.
Tuy nhiên, một loài chim độc nhất ở các bờ này, không bao giờ vượt khỏi ranh giới quần đảo Aru và Papua, lại vắng mặt trong bộ sưu tập này. Nhưng chẳng bao lâu tôi đã có dịp chiêm ngưỡng nó.
Sau khi băng qua một lùm cây tương đối rậm, chúng tôi lại tìm thấy vài đồng bằng bị các bụi cây cản trở. Ở đó tôi thấy vài con chim lộng lẫy bay cao, cách sắp xếp những chiếc lông dài khiến chúng bay ngược gió. Đường bay nhấp nhô, vẻ duyên dáng trong các đường cong trên không, và trò chơi màu sắc của chúng quyến rũ và làm mắt vui thích. Tôi không khó nhận diện chúng.
“Chim thiên đường!” tôi kêu lên.
“Bộ Passeriforma, phân bộ Clystomora,” Conseil đáp.
“Họ gà gô?” Ned Land hỏi.
“Tôi nghi ngờ điều đó, ông Land. Tuy nhiên, tôi trông cậy vào sự khéo léo của ông để bắt cho tôi một trong những đại diện tuyệt đẹp này của tự nhiên nhiệt đới!”
“Tôi sẽ thử, giáo sư, dù tôi thạo lao hơn súng trường.”
Người Malaysia, những người làm ăn rất phát đạt với người Trung Hoa bằng loài chim này, có nhiều phương pháp bắt chúng mà chúng tôi không thể dùng. Đôi khi họ đặt bẫy trên ngọn những cây cao mà chim thiên đường thích cư ngụ. Lúc khác họ bắt chúng bằng một thứ keo bền chắc làm tê liệt cử động của chúng. Họ thậm chí còn đi xa đến mức đầu độc các suối nơi những loài chim này quen uống nước. Nhưng trong trường hợp của chúng tôi, tất cả những gì có thể làm là bắn chúng khi đang bay, điều khiến chúng tôi có rất ít cơ hội lấy được một con. Và quả thật, chúng tôi phí mất một phần lớn đạn dược vô ích.
Gần mười một giờ sáng, chúng tôi vượt khỏi các sườn thấp của những ngọn núi tạo thành trung tâm hòn đảo, và vẫn chưa hạ được gì. Cơn đói thúc chúng tôi đi tiếp. Những người đi săn đã trông đợi được ăn thành quả của cuộc săn, và họ đã tính sai. May thay, và khiến chính anh ngạc nhiên, Conseil bắn một phát đôi trúng cả hai và bảo đảm bữa điểm tâm của chúng tôi. Anh hạ một con bồ câu trắng và một con cu gáy, chúng được nhanh chóng vặt lông, xiên vào que, rồi quay trên một đống lửa củi khô cháy rực. Trong lúc những con vật hấp dẫn này đang chín, Ned chuẩn bị một ít bánh từ artocarpus. Rồi bồ câu và cu gáy bị ăn đến tận xương và được tuyên bố là tuyệt hảo. Nhục đậu khấu, thứ những loài chim này thường ăn ngấu nghiến, làm thịt chúng ngọt và khiến nó thành món ngon lành.
“Chúng có vị như gà nhồi nấm truffle,” Conseil nói.
“Được rồi, Ned,” tôi hỏi người Canada, “giờ ông cần gì?”
“Thú săn bốn chân, Giáo sư Aronnax,” Ned Land đáp. “Tất cả những con bồ câu này chỉ là món khai vị, món ăn nhẹ. Cho nên đến khi nào tôi hạ được một con vật có sườn cốt lết, tôi sẽ không vui!”
“Tôi cũng vậy, Ned, cho đến khi tôi bắt được một con chim thiên đường.”
“Vậy thì chúng ta tiếp tục săn,” Conseil đáp, “nhưng trong lúc quay về phía biển. Chúng ta đã đến chân những ngọn núi này, và tôi nghĩ chúng ta sẽ gặp may hơn nếu trở lại các vùng rừng.”
Đó là lời khuyên tốt và chúng tôi làm theo. Sau một giờ đi bộ, chúng tôi tới một khu rừng cọ sago thật sự. Vài con rắn vô hại bỏ chạy dưới chân. Chim thiên đường lẩn đi khi chúng tôi đến gần, và tôi thật sự tuyệt vọng về việc bắt được một con thì Conseil, đang đi dẫn đầu, đột nhiên cúi xuống, hét lên chiến thắng, và trở lại với tôi, mang theo một con chim thiên đường lộng lẫy.
“Ôi, hoan hô, Conseil!” tôi kêu lên.
“Ngài quá tốt bụng,” Conseil đáp.
“Không chút nào, chàng trai của tôi. Đó là một cú thiên tài, bắt sống một trong những con chim này bằng tay không!”
“Nếu ngài xem xét nó kỹ, ngài sẽ thấy tôi không đáng được khen ngợi quá nhiều.”
“Vì sao vậy, Conseil?”
“Bởi con chim này say mềm như một ông chúa.”
“Say?”
“Vâng, thưa ngài, say vì những hạt nhục đậu khấu mà nó đang ăn ngấu nghiến dưới cây nhục đậu khấu nơi tôi bắt được nó. Nhìn đây, Ned bạn tôi, hãy nhìn những hậu quả ghê gớm của thói vô độ!”
“Quỷ thật!” người Canada bắn trả. “Xét đến lượng gin tôi đã uống trong hai tháng qua, anh chẳng có gì để phàn nàn đâu!”
Trong khi đó tôi đang quan sát con chim khác thường này. Conseil không nhầm. Say chếnh choáng vì thứ nước mạnh ấy, con chim thiên đường của chúng tôi đã bị làm cho bất lực. Nó không thể bay. Nó hầu như không thể đi. Nhưng điều này không làm tôi lo, và tôi cứ để nó ngủ cho qua cơn say nhục đậu khấu.
Con chim này thuộc loài đẹp nhất trong tám loài được ghi nhận ở Papua và các đảo lân cận. Nó là một “ngọc lục bảo lớn,” một trong những loài chim thiên đường hiếm nhất. Nó dài ba đềximét. Đầu nó tương đối nhỏ, và đôi mắt, đặt gần chỗ mở của mỏ, cũng nhỏ. Nhưng nó bày ra một hỗn hợp sắc màu tuyệt diệu: mỏ vàng, chân và móng nâu, cánh màu hạt dẻ với chóp tím, đầu và gáy vàng nhạt, họng ngọc lục bảo, bụng và ngực từ đỏ sẫm đến nâu. Hai sợi, làm bằng một chất sừng phủ lông tơ, vươn lên trên đuôi, mà lại được kéo dài bằng những chiếc lông dài, rất nhẹ, mịn đẹp kỳ diệu, và chúng hoàn tất bộ trang phục của con chim kỳ diệu này, loài mà dân đảo đặt tên thơ mộng là “chim mặt trời.”
Tôi đã ước ao biết bao được mang con chim thiên đường tuyệt đẹp này về Paris, để tặng nó cho vườn thú trong Vườn Bách thảo, nơi không có một mẫu vật sống nào.
“Vậy chắc nó hiếm hay gì đó?” người Canada hỏi, bằng giọng của một thợ săn, người theo quan điểm nghệ thuật của mình, đánh giá con mồi khá thấp.
“Một loài rất hiếm, đồng chí can đảm của tôi, và trên hết rất khó bắt sống. Ngay cả sau khi chết, vẫn có một thị trường lớn cho những con chim này. Vì thế người bản xứ đã nghĩ ra cách làm chim giả, như người ta làm ngọc trai giả hay kim cương giả.”
“Sao!” Conseil kêu lên. “Họ làm chim thiên đường giả sao?”
“Phải, Conseil.”
“Và ngài biết người dân đảo làm việc đó như thế nào không?”
“Hoàn toàn biết. Trong mùa gió mùa đông, chim thiên đường mất những chiếc lông lộng lẫy quanh đuôi mà các nhà tự nhiên học gọi là lông ‘dưới cánh’. Những chiếc lông này được những người làm giả chim thu gom và khéo léo gắn lên một con vẹt tội nghiệp đã bị cắt xén trước đó. Rồi họ sơn phủ đường nối, đánh vecni con chim, và gửi thành quả lao động độc đáo của mình đến các bảo tàng và nhà sưu tập ở châu Âu.”
“Cũng được!” Ned Land chen vào. “Nếu không phải đúng con chim, thì vẫn là đúng lông, và miễn hàng hóa không dùng để ăn, tôi thấy chẳng hại gì lắm!”
Nhưng nếu mong muốn của tôi được thỏa mãn bằng việc bắt được con chim thiên đường này, thì những mong muốn của người thợ săn Canada của chúng tôi vẫn chưa được đáp ứng. May thay, gần hai giờ, Ned Land hạ một con lợn rừng tuyệt đẹp thuộc loại mà người bản xứ gọi là “bari-outang.” Con vật này đến đúng lúc để chúng tôi thu được ít thịt bốn chân thật sự, và nó được chào đón nồng nhiệt. Ned Land chứng tỏ mình hết sức vinh quang bằng phát súng. Trúng một viên đạn điện, con lợn ngã chết ngay tại chỗ.
Người Canada lột da và làm sạch nó đúng cách, sau khi lấy ra nửa tá miếng cốt lết định dùng làm món thịt nướng trong bữa tối của chúng tôi. Rồi cuộc săn lại tiếp tục, và một lần nữa sẽ được đánh dấu bằng những chiến công của Ned và Conseil.
Thật vậy, khi phát bụi cây, hai người bạn làm bật ra một đàn kangaroo bỏ chạy bằng cách nhảy vọt trên đôi chân đàn hồi. Nhưng những con vật này không chạy nhanh đến mức các viên nang điện của chúng tôi không thể bắt kịp chúng.
“Ôi, giáo sư!” Ned Land hét lên, cơn sốt săn bắn đã xông lên óc ông. “Thật là thịt săn tuyệt hảo, nhất là nấu ragu! Thật là một nguồn dự trữ cho chiếc Nautilus! Hai, ba, năm con gục rồi! Và cứ nghĩ xem chúng ta sẽ tự mình ngốn hết số thịt này, trong khi những tên ngốc trên tàu sẽ không được một mẩu!”
Trong niềm hân hoan không kiểm soát nổi, tôi nghĩ người Canada hẳn đã tàn sát cả đàn, nếu ông không quá bận nói! Nhưng ông hài lòng với một tá thú có túi hấp dẫn này, vốn tạo thành bộ thứ nhất của thú có vú không nhau, như Conseil nhất định phải nói với chúng tôi.
Những con vật này vóc dáng nhỏ. Chúng là một loài trong số “kangaroo thỏ” thường sống trong các hốc cây và cực kỳ nhanh; nhưng dù kích thước vừa phải, ít nhất chúng cung cấp thứ thịt được đánh giá rất cao.
Chúng tôi hoàn toàn hài lòng với kết quả cuộc săn của mình. Một Ned hớn hở đề nghị rằng ngày hôm sau chúng tôi quay lại hòn đảo thần kỳ này, nơi ông định làm nó mất sạch mọi loài bốn chân ăn được. Nhưng ông đã tính toán mà không lường đến biến cố.
Đến sáu giờ tối, chúng tôi trở lại bãi biển. Xuồng nhỏ mắc cạn ở chỗ quen thuộc. Chiếc Nautilus, trông như một rạn đá dài, nhô lên khỏi sóng cách bờ hai dặm.
Không chần chừ, Ned Land bắt tay vào công việc quan trọng của bữa tối. Ông xoay xở kỳ diệu với toàn bộ việc nấu nướng. Nướng trên than, những miếng cốt lết từ “bari-outang” chẳng mấy chốc tỏa ra một mùi thơm ngọt thịt làm ngát không khí.
Nhưng tôi tự bắt gặp mình đang theo dấu chân người Canada. Nhìn tôi mà xem—ngây ngất trước thịt heo tươi nướng! Xin hãy ban cho tôi một lời tha thứ như tôi đã ban cho ông Land, và vì cùng những lý do!
Tóm lại, bữa tối tuyệt hảo. Hai con cu gáy hoàn thiện thực đơn khác thường này. Bột sago, bánh từ artocarpus, xoài, nửa tá dứa, và rượu lên men từ vài trái dừa nâng cao niềm hân hoan của chúng tôi. Tôi nghi rằng hai bạn đồng hành tốt bụng của tôi không còn sáng suốt như người ta có thể mong.
“Nếu tối nay chúng ta không trở về chiếc Nautilus thì sao?” Conseil nói.
“Nếu chúng ta không bao giờ trở về thì sao?” Ned Land thêm.
Đúng lúc ấy, một hòn đá rít về phía chúng tôi, rơi xuống dưới chân chúng tôi, và cắt ngang đề xuất của người phóng lao.
### CHƯƠNG 22
Những tia sét của Thuyền trưởng Nemo
KHÔNG ĐỨNG DẬY, chúng tôi nhìn về phía khu rừng, tay tôi dừng nửa chừng trên đường đưa lên miệng, còn tay Ned Land hoàn thành nhiệm vụ của nó.
“Đá không rơi từ trời xuống,” Conseil nói, “nếu không chúng đáng được gọi là thiên thạch.”
Một hòn đá thứ hai, nhẵn bóng, giật khỏi tay Conseil một chiếc đùi cu gáy ngon lành, càng làm nhận xét của anh thêm xác đáng.
Cả ba chúng tôi đều đứng dậy, súng trên vai, sẵn sàng đáp trả bất cứ cuộc tấn công nào.
“Có lẽ là vượn?” Ned Land kêu lên.
“Gần đúng,” Conseil đáp. “Người man rợ.”
“Ra xuồng!” tôi nói, tiến về phía biển.
Quả thật, rút lui là điều thiết yếu, bởi khoảng hai mươi người bản xứ, trang bị cung và dây phóng đá, xuất hiện cách chúng tôi chưa đầy một trăm bước, ở rìa một lùm cây che khuất chân trời bên phải chúng tôi.
Xuồng nhỏ mắc cạn cách chúng tôi mười sải.
Những người man rợ tiến lại không chạy, nhưng họ dành cho chúng tôi một màn biểu lộ thù địch cực độ. Đá và tên trút xuống như mưa.
Ned Land không muốn bỏ lại lương thực của mình, và bất chấp nguy hiểm sắp ập tới, ông ôm con lợn một bên, mấy con kangaroo một bên, rồi phóng đi với tốc độ đáng nể.
Trong hai phút chúng tôi đã ở trên dải cát. Chất lương thực và vũ khí vào xuồng nhỏ, đẩy nó ra biển, và đặt hai mái chèo vào vị trí—mọi việc được làm trong chớp mắt. Chúng tôi chưa đi được hai tầm dây cáp thì một trăm người man rợ, vừa hú vừa khoa tay múa chân, lội xuống nước đến ngang thắt lưng. Tôi nhìn xem liệu sự xuất hiện của họ có lôi vài người của chiếc Nautilus lên sàn ngoài không. Nhưng không. Nằm ngoài xa, cỗ máy khổng lồ ấy vẫn dường như hoàn toàn bị bỏ hoang.
Hai mươi phút sau chúng tôi lên tàu. Các cửa sập đang mở. Sau khi buộc xuồng nhỏ, chúng tôi lại vào bên trong chiếc Nautilus.
Tôi đi xuống phòng khách, nơi một vài hợp âm đang bay ra. Thuyền trưởng Nemo ở đó, cúi trên cây đàn organ, chìm sâu trong một cơn mê âm nhạc.
“Thuyền trưởng!” tôi nói với ông.
Ông không nghe tôi.
“Thuyền trưởng!” tôi nói tiếp, chạm tay vào ông.
Ông run lên, rồi quay lại:
“À, ông đấy sao, giáo sư!” ông nói với tôi. “Thế nào, ông săn có vui không? Việc hái thảo mộc của ông có thành công không?”
“Có, thuyền trưởng,” tôi đáp, “nhưng không may chúng tôi đã đem về một bầy hai chân mà sự gần gũi của họ làm tôi lo ngại.”
“Loại hai chân nào?”
“Người man rợ.”
“Người man rợ!” Thuyền trưởng Nemo đáp bằng một giọng mỉa mai. “Ông đặt chân lên một bờ biển nào đó của địa cầu này, giáo sư, và ông ngạc nhiên khi tìm thấy người man rợ ở đó sao? Ở đâu chẳng có người man rợ? Và hơn nữa, những người ông gọi là man rợ ấy có tệ hơn người ở nơi khác không?”
“Nhưng thuyền trưởng—”
“Về phần tôi, thưa ông, tôi đã gặp họ khắp nơi.”
“Vậy thì,” tôi đáp, “nếu ông không muốn đón họ lên chiếc Nautilus, tốt hơn ông nên có vài biện pháp phòng ngừa!”
“Dễ thôi, giáo sư, không có lý do gì phải hoảng.”
“Nhưng những người bản xứ ấy rất đông.”
“Ông đếm được bao nhiêu?”
“Ít nhất một trăm.”
“Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo đáp, các ngón tay của ông lại đặt vào phím đàn organ, “nếu mọi dân đảo ở Papua tụ tập trên bãi biển ấy, chiếc Nautilus vẫn chẳng có gì phải sợ trước các cuộc tấn công của họ!”
Rồi các ngón tay của thuyền trưởng lướt trên bàn phím nhạc cụ, và tôi nhận thấy ông chỉ chạm vào các phím đen, khiến giai điệu của ông mang một màu sắc căn bản kiểu Scotland. Chẳng mấy chốc ông đã quên sự hiện diện của tôi và chìm trong một cơn mơ màng mà tôi không còn cố xua tan nữa.
Tôi trèo lên sàn ngoài. Đêm đã buông, bởi ở vĩ độ thấp này mặt trời lặn rất nhanh, không có hoàng hôn. Tôi chỉ lờ mờ thấy đảo Gueboroa. Nhưng vô số đống lửa đã được nhóm trên bãi biển, chứng tỏ người bản xứ không hề có ý định rời khỏi đó.
Trong vài giờ tôi bị bỏ mặc một mình, khi thì suy tưởng về dân đảo—nhưng không còn sợ họ nữa vì sự tự tin không lay chuyển của thuyền trưởng đã thuyết phục tôi—khi thì quên họ đi để kinh ngạc trước vẻ huy hoàng của đêm nhiệt đới này. Ký ức của tôi chắp cánh bay về nước Pháp, theo dấu những ngôi sao hoàng đạo sắp lấp lánh trên đó trong vài giờ nữa. Mặt trăng tỏa sáng giữa các chòm sao ở thiên đỉnh. Khi ấy tôi nhớ rằng vệ tinh trung thành, hiền lành này sẽ trở lại cùng chỗ ấy vào ngày kia, để nâng thủy triều và xé chiếc Nautilus khỏi lòng san hô của nó. Gần nửa đêm, thấy mọi thứ yên tĩnh trên những làn sóng tối cũng như dưới các hàng cây ven nước, tôi lui về cabin và rơi vào giấc ngủ bình yên.
Đêm trôi qua không sự cố. Hẳn người Papua đã bị chính cảnh tượng con quái vật mắc cạn trong vịnh làm cho khiếp sợ, bởi các cửa sập của chúng tôi vẫn mở, đem lại lối vào dễ dàng bên trong chiếc Nautilus.
Sáu giờ sáng ngày 8 tháng 1, tôi trèo lên sàn ngoài. Bóng tối buổi sớm đang tan. Hòn đảo chẳng mấy chốc hiện ra qua những làn sương đang rã, trước hết là các bãi biển, rồi đến các đỉnh cao.
Dân đảo vẫn ở đó, đông hơn hôm trước, có lẽ 500 hay 600 người. Lợi dụng triều thấp, một số người đã tiến lên trên các đầu san hô đến cách chiếc Nautilus chừng hai tầm dây cáp. Tôi có thể phân biệt họ dễ dàng. Rõ ràng họ là người Papua đích thực, những người thuộc nòi giống đẹp, vóc dáng lực lưỡng, trán cao và rộng, mũi lớn nhưng không tẹt, răng trắng. Mái tóc xoăn như len, nhuộm sắc đỏ, tương phản sắc nét với thân thể họ, đen và bóng như thân thể người Nubia. Dưới các dái tai bị xỏ và kéo giãn của họ lủng lẳng những chuỗi hạt làm bằng xương. Nói chung những người man rợ này đều trần truồng. Tôi nhận thấy vài phụ nữ giữa họ, mặc váy cỏ từ hông đến gối, được giữ bằng thắt lưng làm từ cây cỏ. Một số tù trưởng trang điểm cổ bằng những lưỡi liềm và vòng cổ làm từ hạt thủy tinh đỏ trắng. Trang bị cung, tên và khiên, gần như tất cả đều mang trên vai một loại lưới, trong đó giữ những hòn đá nhẵn mà dây phóng đá của họ ném đi với sự khéo léo như thế.
Một trong những tù trưởng này tiến khá gần chiếc Nautilus, cẩn thận xem xét nó. Hẳn hắn là một “mado” cấp cao, bởi hắn phô trương một tấm chiếu lá chuối có viền rách và được điểm bằng những màu sáng.
Tôi có thể dễ dàng bắn hạ dân đảo này, vì hắn đứng ở tầm gần đến thế; nhưng tôi nghĩ tốt hơn nên chờ một biểu hiện thù địch thật sự. Giữa người châu Âu và người man rợ, người châu Âu bắn trả thì có thể chấp nhận, nhưng không được tấn công trước.
Trong suốt thời gian triều thấp này, dân đảo rình gần chiếc Nautilus, nhưng họ không ồn ào. Tôi thường nghe họ lặp lại từ “assai”, và từ các cử chỉ của họ, tôi hiểu họ đang mời tôi lên bờ, một lời mời mà tôi thấy buộc phải từ chối.
Vậy là xuồng nhỏ không rời mạn tàu trong ngày hôm ấy, khiến ông Land rất bất bình vì không thể hoàn tất nguồn dự trữ của mình. Người Canada khéo léo dành thời gian chuẩn bị các loại thịt và bột mà ông đã mang từ đảo Gueboroa về. Còn những người man rợ, họ trở lại bờ gần mười một giờ sáng, khi các đầu san hô bắt đầu biến mất dưới sóng triều đang dâng. Nhưng tôi thấy số lượng của họ tăng đáng kể trên bãi biển. Có lẽ họ đến từ những đảo lân cận hoặc từ đất liền Papua. Tuy nhiên, tôi không thấy một chiếc thuyền độc mộc địa phương nào.
Không có việc gì tốt hơn để làm, tôi quyết định kéo lưới cào những vùng nước đẹp và trong này, nơi phô bày vô số vỏ sò, động vật hình cây và thực vật biển khơi. Hơn nữa, đó là ngày cuối cùng chiếc Nautilus sẽ ở trong các thủy lộ này, nếu ngày mai nó vẫn nổi ra biển khơi như Thuyền trưởng Nemo đã hứa.
Vì vậy tôi gọi Conseil, anh mang đến cho tôi một chiếc lưới cào nhỏ, nhẹ, giống loại dùng trong nghề đánh bắt hàu.
“Còn những người man rợ này thì sao?” Conseil hỏi tôi. “Với tất cả sự kính trọng dành cho ngài, họ không gây cho tôi ấn tượng là rất độc ác!”
“Dù sao họ vẫn là những kẻ ăn thịt người, chàng trai của tôi.”
“Một người có thể vừa là kẻ ăn thịt người vừa là một người tử tế,” Conseil đáp, “cũng như một người có thể vừa tham ăn vừa đáng kính. Cái này không loại trừ cái kia.”
“Tốt, Conseil! Và tôi đồng ý rằng có những kẻ ăn thịt người đáng kính, những người ăn tù binh của mình một cách tử tế. Tuy nhiên, tôi phản đối việc bị ăn thịt, ngay cả trong mọi sự tử tế, nên tôi sẽ cảnh giác, đặc biệt vì vị chỉ huy chiếc Nautilus dường như không thực hiện biện pháp phòng ngừa nào. Và bây giờ chúng ta bắt tay vào việc!”
Trong hai giờ, việc đánh bắt của chúng tôi tiến hành hăng hái nhưng không kéo lên vật hiếm nào. Lưới cào của chúng tôi đầy bào ngư Midas, vỏ ốc đàn hạc, ốc tháp, và đặc biệt là những vỏ sò búa đẹp nhất tôi từng thấy cho đến ngày hôm ấy. Chúng tôi cũng thu được vài con hải sâm, một số trai ngọc, và một tá rùa nhỏ mà chúng tôi giữ lại cho kho thực phẩm của tàu.
Nhưng đúng lúc tôi ít ngờ nhất, tôi đặt tay lên một kỳ vật, một dị dạng tự nhiên phải gọi là vậy, một thứ rất hiếm gặp. Conseil vừa kéo một mẻ lưới cào, và dụng cụ của anh trở lên chất đầy nhiều loại vỏ sò khá bình thường, thì đột nhiên anh thấy tôi nhanh chóng thọc tay vào lưới, rút ra một con vật có vỏ, rồi phát ra một tiếng hét vỏ ốc học, nói cách khác, tiếng hét chói tai nhất mà cổ họng con người có thể phát ra.
“Hả? Ngài bị sao vậy?” Conseil hỏi, rất kinh ngạc. “Ngài bị cắn à?”
“Không, chàng trai của tôi, nhưng tôi sẵn lòng hy sinh một ngón tay vì một phát hiện như thế!”
“Phát hiện gì?”
“Vỏ này,” tôi nói, trưng ra đối tượng chiến thắng của mình.
“Nhưng đó chỉ là một vỏ ốc ô-liu thuộc loài ‘ô-liu lều’, giống Oliva, bộ Pectinibranchia, lớp Gastropoda, ngành Mollusca—”
“Phải, phải, Conseil! Nhưng thay vì cuộn từ phải sang trái, vỏ ô-liu này lại xoắn từ trái sang phải!”
“Không thể nào!” Conseil kêu lên.
“Phải, chàng trai của tôi, đó là một vỏ thuận tay trái!”
“Một vỏ thuận tay trái!” Conseil lặp lại, tim đập mạnh.
“Hãy nhìn đường xoắn của nó!”
“Ôi, ngài có thể tin tôi về chuyện này,” Conseil nói, cầm chiếc vỏ quý giá trong đôi tay run rẩy, “nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy phấn khích đến thế!”
Và có lý do chính đáng để phấn khích! Thật vậy, như các nhà tự nhiên học đã mạnh dạn quan sát, “tính thuận phải” là một quy luật nổi tiếng của tự nhiên. Trong các chuyển động quay và quỹ đạo, các ngôi sao cùng vệ tinh của chúng đi từ phải sang trái. Con người sử dụng tay phải thường xuyên hơn tay trái, và do đó các dụng cụ cùng thiết bị khác nhau của họ (cầu thang, ổ khóa, lò xo đồng hồ, v.v.) được thiết kế để sử dụng theo cách từ phải sang trái. Thế thì, tự nhiên nói chung đã tuân theo quy luật này khi cuộn các vỏ của nàng. Chúng thuận phải, chỉ trừ những ngoại lệ hiếm hoi, và khi tình cờ đường xoắn của một vỏ là thuận trái, các nhà sưu tập sẽ trả bằng trọng lượng vàng của nó.
Vậy là Conseil và tôi đang chìm sâu trong việc chiêm ngưỡng kho báu của mình, và tôi đang long trọng tự hứa sẽ làm phong phú Bảo tàng Paris bằng nó, thì một hòn đá đến không đúng lúc, do một trong những dân đảo ném, rít tới và làm vỡ tan vật quý trong tay Conseil.
Tôi thét lên tuyệt vọng! Conseil lao vào khẩu súng trường của mình và nhắm vào một người man rợ đang vung dây phóng đá chỉ cách anh mười mét. Tôi cố ngăn anh, nhưng phát súng của anh đã nổ và làm vỡ một vòng bùa hộ mệnh lủng lẳng trên cánh tay người dân đảo.
“Conseil!” tôi hét. “Conseil!”
“Hả? Sao? Chẳng phải ngài thấy tên ăn thịt người này khơi mào cuộc tấn công sao?”
“Một chiếc vỏ không đáng bằng một mạng người!” tôi nói với anh.
“Ôi, tên vô lại!” Conseil kêu lên. “Thà hắn làm gãy vai tôi còn hơn!”
Conseil nghiêm túc thật sự, nhưng tôi không tán thành quan điểm của anh. Tuy nhiên, tình thế đã thay đổi chỉ trong một thời gian ngắn mà chúng tôi không nhận ra. Lúc này khoảng hai mươi thuyền độc mộc đang bao quanh chiếc Nautilus. Khoét từ thân cây, những chiếc độc mộc này dài, hẹp, và được thiết kế tốt cho tốc độ, giữ thăng bằng bằng hai cây tre nổi trên mặt nước. Chúng được điều khiển bởi những tay chèo khéo léo, bán khỏa thân, và tôi nhìn sự tiến lại của chúng với sự lo ngại rõ rệt.
Rõ ràng những người Papua này đã từng giao thiệp với người châu Âu và biết tàu bè của họ. Nhưng khối trụ sắt dài này nằm trong vịnh, không cột buồm hay ống khói—họ phải nghĩ gì về nó? Chẳng có gì tốt, bởi ban đầu họ giữ nó ở khoảng cách kính cẩn. Tuy nhiên, thấy nó nằm bất động, họ dần dần lấy lại lòng tin và cố làm quen với nó hơn. Thế nhưng, chính sự làm quen này là điều chúng tôi cần ngăn chặn. Vì vũ khí của chúng tôi không phát ra tiếng khi nổ, chúng sẽ chỉ có tác dụng vừa phải đối với những dân đảo này, những người nổi tiếng là không tôn trọng gì ngoài các cơ cấu ồn ào. Không có tiếng sấm, tia chớp sẽ kém đáng sợ hơn nhiều, dù nguy hiểm nằm ở ánh chớp chứ không phải tiếng động.
Đúng lúc ấy, các thuyền độc mộc tiến gần chiếc Nautilus hơn, và một đám mây tên bắn tung lên phía chúng tôi.

“Lửa địa ngục, mưa đá rồi!” Conseil nói. “Và có lẽ là mưa đá tẩm độc!”
“Chúng ta phải báo cho Thuyền trưởng Nemo,” tôi nói, trở vào cửa sập.
Tôi đi xuống phòng khách. Tôi không thấy ai ở đó. Tôi liều gõ cửa mở vào phòng riêng của thuyền trưởng.
Tiếng “Vào đi!” đáp lại tôi. Tôi bước vào và thấy Thuyền trưởng Nemo đang bận với các phép tính, trong đó không thiếu X và các ký hiệu đại số khác.
“Tôi có làm phiền ông không?” tôi nói vì lịch sự.
“Đúng vậy, Giáo sư Aronnax,” thuyền trưởng đáp. “Nhưng tôi hình dung ông có lý do cấp bách để tìm tôi?”
“Rất cấp bách. Các thuyền độc mộc của người bản xứ đang bao quanh chúng ta, và trong vài phút nữa chắc chắn chúng ta sẽ bị vài trăm người man rợ tấn công.”
“À!” Thuyền trưởng Nemo bình thản chen vào. “Họ đến bằng thuyền độc mộc?”
“Vâng, thưa ông.”
“Chà, thưa ông, đóng các cửa sập hẳn là đủ.”
“Chính xác, và đó là điều tôi đến nói với ông—”
“Không có gì dễ hơn,” Thuyền trưởng Nemo nói.
Và ông nhấn một nút điện, truyền một mệnh lệnh đến khoang thủy thủ đoàn.
“Đó, thưa ông, mọi việc đã được kiểm soát!” ông nói với tôi sau vài khoảnh khắc. “Xuồng nhỏ đã vào chỗ và các cửa sập đã đóng. Tôi không tưởng tượng ông lo rằng các quý ông này sẽ phá được những vách mà đạn pháo từ tàu hộ vệ của ông không thể xuyên thủng chứ?”
“Không, thuyền trưởng, nhưng vẫn còn một nguy hiểm.”
“Là gì, thưa ông?”
“Ngày mai vào khoảng giờ này, chúng ta cần mở lại các cửa sập để đổi mới không khí của chiếc Nautilus.”
“Không tranh cãi gì, thưa ông, vì con tàu của chúng ta thở theo cách loài cá voi ưa chuộng.”
“Nhưng nếu những người Papua này đang chiếm sàn ngoài vào lúc đó, tôi không thấy làm sao ông có thể ngăn họ vào.”
“Vậy, thưa ông, ông cho rằng họ sẽ lên tàu?”
“Tôi chắc chắn như vậy.”
“Chà, thưa ông, cứ để họ lên. Tôi không thấy lý do gì để ngăn họ. Suy cho cùng họ chỉ là những kẻ đáng thương, những người Papua này, và tôi không muốn chuyến thăm đảo Gueboroa của mình phải trả bằng mạng sống của dù chỉ một người trong số những con người bất hạnh ấy!”
Nghe đến đây tôi định rút lui; nhưng Thuyền trưởng Nemo giữ tôi lại và mời tôi ngồi cạnh ông. Ông hỏi tôi với sự quan tâm về các cuộc du ngoạn lên bờ và việc săn bắn của chúng tôi, nhưng dường như không hiểu khát vọng mãnh liệt của người Canada đối với thịt đỏ. Rồi cuộc trò chuyện của chúng tôi lướt qua nhiều đề tài khác nhau, và dù không cởi mở hơn, Thuyền trưởng Nemo tỏ ra dễ mến hơn.
Giữa nhiều chuyện khác, chúng tôi nói đến tình thế của chiếc Nautilus, mắc cạn trong cùng eo biển nơi Thuyền trưởng Dumont d’Urville đã suýt gặp nạn. Rồi, liên quan đến điều này:
“Ông ấy là một trong những người đi biển vĩ đại của các ông,” thuyền trưởng nói với tôi, “một trong những nhà hàng hải sắc sảo nhất của các ông, d’Urville ấy! Ông ấy là Thuyền trưởng Cook của người Pháp. Một người khôn ngoan nhưng không may! Đương đầu với các bãi băng Nam Cực, san hô châu Đại Dương, những kẻ ăn thịt người ở Thái Bình Dương, chỉ để chết thảm trong một tai nạn tàu hỏa! Nếu con người đầy nghị lực ấy đã có thể nghĩ về đời mình trong những giây cuối, hãy hình dung những ý nghĩ cuối cùng của ông ấy hẳn là gì!”
Khi nói, Thuyền trưởng Nemo dường như xúc động sâu sắc, một cảm xúc mà tôi cho là điểm đáng quý của ông.
Rồi, hải đồ trong tay, chúng tôi trở lại với các chiến công của nhà hàng hải Pháp: những chuyến đi vòng quanh địa cầu của ông, nỗ lực kép của ông ở Nam Cực, dẫn đến việc ông phát hiện bờ Adélie và bán đảo Louis-Philippe, cuối cùng là các khảo sát thủy văn của ông về những đảo chính ở châu Đại Dương.
“Điều d’Urville của các ông đã làm trên mặt biển,” Thuyền trưởng Nemo nói với tôi, “tôi đã làm trong lòng đại dương, nhưng dễ dàng hơn, trọn vẹn hơn ông ấy. Liên tục bị bão tố quăng quật, Zealous và chiếc Astrolabe mới không thể sánh với chiếc Nautilus, một phòng làm việc yên tĩnh thật sự nghỉ ngơi giữa lòng nước!”
“Dẫu vậy, thuyền trưởng,” tôi nói, “có một điểm tương đồng lớn giữa các tàu chiến nhỏ của Dumont d’Urville và chiếc Nautilus.”
“Là gì, thưa ông?”
“Giống chúng, chiếc Nautilus đã mắc cạn!”
“Chiếc Nautilus không mắc cạn, thưa ông,” Thuyền trưởng Nemo lạnh lùng đáp. “Chiếc Nautilus được đóng để nghỉ trên đáy đại dương, và tôi không cần tiến hành những công việc nặng nhọc, những thao tác mà d’Urville đã phải thử để làm nổi các tàu chiến nhỏ của ông. Zealous và chiếc Astrolabe mới suýt chết, nhưng chiếc Nautilus của tôi không hề gặp nguy hiểm. Ngày mai, đúng ngày đã nói và đúng giờ đã nói, thủy triều sẽ êm đềm nâng nó lên, và nó sẽ tiếp tục hành trình qua các biển.”
“Thuyền trưởng,” tôi nói, “tôi không nghi ngờ—”
“Ngày mai,” Thuyền trưởng Nemo thêm, đứng dậy, “ngày mai lúc 2 giờ 40 phút chiều, chiếc Nautilus sẽ nổi lên và rời eo biển Torres mà không hư hại.”
Thốt những lời ấy bằng một giọng cực kỳ sắc, Thuyền trưởng Nemo cúi chào cụt lủn. Đó là lệnh cho tôi lui, và tôi trở vào phòng riêng.
Ở đó tôi thấy Conseil, người muốn biết kết quả cuộc gặp của tôi với thuyền trưởng.
“Chàng trai của tôi,” tôi đáp, “khi tôi bày tỏ niềm tin rằng những người bản xứ Papua này là mối đe dọa đối với chiếc Nautilus của ông, thuyền trưởng đã trả lời tôi bằng sự mỉa mai sâu sắc. Vì vậy tôi chỉ có một điều muốn nói với anh: hãy tin ông ấy và ngủ yên.”
“Ngài không cần tôi phục vụ sao?”
“Không, bạn tôi. Ned Land đang làm gì?”
“Xin ngài lượng thứ,” Conseil đáp, “nhưng bạn Ned của chúng ta đang chế biến một chiếc bánh nhân kangaroo sẽ là kỳ quan thứ tám!”
Tôi bị bỏ lại một mình; tôi lên giường nhưng ngủ khá tệ. Tôi cứ nghe tiếng ồn từ những người man rợ, họ đang giậm chân trên sàn ngoài và phát ra những tiếng gào chói tai. Đêm trôi qua như thế, mà thủy thủ đoàn không hề thoát khỏi trạng thái bất động thường ngày của họ. Họ chẳng bị sự hiện diện của những kẻ ăn thịt người này quấy rầy hơn những người lính trong một pháo đài bọc thép bị lũ kiến chạy trên tấm giáp làm phiền.
Tôi thức dậy lúc sáu giờ sáng. Các cửa sập chưa mở. Vậy là không khí bên trong chưa được đổi mới; nhưng các bình khí vẫn luôn được giữ đầy cho mọi tình huống và sẽ hoạt động thích hợp để phóng vài mét khối oxy vào bầu khí quyển loãng của chiếc Nautilus.
Tôi làm việc trong phòng riêng đến trưa mà không thấy Thuyền trưởng Nemo dù chỉ một thoáng. Không ai trên tàu dường như đang chuẩn bị gì cho việc khởi hành.
Tôi còn chờ một lúc, rồi đi tới phòng khách chính. Đồng hồ của nó chỉ 2 giờ 30. Trong mười phút nữa thủy triều sẽ đạt độ cao tối đa, và nếu Thuyền trưởng Nemo không hứa liều, chiếc Nautilus sẽ lập tức thoát ra. Nếu không, nhiều tháng có thể trôi qua trước khi nó rời được lòng san hô.
Nhưng chẳng mấy chốc có thể cảm thấy vài rung động sơ khởi trên thân tàu. Tôi nghe lớp vỏ của nó nghiến vào bề mặt đá vôi gồ ghề của nền san hô.
Lúc 2 giờ 35, Thuyền trưởng Nemo xuất hiện trong phòng khách.
“Chúng ta sắp khởi hành,” ông nói.
“À!” tôi chen vào.
“Tôi đã ra lệnh mở các cửa sập.”
“Còn người Papua?”
“Còn họ thì sao?” Thuyền trưởng Nemo đáp, khẽ nhún vai.
“Họ sẽ không vào bên trong chiếc Nautilus sao?”
“Họ xoay xở bằng cách nào?”
“Bằng cách nhảy xuống các cửa sập mà ông sắp mở.”
“Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo bình thản đáp, “các cửa sập của chiếc Nautilus không phải thứ người ta đi vào theo cách ấy, ngay cả khi chúng mở.”
Tôi há hốc nhìn thuyền trưởng.
“Ông không hiểu?” ông nói với tôi.
“Hoàn toàn không.”
“Vậy thì đi cùng tôi và ông sẽ thấy!”
Tôi đi tới cầu thang trung tâm. Ở đó, vô cùng bối rối, Ned Land và Conseil nhìn các thủy thủ mở cửa sập, trong khi một tiếng ồn khủng khiếp và những tiếng gào giận dữ vang dội bên ngoài.
Các nắp cửa sập bật ngược lên lớp vỏ ngoài. Hai mươi gương mặt ghê tởm hiện ra. Nhưng khi người dân đảo đầu tiên đặt tay lên lan can cầu thang, hắn bị một sức mạnh vô hình nào đó, Chúa biết là gì, hất ngược ra sau! Hắn bỏ chạy, gào rú vì kinh hoàng và nhảy nhót cuồng loạn.
Mười đồng bạn của hắn theo sau. Cả mười đều chịu chung số phận.
Conseil ngây ngất. Bị bản năng dữ dội cuốn đi, Ned Land nhảy lên cầu thang. Nhưng ngay khi hai tay ông nắm lấy lan can, đến lượt ông cũng bị hất ngược ra sau.
“Quỷ tha ma bắt!” ông kêu lên. “Tôi bị một tia sét đánh trúng rồi!”
Những lời này giải thích tất cả cho tôi. Đó không chỉ là một lan can dẫn lên sàn ngoài, mà là một dây cáp kim loại được nạp đầy điện của con tàu. Bất cứ ai chạm vào nó đều nhận một cú sốc đáng sợ—và cú sốc ấy hẳn đã chí mạng nếu Thuyền trưởng Nemo phóng toàn bộ dòng điện từ thiết bị của mình vào dây dẫn này! Có thể nói một cách trung thực rằng ông đã căng giữa mình và những kẻ tấn công một mạng lưới điện mà không ai có thể vượt qua mà không bị trừng phạt.
Trong khi đó, phát điên vì kinh hãi, những người Papua mất trí rút lui. Còn chúng tôi, nửa cười, vừa xoa bóp vừa an ủi Ned Land tội nghiệp, người đang chửi thề như bị quỷ ám.
Nhưng đúng lúc ấy, được những dao động cuối cùng của thủy triều nâng lên, chiếc Nautilus rời lòng san hô của nó đúng phút thứ bốn mươi mà thuyền trưởng đã chỉ định. Chân vịt của nó khuấy sóng với vẻ uy nghi lười biếng. Tăng tốc từng chút một, con tàu đi trên mặt đại dương, và bình an vô sự, nó bỏ lại phía sau các eo hẹp nguy hiểm của eo biển Torres.
### CHƯƠNG 23
“Aegri Somnia”\*
\*Tiếng Latin: “những giấc mơ rối loạn.” BTV.
NGÀY HÔM SAU, ngày 10 tháng 1, chiếc Nautilus tiếp tục hành trình ở lưng chừng nước nhưng với tốc độ đáng chú ý mà tôi ước tính ít nhất ba mươi lăm dặm mỗi giờ. Chân vịt quay nhanh đến mức tôi không thể theo dõi hay đếm số vòng quay của nó.
Tôi nghĩ về việc lực điện kỳ diệu này không chỉ đem chuyển động, nhiệt và ánh sáng cho chiếc Nautilus mà còn bảo vệ nó trước tấn công bên ngoài, biến nó thành một chiếc hòm thiêng mà không bàn tay phàm tục nào có thể chạm vào mà không bị đánh gục; sự kinh ngạc của tôi là vô hạn, và nó đi từ chính tàu lặn sang người kỹ sư đã tạo ra nó.
Chúng tôi đi thẳng về phía tây và ngày 11 tháng 1 vòng qua mũi Wessel, nằm ở kinh độ 135 độ và vĩ độ 10 độ bắc, mũi phía tây của vịnh Carpentaria. Rạn đá vẫn còn nhiều nhưng rải rác hơn và được ghi trên hải đồ với độ chính xác lớn nhất. Chiếc Nautilus dễ dàng tránh các bãi ngầm Money ở mạn trái và các rạn Victoria ở mạn phải, nằm tại kinh độ 130 độ trên vĩ tuyến mười, mà chúng tôi đi dọc một cách nghiêm ngặt.
Ngày 13 tháng 1, đến biển Timor, Thuyền trưởng Nemo nhìn thấy hòn đảo cùng tên ở kinh độ 122 độ. Đảo này, có diện tích 1.625 dặm biển vuông, do các rajah cai trị. Những quý tộc này xem mình là con trai của cá sấu, nói cách khác, là hậu duệ với nguồn gốc cao quý nhất mà một con người có thể tự nhận. Theo đó, tổ tiên có vảy của họ đầy rẫy trong các sông của đảo và là đối tượng của sự tôn kính đặc biệt. Chúng được che chở, nuôi nấng, nịnh nọt, nuông chiều, và được dâng một khẩu phần nghi lễ gồm những thiếu nữ đang tuổi lấy chồng; và khốn cho người ngoại quốc nào giơ một ngón tay chống lại những loài bò sát thiêng này.
Nhưng chiếc Nautilus chẳng muốn dây dưa gì với những con vật ghê tởm ấy. Đảo Timor chỉ hiện ra trong chớp mắt lúc giữa trưa, trong khi sĩ quan trưởng xác định vị trí của mình. Tôi cũng chỉ thoáng thấy đảo Roti nhỏ, thuộc cùng nhóm này, nơi phụ nữ có tiếng tốt về sắc đẹp trong chợ Malaysia.
Sau khi xác định vị trí, các vĩ độ mà chiếc Nautilus đi theo được chuyển dần về phía tây nam. Mũi tàu của chúng tôi hướng tới Ấn Độ Dương. Những ý thích thất thường của Thuyền trưởng Nemo sẽ đưa chúng tôi đến đâu? Ông sẽ đi lên các bờ biển châu Á sao? Ông sẽ kéo gần hơn các bãi biển châu Âu sao? Những lựa chọn khó xảy ra đối với một người tránh các vùng có dân cư! Vậy ông sẽ đi xuống phía nam? Ông sẽ vòng qua mũi Hảo Vọng, rồi mũi Horn, và tiến đến cực Nam Cực sao? Cuối cùng, ông sẽ trở lại các vùng biển Thái Bình Dương, nơi chiếc Nautilus của ông có thể đi lại tự do và dễ dàng? Thời gian sẽ trả lời.
Sau khi lướt dọc các rạn Cartier, Hibernia, Seringapatam và Scott, những nỗ lực cuối cùng của yếu tố rắn chống lại yếu tố lỏng, chúng tôi đã vượt khỏi mọi tầm nhìn của bờ vào ngày 14 tháng 1. Chiếc Nautilus giảm tốc một cách kỳ lạ, và rất khó đoán trong lối đi của nó, khi thì bơi giữa làn nước, khi thì trôi trên mặt nước.
Trong giai đoạn này của chuyến đi, Thuyền trưởng Nemo tiến hành những thí nghiệm thú vị về các nhiệt độ khác nhau trong nhiều tầng biển. Trong điều kiện thông thường, các số đo như thế được thu bằng vài dụng cụ khá phức tạp mà kết quả của chúng ít nhất cũng đáng ngờ, dù là dây đo sâu nhiệt kế, lớp kính của chúng thường vỡ dưới áp lực nước, hay những thiết bị dựa trên sức cản thay đổi của kim loại đối với dòng điện. Các kết quả thu được như thế không thể được kiểm tra lại đầy đủ. Trái lại, Thuyền trưởng Nemo tìm nhiệt độ biển bằng cách tự mình đi vào các vực sâu của nó, và khi đặt nhiệt kế của mình tiếp xúc với các lớp chất lỏng khác nhau, ông tìm thấy độ cần tìm ngay lập tức và chắc chắn.
Và do vậy, bằng cách nạp đầy các két dằn, hoặc bằng cách chìm xiên với các cánh nghiêng, chiếc Nautilus lần lượt đạt tới các độ sâu 3.000, 4.000, 5.000, 7.000, 9.000 và 10.000 mét, và kết luận cuối cùng từ những thí nghiệm này là, ở mọi vĩ độ, biển có một nhiệt độ cố định 4,5 độ bách phân ở độ sâu 1.000 mét.
Tôi theo dõi những thí nghiệm này với sự say mê mãnh liệt nhất. Thuyền trưởng Nemo đem đến cho chúng một niềm say mê thật sự. Tôi thường tự hỏi vì sao ông thực hiện những quan sát này. Chúng có vì lợi ích của đồng loại ông không? Điều đó khó xảy ra, bởi sớm hay muộn công trình của ông sẽ chết cùng ông trong một vùng biển không ai biết! Trừ phi ông định dành các kết quả thí nghiệm của mình cho tôi. Nhưng điều đó có nghĩa chuyến đi kỳ lạ này của tôi sẽ đi đến hồi kết, mà chưa thấy một kết thúc nào như thế.
Dù thế nào đi nữa, Thuyền trưởng Nemo cũng giới thiệu với tôi các dữ liệu khác nhau mà ông đã thu được về tỷ trọng tương đối của nước trong những biển chính của địa cầu chúng ta. Từ thông tin này tôi rút ra vài hiểu biết riêng chẳng liên quan gì đến khoa học.
Chuyện xảy ra vào sáng ngày 15 tháng 1. Thuyền trưởng, người tôi đang dạo cùng trên sàn ngoài, hỏi tôi liệu tôi có biết nước mặn khác nhau về tỷ trọng giữa biển này với biển khác như thế nào không. Tôi nói không, thêm rằng còn thiếu các quan sát khoa học nghiêm ngặt về đề tài này.
“Tôi đã thực hiện những quan sát như thế,” ông nói với tôi, “và tôi có thể bảo đảm độ tin cậy của chúng.”
“Tốt,” tôi đáp, “nhưng chiếc Nautilus sống trong một thế giới riêng, và các bí mật của các nhà khoa học của nó không tìm đường lên bờ.”
“Ông nói đúng, giáo sư,” ông nói với tôi sau vài khoảnh khắc im lặng. “Đây là một thế giới riêng. Nó xa lạ với trái đất như các hành tinh cùng địa cầu chúng ta đi quanh mặt trời, và chúng ta sẽ không bao giờ quen với công trình của các nhà khoa học trên sao Thổ hay sao Mộc. Nhưng vì số phận đã nối hai cuộc đời chúng ta, tôi có thể tiết lộ cho ông kết quả các quan sát của mình.”
“Tôi xin chăm chú lắng nghe, thuyền trưởng.”
“Ông biết, giáo sư, rằng nước mặn đặc hơn nước ngọt, nhưng tỷ trọng này không đồng nhất. Về thực chất, nếu tôi biểu thị tỷ trọng của nước ngọt bằng 1,000, thì tôi tìm thấy 1,028 cho nước Đại Tây Dương, 1,026 cho nước Thái Bình Dương, 1,030 cho nước Địa Trung Hải—”
À há, tôi nghĩ, vậy ông ấy cũng liều vào Địa Trung Hải?
“—1,018 cho nước biển Ionia, và 1,029 cho nước biển Adriatic.”
Chắc chắn, chiếc Nautilus không tránh các biển đông tàu bè của châu Âu, và từ nhận định này tôi kết luận rằng con tàu sẽ đưa chúng tôi trở lại—có lẽ rất sớm—những bờ biển văn minh hơn. Tôi chờ Ned Land đón tin này với sự hài lòng không che giấu.
Trong nhiều ngày, các giờ làm việc của chúng tôi được dành cho đủ loại thí nghiệm, về độ mặn của nước ở các độ sâu khác nhau, hay về các tính chất điện, màu sắc và độ trong của chúng, và trong mọi trường hợp Thuyền trưởng Nemo đều thể hiện một sự khéo léo chỉ ngang bằng với thái độ nhã nhặn của ông đối với tôi. Rồi tôi không thấy ông thêm vài ngày nữa và lại sống tách biệt trên tàu.
Ngày 16 tháng 1, chiếc Nautilus dường như đã ngủ thiếp đi chỉ cách mặt nước vài mét. Thiết bị điện của nó đã tắt, và chân vịt bất động để nó trôi theo sóng. Tôi cho rằng thủy thủ đoàn đang bận sửa chữa bên trong, cần thiết vì tác động cơ học căng thẳng của động cơ.
Khi ấy các bạn đồng hành của tôi và tôi chứng kiến một cảnh tượng khác thường. Các tấm che trong phòng khách mở ra, và vì đèn hiệu của chiếc Nautilus tắt, một bóng tối mờ mịt ngự giữa làn nước. Bầu trời bão tố, phủ mây dày, chỉ đem lại thứ ánh sáng yếu ớt nhất cho các tầng trên của đại dương.
Tôi đang quan sát trạng thái của biển trong những điều kiện này, và ngay cả những con cá lớn nhất cũng chỉ là những bóng dáng mờ nhạt, thì chiếc Nautilus đột nhiên được chuyển vào giữa ánh ngày rực rỡ. Lúc đầu tôi tưởng đèn hiệu đã bật lại và đang ném ánh điện vào khối chất lỏng. Tôi đã nhầm, và sau một cuộc xem xét vội vã, tôi nhận ra sai lầm của mình.
Chiếc Nautilus đã trôi vào giữa vài tầng lân quang, trong bóng tối này, chúng hiện lên chói lọi thật sự. Hiệu ứng này do vô số động vật nhỏ bé phát sáng gây nên, độ sáng của chúng tăng lên khi chúng lướt qua thân kim loại của tàu lặn chúng tôi. Giữa những tấm nước sáng ấy, tôi khi ấy thoáng thấy các tia lóe, như những tia thấy trong một lò rực lửa từ các dòng chì nóng chảy hoặc từ các khối kim loại nung trắng—những tia mạnh đến mức vài vùng ánh sáng trở thành bóng tối khi so sánh, trong một khung cảnh lửa mà dường như mọi bóng tối đáng lẽ phải bị xua tan. Không, đây không còn là sự phát sáng yên tĩnh của ánh sáng thường ngày của chúng tôi! Ánh sáng này rung động với sức sống và hoạt tính chưa từng có! Người ta cảm thấy nó đang sống!
Về thực chất, đó là một cụm vô số infusoria biển khơi, những noctiluca rộng một phần tám inch, những cầu thạch trong suốt thật sự có một xúc tu như sợi chỉ, trong ba mươi xentimét khối nước có thể đếm tới 25.000 con. Và sức mạnh ánh sáng của chúng được tăng thêm bởi những tia chập chờn riêng của medusa, sao biển, sứa thường, trai cánh thiên thần, và các động vật hình cây lân quang khác, vốn bão hòa mỡ từ vật chất hữu cơ bị biển phân hủy, và có lẽ cả chất nhầy do cá tiết ra.
Trong nhiều giờ chiếc Nautilus trôi trong dòng triều rực rỡ này, và sự kinh ngạc của chúng tôi tăng lên khi thấy những động vật biển khổng lồ nô đùa trong đó, như những con kỳ giông sống trong lửa của huyền thoại. Giữa những ngọn lửa không đốt cháy ấy, tôi có thể thấy cá heo chuột nhanh nhẹn, thanh nhã, những kẻ pha trò không biết mệt của biển cả, và cá cờ dài ba mét, những sứ giả sắc sảo của bão tố, mà các thanh kiếm rộng đáng sợ của chúng đôi khi đập vào cửa sổ phòng khách. Rồi những con cá nhỏ hơn xuất hiện: đủ loại cá bò, cá khế da, cá kỳ lân, và trăm loài khác để lại các sọc trên bầu khí quyển sáng rực này trong đường đi của chúng.
Có phép màu nào đó phía sau cảnh tượng chói lọi này! Có lẽ một điều kiện khí quyển nào đó đã tăng cường hiện tượng này? Có lẽ một cơn bão đã được phóng thích trên mặt sóng? Nhưng chỉ vài mét dưới nước, chiếc Nautilus không cảm thấy cơn thịnh nộ nào của giông tố, và con tàu lắc lư yên bình giữa các vùng nước lặng.
Và cứ thế, một kỳ quan mới không ngừng làm chúng tôi thích thú. Conseil quan sát và phân loại các động vật hình cây, động vật có đốt, thân mềm và cá của anh. Ngày tháng trôi nhanh, và tôi không còn theo dõi chúng nữa. Ned, như thường lệ, vẫn tìm những thay đổi nhịp độ khỏi khẩu phần chuẩn của chúng tôi. Giống những con ốc thật sự, chúng tôi ở nhà trong chiếc vỏ của mình, và tôi có thể bảo đảm rằng người ta rất dễ biến thành một con ốc trọn vẹn.
Vì vậy lối sống này bắt đầu có vẻ đơn giản và tự nhiên đối với chúng tôi, và chúng tôi không còn hình dung một lối sống khác trên bề mặt hành tinh trái đất, thì một chuyện xảy ra nhắc chúng tôi nhớ đến hoàn cảnh kỳ lạ của mình.
Ngày 18 tháng 1, chiếc Nautilus nằm ở kinh độ 105 độ và vĩ độ 15 độ nam. Thời tiết đe dọa, biển động và lượn sóng. Gió thổi một luồng mạnh từ phía đông. Khí áp kế, đã rơi xuống mấy ngày, báo trước một cuộc đấu tranh sắp đến của các yếu tố.
Tôi đã trèo lên sàn ngoài đúng lúc sĩ quan trưởng đang lấy các số đo góc giờ. Theo thói quen, tôi chờ ông phát âm câu nói hằng ngày. Nhưng ngày hôm ấy nó được thay bằng một câu khác, cũng không thể hiểu. Gần như ngay lập tức tôi thấy Thuyền trưởng Nemo xuất hiện, nâng ống nhòm của ông lên và quan sát chân trời.
Trong vài phút, thuyền trưởng đứng bất động, như cắm rễ vào chỗ được chứa trong trường nhìn của ống kính. Rồi ông hạ ống nhòm và trao đổi khoảng mười lời với sĩ quan trưởng. Người sau dường như bị một cơn kích động nắm lấy, thứ ông cố kiểm soát vô ích. Tự chủ hơn, Thuyền trưởng Nemo vẫn bình tĩnh. Hơn nữa, ông dường như nêu vài phản đối mà sĩ quan trưởng cứ đáp bằng những lời quả quyết thẳng thừng. Ít nhất đó là điều tôi suy ra từ những khác biệt trong giọng điệu và cử chỉ của họ.
Về phần tôi, tôi chăm chú nhìn theo hướng được quan sát nhưng chẳng nhận ra gì. Trời và nước hòa vào nhau thành một đường chân trời hoàn toàn sạch.
Trong khi đó Thuyền trưởng Nemo đi từ đầu này đến đầu kia của sàn ngoài, không nhìn tôi, có lẽ thậm chí không thấy tôi. Bước chân của ông vững, nhưng kém đều đặn hơn thường lệ. Đôi lúc ông dừng lại, khoanh tay trước ngực và quan sát biển. Ông đang tìm gì trên khoảng mênh mông ấy? Khi ấy chiếc Nautilus cách bờ gần nhất hàng trăm dặm!
Sĩ quan trưởng cứ nhấc ống nhòm lên và bướng bỉnh quan sát đường chân trời, đi qua đi lại, giậm chân, trong cơn kích động thần kinh tương phản sắc nét với cấp trên của mình.
Nhưng bí ẩn này chắc chắn sắp được làm rõ, và chẳng bao lâu, bởi Thuyền trưởng Nemo ra lệnh tăng tốc; ngay lập tức động cơ tăng lực đẩy, khiến chân vịt quay nhanh hơn.
Đúng lúc ấy sĩ quan trưởng lại thu hút sự chú ý của thuyền trưởng. Người sau ngừng đi lại và chĩa ống nhòm vào điểm được chỉ. Ông quan sát nó khá lâu. Còn tôi, hết sức bối rối, đi xuống phòng khách và mang lên một kính viễn vọng tầm xa tuyệt hảo mà tôi thường dùng. Tựa khuỷu tay lên vỏ đèn hiệu nhô ra từ đuôi sàn ngoài, tôi chuẩn bị quét toàn bộ dải trời và biển ấy.
Nhưng tôi vừa áp mắt vào thị kính thì dụng cụ bị giật khỏi tay.
Tôi quay phắt lại. Thuyền trưởng Nemo đang đứng trước mặt tôi, nhưng tôi gần như không nhận ra ông. Các nét mặt ông biến dạng. Rực lên một ngọn lửa tối, mắt ông co lại dưới vầng trán cau. Răng ông nửa nhe ra. Thân thể cứng đờ, nắm tay siết chặt, đầu rụt vào giữa hai vai, tất cả chứng tỏ một mối căm ghét dữ dội đang thở ra từ từng lỗ chân lông. Ông không động đậy. Kính viễn vọng của tôi rơi khỏi tay ông và lăn dưới chân ông.
Tôi đã vô tình gây ra những triệu chứng giận dữ này sao? Cá nhân không thể hiểu nổi này có nghĩ tôi đã phát hiện bí mật nào đó bị cấm đối với khách trên chiếc Nautilus không?
Không! Tôi không phải đối tượng của lòng căm ghét nơi ông, bởi ông thậm chí không nhìn tôi; mắt ông vẫn bướng bỉnh tập trung vào điểm không thể dò trên đường chân trời ấy.
Cuối cùng Thuyền trưởng Nemo lấy lại tự chủ. Dáng vẻ mặt ông, đã biến đổi sâu sắc đến thế, giờ trở lại bình tĩnh thường ngày. Ông nói vài lời với sĩ quan trưởng bằng thứ ngôn ngữ lạ của họ, rồi quay sang tôi:
“Giáo sư Aronnax,” ông nói với tôi bằng một giọng có phần cấp bách, “tôi yêu cầu ông lúc này tôn trọng một trong các thỏa thuận ràng buộc giữa chúng ta.”
“Thỏa thuận nào, thuyền trưởng?”
“Ông và các bạn đồng hành của ông phải bị đặt vào chỗ giam cho đến khi tôi thấy thích hợp để trả tự do cho các ông.”
“Ông là người chỉ huy,” tôi đáp, há hốc nhìn ông. “Nhưng tôi có thể đặt một câu hỏi với ông không?”
“Không, thưa ông.”
Sau đó, tôi thôi phản đối và bắt đầu vâng lời, bởi chống cự là vô ích.
Tôi đi xuống cabin của Ned Land và Conseil, và báo cho họ quyết định của thuyền trưởng. Tôi để độc giả tự hình dung tin này được người Canada tiếp nhận thế nào. Dù sao, không có thời gian để giải thích. Bốn thủy thủ đang chờ ở cửa, và họ dẫn chúng tôi tới buồng nơi chúng tôi đã trải qua đêm đầu tiên trên chiếc Nautilus.
Ned Land cố đưa ra một lời phàn nàn, nhưng câu trả lời duy nhất ông nhận được là một cánh cửa đóng sập trước mặt.
“Ngài có thể nói cho tôi biết chuyện này nghĩa là gì không?” Conseil hỏi tôi.
Tôi kể cho các bạn đồng hành của mình chuyện đã xảy ra. Họ kinh ngạc như tôi, nhưng chẳng sáng tỏ hơn.
Rồi tôi chìm vào suy luận sâu xa, và cơn co giật kỳ lạ trên mặt Thuyền trưởng Nemo cứ ám ảnh tôi. Tôi không thể nối hai ý nghĩ theo một trật tự logic, và tôi đã lạc vào những giả thuyết phi lý nhất, thì bị lôi khỏi cuộc vật lộn tinh thần bởi những lời này của Ned Land:
“Chà, nhìn đây! Bữa trưa đã dọn!”
Quả thật, bàn ăn đã được bày. Rõ ràng Thuyền trưởng Nemo đã ra lệnh này cùng lúc ông truyền cho chiếc Nautilus tăng tốc.
“Ngài có cho phép tôi đưa ra một lời khuyên không?” Conseil hỏi tôi.
“Có, chàng trai của tôi,” tôi đáp.
“Chà, ngài cần ăn bữa trưa của mình! Đó là điều thận trọng, bởi chúng ta không biết tương lai giữ gì.”
“Anh nói đúng, Conseil.”
“Không may,” Ned Land nói, “họ chỉ cho chúng ta thực đơn tiêu chuẩn.”
“Ned bạn tôi,” Conseil đáp, “ông sẽ nói gì nếu họ không cho chúng ta bữa trưa nào cả?”
Liều tỉnh táo này cắt phăng những lời phàn nàn của người phóng lao.
Chúng tôi ngồi vào bàn. Bữa ăn của chúng tôi diễn ra gần như trong im lặng. Tôi ăn rất ít. Conseil, mãi mãi thận trọng, tự “nhồi” mình; và bất chấp thực đơn, Ned Land không bỏ phí một miếng nào. Rồi, khi bữa trưa kết thúc, mỗi chúng tôi tựa mình vào một góc.
Đúng lúc ấy quả cầu sáng chiếu căn buồng của chúng tôi tắt đi, để chúng tôi trong bóng tối sâu thẳm. Ned Land chẳng mấy chốc thiếp đi, và trước sự kinh ngạc của tôi, Conseil cũng rơi vào một giấc ngủ nặng. Tôi đang tự hỏi điều gì có thể gây ra nhu cầu ngủ cấp bách này thì cảm thấy một cơn mê đặc quánh thấm vào não. Tôi cố giữ mắt mở, nhưng chúng khép lại bất chấp tôi. Tôi bị những ảo giác đau đớn nắm lấy. Rõ ràng một chất gây ngủ nào đó đã được trộn vào thức ăn chúng tôi vừa ăn! Vậy sự giam giữ vẫn chưa đủ để che giấu các kế hoạch của Thuyền trưởng Nemo khỏi chúng tôi—còn cần cả giấc ngủ nữa!
Rồi tôi nghe các cửa sập đóng lại. Những dao động của biển, vốn tạo ra chuyển động lắc nhẹ, nay dừng hẳn. Chiếc Nautilus đã rời mặt đại dương sao? Nó đang quay lại các tầng bất động sâu trong biển sao?
Tôi cố chống lại cơn buồn ngủ này. Điều đó bất khả. Hơi thở tôi yếu đi. Tôi cảm thấy một cái lạnh chết người đóng băng các chi thể đờ đẫn, gần như tê liệt của mình. Như những vòm chì nhỏ, mí mắt sụp xuống trên mắt tôi. Tôi không thể nâng chúng lên. Một giấc ngủ bệnh hoạn, đầy ảo giác, chiếm lấy toàn bộ con người tôi. Rồi các thị kiến biến mất và bỏ tôi trong quên lãng hoàn toàn.
### CHƯƠNG 24
Vương quốc san hô
NGÀY HÔM SAU tôi tỉnh dậy với đầu óc trong sáng lạ thường. Trước sự ngạc nhiên lớn của tôi, tôi đang ở trong phòng riêng của mình. Chắc chắn các bạn đồng hành của tôi đã được đưa về cabin của họ mà không nhận ra điều đó hơn tôi. Giống tôi, họ sẽ không biết gì về những gì đã xảy ra trong đêm, và để tháo gỡ bí ẩn này tôi chỉ có thể trông cậy vào một tình cờ nào đó trong tương lai.
Rồi tôi cân nhắc việc rời phòng riêng. Tôi tự do hay vẫn là tù nhân? Hoàn toàn tự do. Tôi mở cửa, đi xuống các lối đi, và trèo lên cầu thang trung tâm. Các cửa sập đã đóng hôm trước nay mở. Tôi lên tới sàn ngoài.
Ned Land và Conseil đang ở đó chờ tôi. Tôi hỏi họ. Họ chẳng biết gì. Mất hút trong một giấc ngủ nặng mà họ không có ký ức, họ khá sửng sốt khi thấy mình trở lại cabin.
Còn chiếc Nautilus, nó vẫn yên tĩnh và bí ẩn như bao giờ. Nó đang đi trên mặt sóng với tốc độ vừa phải. Chẳng có gì dường như đã thay đổi trên tàu.
Ned Land quan sát biển bằng đôi mắt xuyên thấu của mình. Biển hoang vắng. Người Canada không thấy gì mới trên chân trời, không buồm, không bờ. Một làn gió thổi ồn ào từ phía tây, và bị gió làm rối, những đợt sóng dài khiến tàu lặn lắc khá rõ.
Sau khi đổi mới không khí, chiếc Nautilus ở độ sâu trung bình mười lăm mét, cho phép nó nhanh chóng trở lại mặt sóng. Và, trái với thông lệ, nó thực hiện một thao tác như thế nhiều lần trong ngày 19 tháng 1 ấy. Khi ấy sĩ quan trưởng sẽ trèo lên sàn ngoài, và câu nói quen thuộc của ông sẽ vang qua bên trong tàu.
Còn Thuyền trưởng Nemo thì không xuất hiện. Trong số những người khác trên tàu, tôi chỉ thấy người tiếp viên vô cảm của mình, người phục vụ tôi với sự hiệu quả câm lặng thường lệ.
Gần hai giờ, tôi đang bận sắp xếp các ghi chép của mình trong phòng khách thì thuyền trưởng mở cửa và xuất hiện. Tôi cúi chào ông. Ông đáp lại tôi bằng một cái cúi đầu gần như không nhận ra, không nói với tôi một lời. Tôi trở lại công việc, hy vọng ông có thể giải thích cho tôi vài điều về các sự kiện buổi chiều hôm trước. Ông không làm gì như thế. Tôi nhìn ông. Gương mặt ông có vẻ kiệt sức; đôi mắt đỏ của ông chưa được giấc ngủ làm tươi lại; nét mặt ông biểu lộ nỗi buồn sâu sắc, nỗi đau đớn thật sự. Ông đi qua đi lại, ngồi xuống rồi đứng lên, cầm một cuốn sách bừa bãi, lập tức bỏ nó xuống, xem các dụng cụ của mình mà không ghi các ghi chú thường lệ, và dường như không thể yên được lấy một khoảnh khắc.
Cuối cùng ông đến bên tôi và nói:
“Ông có phải bác sĩ không, Giáo sư Aronnax?”
Câu hỏi này bất ngờ đến mức tôi nhìn ông hồi lâu mà không đáp.
“Ông có phải bác sĩ không?” ông lặp lại. “Một số đồng nghiệp khoa học của ông đã lấy bằng y khoa, như Gratiolet, Moquin-Tandon và những người khác.”
“Đúng vậy,” tôi nói, “tôi là bác sĩ, trước kia tôi từng trực ở các bệnh viện. Tôi đã hành nghề trong vài năm trước khi vào làm ở bảo tàng.”
“Tuyệt lắm, thưa ông.”
Câu trả lời của tôi rõ ràng làm Thuyền trưởng Nemo hài lòng. Nhưng không biết ông đang nhắm đến điều gì, tôi chờ những câu hỏi tiếp theo, sẵn sàng đáp tùy hoàn cảnh.
“Giáo sư Aronnax,” thuyền trưởng nói với tôi, “ông có bằng lòng chăm sóc y khoa cho một người của tôi không?”
“Có người bị bệnh sao?”
“Phải.”
“Tôi sẵn sàng đi với ông.”
“Đi nào.”
Tôi thú nhận rằng tim mình đập mạnh. Chúa biết vì sao, nhưng tôi thấy một mối liên hệ rõ ràng giữa người thủy thủ bị bệnh này và những biến cố hôm qua, và bí ẩn của các biến cố ấy khiến tôi quan tâm ít nhất cũng bằng căn bệnh của người kia.
Thuyền trưởng Nemo dẫn tôi về phía đuôi chiếc Nautilus và mời tôi vào một cabin nằm cạnh khu thủy thủ.
Trên giường có một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi nằm đó, với các nét mặt rắn rỏi, đúng mẫu hình Anglo-Saxon.
Tôi cúi xuống trên người ông ta. Ông ta không chỉ bị bệnh, mà còn bị thương. Đầu ông, quấn trong vải lanh thấm máu, đặt trên một chiếc gối gấp lại. Tôi tháo các băng vải lanh, trong khi người bị thương nhìn tôi bằng đôi mắt mở to trừng trừng và để tôi làm mà không hề than phiền.
Đó là một vết thương khủng khiếp. Hộp sọ đã bị một vật cùn đập vỡ, để lộ não trần, và chất não đã bị xây xát sâu. Máu đông đã hình thành trong khối đang tan rã ấy, mang màu của cặn rượu vang. Não vừa bị dập vừa bị chấn động. Hơi thở của người bệnh nặng nhọc, và các cơn co thắt cơ run rẩy trên mặt ông. Tình trạng viêm não đã hoàn toàn và kéo theo sự tê liệt vận động cùng cảm giác.
Tôi bắt mạch người bị thương. Mạch đập ngắt quãng. Các đầu chi đã bắt đầu lạnh, và tôi thấy cái chết đang tới gần mà tôi không có khả năng nào ngăn nó lại. Sau khi băng bó vết thương của người khốn khổ, tôi quấn lại các dải vải lanh quanh đầu ông và quay sang Thuyền trưởng Nemo.
“Ông ấy bị vết thương này như thế nào?” tôi hỏi.
“Điều đó không quan trọng,” thuyền trưởng đáp tránh né. “Chiếc Nautilus chịu một cú va chạm làm nứt một trong những cần máy, và nó đập vào người này. Sĩ quan trưởng của tôi đứng cạnh ông ấy. Người này lao tới để chặn cú đánh. Một người anh em hiến mạng vì anh em mình, một người bạn vì bạn mình, còn gì đơn giản hơn? Đó là luật dành cho mọi người trên chiếc Nautilus. Nhưng chẩn đoán của ông về tình trạng của ông ấy thế nào?”
Tôi ngập ngừng không nói ý nghĩ của mình.
“Ông có thể nói tự do,” thuyền trưởng bảo tôi. “Người này không hiểu tiếng Pháp.”
Tôi nhìn người bị thương lần cuối, rồi đáp:
“Người này sẽ chết trong hai giờ nữa.”
“Không gì có thể cứu ông ấy sao?”
“Không gì cả.”
Thuyền trưởng Nemo siết chặt nắm tay, và những giọt lệ trượt xuống từ đôi mắt mà tôi từng tưởng không thể khóc.
Trong vài khoảnh khắc nữa, tôi quan sát người sắp chết, sinh mệnh ông đang ebb đi từng chút. Ông càng tái nhợt hơn dưới ánh điện tắm lên giường hấp hối. Tôi nhìn cái đầu thông minh của ông, hằn những nếp nhăn sớm mà bất hạnh, có lẽ khốn cùng, đã khắc lên từ lâu. Tôi hy vọng dò ra bí mật đời ông trong những lời cuối cùng có thể thoát khỏi môi ông!
“Ông có thể đi, Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo nói với tôi.
Tôi rời thuyền trưởng trong cabin của người hấp hối và trở về phòng riêng, rất xúc động vì cảnh này. Suốt cả ngày tôi run lên vì những điềm gở ghê rợn. Đêm ấy tôi ngủ rất tệ, và giữa những giấc mơ chập chờn, tôi tưởng nghe thấy một tiếng rên xa, như một khúc ai ca. Đó có phải là lời cầu nguyện cho người chết, thì thầm bằng thứ ngôn ngữ tôi không hiểu?
Sáng hôm sau tôi trèo lên boong. Thuyền trưởng Nemo đã ở đó. Ngay khi thấy tôi, ông tiến lại.
“Giáo sư,” ông nói với tôi, “hôm nay ông có tiện thực hiện một cuộc du ngoạn dưới nước không?”
“Cùng các bạn đồng hành của tôi?” tôi hỏi.
“Nếu họ đồng ý.”
“Chúng tôi xin tuân lệnh ông, thuyền trưởng.”
“Vậy xin vui lòng mặc đồ lặn.”
Còn người chết hay sắp chết kia thì không được nhắc tới. Tôi trở lại với Ned Land và Conseil. Tôi báo cho họ biết đề nghị của Thuyền trưởng Nemo. Conseil háo hức nhận lời, và lần này người Canada tỏ ra hoàn toàn dễ bảo khi đi cùng chúng tôi.
Lúc ấy là tám giờ sáng. Đến 8 giờ 30, chúng tôi đã mặc đồ cho cuộc dạo mới này và được trang bị hai thiết bị để chiếu sáng và thở. Cánh cửa kép mở ra, và được Thuyền trưởng Nemo đi cùng với một tá thủy thủ theo sau, chúng tôi đặt chân lên đáy biển rắn chắc nơi chiếc Nautilus đang nghỉ, sâu mười mét.
Một sườn dốc thoai thoải dẫn xuống một nền đáy gồ ghề có độ sâu khoảng mười lăm sải. Nền đáy này hoàn toàn khác với nền đáy tôi đã thăm trong chuyến du ngoạn đầu tiên dưới làn nước Thái Bình Dương. Ở đây tôi không thấy cát mịn, không đồng cỏ dưới nước, không một khu rừng biển khơi nào. Tôi lập tức nhận ra vùng kỳ diệu mà Thuyền trưởng Nemo làm chủ lễ ngày hôm ấy. Đó là vương quốc san hô.
Trong ngành động vật hình cây, lớp Alcyonaria, người ta tìm thấy bộ Gorgonaria, gồm ba nhóm: quạt biển, polyp isidian, và polyp san hô. Chính trong nhóm cuối này có san hô quý, một chất lạ thường, vào những thời kỳ khác nhau, từng được xếp vào giới khoáng vật, thực vật và động vật. Thuốc men đối với người xưa, đồ trang sức đối với người hiện đại, nó chỉ được đặt dứt khoát vào giới động vật năm 1694, bởi Peysonnel ở Marseille.
San hô là một đơn vị gồm những động vật nhỏ bé tập hợp trên một polypary giòn và có bản chất đá. Những polyp này có một cơ chế sinh sản độc đáo, tái tạo chúng qua quá trình nảy chồi, và chúng có đời sống cá thể đồng thời tham dự vào một đời sống cộng đồng. Vì vậy chúng hiện thân cho một thứ chủ nghĩa xã hội tự nhiên. Tôi đã quen với những nghiên cứu mới nhất về loài động vật hình cây kỳ dị này—thứ hóa đá trong khi mang hình dáng một cái cây, như vài nhà tự nhiên học đã nhận xét rất xác đáng—và đối với tôi không gì có thể hấp dẫn hơn việc đến thăm một trong những khu rừng hóa thạch mà tự nhiên đã trồng dưới đáy biển.
Chúng tôi bật các thiết bị Ruhmkorff và men theo một bãi san hô đang trong quá trình hình thành, thứ, nếu có đủ thời gian, một ngày nào đó sẽ đóng kín toàn bộ phần này của Ấn Độ Dương. Con đường của chúng tôi được viền bởi những bụi cây rối rắm không lối thoát, tạo thành từ những mớ cây bụi xoắn cuộn, tất cả phủ đầy những bông hoa nhỏ hình sao, vằn trắng. Có điều, trái với cây cối trên bờ, các hình thái cây này bám vào đá dưới đáy biển bằng cách đi từ trên xuống dưới.
Ánh đèn của chúng tôi tạo ra nghìn hiệu ứng thú vị khi lướt trên những cành nhánh rực màu này. Tôi tưởng mình thấy những ống hình trụ, đầy màng ấy run rẩy dưới các dao động của nước. Tôi bị cám dỗ muốn hái những cánh hoa tươi của chúng, được trang hoàng bằng những xúc tu tinh tế, cái thì vừa nở, cái thì mới hé, trong khi những con cá lanh lẹ với vây phấp phới lướt qua chúng như đàn chim. Nhưng nếu tay tôi đến gần những bông hoa chuyển động của các sinh vật nhạy cảm, sống động này, một hồi báo động lập tức vang lên khắp thuộc địa. Những cánh trắng rút vào bao đỏ, hoa biến mất trước mắt tôi, và bụi cây biến thành một khối núm đá.
Ngẫu nhiên đã đặt tôi trước mặt những mẫu vật quý giá nhất của loài động vật hình cây này. San hô này ngang với thứ được đánh bắt từ Địa Trung Hải ngoài khơi Barbary hay các bờ biển Pháp và Ý. Với màu sắc rực rỡ, nó xứng đáng với những tên gọi thi vị như hoa máu và bọt máu mà nghề nghiệp gán cho những mẫu vật đẹp nhất của mình. San hô bán tới 500 franc một kilogram, và ở địa phương này, các tầng nước che giấu đủ để làm giàu cho cả một đoàn người đánh san hô. Chất quý giá này thường hòa lẫn với các polypary khác, tạo thành những khối đặc, rối rắm tuyệt vọng, gọi là “macciota,” và tôi ghi nhận vài mẫu san hô hồng tuyệt đẹp.
Nhưng khi các bụi cây thấp dần, những hình thái cây lại lớn lên. Những bụi rậm hóa thạch thật sự và những dãy vòm dài thuộc một trường phái kiến trúc kỳ ảo nào đó cứ mở ra trước bước chân chúng tôi. Thuyền trưởng Nemo bước vào dưới một phòng trưng bày tối, nơi sườn dốc nhẹ đưa chúng tôi xuống độ sâu 100 mét. Ánh sáng từ các cuộn thủy tinh của chúng tôi đôi khi tạo ra những hiệu ứng ma thuật, nấn ná trên lớp nhăn nhám của một vòm tự nhiên nào đó, hay một mỏm treo lơ lửng như chùm đèn, mà đèn của chúng tôi điểm lên những tia lửa. Giữa các bụi san hô quý này, tôi quan sát thấy những polyp khác không kém phần khác thường: san hô melita, san hô cầu vồng với các nhánh có khớp, rồi vài bụi thuộc giống Corallina, cái xanh, cái đỏ, thật ra là một loại rong biển bị phủ vôi bởi muối đá vôi, thứ mà sau nhiều tranh luận, các nhà tự nhiên học cuối cùng đã xếp vào giới thực vật. Nhưng như một nhà trí thức đã nhận xét, “Ở đây, có lẽ là điểm thật sự nơi sự sống khiêm nhường trỗi dậy từ đá ngủ yên, nhưng không tách khỏi điểm khởi đầu thô sơ của mình.”
Cuối cùng, sau hai giờ đi bộ, chúng tôi đạt tới độ sâu khoảng 300 mét, nói cách khác, giới hạn thấp nhất nơi san hô có thể bắt đầu hình thành. Nhưng ở đây không còn là một bụi cây cô độc hay một rặng nhỏ cây thấp nữa. Đó là một khu rừng mênh mông, thảm thực vật khoáng chất khổng lồ, những cây hóa thạch đồ sộ liên kết bằng các vòng hoa hydra thanh nhã thuộc giống Plumularia, những dây leo nhiệt đới của biển cả, tất cả được trang hoàng bằng sắc độ và ánh lấp lánh. Chúng tôi tự do đi dưới các cành cao của chúng, lạc trong bóng tối của làn sóng, trong khi dưới chân chúng tôi, san hô ống đàn, san hô đá, san hô sao, san hô nấm, và hải quỳ thuộc giống Caryophylia tạo thành một thảm hoa rải đầy những viên ngọc chói lọi.
Thật là một cảnh tượng không thể tả! Ôi, giá như chúng tôi có thể chia sẻ cảm xúc của mình! Vì sao chúng tôi bị giam sau những chiếc mặt nạ bằng kim loại và kính này! Vì sao chúng tôi bị cấm trò chuyện với nhau! Ít nhất hãy để chúng tôi sống đời sống của loài cá cư ngụ trong yếu tố lỏng này, hay tốt hơn nữa, đời sống của loài lưỡng cư, có thể trải qua những giờ dài hoặc ở biển hoặc trên bờ, đi qua miền kép của mình theo ý thích!
Trong khi đó Thuyền trưởng Nemo đã ra hiệu dừng. Các bạn đồng hành của tôi và tôi ngừng bước, và khi quay lại, tôi thấy các thủy thủ xếp thành một nửa vòng tròn quanh người chỉ huy của họ. Nhìn kỹ hơn, tôi quan sát thấy bốn người trong số họ đang vác trên vai một vật có hình thuôn dài.
Ở địa điểm này chúng tôi đứng giữa một khoảng trống lớn bao quanh bởi những hình thái cây cao của khu rừng dưới nước này. Đèn của chúng tôi phủ lên vùng này một thứ hoàng hôn rực rỡ, kéo những cái bóng dài quá mức trên đáy biển. Qua khỏi ranh giới khoảng trống, bóng tối lại sâu xuống, chỉ được điểm bởi những tia lấp lánh nhỏ phát ra từ các đỉnh san hô sắc.
Ned Land và Conseil đứng cạnh tôi. Chúng tôi nhìn chằm chằm, và tôi chợt hiểu rằng mình sắp chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng. Quan sát đáy biển, tôi thấy ở vài điểm nó phồng lên thành những ụ thấp bị đóng cặn đá vôi và được sắp đặt với một sự đối xứng phản bội bàn tay con người.
Giữa khoảng trống, trên một bệ đá chất thô, dựng một cây thập giá bằng san hô, vươn những cánh tay dài mà người ta có thể tưởng làm bằng máu hóa thạch.
Theo tín hiệu của Thuyền trưởng Nemo, một người của ông bước tới và, cách cây thập giá vài foot, tháo một cái cuốc chim khỏi thắt lưng rồi bắt đầu đào một cái hố.
Cuối cùng tôi đã hiểu! Khoảng trống này là một nghĩa trang, cái hố này là một ngôi mộ, vật thuôn dài kia là thi thể của người hẳn đã chết trong đêm! Thuyền trưởng Nemo và những người của ông đã đến chôn cất bạn đồng hành của mình trong nơi an nghỉ chung trên đáy đại dương không thể tiếp cận này!
Không! Đầu óc tôi quay cuồng như chưa bao giờ! Chưa bao giờ những ý nghĩ có sức nặng như thế chạy qua não tôi! Tôi không muốn thấy điều mắt mình đang thấy!
Trong khi đó việc đào mộ diễn ra chậm rãi. Cá chạy tán loạn đây đó vì nơi ẩn của chúng bị quấy động. Tôi nghe mũi cuốc vang lên trên nền đá vôi, đầu sắt của nó đôi khi phát tia lửa khi chạm phải một mảnh đá lửa lạc trên đáy biển. Cái hố dài ra, rộng ra, và chẳng mấy chốc đủ sâu để nhận thi thể.
Rồi những người khiêng quan tài tiến lại. Bọc trong tấm vải trắng làm từ các sợi của trai quạt, thi thể được hạ xuống nấm mồ nước của mình. Thuyền trưởng Nemo, hai tay khoanh trước ngực, quỳ trong tư thế cầu nguyện, cũng như tất cả những bạn hữu của người đã từng yêu họ... Hai bạn đồng hành của tôi và tôi kính cẩn cúi đầu.
Ngôi mộ khi ấy được phủ bằng lớp đá vụn đào từ đáy biển, và nó tạo thành một mô đất thấp.
Khi việc này xong, Thuyền trưởng Nemo và những người của ông đứng dậy; rồi tất cả tiến lại gần ngôi mộ, lại khuỵu một gối xuống, và giơ tay ra trong dấu hiệu vĩnh biệt cuối cùng...
Rồi đoàn đưa tang đi ngược con đường về chiếc Nautilus, trở lại dưới các vòm của khu rừng, xuyên qua các bụi rậm, dọc theo những bụi san hô, cứ thế lên cao dần.
Cuối cùng các tia sáng của con tàu hiện ra. Vệt sáng của chúng dẫn chúng tôi về chiếc Nautilus. Đến một giờ, chúng tôi đã trở lại.
Sau khi thay quần áo, tôi trèo lên sàn ngoài, và trong vòng vây của những ý nghĩ ám ảnh ghê gớm, tôi ngồi cạnh đèn hiệu.
Thuyền trưởng Nemo lại đến với tôi. Tôi đứng dậy và nói với ông:
“Vậy, như tôi đã dự đoán, người ấy đã chết trong đêm?”
“Phải, Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo đáp.
“Và giờ ông ấy yên nghỉ bên các bạn đồng hành trong nghĩa trang san hô ấy?”
“Phải, bị thế giới lãng quên nhưng không bị chúng tôi lãng quên! Chúng tôi đào mộ, rồi giao cho các polyp nhiệm vụ niêm kín người chết của mình cho đến muôn đời!”
Và bằng một cử chỉ đột ngột, thuyền trưởng giấu mặt trong hai nắm tay siết chặt, cố vô ích kìm lại một tiếng nức nở. Rồi ông nói thêm:
“Ở đó là nghĩa trang yên bình của chúng tôi, sâu hàng trăm foot dưới mặt sóng!”
“Ít nhất, thuyền trưởng, người chết của ông có thể ngủ yên ở đó, ngoài tầm với của cá mập!”
“Vâng, thưa ông,” Thuyền trưởng Nemo trang nghiêm đáp, “của cá mập và con người!”
### CHƯƠNG 1
Ấn Độ Dương
GIỜ ĐÂY CHÚNG TA bắt đầu phần thứ hai của chuyến du hành dưới biển này. Phần thứ nhất kết thúc bằng cảnh cảm động ở nghĩa trang san hô, để lại trong tâm trí tôi một ấn tượng sâu sắc. Và như vậy Thuyền trưởng Nemo sẽ sống trọn đời mình giữa lòng biển cả mênh mông này, và ngay cả nấm mồ của ông cũng đã sẵn sàng trong những vực sâu không thể xuyên thấu của nó. Ở đó giấc ngủ cuối cùng của những người trên chiếc Nautilus, những người bạn gắn bó với nhau trong cái chết cũng như trong cuộc sống, sẽ không bị con quái vật nào của biển sâu quấy rầy! “Cũng không một con người nào!” thuyền trưởng đã nói thêm.
Vẫn luôn là cùng một sự thách thức dữ dội, không đội trời chung ấy đối với xã hội loài người!
Về phần tôi, tôi không còn thỏa mãn với những giả thuyết từng làm Conseil hài lòng nữa. Chàng trai tốt bụng ấy vẫn khăng khăng xem vị chỉ huy chiếc Nautilus chỉ là một trong những nhà khoa học không được nhìn nhận, những người đáp trả sự hờ hững của nhân loại bằng lòng khinh miệt. Đối với Conseil, thuyền trưởng vẫn là một thiên tài bị hiểu lầm, mệt mỏi vì những dối trá của thế gian, đã bị đẩy đến chỗ ẩn náu trong môi trường không thể tiếp cận này, nơi ông tự do đi theo bản năng của mình. Nhưng theo tôi, giả thuyết ấy chỉ giải thích được một mặt của Thuyền trưởng Nemo.
Thật vậy, bí ẩn của buổi chiều cuối cùng ấy khi chúng tôi bị nhốt trong phòng giam và bị làm cho ngủ mê, sự thận trọng dữ dội của thuyền trưởng khi giật khỏi tay tôi chiếc ống nhòm đang sẵn sàng quét đường chân trời, và vết thương chí mạng giáng xuống người kia trong một vụ va chạm không được giải thích nào đó mà chiếc Nautilus đã chịu, tất cả dẫn tôi theo một con đường rõ ràng. Không! Thuyền trưởng Nemo không chỉ bằng lòng với việc tránh xa nhân loại! Chiếc tàu lặn đáng sợ của ông không chỉ phục vụ cuộc tìm kiếm tự do của ông, mà có lẽ còn được dùng trong Chúa biết những mưu đồ báo thù khủng khiếp nào.
Ngay lúc này, không gì rõ ràng với tôi; tôi vẫn chỉ thoáng thấy những tia sáng trong bóng tối, và tôi phải giới hạn ngòi bút mình, có thể nói như vậy, vào việc chép lại những gì sự kiện đọc cho.
Nhưng không gì ràng buộc chúng tôi với Thuyền trưởng Nemo. Ông tin rằng việc trốn khỏi chiếc Nautilus là bất khả. Chúng tôi thậm chí không bị câu thúc bởi lời danh dự. Không lời hứa nào trói buộc chúng tôi. Chúng tôi chỉ đơn giản là tù nhân, những kẻ bị giam giữ được ngụy trang dưới cái tên “khách” vì phép lịch sự hằng ngày. Dẫu vậy, Ned Land vẫn chưa từ bỏ mọi hy vọng giành lại tự do. Ông chắc chắn sẽ tận dụng cơ hội đầu tiên đến với mình. Hẳn tôi cũng sẽ làm như thế. Và tuy vậy tôi sẽ cảm thấy đôi chút tiếc nuối khi đem theo các bí mật của chiếc Nautilus, được Thuyền trưởng Nemo rộng rãi vén mở cho chúng tôi! Bởi xét cho cùng, chúng ta nên căm ghét hay khâm phục người đàn ông này? Ông là kẻ bách hại hay người bị bách hại? Và thành thật mà nói, trước khi rời ông mãi mãi, tôi muốn hoàn tất chuyến du hành vòng quanh thế giới dưới nước này, những chặng đầu đã tráng lệ đến thế. Tôi muốn quan sát trọn vẹn chuỗi kỳ quan tụ tập dưới các biển của địa cầu chúng ta. Tôi muốn thấy điều chưa một con người nào từng thấy, dù phải trả giá cho sự tò mò không thể thỏa mãn này bằng mạng sống! Những khám phá của tôi đến nay là gì? Chẳng là gì cả, tương đối mà nói—bởi cho đến giờ chúng tôi mới chỉ đi được 6.000 dặm biển qua Thái Bình Dương!
Tuy nhiên, tôi thừa biết chiếc Nautilus đang đến gần những bờ biển có dân cư, và nếu một cơ hội cứu thoát nào xuất hiện cho chúng tôi, sẽ là tàn nhẫn thuần túy nếu hy sinh các bạn đồng hành của tôi cho niềm say mê cái chưa biết của mình. Tôi phải đi cùng họ, có lẽ thậm chí dẫn đường cho họ. Nhưng liệu cơ hội này có bao giờ xuất hiện? Con người, bị tước mất ý chí tự do, khát khao một cơ hội như thế; nhưng nhà khoa học, mãi mãi tò mò, lại khiếp sợ nó.
Ngày hôm ấy, 21 tháng 1 năm 1868, vào giữa trưa sĩ quan trưởng đi đo độ cao của mặt trời. Tôi trèo lên sàn ngoài, châm một điếu xì gà, và xem ông làm việc. Đối với tôi dường như hiển nhiên rằng người này không hiểu tiếng Pháp, bởi tôi đã nói lớn vài nhận xét hẳn sẽ khiến ông để lộ một biểu hiện quan tâm vô thức nào đó nếu ông hiểu; nhưng ông vẫn câm lặng và vô cảm.
Trong khi ông lấy số đo bằng kính lục phân, một trong những thủy thủ của chiếc Nautilus—người đàn ông lực lưỡng đã cùng chúng tôi đến đảo Crespo trong chuyến du ngoạn dưới nước đầu tiên—đi lên để lau các ô kính của đèn hiệu. Khi ấy tôi quan sát các bộ phận của cơ cấu này, sức mạnh của nó được tăng lên gấp trăm lần nhờ các thấu kính hai mặt lồi, được thiết kế như thấu kính trong hải đăng và giữ cho các tia sáng của nó tập trung hữu hiệu. Chiếc đèn điện này được cấu tạo để cho ra công suất chiếu sáng tối đa. Về thực chất, ánh sáng của nó được sinh ra trong chân không, bảo đảm cả sự ổn định lẫn cường độ. Chân không ấy cũng giảm hao mòn trên các đầu graphite nơi cung sáng mở rộng. Đây là một sự tiết kiệm quan trọng đối với Thuyền trưởng Nemo, người không dễ thay mới chúng. Nhưng trong những điều kiện này, hao mòn gần như không tồn tại.
Khi chiếc Nautilus sẵn sàng tiếp tục hành trình dưới nước, tôi lại đi xuống phòng khách. Các cửa sập một lần nữa đóng lại, và hướng đi của chúng tôi được đặt thẳng về phía tây.
Khi ấy chúng tôi rẽ sóng Ấn Độ Dương, những đồng bằng lỏng mênh mông với diện tích 550.000.000 hecta, nơi nước trong đến mức khiến người ta chóng mặt khi nghiêng mình trên bề mặt. Ở đó chiếc Nautilus thường trôi ở độ sâu giữa 100 và 200 mét. Nó cư xử như vậy trong vài ngày. Đối với bất cứ ai không có niềm say mê lớn lao của tôi dành cho biển, những giờ này hẳn sẽ có vẻ dài và đơn điệu; nhưng các cuộc dạo hằng ngày của tôi trên sàn ngoài, nơi tôi được hồi sinh bởi không khí đại dương đầy sức sống, những cảnh tượng trong làn nước phong phú bên ngoài cửa sổ phòng khách, những cuốn sách để đọc trong thư viện, và việc soạn thảo hồi ký của tôi đã chiếm hết thời gian tôi và không để lại cho tôi một khoảnh khắc mệt mỏi hay buồn chán nào.
Xét chung, chúng tôi hưởng một tình trạng sức khỏe rất thỏa đáng. Chế độ ăn trên tàu hoàn toàn hợp với chúng tôi, và về phần tôi, tôi có thể dễ dàng không cần đến những thay đổi khẩu vị mà Ned Land, trong tinh thần phản kháng, cứ vận dụng óc sáng tạo để cung cấp cho chúng tôi. Hơn nữa, trong nhiệt độ ổn định này, chúng tôi thậm chí không phải lo bị cảm lạnh. Ngoài ra, con tàu có một nguồn dự trữ tốt loài madrepore Dendrophylia, ở Provence được biết dưới tên thì là biển, và một miếng thuốc đắp làm từ thịt polyp hòa tan của nó sẽ cung cấp một phương thuốc trị ho tuyệt hảo.
Trong vài ngày, chúng tôi thấy rất nhiều chim nước có chân màng, được biết dưới tên mòng biển hay hải âu nhỏ. Một số bị hạ rất khéo, và khi nấu theo một cách nhất định, chúng tạo thành một đĩa thú săn nước rất chấp nhận được. Trong số những kẻ cưỡi gió lớn—được đưa đi những quãng dài từ mọi bờ biển và nghỉ trên sóng sau những chuyến bay kiệt sức—tôi nhận ra vài con hải âu lớn tuyệt đẹp, loài chim thuộc họ Longipennes (cánh dài), tiếng kêu chói tai của chúng nghe như tiếng lừa hí. Họ Totipalmes (chân màng toàn phần) được đại diện bởi những con chim chiến nhanh nhẹn, khéo léo bắt cá trên mặt nước, và bởi nhiều chim nhiệt đới thuộc giống Phaeton, trong đó có chim nhiệt đới đuôi đỏ, lớn bằng chim bồ câu, bộ lông trắng của nó phơn phớt sắc hồng tương phản với đôi cánh sẫm màu.
Lưới của chiếc Nautilus kéo lên nhiều loại rùa biển thuộc giống đồi mồi, với lưng cong mà các vảy của chúng được đánh giá rất cao. Lặn dễ dàng, những loài bò sát này có thể ở khá lâu dưới nước bằng cách đóng các van thịt nằm ở các lỗ ngoài của đường mũi. Khi bị bắt, một số con đồi mồi vẫn đang ngủ trong mai, một nơi trú ẩn khỏi các động vật biển khác. Thịt những con rùa này không có gì đáng nhớ, nhưng trứng của chúng là một bữa tiệc tuyệt hảo.
Còn về cá, chúng luôn làm chúng tôi đầy kinh ngạc khi, nhìn qua các tấm che mở, chúng tôi có thể vén mở những bí mật trong đời sống dưới nước của chúng. Tôi ghi nhận vài loài mà trước đó tôi chưa thể quan sát.
Tôi sẽ chủ yếu nhắc đến vài loài cá hòm độc nhất ở Biển Đỏ, biển Đông Ấn, và phần đại dương rửa các bờ biển của châu Mỹ xích đạo. Giống rùa, armadillo, nhím biển và giáp xác, những con cá này được bảo vệ bằng giáp tấm không phải bằng phấn hay đá mà bằng xương thật sự. Đôi khi lớp giáp này mang hình tam giác rắn, đôi khi hình tứ giác rắn. Trong loại tam giác, tôi nhận thấy vài con dài nửa đềximét, đuôi nâu, vây vàng, và thịt lành, ngon tinh tế; tôi thậm chí còn khuyến nghị nên thuần hóa chúng trong nước ngọt, một sự thay đổi mà, nhân tiện, khá nhiều cá nước mặn có thể thực hiện dễ dàng. Tôi cũng sẽ nhắc đến vài con cá hòm tứ giác với bốn u lồi lớn dọc lưng; cá hòm rắc các đốm trắng ở mặt dưới thân, có thể làm thú nuôi trong nhà tốt như một số loài chim; cá hộp được vũ trang bằng gai hình thành từ các phần kéo dài của vỏ xương, và tiếng càu nhàu kỳ lạ của chúng khiến chúng có biệt danh “lợn biển”; rồi vài loài cá hòm được gọi là lạc đà một bướu, với thịt dai như da thuộc và các bướu lớn hình nón.
Từ những ghi chép hằng ngày của ông Conseil, tôi cũng lấy ra vài loài cá thuộc giống Tetradon, riêng có ở các vùng biển này: cá nóc phương nam với lưng đỏ và ngực trắng, được phân biệt bằng ba hàng sợi dọc thân, và cá bình, dài bảy inch, khoác những màu sắc rực rỡ nhất. Rồi, như mẫu vật của các giống khác, cá phồng giống một quả trứng nâu sẫm, rãnh bằng các dải trắng, và không có đuôi; cá cầu, những con nhím biển đích thực, trang bị gai và có thể tự phồng lên cho đến khi trông như một cái đệm ghim tua tủa kim; cá ngựa chung cho mọi đại dương; cá rồng bay với mõm dài và vây ngực rất căng, hình cánh, cho phép chúng, nếu không bay, thì ít nhất cũng bật lên không trung; cá mái chèo hình thìa có đuôi phủ nhiều vòng vảy; cá mỏ nhát với hàm dài, những con vật tuyệt hảo dài hai mươi lăm xentimét và lấp lánh những màu vui tươi nhất; cá đàn lia xanh xám với đầu nhăn; vô số cá blenny nhảy nhót với sọc đen và vây ngực dài, lướt trên mặt nước với tốc độ phi thường; cá buồm ngon lành có thể giương vây theo dòng thuận như bấy nhiêu cánh buồm mở; cá nursery lộng lẫy mà tự nhiên đã hào phóng ban cho vàng, xanh da trời, bạc và vàng kim; cá thu vàng với cánh làm bằng các sợi; cá bống đầu bò mãi mãi vấy bùn, phát ra những tiếng rít rõ rệt; cá robin biển mà gan được cho là độc; cá ladyfish có thể chớp mí mắt; cuối cùng là cá cung thủ với mõm dài hình ống, những tay bắt ruồi đại dương thật sự, được trang bị một khẩu súng trường ngoài dự liệu của cả Remington lẫn Chassepot: nó giết côn trùng bằng cách bắn chúng bằng một giọt nước đơn giản.
Từ giống cá thứ tám mươi chín trong hệ thống phân loại của Lacépède, thuộc phân lớp thứ hai của cá xương của ông (được đặc trưng bởi nắp mang và màng phế quản), tôi ghi nhận vài loài cá bọ cạp có đầu trang hoàng bằng gai và chỉ có một vây lưng; những con vật này phủ vảy nhỏ, hoặc hoàn toàn không có, tùy phân giống mà chúng thuộc về. Phân giống thứ hai cho chúng tôi vài mẫu Didactylus dài ba đến bốn đềximét, vằn vàng, đầu chúng có vẻ ngoài ma quái. Còn phân giống thứ nhất, nó cung cấp vài mẫu của loài cá kỳ dị được đặt biệt danh rất đúng là “cá cóc”, với cái đầu lớn khi thì bị khoét những hốc sâu, khi thì phồng bởi các u lồi; tua tủa gai và rải đầy các nốt, nó mang những sừng gồ ghề ghê tởm; thân và đuôi nó được trang hoàng bằng các chỗ chai; gai của nó có thể gây thương tích nguy hiểm; nó ghê tởm và kinh khủng.
Từ ngày 21 đến 23 tháng 1, chiếc Nautilus đi với tốc độ 250 dặm biển trong hai mươi bốn giờ, tức 540 dặm với tốc độ hai mươi hai dặm mỗi giờ. Nếu trong chuyến đi, chúng tôi có thể nhận diện các giống cá khác nhau này, đó là bởi chúng bị ánh điện của chúng tôi thu hút và cố bơi theo bên cạnh; nhưng phần lớn bị tốc độ của chúng tôi bỏ xa và chẳng mấy chốc tụt lại sau; tuy nhiên, trong chốc lát, một vài con vẫn xoay xở theo kịp trong vùng nước của chiếc Nautilus.
Sáng ngày 24, ở vĩ độ 12 độ 5′ nam và kinh độ 94 độ 33′, chúng tôi nhìn thấy đảo Keeling, một khối trồi madreporic trồng đầy những cây dừa tráng lệ, từng được ông Darwin và Thuyền trưởng Fitzroy ghé thăm. Chiếc Nautilus lướt cách bờ hòn đảo hoang này một đoạn ngắn. Lưới cào của chúng tôi kéo lên nhiều mẫu polyp và động vật da gai, cùng vài vỏ sò khác thường thuộc ngành Mollusca. Các kho báu của Thuyền trưởng Nemo được tăng thêm bằng vài mẫu vật quý giá thuộc loài ốc delphinula, vào đó tôi thêm vài san hô sao nhọn, một loại polypary ký sinh thường bám vào vỏ sò.
Chẳng mấy chốc đảo Keeling biến mất dưới đường chân trời, và hướng đi của chúng tôi được đặt về phía tây bắc, hướng tới mũi của bán đảo Ấn Độ.
“Văn minh!” Ned Land nói với tôi hôm ấy. “Tốt hơn nhiều so với những đảo Papua nơi chúng ta gặp nhiều người man rợ hơn thịt nai! Trên bờ biển Ấn Độ này, giáo sư, có đường bộ và đường sắt, làng người Anh, người Pháp và người Hindu. Chúng ta sẽ không đi năm dặm mà không đụng một đồng hương. Thôi nào, chẳng phải đã đến lúc chúng ta bất ngờ rời Thuyền trưởng Nemo sao?”
“Không, không, Ned,” tôi đáp bằng giọng rất cứng rắn. “Hãy cứ theo đến cùng, như các anh em đi biển của ông vẫn nói. Chiếc Nautilus đang đến gần các vùng có dân cư. Nó đang trở lại phía châu Âu, hãy để nó đưa chúng ta đến đó. Sau khi tới vùng biển quê nhà, chúng ta có thể làm như mình thấy thích hợp. Hơn nữa, tôi không hình dung Thuyền trưởng Nemo sẽ cho chúng ta đi săn trên các bờ Malabar hay Coromandel như ông đã làm trong các khu rừng New Guinea.”
“Chà, thưa ngài, chẳng lẽ chúng ta không thể xoay xở mà không có sự cho phép của ông ấy sao?”
Tôi không đáp người Canada. Tôi không muốn tranh luận. Sâu trong lòng, tôi quyết định tận dụng trọn vẹn vận may đã đưa tôi lên chiếc Nautilus.
Sau khi rời đảo Keeling, tốc độ của chúng tôi nhìn chung chậm hơn. Nó cũng khó đoán hơn, thường đưa chúng tôi xuống những vực sâu lớn. Nhiều lần chúng tôi dùng các cánh nghiêng, mà những cần gạt bên trong có thể đặt ở góc xiên so với đường nước của chúng tôi. Như vậy chúng tôi xuống sâu hai hay ba kilômét nhưng chưa bao giờ xác minh được những độ sâu thấp nhất của vùng biển gần Ấn Độ này, nơi những phép đo sâu 13.000 mét cũng không thể chạm tới. Còn về nhiệt độ trong các tầng thấp này, nhiệt kế luôn luôn và không thay đổi chỉ 4 độ bách phân. Tôi chỉ quan sát thấy rằng ở các lớp trên, nước trên bãi cạn luôn lạnh hơn ngoài biển khơi.
Ngày 25 tháng 1, đại dương hoàn toàn hoang vắng, chiếc Nautilus dành cả ngày trên mặt nước, khuấy sóng bằng chân vịt mạnh mẽ của nó và làm chúng phun lên thật cao. Trong những điều kiện này, ai lại không nhầm nó với một loài cá voi khổng lồ? Tôi ở ba phần tư ngày trên sàn ngoài. Tôi nhìn chằm chằm ra biển. Không có gì trên chân trời, trừ gần bốn giờ chiều, một chiếc tàu hơi nước dài ở phía tây, chạy theo hướng ngược với chúng tôi. Cột buồm của nó hiện ra trong chốc lát, nhưng nó không thể đã thấy chiếc Nautilus vì chúng tôi nằm quá thấp trong nước. Tôi tưởng tượng chiếc tàu hơi nước ấy thuộc tuyến Peninsular & Oriental, tuyến phục vụ từ đảo Ceylon đến Sydney, đồng thời ghé King George Sound và Melbourne.
Lúc năm giờ chiều, ngay trước khoảnh hoàng hôn ngắn ngủi nối ngày với đêm trong các vùng nhiệt đới, Conseil và tôi kinh ngạc trước một cảnh tượng khác thường.
Đó là một con vật duyên dáng mà việc phát hiện ra nó, theo người xưa, là dấu hiệu may mắn. Aristotle, Athenaeus, Pliny và Oppian đã nghiên cứu tập tính của nó và dành cho nó toàn bộ chất thơ khoa học của Hy Lạp và Ý. Họ gọi nó là “nautilus” và “pompilius.” Nhưng khoa học hiện đại không tán thành những tên gọi này, và loài thân mềm ấy nay được biết dưới tên argonaut.
Bất cứ ai hỏi Conseil hẳn sẽ nhanh chóng học được từ chàng trai can đảm rằng ngành Mollusca được chia thành năm lớp; rằng lớp thứ nhất gồm Cephalopoda (các thành viên của nó khi thì trần trụi, khi thì được vỏ bao phủ), gồm hai họ, Dibranchiata và Tetrabranchiata, được phân biệt bởi số mang của chúng; rằng họ Dibranchiata gồm ba giống, argonaut, mực ống và mực nang, còn họ Tetrabranchiata chỉ chứa một giống, nautilus. Sau bản danh mục này, nếu một người nghe bướng bỉnh nào đó nhầm argonaut, loài acetabuliferous (nói cách khác, mang các ống hút), với nautilus, loài tentaculiferous (mang xúc tu), thì đơn giản là không thể tha thứ.
Giờ đây, đó là một đàn argonaut đang du hành trên mặt đại dương. Chúng tôi có thể đếm được vài trăm con. Chúng thuộc loài argonaut phủ đầy u lồi và riêng có ở các vùng biển gần Ấn Độ.
Những loài thân mềm duyên dáng này bơi lùi bằng các ống vận động của chúng, hút nước vào các ống này rồi phun ra. Sáu trong tám xúc tu của chúng dài, mảnh, và nổi trên nước, trong khi hai xúc tu kia tròn thành những lòng bàn tay và mở ra đón gió như những cánh buồm nhẹ. Tôi có thể thấy hoàn hảo các vỏ xoắn lượn sóng của chúng, thứ Cuvier đã khéo so sánh với một con thuyền sò duyên dáng. Quả thật đó là một con thuyền. Nó chở con vật tiết ra nó mà con vật không dính chặt vào nó.
“Con argonaut tự do rời vỏ của nó,” tôi nói với Conseil, “nhưng nó không bao giờ làm vậy.”
“Không khác Thuyền trưởng Nemo lắm,” Conseil khôn ngoan đáp. “Đó là lý do ông ấy lẽ ra nên đặt tên tàu mình là Argonaut.”
Trong khoảng một giờ, chiếc Nautilus lướt giữa đàn thân mềm này. Rồi, Chúa biết vì sao, chúng bị một nỗi sợ đột ngột nắm lấy. Như theo một tín hiệu, mọi cánh buồm lập tức hạ xuống; tay khép lại, thân co rút, vỏ lật úp do thay đổi trọng tâm, và cả hạm đội biến mất dưới sóng. Việc ấy diễn ra tức thời, và chưa hạm đội tàu nào từng thao diễn với sự đồng loạt lớn hơn.
Đúng lúc ấy đêm đột ngột buông xuống, và những con sóng hầu như không dâng trong làn gió, trải ra yên bình quanh các tấm mạn của chiếc Nautilus.
Ngày hôm sau, 26 tháng 1, chúng tôi cắt xích đạo trên kinh tuyến 82 và trở lại bán cầu bắc.
Trong ngày hôm ấy, một đàn cá mập đáng sợ hộ tống chúng tôi. Những con vật ghê gớm đầy rẫy trong các vùng biển này và khiến chúng cực kỳ nguy hiểm. Có cá mập Port Jackson với lưng nâu, bụng trắng và mười một hàng răng, cá mập mắt to có cổ được đánh dấu bằng một đốm đen lớn viền trắng và giống một con mắt, và cá mập Isabella có mõm tròn rải các chấm sẫm. Thường khi những con vật mạnh mẽ này lao vào cửa sổ phòng khách với một sức mạnh không mấy dễ chịu. Đến lúc này Ned Land đã mất mọi tự chủ. Ông muốn nổi lên mặt sóng và phóng lao vào lũ quái vật, đặc biệt là vài con cá mập chó nhẵn có miệng lát những chiếc răng xếp như khảm, và vài con cá mập hổ lớn dài năm mét cứ nhất định tự mình khiêu khích ông. Nhưng chiếc Nautilus chẳng mấy chốc tăng tốc và dễ dàng bỏ lại phía sau những con ăn thịt người nhanh nhất ấy.
Ngày 27 tháng 1, tại lối vào vịnh Bengal khổng lồ, chúng tôi liên tục gặp một cảnh tượng ghê rợn: xác người trôi trên mặt sóng! Được sông Hằng đưa ra biển khơi, đó là những dân làng Ấn Độ đã chết chưa bị kền kền, những người mai táng duy nhất của vùng này, ăn hết. Nhưng không thiếu cá mập để giúp chúng với công việc tang lễ.
Gần bảy giờ tối, chiếc Nautilus nằm nửa chìm nửa nổi, đi giữa những làn sóng trắng sữa. Xa đến tận tầm mắt, đại dương dường như hóa thành sữa. Đó có phải là hiệu ứng của tia trăng? Không, bởi trăng non mới được hai ngày tuổi và vẫn còn mất hút dưới chân trời trong các tia mặt trời. Toàn bộ bầu trời, dù được ánh sao chiếu sáng, dường như đen như mực so với sắc trắng của những vùng nước này.
Conseil không tin nổi mắt mình, và anh hỏi tôi về nguyên nhân của hiện tượng kỳ lạ ấy. May thay, tôi có thể trả lời anh.
“Hiện tượng đó được gọi là biển sữa,” tôi nói với anh, “một khoảng sóng trắng mênh mông thường thấy dọc các bờ Amboina và trong các thủy lộ này.”
“Nhưng,” Conseil hỏi, “ngài có thể cho tôi biết nguyên nhân của hiệu ứng này không, vì tôi cho rằng nước này không thật sự biến thành sữa!”
“Không, chàng trai của tôi, và sắc trắng khiến anh kinh ngạc này chỉ do sự hiện diện của vô số sinh vật nhỏ bé gọi là infusoria, một loại đom đóm nhỏ xíu không màu và có vẻ ngoài dạng thạch, dày như một sợi tóc và dài không quá một phần năm milimét. Một số sinh vật nhỏ bé này bám lại với nhau trên một diện tích vài dặm biển.”
“Vài dặm biển!” Conseil kêu lên.
“Phải, chàng trai của tôi, và đừng cố tính số lượng những infusoria ấy. Anh sẽ không làm nổi đâu, bởi nếu tôi không nhầm, vài nhà hàng hải đã đi qua các biển sữa hơn bốn mươi dặm.”
Tôi không chắc Conseil có nghe lời khuyên của tôi không, bởi anh dường như đang chìm trong suy nghĩ, hẳn là đang cố tính xem có bao nhiêu một phần năm milimét trong bốn mươi dặm vuông. Còn tôi, tôi tiếp tục quan sát hiện tượng này. Trong nhiều giờ, cựa tàu của chiếc Nautilus xẻ qua những con sóng trắng nhạt này, và tôi nhìn nó lướt không tiếng động trên thứ nước như xà phòng, như thể nó đang đi qua những xoáy bọt mà các dòng chảy và phản lưu của một vịnh đôi khi để lại giữa nhau.
Gần nửa đêm, biển đột nhiên trở lại sắc màu thường lệ, nhưng phía sau chúng tôi đến tận chân trời, bầu trời vẫn tiếp tục phản chiếu sắc trắng của những làn sóng ấy và trong một lúc lâu dường như được thấm nhuộm ánh mờ của một cực quang phương bắc.
### CHƯƠNG 2
Một đề nghị mới từ Thuyền trưởng Nemo
NGÀY 28 THÁNG 1, ở vĩ độ 9 độ 4′ bắc, khi chiếc Nautilus trở lại mặt biển vào giữa trưa, nó nằm trong tầm nhìn của đất liền cách khoảng tám dặm về phía tây. Ngay lập tức, tôi quan sát thấy một cụm núi cao khoảng 2.000 foot, hình dáng được chạm khắc rất kỳ lạ. Sau khi xác định vị trí, tôi trở vào phòng khách, và khi tọa độ của chúng tôi được ghi trên hải đồ, tôi thấy chúng tôi đang ở ngoài khơi đảo Ceylon, viên ngọc trai lủng lẳng từ thùy dưới của bán đảo Ấn Độ.
Tôi vào thư viện tìm một cuốn sách về hòn đảo này, một trong những đảo màu mỡ nhất thế giới. Quả nhiên, tôi tìm thấy một tập mang nhan đề Ceylon and the Singhalese của H. C. Sirr, Esq. Trở lại phòng khách, trước hết tôi ghi nhận tọa độ của Ceylon, nơi thời cổ đại đã dành cho rất nhiều tên gọi khác nhau. Nó nằm giữa vĩ độ 5 độ 55′ và 9 độ 49′ bắc, và giữa kinh độ 79 độ 42′ và 82 độ 4′ đông tính từ kinh tuyến Greenwich; chiều dài của nó là 275 dặm; bề rộng tối đa, 150 dặm; chu vi, 900 dặm; diện tích, 24.448 dặm vuông, nói cách khác, hơi nhỏ hơn Ireland một chút.
Đúng lúc ấy Thuyền trưởng Nemo và sĩ quan trưởng xuất hiện.
Thuyền trưởng liếc nhìn hải đồ. Rồi, quay sang tôi:
“Đảo Ceylon,” ông nói, “nổi tiếng vì các ngư trường ngọc trai. Ông có quan tâm, Giáo sư Aronnax, đến việc ghé thăm một trong những ngư trường ấy không?”
“Chắc chắn, thuyền trưởng.”
“Tốt. Việc ấy dễ làm. Có điều, khi chúng ta thấy các ngư trường, chúng ta sẽ không thấy ngư dân. Mùa thu hoạch hằng năm vẫn chưa bắt đầu. Không sao. Tôi sẽ ra lệnh đi đến vịnh Mannar, và chúng ta sẽ tới đó muộn tối nay.”
Thuyền trưởng nói vài lời với sĩ quan trưởng, người lập tức đi ra. Chẳng mấy chốc chiếc Nautilus lại đi vào yếu tố lỏng của nó, và áp kế chỉ rằng nó đang ở độ sâu ba mươi foot.
Với hải đồ dưới mắt, tôi tìm vịnh Mannar. Tôi tìm thấy nó ở vĩ tuyến 9 ngoài khơi bờ tây bắc Ceylon. Nó được tạo thành bởi đường cong dài của đảo Mannar nhỏ. Để đến đó, chúng tôi phải đi ngược toàn bộ bờ tây Ceylon.
“Giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo khi ấy nói với tôi, “có các ngư trường ngọc trai ở vịnh Bengal, các biển Đông Ấn, biển Trung Hoa và Nhật Bản, thêm các biển phía nam Hoa Kỳ, vịnh Panama và vịnh California; nhưng chính ngoài khơi Ceylon mà nghề đánh bắt như thế thu về phần thưởng phong phú nhất. Không nghi ngờ gì, chúng ta sẽ đến hơi sớm. Ngư dân chỉ tụ tập trong vịnh Mannar vào tháng Ba, và trong ba mươi ngày khoảng 300 thuyền tập trung vào vụ thu hoạch sinh lợi từ các kho báu của biển này. Mỗi thuyền có mười tay chèo và mười thợ lặn. Những người sau chia thành hai nhóm, luân phiên lặn, và xuống tới độ sâu mười hai mét nhờ một hòn đá nặng kẹp giữa hai chân và buộc bằng dây với thuyền của họ.”
“Ý ông là,” tôi nói, “những phương pháp thô sơ như thế vẫn là tất cả những gì họ dùng?”
“Tất cả,” Thuyền trưởng Nemo đáp, “dù những ngư trường này thuộc về dân tộc công nghiệp hóa nhất thế giới, người Anh, mà Hiệp ước Amiens đã trao chúng cho họ năm 1802.”
“Thế nhưng đối với tôi, dường như các bộ đồ lặn như của ông có thể phục vụ đắc lực trong công việc ấy.”
“Phải, bởi những thợ lặn tội nghiệp ấy không thể ở lâu dưới nước. Trong chuyến đi tới Ceylon, người Anh Percival đã nói nhiều về một người Kaffir ở dưới nước năm phút không nổi lên mặt, nhưng tôi thấy điều đó khó tin. Tôi biết một số thợ lặn có thể chịu đến năm mươi bảy giây, và những người cực kỳ khéo léo đến tám mươi bảy giây; nhưng những người như thế hiếm, và khi những người khốn khổ trở lại thuyền, nước chảy ra từ mũi và tai họ nhuốm máu. Tôi tin thời gian trung bình dưới nước mà những thợ lặn này có thể chịu được là ba mươi giây, trong đó họ vội vã nhét vào lưới nhỏ của mình tất cả trai ngọc mà họ có thể giật ra. Nhưng những thợ lặn này nói chung không sống đến tuổi cao: thị lực của họ yếu đi, các vết loét bùng ra trên mắt, vết thương hình thành trên thân thể, và một số thậm chí bị trúng phong trên đáy đại dương.”
“Phải,” tôi nói, “đó là một nghề buồn bã, và chỉ tồn tại để làm thỏa mãn những ý thích thất thường của thời trang. Nhưng nói tôi nghe, thuyền trưởng, một chiếc thuyền có thể đánh bắt bao nhiêu con trai trong một ngày làm việc?”
“Khoảng 40.000 đến 50.000. Người ta còn nói rằng năm 1814, khi chính phủ Anh tự mình đi đánh bắt, các thợ lặn của họ làm việc chỉ hai mươi ngày và kéo lên 76.000.000 con trai.”
“Ít nhất,” tôi hỏi, “các thợ lặn được trả công xứng đáng chứ?”
“Chẳng mấy đâu, giáo sư. Ở Panama họ chỉ kiếm được 1,00 đô-la mỗi tuần. Ở hầu hết nơi khác họ chỉ được một xu cho mỗi con trai có ngọc, và họ kéo lên biết bao con không có gì!”
“Chỉ một xu cho những người khốn khổ làm giàu cho chủ của họ! Thật tàn nhẫn!”
“Về chuyện đó, giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo nói với tôi, “ông và các bạn đồng hành sẽ ghé thăm bãi trai Mannar, và nếu tình cờ có thợ lặn sốt sắng nào đến sớm, chà, chúng ta có thể xem anh ta làm việc.”
“Điều đó hợp ý tôi, thuyền trưởng.”
“Nhân tiện, Giáo sư Aronnax, ông không sợ cá mập chứ?”
“Cá mập?” tôi kêu lên.
Đối với tôi, câu hỏi này ít nhất cũng có vẻ khá thừa.
“Thế nào?” Thuyền trưởng Nemo tiếp tục.
“Tôi thừa nhận, thuyền trưởng, tôi vẫn chưa quen thân với giống cá ấy lắm.”
“Chúng tôi quen chúng, phần còn lại của chúng tôi,” Thuyền trưởng Nemo đáp. “Và theo thời gian ông cũng sẽ quen. Dù sao, chúng ta sẽ có vũ khí, và trên đường đi có thể săn một hai con ăn thịt người. Đó là một môn thể thao hấp dẫn. Vậy, giáo sư, hẹn gặp ông sáng mai, thật sớm.”
Nói xong bằng một giọng vô tư, Thuyền trưởng Nemo rời phòng khách.
Nếu ông được mời đi săn gấu trên núi Thụy Sĩ, ông có thể nói: “Ồ tốt, ngày mai mình được đi săn gấu!” Nếu ông được mời đi săn sư tử trên đồng bằng Atlas hay hổ trong rừng Ấn Độ, ông có thể nói: “Ha! Giờ là dịp để săn sư tử và hổ!” Nhưng nếu ông được mời đi săn cá mập trong yếu tố bản sinh của chúng, có lẽ ông nên nghĩ kỹ trước khi nhận lời.
Về phần tôi, tôi đưa tay lau trán, nơi những giọt mồ hôi lạnh đang bận hình thành.
“Hãy nghĩ kỹ,” tôi tự nhủ, “và hãy dành thời gian. Săn rái cá trong các khu rừng dưới nước, như chúng ta đã làm ở các khu rừng đảo Crespo, là một hoạt động có thể chấp nhận. Nhưng lang thang dưới đáy biển khi gần như chắc chắn gặp những con ăn thịt người ở quanh đó, lại là chuyện khác! Tôi biết ở một số nước, đặc biệt là quần đảo Andaman, người Negro không ngần ngại tấn công cá mập, một tay cầm dao găm và tay kia cầm thòng lọng; nhưng tôi cũng biết nhiều người đối mặt với những con vật đáng sợ ấy không trở về sống sót. Ngoài ra, tôi không phải người Negro, và ngay cả nếu tôi là người Negro, trong trường hợp này tôi không nghĩ một chút do dự từ phía tôi là không đúng chỗ.”
Và tôi ở đó, tưởng tượng về cá mập, hình dung những hàm khổng lồ trang bị nhiều hàng răng và có khả năng cắt đôi một người. Tôi đã có thể cảm thấy một cơn đau rõ rệt quanh vùng thắt lưng chậu của mình. Và tôi oán cái cách hờ hững mà thuyền trưởng đã đưa ra lời mời đáng chê trách của ông! Người ta hẳn tưởng chuyện này là vào rừng trong một cuộc săn cáo vô hại nào đó!
“Ơn trời!” tôi tự nhủ. “Conseil sẽ không bao giờ muốn đi cùng, và đó sẽ là cớ để tôi không đi với thuyền trưởng.”
Còn về Ned Land, tôi thú nhận mình kém tin tưởng hơn vào sự khôn ngoan của ông. Nguy hiểm, dù lớn đến đâu, vẫn luôn có sức hấp dẫn thường trực đối với bản tính hiếu chiến của ông.
Tôi quay lại đọc sách của Sirr, nhưng chỉ lật trang một cách máy móc. Giữa các dòng chữ, tôi cứ thấy những cái hàm đáng sợ mở rộng.
Đúng lúc ấy Conseil và người Canada bước vào với dáng vẻ bình tĩnh, thậm chí vui vẻ. Họ chẳng biết điều gì đang chờ mình.
“Lạy trời, thưa ngài!” Ned Land nói với tôi. “Thuyền trưởng Nemo của ngài—quỷ tha hắn đi—vừa đưa ra cho chúng ta một đề nghị rất dễ chịu!”
“Ồ!” tôi nói. “Ông biết về—”
“Với tất cả sự kính trọng dành cho ngài,” Conseil đáp, “vị chỉ huy chiếc Nautilus đã mời chúng tôi, cùng với ngài, ngày mai đi thăm các ngư trường ngọc trai tráng lệ của Ceylon. Ông ấy làm vậy bằng những lời lẽ hết sức thân tình và cư xử như một quý ông thật sự.”
“Ông ấy không nói với các anh điều gì khác sao?”
“Không gì cả, thưa ngài,” người Canada đáp. “Ông ấy nói ngài đã bàn với ông ấy về cuộc dạo nhỏ này rồi.”
“Quả thật,” tôi nói. “Nhưng ông ấy không cho các anh chi tiết nào về—”
“Không một chi tiết nào, ông nhà tự nhiên học. Ngài sẽ đi với chúng tôi, đúng chứ?”
“Tôi? Ừ thì, phải, chắc chắn, dĩ nhiên! Tôi có thể thấy ông thích ý tưởng này, ông Land.”
“Phải! Đó sẽ là một trải nghiệm thật sự khác thường!”
“Và có thể nguy hiểm!” tôi thêm bằng một giọng ám chỉ.
“Nguy hiểm?” Ned Land đáp. “Một chuyến đi đơn giản đến một bãi trai sao?”
Chắc chắn Thuyền trưởng Nemo đã không thấy cần gieo ý tưởng về cá mập vào tâm trí các bạn đồng hành của tôi. Về phần tôi, tôi nhìn họ bằng đôi mắt lo lắng, như thể họ đã thiếu một hai chi. Tôi có nên báo cho họ biết không? Có, chắc chắn, nhưng tôi hầu như không biết phải bắt đầu thế nào.
“Ngài,” Conseil nói với tôi, “có thể cho chúng tôi chút bối cảnh về nghề đánh ngọc trai không?”
“Về chính việc đánh bắt?” tôi hỏi. “Hay về những nguy hiểm nghề nghiệp mà—”
“Về việc đánh bắt,” người Canada đáp. “Trước khi xử lý địa hình, quen thuộc với nó là điều có ích.”
“Được, ngồi xuống, các bạn của tôi, và tôi sẽ dạy các anh mọi điều chính tôi vừa được học từ người Anh H. C. Sirr!”
Ned và Conseil ngồi xuống một chiếc trường kỷ, và ngay lập tức người Canada nói với tôi:
“Thưa ngài, rốt cuộc ngọc trai chính xác là gì?”
“Ned can đảm của tôi,” tôi đáp, “đối với thi sĩ, ngọc trai là giọt lệ của biển; đối với người phương Đông, đó là giọt sương đông cứng; đối với các quý bà, đó là món trang sức họ có thể đeo trên ngón tay, cổ và tai, hình thuôn dài, ánh bóng như thủy tinh, và được hình thành từ xà cừ; đối với các nhà hóa học, đó là một hỗn hợp calcium phosphate và calcium carbonate với một ít protein gelatin; và cuối cùng, đối với các nhà tự nhiên học, đó là một chất tiết mưng mủ đơn giản từ cơ quan tạo ra xà cừ trong một số loài hai mảnh vỏ.”
“Ngành Mollusca,” Conseil nói, “lớp Acephala, bộ Testacea.”
“Đúng, Conseil uyên bác của tôi. Thế thì, những loài Testacea có khả năng tạo ngọc trai gồm bào ngư cầu vồng, ốc turbo, trai khổng lồ và sò điệp nước mặn—tóm lại, tất cả những loài tiết xà cừ, nói cách khác, chất màu xanh lam, xanh da trời, tím hoặc trắng lót bên trong các van của chúng.”
“Trai sông có tính cả không?” người Canada hỏi.
“Có! Trai ở một số dòng suối tại Scotland, Wales, Ireland, Saxony, Bohemia và Pháp.”
“Tốt!” người Canada đáp. “Từ giờ chúng ta sẽ chú ý đến chúng hơn.”
“Nhưng,” tôi tiếp tục, “để tiết ngọc trai, loài thân mềm lý tưởng là trai ngọc Meleagrina margaritifera, loài vỏ quý giá ấy. Ngọc trai đơn giản là kết quả của xà cừ đông đặc thành hình cầu. Hoặc chúng dính vào vỏ trai, hoặc chúng bị vùi trong các nếp của con vật. Trên các van, ngọc trai dính chặt; trên phần thịt, nó nằm rời. Nhưng hạt nhân của nó luôn là một vật nhỏ, cứng, chẳng hạn một quả trứng vô sinh hay một hạt cát, quanh đó xà cừ được lắng đọng thành các lớp mỏng, đồng tâm, trong nhiều năm liên tiếp.”
“Có thể tìm thấy nhiều viên ngọc trong cùng một con trai không?” Conseil hỏi.
“Có, chàng trai của tôi. Có vài loài vỏ biến thành những hộp châu báu thật sự. Người ta thậm chí còn nhắc đến một con trai, chuyện mà tôi vẫn nghi ngờ, được cho là chứa ít nhất 150 con cá mập.”
“150 con cá mập!” Ned Land hét lên.
“Tôi nói cá mập sao?” tôi vội kêu lên. “Tôi muốn nói 150 viên ngọc. Cá mập thì chẳng hợp lý.”
“Quả đúng vậy,” Conseil nói. “Nhưng giờ ngài sẽ nói cho chúng tôi biết người ta lấy những viên ngọc ấy ra bằng cách nào chứ?”
“Người ta tiến hành bằng nhiều cách, và thường khi ngọc trai dính vào các van, ngư dân thậm chí gỡ chúng ra bằng kìm. Nhưng thường thì các loài vỏ được trải ra trên những tấm chiếu làm từ cỏ esparto phủ các bãi biển. Như thế chúng chết ngoài trời, và sau mười ngày chúng đã thối rữa đủ. Tiếp theo chúng được ngâm vào các bể lớn nước mặn, rồi được mở ra và rửa. Tại điểm này, những người phân loại bắt đầu công việc hai phần của họ. Trước hết họ lấy các lớp xà cừ, trong nghề được biết bằng những tên bạc chính phẩm, trắng thứ phẩm, hoặc đen thứ phẩm, và chúng được gửi đi trong các thùng nặng 125 đến 150 kilogram. Rồi họ lấy phần thịt của con trai, đun sôi, và cuối cùng lọc nó, để trích ra ngay cả những viên ngọc nhỏ nhất.”
“Giá của những viên ngọc này có khác nhau tùy kích thước không?” Conseil hỏi.
“Không chỉ theo kích thước,” tôi đáp, “mà còn theo hình dạng, nước của chúng—nói cách khác, màu sắc của chúng—và orient của chúng—nói cách khác, ánh sáng lốm đốm, lung linh khiến chúng vui mắt đến thế. Những viên ngọc đẹp nhất được gọi là ngọc trinh nữ, hay paragons; chúng hình thành cô lập trong mô của loài thân mềm. Chúng trắng, thường đục nhưng đôi khi trong mờ ánh ngũ sắc, và thường hình cầu hoặc hình quả lê. Những viên hình cầu được làm thành vòng tay; những viên hình quả lê thành bông tai, và vì chúng quý giá nhất, chúng được định giá riêng từng viên. Các viên khác dính vào vỏ trai thì có hình dạng thất thường hơn và được định giá theo trọng lượng. Cuối cùng, xếp ở hạng thấp nhất, những viên ngọc nhỏ nhất được biết dưới tên ngọc hạt; chúng được định giá theo cốc đong và chủ yếu dùng trong việc thêu áo lễ nhà thờ.”
“Nhưng hẳn việc phân loại những viên ngọc này theo kích thước là công việc dài và khó,” người Canada nói.
“Không, bạn tôi. Công việc ấy được thực hiện bằng mười một cái sàng, hay rây, đục những số lỗ khác nhau. Những viên ngọc ở lại trong các rây có hai mươi đến tám mươi lỗ thuộc hạng nhất. Những viên không lọt qua các rây đục 100 đến 800 lỗ thuộc hạng hai. Cuối cùng, những viên ngọc dùng rây đục 900 đến 1.000 lỗ mới lọt tạo thành ngọc hạt.”
“Thật khéo léo,” Conseil nói, “khi biến việc chia và phân loại ngọc trai thành một thao tác cơ học. Và ngài có thể nói cho chúng tôi biết lợi nhuận do việc khai thác các bãi trai ngọc này đem lại không?”
“Theo sách của Sirr,” tôi đáp, “những ngư trường Ceylon này được cho thuê hằng năm với tổng lợi nhuận 3.000.000 kẻ ăn thịt người.”
“Franc!” Conseil quở.
“Phải, franc! 3.000.000 franc!” tôi tiếp tục. “Nhưng tôi không nghĩ các ngư trường này đem lại lợi tức như trước kia. Tương tự, các ngư trường Trung Mỹ từng tạo lợi nhuận hằng năm 4.000.000 franc dưới triều Vua Charles V, nhưng nay chỉ đem lại hai phần ba số ấy. Nói chung, người ta ước tính 9.000.000 franc là lợi tức hằng năm hiện nay của toàn bộ ngành khai thác ngọc trai.”
“Nhưng,” Conseil hỏi, “chẳng phải có một số viên ngọc nổi tiếng được định giá cực kỳ cao sao?”
“Có, chàng trai của tôi. Người ta nói Julius Caesar đã tặng Servilia một viên ngọc trị giá 120.000 franc theo tiền của chúng ta.”
“Tôi thậm chí đã nghe chuyện,” người Canada nói, “về một bà nào đó thời xưa đã uống ngọc trai trong giấm.”
“Cleopatra,” Conseil bắn trả.
“Hẳn vị khá tệ,” Ned Land thêm.
“Ghê tởm, Ned bạn tôi,” Conseil đáp. “Nhưng khi một ly giấm nhỏ đáng giá 1.500.000 franc, thì hương vị của nó là cái giá nhỏ phải trả.”
“Tôi tiếc là mình đã không cưới cô nàng ấy,” người Canada nói, dang hai tay với vẻ nản lòng.
“Ned Land cưới Cleopatra?” Conseil kêu lên.
“Nhưng tôi đã sẵn sàng kết hôn rồi, Conseil,” người Canada đáp hết sức nghiêm túc, “và không phải lỗi của tôi khi toàn bộ việc ấy đổ vỡ. Tôi thậm chí đã mua một chuỗi ngọc trai cho vị hôn thê của mình, Kate Tender, nhưng nàng lại lấy người khác. Chà, chuỗi ngọc ấy chỉ tốn tôi 1,50 đô-la, nhưng các ngài hoàn toàn có thể tin tôi về chuyện này, giáo sư, những viên ngọc của nó lớn đến nỗi không thể lọt qua cái rây hai mươi lỗ ấy đâu.”
“Ned can đảm của tôi,” tôi đáp, cười, “đó là ngọc giả, những hạt thủy tinh bình thường mà bên trong được phủ Tinh chất Phương Đông.”
“Ồ!” người Canada đáp. “Tinh chất Phương Đông ấy hẳn bán với giá khá cao.”
“Bằng không! Nó lấy từ vảy cá chép châu Âu, chẳng qua là một chất bạc tích tụ trong nước và được bảo quản trong amoniac. Nó vô giá trị.”
“Có lẽ đó là lý do Kate Tender cưới người khác,” ông Land triết lý đáp.
“Nhưng,” tôi nói, “quay lại với những viên ngọc có giá trị lớn, tôi không nghĩ có vị quân vương nào từng sở hữu một viên vượt trội hơn viên ngọc của Thuyền trưởng Nemo.”
“Viên này sao?” Conseil nói, chỉ vào một viên ngọc lộng lẫy trong hộp kính của nó.
“Chính nó. Và chắc chắn tôi không sai xa khi ước tính giá trị của nó là 2.000.000... ờ...”
“Franc!” Conseil nói nhanh.
“Phải,” tôi nói, “2.000.000 franc, và chắc hẳn tất cả những gì thuyền trưởng của chúng ta phải bỏ ra chỉ là công nhặt nó lên.”
“Ha!” Ned Land kêu lên. “Trong cuộc dạo ngày mai của chúng ta, ai dám nói chúng ta sẽ không đụng phải một viên giống thế?”
“Bah!” Conseil chen vào.
“Và vì sao không?”
“Một viên ngọc trị giá hàng triệu có ích gì cho chúng ta ở đây trên chiếc Nautilus?”
“Ở đây thì không,” Ned Land nói. “Nhưng ở nơi khác...”
“Ồ! Nơi khác!” Conseil chen vào, lắc đầu.
“Thật vậy,” tôi nói, “ông Land có lý. Và nếu chúng ta từng mang về châu Âu hay châu Mỹ một viên ngọc trị giá hàng triệu, nó sẽ khiến câu chuyện về các cuộc phiêu lưu của chúng ta xác thực hơn—và sinh lợi hơn nhiều.”
“Đó là cách tôi nhìn sự việc,” người Canada nói.
“Nhưng,” Conseil, người luôn quay lại mặt giáo huấn của vấn đề, nói, “việc đánh bắt ngọc trai này có bao giờ nguy hiểm không?”
“Không,” tôi vội đáp, “đặc biệt nếu người ta thực hiện vài biện pháp phòng ngừa.”
“Trong một công việc như thế, người ta có thể gặp rủi ro gì?” Ned Land nói. “Nuốt vài ngụm nước mặn sao?”
“Ông nói sao cũng được, Ned.” Rồi, cố bắt chước giọng vô tư của Thuyền trưởng Nemo, tôi hỏi, “Nhân tiện, Ned can đảm, ông có sợ cá mập không?”
“Tôi sao?” người Canada đáp. “Tôi là người phóng lao chuyên nghiệp! Công việc của tôi là coi chúng như trò đùa!”
“Vấn đề không phải,” tôi nói, “là câu chúng bằng móc xoay, kéo chúng lên boong tàu, chặt đuôi bằng một nhát rìu, mở bụng, xé tim ra, và ném nó xuống biển.”
“Vậy vấn đề là...?”
“Phải, chính xác.”
“Dưới nước?”
“Dưới nước.”
“Lạy trời, cứ cho tôi một cây lao tốt! Ngài thấy đấy, thưa ngài, những con cá mập này được thiết kế rất dở. Chúng phải lật bụng lên để đớp ngài, và trong lúc đó...”
Ned Land có một cách phát âm từ “đớp” khiến sống lưng lạnh toát.
“Chà, còn anh, Conseil? Cảm giác của anh về những con ăn thịt người này thế nào?”
“Tôi sao?” Conseil nói. “Tôi e rằng mình phải thành thật với ngài.”
Tốt cho anh, tôi nghĩ.
“Nếu ngài đối mặt với những con cá mập ấy,” Conseil nói, “tôi nghĩ người hầu trung thành của ngài nên đối mặt với chúng cùng ngài!”
### CHƯƠNG 3
Một viên ngọc trị giá mười triệu
ĐÊM XUỐNG. Tôi lên giường. Tôi ngủ khá tệ. Những con ăn thịt người đóng vai trò chính trong các giấc mơ của tôi. Và tôi thấy ít nhiều thích hợp khi từ tiếng Pháp chỉ cá mập, requin, có gốc ngôn ngữ trong từ requiem.
Ngày hôm sau, lúc bốn giờ sáng, tôi được đánh thức bởi người tiếp viên mà Thuyền trưởng Nemo đã đặt riêng phục vụ tôi. Tôi nhanh chóng dậy, mặc quần áo, và đi vào phòng khách.
Thuyền trưởng Nemo đang chờ tôi.
“Giáo sư Aronnax,” ông nói với tôi, “ông đã sẵn sàng khởi hành chưa?”
“Tôi đã sẵn sàng.”
“Xin vui lòng theo tôi.”
“Còn các bạn đồng hành của tôi, thuyền trưởng?”
“Họ đã được báo và đang chờ chúng ta.”
“Chúng ta không mặc đồ lặn sao?” tôi hỏi.
“Chưa. Tôi chưa để chiếc Nautilus kéo quá gần bờ, và chúng ta còn khá xa bãi trai Mannar. Nhưng tôi đã chuẩn bị xuồng nhỏ, nó sẽ đưa chúng ta đến đúng nơi chúng ta lên bờ, như vậy sẽ tránh cho chúng ta một chặng đi bộ khá dài. Nó đang chở thiết bị lặn của chúng ta, và chúng ta sẽ mặc đồ ngay trước khi bắt đầu cuộc thám hiểm dưới nước.”
Thuyền trưởng Nemo đưa tôi tới cầu thang trung tâm, những bậc của nó dẫn lên sàn ngoài. Ned và Conseil đã ở đó, say mê với “cuộc dạo chơi” đang bắt đầu. Mái chèo đã vào vị trí, năm thủy thủ của chiếc Nautilus đang chờ chúng tôi trên xuồng nhỏ, được buộc dọc mạn tàu. Đêm vẫn còn tối. Những tầng mây phủ kín bầu trời và chỉ để lộ vài ngôi sao. Mắt tôi bay về phía có đất liền, nhưng tôi chỉ thấy một đường mờ phủ ba phần tư chân trời từ tây nam đến tây bắc. Đi ngược bờ tây Ceylon trong đêm, chiếc Nautilus nằm phía tây của vịnh, hay đúng hơn là của cái vũng biển do đất liền và đảo Mannar tạo thành. Dưới những làn nước tối này trải dài bãi sò, một cánh đồng ngọc trai không bao giờ cạn, dài hơn hai mươi dặm.
Thuyền trưởng Nemo, Conseil, Ned Land và tôi ngồi ở đuôi xuồng nhỏ. Người lái xuồng dài nắm bánh lái; bốn bạn đồng hành của anh ta nghiêng mình trên mái chèo; dây neo được tháo và chúng tôi rời mạn tàu.
Xuồng nhỏ hướng về phía nam. Những tay chèo không vội. Tôi nhìn các nhịp chèo mạnh mẽ bắt lấy mặt nước, và họ luôn chờ mười giây trước khi chèo lại, theo thông lệ dùng trong hầu hết các hải quân. Trong khi xuồng dài lướt đi, những giọt nước bắn khỏi mái chèo và rơi vào các hõm sóng tối, lách tách như những giọt chì nóng chảy. Từ ngoài xa, một đợt sóng lừng nhẹ làm xuồng nhỏ lắc khẽ, và vài con sóng bạc đầu liếm vào mũi nó.
Chúng tôi im lặng. Thuyền trưởng Nemo đang nghĩ gì? Có lẽ rằng bờ biển đang đến gần này quá gần để ông thấy dễ chịu, trái với quan điểm của người Canada, đối với người ấy nó vẫn dường như quá xa. Còn Conseil, anh đi cùng chỉ vì tò mò đơn giản.
Gần 5 giờ 30, những ánh sáng đầu tiên trên chân trời vạch rõ hơn các đường nét phía trên của bờ biển. Khá bằng phẳng về phía đông, nó hơi nhô lên về phía nam. Vẫn còn năm dặm ngăn nó với chúng tôi, và bãi biển của nó hòa vào những vùng nước mù sương. Giữa chúng tôi và bờ, biển hoang vắng. Không một chiếc thuyền, không một thợ lặn. Sự cô tịch sâu xa ngự trị trên nơi tụ hội của những người đánh ngọc trai này. Như Thuyền trưởng Nemo đã nhận xét, chúng tôi đến các thủy lộ này sớm hơn một tháng.
Đến sáu giờ, ngày bừng lên đột ngột, với tốc độ riêng có của các vùng nhiệt đới, nơi không có bình minh hay hoàng hôn thật sự. Tia nắng xuyên qua bức màn mây tụ ở chân trời phía đông, và vầng sáng rực rỡ vươn lên nhanh chóng.
Tôi có thể thấy rõ bờ biển, nơi đây đó có vài cây thưa thớt.
Xuồng nhỏ tiến về phía đảo Mannar, uốn cong về phía nam. Thuyền trưởng Nemo đứng dậy khỏi ghế ngang và nghiên cứu mặt biển.
Theo hiệu lệnh của ông, neo được thả xuống, nhưng dây xích của nó hầu như không chạy vì đáy chỉ nằm sâu hơn một mét, và địa điểm này là một trong những chỗ nông nhất gần bãi sò. Lập tức xuồng nhỏ quay vòng dưới lực đẩy ra ngoài của thủy triều xuống.
“Đến nơi rồi, Giáo sư Aronnax,” khi ấy Thuyền trưởng Nemo nói. “Ông có thấy cái vịnh kín này không? Một tháng nữa, ngay tại nơi này, vô số thuyền đánh bắt của những người thu hoạch sẽ tụ tập, và đây là những vùng nước mà các thợ lặn của họ sẽ liều lĩnh lục soát. Cái vịnh này được bố trí rất thuận tiện cho kiểu đánh bắt của họ. Nó được che chở khỏi những cơn gió mạnh nhất, và biển ở đây không bao giờ quá dữ dội, những điều kiện rất thuận lợi cho công việc lặn. Giờ chúng ta mặc đồ dưới nước, rồi sẽ bắt đầu cuộc dạo.”
Tôi không đáp, và trong khi nhìn những con sóng đáng ngờ này, tôi bắt đầu mặc bộ đồ thủy sinh nặng nề, được các thủy thủ trên xuồng dài giúp đỡ. Thuyền trưởng Nemo và hai bạn đồng hành của tôi cũng mặc đồ. Không người nào của chiếc Nautilus sẽ đi cùng chúng tôi trong cuộc du ngoạn mới này.
Chẳng mấy chốc chúng tôi bị giam đến cổ trong quần áo cao su Ấn Độ, và các dây đai buộc thiết bị khí vào lưng chúng tôi. Còn thiết bị Ruhmkorff thì dường như không được tính đến. Trước khi đưa đầu vào chiếc mũ đồng, tôi nhận xét điều này với thuyền trưởng.
“Thiết bị chiếu sáng của chúng ta sẽ vô dụng,” thuyền trưởng đáp. “Chúng ta sẽ không đi sâu lắm, và tia nắng mặt trời sẽ đủ để soi đường. Hơn nữa, mang đèn điện dưới những con sóng này là thiếu khôn ngoan. Ánh sáng của chúng có thể bất ngờ thu hút vài cư dân nguy hiểm của các thủy lộ này.”
Khi Thuyền trưởng Nemo thốt những lời ấy, tôi quay sang Conseil và Ned Land. Nhưng hai người bạn của tôi đã trùm sọ mình trong mũ kim loại, và họ không thể nghe cũng không thể trả lời.
Tôi còn một câu hỏi cuối để hỏi Thuyền trưởng Nemo.
“Còn vũ khí của chúng ta?” tôi hỏi ông. “Súng trường của chúng ta?”
“Súng trường! Để làm gì? Chẳng phải những người miền núi của các ông tấn công gấu với dao găm trong tay sao? Và chẳng phải thép chắc chắn hơn chì sao? Đây là một lưỡi dao chắc chắn. Hãy nhét nó dưới thắt lưng, rồi chúng ta đi.”
Tôi nhìn chằm chằm các bạn đồng hành của mình. Họ được trang bị theo cùng kiểu, và Ned Land còn vung một cây lao khổng lồ mà ông đã cất trong xuồng nhỏ trước khi rời chiếc Nautilus.
Rồi, theo gương thuyền trưởng, tôi để chiếc cầu bằng quả cầu đồng nặng trĩu đặt lên mình, và các bình khí của chúng tôi lập tức hoạt động.
Một lát sau, các thủy thủ trên xuồng dài giúp chúng tôi lần lượt xuống nước, và chúng tôi đặt chân lên nền cát phẳng trong vùng nước sâu một mét rưỡi. Thuyền trưởng Nemo ra hiệu bằng tay cho chúng tôi. Chúng tôi đi theo ông xuống một sườn dốc thoai thoải và biến mất dưới sóng.
Ở đó, những nỗi sợ ám ảnh trong đầu tôi rời bỏ tôi. Tôi trở nên bình tĩnh lại một cách đáng kinh ngạc. Sự dễ dàng trong cử động làm tăng lòng tin của tôi, và vô số cảnh tượng kỳ lạ chiếm lấy trí tưởng tượng của tôi.
Mặt trời đã gửi đủ ánh sáng xuống dưới những con sóng này. Những vật nhỏ nhất vẫn còn nhìn thấy được. Sau mười phút đi bộ, chúng tôi ở trong nước sâu năm mét, và địa hình đã trở nên gần như bằng phẳng.
Như một đàn chim dẽ giun trên đầm lầy, dưới chân chúng tôi nổi lên những đàn cá khác thường thuộc giống Monopterus, các thành viên của chúng không có vây nào ngoài đuôi. Tôi nhận ra lươn Java, một con rắn thật sự dài tám đềximét với bụng xám xanh, thứ, nếu không có các đường vàng trên sườn, có thể dễ dàng bị nhầm với lươn biển conger. Từ giống cá bơ, với thân hình bầu dục rất dẹt, tôi quan sát vài con trang hoàng bằng màu sắc rực rỡ và mang một vây lưng như lưỡi liềm, những con cá ăn được mà khi phơi khô và ướp sẽ thành một món tuyệt hảo được biết dưới tên “karawade”; rồi một số cá bọ cạp biển, cá thuộc giống Aspidophoroides, thân phủ giáp vảy chia thành tám phần dọc.
Trong khi đó, khi mặt trời dần lên cao hơn, nó soi sáng khối nước ngày càng nhiều. Đáy biển thay đổi từng chút. Lớp cát mịn của nó được thay bằng một con đường thật sự bằng những vách đá nhẵn phủ một thảm thân mềm và động vật hình cây. Giữa những mẫu vật khác trong hai ngành này, tôi ghi nhận vài con điệp cửa sổ với hai van mỏng kích thước không đều, một loại ostracod riêng có ở Biển Đỏ và Ấn Độ Dương, rồi lucina màu cam với vỏ tròn, vỏ ốc khoan hình dùi, một số trong những ốc murex Ba Tư cung cấp cho chiếc Nautilus thứ thuốc nhuộm tuyệt vời, những con ốc mỏ gai dài mười lăm xentimét vươn lên dưới sóng như những bàn tay sẵn sàng chộp lấy ông, ốc turban với vỏ làm bằng sừng và tua tủa gai khắp nơi, sò đèn, sò vịt ăn được nuôi chợ Hindu, những con sứa phát sáng tinh tế thuộc loài Pelagia panopyra, và cuối cùng là vài mẫu Oculina flabelliforma tuyệt đẹp, những quạt biển tráng lệ tạo nên một trong những hình thái cây cối sum suê nhất của đại dương này.
Giữa thảm thực vật chuyển động này, dưới các vòm cây nước, có những binh đoàn động vật có đốt vụng về đua chạy, đặc biệt là vài con cua ếch có nanh với mai tạo thành một tam giác hơi tròn, cua trộm riêng có ở các thủy lộ này, và những con cua parthenope kinh khủng có vẻ ngoài ghê tởm đối với mắt. Một con vật không kém phần xấu xí, tôi gặp vài lần, là loài cua khổng lồ mà ông Darwin đã quan sát, loài được tự nhiên ban cho bản năng và sức mạnh cần thiết để ăn dừa; nó bò lên cây trên bãi biển và làm dừa rơi xuống; chúng vỡ ra khi rơi và được mở bằng đôi càng mạnh mẽ của nó. Ở đây, dưới những làn sóng trong trẻo này, con cua ấy chạy vòng quanh với sự nhanh nhẹn vô song, trong khi rùa xanh thuộc loài thường lui tới bờ Malabar di chuyển chậm chạp giữa những tảng đá vụn.
Gần bảy giờ, cuối cùng chúng tôi khảo sát bãi sò, nơi trai ngọc sinh sản thành hàng triệu. Những loài thân mềm quý giá này bám vào đá, nơi chúng được giữ chắc bởi một khối sợi nâu khiến chúng không thể di chuyển. Về mặt này, trai còn thua cả vẹm, loài mà tự nhiên không khước từ mọi năng khiếu vận động.
Loài vỏ Meleagrina, chiếc tử cung của ngọc trai với hai van gần như bằng nhau về kích thước, có hình một vỏ tròn với thành dày và bên ngoài rất thô ráp. Một số vỏ này có những rãnh thành dải bong vảy xanh lục, tỏa xuống từ đỉnh. Đó là những con trai non. Những con khác có bề mặt đen gồ ghề, rộng đến mười lăm xentimét, và đã mười năm tuổi hoặc hơn.
Thuyền trưởng Nemo chỉ cho tôi đống vỏ kỳ vĩ này, và tôi thấy rằng những mỏ này thật sự là vô tận, vì quyền năng sáng tạo của tự nhiên lớn hơn bản năng phá hủy của con người. Trung thành với những bản năng ấy, Ned Land tham lam nhét những loài thân mềm đẹp nhất vào một cái lưới ông mang bên hông.
Nhưng chúng tôi không thể dừng lại. Chúng tôi phải đi theo thuyền trưởng, người đi xuống những lối mòn dường như chỉ mình ông biết. Đáy biển nhô lên rõ rệt, và khi tôi giơ tay, đôi lúc chúng vượt lên trên mặt biển. Rồi mức của bãi trai lại hạ xuống khó đoán. Chúng tôi thường đi vòng qua những tảng đá cao, nhọn, vươn lên như kim tự tháp. Trong các khe tối của chúng, những loài giáp xác khổng lồ, nhắm đôi chân dài như trọng pháo, nhìn chúng tôi bằng đôi mắt không chớp, trong khi dưới chân bò lổm ngổm rết biển, giun máu, giun aricia và giun đốt, râu và xúc tu hình ống của chúng dài đến khó tin.
Đúng lúc ấy một hang lớn mở ra trên đường chúng tôi, khoét vào một đống đá đẹp như tranh mà các đỉnh nhẵn hoàn toàn treo đầy hệ thực vật dưới nước. Lúc đầu hang này đối với tôi trông đen như mực. Bên trong, các tia mặt trời dường như mờ dần từng bậc. Độ trong mờ của chúng chẳng khác gì ánh sáng chết đuối.
Thuyền trưởng Nemo đi vào. Chúng tôi theo ông. Mắt tôi chẳng mấy chốc quen với bóng tối tương đối này. Tôi phân biệt những chỗ bắt đầu của một vòm hang có đường nét bất định, được chống đỡ bởi các cột tự nhiên bám vững trên nền granit, như những cột nặng nề của kiến trúc Toscana. Vì sao người dẫn đường không thể hiểu nổi của chúng tôi lại đưa chúng tôi vào lòng hầm mộ dưới nước này? Chẳng mấy chốc tôi sẽ biết.
Sau khi đi xuống một sườn khá dốc, chân chúng tôi giẫm lên nền của một thứ hố tròn. Ở đó Thuyền trưởng Nemo dừng lại, và tay ông chỉ một vật mà tôi chưa để ý.
Đó là một con trai có kích thước phi thường, một con sò khổng lồ như trong thần thoại, một bồn nước thánh có thể chứa cả một cái hồ, một chiếc chậu rộng hơn hai mét, vì thế còn lớn hơn chiếc trang hoàng trong phòng khách của chiếc Nautilus.
Tôi tiến lại gần loài thân mềm phi thường này. Khối sợi của nó bám vào một bệ granit, và ở đó nó lớn lên một mình giữa vùng nước yên tĩnh của hang. Tôi ước tính trọng lượng của con trai khổng lồ này là 300 kilogram. Vậy một con trai như thế chứa mười lăm kilogram thịt, và người ta cần dạ dày của Vua Gargantua mới ăn được vài tá con.
Rõ ràng Thuyền trưởng Nemo biết sự tồn tại của loài hai mảnh vỏ này. Đây không phải lần đầu ông đến thăm nó, và tôi tưởng lý do duy nhất khiến ông dẫn chúng tôi đến địa điểm này là để cho chúng tôi thấy một kỳ vật tự nhiên. Tôi đã nhầm. Thuyền trưởng Nemo có một lợi ích cá nhân rõ ràng trong việc kiểm tra tình trạng hiện tại của con trai khổng lồ này.
Hai van của loài thân mềm mở một phần. Thuyền trưởng tiến lại và cắm dao găm của mình thẳng đứng giữa hai vỏ để ngăn mọi ý định khép lại; rồi bằng hai tay, ông nâng lớp áo có diềm, đầy màng, tạo nên áo khoác của con vật.
Ở đó, giữa các nếp như lá của nó, tôi thấy một viên ngọc rời lớn bằng một quả dừa. Hình cầu, độ trong hoàn hảo, và ánh orient tuyệt diệu biến nó thành một viên báu có giá trị không thể tính. Bị tò mò cuốn đi, tôi đưa tay muốn cầm lấy nó, cân nó, vuốt ve nó! Nhưng thuyền trưởng ngăn tôi lại, ra dấu không, rút dao găm của ông bằng một động tác nhanh, và để hai van khép sập lại.
Khi ấy tôi hiểu ý định của Thuyền trưởng Nemo. Bằng cách để viên ngọc nằm dưới áo khoác của con trai khổng lồ, ông cho phép nó lớn lên không nhận ra được. Với mỗi năm trôi qua, chất tiết của loài thân mềm thêm những lớp đồng tâm mới. Chỉ riêng thuyền trưởng biết hang nơi “trái cây” tuyệt diệu này của tự nhiên đang chín; chỉ riêng ông nuôi dưỡng nó, có thể nói vậy, để một ngày nào đó chuyển nó vào bảo tàng thân yêu của mình. Có lẽ, theo gương những người nuôi trai ở Trung Hoa và Ấn Độ, ông thậm chí đã định trước sự tạo thành viên ngọc này bằng cách nhét dưới các nếp của loài thân mềm một mảnh thủy tinh hay kim loại nào đó, thứ dần dần được xà cừ phủ kín. Dù sao, so sánh viên ngọc này với những viên khác tôi đã biết, và với những viên lung linh trong bộ sưu tập của thuyền trưởng, tôi ước tính nó đáng giá ít nhất 10.000.000 franc. Nó là một kỳ vật tự nhiên tuyệt đẹp hơn là một món trang sức xa hoa, bởi tôi không biết có tai phụ nữ nào chịu nổi nó.
Cuộc thăm viếng con trai khổng lồ giàu có này kết thúc. Thuyền trưởng Nemo rời hang, và chúng tôi leo ngược lên bãi sò giữa những làn nước trong chưa bị các thợ lặn làm việc khuấy động.
Chúng tôi đi một mình, những kẻ nhàn du đích thực, dừng lại hay lạc bước theo ý thích. Về phần tôi, tôi không còn lo về những nguy hiểm mà trí tưởng tượng của mình đã phóng đại một cách lố bịch. Các bãi cạn tiến rõ rệt gần mặt biển hơn, và chẳng mấy chốc, đi trong nước chỉ sâu một mét, đầu tôi vượt hẳn lên trên mực đại dương. Conseil nhập lại với tôi, và áp chiếc mũ đồng khổng lồ của anh vào của tôi, đôi mắt anh gửi tôi một lời chào thân thiện. Nhưng cao nguyên cao này chỉ dài vài sải, và chẳng mấy chốc chúng tôi lại bước vào Yếu Tố của Chúng Ta. Tôi nghĩ giờ mình đã giành được quyền gọi nó như vậy.
Mười phút sau, Thuyền trưởng Nemo đột ngột dừng lại. Tôi tưởng ông đã ra lệnh dừng để chúng tôi quay lại và bắt đầu trở về. Không. Bằng một cử chỉ, ông ra lệnh cho chúng tôi cúi thấp bên cạnh ông ở chân một khe nứt rộng. Tay ông chỉ về một điểm trong khối nước, và tôi nhìn kỹ.
Cách năm mét, một cái bóng xuất hiện và rơi xuống đáy biển. Ý nghĩ đáng sợ về cá mập lướt qua đầu tôi. Nhưng tôi đã nhầm, và một lần nữa chúng tôi không phải đối phó với quái vật của vực sâu.
Đó là một con người, một con người sống, một ngư dân Ấn Độ da đen, một kẻ tội nghiệp chắc hẳn đến thu nhặt những gì có thể trước mùa thu hoạch. Tôi thấy đáy chiếc xuồng độc mộc của anh ta, neo cách đầu anh vài foot. Anh lặn xuống và trồi lên liên tiếp rất nhanh. Một hòn đá đẽo hình nón đường, mà anh kẹp giữa hai chân trong khi một sợi dây nối nó với thuyền, dùng để hạ anh xuống đáy đại dương nhanh hơn. Đó là toàn bộ thiết bị của anh. Đến đáy biển ở độ sâu khoảng năm mét, anh quỳ xuống và nhét vào túi những con trai nhặt bừa. Rồi anh trồi lên, đổ trống túi, kéo hòn đá lên, và bắt đầu lại, toàn bộ quá trình chỉ kéo dài ba mươi giây.
Người thợ lặn này không thấy chúng tôi. Một bóng đổ từ vách đá đã che chúng tôi khỏi tầm nhìn của anh ta. Hơn nữa, làm sao người Ấn Độ tội nghiệp này có thể đoán rằng có những con người, những sinh vật như chính anh, đang ở gần anh dưới làn nước, rình nghe các cử động của anh, không bỏ lỡ một chi tiết nào trong việc đánh bắt của anh!
Vậy là anh ta lên xuống vài lần. Mỗi lần lặn anh chỉ nhặt được khoảng mười con trai, vì anh phải giật chúng khỏi các bãi nơi mỗi con bám chặt bằng khối sợi dai bền. Và trong bao nhiêu con trai mà vì chúng anh liều mạng, sẽ có bao nhiêu con không có ngọc!
Tôi quan sát anh ta rất kỹ. Các cử động của anh được thực hiện có hệ thống, và trong nửa giờ dường như không có nguy hiểm nào đe dọa anh. Vì vậy tôi đã quen với cảnh đánh bắt hấp dẫn này thì bỗng, đúng lúc người Ấn Độ đang quỳ dưới đáy biển, tôi thấy anh ta làm một cử chỉ hoảng sợ, đứng dậy, và co người để phóng lên mặt sóng.
Tôi hiểu nỗi sợ của anh. Một cái bóng khổng lồ xuất hiện phía trên người thợ lặn tội nghiệp. Đó là một con cá mập kích thước khổng lồ, di chuyển theo đường chéo, mắt rực lửa, hàm há rộng!
Tôi câm lặng vì kinh hãi, không thể làm một cử động nào.
Bằng một nhịp vây mạnh mẽ, con vật tham ăn lao về phía người Ấn Độ, anh nhảy sang bên và tránh được cú đớp của cá mập nhưng không tránh được cú quất đuôi, bởi cái đuôi ấy đánh ngang ngực anh và quật anh nằm dài trên đáy biển.
Cảnh này chỉ kéo dài vài giây. Con cá mập quay lại, lật ngửa trên lưng, và sắp sửa cắt đôi người Ấn Độ, thì Thuyền trưởng Nemo, người đứng cạnh tôi, đột nhiên đứng dậy. Rồi ông sải thẳng tới con quái vật, dao găm trong tay, sẵn sàng đánh cận chiến với nó.
Ngay khi nó sắp đớp lấy người đánh cá tội nghiệp, con ăn thịt người thấy đối thủ mới, lật lại bụng xuống, và nhanh chóng hướng về phía ông.
Tôi vẫn thấy dáng vẻ của Thuyền trưởng Nemo đến tận hôm nay. Đứng vững, ông chờ con ăn thịt người đáng sợ với sự bình tĩnh tuyệt vời, và khi con vật lao vào ông, thuyền trưởng nhảy sang bên với sự nhanh nhẹn phi thường, tránh cú va, và đâm dao găm vào bụng nó. Nhưng câu chuyện chưa kết thúc ở đó. Một trận chiến khủng khiếp bắt đầu.

Con cá mập rống lên, có thể nói như vậy. Máu từ các vết thương của nó trút vào sóng. Biển bị nhuộm đỏ, và qua thứ chất lỏng đục ấy tôi không còn thấy gì khác.
Không gì khác cho đến khoảnh khắc, qua một khe rách trong đám mây, tôi thấy thuyền trưởng táo bạo bám vào một trong các vây của con vật, đánh cận chiến với quái vật, giáng những nhát dao vào bụng kẻ thù nhưng vẫn không thể tung đòn quyết định, nói cách khác, một cú đâm thẳng vào tim. Trong cuộc giãy giụa, con ăn thịt người khuấy khối nước dữ dội đến mức các xoáy của nó đe dọa quật ngã tôi.
Tôi muốn chạy tới cứu thuyền trưởng. Nhưng tôi chết lặng vì kinh hãi, không thể động đậy.
Tôi nhìn chằm chằm, mắt hoang dại. Tôi thấy trận chiến bước sang một giai đoạn mới. Thuyền trưởng ngã xuống đáy biển, bị khối lượng khổng lồ đang đè ông quật ngã. Rồi hàm cá mập há rộng đáng kinh ngạc, như một cặp kéo công nghiệp, và đó hẳn đã là kết thúc của Thuyền trưởng Nemo nếu Ned Land, nhanh như ý nghĩ, không lao tới với cây lao và thúc mũi nhọn đáng sợ của nó vào mặt dưới con cá mập.
Sóng bão hòa những khối máu. Nước rung chuyển bởi các cử động của con ăn thịt người, đang quẫy đạp với cơn cuồng nộ không thể tả. Ned Land đã không trượt mục tiêu. Đây là cơn hấp hối của quái vật. Bị đâm thấu tim, nó vật lộn trong những cơn co thắt khủng khiếp mà dư chấn đánh Conseil ngã khỏi chân.
Trong khi đó Ned Land kéo thuyền trưởng ra. Không bị thương, người sau đứng dậy, đi thẳng đến người Ấn Độ, nhanh chóng cắt sợi dây buộc người kia với hòn đá, ôm anh ta trong tay, và bằng một cú đạp gót mạnh mẽ, vươn lên mặt biển.
Ba chúng tôi đi theo ông, và vài khoảnh khắc sau, được cứu an toàn một cách kỳ diệu, chúng tôi tới chiếc xuồng dài của người đánh cá.
Mối quan tâm đầu tiên của Thuyền trưởng Nemo là hồi tỉnh con người bất hạnh này. Tôi không chắc ông sẽ thành công. Tôi hy vọng thế, vì người khốn khổ chưa ở dưới nước quá lâu. Nhưng cú quật từ đuôi cá mập có thể đã là đòn chí mạng của anh.
May thay, sau khi được Conseil và thuyền trưởng xoa bóp mạnh mẽ, tôi thấy người gần chết đuối dần dần tỉnh lại. Anh mở mắt. Hẳn anh đã kinh ngạc biết bao, thậm chí sợ hãi biết bao, khi thấy bốn cái sọ đồng khổng lồ cúi xuống trên mình!
Và trên hết, anh hẳn đã nghĩ gì khi Thuyền trưởng Nemo rút một túi ngọc trai từ túi áo trong bộ đồ lặn của mình và đặt nó vào tay người đánh cá? Ân huệ lộng lẫy này từ Người của Nước dành cho người Ấn Độ nghèo ở Ceylon được người sau nhận bằng đôi tay run rẩy. Đôi mắt sững sờ của anh cho thấy anh không biết mình nợ cả mạng sống lẫn vận may của mình đối với những sinh vật siêu phàm nào.
Theo hiệu lệnh của thuyền trưởng, chúng tôi trở lại bãi sò, và lần theo bước cũ, chúng tôi đi trong nửa giờ cho đến khi gặp chiếc neo nối đáy biển với xuồng nhỏ của chiếc Nautilus.
Trở lại trên tàu, các thủy thủ giúp cởi bỏ những giáp đồng nặng nề của chúng tôi.
Những lời đầu tiên của Thuyền trưởng Nemo được nói với người Canada.
“Cảm ơn, ông Land,” ông nói với ông.
“Có qua có lại, thuyền trưởng,” Ned Land đáp. “Tôi nợ ông điều đó.”
Bóng dáng một nụ cười lướt qua môi thuyền trưởng, và đó là tất cả.
“Về chiếc Nautilus,” ông nói.
Xuồng dài bay trên sóng. Vài phút sau, chúng tôi lại gặp xác cá mập, đang nổi.
Từ những vệt đen trên chóp vây của nó, tôi nhận ra loài Squalus melanopterus đáng sợ của các biển Đông Ấn, một biến thể trong loài cá mập chính thống. Nó dài hơn hai mươi lăm foot; cái miệng khổng lồ chiếm một phần ba thân thể. Đó là một con trưởng thành, có thể thấy từ sáu hàng răng tạo thành tam giác cân ở hàm trên.
Conseil nhìn nó với sự mê hoặc thuần túy khoa học, và tôi chắc rằng anh xếp nó, không phải không có lý, vào lớp cá sụn, bộ Chondropterygia với mang cố định, họ Selacia, giống Squalus.
Trong khi tôi đang ngắm khối bất động này, bỗng một tá con melanoptera tham ăn như thế xuất hiện quanh xuồng dài của chúng tôi; nhưng không chú ý đến chúng tôi, chúng lao vào xác chết và giành giật từng mẩu của nó.
Đến 8 giờ 30, chúng tôi đã trở lại trên chiếc Nautilus.
Ở đó tôi bắt đầu suy nghĩ về các sự cố đánh dấu cuộc du ngoạn của chúng tôi trên bãi trai Mannar. Hai ấn tượng tất yếu nổi bật. Một liên quan đến lòng dũng cảm vô song của Thuyền trưởng Nemo, ấn tượng kia đến sự tận tụy của ông đối với một con người, một đại diện của giống loài mà ông đã chạy trốn xuống dưới biển. Bất chấp mọi thứ, con người kỳ lạ này vẫn chưa thành công trong việc bóp nghẹt hoàn toàn trái tim mình.
Khi tôi chia sẻ những ấn tượng này với ông, ông đáp tôi bằng một giọng nhuốm xúc động:
“Người Ấn Độ ấy, giáo sư, sống trên mảnh đất của những kẻ bị áp bức, và cho đến hôm nay, và sẽ đến tận hơi thở cuối cùng, tôi vẫn là một người bản xứ của cùng mảnh đất ấy!”
### CHƯƠNG 4
Biển Đỏ
TRONG NGÀY 29 tháng 1, đảo Ceylon biến mất dưới chân trời, và với tốc độ hai mươi dặm mỗi giờ, chiếc Nautilus lướt vào những kênh ngoằn ngoèo phân cách quần đảo Maldive và Laccadive. Nó cũng ôm sát đảo Kiltan, một bờ có nguồn gốc madreporic do Vasco da Gama phát hiện năm 1499 và là một trong mười chín đảo chính trong nhóm đảo Laccadive, nằm giữa vĩ độ 10 độ và 14 độ 30′ bắc, và giữa kinh độ 50 độ 72′ và 69 độ đông.
Khi ấy chúng tôi đã đi được 16.220 dặm, hay 7.500 dặm biển, từ điểm xuất phát trong các biển Nhật Bản.
Ngày hôm sau, 30 tháng 1, khi chiếc Nautilus nổi lên mặt đại dương, không còn đất liền nào trong tầm mắt. Đặt lộ trình về phía bắc-tây bắc, con tàu hướng tới vịnh Oman, khoét giữa Arabia và bán đảo Ấn Độ, đồng thời mở lối vào vịnh Ba Tư.
Rõ ràng đây là một ngõ cụt không có lối thoát khả dĩ. Vậy Thuyền trưởng Nemo đưa chúng tôi đi đâu? Tôi không thể nói. Điều đó không làm người Canada hài lòng, người hôm ấy hỏi tôi chúng tôi đang đi đâu.
“Chúng ta đang đi, ông Ned, đến nơi ý thích của thuyền trưởng đưa chúng ta.”
“Ý thích của ông ấy,” người Canada đáp, “sẽ không đưa chúng ta đi xa lắm. Vịnh Ba Tư không có lối thoát, và nếu chúng ta vào các vùng nước ấy, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ quay lại đường cũ.”
“Được thôi, chúng ta sẽ quay lại, ông Land, và sau vịnh Ba Tư, nếu chiếc Nautilus muốn thăm Biển Đỏ, eo biển Bab el Mandeb vẫn ở đó để cho chúng ta vào!”
“Tôi không cần nói với ngài, thưa ngài,” Ned Land đáp, “rằng Biển Đỏ cũng bị đất liền bao quanh như vịnh ấy, vì eo đất Suez vẫn chưa được đào thông; và ngay cả nếu nó đã được đào, một con tàu bí mật như của chúng ta cũng sẽ không mạo hiểm một kênh đào bị chia cắt bởi các âu tàu. Vì vậy Biển Đỏ cũng sẽ không phải đường về châu Âu của chúng ta.”
“Nhưng tôi không nói chúng ta sẽ trở lại châu Âu.”
“Vậy ngài hình dung thế nào?”
“Tôi hình dung rằng sau khi thăm các thủy lộ khác thường này của Arabia và Ai Cập, chiếc Nautilus sẽ quay trở xuống Ấn Độ Dương, có lẽ qua kênh Mozambique, có lẽ ngoài khơi quần đảo Mascarene, rồi tiến về mũi Hảo Vọng.”
“Và khi chúng ta ở mũi Hảo Vọng?” người Canada hỏi với sự bền bỉ điển hình.
“Chà, khi ấy chúng ta sẽ vào Đại Tây Dương, nơi chúng ta chưa quen thuộc. Có gì vậy, Ned bạn tôi? Ông mệt với chuyến du hành dưới biển này rồi sao? Ông chán cảnh tượng không ngừng thay đổi của những kỳ quan dưới nước này sao? Về phần tôi, tôi sẽ vô cùng đau buồn khi thấy kết thúc của một chuyến đi mà rất ít người từng có cơ hội thực hiện.”
“Nhưng ngài không nhận ra sao, Giáo sư Aronnax,” người Canada đáp, “rằng chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ bị giam tròn ba tháng trên chiếc Nautilus này?”
“Không, Ned, tôi không nhận ra, tôi không muốn nhận ra, và tôi không đếm từng ngày từng giờ.”
“Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc?”
“Vào lúc đã định của nó. Trong khi đó chúng ta chẳng làm được gì, và các cuộc thảo luận của chúng ta là vô ích. Ned can đảm của tôi, nếu ông đến và nói với tôi: ‘Có cơ hội trốn thoát cho chúng ta,’ thì tôi sẽ bàn với ông. Nhưng không phải như thế, và thành thật mà nói, tôi không nghĩ Thuyền trưởng Nemo bao giờ mạo hiểm vào các biển châu Âu.”
Cuộc đối thoại ngắn này tiết lộ rằng trong cơn mê chiếc Nautilus, tôi đang biến thành bản sao đúng hệt vị chỉ huy của nó.
Còn Ned Land, ông kết thúc cuộc nói chuyện bằng phong cách diễn thuyết đẹp nhất của mình: “Tất cả đều hay ho tử tế. Nhưng theo ý kiến khiêm tốn của tôi, đời sống trong tù là đời sống không niềm vui.”
Trong bốn ngày cho đến ngày 3 tháng 2, chiếc Nautilus khảo sát vịnh Oman ở nhiều tốc độ và độ sâu khác nhau. Nó dường như đi ngẫu nhiên, như thể do dự về lộ trình sẽ theo, nhưng nó không bao giờ vượt qua chí tuyến Bắc.
Sau khi rời vịnh này, trong chốc lát chúng tôi nhìn thấy Muscat, thành phố quan trọng nhất của xứ Oman. Tôi kinh ngạc trước vẻ ngoài kỳ lạ của nó giữa những tảng đá đen bao quanh, trên nền đó sắc trắng của các ngôi nhà và pháo đài nổi bật sắc nét. Tôi nhận ra các mái vòm tròn của những giáo đường Hồi giáo, những chóp thanh nhã của các tháp minaret, và những sân thượng xanh tươi, đầy lá. Nhưng đó chỉ là một thoáng nhìn, và chiếc Nautilus chẳng mấy chốc chìm dưới các con sóng tối của những thủy lộ này.
Rồi con tàu của chúng tôi đi dọc ở khoảng cách sáu dặm từ các bờ biển Ả Rập của Mahra và Hadhramaut, những đường núi nhấp nhô của chúng được làm dịu bởi vài tàn tích cổ. Ngày 5 tháng 2, cuối cùng chúng tôi vào vịnh Aden, một chiếc phễu thật sự cắm vào cổ Bab el Mandeb và giam các vùng nước Ấn Độ này trong Biển Đỏ.
Ngày 6 tháng 2, chiếc Nautilus lướt trong tầm nhìn của thành Aden, nằm trên một mũi đất nối với lục địa bằng một eo đất hẹp, một kiểu Gibraltar không thể tiếp cận mà người Anh đã xây lại các công sự sau khi chiếm được nó năm 1839. Tôi thoáng thấy các tháp minaret bát giác của thành phố này, nơi từng là một trong những trung tâm thương mại giàu có và bận rộn nhất dọc bờ biển này, như nhà sử học Ả Rập Idrisi thuật lại.
Tôi tin chắc rằng khi Thuyền trưởng Nemo đến điểm này, ông sẽ quay lại; nhưng tôi đã nhầm, và thật ngạc nhiên cho tôi, ông không làm gì như thế.
Ngày hôm sau, 7 tháng 2, chúng tôi vào eo biển Bab el Mandeb, tên của nó trong tiếng Ả Rập có nghĩa là “Cổng Nước Mắt.” Rộng hai mươi dặm, nó chỉ dài năm mươi hai kilômét, và với chiếc Nautilus được phóng hết tốc lực, việc vượt qua nó chỉ là công việc chưa đến một giờ. Nhưng tôi không thấy gì, ngay cả đảo Perim, nơi chính phủ Anh đã xây công sự để củng cố vị trí của Aden. Có nhiều tàu hơi nước Anh và Pháp rẽ lối đi hẹp này, các tàu tuyến từ Suez đến Bombay, Calcutta, Melbourne, đảo Réunion và Mauritius; quá nhiều giao thông để chiếc Nautilus xuất hiện trên mặt nước. Vì vậy nó khôn ngoan ở lưng chừng nước.
Cuối cùng, vào giữa trưa, chúng tôi đang rẽ sóng Biển Đỏ.
Biển Đỏ: cái hồ lớn quá nổi tiếng trong các truyền thống Kinh Thánh, hiếm khi được mưa bổ sung, không được con sông quan trọng nào nuôi dưỡng, liên tục bị rút cạn bởi tốc độ bốc hơi cao, mực nước của nó hạ xuống một mét rưỡi mỗi năm! Nếu nó bị đất liền bao kín hoàn toàn như một hồ nước, vũng biển lạ thường này có thể khô cạn hoàn toàn; về mặt này nó thua kém các láng giềng của nó, biển Caspi và Biển Chết, những nơi mực nước chỉ hạ xuống đến điểm mà lượng bốc hơi của chúng bằng đúng lượng nước chúng nhận vào lòng.
Biển Đỏ dài 2.600 kilômét với bề rộng trung bình 240. Vào thời các vua Ptolemy và các hoàng đế La Mã, nó là một đại huyết mạch thương mại của thế giới, và khi eo đất của nó được đào xuyên, nó sẽ hoàn toàn giành lại tầm quan trọng đã qua mà đường sắt Suez đã phần nào đem trở lại.
Tôi thậm chí không cố hiểu ý thích thất thường nào đã khiến Thuyền trưởng Nemo đưa chúng tôi vào vũng biển này. Nhưng tôi toàn tâm tán thành việc chiếc Nautilus tiến vào nó. Nó chọn một tốc độ trung bình, khi thì ở trên mặt, khi thì lặn xuống để tránh một con tàu nào đó, và vì thế tôi có thể quan sát cả bên trong lẫn bên trên của vùng biển hết sức khác thường này.
Ngày 8 tháng 2, ngay từ những giờ đầu của ban ngày, Mocha hiện ra trước chúng tôi: một thành phố nay đã đổ nát, tường của nó sẽ sụp xuống chỉ vì âm thanh của một khẩu đại bác, và đây đó che chở vài cây chà là xanh lá. Thành phố từng quan trọng này trước kia có sáu chợ công cộng cùng hai mươi sáu giáo đường Hồi giáo, và các bức tường của nó, được mười bốn pháo đài bảo vệ, tạo thành một vòng đai ba kilômét quanh nó.
Rồi chiếc Nautilus đến gần các bãi biển châu Phi, nơi biển sâu hơn đáng kể. Ở đó, qua các tấm che mở và trong tầng nước giữa trong như pha lê, con tàu của chúng tôi cho phép chúng tôi nghiên cứu những bụi san hô sáng lấp lánh tuyệt đẹp và những khối đá khổng lồ quấn trong những bộ lông xanh lộng lẫy của tảo và fucus. Thật là cảnh tượng không thể tả, và thật là đa dạng về bố cục và cảnh sắc nơi các rạn này và các đảo núi lửa bằng phẳng hóa bên bờ Libya! Nhưng chẳng mấy chốc chiếc Nautilus ôm sát bờ phía đông, nơi các hình thái cây này xuất hiện trong toàn bộ vẻ huy hoàng của chúng. Đó là ngoài khơi Tihama, và ở đó các màn trình diễn động vật hình cây không chỉ nở rộ dưới mực nước biển mà còn tạo ra các mạng lưới đẹp như tranh trải cuộn lên cao đến mười sải phía trên nó; các mạng sau tùy hứng hơn nhưng kém màu sắc hơn các mạng trước, vốn giữ được sắc nở nhờ sức sống ẩm ướt của nước.
Tôi đã trải qua bao nhiêu giờ thú vị như thế bên cửa sổ phòng khách! Tôi đã kinh ngạc trước bao nhiêu mẫu vật mới của hệ thực vật và động vật dưới nước dưới ánh sáng ngọn đèn hiệu điện của chúng tôi! San hô nấm hình chiếc nấm, vài hải quỳ màu đá phiến trong đó có loài Thalassianthus aster, san hô ống đàn sắp xếp như ống sáo và như cầu xin một hơi thổi từ thần Pan, những vỏ sò riêng có ở vùng biển này cư ngụ trong các hốc madreporic và phần đáy của chúng xoắn thành những vòng thấp, cuối cùng là một nghìn mẫu vật của một polypary tôi chưa từng quan sát cho đến lúc ấy: bọt biển thường.
Phân bộ thứ nhất trong nhóm polyp, lớp Spongiaria đã được các nhà khoa học tạo ra chính vì mẫu vật lạ thường này, thứ mà công dụng là không thể tranh cãi. Bọt biển chắc chắn không phải thực vật, như một số nhà tự nhiên học vẫn tin, mà là một động vật thuộc bậc thấp nhất, một polypary còn thấp hơn cả san hô. Bản chất động vật của nó không còn nghi ngờ gì, và chúng ta thậm chí không thể chấp nhận quan điểm của người xưa, những người xem nó nằm lưng chừng giữa thực vật và động vật. Nhưng tôi phải nói rằng các nhà tự nhiên học không thống nhất về kiểu cấu trúc của bọt biển. Với một số người, đó là một polypary, còn với những người khác, như Giáo sư Milne-Edwards, đó là một cá thể đơn lẻ, cô độc.
Lớp Spongiaria gồm khoảng 300 loài được gặp ở nhiều biển lớn và thậm chí ở một số dòng suối, nơi chúng được gọi là bọt biển nước ngọt. Nhưng những vùng nước được chúng ưa chuộng là Biển Đỏ và Địa Trung Hải gần các đảo Hy Lạp hay bờ Syria. Những vùng nước này chứng kiến sự sinh sản và phát triển của các bọt biển tắm mềm, tinh tế, có giá lên tới 150 franc mỗi con: bọt biển vàng từ Syria, bọt biển sừng từ Barbary, v.v. Nhưng vì tôi không có hy vọng nghiên cứu các động vật hình cây này tại các cảng biển vùng Levant, nơi chúng tôi bị ngăn cách bởi eo đất Suez không thể vượt qua, tôi đành bằng lòng quan sát chúng trong các vùng nước Biển Đỏ.
Vì vậy tôi gọi Conseil đến bên mình, trong khi ở độ sâu trung bình tám đến chín mét, chiếc Nautilus chậm rãi lướt qua từng tảng đá đẹp trên bờ phía đông.
Ở đó bọt biển mọc dưới mọi hình dạng, hình cầu, hình cuống, hình lá, hình ngón tay. Với độ chính xác hợp lý, chúng sống đúng với các biệt danh bọt biển giỏ, bọt biển chén, bọt biển con quay, bọt biển sừng nai, chân sư tử, đuôi công và găng tay Neptune—những tên gọi do ngư dân, những người thiên về thi ca hơn khoa học, đặt cho chúng. Một chất dạng thạch, bán lỏng phủ lên mô sợi của những bọt biển này, và từ mô ấy thoát ra một dòng nước đều đặn, sau khi mang dinh dưỡng đến từng tế bào, lại bị đẩy ra bởi một chuyển động co rút. Chất giống thạch này biến mất khi polyp chết, tỏa amoniac khi thối rữa. Cuối cùng không còn lại gì ngoài các sợi, hoặc dạng thạch hoặc làm bằng sừng, tạo thành miếng bọt biển gia dụng của ông, thứ có màu nâu đỏ và được dùng cho nhiều công việc khác nhau tùy mức độ đàn hồi, thấm nước, hay chống bão hòa của nó.
Các polypary này bám vào đá, vỏ thân mềm, và thậm chí cả cuống của cây nước. Chúng trang hoàng những khe nhỏ nhất, cái thì bò lan, cái thì đứng hoặc treo như các nhánh san hô. Tôi nói với Conseil rằng bọt biển được đánh bắt bằng hai cách, hoặc bằng lưới cào hoặc bằng tay. Phương pháp sau đòi hỏi dịch vụ của một thợ lặn, nhưng được ưa chuộng hơn vì nó giữ gìn mô của polypary, khiến nó có giá trị thị trường cao hơn nhiều.
Các động vật hình cây khác tụ tập gần bọt biển chủ yếu gồm một loài sứa rất thanh nhã; thân mềm được đại diện bởi các loài mực ống mà theo Giáo sư Orbigny là riêng có ở Biển Đỏ; và bò sát bởi rùa virgata thuộc giống Chelonia, cung cấp cho bàn ăn của chúng tôi một món tinh tế nhưng lành mạnh.
Còn cá thì nhiều và thường đáng chú ý. Đây là những loài mà lưới của chiếc Nautilus thường kéo lên tàu nhất: cá đuối, gồm cá đuối đốm có hình bầu dục và màu đỏ gạch, thân rải các đốm xanh thất thường và nhận diện được bằng đôi gai răng cưa, cá đuối lưng bạc, cá đuối gai thường có đuôi lấm chấm, cá đuối bướm trông như những chiếc áo choàng khổng lồ hai mét vỗ ở lưng chừng nước, cá đàn guitar không răng là một loại cá sụn gần với cá mập hơn, cá hòm gọi là lạc đà một bướu dài một foot rưỡi và có bướu kết thúc bằng gai cong ngược, lươn moray hình rắn với đuôi bạc và lưng xanh nhạt cùng vây ngực nâu viền xám, một loài cá bơ gọi là fiatola trang hoàng bằng các sọc vàng mảnh và ba màu của cờ Pháp, cá blenny Montague dài bốn đềximét, cá khế tuyệt đẹp được tô điểm duyên dáng bởi bảy vệt ngang đen, vây xanh và vàng cùng vảy vàng bạc, cá snook, cá đối thường với đầu vàng, cá vẹt, cá wrasse, cá bò, cá bống, v.v., cộng một nghìn loài cá khác chung với các đại dương chúng tôi đã vượt qua.
Ngày 9 tháng 2, chiếc Nautilus đi trong phần rộng nhất của Biển Đỏ, đo thẳng ngang 190 dặm từ Suakin ở bờ tây đến Qunfidha ở bờ đông.
Vào giữa trưa hôm ấy, sau khi xác định vị trí, Thuyền trưởng Nemo trèo lên sàn ngoài, nơi tôi tình cờ đang có mặt. Tôi thề sẽ không để ông đi xuống nữa mà ít nhất chưa thăm dò về các kế hoạch tương lai của ông. Ngay khi thấy tôi, ông tiến lại, nhã nhặn mời tôi một điếu xì gà, và nói với tôi:
“Thế nào, giáo sư, ông có hài lòng với Biển Đỏ này không? Ông đã thấy đủ những kỳ quan ẩn giấu của nó, cá và động vật hình cây của nó, các vườn bọt biển và rừng san hô của nó chưa? Ông đã thoáng thấy các thành phố xây trên bờ của nó chưa?”
“Có, Thuyền trưởng Nemo,” tôi đáp, “và chiếc Nautilus thật sự thích hợp một cách tuyệt vời cho toàn bộ cuộc khảo sát này. À, nó là một con tàu thông minh!”
“Phải, thưa ông, thông minh, táo bạo và bất khả xâm phạm! Nó không sợ những cơn bão ghê gớm của Biển Đỏ, cũng không sợ các dòng chảy và rạn đá của nó.”
“Quả thật,” tôi nói, “biển này được nhắc đến như một trong những biển tệ nhất, và vào thời cổ đại, nếu tôi không nhầm, nó có tiếng rất tồi tệ.”
“Cực kỳ tồi tệ, Giáo sư Aronnax. Các sử gia Hy Lạp và Latin không tìm thấy gì để nói có lợi cho nó, và nhà địa lý Hy Lạp Strabo thêm rằng nó đặc biệt dữ trong mùa mưa và thời kỳ gió thịnh hành mùa hè. Người Ả Rập Idrisi, nhắc đến nó bằng tên vịnh Colzoum, kể rằng tàu bè bỏ mạng với số lượng lớn trên các bãi cát của nó và không ai dám đi đêm trên đó. Ông khẳng định, đây là một biển chịu những cuồng phong đáng sợ, rải đầy các đảo không hiếu khách, và ‘không có gì tốt để dâng’, cả trên mặt lẫn trong lòng sâu. Thật ra, những quan điểm tương tự cũng có thể tìm thấy ở Arrian, Agatharchides và Artemidorus.”
“Dễ thấy,” tôi đáp, “rằng các sử gia ấy không đi trên chiếc Nautilus.”
“Đúng vậy,” thuyền trưởng đáp với một nụ cười, “và về mặt này, người hiện đại cũng chẳng tiến xa hơn người xưa bao nhiêu. Phải mất nhiều thế kỷ mới phát hiện được sức mạnh cơ học của hơi nước! Ai biết liệu chúng ta có thấy một chiếc Nautilus thứ hai trong vòng 100 năm tới không! Tiến bộ chậm chạp, Giáo sư Aronnax.”
“Đúng,” tôi đáp. “Con tàu của ông đi trước thời đại một thế kỷ, có lẽ vài thế kỷ. Sẽ là điều hết sức đáng tiếc nếu một bí mật như thế chết cùng người phát minh ra nó!”
Thuyền trưởng Nemo không đáp. Sau vài phút im lặng:
“Chúng ta đang bàn,” ông nói, “về quan điểm của các sử gia cổ đại đối với những hiểm nguy khi đi lại trên Biển Đỏ?”
“Đúng,” tôi đáp. “Nhưng chẳng phải nỗi sợ của họ bị phóng đại sao?”
“Vừa có vừa không, Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo đáp, người dường như thuộc lòng “Biển Đỏ của mình”. “Đối với một con tàu hiện đại, giàn buồm tốt, đóng chắc chắn, và kiểm soát được hướng đi nhờ hơi nước ngoan ngoãn, một số điều kiện không còn nguy hiểm nữa, vốn từng đem lại đủ mọi hiểm nguy cho tàu thuyền của người xưa. Hãy hình dung những nhà hàng hải đầu tiên ấy mạo hiểm ra khơi trên các thuyền buồm đóng bằng ván buộc với nhau bằng dây thừng từ cọ, trám bằng nhựa nghiền, và phủ mỡ cá nhám. Họ thậm chí không có dụng cụ để xác định phương vị, họ đi bằng phỏng đoán giữa các dòng chảy mà họ hầu như không biết. Trong những điều kiện như thế, các vụ đắm tàu hẳn phải nhiều. Nhưng ngày nay các tàu hơi nước phục vụ giữa Suez và các biển phương Nam chẳng có gì phải sợ trước cơn thịnh nộ của vịnh này, bất chấp các gió ngược của mùa gió. Các thuyền trưởng và hành khách của họ không còn chuẩn bị khởi hành bằng những lễ hiến tế để xoa dịu thần linh, và sau khi trở về, họ không kéo nhau trong vòng hoa và ruy băng vàng để tạ ơn tại đền địa phương nữa.”
“Đồng ý,” tôi nói. “Và hơi nước dường như đã giết hết mọi lòng biết ơn trong trái tim người đi biển. Nhưng vì ông dường như đã nghiên cứu đặc biệt vùng biển này, thuyền trưởng, ông có thể cho tôi biết vì sao nó mang tên ấy không?”
“Có nhiều cách giải thích về đề tài này, Giáo sư Aronnax. Ông có muốn nghe quan điểm của một nhà biên niên sử thế kỷ 14 không?”
“Rất sẵn lòng.”
“Anh chàng giàu tưởng tượng này khẳng định biển được đặt tên sau cuộc vượt biển của dân Israel, khi Pharaoh bỏ mạng trong những con sóng khép lại theo lệnh Moses:
Để đánh dấu kỳ tích sau cùng, biển đỏ bừng, không nơi sánh được.
Vậy chẳng còn lối nào khác ngoài đặt tên theo sắc của nó.”
“Một lời giải thích đầy nghệ thuật, Thuyền trưởng Nemo,” tôi đáp, “nhưng tôi không thể bằng lòng với nó. Vì vậy tôi sẽ hỏi quan điểm riêng của ông.”
“Đây. Theo tôi, Giáo sư Aronnax, tên gọi ‘Biển Đỏ’ này phải được xem là bản dịch của từ Hebrew ‘Edrom’, và nếu người xưa đặt tên ấy cho nó, đó là vì màu sắc độc đáo của nước biển.”
“Tuy nhiên cho đến nay tôi chỉ thấy sóng trong, không có sắc thái đặc biệt nào.”
“Chắc chắn, nhưng khi chúng ta tiến tới đầu xa của vịnh này, ông sẽ ghi nhận vẻ ngoài kỳ lạ của nó. Tôi còn nhớ đã thấy vịnh El Tur hoàn toàn đỏ, như một hồ máu.”
“Và ông quy màu này cho sự hiện diện của tảo hiển vi?”
“Phải. Đó là một chất nhầy màu tía do những chồi nhỏ bé được biết dưới tên trichodesmia tạo ra, cần 40.000 chồi trong số đó mới chiếm được khoảng không của một milimét vuông. Có lẽ ông sẽ gặp chúng khi chúng ta đến El Tur.”
“Vậy, Thuyền trưởng Nemo, đây không phải lần đầu ông đi qua Biển Đỏ trên chiếc Nautilus?”
“Không, thưa ông.”
“Vậy, vì ông đã nhắc đến cuộc vượt biển của dân Israel và thảm họa giáng xuống người Ai Cập, tôi muốn hỏi liệu ông có từng phát hiện dấu vết nào dưới nước của biến cố lịch sử lớn lao ấy không?”
“Không, giáo sư, và vì một lý do rất xác đáng.”
“Lý do gì?”
“Bởi chính địa điểm nơi Moses đã vượt qua cùng toàn thể dân của ông ấy nay bị cát lấp kín đến mức lạc đà cũng khó làm ướt chân. Ông có thể hiểu rằng chiếc Nautilus của tôi sẽ không có đủ nước cho chính nó.”
“Và địa điểm ấy là...?” tôi hỏi.
“Địa điểm ấy nằm hơi phía trên Suez, trong một eo nước từng tạo thành một cửa sông sâu khi Biển Đỏ còn kéo dài tới tận các Hồ Đắng. Giờ đây, dù cuộc vượt qua của họ có thật sự là phép lạ theo nghĩa đen hay không, dân Israel quả đã vượt qua ở đó trên đường trở về Đất Hứa, và quân đội của Pharaoh quả đã bỏ mạng đúng tại địa điểm ấy. Vì vậy tôi nghĩ rằng nếu khai quật những bãi cát ấy, người ta sẽ đưa ra ánh sáng rất nhiều vũ khí và dụng cụ có nguồn gốc Ai Cập.”
“Hiển nhiên,” tôi đáp. “Và vì khảo cổ học, ta hãy hy vọng sớm hay muộn những cuộc khai quật như thế sẽ diễn ra, một khi các đô thị mới được định cư trên eo đất sau khi kênh đào Suez được cắt xuyên—một con kênh, nhân tiện, chẳng mấy hữu dụng đối với một con tàu như chiếc Nautilus!”
“Chắc chắn, nhưng cực kỳ hữu dụng cho toàn thế giới,” Thuyền trưởng Nemo nói. “Người xưa hiểu rất rõ lợi ích thương mại của việc nối Biển Đỏ với Địa Trung Hải, nhưng họ chưa bao giờ nghĩ đến việc đào một con kênh giữa hai biển ấy, mà thay vào đó họ chọn sông Nile làm mối liên kết. Nếu có thể tin truyền thống, có lẽ chính vua Sesostris của Ai Cập đã bắt đầu đào con kênh cần thiết để nối sông Nile với Biển Đỏ. Điều chắc chắn là vào năm 615 trước Công nguyên, vua Necho II đang hăng hái làm việc trên một con kênh được nuôi bằng nước sông Nile và chạy qua đồng bằng Ai Cập đối diện Arabia. Con kênh này có thể đi qua trong bốn ngày, và rộng đến mức hai chiến thuyền ba tầng chèo có thể đi song song. Công trình của nó được Darius Đại đế, con trai Hystaspes, tiếp tục, và có lẽ được vua Ptolemy II hoàn thành. Strabo đã thấy nó được dùng cho hàng hải; nhưng độ dốc yếu giữa điểm khởi đầu của nó, gần Bubastis, và Biển Đỏ khiến nó chỉ thông thuyền được vài tháng mỗi năm. Con kênh này phục vụ thương mại cho đến thế kỷ của các hoàng đế Antoninus của La Mã; rồi nó bị bỏ hoang và bị cát phủ, sau đó được Caliph Omar I của Arabia khôi phục, và cuối cùng bị Caliph Al-Mansur lấp hẳn vào năm 761 hoặc 762 sau Công nguyên, trong một nỗ lực ngăn tiếp tế đến tay Mohammed ibn Abdullah, người đã nổi dậy chống ông. Trong chiến dịch Ai Cập của mình, tướng Napoleon Bonaparte của các ông đã phát hiện dấu vết con kênh cũ này trong sa mạc Suez, và khi thủy triều bất ngờ bắt gặp ông, ông suýt bỏ mạng chỉ vài giờ trước khi trở lại trung đoàn tại Hadjaroth, chính nơi Moses đã dựng trại 3.300 năm trước ông.”
“Chà, thuyền trưởng, điều người xưa ngần ngại thực hiện, ông de Lesseps nay đang hoàn tất; việc ông nối hai biển ấy sẽ rút ngắn đường từ Cadiz đến Đông Ấn 9.000 kilômét, và chẳng mấy chốc ông sẽ biến châu Phi thành một hòn đảo mênh mông.”
“Phải, Giáo sư Aronnax, và ông hoàn toàn có quyền tự hào về đồng hương của mình. Một người như thế đem lại cho một dân tộc nhiều danh dự hơn cả những vị thống soái vĩ đại nhất! Cũng như bao người khác, ông bắt đầu với khó khăn và thất bại, nhưng ông đã chiến thắng vì ông có tinh thần tự nguyện. Và thật buồn khi nghĩ rằng công trình này, vốn lẽ ra phải là một công trình quốc tế, vốn sẽ bảo đảm cho bất kỳ chính quyền nào đi vào lịch sử, lại chỉ thành công nhờ nỗ lực của một người. Vậy xin hoan hô ông de Lesseps!”
“Vâng, hoan hô công dân Pháp vĩ đại ấy,” tôi đáp, khá kinh ngạc trước sự nhấn mạnh mà Thuyền trưởng Nemo vừa thể hiện.
“Tiếc thay,” ông tiếp tục, “tôi không thể đưa ông qua kênh đào Suez ấy, nhưng ngày kia, ông sẽ có thể thấy các đê chắn dài của Port Said khi chúng ta ở Địa Trung Hải.”
“Ở Địa Trung Hải!” tôi kêu lên.
“Phải, giáo sư. Điều đó làm ông kinh ngạc sao?”
“Điều khiến tôi kinh ngạc là nghĩ chúng ta sẽ ở đó vào ngày kia.”
“Ồ, thật sao?”
“Vâng, thuyền trưởng, mặc dù từ khi lên tàu ông, lẽ ra tôi phải có thói quen không kinh ngạc trước bất cứ điều gì!”
“Nhưng điều gì làm ông sửng sốt?”
“Ý nghĩ về tốc độ kinh khủng mà chiếc Nautilus sẽ cần có, nếu nó muốn vòng qua mũi Hảo Vọng, đi quanh châu Phi, và nằm ngoài khơi Địa Trung Hải vào ngày kia.”
“Và ai nói nó sẽ đi quanh châu Phi, giáo sư? Chuyện vòng qua mũi Hảo Vọng này là thế nào?”
“Nhưng trừ phi chiếc Nautilus đi trên đất khô và băng qua eo đất—”
“Hoặc đi dưới nó, Giáo sư Aronnax.”
“Dưới nó?”
“Chắc chắn,” Thuyền trưởng Nemo bình thản đáp. “Dưới cái lưỡi đất ấy, từ lâu tự nhiên đã làm điều mà ngày nay con người đang làm trên bề mặt của nó.”
“Sao! Có một lối đi sao?”
“Phải, một lối ngầm mà tôi đặt tên là Đường hầm Ả Rập. Nó bắt đầu dưới Suez và dẫn đến vịnh Pelusium.”
“Nhưng chẳng phải eo đất ấy chỉ gồm toàn cát lún sao?”
“Đến một độ sâu nhất định. Nhưng chỉ năm mươi mét là gặp một nền đá vững chắc.”
“Và ông phát hiện lối đi này nhờ may mắn sao?” tôi hỏi, càng lúc càng sửng sốt.
“May mắn cộng với logic, giáo sư, và logic còn nhiều hơn may mắn.”
“Thuyền trưởng, tôi nghe ông, nhưng không thể tin vào tai mình.”
“Ồ, thưa ông! Câu cổ ngữ vẫn đúng: Aures habent et non audient!\* Không những lối đi này tồn tại, mà tôi còn đã lợi dụng nó nhiều lần. Nếu không có nó, hôm nay tôi đã không mạo hiểm vào một ngõ cụt như Biển Đỏ.”
\*Tiếng Latin: “Họ có tai mà không nghe.” BTV.
“Hỏi ông đã phát hiện đường hầm này như thế nào có bất nhã không?”
“Thưa ông,” thuyền trưởng đáp, “không thể có bí mật giữa những người sẽ không bao giờ rời nhau.”
Tôi lờ đi lời bóng gió này và chờ lời giải thích của Thuyền trưởng Nemo.
“Giáo sư,” ông nói với tôi, “logic đơn giản của nhà tự nhiên học đã dẫn tôi đến việc phát hiện lối đi này, và chỉ mình tôi biết nó. Tôi đã nhận thấy rằng ở Biển Đỏ và Địa Trung Hải tồn tại một số loài cá hoàn toàn giống nhau: lươn, cá bơ, cá xanh, cá vược, cá ngọc, cá bay. Chắc chắn về điều này, tôi tự hỏi liệu có phải không có một mối liên hệ giữa hai biển ấy. Nếu có, dòng ngầm của nó hẳn phải đi từ Biển Đỏ sang Địa Trung Hải đơn giản vì sự chênh lệch mực nước giữa chúng. Vì vậy tôi bắt rất nhiều cá ở vùng lân cận Suez. Tôi luồn những vòng đồng quanh đuôi chúng và ném chúng trở lại biển. Vài tháng sau, ngoài khơi Syria, tôi bắt lại được một số mẫu cá của mình, trang hoàng bằng các vòng nhận diện. Thế là điều này chứng minh với tôi rằng có một mối liên hệ nào đó giữa hai biển. Tôi tìm kiếm nó bằng chiếc Nautilus của mình, tôi phát hiện nó, tôi mạo hiểm vào nó; và chẳng mấy chốc, giáo sư, ông cũng sẽ vượt qua đường hầm Ả Rập của tôi!”
### CHƯƠNG 5
Đường hầm Ả Rập
CÙNG NGÀY HÔM ẤY, tôi thuật lại cho Conseil và Ned Land phần cuộc trò chuyện trên trực tiếp liên quan đến họ. Khi tôi nói với họ rằng chúng tôi sẽ nằm trong các vùng nước Địa Trung Hải trong vòng hai ngày nữa, Conseil vỗ tay, nhưng người Canada nhún vai.
“Một đường hầm dưới nước!” ông kêu lên. “Một mối nối giữa hai biển! Ai từng nghe thứ chuyện nhảm như thế!”
“Ned bạn tôi,” Conseil đáp, “trước đây ông đã từng nghe nói đến chiếc Nautilus chưa? Chưa, vậy mà nó đây! Vậy đừng nhún vai một cách nhẹ dạ như thế, và đừng bác bỏ một điều gì bằng cái cớ yếu ớt rằng ông chưa từng nghe về nó.”
“Chẳng mấy chốc chúng ta sẽ thấy!” Ned Land bắn trả, lắc đầu. “Dù sao, tôi chẳng mong gì hơn là tin vào cái lối nhỏ của thuyền trưởng nhà anh, và xin Trời cho nó thật sự đưa chúng ta đến Địa Trung Hải.”
Cũng tối hôm ấy, ở vĩ độ 21 độ 30′ bắc, chiếc Nautilus nổi trên mặt biển và tiến gần bờ Ả Rập. Tôi nhìn thấy Jidda, một trung tâm tài chính quan trọng của Ai Cập, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ và Đông Ấn. Tôi có thể phân biệt khá rõ dáng vẻ tổng thể của các công trình, những con tàu buộc dọc cầu cảng, và những tàu lớn hơn mà mớn nước buộc phải thả neo ở bến ngoài khơi. Mặt trời, khá thấp trên đường chân trời, chiếu thẳng vào các ngôi nhà trong thành phố này, làm nổi bật sắc trắng của chúng. Ngoài giới hạn thành phố, vài túp lều bằng gỗ hay lau sậy cho thấy khu vực nơi người bedouin sinh sống.
Chẳng mấy chốc Jidda mờ dần trong bóng chiều, và chiếc Nautilus trở lại dưới những vùng nước lân quang nhẹ.
Ngày hôm sau, 10 tháng 2, vài con tàu xuất hiện, chạy ngược hướng với chúng tôi. Chiếc Nautilus lại tiếp tục hành trình dưới nước; nhưng vào lúc đo vị trí giữa trưa, biển vắng, và con tàu lại nổi lên đến mực nước.
Cùng Ned và Conseil, tôi lên ngồi trên sàn ngoài. Bờ biển phía đông trông như một khối hơi nhòe trong màn sương ẩm.
Tựa vào mạn xuồng nhỏ, chúng tôi trò chuyện chuyện nọ chuyện kia, thì Ned Land duỗi tay về một điểm trên mặt nước, nói với tôi:
“Giáo sư có thấy gì ngoài kia không?”
“Không, Ned,” tôi đáp, “nhưng ông biết tôi không có mắt tinh như ông.”
“Nhìn kỹ đi,” Ned tiếp tục. “Kìa, phía trước mạn phải, gần ngang với đèn hiệu! Ông không thấy một khối dường như đang chuyển động quanh đó sao?”
“Đúng,” tôi nói sau khi quan sát cẩn thận, “tôi có thể nhận ra một vật dài, đen đen trên mặt nước.”
“Một chiếc Nautilus thứ hai?” Conseil nói.
“Không,” người Canada đáp, “trừ phi tôi nhầm nặng, đó là một động vật biển nào đó.”
“Có cá voi trong Biển Đỏ không?” Conseil hỏi.
“Có, chàng trai của tôi,” tôi đáp, “đôi khi chúng được thấy ở đây.”
“Đó không phải cá voi,” Ned Land tiếp tục, mắt ông không bao giờ rời vật họ đã trông thấy. “Cá voi với tôi là bạn cố tri, và tôi không thể nhầm những thói quen nhỏ của chúng.”
“Hãy chờ xem,” Conseil nói. “Chiếc Nautilus đang đi về hướng ấy, và chẳng mấy chốc chúng ta sẽ biết mình gặp thứ gì.”
Quả thật, vật đen đen ấy chẳng mấy chốc chỉ còn cách chúng tôi một dặm. Nó trông như một rạn đá lớn mắc cạn giữa đại dương. Đó là gì? Tôi vẫn chưa thể quyết định.
“Ồ, nó đang đi! Nó đang lặn!” Ned Land kêu lên. “Quỷ tha ma bắt! Con vật ấy có thể là gì? Nó không có đuôi chẻ như cá voi tấm sừng hay cá nhà táng, và vây của nó trông như những chi bị cưa cụt.”
“Nhưng nếu vậy—” tôi chen vào.
“Lạy Chúa,” người Canada tiếp tục, “nó lật ngửa trên lưng, và nó đang nâng vú lên không!”
“Đó là một siren!” Conseil kêu lên. “Với tất cả sự kính trọng dành cho ngài, đó là một nàng tiên cá thật sự!”
Từ “siren” ấy đưa tôi trở lại đúng hướng, và tôi nhận ra con vật thuộc bộ Sirenia: những sinh vật biển mà truyền thuyết đã biến thành các nàng tiên cá, nửa đàn bà, nửa cá.
“Không,” tôi nói với Conseil, “đó không phải nàng tiên cá, đó là một sinh vật lạ thường mà chỉ còn vài mẫu trong Biển Đỏ. Đó là một con dugong.”
“Bộ Sirenia, nhóm Pisciforma, phân lớp Monodelphia, lớp Mammalia, ngành Vertebrata,” Conseil đáp.
Và khi Conseil đã nói, không còn gì để nói thêm.
Trong khi đó Ned Land cứ nhìn chằm chằm. Đôi mắt ông sáng lên vì thèm muốn trước cảnh con vật ấy. Đôi tay ông sẵn sàng phóng lao. Người ta hẳn tưởng ông đang chờ khoảnh khắc đúng để nhảy xuống biển và tấn công sinh vật ấy ngay trong yếu tố của nó.
“Ôi, thưa ngài,” ông nói với tôi bằng giọng run lên vì kích động, “tôi chưa từng giết thứ gì như thế!”
Toàn bộ con người ông tập trung trong từ cuối cùng ấy.
Đúng lúc ấy Thuyền trưởng Nemo xuất hiện trên sàn ngoài. Ông trông thấy con dugong. Ông hiểu tâm trạng của người Canada và nói thẳng với ông:
“Nếu ông cầm một cây lao, ông Land, tay ông chẳng ngứa ngáy muốn dùng nó sao?”
“Chắc chắn, thưa ông.”
“Và chỉ trong một ngày, liệu ông có khó chịu khi trở lại nghề đánh cá của mình và thêm con cá voi này vào danh sách những loài ông đã săn hạ không?”
“Tôi chẳng khó chịu chút nào.”
“Được, ông có thể thử vận may!”
“Cảm ơn, thưa ông,” Ned Land đáp, mắt rực sáng.
“Chỉ có điều,” thuyền trưởng tiếp tục, “tôi khuyên ông nhắm thật cẩn thận vào con vật này, vì lợi ích cá nhân của chính ông.”
“Tấn công dugong có nguy hiểm không?” tôi hỏi, bất chấp cái nhún vai của người Canada.
“Có, đôi khi,” thuyền trưởng đáp. “Những con vật này từng được biết là quay lại chống những kẻ tấn công và lật úp xuồng dài của họ. Nhưng với ông Land thì nguy hiểm ấy không đáng sợ. Mắt ông sắc, tay ông chắc. Nếu tôi khuyên ông nhắm cẩn thận vào con dugong này, đó là vì loài vật này được xem rất đúng là thú săn ngon, và tôi biết ông Land không khinh một miếng ngon chọn lọc.”
“Aha!” người Canada chen vào. “Con thú này còn có thêm xa xỉ là ăn ngon sao?”
“Phải, ông Land. Thịt nó là thịt đỏ thật sự, được đánh giá rất cao, và khắp Malaysia được dành cho bàn ăn của giới quý tộc. Vì vậy con vật tuyệt hảo này đã bị săn đuổi đẫm máu đến mức, giống những họ hàng manatee của nó, nó ngày càng trở nên khan hiếm.”
“Trong trường hợp đó, thuyền trưởng,” Conseil nghiêm túc nói, “nếu tình cờ sinh vật này có thể là cá thể cuối cùng của dòng giống nó, chẳng phải nên tha mạng cho nó, vì lợi ích của khoa học sao?”
“Có lẽ,” người Canada đáp, “sẽ tốt hơn nếu săn hạ nó, vì lợi ích của bữa ăn.”
“Vậy tiến hành đi, ông Land,” Thuyền trưởng Nemo đáp.
Đúng lúc ấy, vẫn câm lặng và vô cảm như mọi khi, bảy thủy thủ trèo lên sàn ngoài. Một người mang một cây lao và dây giống loại dùng trong nghề săn cá voi. Ván boong của xuồng mở ra, xuồng nhỏ được tháo khỏi ổ và hạ xuống biển. Sáu tay chèo ngồi trên các ghế ngang, và người lái nắm bánh lái. Ned, Conseil và tôi ngồi ở đuôi xuồng.
“Ông không đi cùng sao, thuyền trưởng?” tôi hỏi.
“Không, thưa ông, nhưng chúc ông săn may mắn.”
Xuồng nhỏ rời tàu, và được sáu mái chèo đưa đi, nó nhanh chóng hướng về phía dugong, khi ấy đang nổi cách chiếc Nautilus hai dặm.
Đến cách con cá voi vài tầm dây cáp, xuồng dài của chúng tôi giảm tốc, và các mái chèo lặng lẽ nhúng vào vùng nước yên tĩnh. Lao trong tay, Ned Land đứng vào vị trí ở mũi xuồng nhỏ. Lao dùng để săn cá voi thường được buộc vào một sợi dây rất dài, dây sẽ xổ nhanh khi con vật bị thương kéo nó theo. Nhưng sợi dây này chỉ dài không quá khoảng mười sải, và đầu của nó chỉ được buộc vào một thùng nhỏ, thứ khi nổi sẽ chỉ dấu các cử động của dugong dưới nước.
Tôi đứng lên và có thể quan sát rõ đối thủ của người Canada. Con dugong này—cũng mang tên halicore—rất giống manatee. Thân thuôn dài của nó kết thúc bằng một vây đuôi rất dài, còn các vây bên kết thúc bằng những ngón thật sự. Nó khác manatee ở chỗ hàm trên được trang bị hai chiếc răng dài, nhọn tạo thành những ngà tách ra hai bên.
Con dugong mà Ned Land chuẩn bị tấn công có kích thước khổng lồ, dễ dàng vượt quá bảy mét chiều dài. Nó không động đậy và dường như đang ngủ trên mặt sóng, một hoàn cảnh đáng lẽ làm nó dễ bị bắt hơn.
Xuồng nhỏ thận trọng tiến đến cách con vật trong vòng ba sải. Các mái chèo treo lơ lửng trên chốt. Tôi cúi thấp. Thân hơi ngả về sau, Ned Land vung cây lao bằng đôi tay lão luyện.
Đột nhiên có tiếng rít nghe thấy, và con dugong biến mất. Dù cây lao đã được phóng mạnh, rõ ràng nó chỉ đánh trúng nước.
“Quỷ tha ma bắt!” người Canada giận dữ kêu lên. “Tôi phóng trượt!”
“Không,” tôi nói, “con vật bị thương, máu nó kìa; nhưng vũ khí của ông không cắm vào thân nó.”
“Lao của tôi! Lấy lao của tôi!” Ned Land kêu lên.
Các thủy thủ chèo quay lại, và người lái điều khiển xuồng dài tới chỗ thùng nổi. Chúng tôi vớt được cây lao, và xuồng nhỏ bắt đầu truy đuổi con vật.
Con vật thỉnh thoảng trở lại mặt biển để thở. Vết thương không làm nó yếu đi, vì nó di chuyển với tốc độ khủng khiếp. Được những cánh tay mạnh mẽ thúc đẩy, xuồng dài bay theo dấu nó. Nhiều lần chúng tôi đến cách nó vài sải, và người Canada chực sẵn để ra đòn; nhưng rồi con dugong lại lẩn đi bằng một cú lặn đột ngột, và việc đuổi kịp con thú tỏ ra bất khả.
Tôi để các ông đánh giá mức độ tức giận đang thiêu đốt Ned Land nóng nảy của chúng tôi. Ông ném vào con vật khốn khổ những lời chửi rủa mạnh nhất trong tiếng Anh. Về phần tôi, tôi chỉ đơn giản phiền lòng khi thấy con dugong này đánh lừa mọi mưu kế của chúng tôi.
Chúng tôi bám đuổi nó không mệt mỏi trọn một giờ, và tôi đã bắt đầu nghĩ nó sẽ quá khó bắt, thì con vật lại nảy ra ý tưởng không đúng lúc là trả thù chúng tôi, một ý nghĩ chẳng mấy chốc nó sẽ có lý do để hối hận. Nó quay ngoắt về phía xuồng nhỏ, đến lượt nó tấn công chúng tôi.
Động tác này không lọt khỏi mắt người Canada.
“Coi chừng!” ông nói.
Người lái phát âm vài lời bằng ngôn ngữ kỳ lạ của anh ta, và chắc chắn anh ta cảnh báo người của mình phải cảnh giác.
Đến cách xuồng nhỏ hai mươi foot, con dugong dừng lại, khịt mạnh không khí bằng hai lỗ mũi lớn, không đâm ở đầu mõm mà ở mặt trên của nó. Rồi nó co mình và lao vào chúng tôi.
Xuồng nhỏ không thể tránh cú va. Bị lật nghiêng nửa chừng, nó hứng vào một hai tấn nước mà chúng tôi phải tát ra. Nhưng nhờ người lái khéo léo, chúng tôi bị húc xéo chứ không phải ngang mạn, nên không lật úp. Bám vào trụ mũi, Ned Land đâm hết nhát lao này đến nhát khác vào con vật khổng lồ, thứ cắm răng vào mép mạn xuồng và nhấc chiếc xuồng dài khỏi mặt nước như sư tử nhấc một con nai. Chúng tôi bị quăng chồng lên nhau, và tôi không biết cuộc việc sẽ kết thúc thế nào nếu người Canada, vẫn khát máu con thú, cuối cùng không đâm trúng tim nó.
Tôi nghe răng nó nghiến trên tấm sắt, và con dugong biến mất, mang theo cây lao của chúng tôi. Nhưng cái thùng chẳng mấy chốc bật lên mặt nước, và vài khoảnh khắc sau thân con vật xuất hiện rồi lật ngửa. Xuồng nhỏ của chúng tôi nhập lại với nó, kéo nó theo, và hướng về chiếc Nautilus.
Phải cần đến những ròng rọc có sức mạnh lớn mới kéo được con dugong này lên sàn ngoài. Con thú nặng 5.000 kilogram. Nó được xẻ thịt trước mắt người Canada, người ở lại để xem từng chi tiết của thao tác. Trong bữa tối cùng ngày, người tiếp viên phục vụ tôi vài lát thịt ấy, được đầu bếp trên tàu chế biến khéo léo. Tôi thấy nó tuyệt hảo, còn ngon hơn thịt bê, nếu chưa bằng thịt bò.
Sáng hôm sau, 11 tháng 2, kho thực phẩm của chiếc Nautilus được làm giàu thêm bằng một món thú săn tinh tế khác. Một đàn nhạn biển đậu xuống chiếc Nautilus. Chúng là một loài Sterna nilotica riêng có ở Ai Cập: mỏ đen, đầu xám và lấm chấm, mắt bao quanh bởi những chấm trắng, lưng, cánh và đuôi xám nhạt, bụng và họng trắng, chân đỏ. Cũng bắt được vài tá vịt sông Nile, loài chim hoang dã có hương vị vượt trội, cổ và đỉnh đầu trắng lốm đốm đen.
Khi ấy chiếc Nautilus đã giảm tốc. Nó tiến lên như đang đi dạo, có thể nói vậy. Tôi quan sát thấy nước Biển Đỏ càng gần Suez thì càng bớt mặn.
Gần năm giờ chiều, chúng tôi nhìn thấy mũi Ras Mohammed ở phía bắc. Mũi này tạo thành đầu Arabia Petraea, nằm giữa vịnh Suez và vịnh Aqaba.
Chiếc Nautilus tiến vào eo biển Jubal, dẫn tới vịnh Suez. Tôi có thể nhận ra rõ một ngọn núi cao đội trên Ras Mohammed giữa hai vịnh. Đó là núi Horeb, núi Sinai trong Kinh Thánh, trên đỉnh nó Moses đã gặp Chúa mặt đối mặt, đỉnh núi mà con mắt tâm tưởng luôn hình dung được vòng bằng chớp sáng.
Lúc sáu giờ, khi thì nổi khi thì chìm, chiếc Nautilus đi khá xa ngoài El Tur, nằm ở cuối một vịnh có nước dường như bị nhuộm đỏ, như Thuyền trưởng Nemo đã nhắc. Rồi đêm rơi xuống giữa một sự im lặng nặng nề, đôi khi bị phá vỡ bởi tiếng kêu của bồ nông và chim đêm, bởi tiếng sóng cọ vào đá, hoặc bởi tiếng rên xa của một tàu hơi nước khuấy sóng trong vịnh bằng những cánh guồng ồn ào.
Từ tám đến chín giờ, chiếc Nautilus ở vài mét dưới nước. Theo tính toán của tôi, chúng tôi hẳn ở khá gần Suez. Qua các tấm che trong phòng khách, tôi trông thấy đáy đá được các tia điện của chúng tôi chiếu sáng rực. Tôi có cảm giác eo biển ngày càng hẹp lại.
Lúc 9 giờ 15, khi con tàu của chúng tôi trở lại mặt nước, tôi trèo lên sàn ngoài. Tôi rất nóng lòng vượt qua đường hầm của Thuyền trưởng Nemo, không thể ngồi yên, và muốn hít thở không khí đêm trong lành.
Chẳng mấy chốc, trong bóng tối, tôi nhận ra một đèn hiệu nhạt nhòa lấp lánh cách một dặm, nửa bị sương làm đổi màu.
“Một hải đăng nổi,” một người bên cạnh tôi nói.
Tôi quay lại và phát hiện thuyền trưởng.
“Đó là đèn hiệu nổi của Suez,” ông tiếp tục. “Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ tới lối vào đường hầm.”
“Đi vào hẳn không dễ lắm.”
“Không, thưa ông. Vì vậy tôi có thói quen ở trong buồng lái và tự mình chỉ huy thao tác. Và bây giờ nếu ông vui lòng đi xuống dưới, Giáo sư Aronnax, chiếc Nautilus sắp chìm dưới sóng, và nó sẽ chỉ trở lại mặt nước sau khi chúng ta đã vượt qua Đường hầm Ả Rập.”
Tôi theo Thuyền trưởng Nemo. Cửa sập đóng lại, các két dằn đầy nước, và tàu lặn chìm xuống khoảng mười mét.
Ngay khi tôi sắp trở về phòng riêng, thuyền trưởng ngăn tôi lại.
“Giáo sư,” ông nói với tôi, “ông có muốn đi cùng tôi đến buồng bánh lái không?”
“Tôi đã ngại hỏi,” tôi đáp.
“Vậy thì đi cùng. Như thế ông sẽ biết toàn bộ câu chuyện về việc đi lại vừa dưới nước vừa dưới đất này.”
Thuyền trưởng Nemo dẫn tôi tới cầu thang trung tâm. Giữa cầu thang ông mở một cửa, đi dọc các hành lang trên, và tới buồng bánh lái, nơi như ông đã biết, đứng ở một đầu sàn ngoài.
Đó là một cabin vuông sáu foot và rất giống những cabin dành cho người lái trên các tàu hơi nước ở sông Mississippi hay Hudson. Ở giữa có một bánh lái dựng đứng, nối với các dây lái chạy về đuôi chiếc Nautilus. Gắn vào vách cabin là bốn cửa kính tròn, các cửa sổ bằng kính hai mặt lồi cho phép người cầm lái nhìn về mọi hướng.
Cabin tối; nhưng mắt tôi chẳng mấy chốc quen với bóng tối của nó, và tôi thấy người hoa tiêu, một người đàn ông lực lưỡng, hai tay đặt trên các chốt của bánh lái. Bên ngoài, biển được chiếu sáng rực bởi đèn hiệu tỏa sáng phía sau cabin ở đầu kia sàn ngoài.
“Giờ,” Thuyền trưởng Nemo nói, “chúng ta hãy tìm lối đi.”
Các dây điện nối buồng lái với phòng máy, và từ cabin này thuyền trưởng có thể đồng thời ra hiệu hướng đi và tốc độ cho chiếc Nautilus của mình. Ông nhấn một nút kim loại và lập tức chân vịt chậm lại đáng kể.
Tôi im lặng nhìn bức tường cao, dựng đứng mà chúng tôi đang lướt sát bên, nền vững chắc của các núi cát trên bờ. Trong một giờ chúng tôi đi dọc nó theo cách ấy, chỉ cách vài mét. Thuyền trưởng Nemo không rời mắt khỏi hai vòng tròn đồng tâm của la bàn treo trong cabin. Chỉ bằng một cử chỉ của ông, người hoa tiêu lập tức đổi hướng chiếc Nautilus.
Đứng bên cửa kính mạn trái, tôi nhìn thấy những cấu trúc san hô tráng lệ, động vật hình cây, tảo, và giáp xác với các càng khổng lồ run rẩy vươn ra từ những khe đá.
Lúc 10 giờ 15, chính Thuyền trưởng Nemo cầm lấy bánh lái. Tối và sâu, một hành lang rộng mở ra trước chúng tôi. Chiếc Nautilus táo bạo bị nuốt vào. Những tiếng ầm ì lạ lùng vang lên dọc hai mạn chúng tôi. Đó là nước Biển Đỏ, bị ném về phía Địa Trung Hải bởi độ dốc của đường hầm. Động cơ của chúng tôi cố chống lại bằng cách khuấy sóng với chân vịt đảo chiều, nhưng chiếc Nautilus lao theo dòng thác, nhanh như một mũi tên.
Dọc các vách hẹp của lối đi này, tôi chỉ thấy những vệt sáng rực, những đường nét cứng, những rãnh lửa, tất cả bị ánh điện tốc độ cao của chúng tôi nguệch ra. Tôi đưa tay cố ghìm nhịp tim đang đập dữ.
Lúc 10 giờ 35, Thuyền trưởng Nemo rời bánh lái và quay sang tôi:
“Địa Trung Hải,” ông nói với tôi.
Trong chưa đầy hai mươi phút, bị dòng thác cuốn đi, chiếc Nautilus vừa vượt qua eo đất Suez.
### CHƯƠNG 6
Quần đảo Hy Lạp
LÚC MẶT TRỜI MỌC sáng hôm sau, ngày 12 tháng 2, chiếc Nautilus nổi lên mặt sóng.
Tôi lao lên sàn ngoài. Bóng dáng mờ của Pelusium hiện ra cách ba dặm về phía nam. Một dòng thác đã mang chúng tôi từ biển này sang biển kia. Nhưng dù đường hầm ấy dễ đi xuống, việc đi ngược lên hẳn là bất khả.
Gần bảy giờ, Ned và Conseil nhập bọn với tôi. Hai bạn đồng hành không thể tách rời ấy đã ngủ yên lành, hoàn toàn không biết gì về kỳ công của chiếc Nautilus.
“Chà, ông nhà tự nhiên học,” người Canada hỏi bằng giọng nhẹ nhàng chế giễu, “Địa Trung Hải ấy thế nào?”
“Chúng ta đang nổi trên mặt nó, Ned bạn tôi.”
“Sao!” Conseil chen vào. “Đêm qua...?”
“Phải, đêm qua, chỉ trong vài phút, chúng ta đã vượt qua eo đất không thể vượt ấy.”
“Tôi không tin một lời nào,” người Canada đáp.
“Và ông sai rồi, ông Land,” tôi tiếp tục. “Đường bờ phẳng uốn về phía nam kia là bờ biển Ai Cập.”
“Ngài cứ kể cho lính thủy nghe đi,” người Canada bướng bỉnh đáp.
“Nhưng nếu ngài nói vậy,” Conseil bảo ông, “thì đúng là vậy.”
“Hơn nữa, Ned,” tôi nói, “chính Thuyền trưởng Nemo đã làm danh dự cho tôi trong đường hầm của ông ấy, và tôi đứng bên ông ấy trong buồng lái khi ông điều khiển chiếc Nautilus qua lối hẹp ấy.”
“Ông nghe chưa, Ned?” Conseil nói.
“Và ông, Ned, với đôi mắt tinh đến thế,” tôi thêm, “ông có thể nhận ra các đê chắn của Port Said vươn ra biển.”
Người Canada nhìn kỹ.
“Đúng,” ông nói. “Ngài nói đúng, giáo sư, và thuyền trưởng của ngài là một siêu nhân. Chúng ta đang ở Địa Trung Hải. Tốt. Vậy giờ ta hãy bàn về những việc nhỏ của chúng ta, nếu ngài vui lòng, nhưng theo cách không ai nghe lỏm được.”
Tôi dễ dàng thấy người Canada đang nhắm đến điều gì. Dù sao, tôi nghĩ tốt nhất là để ông có cuộc nói chuyện của mình, và cả ba chúng tôi đến ngồi cạnh đèn hiệu, nơi chúng tôi ít bị bụi nước ẩm từ sóng phả vào hơn.
“Giờ, Ned, chúng tôi đang lắng nghe,” tôi nói. “Ông có gì muốn nói với chúng tôi?”
“Điều tôi phải nói với ngài rất đơn giản,” người Canada đáp. “Chúng ta đang ở châu Âu, và trước khi các ý thích thất thường của Thuyền trưởng Nemo đưa chúng ta sâu vào các biển vùng cực hoặc quay lại châu Đại Dương, tôi nói rằng chúng ta nên rời chiếc Nautilus này.”
Tôi thú nhận rằng những cuộc bàn luận như thế với người Canada luôn làm tôi bối rối. Tôi không muốn hạn chế tự do của các bạn đồng hành theo bất cứ cách nào, và tuy vậy tôi không có mong muốn rời Thuyền trưởng Nemo. Nhờ ông và tàu lặn của ông, từng ngày tôi đang hoàn thành nghiên cứu dưới biển của mình, và tôi đang viết lại cuốn sách về các vực sâu đại dương ngay giữa chính yếu tố của nó. Liệu tôi có bao giờ lại có cơ hội như thế để quan sát các kỳ quan của đại dương không? Tuyệt đối không! Vì vậy tôi không thể nghĩ đến ý định rời chiếc Nautilus trước khi hoàn tất lộ trình khảo sát của chúng tôi.
“Ned bạn tôi,” tôi nói, “hãy trả lời tôi thành thật. Ông có chán con tàu này không? Ông có tiếc vì số phận đã ném ông vào tay Thuyền trưởng Nemo không?”
Người Canada ngừng một lát trước khi đáp. Rồi, khoanh tay:
“Thành thật mà nói,” ông nói, “tôi không tiếc chuyến du hành dưới biển này. Tôi sẽ vui vì đã thực hiện nó, nhưng để đã thực hiện nó, nó phải kết thúc. Đó là cảm giác của tôi.”
“Nó sẽ kết thúc, Ned.”
“Ở đâu và khi nào?”
“Ở đâu? Tôi không biết. Khi nào? Tôi không thể nói. Hay đúng hơn, tôi cho rằng nó sẽ kết thúc khi các biển này không còn gì để dạy chúng ta. Mọi thứ bắt đầu trên thế giới này tất yếu phải có hồi kết.”
“Tôi nghĩ như ngài,” Conseil đáp, “và rất có thể sau khi vượt qua mọi biển trên địa cầu, Thuyền trưởng Nemo sẽ thân ái tạm biệt cả ba chúng ta.”
“Thân ái tạm biệt chúng ta?” người Canada kêu lên. “Ý anh là đánh cho chúng ta một trận tơi bời tiễn biệt!”
“Đừng phóng đại, ông Land,” tôi tiếp tục. “Chúng ta không có gì phải sợ thuyền trưởng, nhưng tôi cũng không chia sẻ quan điểm của Conseil. Chúng ta biết các bí mật của chiếc Nautilus, và tôi không trông đợi vị chỉ huy của nó, chỉ để thả tự do cho chúng ta, sẽ hiền lành đứng nhìn trong khi chúng ta rải những bí mật ấy khắp thế giới.”
“Nhưng trong trường hợp đó ngài trông đợi gì?” người Canada hỏi.
“Rằng chúng ta sẽ gặp những điều kiện thuận lợi để trốn thoát trong sáu tháng nữa cũng dễ như bây giờ.”
“Lạy Chúa!” Ned Land chen vào. “Và nếu được hỏi, sáu tháng nữa chúng ta sẽ ở đâu, ông nhà tự nhiên học?”
“Có lẽ ở đây, có lẽ ở Trung Hoa. Ông biết chiếc Nautilus di chuyển nhanh thế nào. Nó vượt đại dương như chim én vượt không khí hay tàu tốc hành vượt lục địa. Nó không sợ các biển đông tàu bè. Ai dám nói nó sẽ không ôm sát các bờ biển Pháp, Anh, hay Mỹ, nơi một cuộc trốn thoát có thể được thực hiện hiệu quả không kém ở đây.”
“Giáo sư Aronnax,” người Canada đáp, “lập luận của ngài mục ruỗng đến tận lõi. Ngài nói mãi về tương lai xa: ‘Chúng ta sẽ ở đây, chúng ta sẽ ở đó!’ Còn tôi, tôi nói về ngay bây giờ: chúng ta đang ở đây, và chúng ta phải tận dụng nó!”
Tôi bị lẽ thường của Ned Land dồn ép mạnh, và cảm thấy mình mất thế. Tôi không còn biết phải đưa ra lập luận nào thay cho mình.
“Thưa ngài,” Ned tiếp tục, “giả sử rằng bằng một điều bất khả nào đó, Thuyền trưởng Nemo trao tự do cho ngài ngay hôm nay. Ngài có nhận không?”
“Tôi không biết,” tôi đáp.
“Và giả sử ông ấy nói thêm rằng lời đề nghị ông ấy đưa ra hôm nay sẽ không bao giờ được lặp lại, khi ấy ngài có nhận không?”
Tôi không đáp.
“Và bạn Conseil của chúng ta nghĩ gì?” Ned Land hỏi.
“Bạn Conseil của ông,” chàng trai tốt bụng bình thản đáp, “không có gì để nói cho riêng mình. Anh ta là một bên hoàn toàn vô tư trong vấn đề này. Giống như ngài của anh ta, giống như bạn Ned của anh ta, anh ta là người độc thân. Không vợ, không cha mẹ, không con cái nào đang chờ anh ta ở quê nhà. Anh ta trong sự phục vụ của ngài, anh ta nghĩ như ngài, anh ta nói như ngài, và rất tiếc cho anh ta, anh ta không thể được tính để lập thành đa số. Chỉ có hai người đối diện nhau ở đây: ngài ở một bên, Ned Land ở bên kia. Nói xong, bạn Conseil của ông đang lắng nghe, và anh ta sẵn sàng giữ điểm.”
Tôi không nhịn được cười khi Conseil xóa mình khỏi tồn tại. Sâu trong lòng, người Canada hẳn rất vui khi không phải đương đầu với anh.
“Vậy, thưa ngài,” Ned Land nói, “vì Conseil không còn nữa, cuộc bàn này chỉ giữa hai chúng ta. Tôi đã nói, ngài đã nghe. Câu trả lời của ngài là gì?”
Rõ ràng vấn đề phải được giải quyết, và những lối né tránh làm tôi khó chịu.
“Ned bạn tôi,” tôi nói, “đây là câu trả lời của tôi. Ông có lẽ phải về phía mình, và các lập luận của tôi không thể đứng vững trước của ông. Sẽ không bao giờ được nếu trông cậy vào lòng tốt của Thuyền trưởng Nemo. Lẽ thường bình thường nhất cũng sẽ cấm ông ấy thả chúng ta. Mặt khác, lẽ thường ra lệnh rằng chúng ta phải tận dụng cơ hội đầu tiên để rời chiếc Nautilus.”
“Tốt, Giáo sư Aronnax, nói vậy là khôn ngoan.”
“Nhưng một điều kiện,” tôi nói, “chỉ một. Cơ hội phải là thật sự. Nỗ lực trốn thoát đầu tiên của chúng ta phải thành công, bởi nếu thất bại, chúng ta sẽ không có cơ hội thứ hai, và Thuyền trưởng Nemo sẽ không bao giờ tha thứ cho chúng ta.”
“Điều đó cũng nói đúng,” người Canada đáp. “Nhưng điều kiện của ngài áp dụng cho mọi nỗ lực trốn thoát, dù nó xảy ra sau hai năm hay hai ngày. Vậy câu hỏi vẫn là thế này: nếu một cơ hội hứa hẹn xuất hiện, chúng ta phải nắm lấy.”
“Đồng ý. Và giờ, Ned, ông sẽ nói cho tôi biết ông hiểu thế nào là một cơ hội hứa hẹn chứ?”
“Một cơ hội đưa chiếc Nautilus, vào một đêm nhiều mây, đến cách một bờ biển châu Âu một đoạn ngắn.”
“Và ông sẽ cố đi bằng cách bơi?”
“Phải, nếu chúng ta đủ gần bờ và con tàu nổi trên mặt. Không, nếu chúng ta còn xa bờ và con tàu đang đi dưới nước.”
“Và trong trường hợp đó?”
“Trong trường hợp đó, tôi sẽ cố chiếm lấy xuồng nhỏ. Tôi biết cách điều khiển nó. Chúng ta sẽ chui vào trong, tháo các chốt, và nổi lên mặt nước, mà người lái ở mũi không thấy gì.”
“Tốt, Ned. Hãy canh chừng một cơ hội như thế, nhưng đừng quên, một sơ suất sẽ kết liễu chúng ta.”
“Tôi sẽ không quên, thưa ngài.”
“Và bây giờ, Ned, ông có muốn biết suy nghĩ tổng quát của tôi về kế hoạch của ông không?”
“Rất muốn, Giáo sư Aronnax.”
“Vậy thì, tôi nghĩ—và tôi không nói ‘tôi hy vọng’—rằng cơ hội hứa hẹn của ông sẽ không bao giờ xuất hiện.”
“Vì sao không?”
“Bởi Thuyền trưởng Nemo nhận ra rằng chúng ta chưa từ bỏ mọi hy vọng giành lại tự do, và ông ấy sẽ cảnh giác, nhất là ở các biển trong tầm nhìn của bờ biển châu Âu.”
“Tôi cùng ý kiến với ngài,” Conseil nói.
“Chúng ta sẽ sớm thấy,” Ned Land đáp, lắc đầu với vẻ quả quyết.
“Và giờ, Ned Land,” tôi thêm, “hãy để chuyện ở đó. Không một lời nào nữa về bất kỳ điều gì trong chuyện này. Ngày ông sẵn sàng, hãy báo cho chúng tôi và chúng tôi đi cùng ông. Tôi giao tất cả cho ông.”
Đó là cách chúng tôi kết thúc cuộc trò chuyện này, về sau sẽ có những hậu quả nghiêm trọng đến thế. Ban đầu, tôi phải nói, các sự kiện dường như xác nhận dự đoán của tôi, khiến người Canada tuyệt vọng. Thuyền trưởng Nemo nhìn chúng tôi với sự ngờ vực trong những biển đông tàu này, hay đơn giản ông muốn ẩn khỏi tầm mắt những con tàu của mọi quốc gia rẽ Địa Trung Hải? Tôi không biết, nhưng thường thì ông ở lưng chừng nước và khá xa mọi bờ. Hoặc chiếc Nautilus chỉ nổi đủ để buồng lái nhô lên, hoặc nó lẩn xuống những vực sâu hơn, dù giữa quần đảo Hy Lạp và Tiểu Á, chúng tôi không tìm thấy đáy ngay cả ở độ sâu 2.000 mét.
Vì vậy, tôi chỉ biết đến đảo Karpathos, một trong quần đảo Sporades, khi Thuyền trưởng Nemo đặt ngón tay lên một điểm trên bản đồ thế giới và đọc cho tôi câu thơ này của Virgil:
Est in Carpathio Neptuni gurgite vates
Caeruleus Proteus...\*
\*Tiếng Latin: “Ở đó trong lãnh địa của Vua Neptune gần Karpathos, người phát ngôn của ngài / là Proteus màu xanh biếc...” BTV.
Đó quả là nơi cư ngụ xưa kia của Proteus, người chăn già các đàn của Vua Neptune: một hòn đảo nằm giữa Rhodes và Crete, người Hy Lạp nay gọi là Karpathos, người Ý gọi là Scarpanto. Qua cửa sổ phòng khách, tôi chỉ thấy nền đá granit của nó.
Ngày hôm sau, 14 tháng 2, tôi quyết định dành vài giờ nghiên cứu cá của nhóm đảo này; nhưng vì lý do nào đó, các tấm che vẫn đóng kín tuyệt đối. Sau khi xác định hướng đi của chiếc Nautilus, tôi nhận thấy nó đang tiến về hòn đảo Crete cổ, cũng gọi là Candia. Vào lúc tôi lên tàu Abraham Lincoln, toàn bộ đảo này đang nổi dậy chống những kẻ cai trị chuyên chế của nó, Đế quốc Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng từ đó đến nay, tôi hoàn toàn không biết cuộc cách mạng này đã ra sao, và Thuyền trưởng Nemo, bị tước mọi liên hệ với bờ, hẳn không phải người có thể thông tin cho tôi.
Vì vậy tôi không nhắc đến biến cố này khi tối hôm ấy, tình cờ tôi ở một mình với thuyền trưởng trong phòng khách. Hơn nữa, ông có vẻ im lặng và bận tâm. Rồi, trái với thông lệ, ông ra lệnh mở cả hai tấm che trong phòng khách, và đi từ tấm này sang tấm kia, ông chăm chú quan sát khối nước. Để làm gì? Tôi không đoán được, và về phần mình, tôi dành thời gian nghiên cứu những con cá đi qua trước mắt.
Giữa nhiều loài khác, tôi ghi nhận loài cá bống cát được Aristotle nhắc đến và thường được biết dưới tên cá chạch biển, chỉ gặp riêng trong vùng nước mặn cạnh châu thổ sông Nile. Gần chúng, vài con cá tráp đỏ bán lân quang lăn qua, một giống cá tráp vàng mà người Ai Cập xếp vào hàng động vật thiêng, ca ngợi chúng trong các nghi lễ tôn giáo khi sự xuất hiện của chúng trong nước sông báo mùa lũ phì nhiêu. Tôi cũng nhận thấy vài con cá wrasse gọi là tapiro, dài ba đềximét, cá xương có vảy trong suốt, màu xám xanh pha các đốm đỏ; chúng là loài ăn rau biển say mê, điều đem lại cho chúng hương vị tinh tế; vì thế những con tapiro này rất được giới sành ăn La Mã cổ đại săn đón, và ruột của chúng được chế biến với óc công, lưỡi hồng hạc, và tinh hoàn lươn moray để làm món ăn thần thánh đã khiến hoàng đế La Mã Vitellius say mê đến thế.
Một cư dân khác của các biển này thu hút sự chú ý của tôi và làm sống lại mọi ký ức cổ đại của tôi. Đó là cá ép, loài đi lại bám vào bụng cá mập; như người xưa kể, khi những con cá nhỏ này bám vào mặt dưới của một con tàu, chúng có thể làm nó dừng lại, và bằng cách cản trở tàu của Mark Antony trong trận Actium như thế, một con trong số chúng đã tạo điều kiện cho chiến thắng của Augustus Caesar. Vận mệnh của các quốc gia treo trên những sợi chỉ mảnh như vậy! Tôi cũng quan sát vài con cá hồng tuyệt đẹp thuộc bộ Lutianida, loài cá linh thiêng đối với người Hy Lạp, những người tuyên bố chúng có thể xua đuổi quái vật biển khỏi vùng nước chúng thường lui tới; tên Hy Lạp của chúng, anthias, có nghĩa là “hoa,” và chúng xứng đáng với tên ấy trong trò chơi màu sắc và trong những phản chiếu thoáng qua biến các vây lưng của chúng thành lụa vân nước; sắc độ của chúng giới hạn trong một dải đỏ, từ vẻ nhợt nhạt của hồng đến ánh rực của ruby. Tôi không thể rời mắt khỏi những kỳ quan biển này, thì đột ngột bị một hình ảnh bất ngờ làm chấn động.
Giữa làn nước, một người xuất hiện, một thợ lặn mang một chiếc túi da nhỏ ở thắt lưng. Đó không phải một xác chết lạc trong sóng. Đó là một người sống, đang bơi mạnh mẽ, đôi khi biến mất để thở trên mặt nước, rồi lập tức lặn xuống lần nữa.
Tôi quay sang Thuyền trưởng Nemo, và bằng giọng kích động:
“Một người! Một kẻ đắm tàu!” tôi kêu lên. “Chúng ta phải cứu anh ta bằng mọi giá!”
Thuyền trưởng không đáp mà đi tới tựa vào cửa sổ.
Người kia đến gần, và áp mặt vào tấm kính, nhìn chằm chằm chúng tôi.
Trước sự kinh ngạc sâu sắc của tôi, Thuyền trưởng Nemo ra hiệu cho anh ta. Người thợ lặn đáp bằng tay, lập tức bơi lên mặt biển, và không xuất hiện trở lại.
“Đừng hoảng,” thuyền trưởng nói với tôi. “Đó là Nicolas ở mũi Matapan, biệt danh ‘Il Pesce.’\* Anh ta nổi tiếng khắp quần đảo Cyclades. Một thợ lặn táo bạo! Nước là yếu tố thật sự của anh ta, và anh ta sống dưới biển nhiều hơn trên bờ, không ngừng đi từ đảo này sang đảo khác, thậm chí đến tận Crete.”
\*Tiếng Ý: “Con Cá.” BTV.
“Ông biết anh ta sao, thuyền trưởng?”
“Vì sao không, Giáo sư Aronnax?”
Nói xong, Thuyền trưởng Nemo đi tới một chiếc tủ đặt gần tấm che bên trái của phòng khách. Cạnh chiếc tủ này tôi thấy một hòm rương được đai bằng những vòng sắt, nắp nó mang một tấm đồng khắc chữ lồng của chiếc Nautilus cùng châm ngôn Mobilis in Mobili.
Đúng lúc ấy, mặc kệ sự hiện diện của tôi, thuyền trưởng mở chiếc tủ này, một thứ két sắt chứa rất nhiều thỏi.
Chúng là thỏi vàng. Và chúng đại diện cho một khoản tiền khổng lồ. Kim loại quý này từ đâu mà có? Thuyền trưởng đã tích lũy số vàng này bằng cách nào, và ông định làm gì với nó?
Tôi không thốt một lời. Tôi há hốc nhìn. Thuyền trưởng Nemo lấy từng thỏi ra và sắp xếp chúng có phương pháp trong hòm, chất đầy đến tận nắp. Đến lúc ấy tôi ước tính nó chứa hơn 1.000 kilogram vàng, nói cách khác, gần 5.000.000 franc.
Sau khi khóa chắc hòm rương, Thuyền trưởng Nemo viết một địa chỉ trên nắp bằng những ký tự hẳn là tiếng Hy Lạp hiện đại.
Xong việc này, thuyền trưởng nhấn một nút có dây nối với khu thủy thủ đoàn. Bốn người xuất hiện và, không chút dễ dàng, đẩy chiếc hòm ra khỏi phòng khách. Rồi tôi nghe họ dùng ròng rọc kéo nó lên cầu thang sắt.
Đúng lúc ấy Thuyền trưởng Nemo quay sang tôi:
“Ông đang nói gì, giáo sư?” ông hỏi tôi.
“Tôi không nói gì cả, thuyền trưởng.”
“Vậy, thưa ông, với sự cho phép của ông, tôi xin chúc ông buổi tối tốt lành.”
Và như thế, Thuyền trưởng Nemo rời phòng khách.
Tôi trở vào phòng riêng, vô cùng bối rối, như ông có thể hình dung. Tôi cố vô ích để ngủ. Tôi cứ tìm kiếm một mối liên hệ giữa sự xuất hiện của người thợ lặn và cái hòm đầy vàng kia. Chẳng mấy chốc, từ một số chuyển động lắc ngang và lắc dọc, tôi cảm thấy chiếc Nautilus đã rời các tầng thấp và trở lại mặt nước.
Rồi tôi nghe tiếng bước chân trên sàn ngoài. Tôi nhận ra rằng xuồng nhỏ đang được tháo ra và hạ xuống biển. Trong chốc lát nó va vào mạn chiếc Nautilus, rồi mọi âm thanh ngừng hẳn.
Hai giờ sau, những tiếng động ấy, những việc đi lại ấy lại lặp lại. Được kéo lên tàu, xuồng dài được lắp lại vào ổ, và chiếc Nautilus lao xuống dưới sóng.
Vậy là hàng triệu ấy đã được giao tới địa chỉ của chúng. Tại điểm nào trên lục địa? Ai là người nhận vàng của Thuyền trưởng Nemo?
Ngày hôm sau tôi thuật lại cho Conseil và người Canada những biến cố trong đêm, những biến cố đã đẩy sự tò mò của tôi lên đến cao độ. Các bạn đồng hành của tôi cũng sửng sốt như tôi.
“Nhưng ông ta lấy những triệu ấy ở đâu ra?” Ned Land hỏi.
Trước điều này, không thể có câu trả lời nào. Sau bữa điểm tâm, tôi đi tới phòng khách và bắt tay vào công việc. Tôi viết lại các ghi chép của mình cho đến năm giờ chiều. Đúng lúc ấy—có phải do một sự khó chịu riêng nào chăng?—tôi cảm thấy nóng cực độ và phải cởi chiếc áo vét làm bằng vải trai quạt. Một hoàn cảnh khó hiểu, bởi chúng tôi không ở các vĩ độ thấp, và hơn nữa, một khi chiếc Nautilus đã chìm, nó không nên chịu bất cứ sự tăng nhiệt nào. Tôi nhìn áp kế. Nó chỉ độ sâu sáu mươi foot, một độ sâu nằm ngoài tầm với của sức nóng khí quyển.
Tôi tiếp tục làm việc, nhưng nhiệt độ tăng đến mức trở nên không thể chịu nổi.
“Có thể có hỏa hoạn trên tàu chăng?” tôi tự hỏi.
Tôi vừa sắp rời phòng khách thì Thuyền trưởng Nemo bước vào. Ông đến gần nhiệt kế, xem nó, rồi quay sang tôi:
“42 độ bách phân,” ông nói.
“Tôi cũng đã nhận ra như thế, thuyền trưởng,” tôi đáp, “và nếu nóng thêm dù chỉ một chút, chúng ta sẽ không thể chịu nổi.”
“Ồ, giáo sư, nó sẽ không nóng thêm trừ khi chúng ta muốn thế!”
“Ý ông là ông có thể kiểm soát sức nóng này?”
“Không, nhưng tôi có thể lùi ra xa lò lửa đang tạo ra nó.”
“Vậy nó ở bên ngoài?”
“Chắc chắn. Chúng ta đang đi trong một dòng nước sôi.”
“Không thể nào!” tôi kêu lên.
“Nhìn đi.”
Các tấm che đã mở ra, và tôi có thể thấy quanh chiếc Nautilus là một biển hoàn toàn trắng. Những luồng hơi lưu huỳnh bốc khói cuộn ra giữa những con sóng sủi bọt như nước trong nồi hơi. Tôi áp tay vào một trong các cửa kính, nhưng sức nóng lớn đến mức tôi phải giật tay lại.
“Chúng ta ở đâu?” tôi hỏi.
“Gần đảo Santorini, giáo sư,” thuyền trưởng đáp, “và ngay trong eo nước phân cách các đảo núi lửa Nea Kameni và Palea Kameni. Tôi muốn cho ông thấy cảnh tượng lạ thường của một vụ phun trào dưới nước.”
“Tôi tưởng,” tôi nói, “rằng sự hình thành những hòn đảo mới như thế đã chấm dứt.”
“Không có gì từng chấm dứt trong những thủy lộ núi lửa này,” Thuyền trưởng Nemo đáp, “và nhờ các ngọn lửa ngầm của nó, địa cầu của chúng ta liên tục được kiến tạo trong các vùng này. Theo các sử gia Latin Cassiodorus và Pliny, đến năm 19 của kỷ nguyên Kitô giáo, một hòn đảo mới, Thera thần thánh, đã xuất hiện ngay tại nơi những đảo nhỏ này được hình thành gần đây hơn. Rồi Thera chìm xuống dưới sóng, chỉ để lại trồi lên và chìm xuống một lần nữa vào năm 69 sau Công nguyên. Từ ngày ấy đến nay, công việc kiến tạo kiểu Pluto ấy đã tạm ngừng. Nhưng ngày 3 tháng 2 năm 1866, một đảo nhỏ mới tên là đảo George trồi lên giữa hơi lưu huỳnh gần Nea Kameni và được hợp nhất với nó vào ngày 6 cùng tháng. Bảy ngày sau, ngày 13 tháng 2, đảo nhỏ Aphroessa xuất hiện, để lại một eo nước mười mét giữa nó và Nea Kameni. Tôi đã ở các vùng biển này khi hiện tượng đó xảy ra và đã có thể quan sát mọi giai đoạn của nó. Đảo nhỏ Aphroessa có hình tròn, đường kính 300 foot và cao ba mươi foot. Nó được tạo nên từ dung nham đen, bóng như thủy tinh, trộn lẫn với các mảnh feldspar. Cuối cùng, ngày 10 tháng 3, một đảo nhỏ hơn tên là Reka xuất hiện cạnh Nea Kameni, và từ đó, ba đảo nhỏ này đã hợp lại thành một hòn đảo duy nhất, cùng một bản thể.”
“Còn eo nước chúng ta đang ở lúc này?” tôi hỏi.
“Đây,” Thuyền trưởng Nemo đáp, chỉ cho tôi một hải đồ quần đảo Hy Lạp. “Ông thấy tôi đã ghi các đảo nhỏ mới vào đúng vị trí của chúng.”
“Nhưng một ngày nào đó eo này sẽ bị lấp đầy sao?”
“Rất có thể, Giáo sư Aronnax, bởi từ năm 1866, tám đảo dung nham nhỏ đã trồi lên trước cảng St. Nicolas trên Palea Kameni. Vì vậy rõ ràng Nea và Palea sẽ nối liền trong những ngày tới. Giữa Thái Bình Dương, các infusoria nhỏ bé xây dựng lục địa, nhưng ở đây lục địa được xây bằng các hiện tượng núi lửa. Nhìn đi, thưa ông! Hãy nhìn công việc kiến tạo đang diễn ra dưới những con sóng này.”
Tôi quay lại cửa sổ. Chiếc Nautilus không còn chuyển động. Sức nóng đã trở nên không thể chịu nổi. Từ màu trắng ban nãy, biển đang chuyển sang đỏ, một màu sắc do sự hiện diện của muối sắt gây ra. Dù phòng khách được đóng kín tuyệt đối, nó đang đầy một mùi lưu huỳnh không chịu nổi, và tôi có thể thấy những ngọn lửa đỏ tươi sáng đến mức át cả ánh điện của chúng tôi.
Tôi đầm đìa mồ hôi, tôi ngạt thở, tôi sắp bị nấu chín. Phải, tôi thật sự cảm thấy mình đang bị nấu chín!
“Chúng ta không thể ở lâu hơn trong thứ nước sôi này,” tôi nói với thuyền trưởng.
“Không, ở lại không khôn ngoan,” Nemo Vô Cảm đáp.
Ông ra lệnh. Chiếc Nautilus quay mũi và rút lui khỏi cái lò mà nó không thể thách thức mà không bị trừng phạt. Mười lăm phút sau, chúng tôi đang hít thở không khí trong lành trên mặt sóng.
Khi ấy tôi chợt nghĩ rằng nếu Ned đã chọn những thủy lộ này cho cuộc trốn thoát của chúng tôi, chúng tôi hẳn đã không sống sót ra khỏi biển lửa này.
Ngày hôm sau, 16 tháng 2, chúng tôi rời lòng chảo này, nơi ghi nhận các độ sâu 3.000 mét giữa Rhodes và Alexandria, và đi khá xa ngoài đảo Cerigo sau khi vòng qua mũi Matapan, chiếc Nautilus bỏ quần đảo Hy Lạp lại phía sau.
### CHƯƠNG 7
Địa Trung Hải trong bốn mươi tám giờ
ĐỊA TRUNG HẢI, vùng biển xanh lý tưởng của các ông: đối với người Hy Lạp chỉ đơn giản là “biển,” đối với người Hebrew là “biển lớn,” đối với người La Mã là mare nostrum.\* Được viền bằng cam, lô hội, xương rồng và thông biển, ngát hương sim, được những dãy núi gồ ghề đóng khung, bão hòa bằng không khí trong sạch, trong suốt nhưng liên tục được các ngọn lửa trong lòng đất kiến tạo, biển này là một chiến trường thật sự nơi Neptune và Pluto vẫn tranh đấu để giành quyền thống trị thế giới. Ở đây trên những bãi biển và vùng nước này, nhà sử học Pháp Michelet nói, con người được hồi sinh bởi một trong những khí hậu tiếp thêm sinh lực nhất trên thế giới.
\*Tiếng Latin: “biển của chúng ta.” BTV.
Nhưng dù nó đẹp đến đâu, tôi chỉ có thể nhìn lướt qua lòng chảo có diện tích 2.000.000 kilômét vuông này. Ngay cả những hiểu biết riêng của Thuyền trưởng Nemo cũng bị từ chối đối với tôi, bởi cá nhân bí ẩn ấy không xuất hiện dù chỉ một lần trong suốt cuộc vượt biển tốc độ cao của chúng tôi. Tôi ước tính chiếc Nautilus đã đi một lộ trình khoảng 600 dặm biển dưới các con sóng của biển này, và chuyến đi ấy được hoàn tất chỉ trong hai lần hai mươi bốn giờ. Rời các vùng nước Hy Lạp vào sáng ngày 16 tháng 2, chúng tôi vượt eo biển Gibraltar lúc mặt trời mọc ngày 18.
Đối với tôi, rõ ràng rằng Địa Trung Hải này, bị ghim giữa những bờ biển ông muốn tránh, không đem lại cho Thuyền trưởng Nemo niềm vui nào. Sóng và gió của nó gợi lại quá nhiều ký ức, nếu không phải quá nhiều hối tiếc. Ở đây ông không còn sự dễ dàng trong chuyển động và tự do trong thao tác mà các đại dương cho phép, và chiếc Nautilus của ông cảm thấy chật chội khi quá gần các bờ biển cả châu Phi lẫn châu Âu.
Vì vậy, tốc độ của chúng tôi là hai mươi lăm dặm (tức mười hai dặm biển bốn kilômét) mỗi giờ. Khỏi cần nói, Ned Land phải từ bỏ kế hoạch trốn thoát của mình, khiến ông vô cùng đau khổ. Bị cuốn đi với tốc độ mười hai đến mười ba mét mỗi giây, ông khó lòng dùng được xuồng nhỏ. Rời chiếc Nautilus trong những điều kiện này chẳng khác nào nhảy khỏi một đoàn tàu đang lao đi với tốc độ ấy, một hành động liều lĩnh nếu từng có. Hơn nữa, để làm mới nguồn không khí, tàu lặn chỉ nổi lên mặt sóng vào ban đêm, và chỉ dựa vào la bàn cùng máy đo tốc độ, nó đi bằng phép dự toán hải hành.
Vậy trong Địa Trung Hải, tôi không thể nắm bắt cảnh sắc lướt qua nhanh của nó nhiều hơn một hành khách có thể nhìn thấy từ một đoàn tàu tốc hành; nói cách khác, tôi chỉ có thể nhìn các chân trời xa vì các cảnh gần vụt qua như chớp. Nhưng Conseil và tôi có thể quan sát những con cá Địa Trung Hải có vây mạnh mẽ giữ nhịp được một lúc trong vùng nước của chiếc Nautilus. Chúng tôi canh chừng trước các cửa sổ phòng khách, và các ghi chép của chúng tôi cho phép tôi dựng lại, trong vài lời, ngư học của vùng biển này.
Trong số các loài cá khác nhau sống trong đó, một số tôi quan sát được, một số tôi thoáng thấy, và phần còn lại tôi bỏ lỡ hoàn toàn vì tốc độ của chiếc Nautilus. Xin cho phép tôi sắp xếp chúng bằng hệ thống phân loại kỳ quặc này. Ít nhất nó sẽ truyền đạt được sự nhanh chóng trong các quan sát của tôi.
Giữa khối nước, được các tia điện của chúng tôi chiếu sáng rực, lượn qua những con cá mút đá dài một mét, chung cho gần như mọi khí hậu. Một loại cá đuối thuộc giống Oxyrhynchus, rộng năm foot, có bụng trắng với lưng xám tro lấm đốm và được các dòng chảy đưa đi như một chiếc khăn choàng lớn mở rộng. Những con cá đuối khác lướt qua nhanh đến mức tôi không thể nói liệu chúng có xứng với cái tên “cá đuối đại bàng” do người Hy Lạp cổ đặt, hay những tên gọi “cá đuối chuột,” “cá đuối dơi,” và “cá đuối cóc” mà ngư dân hiện đại đã áp cho chúng. Cá nhám được gọi là tope, dài mười hai foot và đặc biệt đáng sợ đối với thợ lặn, đang đua nhau. Trông như những bóng lớn xanh nhạt, cá mập đuôi dài lướt qua, dài tám foot và được ban cho khứu giác cực kỳ nhạy bén. Cá dorado thuộc giống Sparus, vài con dài tới mười ba đềximét, xuất hiện trong bộ áo bạc và xanh da trời được viền bằng ruy băng, tương phản với màu sẫm của vây; loài cá thiêng của nữ thần Venus, mắt chúng đặt trong đôi mày vàng; một loài quý giá thường lui tới mọi vùng nước ngọt hay mặn, đều thoải mái trong sông, hồ và đại dương, sống trong mọi khí hậu, chịu được mọi nhiệt độ, dòng dõi của chúng có từ thời tiền sử trên trái đất này nhưng vẫn giữ trọn vẻ đẹp từ những ngày xa xưa ấy. Những con cá tầm tráng lệ, dài chín đến mười mét và cực kỳ nhanh, đập chiếc đuôi mạnh vào kính các tấm che của chúng tôi, phô lưng xanh nhạt có những đốm nâu nhỏ; chúng giống cá mập, dù không ngang sức, và gặp ở mọi biển; vào mùa xuân chúng thích bơi ngược những con sông lớn, chống lại dòng Volga, Danube, Po, Rhine, Loire và Oder, trong khi ăn cá trích, cá thu, cá hồi và cá tuyết; dù thuộc lớp cá sụn, chúng được xem là món ngon; chúng được ăn tươi, phơi khô, ướp, hoặc ướp muối, và thời xưa từng được rước trong vinh quang tới bàn ăn của nhà sành ăn La Mã Lucullus.
Nhưng bất cứ khi nào chiếc Nautilus đến gần mặt nước, những cư dân Địa Trung Hải mà tôi có thể quan sát hữu hiệu nhất thuộc giống thứ sáu mươi ba của cá xương. Đó là cá ngừ thuộc giống Scomber, trên lưng xanh đen, bạc trên lớp giáp bụng, các sọc lưng phát ra ánh vàng. Người ta nói chúng đi theo tàu để tìm bóng râm mát khỏi mặt trời nhiệt đới nóng bỏng, và chúng đã làm đúng như thế với chiếc Nautilus, như xưa chúng từng làm với các tàu của Bá tước de La Pérouse. Trong nhiều giờ liền chúng đua tốc độ với tàu lặn của chúng tôi. Tôi không thể ngừng kinh ngạc trước những con vật được cắt gọt hoàn hảo cho cuộc đua này, đầu nhỏ, thân thuôn, hình con thoi, và trong vài trường hợp dài hơn ba mét, vây ngực được ban cho sức mạnh đáng kể, vây đuôi chẻ. Giống một số đàn chim, mà tốc độ chúng sánh ngang, những con cá ngừ này bơi theo đội hình tam giác, điều khiến người xưa nói rằng chúng đã học thuộc hình học và chiến lược quân sự. Và thế mà chúng không thể thoát khỏi ngư dân Provence, những người quý chúng không kém các cư dân cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ và Ý; và những con vật quý giá này, vô tâm như thể điếc và mù, nhảy thẳng vào lưới cá ngừ Marseille rồi chết hàng nghìn con.
Chỉ để ghi nhận, tôi sẽ nhắc đến những loài cá Địa Trung Hải mà Conseil và tôi chỉ thoáng thấy. Có những con lươn trắng nhạt thuộc loài Gymnotus fasciatus lướt qua như những làn hơi khó nắm bắt, lươn biển conger dài ba đến bốn mét được trang điểm xanh lục, xanh lam và vàng, cá hake dài ba foot với lá gan là món tinh tế, cá giun trôi như tảo mảnh, cá robin biển mà thi sĩ gọi là cá đàn lia và thủy thủ gọi là cá thổi sáo, mõm chúng có hai tấm tam giác răng cưa giống đàn lia của Homer già, cá én bơi nhanh như loài chim mang tên chúng, cá mú đầu đỏ có vây lưng viền bằng các sợi, vài con shad (lấm chấm đen, xám, nâu, xanh, vàng và lục) thật sự đáp lại tiếng chuông tay leng keng, những con cá bơn turbot hình thoi lộng lẫy như gà lôi nước với vây vàng nhạt lốm đốm nâu và mặt trên bên trái phần lớn vân cẩm thạch nâu và vàng, cuối cùng là các đàn cá đối đỏ tuyệt đẹp, những chim thiên đường thật sự của đại dương mà người La Mã cổ mua với giá tới 10.000 sesterce mỗi con, và họ giết chúng ngay tại bàn ăn để có thể nhẫn tâm nhìn nó đổi màu từ đỏ chu sa khi sống sang trắng nhợt khi chết.
Còn về các loài cá khác chung cho Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, tôi không thể quan sát miralet, cá bò, cá nóc, cá ngựa, cá ngọc, cá kèn, cá blenny, cá đối xám, cá wrasse, cá smelt, cá bay, cá cơm, cá tráp biển, cá porgy, cá kim, hay bất cứ đại diện chính nào của bộ Pleuronecta, như cá sole, cá flounder, cá plaice, cá dab và cá brill, đơn giản vì tốc độ choáng váng mà chiếc Nautilus hối hả băng qua những vùng nước giàu có này.
Còn về thú biển, khi đi ngang cửa biển Adriatic, tôi tưởng mình nhận ra hai hay ba con cá nhà táng có chiếc vây lưng đơn chỉ dấu giống Physeter, vài con cá voi hoa tiêu thuộc giống Globicephalus riêng có ở Địa Trung Hải, phần trước của đầu sọc những đường nhỏ rõ rệt, và cả một tá hải cẩu bụng trắng áo đen, được biết dưới tên hải cẩu thầy tu và nghiêm trang y như những tu sĩ Đa Minh cao ba mét.
Về phần mình, Conseil tưởng anh nhìn thấy một con rùa rộng sáu foot, trang hoàng bằng ba gờ nhô chạy dọc. Tôi tiếc vì bỏ lỡ loài bò sát này, bởi từ mô tả của Conseil, tôi tin mình nhận ra rùa luýt, một loài khá hiếm. Về phần tôi, tôi chỉ ghi nhận vài con rùa quản đồng với mai dài.
Còn về động vật hình cây, trong vài khoảnh khắc tôi có thể kinh ngạc trước một con hydra tuyệt vời màu cam thuộc giống Galeolaria bám vào kính tấm che mạn trái; nó gồm một sợi dài, mảnh, tỏa ra thành vô số nhánh và kết thúc bằng thứ ren tinh tế nhất từng được những người theo Arachne dệt nên. Tiếc thay tôi không thể vớt lên mẫu vật tuyệt vời này, và chắc chắn sẽ không có loài động vật hình cây Địa Trung Hải nào khác được dâng cho tầm mắt tôi, nếu vào tối ngày 16, chiếc Nautilus không chậm lại một cách kỳ lạ. Tình hình là thế này.
Khi ấy chúng tôi đang đi giữa Sicily và bờ biển Tunisia. Trong khoảng chật hẹp giữa mũi Bon và eo Messina, đáy biển gần như đột ngột trồi lên. Nó tạo thành một sống ngầm thật sự với chỉ mười bảy mét nước còn lại phía trên, trong khi độ sâu hai bên là 170 mét. Vì vậy chiếc Nautilus phải thao tác thận trọng để không va vào rào chắn dưới nước này.
Tôi chỉ cho Conseil vị trí của rạn dài này trên hải đồ Địa Trung Hải của chúng tôi.
“Nhưng với tất cả sự kính trọng dành cho ngài,” Conseil mạo muội nhận xét, “nó giống như một eo đất thật sự nối châu Âu với châu Phi.”
“Phải, chàng trai của tôi,” tôi đáp, “nó cắt ngang toàn bộ eo biển Sicily, và các phép đo sâu của Smith chứng minh rằng trong quá khứ, hai lục địa này thật sự từng nối liền giữa mũi Boeo và mũi Farina.”
“Tôi có thể dễ dàng tin điều đó,” Conseil nói.
“Tôi xin nói thêm,” tôi tiếp tục, “rằng có một rào chắn tương tự giữa Gibraltar và Ceuta, và trong thời tiền sử nó đã khép kín hoàn toàn Địa Trung Hải.”
“Trời đất!” Conseil chen vào. “Giả sử một ngày nào đó một đợt trồi núi lửa nâng hai rào chắn này trở lại trên sóng!”
“Điều đó rất khó xảy ra, Conseil.”
“Nếu ngài cho phép tôi nói hết, ý tôi là nếu hiện tượng này xảy ra, nó có thể gây phiền muộn cho ông de Lesseps, người đã tốn bao công sức cắt xuyên eo đất của mình!”
“Đồng ý, nhưng tôi nhắc lại, Conseil: một hiện tượng như thế sẽ không xảy ra. Cường độ của các lực ngầm này tiếp tục giảm. Núi lửa từng rất nhiều trong những ngày đầu của thế giới, nhưng chúng đang tắt dần từng cái một; sức nóng trong lòng đất đang yếu đi, nhiệt độ ở các tầng thấp của địa cầu đang nguội đi đáng kể mỗi thế kỷ, và điều đó có hại cho địa cầu của chúng ta, bởi sức nóng của nó là sự sống của nó.”
“Nhưng mặt trời—”
“Mặt trời không đủ, Conseil. Nó có thể trả lại hơi ấm cho một xác chết không?”
“Không phải điều tôi từng nghe.”
“Chà, bạn tôi, một ngày nào đó trái đất sẽ chính là một xác chết lạnh như vậy. Giống mặt trăng, từ lâu đã mất sức nóng sống còn, địa cầu của chúng ta sẽ trở nên vô sinh và không thể sống được.”
“Trong bao nhiêu thế kỷ?” Conseil hỏi.
“Trong hàng trăm nghìn năm, chàng trai của tôi.”
“Vậy chúng ta còn thừa thời gian hoàn tất chuyến đi,” Conseil đáp, “nếu Ned Land không làm hỏng mọi chuyện!”
Được trấn an như thế, Conseil quay lại nghiên cứu các bãi cạn mà chiếc Nautilus đang lướt qua với tốc độ vừa phải.
Trên đáy biển đá và núi lửa, nở rộ một bộ sưu tập thực vật chuyển động: bọt biển, hải sâm, sứa gọi là lý gai biển được trang hoàng bằng các tua đỏ nhạt và phát ra ánh lân quang tinh tế, các thành viên của giống Beroe thường được biết dưới tên sứa dưa và được tắm trong ánh lung linh của toàn bộ quang phổ mặt trời, hải huệ bơi tự do rộng một mét làm đỏ nước bằng sắc thắm của chúng, sao rổ dạng cây có vẻ đẹp lớn lao nhất, quạt biển thuộc giống Pavonacea với cuống dài, vô số nhím biển ăn được thuộc nhiều loài, cùng hải quỳ xanh có thân xám nhạt và đĩa nâu mất hút dưới những bím xúc tu màu ô liu.
Conseil đặc biệt bận rộn quan sát thân mềm và động vật có đốt, và dù bản danh mục của anh hơi khô khan, tôi không muốn bất công với chàng trai tốt bụng bằng cách bỏ qua các quan sát riêng của anh.
Từ ngành Mollusca, anh nhắc đến nhiều sò điệp hình lược, hàu gai hình móng ngựa chất chồng lên nhau, coquina tam giác, ốc thủy tinh ba nhánh với vây vàng và vỏ trong suốt, ốc màu cam thuộc giống Pleurobranchus trông như những quả trứng lốm đốm hay rắc chấm xanh lục, các thành viên của giống Aplysia cũng được biết dưới tên thỏ biển, những thỏ biển khác thuộc giống Dolabella, vỏ bong bóng giấy mập mạp, vỏ ô riêng có ở Địa Trung Hải, bào ngư mà vỏ tạo ra xà cừ rất được săn chuộng, sò điệp hành hương, vỏ yên ngựa mà thực khách ở tỉnh Languedoc của Pháp được cho là thích hơn hàu, vài loại vỏ sò huyết rất thân thuộc với cư dân Marseille, vỏ venus trắng béo thuộc nhóm nghêu rất dồi dào ngoài bờ Bắc Mỹ và được người New York ăn với số lượng lớn, nhiều vỏ lược đủ màu có nắp mang, vẹm chà là đào hang với vị cay mà tôi ưa thích, sò tim có rãnh mà vỏ có các gờ như xương sườn trên đỉnh cong, vỏ triton lốm đốm những u đỏ tươi, ốc carniaira với chóp cong ngược khiến chúng giống những chiếc gondola mỏng manh, ốc ferola đội vương miện, ốc atlanta với vỏ xoắn, nudibranch xám thuộc giống Tethys lốm đốm trắng và được phủ bởi áo choàng có tua, nudibranch thuộc phân bộ Eolidea trông như những con sên nhỏ, bướm biển bò trên lưng, vỏ sò thuộc giống Auricula gồm Auricula myosotis hình bầu dục, ốc thang nâu, ốc mỏ thông thường, ốc tím, ốc cineraira, ốc khoan đá, vỏ tai, ốc cabochon, vỏ pandora, v.v.
Còn về động vật có đốt, trong ghi chép của mình Conseil đã rất thích đáng chia chúng thành sáu lớp, ba trong số đó thuộc thế giới biển. Các lớp này là Crustacea, Cirripedia và Annelida.
Giáp xác được chia thành chín bộ, và bộ đầu tiên gồm decapod, nói cách khác, những động vật mà đầu và ngực thường hợp nhất, cơ cấu má-miệng tạo thành từ nhiều cặp phần phụ, và ngực có bốn, năm hoặc sáu cặp chân đi. Conseil dùng các phương pháp của thầy chúng tôi, Giáo sư Milne-Edwards, người đặt decapod vào ba nhóm: Brachyura, Macrura và Anomura. Những tên này có thể trông hơi dữ dằn, nhưng chúng chính xác và thích hợp. Trong Brachyura, Conseil nhắc đến vài con cua amanthia mà phần trước được trang bị hai chóp lớn tách ra, những con bọ cạp inachus—Chúa biết vì sao—tượng trưng cho trí tuệ đối với người Hy Lạp cổ, cua nhện thuộc các giống massena và spinimane hẳn đã đi lạc vào các bãi cạn này vì chúng thường sống ở tầng sâu thấp hơn, cua xanthid, cua pilumna, cua hình thoi, cua hộp hạt (dễ tiêu, như Conseil mạo muội nhận xét), cua mặt nạ không răng, cua ebalia, cua cymopolia, cua tay lông, v.v. Trong Macrura (được chia thành năm họ: vỏ cứng, đào hang, tôm hùm sông, tôm và cua ma) Conseil nhắc đến vài con tôm hùm gai thường mà con cái cung cấp thứ thịt rất được đánh giá cao, tôm hùm dép hay tôm thường, tôm gebia ven nước, và đủ loại ăn được, nhưng anh không nói gì về phân nhóm tôm hùm sông bao gồm tôm hùm thật, bởi tôm hùm gai là loại duy nhất ở Địa Trung Hải. Cuối cùng, trong Anomura, anh thấy cua drocina thường sống trong bất kỳ vỏ sò bỏ hoang nào chúng có thể chiếm lấy, cua homola có phần trước gai góc, cua ẩn sĩ, cua sứ lông, v.v.
Ở đó công việc của Conseil dừng lại. Anh không có thời gian hoàn tất lớp Crustacea bằng một cuộc khảo sát stomatopod, amphipod, homopod, isopod, trilobite, branchiopod, ostracod và entomostracean của nó. Và để hoàn tất nghiên cứu về động vật có đốt biển, anh cần nhắc đến lớp Cirripedia, gồm bọ chét nước và rận cá chép, cộng lớp Annelida, mà anh chắc chắn sẽ chia thành giun tubifex và giun dorsibranchian. Nhưng sau khi đã vượt qua các bãi cạn của eo biển Sicily, chiếc Nautilus lại tiếp tục tốc độ nước sâu thường lệ. Từ đó trở đi, không còn thân mềm, không còn động vật hình cây, không còn động vật có đốt. Chỉ vài con cá lớn quét qua như bóng tối.
Trong đêm 16 rạng 17 tháng 2, chúng tôi vào lòng chảo Địa Trung Hải thứ hai, nơi chúng tôi thấy độ sâu tối đa là 3.000 mét. Chiếc Nautilus, bị chân vịt và cánh nghiêng đẩy xuống, hạ tới các tầng thấp nhất của biển này.
Ở đó, thay cho những kỳ quan tự nhiên, khối nước dâng trước mắt tôi những cảnh tượng rùng mình và đáng sợ. Về thực chất, khi ấy chúng tôi đang băng qua phần của toàn bộ Địa Trung Hải phì nhiêu tai nạn đến thế. Từ bờ Algiers đến các bãi biển Provence, biết bao tàu đã đắm, biết bao con tàu đã biến mất! So với các đồng bằng lỏng mênh mông của Thái Bình Dương, Địa Trung Hải chỉ là một cái hồ, nhưng là một cái hồ khó lường với những con sóng thất thường, hôm nay hiền lành và âu yếm đối với những tàu một cột mong manh trôi giữa hai sắc xanh ultramarine của trời và nước, ngày mai cáu kỉnh và cuồng loạn, bị gió khuấy động, phá hủy những con tàu vững chắc nhất dưới những con sóng bất ngờ đập xuống với một cú giáng lao đầu.
Vì thế, trong hành trình nhanh qua những tầng sâu này, biết bao con tàu tôi thấy nằm trên đáy biển, một số đã bị san hô đóng bánh, số khác chỉ khoác một lớp gỉ, thêm neo, đại bác, đạn pháo, phụ kiện sắt, cánh chân vịt, các bộ phận máy móc, xi lanh nứt, nồi hơi vỡ toác, rồi các thân tàu nổi lơ lửng giữa nước, chỗ đứng thẳng, chỗ lật úp.
Một số tàu đắm này đã chết trong va chạm, số khác vì đâm vào rạn granit. Tôi thấy vài chiếc đã chìm thẳng xuống, cột buồm vẫn dựng đứng, dây chằng đông cứng bởi nước. Chúng trông như thể đang neo ở một bến neo ngoài khơi mênh mông, trống trải, nơi chúng đang chờ giờ khởi hành. Khi chiếc Nautilus đi giữa chúng, phủ lên chúng những tấm điện quang, chúng dường như sẵn sàng chào chúng tôi bằng cờ hiệu và gửi số hiệu của chúng cho chúng tôi! Nhưng không, chỉ có im lặng và chết chóc lấp đầy cánh đồng thảm họa này!
Tôi quan sát thấy các tầng sâu Địa Trung Hải này ngày càng chất đầy những xác tàu ghê rợn như thế khi chiếc Nautilus tiến gần eo biển Gibraltar. Khi ấy bờ châu Phi và châu Âu đang hội tụ, và trong không gian hẹp này các vụ va chạm là chuyện thường. Ở đó tôi thấy nhiều đáy sắt, những tàn tích ma quái của tàu hơi nước, có chiếc nằm dài, có chiếc dựng lên như những con vật đáng sợ. Một trong những con tàu ấy để lại ấn tượng đầu tiên khủng khiếp: hai mạn rách toạc, ống khói cong gãy, guồng bánh chèo trơ đến giá đỡ, bánh lái tách khỏi trụ đuôi mà vẫn treo trên một xích sắt, bảng tên ở đuôi bị muối biển ăn mòn! Bao nhiêu sinh mạng đã bị nghiền nát trong vụ đắm tàu này! Bao nhiêu nạn nhân bị cuốn dưới sóng! Có thủy thủ nào trên tàu sống sót để kể câu chuyện về tai họa khủng khiếp này, hay sóng vẫn giữ bí mật về nạn tàu ấy? Không hiểu vì sao, tôi chợt nghĩ rằng con tàu chôn dưới biển này có thể là chiếc Atlas, mất tích cùng toàn bộ người trên tàu khoảng hai mươi năm trước và không bao giờ được nghe tin nữa! Ôi, những tầng sâu Địa Trung Hải này có thể kể một câu chuyện ghê rợn biết bao, nghĩa địa khổng lồ này nơi biết bao của cải đã mất, nơi biết bao nạn nhân đã gặp cái chết!
Trong khi đó, thản nhiên nhanh nhẹn, chiếc Nautilus chạy hết chân vịt giữa những đống tàn tích này. Ngày 18 tháng 2, gần ba giờ sáng, nó tới trước lối vào eo biển Gibraltar.
Có hai dòng chảy ở đây: một dòng trên, từ lâu được biết là tồn tại, mang nước đại dương vào lòng chảo Địa Trung Hải; rồi một phản lưu tầng dưới, bằng chứng duy nhất ngày nay về sự tồn tại của nó là logic. Về thực chất, Địa Trung Hải nhận một lượng nước chảy vào liên tục không chỉ từ Đại Tây Dương mà còn từ các con sông đổ vào nó; vì sự bốc hơi tại chỗ không đủ để khôi phục cân bằng, tổng lượng nước thêm vào lẽ ra phải làm mực biển này cao hơn mỗi năm. Nhưng thực tế không phải vậy, và tự nhiên chúng ta buộc phải tin vào sự tồn tại của một dòng chảy tầng dưới nào đó mang phần nước dư của Địa Trung Hải qua eo biển Gibraltar và vào lòng chảo Đại Tây Dương.
Và quả đúng như vậy. Chiếc Nautilus tận dụng triệt để phản lưu này. Nó tiến nhanh qua lối hẹp ấy. Trong chốc lát tôi thoáng thấy những tàn tích kỳ diệu của đền Hercules, bị chôn dưới biển như Pliny và Avianus đã nhắc, cùng với hòn đảo phẳng mà chúng đứng trên đó; và vài phút sau, chúng tôi đã nổi trên các con sóng Đại Tây Dương.
### CHƯƠNG 8
Vịnh Vigo

ĐẠI TÂY DƯƠNG! Một khoảng nước mênh mông có diện tích 25.000.000 dặm vuông, dài 9.000 dặm và rộng trung bình 2.700 dặm. Một biển lớn gần như xa lạ với người xưa, ngoại trừ có lẽ người Carthage, những người Hà Lan của thời cổ đại, đã đi dọc các bờ tây châu Âu và châu Phi trong những chuyến buôn của họ! Một đại dương mà các bờ uốn lượn song song tạo thành một chu vi khổng lồ được nuôi bằng những con sông lớn nhất thế giới: St. Lawrence, Mississippi, Amazon, Plata, Orinoco, Niger, Senegal, Elbe, Loire và Rhine, mang cho nó nước từ những quốc gia văn minh nhất cũng như những vùng kém phát triển nhất! Một đồng bằng sóng tráng lệ liên tục bị cày xới bởi tàu bè của mọi dân tộc, rợp bóng mọi lá cờ trên thế giới, và kết thúc ở hai mũi đất đáng sợ khiến các nhà hàng hải kinh sợ đến thế, mũi Horn và mũi Bão Tố!
Chiếc Nautilus rẽ những vùng nước này bằng mép cựa của nó sau khi đã đi gần 10.000 dặm biển trong ba tháng rưỡi, một lộ trình dài hơn một vòng tròn lớn của trái đất. Giờ chúng tôi đang hướng tới đâu, và tương lai dành cho chúng tôi điều gì?
Ra khỏi eo biển Gibraltar, chiếc Nautilus tiến ra biển khơi. Nó trở lại mặt sóng, vì vậy các cuộc dạo hằng ngày trên sàn ngoài được trả lại cho chúng tôi.
Tôi lập tức trèo lên đó, cùng Ned Land và Conseil. Cách mười hai dặm, mũi St. Vincent hiện ra mờ mịt, mũi tây nam của bán đảo Tây Ban Nha. Gió thổi một cơn khá mạnh từ phía nam. Biển phồng lên và dâng cuộn. Sóng của nó làm chiếc Nautilus lắc và giật dữ dội. Gần như không thể đứng vững trên sàn ngoài, nơi liên tục bị biển nặng khổng lồ này đánh vỗ. Sau khi hít vài hơi không khí, chúng tôi lại đi xuống.
Tôi trở về phòng riêng. Conseil trở lại cabin của anh; nhưng người Canada, vẻ khá lo lắng, đi theo tôi. Chuyến đi nhanh của chúng tôi qua Địa Trung Hải đã không cho phép ông thực hiện các kế hoạch của mình, và ông khó che giấu nổi thất vọng.
Sau khi cửa phòng riêng của tôi đóng lại, ông ngồi xuống và im lặng nhìn tôi.
“Ned bạn tôi,” tôi nói với ông, “tôi biết ông cảm thấy thế nào, nhưng ông không được tự trách. Với cách chiếc Nautilus đang đi, nghĩ đến chuyện trốn thoát hẳn là điên rồ thuần túy!”
Ned Land không đáp. Đôi môi mím lại và vầng trán cau có của ông cho thấy ông đang bị ám ảnh bởi ý nghĩ duy nhất của mình.
“Nghe này,” tôi tiếp tục, “đến nay vẫn chưa có lý do để tuyệt vọng. Chúng ta đang đi lên bờ biển Bồ Đào Nha. Pháp và Anh không xa, và ở đó chúng ta sẽ dễ dàng tìm được nơi trú ẩn. Ồ, tôi thừa nhận, nếu chiếc Nautilus vừa ra khỏi eo biển Gibraltar đã hướng tới cái mũi ở phía nam kia, nếu nó đưa chúng ta về những vùng không có lục địa, thì tôi sẽ chia sẻ nỗi lo của ông. Nhưng nay chúng ta biết Thuyền trưởng Nemo không tránh các biển văn minh, và trong vài ngày nữa tôi nghĩ chúng ta có thể yên tâm hành động.”
Ned Land nhìn tôi còn chăm chú hơn, cuối cùng mở môi:
“Tối nay chúng ta sẽ làm,” ông nói.
Tôi đột ngột đứng thẳng lên. Tôi thú nhận mình chưa hề sẵn sàng cho thông báo này. Tôi muốn đáp người Canada, nhưng lời không ra.
“Chúng ta đã đồng ý chờ hoàn cảnh thích hợp,” Ned Land tiếp tục. “Giờ chúng ta có hoàn cảnh đó. Tối nay chúng ta sẽ chỉ cách bờ biển Tây Ban Nha vài dặm. Đêm nay sẽ nhiều mây. Gió đang thổi vào bờ. Ngài đã hứa với tôi, Giáo sư Aronnax, và tôi trông cậy vào ngài.”
Vì tôi không nói gì, người Canada đứng dậy và đến gần tôi:
“Chúng ta sẽ làm tối nay lúc chín giờ,” ông nói. “Tôi đã báo Conseil. Đến lúc ấy Thuyền trưởng Nemo sẽ khóa mình trong phòng và có lẽ đã lên giường. Cả thợ máy lẫn thủy thủ đoàn sẽ không thể thấy chúng ta. Conseil và tôi sẽ đi tới cầu thang trung tâm. Còn ngài, Giáo sư Aronnax, ngài sẽ ở trong thư viện cách đó hai bước và chờ tín hiệu của tôi. Mái chèo, cột buồm và buồm đều ở trong xuồng nhỏ. Tôi thậm chí đã xoay xở cất một ít lương thực bên trong. Tôi đã lấy được một chiếc cờ lê để tháo các đai ốc bắt chặt xuồng nhỏ vào thân chiếc Nautilus. Vậy mọi thứ đã sẵn sàng. Hẹn gặp ngài tối nay.”
“Biển động,” tôi nói.
“Thừa nhận,” người Canada đáp, “nhưng chúng ta phải mạo hiểm. Tự do đáng để trả giá. Hơn nữa, xuồng dài được đóng chắc chắn, và vài dặm với gió sau lưng chẳng có gì lớn. Ngày mai, ai biết con tàu này sẽ không ở ngoài khơi 100 dặm biển? Nếu hoàn cảnh thuận lợi cho chúng ta, giữa mười và mười một giờ tối nay chúng ta sẽ đặt chân lên một mảnh đất rắn nào đó, hoặc chúng ta sẽ chết. Vậy chúng ta ở trong tay Chúa, và tôi sẽ gặp ngài tối nay!”
Nói xong, người Canada rút lui, để tôi gần như chết lặng. Tôi đã tưởng rằng nếu đến nước này, mình sẽ có thời gian suy nghĩ, bàn bạc. Người bạn đồng hành bướng bỉnh của tôi không dành cho tôi sự lịch sự ấy. Nhưng xét cho cùng, tôi sẽ nói gì với ông? Ned Land đúng gấp trăm lần. Đây là những hoàn cảnh gần như lý tưởng, và ông đang tận dụng triệt để. Vì những lợi ích cá nhân ích kỷ của mình, tôi có thể nuốt lời và chịu trách nhiệm hủy hoại cuộc đời tương lai của các bạn đồng hành hay sao? Ngày mai, liệu Thuyền trưởng Nemo có đưa chúng tôi đi xa khỏi mọi bờ biển không?
Đúng lúc ấy, một tiếng rít khá lớn báo cho tôi biết các két dằn đang đầy nước, và chiếc Nautilus chìm xuống dưới các con sóng Đại Tây Dương.
Tôi ở lại trong phòng riêng. Tôi muốn tránh thuyền trưởng, muốn giấu khỏi mắt ông sự xao động đang áp đảo tôi. Thật là một ngày đau đớn mà tôi đã trải qua, bị giằng xé giữa khát vọng giành lại ý chí tự do và nỗi tiếc nuối khi bỏ lại chiếc Nautilus kỳ diệu này, để mặc công trình nghiên cứu dưới nước của tôi dang dở! Làm sao tôi có thể từ bỏ đại dương này—“Đại Tây Dương của riêng tôi,” như tôi thích gọi nó—mà chưa quan sát các tầng thấp của nó, chưa giằng lấy từ nó những loại bí mật đã được các biển Đông Ấn và Thái Bình Dương vén mở cho tôi! Tôi đang đặt cuốn tiểu thuyết của mình xuống khi mới đọc dở, tôi đang tỉnh dậy khi giấc mơ gần đến cao trào! Những giờ trôi qua đau đớn biết bao, khi tôi lúc thì hình dung mình an toàn trên bờ với các bạn đồng hành, lúc lại, bất chấp phán đoán đúng đắn hơn của mình, mong một hoàn cảnh bất ngờ nào đó sẽ ngăn Ned Land thực hiện các kế hoạch.
Hai lần tôi đi tới phòng khách. Tôi muốn xem la bàn. Tôi muốn biết liệu hướng đi của chiếc Nautilus có thật sự đưa chúng tôi lại gần bờ hay đang cuốn chúng tôi xa hơn. Nhưng không. Chiếc Nautilus vẫn ở trong vùng biển Bồ Đào Nha. Hướng về phía bắc, nó đang đi dọc các bãi biển đại dương.
Vậy tôi phải cam chịu số phận và chuẩn bị trốn thoát. Hành lý của tôi không nặng. Các ghi chép của tôi, không gì hơn.
Còn về Thuyền trưởng Nemo, tôi tự hỏi ông sẽ nghĩ gì về cuộc trốn thoát của chúng tôi, nó có thể gây cho ông mối quan tâm nào hoặc có lẽ nỗi đau khổ nào, và ông sẽ làm gì trong hai trường hợp: nỗ lực của chúng tôi thất bại hoặc bị phát hiện! Chắc chắn tôi không có lời phàn nàn nào với ông, trái lại. Chưa bao giờ có sự hiếu khách nào trọn vẹn hơn của ông. Vậy mà rời ông, tôi không thể bị buộc tội vô ơn. Không lời hứa long trọng nào ràng buộc chúng tôi với ông. Để giữ chúng tôi làm tù nhân, ông chỉ trông cậy vào sức mạnh của hoàn cảnh chứ không phải vào lời danh dự của chúng tôi. Nhưng ý định được ông thừa nhận là giam chúng tôi mãi mãi trên tàu biện minh cho mọi nỗ lực của chúng tôi.
Tôi chưa thấy thuyền trưởng kể từ chuyến thăm đảo Santorini. Liệu số phận có đưa tôi vào sự hiện diện của ông trước khi chúng tôi rời đi không? Tôi vừa mong muốn vừa khiếp sợ điều đó. Tôi lắng nghe tiếng bước chân trong phòng riêng kề bên của ông. Không một âm thanh nào đến tai tôi. Phòng riêng của ông hẳn phải trống.
Rồi tôi bắt đầu tự hỏi liệu cá nhân lập dị này có còn ở trên tàu hay không. Từ đêm chiếc xuồng nhỏ rời chiếc Nautilus trong một nhiệm vụ bí ẩn nào đó, ý nghĩ của tôi về ông đã tinh tế thay đổi. Bất chấp mọi điều, tôi nghĩ Thuyền trưởng Nemo hẳn đã giữ một kiểu quan hệ nào đó với bờ. Có phải bản thân ông không bao giờ rời chiếc Nautilus? Nhiều tuần liền thường trôi qua mà tôi không gặp ông. Ông làm gì suốt thời gian ấy? Trong tất cả những lần tôi tưởng ông đang dưỡng bệnh trong vòng kìm kẹp của một cơn yếm thế nào đó, phải chăng thay vào đó ông đang ở xa con tàu, tham dự vào một hoạt động bí mật mà bản chất vẫn lẩn tránh tôi?
Tất cả những ý nghĩ này và cả nghìn ý nghĩ khác đồng thời tấn công tôi. Trong những hoàn cảnh kỳ lạ này, phạm vi phỏng đoán là vô hạn. Tôi cảm thấy một nỗi buồn nôn không thể chịu nổi. Ngày chờ đợi này dường như bất tận. Giờ điểm quá chậm so với sự sốt ruột của tôi.
Như thường lệ, bữa tối được phục vụ cho tôi trong phòng riêng. Đầy lo lắng, tôi ăn rất ít. Tôi rời bàn lúc bảy giờ. 120 phút—tôi vẫn đang đếm—còn tách tôi khỏi khoảnh khắc tôi phải nhập bọn với Ned Land. Sự xao động của tôi tăng lên. Mạch tôi đập dữ dội. Tôi không thể đứng yên. Tôi đi tới đi lui, hy vọng làm dịu tâm trí rối loạn bằng cử động. Khả năng bỏ mạng trong cuộc mạo hiểm liều lĩnh của chúng tôi là điều tôi ít lo nhất; tim tôi đập dồn trước ý nghĩ các kế hoạch của chúng tôi có thể bị phát hiện trước khi chúng tôi rời chiếc Nautilus, trước ý nghĩ bị lôi đến trước Thuyền trưởng Nemo và thấy ông nổi giận, hoặc tệ hơn, đau buồn vì tôi bỏ ông.
Tôi muốn nhìn phòng khách lần cuối. Tôi đi xuống các hành lang và tới bảo tàng nơi tôi đã trải qua biết bao giờ dễ chịu và hữu ích. Tôi nhìn chằm chằm mọi của cải, mọi kho báu của nó, như một người vào đêm trước cuộc lưu đày vĩnh viễn, một người ra đi để không bao giờ trở lại. Suốt bao ngày nay, những kỳ quan tự nhiên và kiệt tác nghệ thuật này đã là trung tâm đời tôi, và tôi sắp bỏ chúng lại mãi mãi. Tôi muốn nhúng mắt mình qua cửa sổ phòng khách và vào những vùng nước Đại Tây Dương này; nhưng các tấm che bị đóng kín tuyệt đối, và một lớp áo giáp sắt ngăn tôi với đại dương mà tôi vẫn còn xa lạ.
Đi qua phòng khách, tôi đến cánh cửa, đặt ở một trong những góc vát, mở vào phòng riêng của thuyền trưởng. Trước sự kinh ngạc lớn lao của tôi, cửa này hé mở. Theo bản năng tôi lùi lại. Nếu Thuyền trưởng Nemo ở trong phòng riêng, ông có thể thấy tôi. Nhưng, không nghe thấy âm thanh nào, tôi tiến lại. Phòng riêng trống. Tôi đẩy cửa mở. Tôi bước vài bước vào trong. Vẫn cùng một vẻ khắc khổ, gần như tu viện.
Đúng lúc ấy mắt tôi bị thu hút bởi vài bản khắc treo trên tường, những thứ tôi không để ý trong lần thăm đầu tiên. Đó là chân dung các vĩ nhân trong lịch sử, những người đã dành đời mình cho sự tận hiến không ngừng đối với một lý tưởng nhân loại lớn lao: Thaddeus Kosciusko, vị anh hùng mà những lời hấp hối là Finis Poloniae;\* Markos Botzaris, đối với Hy Lạp hiện đại là hóa thân của vua Leonidas xứ Sparta; Daniel O’Connell, người bảo vệ Ireland; George Washington, người sáng lập Liên bang Mỹ; Daniele Manin, nhà ái quốc Ý; Abraham Lincoln, chết vì viên đạn của một tín đồ chế độ nô lệ; và cuối cùng, vị tử đạo cho sự cứu chuộc chủng tộc da đen, John Brown, treo trên giá treo cổ như cây bút chì của Victor Hugo đã khắc họa thật kinh hoàng.
\*Tiếng Latin: “Hãy cứu biên giới Ba Lan.” BTV.
Mối liên kết nào giữa những linh hồn anh hùng này và linh hồn của Thuyền trưởng Nemo? Từ bộ sưu tập chân dung này liệu cuối cùng tôi có thể tháo gỡ bí ẩn về sự tồn tại của ông không? Ông có phải một chiến sĩ vì các dân tộc bị áp bức, một người giải phóng các chủng tộc bị nô dịch? Ông có tham dự vào các biến động chính trị hay xã hội gần đây của thế kỷ này không? Ông có phải một anh hùng của cuộc nội chiến khủng khiếp ở Mỹ, một cuộc chiến đáng than nhưng mãi mãi vinh quang...?
Đột nhiên đồng hồ điểm tám giờ. Tiếng búa đầu tiên gõ lên chuông kéo tôi bật khỏi các suy tưởng. Tôi rùng mình như thể một con mắt vô hình đã lao vào tận sâu những ý nghĩ thầm kín của tôi, và tôi vội vã ra khỏi phòng riêng.
Ở đó mắt tôi rơi lên la bàn. Hướng đi của chúng tôi vẫn là hướng bắc. Máy đo tốc độ chỉ một tốc độ vừa phải, áp kế chỉ độ sâu khoảng sáu mươi foot. Vậy hoàn cảnh thuận lợi cho kế hoạch của người Canada.
Tôi ở lại trong phòng riêng. Tôi mặc thật ấm: ủng đánh cá, mũ rái cá, áo khoác bằng vải trai quạt lót da hải cẩu. Tôi đã sẵn sàng. Tôi chờ đợi. Chỉ những rung động của chân vịt khuấy động sự im lặng sâu thẳm đang ngự trị trên tàu. Tôi vểnh tai lắng nghe. Liệu một tiếng ồn ào đột ngột của nhiều giọng nói có báo cho tôi rằng kế hoạch trốn thoát của Ned Land vừa bị phát hiện không? Một nỗi bất an ghê rợn len vào tôi. Tôi cố vô ích để lấy lại bình tĩnh.
Vài phút trước chín giờ, tôi áp tai vào cửa phòng thuyền trưởng. Không một âm thanh. Tôi rời phòng riêng và trở lại phòng khách, nơi vắng vẻ và chìm trong bóng tối gần như hoàn toàn.
Tôi mở cửa dẫn vào thư viện. Cùng thứ ánh sáng không đủ, cùng sự cô tịch. Tôi đến giữ vị trí gần cánh cửa mở vào giếng của cầu thang trung tâm. Tôi chờ tín hiệu của Ned Land.
Đến lúc này, những rung động của chân vịt chậm lại rõ rệt, rồi chúng tắt hẳn. Vì sao chiếc Nautilus dừng lại? Điểm dừng này sẽ giúp hay cản các kế hoạch của Ned Land, tôi không thể nói.
Sự im lặng chỉ còn bị phá vỡ bởi tiếng tim tôi đập.
Đột nhiên tôi cảm thấy một cú chấn động nhẹ. Tôi nhận ra chiếc Nautilus đã đặt mình xuống đáy đại dương. Nỗi hoảng hốt của tôi tăng lên. Tín hiệu của người Canada vẫn chưa đến. Tôi nóng lòng muốn gặp Ned Land và thúc giục ông hoãn nỗ lực của mình. Tôi cảm thấy rằng chúng tôi không còn di chuyển trong điều kiện bình thường nữa.
Đúng lúc ấy cửa phòng khách chính mở ra và Thuyền trưởng Nemo xuất hiện. Ông thấy tôi, và không nói lời mở đầu:
“À, giáo sư,” ông nói bằng giọng nhã nhặn, “tôi đang tìm ông. Ông có biết lịch sử Tây Ban Nha không?”
Ngay cả nếu thuộc lòng nó, một người trong tình trạng rối loạn và lẫn lộn như tôi cũng không thể trích dẫn một âm tiết nào từ lịch sử của chính đất nước mình.
“Thế nào?” Thuyền trưởng Nemo tiếp tục. “Ông có nghe câu hỏi của tôi không? Ông có biết lịch sử Tây Ban Nha không?”
“Biết rất ít,” tôi đáp.
“Những người uyên bác nhất,” thuyền trưởng nói, “vẫn còn nhiều điều để học. Mời ngồi,” ông thêm, “và tôi sẽ kể cho ông một tình tiết khác thường trong phần lịch sử này.”
Thuyền trưởng duỗi mình trên một chiếc trường kỷ, và tôi máy móc ngồi xuống gần ông, nhưng nửa trong bóng tối.
“Giáo sư,” ông nói, “hãy nghe cho kỹ. Mẩu lịch sử này liên quan đến ông ở một khía cạnh xác định, bởi nó sẽ trả lời một câu hỏi mà chắc hẳn ông đã không thể giải.”
“Tôi đang nghe, thuyền trưởng,” tôi nói, không biết người đối thoại của mình đang nhắm đến điều gì, và tự hỏi liệu sự việc này có liên quan đến kế hoạch trốn thoát của chúng tôi không.
“Giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo tiếp tục, “nếu ông sẵn lòng, chúng ta sẽ quay ngược thời gian về năm 1702. Ông biết sự thật rằng vào những ngày ấy, vua Louis XIV của các ông nghĩ một cử chỉ đế vương sẽ đủ làm dãy Pyrenees cúi mình trong bụi đất, nên ông áp đặt cháu nội của mình, Công tước Anjou, lên người Tây Ban Nha. Trị vì khá dở dưới tên vua Philip V, nhà quý tộc này phải đối phó với những đối thủ hùng mạnh ở nước ngoài.
“Về thực chất, năm trước đó, các hoàng gia Hà Lan, Áo và Anh đã ký một hiệp ước liên minh tại La Haye, nhằm giật vương miện Tây Ban Nha khỏi vua Philip V và đặt nó lên đầu một vị đại công tước mà họ vội vã gọi là vua Charles III.
“Tây Ban Nha phải chống đỡ các đồng minh ấy. Nhưng đất nước này hầu như không có quân đội hay hải quân. Tuy vậy, nó không thiếu tiền, miễn là các galleon của nó, chất đầy vàng bạc từ châu Mỹ, có thể vào được các cảng của nó. Bấy giờ, cuối năm 1702, Tây Ban Nha đang chờ một đoàn hộ tống giàu có, và Pháp mạo hiểm hộ tống nó bằng một hạm đội gồm hai mươi ba tàu dưới quyền Đô đốc de Chateau-Renault, vì vào lúc ấy hải quân đồng minh đang rong ruổi trên Đại Tây Dương.
“Đoàn hộ tống này lẽ ra phải vào Cadiz, nhưng sau khi biết hạm đội Anh án ngữ các thủy lộ ấy, vị đô đốc quyết định hướng tới một cảng Pháp.
“Các chỉ huy Tây Ban Nha trong đoàn hộ tống phản đối quyết định này. Họ muốn được đưa tới một cảng Tây Ban Nha, nếu không phải Cadiz, thì đến vịnh Vigo, nằm trên bờ tây bắc Tây Ban Nha và không bị phong tỏa.
“Đô đốc de Chateau-Renault do dự đến mức tuân theo chỉ thị ấy, và các galleon tiến vào vịnh Vigo.
“Không may, vịnh này tạo thành một bến neo ngoài khơi rộng mở, không thể phòng thủ. Vì vậy điều thiết yếu là phải khẩn trương dỡ hàng khỏi các galleon trước khi hạm đội đồng minh tới, và hẳn đã có thừa thời gian cho việc dỡ hàng này, nếu một vấn đề khốn khổ về các thỏa thuận thương mại không bất ngờ nảy sinh.
“Ông đã rõ chuỗi sự kiện chưa?” Thuyền trưởng Nemo hỏi tôi.
“Hoàn toàn rõ,” tôi nói, vẫn chưa biết vì sao mình được nhận bài học lịch sử này.
“Vậy tôi tiếp tục. Đây là điều đã xảy ra. Các thương nhân Cadiz đã thương lượng một đặc quyền theo đó họ sẽ nhận toàn bộ hàng hóa đến từ Tây Ấn. Bấy giờ, dỡ các thỏi kim loại khỏi những galleon ấy tại cảng Vigo sẽ là vi phạm quyền lợi của họ. Vì vậy họ gửi đơn khiếu nại lên Madrid, và họ nhận được một mệnh lệnh từ vua Philip V do dự: không dỡ hàng, đoàn hộ tống sẽ được giữ tại bến neo ngoài khơi Vigo cho đến khi các hạm đội địch rút lui.
“Bấy giờ, đúng lúc quyết định này được ban xuống, các tàu Anh tới vịnh Vigo vào ngày 22 tháng 10 năm 1702. Bất chấp lực lượng kém hơn, Đô đốc de Chateau-Renault chiến đấu dũng cảm. Nhưng khi thấy của cải của đoàn hộ tống sắp rơi vào tay địch, ông đốt và đánh đắm các galleon, và chúng chìm xuống đáy cùng những kho báu khổng lồ.”
Thuyền trưởng Nemo dừng lại. Tôi thừa nhận: tôi vẫn không thấy đoạn lịch sử này liên quan đến mình ra sao.
“Thế nào?” tôi hỏi ông.
“Thế này, Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo đáp, “chúng ta hiện đang ở chính vịnh Vigo ấy, và tất cả những gì còn lại là để ông thăm dò những bí ẩn của nơi này.”
Thuyền trưởng đứng dậy và mời tôi đi theo. Tôi đã có thời gian trấn tĩnh. Tôi làm theo. Phòng khách tối, nhưng sóng biển lấp lánh qua các cửa kính trong suốt. Tôi nhìn chằm chằm.
Quanh chiếc Nautilus trong bán kính nửa dặm, nước dường như bão hòa ánh điện. Đáy cát hiện ra rõ và sáng. Mặc đồ lặn, các thủy thủ đang bận rộn dọn đi những thùng mục nửa chừng và các rương bị toạc ruột giữa những xác tàu xám xịt. Từ những rương và thùng ấy tràn ra các thỏi vàng bạc, những dòng thác châu báu, những đồng peso bạc. Cát chất đầy chúng. Rồi, nặng trĩu với chiến lợi phẩm quý giá ấy, những người kia trở về chiếc Nautilus, trút gánh bên trong, rồi quay lại tiếp tục cuộc đánh bắt bạc vàng không bao giờ cạn này.
Tôi đã hiểu. Đây là bối cảnh của trận chiến ngày 22 tháng 10 năm 1702. Tại đây, ngay chính nơi này, những galleon chở kho báu cho chính phủ Tây Ban Nha đã chìm xuống đáy. Tại đây, bất cứ khi nào cần, Thuyền trưởng Nemo đến rút những triệu tiền này để làm vật dằn cho chiếc Nautilus của mình. Chính vì ông, chỉ vì riêng ông, mà châu Mỹ đã nhả ra các kim loại quý của nó. Ông là người thừa kế trực tiếp, duy nhất của những kho báu bị giật khỏi tay người Inca và những dân tộc bị Hernando Cortez chinh phục!
“Ông có biết không, giáo sư,” ông hỏi tôi với một nụ cười, “rằng biển chứa của cải như thế?”
“Tôi biết người ta ước tính,” tôi đáp, “rằng có 2.000.000 tấn bạc bị giữ lơ lửng trong nước biển.”
“Chắc chắn, nhưng để chiết xuất số bạc ấy, phí tổn của các ông sẽ vượt quá lợi nhuận. Ở đây thì trái lại, tôi chỉ việc nhặt lấy những gì người khác đã đánh mất, và không chỉ trong vịnh Vigo này mà ở hàng nghìn địa điểm khác nơi tàu bè đã chìm, vị trí của chúng được đánh dấu trên hải đồ dưới nước của tôi. Giờ ông hiểu tôi giàu đến hàng tỷ chứ?”
“Tôi hiểu, thuyền trưởng. Tuy nhiên, cho phép tôi báo với ông rằng bằng cách thu hoạch chính vịnh Vigo này, ông chỉ đơn giản là đi trước nỗ lực của một tổ chức cạnh tranh.”
“Tổ chức nào?”
“Một công ty được chính phủ Tây Ban Nha cấp phép để tìm kiếm những galleon bị chìm ấy. Các nhà đầu tư của công ty đã bị mồi nhử lợi nhuận khổng lồ cuốn hút, vì kho báu bị đánh đắm này được ước tính trị giá 500.000.000 franc.”
“Đã từng là 500.000.000 franc,” Thuyền trưởng Nemo đáp, “nhưng không còn nữa!”
“Đúng,” tôi nói. “Vì vậy một lời cảnh báo kịp thời cho các nhà đầu tư ấy sẽ là một hành động từ thiện. Tuy nhiên ai biết nó có được đón nhận tốt hay không? Thông thường, điều những con bạc hối tiếc nhất không hẳn là mất tiền, mà là mất những hy vọng điên rồ của họ. Nhưng rốt cuộc tôi ít thương họ hơn hàng nghìn người bất hạnh lẽ ra sẽ được hưởng lợi từ một sự phân phối công bằng của của cải này, trong khi nay nó sẽ chẳng giúp gì cho họ!”
Tôi vừa thốt ra nỗi tiếc nuối này thì cảm thấy nó hẳn đã làm Thuyền trưởng Nemo bị tổn thương.
“Chẳng giúp gì!” ông đáp, càng lúc càng sôi nổi. “Thưa ông, điều gì khiến ông cho rằng của cải này bị lãng phí khi tôi là người tích góp nó? Ông nghĩ tôi nhọc công gom kho báu này vì ích kỷ sao? Ai nói tôi không dùng nó vào việc tốt? Ông nghĩ tôi không biết những sinh linh đau khổ và những chủng tộc bị áp bức đang sống trên trái đất này, những người nghèo cần được an ủi, những nạn nhân cần được báo thù? Ông không hiểu sao...?”
Thuyền trưởng Nemo dừng lại ở những lời cuối này, có lẽ hối tiếc vì đã nói quá nhiều. Nhưng tôi đã đoán ra. Dù những động cơ nào đã thúc đẩy ông tìm kiếm sự độc lập dưới biển, trước hết ông vẫn là một con người! Trái tim ông vẫn đập vì nhân loại đau khổ, và lòng bác ái mênh mông của ông hướng tới cả những chủng tộc bị chà đạp lẫn những cá nhân!
Và giờ tôi đã biết Thuyền trưởng Nemo đã giao những triệu tiền kia ở đâu, khi chiếc Nautilus đi trong vùng nước nơi Crete đang nổi dậy chống Đế quốc Ottoman!
### CHƯƠNG 9
Một lục địa đã mất
SÁNG HÔM SAU, ngày 19 tháng 2, tôi thấy người Canada bước vào phòng riêng của mình. Tôi đã chờ cuộc viếng thăm này. Ông mang vẻ thất vọng lớn lao.
“Thế nào, thưa ngài?” ông nói với tôi.
“Thế đấy, Ned, hôm qua số phận chống lại chúng ta.”
“Đúng vậy! Cái ông thuyền trưởng quỷ tha ma bắt ấy phải dừng lại đúng lúc chúng ta sắp trốn khỏi con tàu của ông ta.”
“Phải, Ned, ông ấy có việc với các chủ ngân hàng của mình.”
“Chủ ngân hàng của ông ta?”
“Hay đúng hơn là các hầm két của ông ấy. Ý tôi là đại dương này, nơi của cải của ông ấy an toàn hơn bất kỳ kho bạc quốc gia nào.”
Rồi tôi thuật lại các sự kiện tối hôm trước cho người Canada, thầm hy vọng ông sẽ đổi ý về việc không bỏ thuyền trưởng; nhưng câu chuyện của tôi không đem lại kết quả nào ngoài việc Ned bày tỏ tiếc nuối sâu sắc rằng ông đã không tự mình dạo qua chiến trường Vigo.
“Dù sao,” ông nói, “chuyện vẫn chưa xong! Cú lao đầu tiên của tôi trượt, thế thôi! Lần tới chúng ta sẽ thành công, và ngay tối nay cũng được, nếu cần...”
“Hướng đi của chiếc Nautilus là gì?” tôi hỏi.
“Tôi không biết,” Ned đáp.
“Được, trưa nay chúng ta sẽ biết vị trí của mình!”
Người Canada trở lại bên Conseil. Ngay khi mặc đồ xong, tôi đi vào phòng khách. La bàn không khích lệ. Lộ trình của chiếc Nautilus là nam-tây nam. Chúng tôi đang quay lưng lại châu Âu.
Tôi nóng lòng chờ vị trí của chúng tôi được ghi trên hải đồ. Gần 11 giờ 30, các két dằn rỗng đi, và tàu lặn nổi lên mặt đại dương. Tôi nhảy lên sàn ngoài. Ned Land đã ở đó.
Không còn bờ biển nào trong tầm mắt. Chỉ có biển mênh mông. Vài cánh buồm ở chân trời, chắc hẳn những con tàu đi xa tới tận mũi São Roque để tìm gió thuận vòng qua mũi Hảo Vọng. Bầu trời u ám. Một cơn gió giật sắp đến.
Giận dữ, Ned cố nhìn xuyên qua những làn sương ở chân trời. Ông vẫn hy vọng rằng sau tất cả màn sương ấy có những bờ biển mà ông khao khát.
Đúng trưa, mặt trời xuất hiện trong chốc lát. Lợi dụng khe hở này trong mây, viên phó chỉ huy đo độ cao của vầng sáng. Rồi biển trở nên dữ dội, chúng tôi lại đi xuống, và cửa sập đóng lại.
Khi tôi xem hải đồ một giờ sau, tôi thấy vị trí của chiếc Nautilus được đánh dấu ở kinh độ 16 độ 17′ và vĩ độ 33 độ 22′, cách bờ gần nhất tới 150 dặm biển. Không nên mơ đến chuyện trốn thoát nữa, và tôi để độc giả tự quyết định người Canada đã nổi cơn thịnh nộ nhanh đến mức nào khi tôi đánh liều nói với ông tình cảnh của chúng tôi.
Còn về phần mình, tôi không hẳn đau buồn. Tôi cảm thấy như một gánh nặng được nhấc khỏi mình, và tôi có thể trở lại công việc thường lệ trong một trạng thái tương đối bình tĩnh.
Gần mười một giờ tối, tôi nhận được một cuộc viếng thăm hết sức bất ngờ từ Thuyền trưởng Nemo. Ông hỏi tôi rất nhã nhặn rằng liệu tôi có kiệt sức vì buổi thức đêm hôm trước không. Tôi nói không.
“Vậy, Giáo sư Aronnax, tôi đề nghị một cuộc du ngoạn khác thường.”
“Xin cứ đề nghị, thuyền trưởng.”
“Cho đến nay ông chỉ thăm các vực sâu đại dương ban ngày và dưới ánh mặt trời. Ông có muốn thấy những vực sâu ấy trong một đêm tối không?”
“Rất muốn.”
“Tôi cảnh báo trước, đây sẽ là một cuộc dạo kiệt sức. Chúng ta sẽ phải đi bộ nhiều giờ và leo một ngọn núi. Đường không được giữ gìn tốt lắm.”
“Mọi điều ông nói, thuyền trưởng, chỉ càng làm tôi thêm tò mò. Tôi sẵn sàng đi với ông.”
“Vậy đi nào, giáo sư, chúng ta sẽ mặc đồ lặn.”
Tới phòng áo quần, tôi thấy cả các bạn đồng hành của tôi lẫn bất kỳ thủy thủ nào cũng sẽ không đi cùng chúng tôi trong cuộc du ngoạn này. Thuyền trưởng Nemo thậm chí không đề nghị tôi gọi Ned hay Conseil.
Trong vài phút, chúng tôi đã mặc xong trang bị. Các bình khí, được nạp đầy dồi dào, được đặt trên lưng chúng tôi, nhưng đèn điện không được chuẩn bị. Tôi nhận xét điều này với thuyền trưởng.
“Chúng sẽ vô dụng đối với chúng ta,” ông đáp.
Tôi tưởng mình nghe nhầm, nhưng tôi không thể lặp lại nhận xét của mình vì đầu thuyền trưởng đã biến mất vào trong lớp vỏ kim loại. Tôi mặc nốt đồ đạc, cảm thấy một cây gậy núi được đặt vào tay, và vài phút sau, sau các thủ tục thường lệ, chúng tôi đặt chân lên nền Đại Tây Dương, sâu 300 mét.
Nửa đêm đang đến gần. Nước tối sâu thẳm, nhưng Thuyền trưởng Nemo chỉ cho tôi một đốm đỏ ở xa, một thứ vầng sáng rộng lấp lánh cách chiếc Nautilus khoảng hai dặm. Ngọn lửa này là gì, chất nào nuôi nó, bằng cách nào và vì sao nó tiếp tục cháy trong khối nước, tôi không thể nói. Dù sao nó cũng soi đường cho chúng tôi, tuy mờ mờ, nhưng tôi chẳng mấy chốc quen với bóng tối độc đáo này, và trong hoàn cảnh ấy tôi hiểu sự vô dụng của thiết bị Ruhmkorff.
Song song với nhau, Thuyền trưởng Nemo và tôi đi thẳng về phía ngọn lửa nổi bật này. Đáy biển phẳng dần dần nhô lên. Chúng tôi bước dài, được các gậy núi trợ giúp; nhưng nói chung tiến độ của chúng tôi chậm, bởi chân chúng tôi cứ lún vào một thứ bùn nhớt trộn với tảo biển và đủ loại đá phẳng.
Khi chúng tôi tiến lên, tôi nghe một thứ tiếng lộp độp trên đầu mình. Đôi khi tiếng động này tăng lên và trở thành một tiếng lách tách liên tục. Tôi sớm nhận ra nguyên nhân. Đó là một cơn mưa nặng hạt đang rơi rào rào trên mặt sóng. Theo bản năng, tôi lo rằng mình có thể bị ướt! Bởi nước giữa lòng nước! Tôi không khỏi mỉm cười trước ý nghĩ kỳ quặc ấy. Nhưng nói thật, khi mặc những bộ đồ lặn nặng nề này, ông không còn cảm thấy yếu tố lỏng nữa, ông chỉ nghĩ mình đang ở giữa không khí hơi đặc hơn không khí trên đất liền, thế thôi.
Sau nửa giờ đi bộ, đáy biển trở nên lởm chởm đá. Sứa, giáp xác hiển vi và san hô bút biển chiếu sáng nó lờ mờ bằng những ánh lân quang của chúng. Tôi thoáng thấy các đống đá phủ bởi vài triệu động vật hình cây và những mớ tảo rối. Chân tôi thường trượt trên tấm thảm rong nhớt này, và không có cây gậy núi, tôi đã ngã không chỉ một lần. Khi quay lại, tôi vẫn có thể thấy ngọn đèn hiệu trắng nhạt của chiếc Nautilus, đang bắt đầu mờ đi trong khoảng xa.
Những đống đá vừa nhắc đến được sắp đặt trên nền đại dương với một sự đối xứng rõ rệt nhưng không thể giải thích. Tôi nhận ra những luống khổng lồ kéo dài vào bóng tối xa xăm, chiều dài của chúng không thể tính nổi. Còn có những đặc điểm khác mà tôi không thể hiểu. Tôi có cảm giác rằng đế chì nặng của mình đang nghiền nát một lớp xương vụn tạo ra tiếng lách cách khô khốc. Vậy những đồng bằng rộng lớn mà chúng tôi đang vượt qua là gì? Tôi muốn hỏi thuyền trưởng, nhưng tôi vẫn chưa nắm được thứ ngôn ngữ ra hiệu cho phép ông trò chuyện với các bạn đồng hành khi họ đi cùng ông trong các cuộc du ngoạn dưới nước.
Trong khi đó, ánh đỏ dẫn đường cho chúng tôi đã mở rộng và làm rực chân trời. Sự hiện diện của lò lửa này dưới nước khiến tôi hết sức bối rối. Phải chăng đó là một dạng phóng điện? Tôi đang đến gần một hiện tượng tự nhiên nào đó mà các nhà khoa học trên bờ vẫn chưa biết? Hay, đúng hơn (và ý nghĩ này đã lướt qua đầu tôi), bàn tay con người đã can thiệp vào đám cháy ấy? Có phải con người đã quạt những ngọn lửa kia? Trong các tầng sâu này liệu tôi có gặp thêm những bạn đồng hành của Thuyền trưởng Nemo, những người bạn mà ông sắp đến thăm, những người sống những cuộc đời kỳ lạ như chính ông? Liệu tôi có tìm thấy cả một thuộc địa của những kẻ lưu vong dưới này, những người mệt mỏi vì nỗi đau của thế giới, những người đã tìm và thấy độc lập trong các vực sâu dưới đại dương? Tất cả những ý nghĩ điên rồ, không thể chấp nhận ấy bám riết tôi, và trong trạng thái tinh thần này, không ngừng bị kích thích bởi chuỗi kỳ quan trôi qua trước mắt, tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu tìm thấy trên đáy biển này một trong những thành phố dưới nước mà Thuyền trưởng Nemo từng mơ đến!
Con đường của chúng tôi càng lúc càng sáng hơn. Ánh đỏ đã chuyển thành trắng và tỏa ra từ một đỉnh núi cao khoảng 800 foot. Nhưng điều tôi thấy chỉ là một phản chiếu do nước pha lê của các tầng này tạo ra. Lò lửa là nguồn của ánh sáng không thể giải thích này chiếm mặt bên kia của ngọn núi.
Giữa những mê cung đá rạch luống trên đáy Đại Tây Dương này, Thuyền trưởng Nemo tiến bước không chút do dự. Ông biết con đường tối tăm này. Hẳn ông đã đi qua nó nhiều lần và không thể lạc. Tôi theo ông với lòng tin không lay chuyển. Ông dường như là một Tinh Linh Biển Cả nào đó, và khi ông đi trước tôi, tôi kinh ngạc trước dáng cao của ông, nổi đen trên nền rực sáng của chân trời.
Lúc đó là một giờ sáng. Chúng tôi tới các triền thấp của ngọn núi. Nhưng để vật lộn với chúng, chúng tôi phải mạo hiểm đi lên những lối khó qua một bụi rậm khổng lồ.
Phải, một bụi rậm cây chết! Những cây không lá, không nhựa, bị hóa đá bởi tác động của nước, và đây đó đội những cây thông khổng lồ. Nó giống một mỏ than vẫn dựng đứng, rễ bám lấy đất nứt vỡ, cành cây in rõ trên trần nước như những hình cắt giấy mảnh, đen. Hãy hình dung một khu rừng bám vào sườn một đỉnh núi trong dãy Harz, nhưng là một khu rừng chìm dưới nước. Các lối mòn bị tảo và fucus chen lấp, các đàn giáp xác đông đảo bò lúc nhúc giữa chúng. Tôi lao lên, trèo qua đá, bước qua các thân cây đổ, bẻ gãy các dây leo biển đu đưa từ cây này sang cây khác, làm kinh động những con cá lượn từ cành này sang cành kia. Bị cuốn đi, tôi không còn thấy mệt. Tôi theo một người dẫn đường miễn nhiễm với mệt mỏi.
Thật là một cảnh tượng! Làm sao tôi mô tả nó! Làm sao tôi khắc họa được những rừng cây và đá tảng trong môi trường lỏng này, phần dưới của chúng tối tăm và u trầm, phần trên nhuộm đỏ trong thứ ánh sáng mà cường độ được nhân đôi bởi năng lực phản chiếu của nước! Chúng tôi trèo qua những tảng đá vỡ vụn phía sau mình, sụp xuống thành những mảng khổng lồ với tiếng ầm rỗng của một trận tuyết lở. Bên phải và bên trái chúng tôi có những hành lang u ám được chạm khắc, nơi con mắt lạc lối. Những khoảng rừng thưa lớn mở ra, dường như được bàn tay con người dọn sạch, và đôi khi tôi tự hỏi liệu vài cư dân của các miền dưới nước này có đột ngột hiện ra trước mặt tôi hay không.
Nhưng Thuyền trưởng Nemo cứ leo. Tôi không muốn tụt lại. Tôi mạnh dạn theo ông. Cây gậy núi giúp ích rất nhiều. Một bước trượt sẽ là thảm họa trên những lối hẹp khoét vào sườn các vực sâu này, nhưng tôi bước đi bằng bước chân vững chắc và không có cảm giác chóng mặt nhỏ nhất. Đôi khi tôi nhảy qua một khe nứt mà độ sâu hẳn sẽ khiến tôi lùi lại nếu ở giữa các sông băng trên bờ; đôi khi tôi mạo hiểm bước lên một thân cây chao đảo đổ ngang qua một hẻm sâu, không nhìn xuống, mắt chỉ để kinh ngạc trước cảnh sắc hoang dã của vùng này. Ở đó, tựa trên những móng bị cắt xẻ bất thường, các tảng đá đồ sộ dường như thách thức các quy luật thăng bằng. Từ giữa những đầu gối đá của chúng, cây cối phóng lên như những tia nước dưới sức ép đáng sợ, chống đỡ những cây khác lại chống đỡ chúng. Kế đó, các tháp tự nhiên với những lỗ châu mai rộng, khoét dốc, nghiêng ở những góc mà trên đất khô, các luật trọng lực không bao giờ cho phép.
Và tôi cũng có thể cảm thấy sự khác biệt do mật độ mạnh mẽ của nước tạo ra—bất chấp quần áo nặng, mũ đồng và đế kim loại, tôi leo lên những dốc gần như không thể tưởng tượng bằng tất cả sự lanh lẹ, tôi xin thề, của một con sơn dương hay dê núi Pyrenees!
Còn về tường thuật của tôi về chuyến du ngoạn dưới nước này, tôi biết rõ rằng nó nghe khó tin! Tôi là người ghi chép các sự việc tưởng chừng bất khả mà lại thực sự không thể chối cãi. Đây không phải ảo tưởng. Đây là điều tôi đã thấy và cảm!
Hai giờ sau khi rời chiếc Nautilus, chúng tôi đã vượt qua ranh giới cây cối, và 100 foot trên đầu chúng tôi là đỉnh núi, tạo thành một bóng đen trên ánh chói rực đến từ sườn xa của nó. Các bụi cây hóa đá lang thang đây đó theo những đường ngoằn ngoèo trườn rộng. Cá từ dưới chân chúng tôi cùng lúc vọt lên như chim bị kinh động trong cỏ cao. Khối đá bị khoét thành các khe nứt không thể xuyên qua, những hang sâu, những lỗ không đáy, ở tận cùng chúng tôi có thể nghe những thứ đáng sợ chuyển động. Máu tôi sẽ đông lại khi nhìn thấy một chiếc râu khổng lồ chắn đường, hoặc thấy một cái càng khủng khiếp khép phập lại trong bóng một hốc đá! Một nghìn đốm sáng lấp lánh giữa bóng tối. Đó là mắt của những giáp xác khổng lồ co mình trong hang ổ, tôm hùm khổng lồ vươn lên như lính cầm giáo và cử động càng với tiếng loảng xoảng như sắt vụn, cua khổng lồ chĩa thân mình như đại bác trên giá pháo, và những con bạch tuộc ghê tởm đan xen xúc tu như bụi rậm rắn quằn quại.
Thế giới kỳ lạ mà tôi chưa biết này là gì? Những động vật có đốt này thuộc bộ nào, những sinh vật mà đá cung cấp cho một chiếc mai thứ hai? Tự nhiên đã học bí mật về sự tồn tại thực vật hóa của chúng ở đâu, và chúng đã sống bao nhiêu thế kỷ trong các tầng thấp của đại dương?
Nhưng tôi không thể nán lại. Thuyền trưởng Nemo, quen thuộc với những con vật đáng sợ này, không còn bận tâm đến chúng. Chúng tôi tới một cao nguyên đầu tiên, nơi còn những bất ngờ khác chờ tôi. Ở đó những tàn tích đẹp như tranh hiện hình, phản bội bàn tay con người, không phải Đấng Tạo Hóa của chúng ta. Đó là những chồng đá khổng lồ trong đó có thể phân biệt các hình dạng mơ hồ của cung điện và đền thờ, nay được bày trí bằng những đạo quân động vật hình cây nở hoa, và phủ lên tất cả không phải thường xuân mà là một lớp áo nặng của tảo và fucus.

Nhưng đây có thể là phần nào của địa cầu, mảnh đất bị các thảm biến nuốt chửng này? Ai đã dựng lên những tảng đá và phiến đá này như các dolmen thời tiền sử? Tôi đang ở đâu, các ý thích của Thuyền trưởng Nemo đã đưa tôi tới đâu?
Tôi muốn hỏi ông. Không thể, tôi chặn ông lại. Tôi nắm lấy tay ông. Nhưng ông lắc đầu, chỉ lên đỉnh cao nhất của ngọn núi, và dường như nói với tôi:
“Đi nào! Đi cùng tôi! Lên cao nữa!”
Tôi theo ông bằng một đợt sức cuối cùng, và trong vài phút tôi đã leo lên đỉnh, nơi đội toàn bộ khối đá thêm chừng mười mét.
Tôi nhìn lại phía sườn chúng tôi vừa vượt qua. Ở đó ngọn núi chỉ cao 700 đến 800 foot trên các đồng bằng; nhưng ở sườn bên kia, nó đội lên trên đáy lùi dần của phần Đại Tây Dương này với chiều cao gấp đôi. Mắt tôi quét khắp khoảng xa và thu vào một vùng rộng lớn được soi bằng những ánh chớp dữ dội. Về thực chất, ngọn núi này là một núi lửa. Năm mươi foot dưới đỉnh nó, giữa một trận mưa đá và xỉ, một miệng núi lửa rộng phun ra những dòng thác dung nham phân tán thành các thác lửa vào trái tim khối nước. Ở vị trí như vậy, núi lửa này là một ngọn đuốc mênh mông soi sáng các đồng bằng thấp hơn đến tận chân trời.
Như tôi đã nói, miệng núi lửa dưới nước này phun dung nham, nhưng không phun lửa. Lửa cần oxy trong không khí và không thể lan dưới nước; nhưng một dòng dung nham, tự chứa trong mình nguyên lý nung sáng, có thể nóng tới trắng, áp đảo yếu tố lỏng và biến nó thành hơi nước khi tiếp xúc. Các dòng chảy nhanh cuốn đi toàn bộ thứ khí khuếch tán này, và những dòng thác dung nham trượt xuống chân núi, như những dòng trào của núi Vesuvius qua ranh giới của một Torre del Greco thứ hai.
Thật vậy, ở đó dưới mắt tôi là một thành phố hoang tàn, bị phá hủy, bị nhận chìm, bị san phẳng, mái nhà sập xuống, đền thờ bị kéo đổ, vòm cuốn rời khớp, cột vươn dài trên mặt đất; trong những tàn tích này người ta vẫn có thể nhận ra các tỷ lệ vững chắc của một kiểu kiến trúc Toscana; xa hơn, dấu tích của một cống dẫn nước khổng lồ; đây, các chiều cao đóng bánh của một acropolis cùng những hình dạng uyển chuyển của một Parthenon; kia, tàn dư của một cầu cảng, như thể một bến cũ từ lâu đã che chở tàu buôn và chiến thuyền ba tầng chèo trên bờ một đại dương đã mất; xa hơn nữa, những hàng tường dài đang sụp đổ, những đại lộ hoang vắng, cả một Pompeii chôn dưới nước, mà Thuyền trưởng Nemo đã làm sống lại trước mắt tôi!
Tôi đang ở đâu? Tôi đang ở đâu? Tôi phải biết bằng mọi giá, tôi muốn nói, tôi muốn giật phăng quả cầu đồng đang giam đầu mình.
Nhưng Thuyền trưởng Nemo bước lại và ngăn tôi bằng một cử chỉ. Rồi, nhặt một mảnh đá phấn, ông tiến đến một tảng đá bazan đen và viết nguệch một từ duy nhất:
ATLANTIS
Tia chớp nào đã lóe qua tâm trí tôi! Atlantis, miền đất cổ Meropis được sử gia Theopompus nhắc đến; Atlantis của Plato; lục địa mà chính sự tồn tại của nó đã bị các triết gia và nhà khoa học như Origen, Porphyry, Iamblichus, d’Anville, Malte-Brun và Humboldt phủ nhận, những người ghi sự biến mất của nó vào sổ sách thần thoại và truyện dân gian; đất nước mà sự thật của nó tuy vậy vẫn được những nhà tư tưởng khác như Posidonius, Pliny, Ammianus Marcellinus, Tertullian, Engel, Scherer, Tournefort, Buffon và d’Avezac chấp nhận; tôi có miền đất này ngay dưới mắt, tự nó cung cấp bằng chứng không thể bác bỏ về thảm họa đã ập xuống nó! Vậy đây là vùng chìm dưới nước từng tồn tại bên ngoài châu Âu, châu Á và Libya, vượt ngoài Cột Trụ Hercules, quê hương của dân Atlantean hùng mạnh mà Hy Lạp cổ đại từng tiến hành những cuộc chiến sớm nhất chống lại!
Người viết mà các tường thuật ghi lại các công trạng cao cả của những thời anh hùng ấy chính là Plato. Các đối thoại Timaeus và Critias của ông được soạn với nhà thơ và nhà lập pháp Solon như nguồn cảm hứng, có thể nói vậy.
Một ngày kia Solon trò chuyện với vài bậc hiền nhân già ở thủ đô Sais của Ai Cập, một thành phố đã 8.000 năm tuổi, như được ghi trong biên niên khắc trên các bức tường thiêng của đền thờ. Một trong các bô lão ấy kể lịch sử của một thành phố khác còn cổ hơn 1.000 năm. Thành Athens nguyên thủy này, chín mươi thế kỷ tuổi, đã bị dân Atlantean xâm lược và một phần phá hủy. Ông nói, những người Atlantean này cư trú trên một lục địa mênh mông lớn hơn châu Phi và châu Á cộng lại, gồm một vùng nằm giữa vĩ độ 12 độ và 40 độ bắc. Quyền thống trị của họ trải dài đến tận Ai Cập. Họ cố áp đặt sự cai trị của mình tới tận Hy Lạp, nhưng phải rút lui trước sức kháng cự bất khuất của người Hellenic. Nhiều thế kỷ trôi qua. Một thảm biến xảy ra—lũ lụt, động đất. Một đêm và một ngày đủ để xóa sạch Atlantis này, mà những đỉnh cao nhất của nó (Madeira, Azores, Canaries, quần đảo Cape Verde) vẫn trồi lên khỏi sóng.
Đó là những ký ức lịch sử mà dòng chữ của Thuyền trưởng Nemo đã khiến ào ạt tràn qua tâm trí tôi. Vậy, bị định mệnh kỳ lạ nhất dẫn dắt, tôi đang giẫm chân lên một trong những ngọn núi của lục địa ấy! Tay tôi đang chạm vào những tàn tích nhiều nghìn năm tuổi, đồng thời với thời tiền sử! Tôi đang đi ngay nơi những người cùng thời với nhân loại sơ khai từng đi! Đế nặng của tôi đang nghiền nát các bộ xương của những con vật thuộc thời đại huyền thoại, những con vật từng ẩn mình trong bóng những cây nay đã hóa đá này!
Ôi, vì sao tôi lại thiếu thời gian đến thế! Tôi hẳn đã đi xuống các sườn dốc đứng của ngọn núi này, băng qua toàn bộ lục địa mênh mông này, hẳn nối liền châu Phi với châu Mỹ, và thăm các thành phố tiền sử lớn của nó. Dưới mắt tôi có lẽ nằm thành phố hiếu chiến Makhimos hay làng ngoan đạo Eusebes, những cư dân khổng lồ của chúng sống hàng thế kỷ và có sức mạnh nâng các khối đá vẫn còn chống chọi được tác động của nước. Một ngày nào đó có lẽ một hiện tượng núi lửa nào đó sẽ đưa những tàn tích chìm này trở lại mặt sóng! Nhiều núi lửa dưới nước đã được phát hiện ở phần này của đại dương, và nhiều tàu đã cảm thấy những cơn chấn động khủng khiếp khi đi qua các vực sâu náo động này. Một số đã nghe những tiếng động rỗng báo hiệu cuộc tranh đấu của các yếu tố ở rất xa bên dưới, số khác kéo lên tro núi lửa bị ném lên trên sóng. Cho tới tận xích đạo, toàn bộ đáy biển này vẫn còn được các lực Pluto kiến tạo. Và trong một thời đại xa xôi nào đó, được các dòng phun núi lửa và những lớp dung nham kế tiếp xây đắp, ai biết liệu các đỉnh của những ngọn núi phun lửa này có thể lại xuất hiện trên bề mặt Đại Tây Dương hay không!
Khi tôi trầm ngâm như thế, cố khắc vào ký ức mọi chi tiết của phong cảnh ấn tượng này, Thuyền trưởng Nemo tựa khuỷu tay lên một tượng đài phủ rêu, bất động như thể hóa đá trong một cơn xuất thần câm lặng. Ông có đang mơ về những thế hệ đã mất ấy, hỏi họ bí mật của số phận con người không? Có phải chính nơi đây con người kỳ lạ ấy đến để hồi sinh mình, tắm mình trong những ký ức lịch sử, sống lại đời xưa ấy, ông là người không còn khao khát đời sống hiện đại của chúng ta? Tôi hẳn đã đánh đổi bất cứ điều gì để biết các ý nghĩ của ông, để chia sẻ chúng, hiểu chúng!
Chúng tôi ở lại nơi này trọn một giờ, chiêm ngưỡng các đồng bằng mênh mông của nó trong ánh dung nham, đôi lúc trở nên rực rỡ đến kinh ngạc. Những sôi sục bên trong gửi các cơn rùng mình nhanh chạy qua vỏ núi. Tiếng động từ sâu bên dưới, được môi trường lỏng truyền đi rõ ràng, vang dội với biên độ hùng vĩ.
Đúng lúc ấy mặt trăng hiện ra trong khoảnh khắc qua khối nước, rải vài tia nhạt lên lục địa chìm này. Đó chỉ là một ánh thoáng qua, nhưng hiệu ứng của nó không thể tả. Thuyền trưởng đứng dậy và nhìn lần cuối những đồng bằng mênh mông này; rồi tay ông ra hiệu cho tôi đi theo.
Chúng tôi nhanh chóng đi xuống núi. Khi đã qua khu rừng hóa đá, tôi có thể thấy đèn hiệu của chiếc Nautilus lấp lánh như một vì sao. Thuyền trưởng đi thẳng về phía nó, và chúng tôi trở lại trên tàu đúng lúc những ánh đầu tiên của bình minh đang làm trắng mặt đại dương.
### CHƯƠNG 10
Các mỏ than dưới nước
NGÀY HÔM SAU, 20 tháng 2, tôi ngủ quên. Quá kiệt sức vì đêm trước, tôi không dậy trước mười một giờ. Tôi mặc đồ nhanh chóng. Tôi vội đi tìm xem hướng của chiếc Nautilus. Các dụng cụ cho biết nó đang chạy về phía nam với tốc độ hai mươi dặm mỗi giờ và độ sâu 100 mét.
Conseil bước vào. Tôi mô tả cuộc du ngoạn ban đêm của chúng tôi cho anh, và vì các tấm che đang mở, anh vẫn có thể thoáng thấy lục địa chìm ấy.
Thật ra, chiếc Nautilus chỉ lướt cách nền các đồng bằng Atlantis ấy mười mét. Con tàu lao đi như một khinh khí cầu được gió đưa trên đồng cỏ đất liền; nhưng nói chính xác hơn thì chúng tôi ngồi trong phòng khách như thể đang đi trong một toa xe trên tàu tốc hành. Còn những cảnh gần lướt trước mắt chúng tôi là những tảng đá được chạm khắc kỳ ảo, những khu rừng cây đã vượt từ giới thực vật sang giới khoáng vật, bóng dáng bất động của chúng trườn dài dưới sóng. Cũng có những khối đá chôn dưới những tấm thảm axidia và hải quỳ, tua tủa các cây nước dài, thẳng đứng, rồi những khối dung nham có đường nét kỳ lạ làm chứng cho tất cả cơn thịnh nộ của các biến cố kiểu Pluto ấy.
Trong khi cảnh sắc kỳ dị này lấp lánh dưới các tia điện của chúng tôi, tôi kể cho Conseil câu chuyện về người Atlantean, những người đã truyền cảm hứng cho nhà khoa học Pháp già Jean Bailly viết biết bao trang lý thú—dẫu hoàn toàn hư cấu.\* Tôi kể cho chàng trai nghe về các cuộc chiến của dân tộc anh hùng ấy. Tôi bàn về vấn đề Atlantis với lòng nhiệt thành của một người không còn chút nghi ngờ nào. Nhưng Conseil quá phân tâm nên hầu như không nghe tôi, và sự thiếu hứng thú của anh đối với mọi lời bình luận về đề tài lịch sử này chẳng mấy chốc được giải thích.
\*Bailly tin rằng Atlantis nằm ở Bắc Cực! BTV.
Về thực chất, vô số cá đã thu hút mắt anh, và khi cá lướt qua, Conseil biến mất vào thế giới phân loại của mình và bỏ lại đời thực phía sau. Trong trường hợp ấy, tôi chỉ có thể đi cùng và tiếp tục công trình nghiên cứu ngư học của chúng tôi.
Dù vậy, các loài cá Đại Tây Dương này không khác biệt rõ rệt với những loài chúng tôi đã quan sát trước đó. Có những con cá đuối kích thước khổng lồ, dài năm mét và với cơ bắp mạnh đến mức có thể nhảy lên trên sóng, cá mập nhiều loài gồm một con cá mập lam mười lăm foot với răng tam giác sắc và trong suốt đến mức gần như vô hình giữa nước, cá mập đèn nâu, cá mập humantin hình lăng trụ được bọc giáp bằng lớp da lồi lõm, cá tầm giống họ hàng của chúng ở Địa Trung Hải, cá chìa vôi mũi kèn dài một foot rưỡi, nâu vàng với vây nhỏ màu xám và không răng không lưỡi, bung dài như những con rắn mảnh, mềm dẻo.
Trong số cá xương, Conseil nhận thấy vài con cá buồm đen dài ba mét với thanh kiếm nhọn nhô khỏi hàm trên, cá weevers màu sắc rực rỡ được biết thời Aristotle là rồng biển và gai lưng của chúng khiến việc nhặt chúng lên khá nguy hiểm, rồi cá nục heo lưng nâu sọc xanh và viền vàng, cá dorado đẹp đẽ, cá opah như mặt trăng trông giống các đĩa xanh da trời nhưng tia mặt trời biến thành những đốm bạc, cuối cùng là cá kiếm tám mét thuộc giống Xiphias, bơi thành đàn, mang vây hình lưỡi liềm vàng nhạt và những thanh đại kiếm dài sáu foot, những con vật cường tráng, ăn thực vật hơn là ăn cá, tuân theo những tín hiệu nhỏ nhất từ con cái như những ông chồng sợ vợ.
Nhưng trong khi quan sát các mẫu vật khác nhau của hệ động vật biển, tôi không ngừng xem xét những đồng bằng dài của Atlantis. Đôi khi một chỗ gồ ghề bất thường trên đáy biển buộc chiếc Nautilus chậm lại, và rồi nó lướt vào các kênh hẹp giữa đồi với sự khéo léo của một loài cá voi. Nếu mê cung trở nên rối không thể gỡ, tàu lặn sẽ nổi lên trên nó như khí cầu, và sau khi vượt chướng ngại, nó lại tiếp tục lộ trình nhanh chỉ cách đáy đại dương vài mét. Đó là một cách đi thú vị và ấn tượng, quả thật gợi lại các thao tác của một chuyến bay khí cầu, với khác biệt chủ yếu là chiếc Nautilus trung thành tuân lệnh bàn tay người lái.
Địa hình phần lớn gồm bùn đặc trộn với cành hóa đá, nhưng nó thay đổi từng chút gần bốn giờ chiều; nó trở nên nhiều đá hơn và dường như rải đầy đá cuội kết cùng một loại sỏi bazan gọi là “tuff,” kèm các mảnh dung nham và obsidian lưu huỳnh. Tôi đoán các đồng bằng dài này sẽ biến thành vùng núi, và thật vậy, khi chiếc Nautilus thực hiện vài cú rẽ, tôi nhận thấy chân trời phía nam bị một bức tường cao chắn ngang, dường như khép kín mọi lối ra. Đỉnh của nó rõ ràng nhô lên trên mực đại dương. Nó hẳn là một lục địa hoặc ít nhất là một hòn đảo, có thể là một trong quần đảo Canary hoặc một trong quần đảo Cape Verde. Các phương vị của chúng tôi chưa được đánh dấu trên hải đồ—có lẽ cố ý—và tôi không biết vị trí của mình. Dù sao, bức tường này dường như báo hiệu điểm cuối của Atlantis, mà xét cho cùng, chúng tôi mới chỉ băng qua một phần nhỏ.
Đêm xuống không cắt ngang các quan sát của tôi. Tôi bị bỏ lại một mình. Conseil đã trở về cabin của anh. Chiếc Nautilus chậm lại, lơ lửng trên những khối hỗn độn của đáy biển, đôi khi sượt qua chúng như muốn nằm nghỉ, đôi khi bất chợt trồi lên mặt sóng. Rồi tôi thoáng thấy vài chòm sao sáng qua làn nước pha lê, cụ thể là năm hay sáu trong số các sao hoàng đạo kéo từ phần đuôi của Orion.
Tôi hẳn đã ở lại bên cửa sổ lâu hơn, kinh ngạc trước những vẻ đẹp của biển và trời này, nhưng các tấm che đóng lại. Đúng lúc ấy chiếc Nautilus đã tới mặt dựng đứng của bức tường cao kia. Con tàu sẽ thao tác ra sao, tôi không đoán nổi. Tôi trở về phòng riêng. Chiếc Nautilus không động đậy. Tôi ngủ thiếp đi với ý định vững chắc là chỉ vài giờ nữa sẽ thức dậy.
Nhưng đã tám giờ sáng hôm sau khi tôi trở lại phòng khách. Tôi nhìn áp kế. Nó cho tôi biết chiếc Nautilus đang nổi trên mặt đại dương. Hơn nữa, tôi nghe tiếng bước chân trên sàn ngoài. Tuy vậy không có những chuyển động lắc để cho thấy có sóng dập dềnh phía trên tôi.
Tôi leo tới cửa sập. Nó mở. Nhưng thay vì ánh sáng ban ngày rộng lớn mà tôi mong đợi, tôi thấy mình bị bao quanh bởi bóng tối hoàn toàn. Chúng tôi đang ở đâu? Tôi đã nhầm sao? Vẫn còn là đêm à? Không! Không một ngôi sao nào lấp lánh, và ban đêm không bao giờ đen tuyệt đối đến thế.
Tôi không biết phải nghĩ gì, thì một giọng nói cất lên:
“Ông đấy à, giáo sư?”
“À, Thuyền trưởng Nemo!” tôi đáp. “Chúng ta đang ở đâu?”
“Dưới đất, giáo sư.”
“Dưới đất!” tôi kêu lên. “Và chiếc Nautilus vẫn nổi?”
“Nó luôn nổi.”
“Nhưng tôi không hiểu!”
“Chờ một chút. Đèn hiệu của chúng ta sắp bật, và nếu ông muốn có chút ánh sáng về vấn đề này, ông sẽ hài lòng.”
Tôi đặt chân lên sàn ngoài và chờ. Bóng tối sâu đến mức tôi thậm chí không thấy Thuyền trưởng Nemo. Tuy nhiên, nhìn lên thiên đỉnh ngay phía trên đầu, tôi tưởng mình bắt gặp một ánh le lói yếu ớt, một thứ hoàng hôn lọc qua một lỗ tròn. Đúng lúc ấy đèn hiệu đột ngột bật lên, và ánh sáng mãnh liệt của nó làm ánh mờ kia biến mất.
Dòng điện quang này làm mắt tôi lóa, và sau khi nhắm lại trong chốc lát, tôi nhìn quanh. Chiếc Nautilus đứng yên. Nó nổi bên cạnh một bờ kè hình như cầu cảng. Còn vùng nước đang nâng con tàu, đó là một hồ nước hoàn toàn được bao quanh bởi một vách trong đường kính khoảng hai dặm, tức chu vi sáu dặm. Mực của nó—as indicated by the pressure gauge—hẳn bằng với mực bên ngoài, bởi phải có một mối liên hệ nào đó giữa hồ này và biển. Nghiêng vào trong trên nền của mình, các vách cao này hội tụ để tạo thành một vòm như cái phễu khổng lồ úp ngược, cao 500 hoặc 600 mét. Ở đỉnh nó há ra một lỗ tròn qua đó tôi đã nhận ra ánh le lói yếu ớt kia, hiển nhiên là ánh sáng ban ngày.
Trước khi xem xét cẩn thận hơn các đặc điểm bên trong của hang động khổng lồ này, và trước khi quyết định nó là tác phẩm của tự nhiên hay của con người, tôi đi tới chỗ Thuyền trưởng Nemo.
“Chúng ta đang ở đâu?” tôi nói.
“Ngay trong lòng một núi lửa đã tắt,” thuyền trưởng đáp tôi, “một núi lửa mà bên trong đã bị biển xâm chiếm sau một cơn chấn động nào đó của trái đất. Trong khi ông ngủ, giáo sư, chiếc Nautilus đã tiến vào phá nước này qua một kênh tự nhiên mở ra mười mét dưới mặt đại dương. Đây là cảng nhà của chúng tôi, an toàn, thuận tiện, bí mật, và được che chở khỏi gió từ mọi hướng! Dọc bờ các lục địa hay đảo của các ông, hãy chỉ cho tôi một bến neo ngoài khơi nào có thể sánh với nơi trú ẩn an toàn này để chống lại cơn thịnh nộ của bão tố.”
“Quả thật,” tôi đáp, “ở đây ông hoàn toàn an toàn, Thuyền trưởng Nemo. Ai có thể tới ông trong lòng một núi lửa? Nhưng chẳng phải tôi thấy một lỗ mở ở đỉnh nó sao?”
“Phải, miệng núi lửa của nó, một miệng trước kia đầy dung nham, hơi nước và lửa, nhưng nay cho vào thứ không khí ban sự sống mà chúng ta đang thở.”
“Nhưng núi lửa này là núi nào?” tôi hỏi.
“Nó là một trong vô số đảo nhỏ mà biển này rải rác. Đối với tàu bè chỉ là một rạn đá, đối với chúng tôi là một hang động mênh mông. Tôi tình cờ phát hiện ra nó, và tình cờ đã phục vụ tôi rất tốt.”
“Nhưng chẳng lẽ không ai có thể đi vào qua miệng núi lửa của nó sao?”
“Không thể hơn việc tôi có thể đi ra qua đó. Ông có thể leo lên chừng 100 foot ở phần nền bên trong của ngọn núi này, nhưng rồi các vách nhô ra, chúng nghiêng vào quá nhiều để có thể trèo.”
“Tôi thấy, thuyền trưởng, rằng tự nhiên là đầy tớ ngoan ngoãn của ông, bất cứ lúc nào hay bất cứ nơi đâu. Ông an toàn trên hồ này, và không ai khác có thể thăm vùng nước của nó. Nhưng nơi trú ẩn này dùng để làm gì? Chiếc Nautilus không cần cảng.”
“Không, giáo sư, nhưng nó cần điện để chạy, pin để tạo điện, natri để nuôi pin, than để làm natri, và các mỏ than để đào than. Bấy giờ, ngay tại điểm này, biển phủ lên toàn bộ các khu rừng đã chìm dưới nước trong thời tiền sử; ngày nay, đã hóa đá, biến thành nhiên liệu carbon, chúng dâng cho tôi những mỏ than không bao giờ cạn.”
“Vậy, thuyền trưởng, người của ông hành nghề thợ mỏ ở đây?”
“Chính xác. Những mỏ này trải dài dưới sóng như các mỏ than ở Newcastle. Ở đây, mặc đồ lặn, cuốc chim và cuốc trong tay, người của tôi ra ngoài đào thứ nhiên liệu carbon này, nhờ đó tôi không cần một mỏ nào trên đất liền. Khi tôi đốt chất cháy này để sản xuất natri, khói thoát ra từ miệng núi tạo cho nó vẻ ngoài của một núi lửa vẫn hoạt động.”
“Và chúng tôi sẽ thấy các bạn đồng hành của ông làm việc chứ?”
“Không, ít nhất không phải lần này, bởi tôi nóng lòng tiếp tục chuyến du hành vòng quanh thế giới dưới nước của chúng ta. Vì vậy tôi sẽ bằng lòng rút từ kho natri dự trữ của mình. Chúng ta sẽ ở đây đủ lâu để chất nó lên tàu, nói cách khác, một ngày làm việc duy nhất, rồi chúng ta sẽ tiếp tục chuyến đi. Vì vậy, Giáo sư Aronnax, nếu ông muốn thăm dò hang động này và đi vòng quanh phá nước của nó, hãy nắm lấy ngày hôm nay.”
Tôi cảm ơn thuyền trưởng và đi tìm hai bạn đồng hành, những người vẫn chưa rời cabin. Tôi mời họ đi theo, không nói cho họ biết chúng tôi đang ở đâu.
Họ trèo lên sàn ngoài. Conseil, người không gì làm kinh động nổi, xem chuyện ngủ thiếp dưới sóng rồi thức dậy dưới một ngọn núi là điều hoàn toàn tự nhiên. Nhưng Ned Land không có ý nghĩ nào trong đầu ngoài việc xem hang động này có lối ra nào không.
Sau bữa điểm tâm gần mười giờ, chúng tôi đi xuống bờ kè.
“Vậy là chúng ta đã trở lại trên bờ,” Conseil nói.
“Tôi khó mà gọi đây là bờ,” người Canada đáp. “Vả lại, chúng ta không ở trên nó mà ở dưới nó.”
Một bãi cát trải ra trước chúng tôi, chỗ rộng nhất đo được 500 foot giữa nước hồ và chân vách núi. Qua dải bãi này có thể dễ dàng đi vòng quanh hồ. Nhưng nền của những vách cao này gồm đất vỡ, bên trên là những đống đá núi lửa và đá bọt khổng lồ xếp thành cảnh đẹp như tranh. Tất cả những khối đổ nát này được phủ một lớp men bóng loáng do tác động của lửa ngầm, và chúng lấp lánh dưới dòng ánh điện từ đèn hiệu của chúng tôi. Bị bước chân chúng tôi khuấy lên, bụi giàu mica trên bãi này bay vào không khí như một đám mây tia lửa.
Mặt đất nhô lên rõ rệt khi rời xa các bãi cát cạnh sóng, và chúng tôi chẳng mấy chốc tới những sườn dài, uốn lượn, những lối dốc thật sự cho phép chúng tôi leo dần dần; nhưng chúng tôi phải bước cẩn thận giữa các đá cuội kết không được xi măng gắn lại, và chân chúng tôi cứ trượt trên trachyte thủy tinh, làm từ tinh thể feldspar và thạch anh.
Bản chất núi lửa của cái hố khổng lồ này hiện rõ quanh chúng tôi. Tôi mạo muội nhận xét điều đó với các bạn đồng hành.
“Các ông có thể hình dung,” tôi hỏi họ, “cái phễu này hẳn đã ra sao khi nó đầy dung nham sôi, và mực của thứ chất lỏng nóng rực ấy dâng lên tận miệng núi, như gang dâng bên trong lò luyện?”
“Tôi hình dung được hoàn hảo,” Conseil đáp. “Nhưng liệu ngài có nói cho tôi biết vì sao lò luyện khổng lồ này ngừng hoạt động, và vì sao một lò nung lại được thay bằng nước yên tĩnh của một cái hồ?”
“Rất có thể, Conseil, bởi một chấn động nào đó đã tạo ra một lỗ mở dưới mặt đại dương, lỗ mở dùng làm lối đi cho chiếc Nautilus. Rồi nước Đại Tây Dương tràn vào trong ngọn núi. Sau đó diễn ra một cuộc chiến khủng khiếp giữa hai yếu tố lửa và nước, một cuộc chiến kết thúc bằng thắng lợi của Vua Neptune. Nhưng nhiều thế kỷ đã trôi qua từ đó, và núi lửa chìm này đã biến thành một hang động yên bình.”
“Thế cũng được,” Ned Land đáp. “Tôi chấp nhận lời giải thích, nhưng vì lợi ích cá nhân của chúng ta, tôi tiếc là cái lỗ mở mà giáo sư nhắc đến không được tạo ra phía trên mực biển.”
“Nhưng Ned bạn tôi,” Conseil đáp, “nếu nó không phải một lối đi dưới nước, chiếc Nautilus đã không thể vào được!”
“Và tôi xin nói thêm, ông Land,” tôi nói, “rằng nước đã không tràn vào dưới ngọn núi, và núi lửa vẫn sẽ là núi lửa. Vậy ông chẳng có gì phải tiếc cả.”
Cuộc leo trèo của chúng tôi tiếp tục. Các sườn dốc trở nên dựng hơn và hẹp hơn. Đôi khi chúng bị cắt ngang bởi những hố sâu cần phải vượt qua. Những khối đá nhô ra lơ lửng phải được vòng tránh. Người ta trượt bằng đầu gối, bò bằng bụng. Nhưng nhờ sức mạnh của người Canada và sự khéo léo của Conseil, chúng tôi vượt qua mọi chướng ngại.
Ở độ cao khoảng ba mươi mét, bản chất địa hình thay đổi mà không trở nên dễ đi hơn. Đá cuội kết và trachyte nhường chỗ cho đá bazan đen: chỗ thì nằm thành phiến, phồng đầy những bọt rỗng; chỗ thì có hình như những lăng trụ thật sự, xếp thành một dãy cột chống đỡ các chân vòm của mái vòm mênh mông này, một mẫu kiến trúc tự nhiên tuyệt diệu. Rồi giữa thứ đá bazan này, những dòng dung nham dài đã đông cứng uốn lượn, khảm các mạch than bitum và nhiều chỗ được phủ bằng những tấm thảm lưu huỳnh rộng. Ánh mặt trời lọt qua miệng núi đã mạnh hơn, rải một ánh sáng mờ lên toàn bộ đống phế tích núi lửa mãi mãi bị chôn trong lòng ngọn núi đã tắt này.
Nhưng khi chúng tôi đã lên tới độ cao khoảng 250 foot, những chướng ngại không thể vượt qua đã chặn chúng tôi lại. Các vách trong hội tụ biến thành những phần nhô trùm, và cuộc leo trèo của chúng tôi thành một cuộc dạo vòng tròn. Ở tầng cao nhất này, giới thực vật bắt đầu thách thức giới khoáng vật. Cây bụi, và thậm chí vài cây thân gỗ, trồi ra từ các khe nứt trên vách. Tôi nhận ra vài loài spurges để thứ nhựa ăn da, tẩy xổ của chúng nhỏ xuống. Có những cây heliotrope, rất thiếu sót trong việc sống đúng với tiếng tăm thờ mặt trời của mình, vì chẳng tia nắng nào từng chạm đến chúng; các chùm hoa của chúng buồn bã rủ xuống, màu sắc và hương thơm đều phai nhạt. Đây đó, cúc chrysanthemum nhút nhát mọc lên dưới chân các cây lô hội có lá dài, buồn bã, ốm yếu. Nhưng giữa các dòng dung nham này, tôi nhận ra những bông violet nhỏ vẫn còn tỏa một hương thơm tinh tế, và tôi thú nhận rằng mình đã hít lấy nó với niềm thích thú. Linh hồn của một bông hoa là hương thơm của nó, còn những cây nước lộng lẫy kia, những bông hoa của biển, thì không có linh hồn!
Chúng tôi đã tới chân một cụm cây huyết long vững chắc, đang tách đá ra bằng những nỗ lực của bộ rễ lực lưỡng, thì Ned Land kêu lên:
“Ôi, thưa ngài, một tổ ong!”
“Một tổ ong?” tôi đáp, với một cử chỉ hoàn toàn không tin.
“Phải, một tổ ong,” người Canada lặp lại, “có ong vo ve quanh đó!”
Tôi lại gần và buộc phải thừa nhận điều hiển nhiên. Ở miệng một lỗ khoét trong thân một cây huyết long, hàng nghìn con côn trùng khéo léo này đang chen chúc, loài rất phổ biến trên khắp quần đảo Canary, nơi sản phẩm của chúng được đặc biệt quý trọng.
Dĩ nhiên, người Canada muốn tích trữ một ít mật ong, và tôi sẽ là kẻ kém lịch sự nếu nói không. Ông trộn lưu huỳnh với vài chiếc lá khô, đốt chúng bằng một tia lửa từ hộp đánh lửa, rồi bắt đầu hun ong ra. Từng chút một, tiếng vo ve lắng xuống và tổ ong bị moi ruột cho ra vài pound mật ngọt. Ned Land nhét nó vào túi đeo vai.
“Khi tôi trộn mật này với bột bánh mì của chúng ta từ quả bánh mì,” ông nói với chúng tôi, “tôi sẽ sẵn sàng phục vụ các ngài một miếng bánh ngon tuyệt.”
“Tất nhiên rồi,” Conseil chen vào, “nó sẽ là bánh gừng!”
“Tôi hoàn toàn ủng hộ bánh gừng,” tôi nói, “nhưng hãy tiếp tục cuộc dạo hấp dẫn này.”
Ở một vài khúc quanh trên con đường chúng tôi đang đi, hồ hiện ra trong toàn bộ tầm rộng của nó. Đèn hiệu của con tàu chiếu sáng khắp mặt nước phẳng lặng ấy, nơi không có gợn sóng cũng không có nhấp nhô. Chiếc Nautilus nằm im tuyệt đối. Trên sàn ngoài và trên bờ kè, thủy thủ đoàn đang tất bật, những bóng đen nổi rõ giữa bầu không khí sáng rực.
Đúng lúc ấy, chúng tôi đi vòng quanh gờ cao nhất của các chân núi đá này, nơi chống đỡ mái vòm. Rồi tôi thấy ong không phải đại diện duy nhất của giới động vật bên trong núi lửa này. Ở đây, trong bóng tối, chim săn mồi bay vút và lượn vòng, rời khỏi những tổ đặt trên các chóp đá. Có diều hâu bụng trắng và những con cắt kestrel rít lên. Với tất cả tốc độ mà đôi chân cà kheo của chúng có thể phát huy, những con ô tác mập mạp xinh đẹp chạy lúp xúp trên các sườn dốc. Tôi để độc giả tự quyết định liệu sự ngon miệng của người Canada có bị kích thích trước cảnh loài thú săn hấp dẫn này hay không, và liệu ông có tiếc vì trong tay không có súng trường hay không. Ông cố làm đá thay đạn, và sau vài lần thử vô ích, cuối cùng ông cũng làm bị thương một trong những con ô tác tuyệt đẹp này. Nói rằng ông đã liều mạng hai mươi lần để bắt con chim ấy thì đó chỉ là sự thật nguyên vẹn; nhưng ông thành công đến mức con vật vào túi ông cùng với các bánh mật.
Bấy giờ chúng tôi buộc phải trở xuống bãi vì gờ đá đã trở nên không thể đi tiếp. Phía trên chúng tôi, miệng núi há rộng trông như miệng giếng lớn. Từ chỗ chúng tôi đứng, có thể nhìn thấy bầu trời khá dễ, và tôi thấy những đám mây chạy vội, bị gió tây làm rối tung, để những mảnh sương kéo lê trên đỉnh núi. Bằng chứng hiển nhiên rằng các đám mây ấy ở độ cao vừa phải, bởi núi lửa này không nhô lên quá 1.800 foot so với mực đại dương.
Nửa giờ sau chiến công mới nhất của người Canada, chúng tôi trở lại bãi trong. Ở đó, hệ thực vật địa phương được đại diện bằng một tấm thảm rộng của samphire, một loài cây nhỏ thuộc họ hoa tán, giữ được khá tốt, còn mang các tên glasswort, saxifrage và sea fennel. Conseil hái vài bó. Còn hệ động vật địa phương gồm hàng nghìn giáp xác đủ loại: tôm hùm, cua ẩn sĩ, tôm, tôm mysid, nhện biển, cua đá, và một số lượng vỏ sò khổng lồ, như cowrie, ốc murex và limpet.
Ở nơi này há ra miệng một hang động tráng lệ. Các bạn đồng hành của tôi và tôi rất thích thú khi nằm dài trên lớp cát mịn của nó. Lửa đã đánh bóng lớp men lấp lánh trên các vách trong, rắc khắp bằng bụi giàu mica. Ned Land gõ vào các vách ấy và cố thăm dò độ dày của chúng. Tôi không nhịn được cười. Cuộc trò chuyện của chúng tôi rồi chuyển sang các kế hoạch trốn thoát muôn thuở của ông, và không đi quá xa, tôi cảm thấy mình có thể trao cho ông hy vọng này: Thuyền trưởng Nemo chỉ đi xuống phía nam để bổ sung nguồn natri của mình. Vì vậy tôi hy vọng giờ đây ông sẽ men theo các bờ biển châu Âu và châu Mỹ, điều sẽ cho phép người Canada thử lại với cơ hội thành công lớn hơn.
Chúng tôi nằm dài trong hang động dễ chịu này suốt một giờ. Cuộc trò chuyện của chúng tôi, ban đầu sôi nổi, rồi lắng xuống. Một cơn buồn ngủ rõ rệt chiếm lấy chúng tôi. Vì không thấy lý do chính đáng nào để chống lại lời gọi của giấc ngủ, tôi rơi vào một cơn chợp mắt nặng nề. Tôi mơ—người ta không chọn giấc mơ của mình—rằng đời tôi đã bị rút xuống sự tồn tại thực vật của một loài thân mềm đơn giản. Tôi có cảm giác hang động này tạo thành chiếc vỏ hai mảnh của mình...
Đột nhiên giọng Conseil làm tôi giật mình tỉnh dậy.
“Dậy đi! Dậy đi!” chàng trai tốt bụng hét lên.
“Có chuyện gì?” tôi hỏi, ở tư thế ngồi dậy.
“Nước đang dâng đến chỗ chúng ta!”
Tôi bật đứng lên. Như một dòng thác, biển đang lao vào nơi trú của chúng tôi, và vì chắc chắn chúng tôi không phải thân mềm, chúng tôi phải thoát ra.
Trong vài giây, chúng tôi đã an toàn trên nóc hang.
“Chuyện gì xảy ra vậy?” Conseil hỏi. “Một hiện tượng mới sao?”
“Không hẳn, các bạn của tôi!” tôi đáp. “Đó là thủy triều, chỉ là thủy triều, thứ suýt nữa đã bắt chúng ta bất ngờ như từng bắt nhân vật của Sir Walter Scott! Đại dương bên ngoài đang dâng lên, và theo một quy luật cân bằng hoàn toàn tự nhiên, mực nước của hồ này cũng dâng lên. Chúng ta thoát chỉ với một cú nhúng nhẹ. Hãy về thay đồ trên chiếc Nautilus.”
Ba phần tư giờ sau, chúng tôi hoàn tất chuyến dạo vòng tròn và trở lại tàu. Đúng lúc ấy thủy thủ đoàn chất xong nguồn natri, và chiếc Nautilus có thể khởi hành ngay lập tức.
Nhưng Thuyền trưởng Nemo không ra lệnh. Ông có chờ đêm xuống và rời đi qua lối ngầm dưới nước của mình trong bí mật không? Có lẽ.
Dù sao, đến ngày hôm sau chiếc Nautilus đã rời cảng nhà của nó và đang đi khá xa mọi bờ biển, vài mét dưới các con sóng Đại Tây Dương.
### CHƯƠNG 11
Biển Sargasso
CHIẾC NAUTILUS không đổi hướng. Như vậy, trong lúc này, chúng tôi phải gác lại mọi hy vọng trở về các biển châu Âu. Thuyền trưởng Nemo vẫn giữ mũi tàu hướng về phía nam. Ông đưa chúng tôi đi đâu? Tôi sợ phải đoán.
Hôm ấy chiếc Nautilus vượt qua một phần kỳ lạ của Đại Tây Dương. Không ai là không biết sự tồn tại của dòng nước ấm lớn mang tên Gulf Stream. Sau khi thoát ra khỏi các kênh ngoài Florida, nó hướng về Spitzbergen. Nhưng trước khi vào vịnh Mexico gần vĩ độ 44 độ bắc, dòng chảy này tách thành hai nhánh; nhánh chính của nó hướng về bờ Ireland và Na Uy trong khi nhánh thứ hai uốn xuống phía nam ở ngang tầm Azores; rồi nó đập vào bờ châu Phi, quét thành một hình bầu dục dài, và trở lại biển Caribbean.
Bấy giờ, nhánh thứ hai này—nói chính xác hơn, một chiếc vòng cổ—tạo thành một vành nước ấm quanh một vùng đại dương mát, yên tĩnh, bất động gọi là Biển Sargasso. Đây là một cái hồ thật sự trong lòng Đại Tây Dương rộng mở, và nước của dòng chảy lớn ấy mất ít nhất ba năm để đi vòng quanh nó.
Nói cho đúng, Biển Sargasso phủ lên mọi phần chìm của Atlantis. Một số tác giả thậm chí cho rằng những đám rong dày đặc rải khắp biển này bị giật ra từ các đồng cỏ của lục địa cổ ấy. Nhưng nhiều khả năng hơn là các loài cỏ biển, tảo và fucus này bị cuốn khỏi các bãi biển châu Âu và châu Mỹ, rồi được Gulf Stream đưa tới tận vùng này. Đây là một trong các lý do khiến Christopher Columbus giả định sự tồn tại của một Tân Thế Giới. Khi các con tàu của nhà thám hiểm táo bạo ấy đến Biển Sargasso, chúng gặp khó khăn lớn trong việc đi qua giữa các đám rong này, thứ làm tàu của họ, trước sự hốt hoảng của thủy thủ đoàn, chậm dần đến mức dừng lại; và họ mất ba tuần dài để vượt qua khu vực này.
Đó là vùng mà chiếc Nautilus của chúng tôi đang thăm lúc bấy giờ: một đồng cỏ thật sự, một tấm thảm tảo, gulfweed và bladder wrack đan chặt đến mức mũi tàu khó lòng xé qua mà không vất vả. Vì vậy, không muốn để chân vịt vướng vào khối rong nghẹt này, Thuyền trưởng Nemo giữ tàu ở độ sâu vài mét dưới mặt sóng.
Tên Sargasso bắt nguồn từ từ Tây Ban Nha “sargazo,” nghĩa là gulfweed. Loài gulfweed này, gulfweed bơi hay cây mang quả mọng, là chất liệu chính tạo nên bãi cạn mênh mông này. Và đây là lý do vì sao các loài thực vật nước ấy tập trung trong lòng chảo Đại Tây Dương lặng lẽ này, theo chuyên gia của đề tài, Chỉ huy Maury, tác giả cuốn Địa lý vật lý của biển.
Lời giải thích ông đưa ra dường như bao hàm một loạt điều kiện mà ai cũng biết: “Bây giờ,” Maury nói, “nếu những mẩu nút bần hay rơm vụn, hoặc bất cứ vật nổi nào, được đặt vào một cái chậu, và nước trong đó được tạo một chuyển động tròn, tất cả những vật nhẹ sẽ được thấy tụ lại gần trung tâm của vũng nước, nơi có chuyển động nhỏ nhất. Đại Tây Dương đối với Gulf Stream chính là một cái chậu như thế, và Biển Sargasso là trung tâm của xoáy ấy.”
Tôi chia sẻ quan điểm của Maury, và tôi đã có thể nghiên cứu hiện tượng ấy trong bối cảnh riêng biệt này, nơi tàu bè hiếm khi đến. Phía trên chúng tôi, chen chúc giữa các đám rong nâu, trôi nổi những vật thể xuất xứ từ khắp nơi: thân cây bị xé khỏi dãy Rocky hoặc Andes rồi trôi theo sông Amazon hay Mississippi, vô số mảnh xác tàu, tàn dư của sống tàu hay đáy tàu, mạn chắn bị phá vỡ và nặng trĩu vỏ sò cùng hàu hà đến mức không thể nổi lên mặt đại dương. Và thời gian trôi qua một ngày kia sẽ chứng thực quan điểm khác của Maury rằng khi tụ lại như thế qua nhiều thế kỷ, các chất này sẽ bị tác động của nước biến thành đá rồi hình thành những mỏ than không bao giờ cạn. Những trữ lượng quý giá được tự nhiên nhìn xa chuẩn bị cho thời kỳ con người đã khai thác cạn kiệt các mỏ trên lục địa.
Giữa thứ vải đan rối tuyệt vọng của rong và fucus này, tôi ghi nhận vài loài san hô alcyon hình sao màu hồng xinh đẹp, hải quỳ kéo lê những mái tóc dài xúc tu, vài con sứa xanh, đỏ và lam, đặc biệt là những con sứa rhizostome lớn mà Cuvier mô tả, dù xanh nhạt của chúng được viền bằng các dải tua tím.
Chúng tôi dành trọn ngày 22 tháng 2 trong Biển Sargasso, nơi những loài cá mê thực vật biển và giáp xác tìm được dồi dào thức ăn. Ngày hôm sau, đại dương trở lại dáng vẻ thường lệ.
Từ khoảnh khắc này trở đi, trong mười chín ngày từ 23 tháng 2 đến 12 tháng 3, chiếc Nautilus ở giữa Đại Tây Dương, cuốn chúng tôi đi với tốc độ đều đặn 100 dặm biển mỗi hai mươi bốn giờ. Rõ ràng Thuyền trưởng Nemo muốn thực hiện chương trình dưới nước của mình, và tôi không nghi ngờ rằng sau khi vòng qua mũi Horn, ông định trở lại các biển Nam Thái Bình Dương.
Vì vậy Ned Land có lý do chính đáng để lo lắng. Trong những biển rộng không đảo này, việc bỏ tàu không còn khả thi. Chúng tôi cũng không có cách nào chống lại các ý muốn thất thường của Thuyền trưởng Nemo. Chúng tôi không còn lựa chọn nào ngoài việc thuận theo; nhưng nếu không thể đạt mục đích bằng vũ lực hay mưu mẹo, tôi thích nghĩ rằng có lẽ chúng tôi có thể đạt được bằng thuyết phục. Một khi chuyến đi này kết thúc, chẳng lẽ Thuyền trưởng Nemo không thể đồng ý trả tự do cho chúng tôi để đổi lấy lời hứa không bao giờ tiết lộ sự tồn tại của ông? Lời danh dự của chúng tôi, lời mà chúng tôi sẽ chân thành giữ. Tuy nhiên, vấn đề tế nhị này sẽ phải được thương lượng với thuyền trưởng. Nhưng ông sẽ tiếp nhận yêu cầu tự do của chúng tôi ra sao? Ngay từ đầu và bằng lời lẽ rất rõ ràng, chẳng phải ông đã tuyên bố rằng bí mật đời ông đòi hỏi chúng tôi phải bị giam vĩnh viễn trên chiếc Nautilus sao? Liệu ông có xem bốn tháng im lặng của tôi là sự chấp nhận ngầm tình trạng này không? Việc tôi quay lại đề tài này có khơi dậy những nghi ngờ có thể làm nguy hại các kế hoạch trốn thoát của chúng tôi, nếu sau này có hoàn cảnh hứa hẹn để thử lại không? Tôi cân nhắc mọi điều này, lật đi lật lại chúng trong đầu, trình bày với Conseil, nhưng anh cũng bối rối như tôi. Tóm lại, dù tôi không dễ nản chí, tôi nhận ra rằng cơ hội để tôi còn được thấy lại đồng loại đang teo nhỏ từng ngày, nhất là vào thời điểm Thuyền trưởng Nemo đang liều lĩnh lao về nam Đại Tây Dương!
Trong mười chín ngày vừa nhắc, không biến cố độc đáo nào đánh dấu chuyến đi của chúng tôi. Tôi ít thấy thuyền trưởng. Ông làm việc. Trong thư viện, tôi thường tìm thấy những cuốn sách ông để mở, đặc biệt là sách về tự nhiên học. Ông đã lật qua công trình của tôi về các vực sâu đại dương, và lề sách đầy những ghi chú của ông, đôi khi phản bác các lý thuyết và cách diễn đạt của tôi. Nhưng thuyền trưởng chỉ bằng lòng với cách tinh chỉnh công trình của tôi như thế, và hiếm khi bàn luận về nó với tôi. Đôi khi tôi nghe những âm thanh u sầu vang vọng từ đàn organ, thứ ông chơi rất biểu cảm, nhưng chỉ vào ban đêm giữa bóng tối kín đáo nhất, trong khi chiếc Nautilus ngủ giữa hoang mạc đại dương.
Trong phần này của chuyến đi, chúng tôi đi trên mặt sóng suốt nhiều ngày liền. Biển gần như hoang vắng. Vài tàu buồm, chất hàng đi Đông Ấn, đang hướng tới mũi Hảo Vọng. Một ngày kia chúng tôi bị các xuồng dài của một tàu săn cá voi đuổi theo, chắc chắn họ xem chúng tôi là một con cá voi tấm sừng khổng lồ có giá trị lớn. Nhưng Thuyền trưởng Nemo không muốn những quý ông can đảm ấy phí thời gian và sức lực, nên ông kết thúc cuộc săn bằng cách lặn xuống dưới nước. Sự việc này dường như đặc biệt cuốn hút Ned Land. Tôi chắc rằng người Canada tiếc vì những ngư dân kia không thể phóng lao vào con cá voi bằng tôn sắt của chúng tôi và làm nó tử thương.
Trong thời kỳ này, những loài cá Conseil và tôi quan sát được chỉ khác chút ít so với những loài chúng tôi đã nghiên cứu ở các vĩ độ khác. Đứng đầu trong số đó là các mẫu vật thuộc giống cá sụn đáng sợ được chia thành ba phân giống, có ít nhất ba mươi hai loài: cá mập sọc dài năm mét, đầu bẹt và rộng hơn thân, vây đuôi cong, lưng có bảy đường lớn, đen, song song chạy dọc; rồi cá mập perlon, xám tro, bị khoan bởi bảy khe mang, có một vây lưng duy nhất đặt gần như đúng giữa thân.
Một số cá nhám lớn cũng đi qua, một loài cá mập háu ăn nếu từng có. Công bằng mà nói, chuyện kể của ngư dân không đáng tin, nhưng đây là điều vài người trong số họ thuật lại. Trong xác một trong những con vật này người ta tìm thấy một cái đầu trâu và cả một con bê; trong một con khác, hai con cá ngừ và một thủy thủ mặc đồng phục; trong một con khác nữa, một binh sĩ với thanh gươm của anh ta; trong con khác, cuối cùng, một con ngựa cùng người cưỡi. Thành thật mà nói, không chuyện nào trong số này nghe như chân lý được thần linh truyền cảm hứng. Nhưng sự thật vẫn là không một con cá nhám nào để mình bị mắc vào lưới của chiếc Nautilus, nên tôi không thể bảo chứng cho sự háu ăn của chúng.
Các đàn cá heo duyên dáng, tinh nghịch bơi cạnh chúng tôi suốt nhiều ngày. Chúng đi thành nhóm năm hoặc sáu con, săn theo bầy như sói trên đồng quê; hơn nữa, chúng cũng háu ăn chẳng kém cá nhám, nếu tôi tin một giáo sư Copenhagen nào đó, người nói rằng từ dạ dày của một con cá heo, ông lấy ra mười ba cá heo chuột và mười lăm hải cẩu. Đúng là đó là một con cá voi sát thủ, thuộc loài lớn nhất được biết, chiều dài đôi khi vượt quá hai mươi bốn foot. Họ Delphinia gồm mười giống, và những con cá heo tôi thấy gần với giống Delphinorhynchus, nổi bật vì mõm cực hẹp dài gấp bốn lần hộp sọ. Dài ba mét, thân chúng phía trên đen, phía dưới trắng hồng rắc những đốm nhỏ, rất thưa.
Từ các biển này, tôi cũng sẽ nhắc đến vài mẫu vật lạ của cá đù, cá thuộc bộ Acanthopterygia, họ Scienidea. Một số tác giả—nghệ sĩ nhiều hơn khoa học—khẳng định những con cá này là ca sĩ du dương, rằng giọng của chúng hòa nhau thành những buổi hòa nhạc không ca đoàn loài người nào sánh được. Tôi không phủ nhận, nhưng tiếc thay, những con cá đù này đã không hát dạ khúc cho chúng tôi khi đi ngang.
Cuối cùng, để kết luận, Conseil phân loại một số lượng lớn cá bay. Không gì có thể tạo nên cảnh tượng lạ thường hơn thời điểm tuyệt diệu mà cá heo săn những con cá này. Dù tầm bay của nó xa đến đâu, dù đường đi của nó né tránh đến mức nào (ngay cả lên và qua chiếc Nautilus), con cá bay khốn khổ luôn tìm thấy một con cá heo đang há miệng chờ nó. Đó hoặc là cá chuồn gurnard, hoặc cá robin biển giống diều, môi chúng phát sáng trong bóng tối, ban đêm viết những vệt lửa lên không khí trước khi lao xuống vùng nước âm u như bao ngôi sao băng.
Hành trình của chúng tôi tiếp tục trong những điều kiện này cho đến ngày 13 tháng 3. Hôm ấy chiếc Nautilus được đưa vào làm một số thí nghiệm đo sâu khiến tôi vô cùng say mê.
Tính đến lúc ấy, chúng tôi đã đi gần 13.000 dặm biển từ điểm khởi hành trong biển khơi Thái Bình Dương. Vị trí xác định của chúng tôi đặt chúng tôi ở vĩ độ 45 độ 37′ nam và kinh độ 37 độ 53′ tây. Đây cũng chính là những thủy lộ nơi Thuyền trưởng Denham, trên tàu Herald, thả 14.000 mét dây dò mà không tìm thấy đáy. Cũng chính ở đây, Trung úy Parker, trên tàu hộ vệ Mỹ Congress, không thể chạm tới nền đất dưới nước ở 15.149 mét.
Thuyền trưởng Nemo quyết định đưa chiếc Nautilus của mình xuống các vực sâu thấp nhất để kiểm chứng những phép đo sâu khác nhau này. Tôi chuẩn bị ghi lại kết quả của thí nghiệm. Các tấm che trong phòng khách mở ra, và các thao tác bắt đầu để đến những tầng ở xa kỳ diệu ấy.
Rõ ràng việc lặn bằng cách đổ đầy các két dằn bị xem là không thể. Có lẽ chúng sẽ không làm tăng đủ trọng lượng riêng của chiếc Nautilus. Hơn nữa, để trở lên, cần phải đẩy lượng nước thừa ra ngoài, và các bơm của chúng tôi có thể không đủ mạnh để thắng áp lực bên ngoài.
Thuyền trưởng Nemo quyết định hướng tới đáy đại dương bằng cách lặn theo một đường chéo dần vừa phải với sự trợ giúp của các vây bên, được đặt ở góc 45 độ so với đường nước của chiếc Nautilus. Rồi chân vịt được đưa lên tốc độ tối đa, và bốn cánh của nó khuấy sóng bằng một sức dữ dội không tả xiết.
Dưới lực đẩy mạnh mẽ này, thân chiếc Nautilus rung lên như một dây đàn cộng hưởng, và con tàu đều đặn chìm xuống dưới nước. Đứng trong phòng khách, thuyền trưởng và tôi nhìn kim chỉ nhanh chóng lệch trên áp kế. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đi xuống dưới vùng có thể sống được nơi phần lớn cá cư trú. Một số loài chỉ có thể phát triển ở mặt biển hoặc sông, nhưng một thiểu số có thể sống ở độ sâu khá lớn. Trong số đó tôi quan sát được một loài cá nhám gọi là cá mập bò có sáu khe hô hấp, cá kính viễn vọng với đôi mắt khổng lồ, cá gurnard bọc giáp có vây ngực xám cùng vây ngực đen và tấm giáp ngực được bảo vệ bằng các phiến xương đỏ nhạt, rồi cuối cùng là cá grenadier, sống ở độ sâu 1.200 mét, tới điểm ấy chịu đựng áp lực 120 atmosphere.
Tôi hỏi Thuyền trưởng Nemo liệu ông có quan sát thấy cá ở những độ sâu đáng kể hơn không.
“Cá? Hiếm lắm!” ông đáp. “Nhưng với tình trạng hiện tại của khoa học biển, chúng ta là ai mà dám đoán chắc, chúng ta thật sự biết gì về những vực sâu này?”
“Chỉ điều này, thuyền trưởng. Khi đi về phía các tầng thấp của đại dương, chúng ta biết đời sống thực vật biến mất nhanh hơn đời sống động vật. Chúng ta biết các sinh vật chuyển động vẫn có thể gặp ở nơi cây nước không còn mọc. Chúng ta biết hàu và sò điệp hành hương sống ở 2.000 mét nước, và Đô đốc McClintock, người hùng của các biển vùng cực nước Anh, đã kéo lên một con sao biển sống từ độ sâu 2.500 mét. Chúng ta biết thủy thủ đoàn của tàu Bulldog thuộc Hải quân Hoàng gia đã câu lên một con sao biển từ 2.620 sải, tức từ độ sâu hơn một dặm thẳng đứng. Ông vẫn nói, Thuyền trưởng Nemo, rằng chúng ta thật sự chẳng biết gì sao?”
“Không, giáo sư,” thuyền trưởng đáp, “tôi sẽ không bất lịch sự đến thế. Tuy nhiên, tôi sẽ xin ông giải thích làm thế nào các sinh vật này có thể sống ở những độ sâu ấy?”
“Tôi giải thích bằng hai lý do,” tôi đáp. “Trước hết, vì các dòng chảy thẳng đứng, do khác biệt về độ mặn và mật độ nước gây ra, có thể tạo ra đủ chuyển động để duy trì lối sống sơ đẳng của hải huệ và sao biển.”
“Đúng,” thuyền trưởng chen vào.
“Thứ hai, vì oxy là nền tảng của sự sống, và chúng ta biết lượng oxy hòa tan trong nước mặn tăng chứ không giảm theo độ sâu, rằng áp lực ở các tầng thấp này giúp tập trung hàm lượng oxy của chúng.”
“Ồ! Chúng ta biết điều đó sao?” Thuyền trưởng Nemo đáp bằng giọng hơi ngạc nhiên. “Chà, giáo sư, chúng ta có lý do chính đáng để biết, vì đó là sự thật. Thật ra tôi có thể nói thêm rằng bóng khí của cá chứa nhiều nitrogen hơn oxy khi những con vật này bị bắt ở mặt nước, và ngược lại, nhiều oxy hơn nitrogen khi chúng được kéo lên từ các vực sâu. Điều này chứng thực công thức của ông. Nhưng hãy tiếp tục các quan sát của chúng ta.”
Mắt tôi lại bay về áp kế. Dụng cụ chỉ độ sâu 6.000 mét. Cuộc lặn của chúng tôi đã kéo dài một giờ. Chiếc Nautilus trượt xuống trên các vây nghiêng, vẫn tiếp tục chìm. Những vùng nước hoang vắng này trong trẻo tuyệt diệu, với độ trong suốt không thể diễn tả. Một giờ sau, chúng tôi ở độ sâu 13.000 mét—khoảng ba dặm một phần tư theo chiều thẳng đứng—và đáy đại dương vẫn chưa thấy đâu.
Tuy nhiên, ở 14.000 mét, tôi thấy những đỉnh đen nhạt nhô lên giữa nước. Nhưng các đỉnh này có thể thuộc về những ngọn núi cao bằng hoặc còn cao hơn Himalaya hay Mont Blanc, và mức độ của các vực sâu này vẫn không thể tính nổi.
Bất chấp áp lực mạnh mẽ mà nó đang chịu, chiếc Nautilus vẫn chìm sâu hơn. Tôi có thể cảm thấy các tấm sắt của nó run tới tận các mối tán đinh; những thanh kim loại cong vòm; vách ngăn rền rĩ; các cửa kính phòng khách dường như đang cong vào trong dưới áp lực nước. Và toàn bộ cỗ máy vững chắc này chắc chắn đã phải nhượng bộ nếu, như thuyền trưởng của nó từng nói, nó không có khả năng chống chịu như một khối đặc.
Khi sượt qua các sườn đá lạc mất dưới nước này, tôi vẫn nhận ra vài vỏ sò, giun ống, các giun có đốt linh hoạt thuộc giống Spirorbis, và vài mẫu sao biển.
Nhưng chẳng mấy chốc, những đại diện cuối cùng ấy của đời sống động vật biến mất, và ở ba dặm thẳng đứng dưới nước, chiếc Nautilus vượt xuống dưới giới hạn của sự tồn tại dưới nước như một khinh khí cầu bay lên trên các vùng có thể thở trong bầu trời. Chúng tôi đạt độ sâu 16.000 mét—bốn dặm thẳng đứng—và khi ấy lớp vỏ của chiếc Nautilus đang chịu áp lực 1.600 atmosphere, nói cách khác, 1.600 kilogram trên mỗi xăngtimét vuông bề mặt của nó!
“Thật là một trải nghiệm!” tôi kêu lên. “Đi qua những vùng sâu này, nơi chưa từng người nào mạo hiểm tới! Nhìn kìa, thuyền trưởng! Hãy nhìn những tảng đá tráng lệ ấy, những hang động không cư dân, những nơi trú cuối cùng của địa cầu nơi sự sống không còn khả dĩ! Cảnh sắc chưa từng nghe nói, và vì sao chúng ta lại bị giới hạn trong việc chỉ giữ nó như một ký ức?”
“Ông có muốn,” Thuyền trưởng Nemo hỏi tôi, “mang về nhiều hơn một ký ức không?”
“Ý ông là gì?”
“Ý tôi là không gì dễ hơn việc chụp một bức ảnh của vùng dưới nước này!”
Trước khi tôi kịp bày tỏ sự ngạc nhiên mà đề nghị mới này gây ra cho mình, một máy ảnh được mang vào phòng khách theo yêu cầu của Thuyền trưởng Nemo. Khung cảnh lỏng, được chiếu sáng bằng điện, mở ra với độ rõ hoàn hảo qua các tấm che mở rộng. Không bóng tối, không mờ nhòe, nhờ ánh sáng nhân tạo của chúng tôi. Ngay cả ánh mặt trời cũng không thể tốt hơn cho mục đích của chúng tôi. Với lực đẩy của chân vịt bị kìm bởi độ nghiêng của các vây, chiếc Nautilus đứng yên. Máy ảnh được hướng vào cảnh sắc trên đáy đại dương, và trong vài giây chúng tôi có một bản âm hoàn hảo.
Tôi đính kèm một bản in dương. Trong đó, các ông có thể thấy những tảng đá nguyên thủy chưa từng thấy ánh sáng ban ngày, thứ granit hạ giới tạo thành nền móng hùng mạnh của địa cầu chúng ta, những hang sâu cắt vào khối đá, những đường nét rõ ràng không gì sánh được mà các mép xa nổi bật màu đen như từ nét cọ của một số họa sĩ Flanders. Ở xa là một chân trời núi non, một đường gợn sóng kỳ diệu tạo nên nền của phong cảnh này. Hiệu ứng tổng thể của những tảng đá trơn nhẵn ấy không thể tả: đen, bóng, không rêu hay vết blemish nào khác, được khắc thành các hình dạng lạ, ngồi vững trên một tấm thảm cát lấp lánh dưới các luồng ánh điện của chúng tôi.
Trong khi đó, khi các thao tác nhiếp ảnh của ông kết thúc, Thuyền trưởng Nemo nói với tôi:
“Hãy trở lên, giáo sư. Chúng ta không nên thử vận may quá mức và phơi chiếc Nautilus quá lâu trước những áp lực này.”
“Hãy trở lên!” tôi đáp.
“Bám chắc.”
Trước khi tôi kịp hiểu vì sao thuyền trưởng đưa ra lời khuyên này, tôi bị ném xuống thảm.
Các vây đặt thẳng đứng, chân vịt vào số theo tín hiệu của thuyền trưởng, chiếc Nautilus nổi lên với tốc độ chớp nhoáng, bắn lên như khinh khí cầu vào bầu trời. Rung ngân vang, nó rạch xuyên khối nước. Không thể thấy một chi tiết nào. Trong bốn phút, nó đã vượt qua bốn dặm thẳng đứng ngăn cách nó với mặt đại dương, và sau khi trồi lên như một con cá bay, nó rơi trở lại biển, làm sóng vọt lên những độ cao kỳ dị.
### CHƯƠNG 12
Cá nhà táng và cá voi tấm sừng
TRONG ĐÊM 13 rạng 14 tháng 3, chiếc Nautilus tiếp tục hướng nam. Khi nó ngang mũi Horn, tôi tưởng nó sẽ vòng phía tây mũi, hướng tới các biển Thái Bình Dương, và hoàn tất chuyến đi vòng quanh thế giới. Nhưng nó không làm thế mà vẫn tiếp tục tiến về những vùng cực nam. Vậy nó đi đâu? Cực? Điều ấy là điên rồ. Tôi bắt đầu nghĩ rằng sự liều lĩnh của thuyền trưởng còn hơn cả việc biện minh cho những nỗi sợ tệ nhất của Ned Land.
Từ khá lâu người Canada không nói gì thêm với tôi về các kế hoạch trốn thoát. Ông trở nên kém hòa đồng hơn, gần như ủ dột. Tôi có thể thấy cảnh giam giữ kéo dài này đang đè nặng lên ông ra sao. Tôi có thể cảm thấy cơn giận đang tích tụ trong ông. Mỗi khi gặp thuyền trưởng, mắt ông lại lóe lên ngọn lửa tối, và tôi luôn lo sợ rằng tính nóng nảy tự nhiên của ông sẽ khiến ông làm điều liều lĩnh.
Hôm ấy, 14 tháng 3, ông và Conseil tìm đến tôi trong phòng riêng. Tôi hỏi mục đích chuyến thăm của họ.
“Để đặt cho ngài một câu hỏi đơn giản, thưa ngài,” người Canada đáp.
“Nói đi, Ned.”
“Ngài nghĩ trên chiếc Nautilus có bao nhiêu người?”
“Tôi không thể nói, bạn tôi.”
“Tôi có cảm giác,” Ned Land tiếp tục, “rằng để vận hành một con tàu như thế này không cần thủy thủ đoàn lớn.”
“Đúng,” tôi đáp. “Trong điều kiện hiện có, tối đa khoảng mười người là đủ để điều khiển nó.”
“Được rồi,” người Canada nói, “vậy tại sao lại phải có nhiều hơn thế?”
“Tại sao?” tôi đáp.
Tôi nhìn chằm chằm Ned Land, động cơ của ông dễ đoán.
“Bởi,” tôi nói, “nếu tôi có thể tin linh cảm của mình, nếu tôi thật sự hiểu lối sống của thuyền trưởng, chiếc Nautilus của ông không chỉ đơn giản là một con tàu. Nó được dự định làm nơi trú ẩn cho những người giống như vị chỉ huy của nó, những người đã cắt đứt mọi ràng buộc với bờ.”
“Có lẽ,” Conseil nói, “nhưng tóm lại, chiếc Nautilus chỉ chứa được một số người nhất định, vậy ngài không thể ước tính tối đa của họ sao?”
“Bằng cách nào, Conseil?”
“Bằng tính toán. Ngài biết dung tích của con tàu, do đó biết lượng không khí nó chứa; mặt khác, ngài biết mỗi người tiêu thụ bao nhiêu không khí trong hành động hô hấp, và ngài có thể so sánh dữ liệu này với việc chiếc Nautilus phải nổi lên mặt nước mỗi hai mươi bốn giờ...”
Conseil không nói hết câu, nhưng tôi dễ dàng thấy anh muốn nhắm tới điều gì.
“Tôi hiểu anh,” tôi nói. “Nhưng dù đơn giản, các phép tính ấy chỉ có thể cho một con số rất không chắc chắn.”
“Không sao,” người Canada tiếp tục với vẻ khăng khăng.
“Vậy đây là cách tính,” tôi đáp. “Trong một giờ, mỗi người tiêu thụ lượng oxy chứa trong 100 lít không khí, do đó trong hai mươi bốn giờ là lượng oxy chứa trong 2.400 lít. Vì vậy, chúng ta phải tìm bội số của 2.400 lít không khí cho ta lượng có trong chiếc Nautilus.”
“Chính xác,” Conseil nói.
“Bấy giờ,” tôi tiếp tục, “dung tích của chiếc Nautilus là 1.500 tấn mét, và dung tích của một tấn là 1.000 lít, nên chiếc Nautilus chứa 1.500.000 lít không khí, chia cho 2.400...”
Tôi tính nhanh bằng bút chì.
“...cho chúng ta thương số 625. Điều này tương đương nói rằng lượng không khí chứa trong chiếc Nautilus sẽ vừa đủ cho 625 người trong hai mươi bốn giờ.”
“625!” Ned lặp lại.
“Nhưng hãy yên tâm,” tôi thêm, “rằng giữa hành khách, thủy thủ hay sĩ quan, chúng ta không tổng cộng đến một phần mười con số ấy.”
“Vẫn còn quá nhiều đối với ba người!” Conseil lẩm bẩm.
“Vậy, Ned đáng thương của tôi, tôi chỉ có thể khuyên ông kiên nhẫn.”
“Và,” Conseil đáp, “còn hơn cả kiên nhẫn, là cam chịu.”
Conseil đã nói đúng từ.
“Tuy vậy,” anh tiếp tục, “Thuyền trưởng Nemo không thể đi về phía nam mãi! Chắc chắn ông ấy sẽ phải dừng lại, dù chỉ ở Vành Đai Băng, rồi ông ấy sẽ trở về các biển của văn minh! Khi ấy sẽ là lúc tiếp tục các kế hoạch của Ned Land.”
Người Canada lắc đầu, đưa tay vuốt trán, không đáp, rồi rời chúng tôi.
“Với sự cho phép của ngài, tôi xin đưa ra một nhận xét,” Conseil nói với tôi. “Ned đáng thương của chúng ta nghiền ngẫm tất cả những thứ ông không thể có. Ông bị cuộc đời trước đây ám ảnh. Dường như ông nhớ mọi thứ bị từ chối đối với chúng ta. Ông bị ám bởi các ký ức cũ, và điều đó đang làm tim ông tan nát. Chúng ta phải hiểu ông. Ông có gì để bận rộn ở đây? Không gì cả. Ông không phải nhà khoa học như ngài, và ông không chia sẻ niềm say mê của chúng ta đối với các kỳ quan biển cả. Ông sẽ liều bất cứ điều gì chỉ để bước vào một quán rượu ở chính đất nước mình!”
Chắc chắn, sự đơn điệu của đời sống trên tàu hẳn là không thể chịu nổi đối với người Canada, người vốn quen với tự do và hoạt động. Hiếm có sự kiện nào có thể làm ông hứng khởi. Tuy nhiên hôm ấy, một diễn biến xảy ra nhắc ông nhớ những năm tháng hạnh phúc của mình với tư cách thợ săn cá voi phóng lao.
Gần mười một giờ sáng, khi ở trên mặt đại dương, chiếc Nautilus gặp một đàn cá voi tấm sừng. Cuộc gặp này không làm tôi ngạc nhiên, vì tôi biết những con vật này đang bị săn đuổi không ngừng đến mức chúng phải lánh vào các lòng chảo đại dương ở vĩ độ cao.
Trong thế giới hàng hải và trong lĩnh vực thám hiểm địa lý, cá voi đã đóng vai trò lớn lao. Chính loài vật này trước hết đã kéo người Basque theo dấu nó, rồi người Asturia Tây Ban Nha, người Anh và người Hà Lan, làm họ thêm gan dạ trước những hiểm nguy của đại dương, và dẫn họ tới tận cùng trái đất. Cá voi tấm sừng thích lui tới những biển cực nam và cực bắc. Các truyền thuyết xưa thậm chí tuyên bố rằng các loài cá voi này đã dẫn ngư dân tới cách Bắc Cực chỉ bảy dặm biển. Dù kỳ công ấy là hư cấu, một ngày nào đó nó sẽ thành sự thật, bởi nhiều khả năng chính bằng việc săn cá voi ở vùng Bắc Cực hay Nam Cực, con người cuối cùng sẽ tới được điểm chưa biết ấy trên địa cầu.
Chúng tôi đang ngồi trên sàn ngoài cạnh một mặt biển yên bình. Tháng ba, vì tương đương tháng mười ở các vĩ độ này, đang cho chúng tôi vài ngày thu đẹp. Chính người Canada—trong đề tài này ông không bao giờ nhầm—đã nhìn thấy một con cá voi tấm sừng ở chân trời phía đông. Nếu nhìn kỹ, người ta có thể thấy lưng đen nhạt của nó lần lượt nhô lên và hạ xuống trên sóng, cách chiếc Nautilus năm dặm.
“Chà!” Ned Land kêu lên. “Nếu tôi ở trên một tàu săn cá voi, đó sẽ là một cuộc gặp rất thú vị! Đó là một con vật lớn! Nhìn lỗ phun của nó phun cao thế kia, toàn khí và hơi nước! Quỷ tha ma bắt! Vì sao tôi lại bị xích vào cái khối tôn sắt này!”
“Kìa, Ned!” tôi đáp. “Ông vẫn chưa hết những thôi thúc đánh bắt cũ sao?”
“Một thợ săn cá voi làm sao quên được nghề cũ của mình, thưa ngài? Ai có thể chán những cuộc săn kích thích đến thế?”
“Ông chưa từng đánh bắt ở những biển này, Ned?”
“Chưa bao giờ, thưa ngài. Chỉ ở các biển cực bắc, cả ở eo Bering lẫn eo Davis.”
“Vậy cá voi đầu bò phương nam vẫn còn xa lạ với ông. Cho đến nay, ông săn cá voi đầu cong, và nó sẽ không liều vượt qua vùng nước ấm của xích đạo.”
“Ôi, giáo sư, ngài đang cho tôi ăn thứ gì vậy?” người Canada đáp bằng giọng khá hoài nghi.
“Tôi đang cho ông sự thật.”
“Quỷ thần ơi! Năm ’65, mới hai năm rưỡi trước thôi, chính tôi đây, người đang nói với ngài, tự mình bước lên xác một con cá voi gần Greenland, và mạn nó vẫn còn mang dấu lao của một tàu săn cá voi từ biển Bering. Bây giờ tôi hỏi ngài, sau khi nó bị thương phía tây châu Mỹ, làm sao con vật này có thể bị giết ở phía đông, trừ khi nó vượt xích đạo và vòng qua mũi Horn hoặc mũi Hảo Vọng?”
“Tôi đồng ý với bạn Ned của chúng ta,” Conseil nói, “và tôi đang chờ nghe ngài đáp lại ông ấy.”
“Ngài sẽ đáp lại, các bạn của tôi, rằng cá voi tấm sừng được khu trú theo từng loài trong những biển nhất định mà chúng không bao giờ rời. Và nếu một trong những con vật ấy đi từ eo Bering tới eo Davis, thì đơn giản là vì có một lối đi nào đó từ biển này sang biển kia, hoặc dọc bờ Canada, hoặc dọc bờ Siberia.”
“Ngài mong chúng tôi tin điều đó sao?” người Canada hỏi, nháy mắt với tôi.
“Nếu ngài nói vậy,” Conseil đáp.
“Điều đó nghĩa là,” người Canada tiếp tục, “vì tôi chưa từng đánh bắt các thủy lộ này, tôi không biết những con cá voi thường lui tới đây?”
“Đó là điều tôi đang nói với ông, Ned.”
“Càng có lý do để làm quen với chúng,” Conseil đáp.
“Nhìn kìa! Nhìn kìa!” người Canada kêu lên, giọng đầy kích động. “Nó đang đến gần! Nó đang bơi về phía chúng ta! Nó đang giễu mũi tôi! Nó biết tôi chẳng làm được cái quái gì với nó!”
Ned giậm chân. Vung một cây lao tưởng tượng, đôi tay ông run lên thật sự.
“Những loài cá voi này,” ông hỏi, “chúng có lớn như những con ở các biển cực bắc không?”
“Gần như thế, Ned.”
“Bởi tôi đã thấy những con cá voi tấm sừng lớn, thưa ngài, cá voi dài tới 100 foot! Tôi còn nghe nói những con cá voi rorqual ngoài quần đảo Aleut đôi khi dài hơn 150 foot.”
“Điều đó với tôi có vẻ phóng đại,” tôi đáp. “Những con vật ấy chỉ là thành viên của giống Balaenoptera có vây lưng, và giống cá nhà táng, chúng thường nhỏ hơn cá voi đầu cong.”
“Ồ!” người Canada kêu lên, mắt không rời đại dương. “Nó đến gần hơn, nó đang vào vùng nước của chiếc Nautilus!”
Rồi, tiếp tục câu chuyện:
“Ngài nói về cá nhà táng,” ông nói, “cứ như chúng là thú nhỏ! Nhưng có những chuyện kể về cá nhà táng khổng lồ. Chúng là những loài cá voi khôn khéo. Tôi nghe nói có con sẽ phủ lên mình tảo và fucus. Người ta nhầm chúng là đảo nhỏ. Họ cắm trại bên trên, tự nhiên như ở nhà, đốt lửa—”
“Xây nhà,” Conseil nói.
“Phải, anh hề,” Ned Land đáp. “Rồi một ngày đẹp trời, con vật lặn xuống và kéo tất cả cư dân trên nó xuống vực sâu.”
“Như trong những chuyến đi của Sinbad Người Đi Biển,” tôi đáp, cười. “Ôi, ông Land, ông nghiện chuyện phóng đại rồi! Những con cá nhà táng ông đem đến cho chúng tôi là thứ gì thế! Tôi hy vọng ông không thật sự tin chúng!”
“Ông nhà tự nhiên học,” người Canada nghiêm túc đáp, “khi nói đến cá voi, ngài có thể tin bất cứ điều gì! (Nhìn con kia di chuyển kìa! Nhìn nó lẩn đi!) Người ta nói những con vật này có thể vòng quanh thế giới chỉ trong mười lăm ngày.”
“Tôi không phủ nhận.”
“Nhưng điều chắc chắn ngài không biết, Giáo sư Aronnax, là vào thuở khai thiên lập địa, cá voi còn đi nhanh hơn nữa.”
“Ồ thật sao, Ned! Và vì sao vậy?”
“Bởi ngày ấy đuôi chúng cử động từ bên này sang bên kia, giống đuôi cá, nói cách khác, đuôi chúng dựng thẳng, quẫy nước từ trái sang phải, từ phải sang trái. Nhưng thấy chúng bơi quá nhanh, Đấng Tạo Hóa của chúng ta xoắn đuôi chúng lại, và từ đó chúng quẫy sóng lên xuống, phải trả giá bằng tốc độ của mình.”
“Tốt, Ned,” tôi nói, rồi làm sống lại một trong những cách nói của người Canada. “Ông mong chúng tôi tin điều đó sao?”
“Không quá nhiều đâu,” Ned Land đáp, “và không hơn gì nếu tôi nói với ngài rằng có những con cá voi dài 300 foot và nặng 1.000.000 pound.”
“Điều ấy quả thật đáng kể,” tôi nói. “Nhưng ông phải thừa nhận rằng một số loài cá voi lớn lên đến kích thước đáng kể, vì người ta nói chúng cung cấp tới 120 tấn mét dầu.”
“Điều đó tôi đã thấy,” người Canada nói.
“Tôi có thể dễ dàng tin điều ấy, Ned, cũng như tôi có thể tin rằng một số cá voi tấm sừng có khối lượng bằng 100 con voi. Hãy tưởng tượng tác động của một khối như thế nếu nó lao hết tốc lực!”
“Có đúng không,” Conseil hỏi, “rằng chúng có thể đánh chìm tàu?”
“Tàu à? Tôi nghi ngờ,” tôi đáp. “Tuy nhiên, người ta nói rằng năm 1820, ngay trong các biển phương nam này, một con cá voi tấm sừng đã lao vào tàu Essex và đẩy nó lùi với tốc độ bốn mét mỗi giây. Đuôi tàu bị ngập, và chiếc Essex chìm nhanh chóng.”
Ned nhìn tôi với vẻ trêu chọc.
“Về phần mình,” ông nói, “tôi từng bị đuôi cá voi quật một cú—trong xuồng dài của tôi, dĩ nhiên. Các bạn đồng hành của tôi và tôi bị phóng lên độ cao sáu mét. Nhưng so với con cá voi của giáo sư, con của tôi chỉ là một đứa bé.”
“Những con vật này sống lâu không?” Conseil hỏi.
“Một nghìn năm,” người Canada đáp không chút do dự.
“Và bằng cách nào, Ned,” tôi hỏi, “ông biết điều đó đúng?”
“Bởi người ta nói vậy.”
“Và vì sao người ta nói vậy?”
“Bởi người ta biết vậy.”
“Không, Ned! Người ta không biết vậy, người ta giả định vậy, và đây là lập luận mà họ dùng để củng cố niềm tin của mình. Khi ngư dân lần đầu săn cá voi 400 năm trước, những con vật này lớn hơn ngày nay. Một cách hợp lý, người ta cho rằng cá voi ngày nay nhỏ hơn vì chúng chưa có thời gian đạt đến mức tăng trưởng đầy đủ. Đó là lý do bách khoa của Bá tước de Buffon nói rằng cá voi có thể sống, và thậm chí phải sống, tới một nghìn năm. Ông hiểu chứ?”
Ned Land không hiểu. Ông thậm chí không còn nghe tôi nữa. Con cá voi tấm sừng ấy cứ tiến gần hơn. Mắt ông nuốt chửng nó.
“Ồ!” ông kêu lên. “Không chỉ một con cá voi, mà là mười, hai mươi, cả một đàn! Và tôi không thể làm gì! Tôi bị trói cả tay lẫn chân!”
“Nhưng Ned bạn tôi,” Conseil nói, “sao không xin Thuyền trưởng Nemo cho phép săn—”
Trước khi Conseil kịp nói hết câu, Ned Land đã phóng xuống cửa sập và chạy đi tìm thuyền trưởng. Vài khoảnh khắc sau, hai người lại xuất hiện trên sàn ngoài.
Thuyền trưởng Nemo quan sát đàn cá voi đang vui đùa trên mặt nước cách chiếc Nautilus một dặm.
“Chúng là cá voi đầu bò phương nam,” ông nói. “Cả gia tài của một hạm đội săn cá voi kia kìa.”
“Vậy, thưa ông,” người Canada hỏi, “tôi không thể săn chúng sao, chỉ để không quên nghề phóng lao cũ của mình?”
“Săn chúng? Để làm gì?” Thuyền trưởng Nemo đáp. “Chỉ để tiêu diệt chúng sao? Chúng ta chẳng cần dầu cá voi trên con tàu này.”
“Nhưng, thưa ông,” người Canada tiếp tục, “ở Biển Đỏ ông đã cho phép chúng tôi đuổi theo một con dugong!”
“Ở đó là vấn đề kiếm thịt tươi cho thủy thủ đoàn của tôi. Còn ở đây sẽ là giết chóc chỉ để giết chóc. Tôi biết rõ đó là đặc quyền dành riêng cho loài người, nhưng tôi không cho phép những thú tiêu khiển sát sinh như thế. Khi những người đồng loại của ông, ông Land, hủy diệt các sinh vật hiền lành, vô hại như cá voi đầu bò phương nam hay cá voi đầu cong, họ phạm một tội đáng chê trách. Vì vậy họ đã làm vịnh Baffin vắng sạch loài ấy, và họ sẽ xóa sổ cả một lớp động vật hữu ích. Vậy hãy để mặc những con cá voi tội nghiệp này. Chúng đã có đủ kẻ thù tự nhiên, như cá nhà táng, cá kiếm và cá cưa, không cần ông nhúng tay vào.”
Tôi để độc giả tự hình dung vẻ mặt người Canada trong bài giảng về đạo đức săn bắn này. Cung cấp những lập luận như thế cho một thợ săn cá voi phóng lao chuyên nghiệp là uổng lời. Ned Land nhìn Thuyền trưởng Nemo chằm chằm và rõ ràng chẳng hiểu ý ông. Nhưng thuyền trưởng đã đúng. Nhờ sự khát máu ngu xuẩn, man rợ của các ngư dân, một ngày kia con cá voi tấm sừng cuối cùng sẽ biến mất khỏi đại dương.
Ned Land huýt sáo bài “Yankee Doodle” qua kẽ răng, nhét tay vào túi, và quay lưng lại với chúng tôi.
Trong lúc ấy, Thuyền trưởng Nemo quan sát đàn cá voi, rồi nói với tôi:
“Tôi đã đúng khi khẳng định cá voi tấm sừng có đủ kẻ thù tự nhiên, chưa kể con người. Những mẫu vật này sắp phải đương đầu với các đối thủ hùng mạnh. Cách tám dặm về phía khuất gió, Giáo sư Aronnax, ông có thấy những đốm đen nhạt đang chuyển động kia không?”
“Có, thuyền trưởng,” tôi đáp.
“Đó là cá nhà táng, những con vật đáng sợ mà đôi khi tôi từng gặp thành đàn 200 hay 300 con! Còn đối với chúng, chúng là những thú dữ tàn nhẫn, phá hoại, và chúng đáng bị tiêu diệt.”
Người Canada quay phắt lại trước những lời cuối này.
“Thế thì, thuyền trưởng,” tôi nói, “nhân danh cá voi tấm sừng, vẫn còn thời gian—”
“Không cần liều lĩnh vô ích, giáo sư. Chiếc Nautilus là đủ để xua tan những con cá nhà táng này. Nó được trang bị một mũi thúc bằng thép chẳng kém gì cây lao của ông Land, tôi nghĩ vậy.”
Người Canada thậm chí chẳng buồn nhún vai. Tấn công cá voi bằng những cú thúc của mũi tàu! Ai từng nghe thứ chuyện vớ vẩn như thế!
“Hãy chờ xem, Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo nói. “Chúng tôi sẽ cho ông thấy một lối săn mà ông chưa quen. Chúng tôi sẽ không thương hại những loài cá voi dữ tợn này. Chúng chỉ toàn miệng và răng!”
Miệng và răng! Không có cách nào hay hơn để mô tả loài cá nhà táng đầu dài, mà chiều dài đôi khi vượt quá hai mươi lăm mét. Cái đầu khổng lồ của loài cá voi này chiếm khoảng một phần ba thân thể nó. Được vũ trang tốt hơn cá voi tấm sừng, vốn hàm trên chỉ được tô điểm bằng tấm sừng cá voi, cá nhà táng có hai mươi lăm chiếc răng khổng lồ cao hai mươi xăngtimét, hình trụ, đỉnh nón, mỗi chiếc nặng hai pound. Ở phần trên của cái đầu khổng lồ này, trong các khoang lớn được ngăn cách bằng sụn, người ta tìm thấy 300 đến 400 kilogram thứ dầu quý gọi là “spermaceti.” Cá nhà táng là một con vật vụng về, giống nòng nọc hơn cá, như Giáo sư Frédol đã nhận xét. Nó được tạo tác vụng, có thể nói là “khiếm khuyết” trên toàn bộ phía trái cơ thể, và chỉ nhìn tốt bằng mắt phải.
Trong lúc ấy, đàn quái vật kia cứ tiến gần hơn. Nó đã thấy cá voi tấm sừng và đang chuẩn bị tấn công. Người ta có thể biết trước rằng cá nhà táng sẽ chiến thắng, không chỉ vì chúng được cấu tạo để giao chiến tốt hơn các đối thủ vô hại, mà còn vì chúng có thể ở dưới nước lâu hơn trước khi trở lại mặt nước để thở.
Vẫn còn vừa kịp chạy tới cứu những con cá voi tấm sừng. Chiếc Nautilus tiến vào tầng nước giữa. Conseil, Ned và tôi ngồi trước các cửa kính phòng khách. Thuyền trưởng Nemo đi đến bên người lái để vận hành tàu ngầm của mình như một cỗ máy hủy diệt. Chẳng mấy chốc, tôi cảm thấy nhịp chân vịt của chúng tôi nhanh hơn, và chúng tôi tăng tốc.
Trận chiến giữa cá nhà táng và cá voi tấm sừng đã bắt đầu khi chiếc Nautilus tới nơi. Nó thao tác để cắt vào đàn thú săn mồi đầu dài. Lúc đầu, bọn sau ít bận tâm khi thấy con quái vật mới này can dự vào cuộc chiến. Nhưng chẳng mấy chốc, chúng buộc phải tránh các cú thúc của nó.
Thật là một cuộc vật lộn! Ned Land nhanh chóng hào hứng và cuối cùng còn vỗ tay tán thưởng. Trong tay thuyền trưởng, chiếc Nautilus đơn giản là một cây lao đáng sợ. Ông phóng nó vào những khối thịt ấy và đâm xuyên sạch chúng, để lại phía sau hai nửa con vật quằn quại. Còn những cú quật đuôi đáng sợ đập vào mạn chúng tôi, con tàu chẳng hề cảm thấy. Cũng không hơn gì những cú va chạm mà nó gây ra. Diệt xong một con cá nhà táng, nó lao vào con khác, quay ngoặt tại chỗ để không lỡ con mồi, tiến lên hoặc lùi lại, tuân theo bánh lái, lặn xuống khi cá voi chìm tới các tầng sâu hơn, nổi lên cùng nó khi nó trở lại mặt nước, đánh nó trực diện hoặc xiên chéo, chặt phăng hoặc xé toạc nó, và từ mọi hướng, với mọi tốc độ, xiên nó bằng mũi thúc ghê gớm.
Thật là máu đổ! Thật là náo động trên mặt sóng! Những tiếng rít sắc và tiếng thở phì phò đặc trưng của các con vật kinh hoảng này! Đuôi chúng khuấy các tầng nước vốn bình yên thành những đợt sóng thực sự.
Cuộc tàn sát kiểu Homer này kéo dài một giờ, và bọn săn mồi đầu dài không thể thoát. Nhiều lần, mười hay mười hai con hợp lại, cố dùng toàn bộ khối lượng của chúng nghiền nát chiếc Nautilus. Qua các cửa kính, người ta có thể thấy những cái miệng khổng lồ lát đầy răng, những đôi mắt đáng sợ của chúng. Mất hết tự chủ, Ned Land ném vào chúng những lời đe dọa và sỉ nhục. Người ta có thể cảm thấy chúng bám lấy tàu ngầm như đàn chó trên lưng một con lợn rừng trong bụi rậm. Nhưng bằng cách thúc chân vịt chạy nhanh, chiếc Nautilus lôi chúng đi, kéo chúng xuống dưới, hoặc đưa chúng trở lại tầng nước trên, không bận tâm đến sức nặng khổng lồ hay cái bám mạnh mẽ của chúng.
Cuối cùng, khối cá nhà táng ấy thưa đi. Sóng lặng trở lại. Tôi cảm thấy chúng tôi nổi lên mặt đại dương. Cửa sập mở và chúng tôi lao lên sàn ngoài.
Biển phủ đầy xác bị cắt xẻo. Một vụ nổ đáng sợ cũng không thể chém, xé hay nghiền nát những khối thịt này dữ dội hơn. Chúng tôi nổi giữa những thân thể khổng lồ, lưng xanh nhạt, bụng trắng nhạt, tất cả đều biến dạng bởi những u lồi khổng lồ. Một vài con cá nhà táng hoảng sợ đang chạy trốn về phía chân trời. Sóng nhuộm đỏ trên một vùng rộng vài dặm, và chiếc Nautilus nổi giữa một biển máu.
Thuyền trưởng Nemo trở lại bên chúng tôi.
“Thế nào, ông Land?” ông nói.
“Thưa ông,” người Canada đáp, niềm hứng khởi đã lắng xuống, “đó chắc chắn là một cảnh tượng đáng sợ. Nhưng tôi là thợ săn chứ không phải đồ tể, và đây rõ ràng là đồ sát.”
“Đó là cuộc tàn sát các loài phá hoại,” thuyền trưởng đáp, “và chiếc Nautilus không phải dao mổ.”
“Tôi thích cây lao của mình hơn,” người Canada đáp.
“Mỗi người một ý,” thuyền trưởng đáp, nhìn Ned Land chăm chú.
Tôi sợ người sau sẽ buông mình theo một cơn bùng nổ dữ dội có thể gây những hậu quả đáng tiếc. Nhưng cơn giận của ông bị chuyển hướng bởi cảnh một con cá voi tấm sừng mà chiếc Nautilus vừa kéo sát bên cạnh.
Con vật này đã không thể thoát khỏi răng của lũ cá nhà táng. Tôi nhận ra cá voi đầu bò phương nam, đầu bè, toàn thân sẫm màu. Về giải phẫu, nó khác cá voi trắng và cá voi đầu bò đen ở chỗ bảy đốt sống cổ hợp nhất, và nó có nhiều hơn họ hàng hai xương sườn. Nổi nghiêng một bên, bụng bị cắn nát, con cá voi tội nghiệp đã chết. Vẫn còn treo ở đầu chiếc vây bị xé nát của nó là một con cá voi con nhỏ mà nó đã không thể cứu khỏi cuộc tàn sát. Cái miệng mở của nó để nước chảy qua tấm sừng như tiếng sóng rì rầm.
Thuyền trưởng Nemo dẫn chiếc Nautilus đến bên xác con vật. Hai người của ông trèo lên sườn cá voi, và trước sự kinh ngạc của tôi, tôi thấy họ vắt từ các vú của nó toàn bộ lượng sữa còn chứa, nói cách khác, đủ để đổ đầy hai hoặc ba thùng.
Thuyền trưởng mời tôi một cốc sữa còn ấm này. Tôi không khỏi tỏ ra chán ghét thứ đồ uống ấy. Ông bảo đảm với tôi rằng sữa này tuyệt hảo, không khác gì sữa bò.
Tôi nếm thử và đồng ý. Vậy sữa này là một khẩu phần dự trữ đáng giá cho chúng tôi, bởi dưới dạng bơ mặn hay pho mát, nó sẽ đem lại một thay đổi dễ chịu so với thực đơn thường lệ.
Từ ngày ấy trở đi, tôi nhận thấy với chút bất an rằng thái độ của Ned Land đối với Thuyền trưởng Nemo càng lúc càng xấu, và tôi quyết định theo dõi sát các cử chỉ và hoạt động của người Canada.
### CHƯƠNG 13
Vành Đai Băng
CHIẾC NAUTILUS tiếp tục hướng nam thản nhiên của mình. Nó đi dọc kinh tuyến 50 với tốc độ đáng kể. Nó có đi tới cực không? Tôi không nghĩ vậy, bởi mọi nỗ lực trước đây nhằm đạt đến điểm này trên địa cầu đều thất bại. Hơn nữa, mùa đã khá muộn, vì ngày 13 tháng 3 trên các bờ Nam Cực tương ứng với ngày 13 tháng 9 ở các miền cực bắc, đánh dấu khởi đầu thời kỳ phân điểm.
Ngày 14 tháng 3 ở vĩ độ 55 độ, tôi nhận ra băng trôi, chỉ là những mảnh vụn nhạt màu dài hai mươi đến hai mươi lăm foot, tạo thành những rạn đá mà biển tung bọt khi va vào. Chiếc Nautilus ở trên mặt đại dương. Từng đánh bắt ở các biển Bắc Cực, Ned Land đã quen với cảnh núi băng. Conseil và tôi thì lần đầu tiên kinh ngạc trước chúng.
Trên bầu trời về phía chân trời nam, trải dài một dải trắng chói lọi. Những người săn cá voi Anh gọi hiện tượng này là “ánh băng.” Dù mây có dày đến đâu, chúng cũng không thể che khuất hiện tượng này. Nó báo hiệu sự hiện diện của một khối hay bãi băng.
Quả thật, chẳng mấy chốc những khối băng lớn hơn xuất hiện, độ sáng của chúng thay đổi theo ý muốn của sương mù. Một số khối này hiện ra các mạch xanh, như được vẽ bằng những đường uốn lượn của đồng sulfat. Những khối khác trông như các khối thạch anh tím khổng lồ, để ánh sáng xuyên vào bên trong. Loại sau phản chiếu tia mặt trời từ hàng nghìn mặt tinh thể. Loại trước, nhuộm ánh vôi sáng, hẳn sẽ cung cấp đủ vật liệu xây dựng để dựng cả một thành phố cẩm thạch.
Càng đi xuống phía nam, các đảo nổi này càng tăng về số lượng và vẻ nổi bật. Chim vùng cực làm tổ trên chúng hàng nghìn con. Đó là petrel, chim bồ câu Cape hoặc puffin, và tiếng kêu của chúng inh tai. Nhầm chiếc Nautilus với xác một con cá voi, vài con đậu lên nó và mổ vào tấm sắt cộng hưởng của nó bằng mỏ.
Trong khi đi giữa băng, Thuyền trưởng Nemo thường ở trên sàn ngoài. Ông quan sát kỹ các thủy lộ hoang vắng này. Tôi thấy đôi mắt bình thản của ông đôi khi sáng lên. Trong những biển vùng cực cấm đối với con người này, liệu ông có cảm thấy như ở nhà, vị chúa tể của những miền không thể chạm tới này? Có lẽ. Nhưng ông không nói. Ông đứng yên, chỉ sống động lại khi bản năng hoa tiêu của ông nắm quyền. Rồi, điều khiển chiếc Nautilus với kỹ năng tuyệt đỉnh, ông khéo léo tránh các khối băng, vài khối dài đến mấy dặm, chiều cao thay đổi từ bảy mươi đến tám mươi mét. Nhiều lần chân trời dường như bị đóng kín hoàn toàn. Ngang vĩ độ 60 độ, mọi lối đi đều biến mất. Tìm kiếm cẩn thận, Thuyền trưởng Nemo sớm tìm ra một khe hẹp rồi táo bạo lách vào, tuy biết rõ rằng nó sẽ đóng lại sau lưng ông.
Dưới sự dẫn dắt của đôi tay khéo léo ấy, chiếc Nautilus đi qua mọi khối băng khác nhau này, được phân loại theo kích thước và hình dạng với độ chính xác làm Conseil say mê: “icebergs,” hay núi băng; “ice fields,” hay các dải phẳng vô hạn; “drift ice,” hay các tảng băng trôi; “packs,” hay các dải vỡ, gọi là “patches” khi có hình tròn và “streams” khi tạo thành các dải dài.
Nhiệt độ khá thấp. Phơi ngoài không khí, nhiệt kế đánh dấu -2 đến -3 độ centigrade. Nhưng chúng tôi mặc ấm bằng lông thú, mà hải cẩu và gấu nước đã phải trả giá. Bên trong chiếc Nautilus, được toàn bộ thiết bị điện sưởi đều, chống lại cái lạnh dữ dội nhất. Hơn nữa, để tìm nhiệt độ chịu được, con tàu chỉ cần chìm vài mét dưới sóng.
Hai tháng trước, chúng tôi hẳn đã được hưởng ánh sáng ban ngày vĩnh viễn ở vĩ độ này; nhưng đêm đã xuống trong ba hoặc bốn giờ, và sau này nó sẽ phủ sáu tháng bóng tối lên các vùng quanh cực này.
Ngày 15 tháng 3, chúng tôi vượt qua vĩ độ của quần đảo Nam Shetland và Nam Orkney. Thuyền trưởng nói với tôi rằng trước kia nhiều bộ lạc hải cẩu từng sống trên các bờ này; nhưng các tay săn cá voi Anh và Mỹ, trong cơn điên hủy diệt, đã tàn sát mọi con trưởng thành, kể cả những con cái mang thai, và nơi trước kia từng có sự sống và hoạt động, các ngư dân ấy chỉ để lại im lặng và chết chóc.
Đi dọc kinh tuyến 55, chiếc Nautilus cắt qua Vòng Nam Cực vào ngày 16 tháng 3 gần tám giờ sáng. Băng bao quanh chúng tôi hoàn toàn và khép kín chân trời. Tuy nhiên, Thuyền trưởng Nemo đi từ lối này sang lối khác, luôn tiến về phía nam.
“Nhưng ông ta đi đâu vậy?” tôi hỏi.
“Thẳng tới trước,” Conseil đáp. “Cuối cùng, khi không thể đi xa hơn, ông ấy sẽ dừng lại.”
“Tôi sẽ không cược vào điều đó!” tôi đáp.
Và thành thật mà nói, tôi thú nhận cuộc du ngoạn táo bạo này không hề làm tôi khó chịu. Tôi không thể diễn tả cường độ kinh ngạc của mình trước vẻ đẹp của các vùng mới này. Băng hiện lên trong những dáng tuyệt mỹ. Ở đây, hiệu quả tổng thể của nó gợi một thành phố phương Đông với vô số tháp giáo đường và thánh đường Hồi giáo. Ở kia, một thành phố hoang tàn, bị các cơn chấn động của trái đất ném xuống mặt đất. Những cảnh này liên tục biến đổi bởi các tia nắng xiên của mặt trời, hoặc bị sương mù xám giữa bão tuyết nuốt trọn. Rồi các vụ nổ, sụp hang và những cú lộn nhào lớn của băng sơn xảy ra quanh chúng tôi, làm thay đổi cảnh sắc như phong cảnh đổi trong một diorama.
Nếu chiếc Nautilus đang chìm dưới nước trong các lần mất cân bằng ấy, chúng tôi nghe những tiếng động phát sinh lan dưới nước với cường độ khủng khiếp, và sự sụp đổ của các khối này tạo ra các xoáy đáng sợ xuống tận các tầng thấp của đại dương. Khi ấy chiếc Nautilus lắc ngang và chúi dọc như con tàu bị bỏ mặc cho cơn thịnh nộ của các yếu tố.
Thường xuyên, khi không còn thấy lối ra nào, tôi tưởng chúng tôi bị giam vĩnh viễn, nhưng Thuyền trưởng Nemo, được bản năng dẫn dắt, phát hiện các lối mới từ những dấu hiệu nhỏ nhất. Ông không bao giờ sai khi quan sát những sợi nước xanh nhạt mảnh mai vạch qua các dải băng. Vì thế tôi chắc ông đã từng liều đưa chiếc Nautilus vào giữa các biển Nam Cực.
Tuy nhiên, trong ngày 16 tháng 3, các dải băng này chắn hoàn toàn đường chúng tôi. Đó chưa phải Vành Đai Băng, chỉ là những ice fields khổng lồ bị cái lạnh kết dính với nhau. Chướng ngại này không thể ngăn Thuyền trưởng Nemo, và ông phóng con tàu vào các dải băng với sức dữ tợn khủng khiếp. Chiếc Nautilus đi vào các khối giòn này như một cái nêm, chẻ chúng ra với những tiếng rạn nứt đáng sợ. Nó là một cây phá thành kiểu cũ được đẩy bằng sức mạnh vô hạn. Bị hất tung lên cao, mảnh băng rơi xuống quanh chúng tôi như mưa đá. Chỉ bằng sức mạnh thô bạo, tàu ngầm tự khắc ra một kênh cho mình. Bị đà cuốn đi, con tàu đôi khi leo lên trên các dải băng này và nghiền nát chúng bằng trọng lượng của nó, hoặc lúc khác, khi bị nhốt bên dưới các ice fields, nó chẻ chúng bằng các chuyển động chúi dọc đơn giản, tạo ra những lỗ thủng rộng.
Những cơn gió giật dữ dội tấn công chúng tôi suốt ban ngày. Nhờ một số màn sương dày, chúng tôi không thể nhìn từ đầu này đến đầu kia của sàn ngoài. Gió đột ngột đổi hướng tới mọi điểm trên la bàn. Tuyết chất thành các lớp chặt đến mức phải đục ra bằng những nhát cuốc chim. Ngay ở nhiệt độ chỉ -5 độ centigrade, mọi phần bên ngoài của chiếc Nautilus đều phủ băng. Bộ dây buồm của một con tàu hẳn sẽ không thể dùng được, vì mọi bộ phận đều bị kẹt trong rãnh ròng rọc. Chỉ một tàu không buồm, chạy bằng động cơ điện không cần than, mới có thể đối mặt những vĩ độ cao như thế.
Trong các điều kiện này, phong vũ biểu nhìn chung vẫn khá thấp. Nó tụt tới 73,5 xăngtimét. Chỉ báo la bàn của chúng tôi không còn bảo đảm nào. Các kim rối loạn sẽ chỉ những hướng trái ngược khi chúng tôi tiến gần cực từ nam, vốn không trùng với Nam Cực địa lý. Thật vậy, theo nhà thiên văn Hansteen, cực từ này nằm khá gần vĩ độ 70 độ và kinh độ 130 độ, hoặc nếu theo các quan sát của Louis-Isidore Duperrey, ở kinh độ 135 độ và vĩ độ 70 độ 30′. Vì vậy chúng tôi phải mang la bàn tới các phần khác nhau của con tàu, lấy nhiều số đo và tính trung bình. Thường khi chúng tôi chỉ có thể vạch đường bằng phỏng đoán, một phương pháp kém thỏa đáng giữa các lối đi quanh co mà mốc nhận dạng liên tục thay đổi.
Cuối cùng, ngày 18 tháng 3, sau hai mươi lần tấn công vô ích, chiếc Nautilus bị chặn hẳn. Không còn là một stream, patch hay field băng nữa—đó là một rào chắn bất tận, bất động, hình thành từ các núi băng hợp nhất với nhau.
“Vành Đai Băng!” người Canada nói với tôi.
Đối với Ned Land, cũng như với mọi nhà hàng hải trước chúng tôi, tôi biết đây là chướng ngại lớn không thể vượt qua. Khi mặt trời xuất hiện trong chốc lát gần trưa, Thuyền trưởng Nemo đo được một vị trí khá chính xác, cho biết chúng tôi ở kinh độ 51 độ 30′ và vĩ độ 67 độ 39′ nam. Đây là một vị trí đã tiến khá sâu vào các miền Nam Cực này.
Còn về bề mặt lỏng của biển, trước mắt chúng tôi không còn chút dáng vẻ nào của nó. Trước mũi thúc của chiếc Nautilus trải ra những đồng bằng vỡ vụn mênh mông, một mớ hỗn độn các khối rối rắm với toàn bộ vẻ ngẫu nhiên lộn xộn đặc trưng của mặt sông ít lâu trước khi băng tan; nhưng trong trường hợp này, tỷ lệ thật khổng lồ. Đây đó dựng lên các đỉnh nhọn, các tháp mảnh vươn cao tới 200 foot; xa hơn, một chuỗi vách dốc cắt dựng mang màu xám nhạt, những tấm gương khổng lồ phản chiếu các tia hiếm hoi của mặt trời nửa chìm trong sương. Xa hơn nữa, một im lặng trần trụi ngự trị trong khung cảnh tự nhiên hoang vắng này, một im lặng chỉ bị phá vỡ lác đác bởi tiếng đập cánh của petrel hay puffin. Đến lúc này, mọi thứ đều đông cứng, cả âm thanh.
Vậy chiếc Nautilus phải dừng lại trong hành trình táo bạo của nó giữa các dải băng này.
“Thưa ngài,” Ned Land nói với tôi hôm ấy, “nếu thuyền trưởng của ngài đi xa hơn...”
“Thì sao?”
“Ông ta sẽ là siêu nhân.”
“Vì sao, Ned?”
“Bởi không ai vượt qua được Vành Đai Băng. Thuyền trưởng của ngài là người mạnh mẽ, nhưng quỷ tha ma bắt, ông ta không mạnh hơn tự nhiên. Nếu bà ta vạch một đường ranh, thì ngài phải dừng ở đó, muốn hay không!”
“Đúng, Ned Land, nhưng tôi vẫn muốn biết sau Vành Đai Băng này là gì! Hãy nhìn nguồn bực tức lớn nhất của tôi—một bức tường!”
“Ngài nói đúng,” Conseil nói. “Tường được phát minh chỉ để làm các nhà khoa học bực mình. Mọi bức tường nên bị cấm.”
“Tốt thôi!” người Canada chen vào. “Nhưng chúng ta đã biết sau Vành Đai Băng này là gì rồi.”
“Gì?” tôi hỏi.
“Băng, băng, và thêm băng.”
“Ông có thể chắc về điều đó, Ned,” tôi đáp, “nhưng tôi thì không. Vì thế tôi muốn tự mình xem.”
“Chà, giáo sư,” người Canada đáp, “ngài cứ bỏ ý nghĩ đó đi! Ngài đã tới Vành Đai Băng, thế đã đủ xa rồi, nhưng ngài sẽ không đi xa hơn, cả Thuyền trưởng Nemo của ngài hay chiếc Nautilus của ông ta cũng vậy. Và dù ông ta muốn hay không, chúng ta sẽ lại đi về phía bắc, nói cách khác, tới xứ sở của những người biết điều.”
Tôi phải thừa nhận Ned Land đúng, và cho đến khi những con tàu được chế tạo để đi trên các dải băng, chúng sẽ phải dừng lại ở Vành Đai Băng.
Thật vậy, bất chấp các nỗ lực, bất chấp những phương pháp mạnh mẽ nó dùng để chẻ băng, chiếc Nautilus bị buộc phải bất động. Thông thường, khi người ta không thể đi xa hơn, người ta vẫn có lựa chọn trở lại đường cũ. Nhưng ở đây, quay lại cũng bất khả như tiến lên, bởi mọi lối đi đã đóng lại sau lưng chúng tôi, và nếu tàu ngầm của chúng tôi đứng yên dù chỉ chút ít, nó sẽ bị băng đóng chặt không chậm trễ. Đó chính xác là điều xảy ra gần hai giờ chiều, và băng mới cứ hình thành trên các mạn tàu với tốc độ đáng kinh ngạc. Tôi phải thừa nhận rằng sự chỉ huy của Thuyền trưởng Nemo đã hết sức thiếu thận trọng.
Đúng lúc ấy tôi ở trên sàn ngoài. Quan sát tình hình một lúc, thuyền trưởng nói với tôi:
“Thế nào, giáo sư! Ông nghĩ gì?”
“Tôi nghĩ chúng ta mắc kẹt, thuyền trưởng.”
“Mắc kẹt! Ông muốn nói gì?”
“Ý tôi là chúng ta không thể tiến, lùi hay sang ngang. Tôi nghĩ đó là định nghĩa chuẩn của ‘mắc kẹt,’ ít nhất trong thế giới văn minh.”
“Vậy, Giáo sư Aronnax, ông nghĩ chiếc Nautilus sẽ không thể nổi thoát?”
“Chỉ với khó khăn lớn nhất, thuyền trưởng, vì mùa đã quá muộn để ông trông vào một đợt băng tan.”
“Ôi, giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo đáp bằng giọng mỉa mai, “ông không bao giờ thay đổi! Ông chỉ thấy trở ngại và chướng ngại! Tôi hứa với ông, chiếc Nautilus không chỉ sẽ nổi thoát, nó còn sẽ đi xa hơn nữa!”
“Xa hơn về phía nam?” tôi hỏi, nhìn thuyền trưởng trân trối.
“Phải, thưa ông, nó sẽ đi tới cực.”
“Tới cực!” tôi kêu lên, không kìm được một cử động hoài nghi.
“Phải,” thuyền trưởng lạnh lùng đáp, “cực Nam Cực, điểm chưa biết được mọi kinh tuyến trên địa cầu cắt qua. Như ông biết, tôi làm bất cứ điều gì mình thích với chiếc Nautilus.”
Phải, tôi biết điều đó! Tôi biết con người này táo bạo đến mức liều lĩnh. Nhưng vượt qua mọi chướng ngại quanh Nam Cực—còn khó chạm tới hơn Bắc Cực, nơi các nhà hàng hải táo bạo nhất vẫn chưa đạt được—chẳng phải đó là một công trình hoàn toàn điên rồ, một việc chỉ có thể nảy ra trong bộ óc của người mất trí sao?
Rồi tôi chợt nghĩ đến việc hỏi Thuyền trưởng Nemo liệu ông đã từng phát hiện cực này, nơi chưa con người nào từng giẫm chân tới, hay chưa.
“Chưa, thưa ông,” ông đáp tôi, “nhưng chúng ta sẽ cùng phát hiện nó. Nơi kẻ khác thất bại, tôi sẽ thành công. Chưa bao giờ chiếc Nautilus của tôi đi xa đến thế vào các biển cực nam này, nhưng tôi nhắc lại: nó sẽ còn đi xa hơn nữa.”
“Tôi muốn tin ông, thuyền trưởng,” tôi tiếp tục bằng giọng hơi mỉa mai. “Ồ, tôi tin ông! Hãy xông tới! Không có chướng ngại nào cho chúng ta! Hãy đập tan Vành Đai Băng này! Hãy cho nổ tung nó, và nếu nó vẫn chống cự, hãy gắn cánh cho chiếc Nautilus và bay qua nó!”
“Qua nó, giáo sư?” Thuyền trưởng Nemo bình thản đáp. “Không, không phải qua nó, mà dưới nó.”
“Dưới nó!” tôi kêu lên.
Một tia sáng bất ngờ về các kế hoạch của Thuyền trưởng Nemo vừa lóe qua tâm trí tôi. Tôi đã hiểu. Những tài năng kỳ diệu của chiếc Nautilus sẽ lại được đưa vào công trình siêu phàm này!
“Tôi thấy chúng ta bắt đầu hiểu nhau, giáo sư,” Thuyền trưởng Nemo nói với tôi bằng nửa nụ cười. “Ông đã thoáng thấy khả năng—còn tôi, tôi sẽ nói là thành công—của nỗ lực này. Những thao tác không khả thi đối với một con tàu thông thường lại dễ dàng đối với chiếc Nautilus. Nếu một lục địa nổi lên ở cực, chúng ta sẽ dừng trước lục địa ấy. Nhưng mặt khác, nếu biển mở rửa qua cực, chúng ta sẽ đi tới chính nơi ấy!”
“Đúng,” tôi nói, bị cuốn theo lập luận của thuyền trưởng. “Dù bề mặt biển đã đông cứng thành băng, các tầng dưới của nó vẫn mở, nhờ công lý thiêng liêng kia đặt mật độ tối đa của nước mặn cao hơn điểm đóng băng của nó một độ. Và nếu tôi không nhầm, phần chìm của Vành Đai Băng này có tỷ lệ bốn trên một so với phần nổi.”
“Gần đúng, giáo sư. Với mỗi foot băng sơn trên mặt biển, còn ba foot nữa bên dưới. Bấy giờ, vì các núi băng này không vượt quá chiều cao 100 mét, chúng chỉ chìm tới độ sâu 300 mét. Và 300 mét là gì đối với chiếc Nautilus?”
“Chẳng là gì cả, thưa ông.”
“Chúng ta thậm chí có thể xuống những độ sâu lớn hơn và tìm tầng nhiệt độ chung của mọi nước đại dương, và ở đó chúng ta sẽ thản nhiên chống chịu cái lạnh -30 độ hay -40 độ trên bề mặt.”
“Đúng, thưa ông, rất đúng,” tôi đáp, càng lúc càng phấn khích.
“Khó khăn duy nhất của chúng ta,” Thuyền trưởng Nemo tiếp tục, “nằm ở việc chúng ta phải ở dưới nước nhiều ngày mà không đổi mới nguồn không khí.”
“Chỉ thế thôi sao?” tôi đáp. “Chiếc Nautilus có các bình khí khổng lồ; chúng ta sẽ nạp đầy chúng và chúng sẽ cung cấp toàn bộ oxy chúng ta cần.”
“Suy nghĩ hay lắm, Giáo sư Aronnax,” thuyền trưởng mỉm cười đáp. “Nhưng vì tôi không muốn bị buộc tội liều lĩnh, tôi báo trước với ông mọi phản đối của mình.”
“Ông còn gì nữa?”
“Chỉ một điều. Nếu có một biển ở Nam Cực, có thể biển ấy hoàn toàn đóng băng bên trên, nên chúng ta không thể nổi lên mặt nước!”
“Thưa ông thân mến, ông đã quên rằng chiếc Nautilus được trang bị một mũi thúc đáng sợ sao? Chẳng lẽ nó không thể được phóng xiên vào các dải băng ấy, và chúng sẽ vỡ ra vì va chạm?”
“À, giáo sư, hôm nay ông đầy ý tưởng!”
“Hơn nữa, thuyền trưởng,” tôi thêm với sự hăng hái còn lớn hơn, “vì sao chúng ta lại không tìm thấy biển mở ở Nam Cực như ở Bắc Cực? Các cực nhiệt độ lạnh và các cực địa lý không trùng nhau ở cả bán cầu bắc lẫn nam, và cho đến khi có bằng chứng ngược lại, chúng ta có thể giả định rằng hai điểm này trên trái đất hoặc có một lục địa, hoặc có một đại dương không băng.”
“Tôi nghĩ như ông, Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo đáp. “Tôi chỉ xin chỉ ra rằng sau khi nêu quá nhiều phản đối chống lại kế hoạch của tôi, giờ ông lại đang nghiền nát tôi dưới những lập luận bênh vực nó.”
Thuyền trưởng Nemo đã đúng. Tôi đang vượt ông trong táo bạo! Chính tôi đang cuốn ông tới cực. Tôi đang dẫn đường, tôi ở phía trước... nhưng không, đồ ngốc! Thuyền trưởng Nemo đã biết rõ mặt thuận và chống của vấn đề này, và ông thấy thích thú khi nhìn anh bay vào những tưởng tượng bất khả!
Tuy nhiên, ông không phí một khoảnh khắc nào. Theo tín hiệu của ông, viên phó chỉ huy xuất hiện. Hai người trao đổi nhanh bằng ngôn ngữ khó hiểu của họ, và hoặc viên phó chỉ huy đã được báo trước, hoặc ông thấy kế hoạch khả thi, bởi ông không tỏ vẻ ngạc nhiên.
Nhưng dù vô cảm đến đâu, ông cũng không thể vô cảm hoàn hảo hơn Conseil khi tôi nói với chàng trai tốt bụng ý định của chúng tôi là tiến tới Nam Cực. Anh chào đón thông báo của tôi bằng câu “Như ngài muốn” quen thuộc, và tôi phải bằng lòng với thế. Còn Ned Land, không có đôi vai con người nào từng nhún cao hơn đôi vai của người Canada ấy.
“Thật tình, thưa ngài,” ông nói với tôi. “Ngài và Thuyền trưởng Nemo của ngài, tôi thương hại cả hai!”
“Nhưng chúng ta sẽ đi tới cực, ông Land.”
“Có thể, nhưng ngài sẽ không trở lại!”
Và Ned Land quay về cabin của mình, “để khỏi làm điều gì tuyệt vọng,” ông nói khi rời tôi.
Trong lúc ấy, công việc chuẩn bị cho nỗ lực táo bạo này đang được tiến hành. Các bơm mạnh của chiếc Nautilus nén không khí vào các bình và giữ nó dưới áp lực cao. Gần bốn giờ, Thuyền trưởng Nemo báo với tôi rằng các cửa sập sàn ngoài sắp đóng. Tôi nhìn lần cuối Vành Đai Băng dày đặc mà chúng tôi sắp chinh phục. Thời tiết đẹp, bầu trời khá trong, cái lạnh khá buốt, tức -12 độ centigrade; nhưng sau khi gió lặng, nhiệt độ này không có vẻ quá khó chịu.
Trang bị cuốc chim, khoảng mười người trèo lên hai bên chiếc Nautilus và đục rời lớp băng quanh tấm vỏ dưới của con tàu, phần ấy chẳng mấy chốc được giải phóng. Công việc này được thực hiện nhanh chóng vì băng mới vẫn còn mỏng. Tất cả chúng tôi trở lại bên trong. Các két dằn chính được đổ đầy bằng nước chưa đông ở đường nổi của chúng tôi. Chiếc Nautilus lặn xuống không chậm trễ.
Tôi ngồi trong phòng khách cùng Conseil. Qua cửa sổ mở, chúng tôi nhìn chăm chú các tầng dưới của đại dương cực nam này. Nhiệt kế lại tăng lên. Kim áp kế lệch trên mặt số.
Ở độ sâu khoảng 300 mét, đúng như Thuyền trưởng Nemo đã dự đoán, chúng tôi đi dưới mặt dưới nhấp nhô của Vành Đai Băng. Nhưng chiếc Nautilus còn lặn sâu hơn. Nó đạt độ sâu 800 mét. Trên bề mặt, nước này cho nhiệt độ -12 độ centigrade, nhưng giờ nó chỉ còn -10 độ. Hai độ đã được giành thêm. Nhờ thiết bị sưởi của nó, không cần nói, nhiệt độ của chiếc Nautilus vẫn ở mức cao hơn nhiều. Mọi thao tác được thực hiện với độ chính xác phi thường.
“Với tất cả sự kính trọng dành cho ngài,” Conseil nói với tôi, “chúng ta sẽ vượt qua nó.”
“Tôi hoàn toàn trông đợi như vậy!” tôi đáp bằng giọng tin chắc sâu sắc.
Giờ ở vùng nước mở, chiếc Nautilus đi thẳng tới cực mà không lệch khỏi kinh tuyến 52. Từ vĩ độ 67 độ 30′ đến 90 độ, còn hai mươi hai độ rưỡi vĩ độ phải vượt qua, nói cách khác, hơi hơn 500 dặm biển. Chiếc Nautilus lấy tốc độ trung bình hai mươi sáu dặm một giờ, tốc độ của tàu tốc hành. Nếu giữ được nhịp này, bốn mươi giờ là đủ để tới cực.
Trong một phần đêm, sự mới lạ của hoàn cảnh giữ Conseil và tôi bên cửa sổ phòng khách. Biển được chiếu sáng bởi các tia điện của đèn hiệu. Nhưng các vực sâu hoang vắng. Cá không nấn ná trong những vùng nước bị giam cầm này. Ở đây chúng chỉ tìm thấy một lối đi để từ Nam Băng Dương ra biển mở ở cực. Chúng tôi tiến nhanh. Có thể cảm thấy điều ấy trong những rung động của thân thép dài.
Gần hai giờ sáng, tôi đi chợp mắt vài giờ. Conseil cũng vậy. Tôi không gặp Thuyền trưởng Nemo khi đi xuống các hành lang. Tôi cho rằng ông đang ở trong buồng lái.
Ngày hôm sau, 19 tháng 3, lúc năm giờ sáng, tôi trở lại vị trí của mình trong phòng khách. Đồng hồ điện đo tốc độ cho biết chiếc Nautilus đã giảm tốc. Đến lúc ấy nó đang nổi lên mặt nước, nhưng thận trọng, trong khi chậm rãi xả rỗng các két dằn.
Tim tôi đập mạnh. Liệu chúng tôi sẽ nổi vào vùng mở và lại tìm thấy không khí vùng cực?
Không. Một cú xóc cho tôi biết chiếc Nautilus đã va vào bụng dưới của Vành Đai Băng, vẫn còn rất dày nếu xét từ âm thanh rỗng kèm theo. Thật vậy, chúng tôi đã “chạm đáy,” dùng thuật ngữ hàng hải, nhưng theo chiều ngược lại và ở độ sâu 3.000 foot. Như vậy, trên đầu chúng tôi có 4.000 foot băng, trong đó 1.000 foot nhô lên trên nước. Vậy Vành Đai Băng ở đây cao hơn lúc chúng tôi gặp nó ở vùng ngoài rìa. Một tình huống chẳng mấy khích lệ.
Nhiều lần trong ngày ấy, chiếc Nautilus lặp lại thí nghiệm tương tự và lần nào cũng va vào bề mặt tạo thành trần phía trên nó. Có lúc con tàu gặp băng ở độ sâu 900 mét, cho thấy độ dày 1.200 mét, trong đó 300 mét nhô lên trên mực đại dương. Chiều cao này đã tăng gấp ba kể từ lúc chiếc Nautilus lặn xuống dưới sóng.
Tôi ghi chép tỉ mỉ các độ sâu khác nhau này, thu được mặt cắt dưới nước của dãy núi úp ngược trải dài dưới biển.
Đến tối, tình hình của chúng tôi vẫn không cải thiện. Băng vẫn sâu từ 400 đến 500 mét. Rõ ràng nó đang co lại, nhưng vẫn còn một rào chắn khủng khiếp giữa chúng tôi và mặt đại dương!
Khi ấy là tám giờ. Lẽ ra không khí trong chiếc Nautilus phải được thay mới bốn giờ trước, theo thông lệ hằng ngày trên tàu. Nhưng tôi không chịu khổ nhiều, mặc dù Thuyền trưởng Nemo vẫn chưa cần đến oxy bổ sung trong các bình khí của ông.
Đêm ấy giấc ngủ của tôi chập chờn. Hy vọng và sợ hãi thay nhau vây hãm tôi. Tôi thức dậy nhiều lần. Chiếc Nautilus tiếp tục dò dẫm. Gần ba giờ sáng, tôi quan sát thấy chúng tôi gặp bụng dưới của Vành Đai Băng ở độ sâu chỉ năm mươi mét. Như vậy chỉ 150 foot ngăn chúng tôi với mặt nước. Từng chút một Vành Đai Băng lại trở thành một ice field. Núi đang biến lại thành đồng bằng.
Mắt tôi không rời áp kế. Chúng tôi tiếp tục nổi lên theo đường chéo, đi dọc bề mặt sáng bóng lấp lánh dưới các tia điện của chúng tôi. Phía trên và phía dưới, Vành Đai Băng đang hạ xuống theo những sườn dài. Dặm này qua dặm khác, nó mỏng dần.
Cuối cùng, lúc sáu giờ sáng trong ngày đáng nhớ 19 tháng 3 ấy, cửa phòng khách mở ra. Thuyền trưởng Nemo xuất hiện.
“Biển mở!” ông nói với tôi.
### CHƯƠNG 14
Nam Cực
TÔI LAO LÊN sàn ngoài. Phải, biển mở! Chỉ vài tảng băng trôi thưa thớt, vài băng sơn di động; một vùng biển trải dài vào khoảng xa; vô số chim trên không trung và vô số cá dưới nước, nước đổi từ xanh đậm đến xanh ôliu tùy độ sâu. Nhiệt kế chỉ 3 độ centigrade. Như thể một mùa xuân tương đối đã bị nhốt sau Vành Đai Băng ấy, mà các khối xa của nó in trên chân trời phía bắc.
“Chúng ta ở cực chưa?” tôi hỏi thuyền trưởng, tim đập mạnh.
“Tôi không biết,” ông đáp. “Đúng trưa chúng ta sẽ xác định vị trí.”
“Nhưng mặt trời có hiện qua màn sương này không?” tôi nói, nhìn bầu trời xám nhạt.
“Nó chiếu yếu đến đâu cũng đủ cho tôi,” thuyền trưởng đáp.
Về phía nam, cách chiếc Nautilus mười dặm, một đảo nhỏ đơn độc nhô lên cao 200 mét. Chúng tôi tiến về phía nó, nhưng thận trọng, vì vùng biển này có thể rải đầy đá ngầm.
Trong một giờ, chúng tôi tới đảo nhỏ. Hai giờ sau, chúng tôi đã đi hết một vòng quanh nó. Chu vi của nó đo được bốn đến năm dặm. Một kênh hẹp tách nó khỏi một bờ đáng kể, có lẽ là một lục địa mà chúng tôi không thể thấy giới hạn. Sự tồn tại của bờ này dường như chứng thực các giả thuyết của Chỉ huy Maury. Về thực chất, nhà bác học Mỹ tài tình này đã lưu ý rằng giữa Nam Cực và vĩ tuyến 60, biển phủ đầy băng trôi có kích thước lớn hơn nhiều so với bất cứ băng nào được thấy ở bắc Đại Tây Dương. Từ sự kiện này ông rút ra kết luận rằng Vòng Nam Cực phải chứa các bờ đáng kể, vì băng sơn không thể hình thành trên biển khơi mà chỉ dọc các bờ biển. Theo các tính toán của ông, khối băng đóng vây quanh cực nam tạo thành một chỏm băng rộng lớn có bề ngang hẳn đạt tới 4.000 kilômét.
Trong lúc ấy, để tránh mắc cạn, chiếc Nautilus dừng lại cách một bãi biển đội những đống đá tráng lệ ba cable. Chiếc xuồng được hạ xuống biển. Hai thủy thủ mang dụng cụ, thuyền trưởng, Conseil và tôi lên xuồng. Lúc ấy mười giờ sáng. Tôi không thấy Ned Land. Chắc chắn, trước sự hiện diện của Nam Cực, người Canada ghét phải nuốt lời mình.
Vài nhịp chèo đưa chiếc xuồng đến cát, nơi nó mắc cạn. Ngay khi Conseil sắp nhảy lên bờ, tôi giữ anh lại.
“Thưa Thuyền trưởng Nemo,” tôi nói, “vinh dự đặt chân đầu tiên lên bờ này thuộc về ông.”
“Phải, thưa ông,” thuyền trưởng đáp, “và nếu tôi không do dự khi giẫm lên vùng đất cực này, đó là vì cho đến nay chưa một con người nào để lại dấu chân ở đây.”
Nói vậy, ông nhẹ nhàng nhảy lên cát. Tim ông hẳn đang đập với niềm xúc động dữ dội. Ông leo lên một tảng đá nhô ra kết thúc bằng một mũi đất nhỏ, và ở đó, câm lặng, bất động, khoanh tay, mắt rực lửa, ông dường như đang tuyên bố quyền sở hữu các miền cực nam này. Sau khi chìm trong cơn xuất thần ấy năm phút, ông quay lại phía chúng tôi.
“Khi nào ông sẵn sàng, thưa ông,” ông gọi tôi.
Tôi bước ra, Conseil theo sát, để hai người lại trên xuồng.
Trên một vùng rộng, đất gồm thứ sỏi núi lửa gọi là “tuff,” màu đỏ nhạt như làm từ gạch nghiền. Mặt đất phủ xỉ, dòng dung nham và đá bọt. Nguồn gốc núi lửa của nó không thể nhầm. Ở vài nơi, các lỗ khói mảnh tỏa mùi lưu huỳnh, cho thấy những ngọn lửa bên trong vẫn giữ quyền lực rộng lớn của chúng. Tuy nhiên, khi leo lên một vách cao, tôi không thấy núi lửa nào trong bán kính nhiều dặm. Trong các vùng Nam Cực này, như ai cũng biết, Sir James Clark Ross đã tìm thấy các miệng núi Erebus và Terror đang hoạt động đầy đủ trên kinh tuyến 167 ở vĩ độ 77 độ 32′.
Thực vật trên lục địa hoang vắng này khiến tôi thấy khá hạn chế. Vài địa y thuộc loài Usnea melanoxanthra trải rộng trên đá đen. Toàn bộ hệ thực vật nghèo nàn của vùng này gồm vài mầm hiển vi, những diatom sơ đẳng tạo bởi một loại tế bào nằm giữa hai vỏ giàu thạch anh, cùng các fucus dài màu tím và đỏ thẫm, được nâng bởi những túi khí nhỏ và bị sóng dạt lên bờ.
Bãi biển rải đầy thân mềm: những con trai nhỏ, limpet, sò tim vỏ trơn, và đặc biệt là vài con bướm biển có thân thuôn dài, màng mỏng, đầu tạo thành từ hai thùy tròn. Tôi cũng thấy vô số bướm biển cực bắc dài ba xăngtimét, thứ mà một con cá voi tấm sừng có thể nuốt hàng nghìn con trong một ngụm. Vùng nước mở sát bờ sống động với những pteropod duyên dáng này, những con bướm thật sự của biển.
Trong số những động vật hình cây khác có mặt trong các vùng nước nông này, có vài dạng san hô cây mà, theo Sir James Clark Ross, sống trong các biển Nam Cực ở độ sâu tới 1.000 mét; rồi san hô alcyon nhỏ thuộc loài Procellaria pelagica, cũng một số lượng lớn sao biển riêng của các khí hậu này, cùng vài crinoid lông chim lấp lánh trên cát.
Nhưng trong không trung, sự sống mới là siêu dồi dào. Ở đó, nhiều loài chim bay và chao lượn hàng nghìn con, làm chúng tôi điếc tai bằng tiếng kêu. Chen chúc trên đá, các loài chim khác không sợ hãi nhìn chúng tôi đi qua và thân mật ép sát chân chúng tôi. Đó là auk, linh hoạt và mềm mại trong nước, nơi đôi khi chúng bị nhầm với cá bonito nhanh nhẹn, cũng như vụng về và nặng nề trên cạn. Chúng phát ra những tiếng kêu kỳ quái và tham dự vào vô số hội nghị công cộng, ồn ào nhiều mà hành động ít.
Trong số các loài chim khác, tôi ghi nhận vài con sheathbill thuộc họ chim lội, cỡ chim bồ câu, màu trắng, mỏ ngắn và hình nón, mắt viền các vòng đỏ. Conseil tích trữ một ít, bởi khi được nấu đúng cách, các sinh vật có cánh này tạo thành một món dễ chịu. Trên không trung lướt qua hải âu albatross muội với sải cánh bốn mét, những loài chim được gọi rất đúng là “kền kền của đại dương,” cùng các petrel khổng lồ, trong đó có vài con cánh cong, những kẻ ăn hải cẩu nhiệt thành được gọi là quebrantahuesos,\* và chim bồ câu Cape, một dạng vịt nhỏ, phần trên thân đen trắng—tóm lại, cả một loạt petrel, vài con trắng nhạt với cánh viền nâu, vài con khác màu xanh và chỉ riêng có ở các biển Nam Cực này, loài trước “nhiều dầu đến mức,” tôi nói với Conseil, “cư dân quần đảo Faroe chỉ cần gắn vào chim một cái bấc, rồi châm lửa.”
\*Tiếng Tây Ban Nha: “chim ưng biển.” BTV.
“Với bổ sung nhỏ ấy,” Conseil đáp, “những con chim này sẽ thành những chiếc đèn hoàn hảo! Sau chuyện này, chúng ta nên đòi tự nhiên trang bị sẵn bấc cho chúng!”
Xa hơn nửa dặm, mặt đất hoàn toàn chi chít tổ chim cánh cụt, những hang đẻ trứng từ đó vô số chim chui ra. Sau này Thuyền trưởng Nemo cho săn hàng trăm con vì thịt đen của chúng rất dễ ăn. Chúng kêu như lừa. Kích thước bằng ngỗng, thân màu đá phiến, bụng trắng và vòng cổ màu vàng chanh, những con vật này để cho người ta ném đá chết mà không cố gắng chạy thoát.
Trong lúc ấy, sương mù không tan, và đến mười một giờ mặt trời vẫn chưa xuất hiện. Sự vắng mặt của nó làm tôi bất an. Không có nó thì không thể quan sát thiên văn. Vậy làm sao chúng tôi biết được liệu mình đã tới cực hay chưa?
Khi tôi trở lại bên Thuyền trưởng Nemo, tôi thấy ông im lặng tựa vào một mảnh đá và nhìn trời. Ông có vẻ nôn nóng, bối rối. Nhưng chúng tôi có thể làm gì? Con người táo bạo và quyền năng này không thể điều khiển mặt trời như ông điều khiển biển.
Trưa đến mà vầng sáng ban ngày không xuất hiện lấy một khoảnh khắc. Thậm chí không thể tìm ra nơi nó ẩn phía sau màn sương. Và chẳng mấy chốc màn sương này bắt đầu ngưng lại thành tuyết.
“Đến ngày mai,” thuyền trưởng chỉ nói thế; và chúng tôi trở lại chiếc Nautilus, giữa những luồng tuyết trong không khí.
Trong lúc chúng tôi vắng mặt, lưới đã được thả, và tôi say mê quan sát số cá vừa được kéo lên tàu. Các biển Nam Cực dùng làm nơi ẩn náu cho một số lượng cực lớn cá di cư, trốn khỏi bão tố ở các vùng cận cực, thật ra chỉ để trượt xuống cổ họng cá heo chuột và hải cẩu. Tôi ghi nhận vài con cá bống bò phương nam một decimét, một loài cá sụn trắng nhạt đầy các sọc xám xanh và có gai, rồi vài con cá thỏ Nam Cực dài ba foot, thân rất mảnh, da trắng bạc trơn, đầu tròn, phía trên có ba vây, mõm kết thúc bằng một vòi cong ngược về phía miệng. Tôi nếm thịt nó nhưng thấy nhạt nhẽo, bất chấp nhận xét của Conseil, vốn phần lớn là tán thành.
Trận bão tuyết kéo dài đến ngày hôm sau. Không thể ở trên sàn ngoài. Từ phòng khách, nơi tôi đang ghi chép các sự việc của chuyến du ngoạn tới lục địa vùng cực này, tôi có thể nghe tiếng kêu của petrel và albatross đang vui đùa giữa cơn hỗn loạn. Chiếc Nautilus không nằm yên, và đi dọc bờ, nó tiến thêm chừng mười dặm về phía nam trong thứ nửa sáng còn lại do mặt trời để lại khi lướt sát mép chân trời.
Ngày hôm sau, 20 tháng 3, tuyết ngừng rơi. Cái lạnh hơi buốt hơn. Nhiệt kế chỉ -2 độ centigrade. Sương mù đã tan, và hôm ấy tôi hy vọng phép quan sát lúc chính ngọ của chúng tôi có thể được thực hiện.
Vì Thuyền trưởng Nemo vẫn chưa xuất hiện, chỉ Conseil và tôi được xuồng đưa lên bờ. Tính chất đất vẫn như cũ: núi lửa. Dấu vết dung nham, xỉ và đá bazan có ở khắp nơi, nhưng tôi không thể tìm thấy miệng núi đã phun chúng ra. Ở đây cũng như đằng kia, vô số chim chóc làm sống động phần này của lục địa vùng cực. Nhưng chúng phải chia sẻ lãnh địa của mình với những đàn thú biển khổng lồ nhìn chúng tôi bằng đôi mắt hiền lành. Đó là hải cẩu thuộc nhiều loài khác nhau, con thì duỗi dài trên đất, con thì nằm trên các tảng băng trôi, vài con rời biển hoặc trở lại biển. Chưa từng đối diện với con người, chúng không chạy khi chúng tôi đến gần, và tôi đếm được quanh đó đủ số lượng để cung cấp lương thực cho vài trăm con tàu.
“Trời đất,” Conseil nói, “may mà Ned Land không đi cùng chúng ta!”
“Sao vậy, Conseil?”
“Vì tay thợ săn liều lĩnh ấy sẽ giết sạch mọi con vật ở đây.”
“Mọi con vật thì có lẽ là nói quá, nhưng thật ra tôi ngờ rằng chúng ta khó lòng ngăn bạn Canada của mình phóng lao vào vài con cá voi tuyệt đẹp này. Điều đó sẽ là một sự xúc phạm đối với Thuyền trưởng Nemo, vì ông ghét việc giết những con thú vô hại một cách vô ích.”
“Ông ấy đúng.”
“Chắc chắn rồi, Conseil. Nhưng nói tôi nghe, anh chưa phân loại xong những mẫu vật tuyệt vời này của hệ động vật biển sao?”
“Ngài biết rõ,” Conseil đáp, “rằng tôi chưa lão luyện trong ứng dụng thực tế. Khi ngài đã nói cho tôi tên những con vật này...”
“Chúng là hải cẩu và hải mã.”
“Hai giống,” Conseil uyên bác của chúng tôi vội nói, “thuộc họ Pinnipedia, bộ Carnivora, nhóm Unguiculata, phân lớp Monodelphia, lớp Mammalia, ngành Vertebrata.”
“Rất tốt, Conseil,” tôi đáp, “nhưng hai giống hải cẩu và hải mã này mỗi giống lại chia thành các loài, và nếu tôi không nhầm, bây giờ chúng ta có dịp thật sự quan sát chúng. Đi nào.”
Lúc ấy là tám giờ sáng. Chúng tôi có bốn giờ riêng cho mình trước khi có thể quan sát mặt trời một cách hữu ích. Tôi dẫn bước chúng tôi tới một vịnh lớn khoét hình lưỡi liềm vào các vách đá granit dọc bãi biển.
Ở đó, quanh chúng tôi, tôi xin thề rằng các bờ biển và các tảng băng trôi chen chúc thú biển đến tận tầm mắt, và tôi bất giác nhìn quanh tìm lão Proteus, người chăn thần thoại canh giữ những đàn súc vật mênh mông của Vua Neptune. Nói chính xác, đó là hải cẩu. Chúng tạo thành những nhóm đực và cái riêng biệt, con cha trông nom gia đình, con mẹ cho con bú, những con non khỏe hơn đã tự lập cách đó vài bước. Khi các động vật có vú này muốn đổi chỗ, chúng di chuyển bằng những cú nhảy nhỏ do co thân lại, được hỗ trợ vụng về bởi những vây chưa phát triển hoàn toàn, vốn, cũng như ở họ hàng bò biển của chúng, tạo thành những cẳng tay thực sự. Trong nước, môi trường lý tưởng của chúng, tôi phải nói rằng những con vật này bơi tuyệt diệu nhờ xương sống mềm dẻo, xương chậu hẹp, lông ngắn sát và chân có màng. Khi nghỉ trên bờ, chúng giữ những tư thế hết sức duyên dáng. Do đó, những nét hiền hòa, vẻ biểu cảm nhạy cảm sánh với vẻ của những người phụ nữ đáng yêu nhất, đôi mắt mềm mại, trong trẻo, những dáng điệu quyến rũ của chúng đã khiến người xưa tôn vinh chúng bằng cách biến hóa con đực thành các thần biển và con cái thành nàng tiên cá.
Tôi lưu ý Conseil về sự phát triển đáng kể của các thùy não ở những loài cá voi thông minh này. Không động vật có vú nào ngoài con người có chất não dồi dào hơn. Vì vậy hải cẩu hoàn toàn có khả năng được giáo dục; chúng là thú nuôi ngoan, và cùng với một số nhà tự nhiên học khác, tôi nghĩ những con vật này có thể được huấn luyện đúng cách để phục vụ đắc lực như chó săn cho ngư dân.
Phần lớn những con hải cẩu này đang ngủ trên đá hoặc cát. Trong số những con được gọi đúng là hải cẩu—không có tai ngoài, khác với sư tử biển có tai nhô ra—tôi quan sát thấy vài biến chủng của loài stenorhynchus, dài ba mét, lông trắng, đầu chó bulldog, và được vũ trang bằng mười chiếc răng ở mỗi hàm: bốn răng cửa ở cả hàm trên lẫn hàm dưới, cộng với hai răng nanh lớn có hình hoa diên vĩ. Giữa chúng trườn qua vài con hải tượng, một dạng hải cẩu có vòi ngắn, linh hoạt; đó là những kẻ khổng lồ của loài, chu vi hai mươi foot và chiều dài mười mét. Chúng không động đậy khi chúng tôi đến gần.
“Những con vật này có nguy hiểm không?” Conseil hỏi tôi.
“Chỉ khi bị tấn công,” tôi đáp. “Nhưng khi những con hải cẩu khổng lồ này bảo vệ con non của chúng, cơn thịnh nộ của chúng thật đáng sợ, và không hiếm khi chúng đập tan một chiếc xuồng dài của ngư dân thành từng mảnh.”
“Chúng có quyền làm vậy,” Conseil đáp.
“Tôi không phủ nhận.”
Cách đó hai dặm, chúng tôi bị một mũi đất chắn lại, nó che vịnh khỏi các ngọn gió nam. Nó đổ thẳng xuống biển, và sóng vỗ bọt trắng vào đó. Từ bên kia gờ đá này vọng lại những tiếng rống ghê sợ, như tiếng một đàn bò có thể phát ra.
“Lạy trời,” Conseil nói, “một dàn đồng ca bò đực sao?”
“Không,” tôi nói, “một dàn đồng ca hải mã.”
“Chúng đang đánh nhau với nhau à?”
“Hoặc đánh nhau hoặc chơi đùa.”
“Với tất cả sự kính trọng dành cho ngài, chuyện này chúng ta phải xem.”
“Vậy thì phải xem thôi, Conseil.”
Và thế là chúng tôi trèo lên những tảng đá đen nhạt này giữa các vụ sụt lở bất ngờ và trên những phiến đá trơn vì băng. Hơn một lần tôi ngã nhào, khiến phần lưng chịu thiệt. Conseil, thận trọng hơn hoặc vững vàng hơn, hầu như không loạng choạng và sẽ đỡ tôi dậy, nói:
“Nếu chân của ngài vui lòng đứng rộng hơn một chút, ngài sẽ giữ được thăng bằng.”
Lên tới gờ cao nhất của mũi đất này, tôi có thể thấy những đồng bằng trắng rộng lớn phủ đầy hải mã. Những con vật này đang chơi đùa với nhau. Chúng gào không phải vì giận mà vì vui.
Hải mã giống hải cẩu ở hình dạng thân thể và cách sắp xếp chi. Nhưng hàm dưới của chúng không có răng nanh và răng cửa, còn răng nanh hàm trên thì gồm hai chiếc ngà dài tám mươi xăngtimét, chu vi ba mươi ba xăngtimét ở ổ răng. Làm bằng ngà đặc, không có vân, cứng hơn ngà voi và ít bị ố vàng hơn, những chiếc răng này được săn lùng rất nhiều. Vì vậy hải mã là nạn nhân của một cuộc săn ngu xuẩn chẳng bao lâu nữa sẽ tiêu diệt sạch chúng, bởi thợ săn bừa bãi tàn sát cả con cái mang thai lẫn con non, và mỗi năm hơn 4.000 cá thể bị giết.
Đi qua gần những con vật lạ này, tôi có thể thong thả quan sát chúng vì chúng không động đậy. Da chúng thô và nặng, màu hung ngả sang nâu đỏ; lông ngắn và không dày lắm. Một số con dài bốn mét. Điềm tĩnh và ít sợ hơn họ hàng phương bắc, chúng không bố trí lính gác canh ở các lối vào nơi cắm trại của mình.
Sau khi quan sát cộng đồng hải mã này, tôi quyết định quay lại. Lúc ấy đã mười một giờ, và nếu Thuyền trưởng Nemo thấy điều kiện thuận lợi để quan sát thiên văn, tôi muốn có mặt trong thao tác ấy. Nhưng tôi không hy vọng mặt trời sẽ hiện ra hôm đó. Nó bị các đám mây ép chặt trên đường chân trời che khỏi mắt chúng tôi. Rõ ràng vầng tinh tú ghen tuông ấy không muốn tiết lộ điểm không thể tới này trên địa cầu cho bất kỳ con người nào.
Tuy vậy tôi quyết định trở lại chiếc Nautilus. Chúng tôi đi theo một lối dốc, hẹp chạy trên đỉnh vách đá. Đến 11 giờ 30, chúng tôi đã tới nơi đổ bộ. Chiếc xuồng mắc cạn đã đưa thuyền trưởng lên bờ. Tôi thấy ông đứng trên một khối bazan. Các dụng cụ của ông đặt bên cạnh. Mắt ông chăm chú vào chân trời phía bắc, nơi mặt trời đang quét theo cung dài của nó.
Tôi tìm một chỗ gần ông và chờ đợi không nói gì. Trưa đến, và cũng như ngày hôm trước, mặt trời không hề xuất hiện.
Đó là vận rủi thuần túy. Các quan sát chính ngọ của chúng tôi vẫn còn thiếu. Nếu ngày mai chúng tôi không thể thu được chúng, cuối cùng chúng tôi sẽ phải từ bỏ mọi hy vọng xác định vị trí của mình.
Về thực chất, hôm nay chính là ngày 20 tháng 3. Ngày mai, ngày 21, là ngày phân điểm; mặt trời sẽ biến mất dưới chân trời trong sáu tháng, không tính khúc xạ, và sau khi nó biến mất, đêm vùng cực dài sẽ bắt đầu. Sau kỳ phân điểm tháng 9, mặt trời đã trồi lên trên chân trời phía bắc, mọc theo những đường xoắn ốc dài cho đến ngày 21 tháng 12. Khi ấy, vào hạ chí của các vùng cực nam này, mặt trời bắt đầu đi xuống trở lại, và ngày mai nó sẽ quăng những tia cuối cùng.
Tôi chia sẻ các suy nghĩ và nỗi sợ của mình với Thuyền trưởng Nemo.
“Ông nói đúng, Giáo sư Aronnax,” ông nói với tôi. “Nếu ngày mai tôi không thể đo cao độ của mặt trời, tôi sẽ không thể thử lại trong sáu tháng nữa. Nhưng chính vì may mắn của người đi biển đã dẫn tôi vào các biển này vào ngày 21 tháng 3, việc xác định vị trí sẽ dễ dàng nếu mặt trời chính ngọ thật sự hiện ra trước mắt chúng ta.”
“Vì sao lại dễ, thuyền trưởng?”
“Bởi khi vầng sáng ban ngày quét theo những đường xoắn ốc dài như thế, khó đo chính xác độ cao của nó trên chân trời, và các dụng cụ của chúng ta dễ mắc sai số nghiêm trọng.”
“Vậy ông có thể làm gì?”
“Tôi chỉ dùng đồng hồ bấm giờ của mình,” Thuyền trưởng Nemo đáp. “Vào trưa mai, ngày 21 tháng 3, nếu sau khi tính đến khúc xạ, đĩa mặt trời bị chân trời phía bắc cắt đúng làm đôi, điều đó có nghĩa là tôi đang ở Nam Cực.”
“Đúng,” tôi nói. “Tuy nhiên, đó không phải chứng cứ chính xác về mặt toán học, bởi phân điểm không nhất thiết xảy ra đúng vào buổi trưa.”
“Không nghi ngờ gì, thưa ông, nhưng sai số sẽ dưới 100 mét, và với chúng ta thế là đủ gần. Vậy hẹn ngày mai.”
Thuyền trưởng Nemo trở lại tàu. Conseil và tôi ở lại phía sau đến năm giờ, khảo sát bãi biển, quan sát và nghiên cứu. Vật khác thường duy nhất tôi nhặt được là một quả trứng auk có kích thước đáng kể, mà một nhà sưu tập hẳn sẽ trả hơn 1.000 franc. Màu kem của nó, cộng với các vệt và dấu điểm tô nó như bao chữ tượng hình, biến nó thành một món đồ trang sức hiếm. Tôi đặt nó vào tay Conseil, và giữ nó như món đồ sứ quý từ Trung Hoa, chàng trai thận trọng, vững chân ấy đưa nó trở lại chiếc Nautilus nguyên vẹn.
Ở đó, tôi đặt quả trứng hiếm này vào một trong các tủ kính của bảo tàng. Tôi ăn tối, thưởng thức ngon miệng một miếng gan hải cẩu tuyệt hảo mà hương vị làm tôi nhớ đến thịt lợn. Rồi tôi đi ngủ; nhưng không quên cầu xin, như một tín đồ Hindu ngoan đạo, ân huệ của vầng tinh tú rạng rỡ.
Ngày hôm sau, 21 tháng 3, vừa sáng tinh mơ lúc năm giờ, tôi leo lên sàn ngoài. Tôi thấy Thuyền trưởng Nemo ở đó.
“Thời tiết đang quang hơn một chút,” ông nói với tôi. “Tôi rất hy vọng. Sau bữa sáng, chúng ta sẽ lên bờ và chọn một điểm quan sát.”
Vấn đề này đã quyết, tôi đi tìm Ned Land. Tôi muốn đưa ông đi cùng. Người Canada bướng bỉnh từ chối, và tôi có thể thấy rõ vẻ mím môi và tính khí cáu kỉnh của ông ngày càng tăng. Trong hoàn cảnh ấy, cuối cùng tôi không tiếc vì ông từ chối. Thật ra, trên bờ có quá nhiều hải cẩu, và không nên để tay ngư dân bốc đồng này trước những cám dỗ như thế.
Ăn sáng xong, tôi lên bờ. Chiếc Nautilus đã đi thêm vài dặm trong đêm. Nó nằm khá xa ngoài khơi, cách bờ chừng một dặm biển, bờ ấy được đội bởi một đỉnh nhọn cao 400 đến 500 mét. Ngoài tôi ra, xuồng chở Thuyền trưởng Nemo, hai thủy thủ và các dụng cụ—nói cách khác, một đồng hồ bấm giờ, một kính viễn vọng và một phong vũ biểu.
Trong lúc băng qua, tôi thấy vô số cá voi tấm sừng thuộc ba loài riêng của các biển cực nam này: cá voi đầu cong (hay “right whale,” theo người Anh), không có vây lưng; cá voi lưng gù thuộc giống Balaenoptera (nghĩa là “cá voi có cánh”), những con vật có bụng nhăn và các vây trắng nhạt khổng lồ mà, bất chấp tên giống, vẫn chưa tạo thành cánh; và cá voi vây, màu vàng nâu, nhanh nhất trong mọi loài cá voi. Loài vật mạnh mẽ này có thể nghe thấy từ rất xa khi nó phun lên các cột khí và hơi cao ngất giống những vòng khói xoáy. Các đàn động vật có vú khác nhau này đang chơi đùa trong vùng nước yên tĩnh, và tôi dễ dàng thấy rằng lòng chảo cực Nam Cực này giờ đây là nơi trú ẩn cho những loài cá voi bị thợ săn truy đuổi quá dai dẳng.
Tôi cũng nhận thấy những dây salp dài, trắng nhạt, một loại thân mềm kết thành cụm, và vài con sứa kích thước lớn đung đưa trong các xoáy sóng.
Đến chín giờ, chúng tôi cập bờ. Bầu trời sáng dần. Mây chạy trốn về phía nam. Sương mù bốc lên từ mặt nước lạnh. Thuyền trưởng Nemo hướng về phía đỉnh núi, nơi chắc chắn ông định biến thành đài quan sát của mình. Đó là một cuộc leo vất vả trên dung nham sắc và đá bọt, giữa bầu không khí thường nồng mùi lưu huỳnh từ các lỗ khói. Đối với một người không quen giẫm trên đất, thuyền trưởng leo các sườn dốc nhất bằng một sự nhanh nhẹn mềm dẻo mà tôi không thể sánh, và những thợ săn dê núi Pyrenees hẳn cũng phải ghen tị.
Chúng tôi mất hai giờ để tới đỉnh của ngọn núi nửa pha lê, nửa bazan này. Từ đó mắt chúng tôi quét qua một vùng biển rộng, vạch đường ranh giới rõ rệt trên nền trời phương bắc. Dưới chân chúng tôi: những dải trắng chói lòa. Trên đầu chúng tôi: một màu thiên thanh nhạt, không vương sương. Phía bắc chúng tôi: đĩa mặt trời, như một quả cầu lửa đã bị mép chân trời cắt vào. Từ lòng nước: các tia nước bắn lên như hàng trăm bó hoa tráng lệ. Xa xa, như một con cá voi đang ngủ: chiếc Nautilus. Sau lưng chúng tôi về phía nam và đông: một bờ mênh mông, một đống đá và băng hỗn độn mà chúng tôi không thể thấy giới hạn.
Lên tới đỉnh này, Thuyền trưởng Nemo cẩn thận xác định độ cao của nó bằng phong vũ biểu, vì ông phải tính yếu tố này trong phép quan sát chính ngọ.
Lúc 11 giờ 45, mặt trời, đến lúc ấy chỉ còn được thấy nhờ khúc xạ, trông như một đĩa vàng, rải những tia cuối cùng lên lục địa hoang vắng này và xuống tận các biển chưa bị tàu thuyền con người cày xới.
Thuyền trưởng Nemo đã mang theo một kính viễn vọng có thị kính mạng lưới, thứ hiệu chỉnh khúc xạ của mặt trời bằng một tấm gương, và ông dùng nó để quan sát vầng tinh tú chìm xuống từng chút một theo một đường chéo rất dài vươn xuống dưới chân trời. Tôi giữ đồng hồ bấm giờ. Tim tôi đập dữ dội. Nếu nửa dưới của đĩa mặt trời biến mất đúng lúc đồng hồ chỉ trưa, chúng tôi đang ở ngay tại cực.
“Trưa!” tôi gọi.
“Nam Cực!” Thuyền trưởng Nemo đáp bằng giọng trang nghiêm, đưa cho tôi kính viễn vọng, trong đó vầng sáng ban ngày hiện ra bị đường chân trời cắt thành hai phần đúng bằng nhau.
Tôi nhìn những tia cuối cùng quấn quanh đỉnh này, trong khi bóng tối dần dần leo lên các sườn của nó.
Đúng lúc ấy, đặt tay lên vai tôi, Thuyền trưởng Nemo nói:
“Năm 1600, thưa ông, người Hà Lan Gheritk bị bão tố và dòng chảy cuốn đi, tới vĩ độ 64 độ nam và phát hiện quần đảo Nam Shetland. Ngày 17 tháng 1 năm 1773, Thuyền trưởng Cook lừng danh đi dọc kinh tuyến 38, đến vĩ độ 67 độ 30′; và ngày 30 tháng 1 năm 1774, dọc kinh tuyến 109, ông đạt vĩ độ 71 độ 15′. Năm 1819, người Nga Bellinghausen ở trên vĩ tuyến 69, và năm 1821 ở vĩ tuyến 66 tại kinh độ 111 độ tây. Năm 1820, người Anh Bransfield dừng lại ở 65 độ. Cùng năm ấy, người Mỹ Morrel, những báo cáo của ông ta đáng ngờ, đi dọc kinh tuyến 42, tìm thấy biển mở ở vĩ độ 70 độ 14′. Năm 1825, người Anh Powell không thể vượt quá 62 độ. Cùng năm đó, một ngư dân săn hải cẩu khiêm nhường, người Anh Weddell, đi xa tới vĩ độ 72 độ 14′ trên kinh tuyến 35, và tới 74 độ 15′ trên kinh tuyến 36. Năm 1829, người Anh Forster, chỉ huy tàu Chanticleer, tuyên bố chủ quyền lục địa Nam Cực ở vĩ độ 63 độ 26′ và kinh độ 66 độ 26′. Ngày 1 tháng 2 năm 1831, người Anh Biscoe phát hiện Enderby Land ở vĩ độ 68 độ 50′, Adelaide Land ở vĩ độ 67 độ ngày 5 tháng 2 năm 1832, và Graham Land ở vĩ độ 64 độ 45′ ngày 21 tháng 2. Năm 1838, người Pháp Dumont d’Urville dừng ở Vành Đai Băng tại vĩ độ 62 độ 57′, nhìn thấy bán đảo Louis-Philippe; ngày 21 tháng 1 hai năm sau, ở một vị trí nam mới 66 độ 30′, ông đặt tên bờ Adélie và tám ngày sau, bờ Clarie ở 64 độ 40′. Năm 1838, người Mỹ Wilkes tiến xa tới vĩ tuyến 69 trên kinh tuyến 100. Năm 1839, người Anh Balleny phát hiện bờ Sabrina ở rìa vòng cực. Cuối cùng, ngày 12 tháng 1 năm 1842, với các tàu Erebus và Terror, người Anh Sir James Clark Ross tìm thấy Victoria Land ở vĩ độ 70 độ 56′ và kinh độ 171 độ 7′ đông; ngày 23 cùng tháng ấy, ông đạt vĩ tuyến 74, vị trí đánh dấu điểm xa nhất về phía nam từng đạt được cho đến lúc đó; ngày 27 ông ở 76 độ 8′; ngày 28 ở 77 độ 32′; ngày 2 tháng 2 ở 78 độ 4′; và cuối năm 1842 ông trở lại 71 độ nhưng không thể vượt quá nó. Còn bây giờ! Năm 1868, vào ngày 21 tháng 3 này, chính tôi, Thuyền trưởng Nemo, đã tới Nam Cực tại 90 độ, và tôi tuyên bố chủ quyền toàn bộ phần này của địa cầu, bằng một phần sáu các lục địa đã biết.”
“Nhân danh vị quân vương nào, thuyền trưởng?”
“Nhân danh chính tôi, thưa ông!”
Nói vậy, Thuyền trưởng Nemo mở tung một lá cờ đen mang chữ “N” màu vàng trên lá cờ chia ô của nó. Rồi quay về phía vầng sáng ban ngày, những tia cuối cùng của nó đang liếm đường chân trời của biển:
“Vĩnh biệt, hỡi mặt trời!” ông gọi. “Biến đi, hỡi vầng tinh tú rạng rỡ! Rút xuống dưới biển mở này, và hãy để sáu tháng đêm trải bóng trên những lãnh địa mới của ta!”

### CHƯƠNG 15
Tai nạn hay sự cố?
NGÀY HÔM SAU, 22 tháng 3, lúc sáu giờ sáng, công việc chuẩn bị khởi hành bắt đầu. Những tia hoàng hôn cuối cùng đang tan vào đêm. Cái lạnh buốt. Các chòm sao lấp lánh với cường độ đáng kinh ngạc. Chữ Thập Phương Nam kỳ diệu, ngôi sao vùng cực của các miền Nam Cực, nhấp nháy ở thiên đỉnh.
Nhiệt kế chỉ -12 độ centigrade, và một làn gió mới để lại cái buốt sắc trong không khí. Các tảng băng trôi đang tăng lên trên vùng nước mở. Biển bắt đầu đông lại khắp nơi. Nhiều mảng đen nhạt lan rộng trên mặt nước, báo hiệu sự hình thành sắp tới của băng mới. Rõ ràng lòng chảo cực nam này đóng băng trong mùa đông sáu tháng của nó và trở nên hoàn toàn không thể tiếp cận. Điều gì xảy ra với cá voi trong thời kỳ này? Chắc chắn chúng đi xuống dưới Vành Đai Băng để tìm những vùng biển dễ sống hơn. Còn hải cẩu và hải mã, chúng đã quen sống trong các khí hậu khắc nghiệt nhất và ở lại các thủy lộ băng giá này. Những con vật này theo bản năng biết cách khoét lỗ trong các ice fields và giữ chúng luôn mở; chúng tới các lỗ này để thở. Khi chim đã di cư về phía bắc để trốn lạnh, các động vật có vú biển này ở lại như những chúa tể duy nhất của lục địa vùng cực.
Trong lúc ấy, các két dằn đầy nước và chiếc Nautilus chậm rãi chìm xuống. Ở độ sâu 1.000 foot, nó dừng lại. Chân vịt khuấy sóng và nó hướng thẳng về phía bắc với tốc độ mười lăm dặm một giờ. Gần buổi chiều, nó đã đi dưới lớp giáp đông cứng mênh mông của Vành Đai Băng.
Để phòng ngừa, các tấm che trong phòng khách vẫn đóng, vì thân chiếc Nautilus có thể vướng vào một khối băng chìm nào đó. Vì vậy tôi dành cả ngày chỉnh lý các ghi chép của mình. Tâm trí tôi hoàn toàn cuốn vào những ký ức về cực. Chúng tôi đã tới điểm không thể tiếp cận ấy mà không đối mặt kiệt sức hay nguy hiểm, như thể cỗ xe chở khách đi biển của chúng tôi đã trượt đến đó trên đường ray. Và giờ chúng tôi thật sự bắt đầu hành trình trở về. Liệu nó vẫn còn dành cho tôi những bất ngờ tương tự không? Tôi chắc chắn là có, vì chuỗi kỳ quan dưới nước này thật không cùng tận! Tính đến lúc đó, trong năm tháng rưỡi từ khi định mệnh đưa chúng tôi lên tàu, chúng tôi đã vượt 14.000 dặm biển, và trên chặng đường dài hơn đường xích đạo của trái đất này, biết bao biến cố mê hoặc hoặc đáng sợ đã làm đẹp chuyến đi của chúng tôi: chuyến săn trong rừng Crespo, việc mắc cạn ở eo Torres, nghĩa trang san hô, các ngư trường ngọc trai ở Ceylon, đường hầm Ả Rập, các ngọn lửa Santorini, những triệu bạc trong vịnh Vigo, Atlantis, Nam Cực! Trong đêm, tất cả những ký ức này đi từ giấc mơ này sang giấc mơ khác, không cho bộ óc tôi một khoảnh khắc nghỉ ngơi.
Lúc ba giờ sáng, tôi bị đánh thức bởi một cú va chạm dữ dội. Tôi ngồi bật dậy trên giường, lắng nghe trong bóng tối, rồi đột nhiên bị ném vào giữa phòng riêng. Rõ ràng chiếc Nautilus đã mắc cạn, rồi nghiêng mạnh.
Dựa vào vách, tôi kéo mình theo các hành lang xuống phòng khách, nơi đèn trần đang sáng. Đồ đạc bị hất đổ. May thay các tủ kính được cố định chắc chắn ở chân và vẫn đứng vững. Vì chúng tôi không còn thẳng đứng, những bức tranh bên mạn phải dính vào các tấm thảm, trong khi những bức bên mạn trái có mép dưới treo cách vách một foot. Vậy chiếc Nautilus đang nằm nghiêng bên mạn phải, lại hoàn toàn bất động.
Bên trong nó, tôi nghe tiếng bước chân và giọng nói bị nén. Nhưng Thuyền trưởng Nemo không xuất hiện. Ngay khi tôi sắp rời phòng khách, Ned Land và Conseil bước vào.
“Chuyện gì đã xảy ra?” tôi lập tức hỏi họ.
“Tôi đến để hỏi ngài điều đó,” Conseil đáp.
“Quỷ tha ma bắt!” người Canada kêu lên. “Tôi biết rất rõ chuyện gì đã xảy ra! Chiếc Nautilus đã mắc cạn, và xét theo cách nó nghiêng, tôi không nghĩ nó sẽ thoát nổi như lần đầu ở eo Torres.”
“Nhưng,” tôi hỏi, “ít nhất chúng ta đã trở lại mặt biển chưa?”
“Chúng tôi không biết,” Conseil đáp.
“Dễ biết thôi,” tôi đáp.
Tôi kiểm tra áp kế. Trước sự ngạc nhiên lớn của tôi, nó chỉ độ sâu 360 mét.
“Điều này có nghĩa gì?” tôi kêu lên.
“Chúng ta phải trao đổi với Thuyền trưởng Nemo,” Conseil nói.
“Nhưng tìm ông ta ở đâu?” Ned Land hỏi.
“Theo tôi,” tôi nói với hai bạn đồng hành.
Chúng tôi rời phòng khách. Không có ai trong thư viện. Không có ai bên cầu thang trung tâm hay khu thủy thủ đoàn. Tôi cho rằng Thuyền trưởng Nemo đang ở buồng lái. Tốt nhất là chờ. Cả ba chúng tôi trở lại phòng khách.
Tôi sẽ bỏ qua những lời than phiền của người Canada. Ông có lý do chính đáng để bùng nổ. Tôi không đáp lại, để ông xả hết hơi nóng tùy ý.
Chúng tôi bị bỏ mặc một mình trong hai mươi phút, cố dò ra những tiếng động nhỏ nhất bên trong chiếc Nautilus, thì Thuyền trưởng Nemo bước vào. Ông dường như không thấy chúng tôi. Nét mặt ông, thường hết sức vô cảm, để lộ một sự bất an nào đó. Ông lặng lẽ xem la bàn và áp kế, rồi đi tới đặt ngón tay lên bản đồ thế giới ở một điểm trong khu vực mô tả các biển cực nam.
Tôi do dự không muốn ngắt lời ông. Nhưng vài khoảnh khắc sau, khi ông quay về phía tôi, tôi ném lại cho ông một câu ông từng dùng ở eo Torres:
“Một sự cố, thuyền trưởng?”
“Không, thưa ông,” ông đáp, “lần này là một tai nạn.”
“Nghiêm trọng không?”
“Có lẽ.”
“Có nguy hiểm tức thì không?”
“Không.”
“Chiếc Nautilus đã mắc cạn?”
“Phải.”
“Và tai nạn này xảy ra...?”
“Do sự bất trắc của tự nhiên, không phải sự bất lực của con người. Không sai sót nào trong thao tác của chúng tôi. Tuy nhiên, chúng ta không thể ngăn một sự mất cân bằng đòi phần thiệt hại của nó. Người ta có thể thách thức luật lệ loài người, nhưng không ai chống lại được các quy luật tự nhiên.”
Thuyền trưởng Nemo đã chọn một thời điểm kỳ lạ để triết lý. Nói chung, câu trả lời này chẳng cho tôi biết gì.
“Tôi có thể biết không, thưa ông,” tôi hỏi, “nguyên nhân của tai nạn này?”
“Một khối băng khổng lồ, cả một ngọn núi, đã lật nhào,” ông đáp. “Khi một băng sơn bị nước ấm hơn hoặc các va chạm lặp đi lặp lại bào mòn ở chân, trọng tâm của nó dâng lên. Rồi nó lộn nhào, nó lật hẳn ngược lại. Đó là chuyện đã xảy ra ở đây. Khi nó lật, một trong các khối ấy va vào chiếc Nautilus khi tàu đang đi dưới nước. Trượt dưới thân tàu, khối này rồi nâng chúng ta lên bằng sức không cưỡng nổi, nhấc chúng ta vào các tầng ít chen chúc hơn, nơi hiện giờ chúng ta nằm nghiêng.”
“Nhưng chúng ta không thể làm nổi chiếc Nautilus bằng cách xả két dằn để lấy lại thăng bằng sao?”
“Điều đó, thưa ông, đang được thực hiện ngay bây giờ. Ông có thể nghe các bơm đang hoạt động. Hãy nhìn kim áp kế. Nó cho thấy chiếc Nautilus đang nổi lên, nhưng khối băng này nổi lên cùng chúng ta, và cho đến khi một chướng ngại nào đó chặn chuyển động đi lên của nó, vị trí của chúng ta sẽ không đổi.”
Thật vậy, chiếc Nautilus vẫn giữ cùng độ nghiêng sang mạn phải. Chắc chắn nó sẽ dựng lại khi khối băng dừng lại. Nhưng trước khi điều ấy xảy ra, ai biết liệu chúng tôi có va vào bụng dưới của Vành Đai Băng và bị ép kinh khủng giữa hai bề mặt đông cứng hay không?
Tôi suy ngẫm mọi hậu quả của tình hình này. Thuyền trưởng Nemo không ngừng nghiên cứu áp kế. Từ khi băng sơn này lật nhào, chiếc Nautilus đã nổi lên khoảng 150 foot, nhưng nó vẫn giữ cùng góc so với phương thẳng đứng.
Đột nhiên một chuyển động nhẹ có thể cảm thấy trên thân tàu. Rõ ràng chiếc Nautilus đang thẳng lại một chút. Các vật treo trong phòng khách thấy rõ đang trở về vị trí bình thường. Các vách đang tiến gần đến phương thẳng đứng. Không ai nói một lời. Tim đập mạnh, chúng tôi có thể thấy và cảm nhận con tàu đang tự chỉnh lại. Sàn nhà dưới chân chúng tôi trở nên nằm ngang. Mười phút trôi qua.
“Cuối cùng, chúng ta thẳng lại rồi!” tôi kêu lên.
“Phải,” Thuyền trưởng Nemo nói, đi về phía cửa phòng khách.
“Nhưng chúng ta sẽ nổi thoát chứ?” tôi hỏi ông.
“Chắc chắn,” ông đáp, “vì các két dằn vẫn chưa rỗng, và khi chúng rỗng, chiếc Nautilus phải nổi lên mặt biển.”
Thuyền trưởng đi ra, và chẳng mấy chốc tôi thấy rằng theo lệnh ông, chiếc Nautilus đã dừng chuyển động đi lên. Thật ra, nó chẳng mấy chốc sẽ va vào bụng dưới của Vành Đai Băng, nhưng nó đã dừng kịp thời và đang nổi lơ lửng giữa nước.
“Suýt nữa thì nguy!” Conseil nói.
“Phải. Chúng ta đã có thể bị nghiền giữa các khối băng này, hoặc ít nhất bị giam giữa chúng. Và khi đó, không có cách nào đổi mới nguồn không khí... Phải, quả là suýt nữa thì nguy!”
“Nếu nó đã qua!” Ned Land lẩm bẩm.
Tôi không muốn sa vào một cuộc tranh luận vô ích với người Canada nên không đáp. Hơn nữa, các tấm che mở ra đúng lúc ấy, và ánh sáng bên ngoài tràn qua các cửa kính không bị che.
Chúng tôi đang nổi hoàn toàn, như tôi đã nói; nhưng ở hai bên chiếc Nautilus, cách khoảng mười mét, vươn lên những vách băng chói lòa. Trên và dưới cũng có vách. Trên, vì bụng dưới của Vành Đai Băng trải trên đầu chúng tôi như một trần nhà mênh mông. Dưới, vì khối băng lộn nhào, dịch chuyển từng chút một, đã tìm được điểm tựa trên cả hai vách bên và bị kẹt giữa chúng. Chiếc Nautilus bị giam trong một đường hầm băng thật sự, rộng khoảng hai mươi mét và đầy nước yên tĩnh. Vì vậy con tàu có thể dễ dàng thoát ra bằng cách đi tới hoặc lùi, chìm sâu thêm vài trăm mét, rồi lấy một lối mở bên dưới Vành Đai Băng.
Đèn trần đã tắt, nhưng phòng khách vẫn sáng rực. Điều này là nhờ sức phản chiếu của các vách băng, ném các tia đèn hiệu của chúng tôi trở lại thẳng vào chúng tôi. Ngôn từ không thể diễn tả các hiệu ứng do các tia galvanic của chúng tôi tạo nên trên những khối khổng lồ được chạm trổ kỳ dị này, mà mỗi góc, gờ và mặt đều tỏa một ánh sáng khác nhau tùy tính chất các mạch chạy bên trong băng. Đó là một mỏ ngọc rực rỡ, đặc biệt là sapphire và emerald, những tia xanh lam và xanh lục đan chéo nhau. Đây đó, các sắc opal tinh tế vô hạn chạy giữa những tia sáng như bao viên kim cương lửa, với độ chói vượt quá sức chịu của mắt. Sức mạnh của đèn hiệu chúng tôi được tăng lên gấp trăm lần, như một ngọn đèn chiếu qua các thấu kính hai mặt lồi của một hải đăng hàng đầu thế giới.
“Đẹp quá!” Conseil kêu lên.
“Phải,” tôi nói, “đó là một cảnh tượng tuyệt diệu! Phải không, Ned?”
“Ôi quỷ tha ma bắt, đúng!” Ned Land đáp. “Tuyệt vời! Tôi tức vì phải thừa nhận điều đó. Chưa ai từng thấy thứ giống vậy. Nhưng cảnh tượng này có thể khiến chúng ta trả giá đắt. Và thành thật mà nói, tôi nghĩ chúng ta đang nhìn những thứ Chúa chẳng bao giờ định cho mắt người thấy.”
Ned nói đúng. Nó quá đẹp. Bỗng một tiếng kêu của Conseil khiến tôi quay lại.
“Chuyện gì vậy?” tôi hỏi.
“Ngài phải nhắm mắt lại! Ngài không được nhìn!”
Nói vậy, Conseil vỗ tay che mắt.
“Nhưng chuyện gì vậy, anh bạn?”
“Tôi bị chói, bị mù rồi!”
Theo bản năng, mắt tôi bay tới cửa sổ, nhưng tôi không chịu nổi ngọn lửa đang nuốt chửng nó.
Tôi hiểu chuyện đã xảy ra. Chiếc Nautilus vừa bắt đầu chạy với tốc độ lớn. Mọi ánh lấp lánh yên tĩnh của các vách băng khi ấy đã biến thành những vệt cháy rực. Tia lóe từ vô số kim cương này nhập lại với nhau. Bị chân vịt cuốn đi, chiếc Nautilus đang đi qua một lớp vỏ ánh sáng chớp lòa.
Rồi các tấm che trong phòng khách khép lại. Chúng tôi giữ tay trên mắt, đôi mắt đã hoàn toàn bão hòa bởi những vệt sáng đồng tâm vẫn xoáy trước võng mạc khi ánh mặt trời đập vào nó quá dữ. Phải mất một lúc thị giác rối loạn của chúng tôi mới dịu lại.
Cuối cùng chúng tôi hạ tay xuống.
“Trời đất, tôi sẽ chẳng bao giờ tin nổi,” Conseil nói.
“Còn tôi vẫn không tin!” người Canada đáp.
“Khi chúng ta trở lại bờ,” Conseil nói thêm, “đã chán ngán tất cả những kỳ quan tự nhiên này, hãy nghĩ xem chúng ta sẽ khinh thường những khối đất liền tội nghiệp kia, những công trình bé nhỏ của con người ra sao! Không, thế giới văn minh sẽ không đủ tốt cho chúng ta nữa!”
Những lời như vậy từ miệng chàng trai Flanders vô cảm này cho thấy nhiệt tình của chúng tôi đã gần tới điểm sôi. Nhưng người Canada không quên dội lên chúng tôi một ly nước lạnh.
“Thế giới văn minh!” ông nói, lắc đầu. “Đừng lo, Conseil bạn tôi, chúng ta sẽ không bao giờ trở lại thế giới ấy đâu!”
Đến lúc này là năm giờ sáng. Đúng lúc ấy, có một va chạm ở mũi chiếc Nautilus. Tôi hiểu mũi thúc của nó vừa đụng vào một khối băng. Hẳn đó là một thao tác sai lầm vì đường hầm dưới nước này bị các khối như thế cản trở và không dễ điều hướng. Vì vậy tôi đã giả định rằng Thuyền trưởng Nemo, khi chỉnh hướng, sẽ đi vòng qua từng chướng ngại hoặc sẽ men theo các vách và các khúc quanh của đường hầm. Dù trong trường hợp nào, chuyển động về phía trước của chúng tôi cũng sẽ không bị chặn tuyệt đối. Tuy nhiên, trái với dự đoán của tôi, chiếc Nautilus rõ ràng bắt đầu lùi lại.
“Chúng ta đang đi lùi?” Conseil nói.
“Phải,” tôi đáp. “Rõ ràng đường hầm không có lối ra ở đầu này.”
“Và vậy là...?”
“Vậy là,” tôi nói, “thao tác của chúng ta khá đơn giản. Chúng ta sẽ trở lại theo đường cũ và ra ở cửa phía nam. Chỉ thế thôi.”
Khi nói, tôi cố tỏ ra tự tin hơn thật lòng mình. Trong khi đó chiếc Nautilus tăng tốc chuyển động lùi, và chạy với chân vịt đảo chiều, nó cuốn chúng tôi đi với tốc độ lớn.
“Thế này sẽ chậm trễ,” Ned nói.
“Vài giờ hơn hay kém thì là gì, miễn là chúng ta thoát ra.”
“Phải,” Ned Land lặp lại, “miễn là chúng ta thoát ra!”
Tôi đi dạo một lúc từ phòng khách vào thư viện. Hai bạn đồng hành của tôi vẫn ngồi nguyên và không động đậy. Chẳng mấy chốc tôi gieo mình xuống một đi-văng và cầm một cuốn sách, đôi mắt lướt qua một cách máy móc.
Một phần tư giờ sau, Conseil đến gần tôi, nói:
“Quyển sách ngài đang đọc hấp dẫn sâu sắc lắm sao?”
“Vô cùng hấp dẫn,” tôi đáp.
“Tôi tin thế. Ngài đang đọc chính sách của ngài!”
“Sách của tôi?”
Quả thật, tay tôi đang cầm chính công trình của tôi về các vực sâu đại dương. Tôi thậm chí không hề hay biết. Tôi đóng sách lại và tiếp tục đi dạo. Ned và Conseil đứng dậy để rời đi.
“Hãy ở lại đây, các bạn,” tôi nói, ngăn họ lại. “Hãy ở cùng nhau cho đến khi chúng ta ra khỏi ngõ cụt này.”
“Như ngài muốn,” Conseil đáp.
Các giờ trôi qua. Tôi thường xuyên xem các dụng cụ treo trên vách phòng khách. Áp kế chỉ rằng chiếc Nautilus vẫn ở độ sâu ổn định 300 mét, la bàn cho biết nó vẫn hướng nam, đồng hồ tốc độ chỉ nó đi với tốc độ hai mươi dặm một giờ, một tốc độ quá cao trong một khu vực chật hẹp như vậy. Nhưng Thuyền trưởng Nemo biết rằng đến lúc này không có chuyện gì là quá nhanh, vì mỗi phút giờ đáng giá như nhiều thế kỷ.
Lúc 8 giờ 25, một va chạm thứ hai xảy ra. Lần này ở đuôi. Tôi tái mặt. Hai bạn đồng hành đến gần. Tôi nắm tay Conseil. Mắt chúng tôi hỏi nhau, còn trực tiếp hơn cả nếu ý nghĩ chúng tôi được dịch thành lời.
Đúng lúc ấy thuyền trưởng bước vào phòng khách. Tôi tiến đến ông.
“Đường phía nam của chúng ta bị chắn rồi sao?” tôi hỏi.
“Phải, thưa ông. Khi lật nhào, băng sơn ấy đã khép kín mọi lối ra.”
“Chúng ta bị nhốt?”
“Phải.”
### CHƯƠNG 16
Thiếu không khí
VÌ VẬY, phía trên, phía dưới và quanh chiếc Nautilus đều là những vách băng không thể xuyên thủng. Chúng tôi là tù nhân của Vành Đai Băng! Người Canada đập nắm tay đáng sợ của mình xuống bàn. Conseil lặng im. Tôi nhìn thuyền trưởng. Gương mặt ông đã lấy lại vẻ vô cảm thường lệ. Ông khoanh tay. Ông suy nghĩ. Chiếc Nautilus không động đậy.
Rồi thuyền trưởng cất lời:
“Thưa các ông,” ông nói bằng giọng bình tĩnh, “có hai cách chết trong những điều kiện hiện nay của chúng ta.”
Con người khó hiểu này hành xử như một giáo sư toán học đang giải một bài toán cho học trò.
“Cách thứ nhất,” ông tiếp tục, “là chết vì bị nghiền nát. Cách thứ hai là chết vì ngạt thở. Tôi không nói tới khả năng chết đói vì lương thực của chiếc Nautilus chắc chắn sẽ tồn tại lâu hơn chúng ta. Vì vậy, hãy tập trung vào khả năng bị nghiền nát hoặc ngạt thở.”
“Về ngạt thở, thuyền trưởng,” tôi đáp, “đó không phải lý do đáng lo, vì các bình khí đều đầy.”
“Đúng,” Thuyền trưởng Nemo tiếp tục, “nhưng chúng chỉ cung cấp không khí cho hai ngày. Bấy giờ, chúng ta đã bị chôn dưới nước ba mươi sáu giờ, và bầu khí nặng nề của chiếc Nautilus đã cần được đổi mới. Bốn mươi tám giờ nữa, lượng không khí dự trữ của chúng ta sẽ dùng hết.”
“Vậy thì, thuyền trưởng, hãy giải phóng chúng ta trong vòng bốn mươi tám giờ!”
“Ít nhất chúng ta sẽ thử, bằng cách cắt xuyên một trong các vách bao quanh chúng ta.”
“Vách nào?” tôi hỏi.
“Khoan dò sẽ cho biết. Tôi sẽ cho chiếc Nautilus nằm xuống thềm dưới, rồi người của tôi sẽ mặc đồ lặn và tấn công vào vách băng mỏng nhất.”
“Các tấm che trong phòng khách có thể để mở không?”
“Không hại gì. Chúng ta không còn chuyển động.”
Thuyền trưởng Nemo đi ra. Những tiếng rít chẳng mấy chốc cho tôi biết nước đang được đưa vào các két dằn. Chiếc Nautilus chậm rãi lắng xuống và nghỉ trên đáy băng ở độ sâu 350 mét, độ sâu mà thềm băng dưới nằm chìm.
“Các bạn,” tôi nói, “chúng ta đang ở trong tình thế nghiêm trọng, nhưng tôi trông cậy vào lòng can đảm và năng lực của các bạn.”
“Thưa ngài,” người Canada đáp, “đây không phải lúc làm phiền ngài bằng những lời than phiền của tôi. Tôi sẵn sàng làm mọi điều có thể vì lợi ích chung.”
“Tuyệt lắm, Ned,” tôi nói, đưa tay cho người Canada.
“Tôi có thể nói thêm,” ông tiếp tục, “rằng tôi dùng cuốc cũng thạo như dùng lao. Nếu tôi có thể giúp thuyền trưởng, ông ấy cứ dùng tôi theo bất cứ cách nào ông ấy muốn.”
“Ông ấy sẽ không từ chối sự trợ giúp của ông. Đi nào, Ned.”
Tôi dẫn người Canada tới căn phòng nơi người của chiếc Nautilus đang mặc đồ lặn. Tôi báo với thuyền trưởng đề nghị của Ned, và nó được chấp nhận ngay. Người Canada mặc bộ đồ dưới nước của mình và sẵn sàng cùng lúc với các bạn lao động. Mỗi người trong số họ đeo trên lưng một thiết bị Rouquayrol mà các bình khí đã cung cấp cho một lượng oxy tươi dồi dào. Một sự tiêu hao đáng kể nhưng cần thiết từ nguồn dự trữ của chiếc Nautilus. Còn đèn Ruhmkorff thì không cần thiết giữa vùng nước rực rỡ bão hòa bởi các tia điện của chúng tôi.
Sau khi Ned mặc xong, tôi trở lại phòng khách, nơi các cửa kính đã được mở che; đứng cạnh Conseil, tôi quan sát các tầng băng bao quanh và đỡ chiếc Nautilus.
Vài khoảnh khắc sau, chúng tôi thấy một tá thủy thủ đặt chân lên thềm băng, trong số đó có Ned Land, dễ nhận ra nhờ vóc người cao lớn. Thuyền trưởng Nemo ở cùng họ.
Trước khi đào vào băng, thuyền trưởng phải tiến hành khoan dò để bảo đảm làm việc theo hướng tốt nhất. Các mũi khoan dài được đóng vào các vách bên; nhưng sau mười lăm mét, các dụng cụ vẫn bị độ dày của những vách ấy cản lại. Tấn công trần nhà là vô ích vì bề mặt ấy chính là Vành Đai Băng, cao hơn 400 mét. Thuyền trưởng Nemo bèn khoan vào bề mặt dưới. Ở đó, chúng tôi bị ngăn cách với biển bởi một rào chắn dày mười mét. Đó là độ dày của băng sơn. Từ lúc này, vấn đề là cắt ra một mảnh có diện tích bằng đường nước của chiếc Nautilus. Điều đó nghĩa là tách khoảng 6.500 mét khối, để đào một lỗ qua đó con tàu có thể hạ xuống dưới dải băng này.
Công việc bắt đầu ngay lập tức và được tiến hành với sự bền bỉ không mệt mỏi. Thay vì đào quanh chiếc Nautilus, điều sẽ kéo theo những khó khăn còn lớn hơn, Thuyền trưởng Nemo cho vạch một hào lớn trên băng, cách mạn trái phía sau của chúng tôi tám mét. Rồi người của ông đồng thời cắm mốc ở nhiều điểm quanh chu vi của nó. Chẳng mấy chốc, cuốc của họ mạnh mẽ tấn công thứ vật chất đặc này, và những khối lớn bị tách ra khỏi khối chính. Những khối này nhẹ hơn nước, và bằng một hiệu ứng khác thường của trọng lượng riêng, mỗi khối như thể mọc cánh bay lên trần đường hầm, nơi dày thêm phía trên bao nhiêu thì mỏng đi phía dưới bấy nhiêu. Nhưng điều này chẳng mấy quan trọng miễn là bề mặt dưới cứ mỏng dần.
Sau hai giờ làm việc hăng hái, Ned Land trở vào, kiệt sức. Ông và các bạn lao động được thay bằng những người mới, trong đó có Conseil và tôi. Viên phó chỉ huy của chiếc Nautilus giám sát chúng tôi.
Nước đối với tôi có vẻ lạnh khác thường, nhưng tôi nhanh chóng ấm lên khi vung cuốc. Các cử động của tôi khá tự do, dù được thực hiện dưới áp lực ba mươi atmosphere.
Sau hai giờ làm việc, trở vào để ăn một chút và nghỉ ngơi, tôi nhận thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa thứ chất lỏng sạch, đàn hồi do thiết bị Rouquayrol cung cấp cho tôi và bầu khí của chiếc Nautilus, vốn đã chứa nhiều carbon dioxide. Không khí đã không được thay mới trong bốn mươi tám giờ, và những phẩm chất duy trì sự sống của nó đã suy yếu đáng kể. Trong khi đó, sau mười hai giờ trôi qua, chúng tôi chỉ mới gỡ khỏi diện tích đã vạch ra một lát băng dày một mét, tức khoảng 600 mét khối. Giả sử cùng khối lượng công việc được hoàn thành mỗi mười hai giờ, vẫn cần năm đêm và bốn ngày nữa mới thấy công việc hoàn tất.
“Năm đêm và bốn ngày!” tôi nói với các bạn đồng hành. “Mà chúng ta chỉ có oxy trong các bình khí cho hai ngày.”
“Chưa kể,” Ned đáp, “rằng một khi thoát khỏi cái nhà tù khốn kiếp này, chúng ta vẫn sẽ bị nhốt dưới Vành Đai Băng, không có bất kỳ tiếp xúc nào với không khí mở!”
Một nhận xét xác đáng. Vì ai có thể dự đoán thời gian tối thiểu chúng tôi cần để tự giải thoát? Trước khi chiếc Nautilus có thể trở lại mặt sóng, chẳng lẽ tất cả chúng tôi sẽ không chết vì ngạt thở sao? Có phải con tàu này và mọi người trên đó đều bị định sẵn phải chết trong ngôi mộ băng này không? Đó là một tình trạng đáng sợ. Nhưng chúng tôi đối diện trực tiếp với nó, mỗi người trong chúng tôi đều quyết tâm làm bổn phận của mình đến cùng.
Trong đêm, đúng như dự báo của tôi, một lát băng mới dày một mét được gỡ khỏi cái ổ khổng lồ này. Nhưng đến sáng, mặc đồ lặn, tôi băng qua khối nước ở nhiệt độ -6 đến -7 độ centigrade, thì nhận thấy các vách bên đang từng chút một khép lại với nhau. Các tầng nước xa hào nhất, không được làm ấm bởi chuyển động của người lao động và dụng cụ, đang có xu hướng đông đặc. Trước mối nguy mới cận kề này, cơ hội cứu thoát của chúng tôi sẽ ra sao, và làm thế nào ngăn môi trường lỏng này đông lại, rồi làm nứt thân chiếc Nautilus như thủy tinh?
Tôi không nói với hai bạn đồng hành của mình về mối nguy mới này. Chẳng ích gì khi làm nguội đi năng lượng họ đang dồn vào công việc cứu nạn gian khổ của chúng tôi. Nhưng khi trở lại tàu, tôi nhắc đến sự phức tạp nghiêm trọng này với Thuyền trưởng Nemo.
“Tôi biết,” ông nói với tôi bằng giọng bình tĩnh mà viễn cảnh đáng sợ nhất cũng không thể thay đổi. “Đó là một nguy hiểm nữa, nhưng tôi không biết cách nào ngăn nó. Cơ hội cứu thoát duy nhất của chúng ta là làm việc nhanh hơn nước đông lại. Chúng ta phải tới trước, thế thôi.”
Tới trước! Đến lúc ấy lẽ ra tôi phải quen với kiểu nói ấy rồi!
Trong nhiều giờ ngày hôm ấy, tôi cắm cúi vung cuốc. Công việc giữ tôi đứng vững. Hơn nữa, làm việc nghĩa là rời chiếc Nautilus, nghĩa là thở thứ oxy sạch được rút từ các bình khí và cung cấp bởi thiết bị của chúng tôi, nghĩa là rời bỏ không khí loãng và ô uế phía sau.
Gần chiều, thêm một mét nữa đã được đào khỏi hào. Khi trở lại tàu, tôi gần như ngạt thở vì carbon dioxide bão hòa trong không khí. Ôi, giá như chúng tôi có những phương pháp hóa học cho phép trục xuất thứ khí độc hại này! Oxy thì không thiếu. Tất cả khối nước này chứa một lượng đáng kể, và sau khi được các pin mạnh mẽ của chúng tôi phân giải, thứ chất lỏng đàn hồi duy trì sự sống ấy lẽ ra đã có thể được trả lại cho chúng tôi. Tôi đã nghĩ thấu tất cả, nhưng vô ích, vì carbon dioxide do hơi thở của chúng tôi sinh ra thấm vào mọi phần của con tàu. Để hấp thụ nó, chúng tôi cần đổ potassium hydroxide vào các bình chứa rồi lắc liên tục. Nhưng chất này không có trên tàu và không gì khác thay thế được.
Tối hôm ấy, Thuyền trưởng Nemo buộc phải mở các vòi của bình khí và phóng vài luồng oxy tươi qua nội thất chiếc Nautilus. Nếu không có biện pháp phòng ngừa này, chúng tôi đã không thức dậy vào sáng hôm sau.
Ngày hôm sau, 26 tháng 3, tôi trở lại nghề thợ mỏ, làm việc để gỡ bỏ mét thứ năm. Các vách bên và bụng dưới của Vành Đai Băng đã dày lên thấy rõ. Hiển nhiên chúng sẽ khép lại trước khi chiếc Nautilus có thể thoát ra. Trong một khoảnh khắc, tôi bị tuyệt vọng siết chặt. Cái cuốc gần như tuột khỏi tay tôi. Đào bới để làm gì nếu tôi phải chết vì bị bóp nghẹt và nghiền nát bởi khối nước đang hóa đá này, một cực hình ngay cả những kẻ man rợ điên cuồng nhất cũng chưa từng mơ tới! Tôi cảm thấy như mình đang nằm trong hàm một con quái vật đáng sợ, những hàm ấy khép lại không gì cưỡng nổi.
Vừa giám sát công việc, vừa tự mình làm việc, Thuyền trưởng Nemo đúng lúc ấy đi ngang qua tôi. Tôi chạm tay vào ông và chỉ vào các vách nhà tù của chúng tôi. Vách mạn phải đã tiến tới một điểm cách thân chiếc Nautilus chưa đầy bốn mét.
Thuyền trưởng hiểu và ra hiệu cho tôi theo ông. Chúng tôi trở lại tàu. Khi bộ đồ lặn của tôi được tháo ra, tôi đi cùng ông tới phòng khách.
“Giáo sư Aronnax,” ông nói với tôi, “tình thế này đòi hỏi những biện pháp anh hùng, nếu không chúng ta sẽ bị bít kín trong khối nước đông cứng này như thể trong xi măng.”
“Phải!” tôi nói. “Nhưng chúng ta có thể làm gì?”
“Ôi,” ông kêu lên, “giá như chiếc Nautilus của tôi đủ mạnh để chịu được chừng ấy áp lực mà không bị nghiền nát!”
“Sao?” tôi hỏi, không hiểu ý thuyền trưởng.
“Ông không hiểu sao,” ông nói tiếp, “rằng sự đông kết của nước này có thể đến cứu chúng ta? Ông không thấy rằng khi đông đặc, nó có thể làm nổ tung các dải băng đang giam giữ chúng ta, cũng như việc đóng băng của nó có thể làm vỡ những tảng đá cứng nhất sao? Ông không nhận ra rằng lực ấy có thể là công cụ cứu rỗi chúng ta chứ không phải sự hủy diệt chúng ta sao?”
“Phải, thuyền trưởng, có lẽ vậy. Nhưng dù chiếc Nautilus có sức kháng nghiền ép đến đâu, nó vẫn không thể chịu nổi những áp lực kinh khủng như thế, và sẽ bị ép bẹp như một tấm sắt.”
“Tôi biết, thưa ông. Vậy nên chúng ta không thể trông cậy vào tự nhiên để cứu mình, mà chỉ vào nỗ lực của chính chúng ta. Chúng ta phải chống lại sự đông đặc này. Phải kìm nó lại. Không chỉ các vách bên đang khép vào, mà phía trước hay phía sau chiếc Nautilus cũng không còn mười foot nước. Quanh chúng ta, sự đóng băng này đang lan nhanh.”
“Các bình khí còn cho phép chúng ta thở trên tàu bao lâu nữa?” tôi hỏi.
Thuyền trưởng nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Sau ngày mai,” ông nói, “các bình khí sẽ rỗng!”
Tôi toát mồ hôi lạnh. Nhưng vì sao tôi phải sửng sốt trước câu trả lời này? Ngày 22 tháng 3, chiếc Nautilus đã lặn xuống dưới các vùng nước mở ở cực. Bây giờ là ngày 26. Chúng tôi đã sống nhờ các kho dự trữ của con tàu trong năm ngày! Và toàn bộ không khí còn lại có thể thở phải được dành cho những người lao động. Ngay cả hôm nay khi viết những dòng này, cảm giác của tôi vẫn mãnh liệt đến mức một nỗi kinh hoàng vô thức quét qua tôi, và phổi tôi dường như vẫn thiếu không khí!
Trong khi đó, bất động và im lặng, Thuyền trưởng Nemo đứng chìm trong suy nghĩ. Một ý tưởng rõ ràng lướt qua tâm trí ông. Nhưng ông dường như gạt nó đi. Ông tự nhủ không. Cuối cùng những lời này thoát khỏi môi ông:
“Nước sôi!” ông lẩm bẩm.
“Nước sôi?” tôi kêu lên.
“Phải, thưa ông. Chúng ta bị nhốt trong một khu vực tương đối hạn hẹp. Nếu các bơm của chiếc Nautilus liên tục phun các dòng nước sôi vào không gian này, liệu điều đó có nâng nhiệt độ của nó lên và làm chậm sự đóng băng không?”
“Đáng thử!” tôi kiên quyết nói.
“Vậy ta thử thôi, giáo sư.”
Khi ấy, nhiệt kế bên ngoài chỉ -7 độ centigrade. Thuyền trưởng Nemo dẫn tôi tới bếp, nơi một cơ cấu chưng cất khổng lồ đang hoạt động, cung cấp nước uống bằng sự bốc hơi. Cơ cấu ấy được nạp đầy nước, và toàn bộ nhiệt điện của các pin được dồn vào những cuộn dây ngập trong chất lỏng. Trong vài phút, nước đạt 100 độ centigrade. Nó được đưa tới các bơm, trong khi nước mới thay thế nó trong quy trình. Nhiệt do các pin của chúng tôi tạo ra mạnh đến nỗi chỉ cần đi qua cơ cấu, nước lạnh hút từ biển đã tới thân bơm trong tình trạng sôi nóng.
Nước bốc hơi được phun vào khối nước băng giá bên ngoài, và sau ba giờ trôi qua, nhiệt kế cho biết nhiệt độ bên ngoài là -6 độ centigrade. Đã giành được một độ. Hai giờ sau, nhiệt kế chỉ còn -4 độ.
Sau khi theo dõi tiến triển của thao tác, kiểm tra lại bằng nhiều lần quan sát, tôi nói với thuyền trưởng: “Có hiệu quả.”
“Tôi nghĩ vậy,” ông đáp. “Chúng ta đã thoát bị nghiền nát. Giờ chỉ còn phải sợ ngạt thở.”
Trong đêm, nhiệt độ nước tăng lên -1 độ centigrade. Các luồng phun không thể đẩy nó lên thêm một độ nào nữa. Nhưng vì nước mặn chỉ đóng băng ở -2 độ, cuối cùng tôi yên tâm rằng không còn nguy cơ nó đông đặc.
Đến ngày hôm sau, 27 tháng 3, sáu mét băng đã bị xé khỏi ổ. Chỉ còn bốn mét nữa phải gỡ bỏ. Điều đó vẫn có nghĩa là bốn mươi tám giờ làm việc. Không khí trong nội thất chiếc Nautilus không thể được đổi mới. Vì vậy ngày hôm đó nó cứ tồi tệ dần.
Một sức nặng không chịu nổi đè lên tôi. Gần ba giờ chiều, cảm giác đau đớn này tác động đến tôi với cường độ dữ dội. Những cái ngáp làm quai hàm tôi như muốn trật ra. Phổi tôi hổn hển trong cuộc tìm kiếm thứ chất lỏng đàn hồi bốc lửa cần cho hô hấp, nay mỗi lúc một hiếm. Tâm trí tôi mê đi. Tôi nằm duỗi dài, sức lực cạn kiệt, gần như bất tỉnh. Conseil can đảm của tôi cảm thấy cùng những triệu chứng ấy, chịu cùng những đau đớn ấy, vậy mà không rời khỏi bên tôi. Anh nắm tay tôi, luôn động viên tôi, và tôi thậm chí nghe anh lẩm bẩm:
“Ôi, giá như tôi không phải thở, để dành thêm không khí cho ngài!”
Nghe anh nói những lời này, nước mắt trào lên mắt tôi.
Vì bên trong nói chung không thể chịu nổi, chúng tôi mới háo hức, mới sung sướng biết bao khi mặc đồ lặn để thay phiên làm việc! Tiếng cuốc vang lên trên lòng băng ấy. Cánh tay mỏi rã rời, bàn tay bị cọ xát rách da, nhưng ai quan tâm đến kiệt sức, vết thương có nghĩa gì? Không khí duy trì sự sống đến với phổi chúng tôi! Chúng tôi có thể thở! Chúng tôi có thể thở!
Vậy mà không ai kéo dài công việc dưới nước quá thời gian được ấn định. Hết ca, mỗi người nhường lại cho một bạn đồng hành hổn hển bình khí sẽ hồi sinh anh ta. Thuyền trưởng Nemo làm gương và là người đầu tiên phục tùng kỷ luật nghiêm ngặt này. Khi hết thời gian, ông nhường thiết bị cho người khác và trở vào bầu không khí ô uế trên tàu, luôn bình tĩnh, không nao núng, không than phiền.
Ngày hôm ấy, công việc thường lệ được hoàn thành với năng lượng còn lớn hơn. Trên toàn bộ diện tích, chỉ còn hai mét phải gỡ bỏ. Chỉ hai mét ngăn cách chúng tôi với biển mở. Nhưng các bình khí của con tàu gần như cạn. Chút không khí còn lại phải dành cho những người lao động. Không một nguyên tử nào cho chiếc Nautilus!
Khi tôi trở lại tàu, tôi cảm thấy mình nửa nghẹt thở. Một đêm khủng khiếp biết bao! Tôi không thể miêu tả nó. Những đau khổ như thế không thể diễn tả. Ngày hôm sau, tôi thở hụt hơi. Đau đầu và những cơn choáng váng loạng choạng khiến tôi lảo đảo như kẻ say. Các bạn đồng hành của tôi cũng trải qua những triệu chứng tương tự. Một số thủy thủ đoàn đã thở hắt ra hơi cuối.
Ngày hôm ấy, ngày thứ sáu trong cảnh bị giam cầm, Thuyền trưởng Nemo kết luận rằng cuốc và mai quá chậm để đối phó với lớp băng vẫn ngăn chúng tôi với nước mở—và ông quyết định nghiền nát lớp này. Con người ấy vẫn giữ năng lượng và sự điềm tĩnh. Ông đã khuất phục đau đớn thể xác bằng sức mạnh tinh thần. Ông vẫn có thể suy nghĩ, lập kế hoạch và hành động.
Theo lệnh ông, con tàu được nới ra, nói cách khác, nó được nâng khỏi lòng băng bằng một thay đổi trong trọng lượng riêng. Khi nó nổi lên, thủy thủ đoàn kéo nó, đưa nó tới đúng phía trên cái hào mênh mông đã vạch theo đường nước của tàu. Kế tiếp các két dằn đầy nước, con tàu chìm xuống và được lắp vào ổ của nó.
Đúng lúc ấy toàn bộ thủy thủ đoàn trở lại tàu, và cánh cửa kép bên ngoài được đóng lại. Đến lúc này chiếc Nautilus đang nghỉ trên một lớp băng chỉ dày một mét và đã bị các lỗ khoan đục thủng ở hàng nghìn chỗ.
Các van khóa của két dằn khi ấy được mở rộng, và 100 mét khối nước ào vào, làm trọng lượng chiếc Nautilus tăng thêm 100.000 kilôgam.
Chúng tôi chờ đợi, chúng tôi lắng nghe, chúng tôi quên đau khổ, chúng tôi lại hy vọng. Chúng tôi đã đặt sự cứu rỗi của mình vào canh bạc cuối cùng này.
Bất chấp tiếng vo ve trong đầu, chẳng mấy chốc tôi nghe được những rung động dưới thân chiếc Nautilus. Chúng tôi nghiêng đi. Băng nứt ra với một âm thanh xé lạ lùng, như giấy bị xé, và chiếc Nautilus bắt đầu lắng xuống.
“Chúng ta đang xuyên qua!” Conseil thì thầm vào tai tôi.
Tôi không thể trả lời anh. Tôi siết tay anh. Tôi bóp nó trong một cơn co giật vô thức.
Bất thần, bị cuốn đi bởi tải trọng thừa ghê gớm, chiếc Nautilus chìm vào khối nước như một viên đạn đại bác, nói cách khác, rơi như thể trong chân không!
Toàn bộ điện lực của chúng tôi khi ấy được dồn vào các bơm, lập tức bắt đầu tống nước khỏi các két dằn. Sau vài phút, chúng tôi đã hãm được cú rơi. Áp kế chẳng mấy chốc chỉ ra một chuyển động đi lên. Chân vịt được đưa tới tốc độ tối đa làm thân sắt run lên đến tận các đinh tán, và chúng tôi lao nhanh về phía bắc.
Nhưng phải mất bao lâu để đi dưới Vành Đai Băng tới biển mở? Thêm một ngày? Tôi sẽ chết trước!
Nằm nửa người trên một đi-văng trong thư viện, tôi nghẹt thở. Mặt tôi tím, môi tôi xanh, các năng lực của tôi ngưng trệ. Tôi không còn thấy hay nghe. Tôi đã mất mọi cảm giác về thời gian. Cơ bắp tôi không còn sức co lại.
Tôi không thể ước lượng những giờ đã trôi qua như thế. Nhưng tôi biết những cơn hấp hối của mình đã bắt đầu. Tôi nhận ra mình sắp chết...
Đột nhiên tôi tỉnh lại. Vài luồng không khí đã đi vào phổi tôi. Chúng tôi đã nổi lên mặt sóng sao? Chúng tôi đã vượt qua Vành Đai Băng sao?
Không! Ned và Conseil, hai người bạn can đảm của tôi, đang hy sinh bản thân để cứu tôi. Vẫn còn vài nguyên tử không khí trong đáy một thiết bị Rouquayrol. Thay vì tự thở chúng, họ đã dành chúng cho tôi, và trong khi họ nghẹt thở, họ rót sự sống vào tôi từng giọt một! Tôi cố đẩy thiết bị ra. Họ giữ tay tôi, và trong vài khoảnh khắc tôi được thở một cách xa xỉ.
Mắt tôi bay về phía đồng hồ. Lúc ấy là mười một giờ sáng. Hẳn phải là ngày 28 tháng 3. Chiếc Nautilus đang chạy với tốc độ kinh khủng bốn mươi dặm một giờ. Nó quằn quại trong nước.
Thuyền trưởng Nemo ở đâu? Ông đã chết sao? Các bạn đồng hành của ông có chết cùng ông không?
Đúng lúc ấy, áp kế chỉ rằng chúng tôi cách mặt nước không quá hai mươi foot. Chỉ một dải băng ngăn chúng tôi với không khí mở. Chúng tôi có thể phá xuyên qua không?
Có lẽ! Dù sao chiếc Nautilus cũng sắp thử. Thật vậy, tôi có thể cảm thấy nó nhận một vị trí xiên, hạ đuôi xuống và nâng mũi thúc lên. Việc nhận thêm nước đủ để chuyển thăng bằng của nó. Rồi, được chân vịt mạnh mẽ đẩy đi, nó tấn công ice field này từ bên dưới như một cừu phá thành đáng sợ. Nó xẻ rào chắn từng chút một, lùi lại, rồi tăng hết tốc lực lao vào dải băng đã bị đục thủng; và cuối cùng, bị cuốn đi bởi xung lượng tối hậu, nó nhào qua và lên mặt băng đóng cứng này, nghiền nát băng dưới sức nặng của nó.
Các cửa sập được mở—hoặc bị xé tung, nếu anh thích nói vậy—và những làn sóng không khí sạch được đưa vào mọi phần của chiếc Nautilus.
### CHƯƠNG 17
Từ Cape Horn đến Amazon
TÔI LÊN ĐƯỢC sàn ngoài bằng cách nào thì tôi không thể nói. Có lẽ người Canada đã đưa tôi lên đó. Nhưng tôi có thể thở, tôi có thể hít thứ không khí biển duy trì sự sống. Bên cạnh tôi, hai bạn đồng hành đang say sưa với những hạt oxy tươi. Những linh hồn đáng thương đã chịu đói lâu không được vồ vập thiếu suy nghĩ vào món ăn đầu tiên được trao cho họ. Trái lại, chúng tôi không cần thực hành sự điều độ như thế: chúng tôi có thể hút đầy phổi những nguyên tử từ không khí, và chính cơn gió, chính cơn gió ấy đã rót vào chúng tôi cơn say xa xỉ này!
“Ôi!” Conseil nói. “Oxy tuyệt làm sao! Xin ngài đừng sợ hít thở. Có đủ cho mọi người.”
Còn Ned Land, ông không nói một lời, nhưng đôi hàm há rộng của ông hẳn có thể làm một con cá mập phải sợ chạy. Và những hơi hít mạnh mẽ biết bao! Người Canada “kéo” như một lò nung đang cháy hết công suất.
Sức lực của chúng tôi nhanh chóng trở lại, và khi tôi nhìn quanh, tôi thấy chúng tôi chỉ có một mình trên sàn ngoài. Không thủy thủ đoàn. Không cả Thuyền trưởng Nemo. Những thủy thủ kỳ lạ của chiếc Nautilus bằng lòng với lượng oxy lưu thông bên trong. Không ai trong số họ lên để tận hưởng không khí mở.
Những lời đầu tiên tôi thốt ra là lời cảm kích và biết ơn hai bạn đồng hành của mình. Ned và Conseil đã giữ tôi sống trong những giờ cuối cùng của cơn hấp hối dài lâu. Nhưng không lời cảm ơn nào có thể đền đáp đầy đủ lòng tận tụy như thế.
“Lạy trời, giáo sư,” Ned Land đáp, “đừng nhắc tới chuyện đó! Chúng tôi đã làm gì đáng khen đâu? Chẳng có gì cả. Đó chỉ là một bài toán số học đơn giản. Mạng sống của ông đáng giá hơn mạng sống của chúng tôi. Vậy nên phải cứu nó.”
“Không, Ned,” tôi đáp, “nó không đáng giá hơn. Không ai có thể tốt hơn một người tử tế và hào hiệp như ông!”
“Được rồi, được rồi!” người Canada lặp lại, bối rối.
“Còn anh, Conseil can đảm của tôi, anh đã chịu đựng rất nhiều.”
“Không nhiều lắm, xin thành thật với ngài. Tôi thiếu vài ngụm không khí, nhưng hẳn cũng chịu được. Hơn nữa, khi thấy ngài ngất đi, tôi chẳng còn chút ham muốn thở nào. Nó làm tôi nghẹt thở, theo một cách...”
Lúng túng vì rơi vào sự tầm thường này, Conseil bỏ dở câu nói.
“Các bạn của tôi,” tôi đáp, vô cùng xúc động, “chúng ta gắn bó với nhau mãi mãi, và tôi mắc nợ các bạn sâu sắc—”
“Món nợ ấy tôi sẽ tận dụng,” người Canada chen vào.
“Hả?” Conseil nói.
“Phải,” Ned Land tiếp tục. “Ông có thể trả nợ bằng cách đi với tôi khi tôi rời khỏi chiếc Nautilus quỷ quái này.”
“Nhân tiện,” Conseil nói, “chúng ta có đang đi theo hướng thuận lợi không?”
“Có,” tôi đáp, “vì chúng ta đang đi về hướng mặt trời, và ở đây mặt trời nằm đúng phương bắc.”
“Chắc rồi,” Ned Land tiếp tục, “nhưng còn phải xem chúng ta sẽ đi tới Đại Tây Dương hay Thái Bình Dương, nói cách khác, liệu chúng ta sẽ kết thúc ở những biển nhiều tàu qua lại hay hoang vắng.”
Tôi không có câu trả lời cho điều này, và tôi sợ rằng Thuyền trưởng Nemo sẽ không đưa chúng tôi về phía quê nhà mà vào đại dương mênh mông kia, nơi rửa bờ cả châu Á lẫn châu Mỹ. Bằng cách ấy, ông sẽ hoàn tất chuyến vòng quanh thế giới dưới nước, trở lại những vùng biển nơi chiếc Nautilus được hưởng tự do lớn nhất. Nhưng nếu chúng tôi trở lại Thái Bình Dương, xa mọi bờ có dân cư, điều gì sẽ xảy ra với các kế hoạch của Ned Land?
Chúng tôi sẽ sớm giải quyết điểm quan trọng này. Chiếc Nautilus chạy nhanh. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã vượt qua Vòng Cực Nam cùng mũi Cape Horn. Chúng tôi ở ngang mũi cực nam của Nam Mỹ vào ngày 31 tháng 3 lúc bảy giờ tối.
Khi ấy mọi đau khổ đã qua đều bị quên lãng. Ký ức về cảnh bị giam dưới băng phai nhạt khỏi tâm trí chúng tôi. Chúng tôi chỉ nghĩ đến tương lai. Thuyền trưởng Nemo không còn xuất hiện, trong phòng khách cũng như trên sàn ngoài. Các vị trí được ghi mỗi ngày trên bản đồ thế giới do viên phó chỉ huy đặt vào đó, và chúng cho phép tôi xác định chính xác hướng đi của chiếc Nautilus. Bấy giờ, tối hôm ấy, trước sự hài lòng của tôi, rõ ràng chúng tôi đang trở về phía bắc theo tuyến Đại Tây Dương.
Tôi chia sẻ kết quả quan sát của mình với người Canada và Conseil.
“Tin tốt đấy,” người Canada đáp, “nhưng chiếc Nautilus đang đi đâu?”
“Tôi không thể nói, Ned.”
“Sau Nam Cực, thuyền trưởng của chúng ta muốn thử sức với Bắc Cực, rồi quay lại Thái Bình Dương bằng Hành lang Tây Bắc khét tiếng chăng?”
“Tôi sẽ không thách ông ta đâu,” Conseil đáp.
“Ồ được,” người Canada nói, “chúng ta sẽ chuồn khỏi ông ta từ lâu trước lúc đó.”
“Dù sao,” Conseil nói thêm, “ông ấy là một siêu nhân, Thuyền trưởng Nemo ấy, và chúng ta sẽ không bao giờ hối tiếc vì đã biết ông ấy.”
“Nhất là một khi chúng ta đã rời khỏi ông ta,” Ned Land chen vào.
Ngày hôm sau, 1 tháng 4, khi chiếc Nautilus nổi lên mặt sóng vài phút trước buổi trưa, chúng tôi thấy đất liền về phía tây. Đó là Tierra del Fuego, Đất Lửa, một cái tên do các nhà hàng hải đầu tiên đặt sau khi họ thấy vô số luồng khói bốc lên từ túp lều của người bản xứ. Đất Lửa này tạo thành một cụm đảo khổng lồ dài hơn ba mươi dặm biển và rộng tám mươi dặm biển, trải giữa vĩ độ 53 độ và 56 độ nam, và giữa kinh độ 67 độ 50′ và 77 độ 15′ tây. Đường bờ biển của nó trông bằng phẳng, nhưng những ngọn núi cao vươn lên ở xa. Tôi thậm chí tưởng mình thoáng thấy núi Sarmiento, cao 2.070 mét trên mực nước biển: một khối đá phiến hình kim tự tháp với đỉnh rất sắc, mà, tùy khi quang đãng hay phủ hơi nước, “báo trời đẹp hay xấu,” như Ned Land nói với tôi.
“Một phong vũ biểu hạng nhất, bạn tôi.”
“Vâng, thưa ngài, một phong vũ biểu tự nhiên từng không làm tôi thất vọng khi tôi điều hướng qua những lạch hẹp của eo Magellan.”
Đúng lúc ấy, đỉnh của nó hiện ra trước chúng tôi, nổi bật rõ ràng trên nền trời. Điều này báo thời tiết đẹp. Và quả đã như vậy.
Trở lại dưới nước, chiếc Nautilus đến gần bờ, chỉ đi dọc theo nó vài dặm. Qua các cửa sổ phòng khách, tôi có thể thấy những dây leo dài và các cây fucus khổng lồ, rong biển mang bọng mà biển mở ở cực đã cho thấy vài mẫu; với các sợi nhẵn, nhớt, chúng dài tới 300 mét; những dây cáp thật sự dày hơn một inch và rất dai, thường được dùng làm dây neo tàu. Một loài rong khác, gọi là velp và có lá dài bốn foot, chen chật trong các khối kết san hô và trải thảm đáy đại dương. Nó vừa làm tổ vừa làm thức ăn cho vô số giáp xác và thân mềm, cho cua và mực nang. Tại đây, hải cẩu và rái cá có thể dự một bữa tiệc thịnh soạn, trộn thịt cá với rau từ biển, như người Anh với món Irish stew của họ.
Chiếc Nautilus đi qua những vực sâu um tùm, phong phú này với tốc độ khủng khiếp. Gần chiều nó đến gần quần đảo Falkland, nơi tôi nhận ra những đỉnh gồ ghề vào ngày hôm sau. Biển có độ sâu vừa phải. Vì vậy, không phải vô lý, tôi giả định rằng hai đảo này, cùng nhiều đảo nhỏ bao quanh, trước kia từng là một phần của bờ biển Magellan. Quần đảo Falkland có lẽ do nhà hàng hải lừng danh John Davis phát hiện, người đã đặt cho chúng cái tên Davis Southern Islands. Sau đó Sir Richard Hawkins gọi chúng là Maidenland, theo Đức Trinh Nữ. Kế đó, vào đầu thế kỷ 18, chúng được đặt tên Malouines bởi các ngư dân từ Saint-Malo ở Brittany, rồi cuối cùng được người Anh, chủ nhân hiện nay của chúng, gọi là Falklands.
Ở các thủy lộ này, lưới của chúng tôi kéo lên những mẫu rong đẹp, đặc biệt là một số cây fucus có rễ chất đầy những con vẹm ngon nhất thế giới. Ngỗng và vịt đáp xuống từng tá trên sàn ngoài rồi chẳng mấy chốc chiếm chỗ trong kho thực phẩm của con tàu. Còn về cá, tôi đặc biệt quan sát vài loài cá xương thuộc giống goby, nhất là vài con cá bống dài hai decimét, rắc những đốm trắng nhạt và vàng.
Tôi cũng kinh ngạc trước vô số medusa, trong đó có loài đẹp nhất của giống này, sứa la bàn, riêng có ở biển Falkland. Một số sứa này có hình những chiếc dù nửa cầu rất nhẵn, sọc màu nâu đỏ và viền bằng mười hai dải đăng ten đều đặn. Những con khác trông như giỏ úp ngược, từ đó những lá rộng và các cành đỏ dài thướt tha rủ xuống. Chúng bơi bằng những rung động của bốn cánh tay dạng lá, để những suối tóc phong phú của xúc tu thả lơ lửng trong dòng trôi. Tôi muốn bảo quản vài mẫu của những zoophyte mảnh mai này, nhưng chúng chỉ là mây, bóng, ảo ảnh, tan chảy và bốc hơi bên ngoài môi trường bản xứ của mình.
Khi những mũi cuối cùng của quần đảo Falkland đã biến mất dưới chân trời, chiếc Nautilus lặn xuống độ sâu từ hai mươi đến hai mươi lăm mét và đi dọc bờ Nam Mỹ. Thuyền trưởng Nemo không xuất hiện.
Chúng tôi không rời các thủy lộ Patagonia này cho đến ngày 3 tháng 4, lúc thì đi dưới đại dương, lúc thì trên mặt nước. Chiếc Nautilus vượt qua cửa sông rộng do cửa Rio de la Plata tạo thành, và ngày 4 tháng 4 chúng tôi ở ngang Uruguay, tuy cách xa ngoài khơi năm mươi dặm. Giữ hướng bắc, nó theo các đường uốn dài của Nam Mỹ. Đến lúc ấy, chúng tôi đã đi 16.000 dặm biển kể từ khi lên tàu ở biển Nhật Bản.
Gần mười một giờ sáng, chúng tôi cắt chí tuyến Nam trên kinh tuyến 37, đi khá xa ngoài Cape Frio. Trước sự không hài lòng của Ned Land, Thuyền trưởng Nemo không thích vùng lân cận các bờ biển đông dân của Brazil, vì ông phóng qua với tốc độ chóng mặt. Ngay cả những con cá hoặc chim nhanh nhất cũng không theo kịp chúng tôi, và các kỳ thú tự nhiên ở những biển này hoàn toàn thoát khỏi quan sát của chúng tôi.
Tốc độ này được duy trì trong nhiều ngày, và vào tối ngày 9 tháng 4, chúng tôi thấy mũi cực đông của Nam Mỹ, Cape São Roque. Nhưng rồi chiếc Nautilus lại đổi hướng và đi tìm những độ sâu thấp nhất của một thung lũng dưới nước khoét giữa mũi này và Sierra Leone trên bờ biển châu Phi. Ngang quần đảo West Indies, thung lũng này chẻ thành hai nhánh, và về phía bắc nó kết thúc trong một hõm sâu khổng lồ 9.000 mét. Từ địa điểm này tới Tiểu Antilles, mặt cắt địa chất của đại dương có một vách dựng đứng cao sáu kilômét, và ngang quần đảo Cape Verde, có một bức tường khác cũng hùng vĩ như vậy; hai hàng rào này cùng giam giữ toàn bộ lục địa chìm Atlantis. Nền của thung lũng mênh mông này được điểm tô bởi các dãy núi, đem đến cho những vực sâu dưới nước này những phong cảnh hữu tình. Miêu tả này chủ yếu dựa trên một số bản đồ vẽ tay cất trong thư viện của chiếc Nautilus, những bản đồ rõ ràng do chính Thuyền trưởng Nemo thực hiện từ các quan sát riêng của ông.
Trong hai ngày, chúng tôi thăm các vùng nước sâu và hoang vắng này nhờ các vây nghiêng. Chiếc Nautilus thực hiện những cú lặn chéo dài đưa chúng tôi tới mọi tầng. Nhưng ngày 11 tháng 4, nó đột ngột nổi lên, và bờ biển lại xuất hiện ở cửa sông Amazon, một cửa sông khổng lồ có lượng nước đổ ra lớn đến mức làm nhạt nước biển trên một vùng rộng vài dặm biển.
Chúng tôi cắt Xích đạo. Hai mươi dặm về phía tây là Guiana, lãnh thổ Pháp, nơi chúng tôi có thể dễ dàng tìm nơi trú ẩn. Nhưng gió đang thổi mạnh, và những con sóng dữ dội không cho phép chúng tôi đối mặt chúng chỉ bằng một chiếc xuồng. Chắc chắn Ned Land hiểu điều này vì ông không nói gì với tôi. Về phần mình, tôi không nhắc đến các kế hoạch trốn thoát của ông vì không muốn đẩy ông vào một nỗ lực chắc chắn thất bại.
Tôi sẵn sàng được đền bù cho sự trì hoãn này bằng những nghiên cứu hấp dẫn. Trong hai ngày 11 và 12 tháng 4, chiếc Nautilus không rời mặt biển, và lưới kéo của nó đem lên một mẻ bắt thật kỳ diệu gồm zoophyte, cá và bò sát.
Một số zoophyte được dây xích của lưới kéo nạo lên. Phần lớn là những hải quỳ xinh đẹp thuộc họ Actinidia, trong đó, ngoài các loài khác, có Phyctalis protexta, bản địa của phần đại dương này: một thân trụ nhỏ trang điểm bằng các đường dọc, lốm đốm các đốm đỏ, và được đội bởi một đóa xúc tu nở kỳ diệu. Còn về thân mềm, chúng gồm những mẫu tôi đã quan sát: ốc tháp, vỏ ô-liu thuộc loài “tent olive” với những đường giao nhau gọn ghẽ và các đốm nâu đỏ nổi rõ trên nền màu thịt, ốc nhện kỳ quái trông như bọ cạp hóa đá, ốc thủy tinh trong suốt, argonaut, vài con mực nang rất ngon, và một số loài mực mà các nhà tự nhiên học cổ đại xếp chung với cá bay, chủ yếu được dùng làm mồi bắt cá tuyết.
Còn về cá ở các thủy lộ này, tôi ghi nhận nhiều loài mà trước đó tôi chưa có dịp nghiên cứu. Trong số cá sụn: vài con brook lamprey, một dạng cá chình dài mười lăm inch, đầu xanh lục, vây tím, lưng xanh xám, bụng nâu bạc rắc những đốm sáng, mống mắt viền vàng, những con vật khác thường mà dòng Amazon hẳn đã cuốn ra biển vì môi trường sống tự nhiên của chúng là nước ngọt; cá đuối gai, mõm nhọn, đuôi dài, mảnh và được vũ trang bằng một gai răng cưa lớn; cá mập nhỏ dài một mét có da xám và trắng nhạt, răng xếp thành nhiều hàng cong ngược, loài thường được gọi là carpet shark; cá dơi, một thứ tam giác cân màu đỏ nhạt dài nửa mét, có vây ngực gắn bằng các phần kéo dài bằng thịt khiến những con cá này trông như dơi, dù một phụ bộ bằng sừng nằm gần lỗ mũi đem lại cho chúng biệt danh kỳ lân biển; cuối cùng, đôi loài cá bò, cucuyo có sườn lốm đốm lấp lánh màu vàng rực, và leatherjacket tím tươi có sắc màu óng ánh như cổ chim bồ câu.
Tôi sẽ kết thúc bảng danh mục hơi khô nhưng khá chính xác này bằng loạt cá xương tôi quan sát: cá chình thuộc giống Apteronotus có mõm trắng tuyết rất tù, thân sơn màu đen đẹp và được vũ trang bằng một roi thịt rất dài, mảnh; cá sardine dài thuộc giống Odontognathus, giống cá chó dài ba decimét, sáng rực ánh bạc; cá thu Guarania có hai vây hậu môn; cá rudderfish nhuộm đen mà người ta bắt bằng đuốc, loài cá dài hai mét và có thịt trắng, chắc, dày, khi tươi có vị như cá chình, khi khô như cá hồi xông khói; cá wrasse nửa đỏ có vảy chỉ ở gốc các vây lưng và vây hậu môn; cá grunts trên đó vàng và bạc hòa ánh với ruby và topaz; cá gilthead đuôi vàng có thịt cực kỳ ngon và đặc tính phát quang khiến chúng bị lộ giữa nước; cá porgy nhuộm cam, lưỡi mảnh; cá croaker có vây đuôi vàng; cá surgeonfish đen; cá bốn mắt từ Surinam, vân vân.
Từ “vân vân” này sẽ không ngăn tôi nhắc tới thêm một con cá nữa mà Conseil, vì lý do chính đáng, sẽ nhớ lâu.
Một trong các lưới của chúng tôi đã kéo lên một loại cá đuối rất dẹt, nặng chừng hai mươi kilôgam; nếu cắt đuôi đi, nó sẽ tạo thành một đĩa hoàn hảo. Nó trắng bên dưới và đỏ nhạt bên trên, với các đốm tròn lớn màu xanh đậm viền đen, da khá nhẵn và kết thúc bằng một vây hai thùy. Nằm trên sàn ngoài, nó cứ quẫy bằng những cử động co giật, cố lật mình lại, nỗ lực đến mức cú giãy cuối cùng của nó sắp hất nó xuống biển. Nhưng Conseil, rất muốn giữ con cá của mình, lao vào nó, và trước khi tôi kịp ngăn, anh tóm nó bằng cả hai tay.
Lập tức, anh nằm ngửa, chân chổng lên trời, nửa thân tê liệt, và kêu lên:
“Ôi, thưa ngài, thưa ngài! Ngài cứu tôi với!”
Lần đầu tiên trong đời, anh chàng đáng thương không xưng hô với tôi “ở ngôi thứ ba.”
Người Canada và tôi dựng anh dậy; chúng tôi xoa bóp hai cánh tay co cứng của anh, và khi anh lấy lại năm giác quan, nhà phân loại vĩnh cửu ấy lẩm bẩm bằng giọng đứt quãng:
“Lớp cá sụn, bộ Chondropterygia có mang cố định, phân bộ Selacia, họ Rajiiforma, giống cá đuối điện.”
“Phải, bạn tôi,” tôi đáp, “chính một con cá đuối điện đã đưa anh vào tình trạng đáng thương này.”
“Ngài cứ tin tôi chuyện này,” Conseil đáp ngay. “Tôi sẽ báo thù con vật ấy!”
“Bằng cách nào?”
“Tôi sẽ ăn nó.”
Điều anh làm ngay tối hôm ấy, nhưng hoàn toàn là để trả đũa. Vì, nói thật, nó có vị như da thuộc.
Conseil tội nghiệp đã tấn công một con cá đuối điện thuộc loài nguy hiểm nhất, cumana. Sống trong môi trường dẫn điện như nước, con vật kỳ lạ này có thể giật điện những con cá khác từ cách xa vài mét, sức mạnh của cơ quan điện của nó lớn đến mức ấy, một cơ quan có hai bề mặt chính đo được ít nhất hai mươi bảy foot vuông.
Trong ngày hôm sau, 12 tháng 4, chiếc Nautilus đến gần bờ biển Guiana thuộc Hà Lan, ở cửa sông Maroni. Ở đó, vài nhóm bò biển đang sống thành các đơn vị gia đình. Đó là manatee, thuộc bộ Sirenia, như dugong và bò biển Steller. Vô hại và không hung dữ, những con vật đẹp này dài sáu đến bảy mét và hẳn nặng ít nhất 4.000 kilôgam mỗi con. Tôi nói với Ned Land và Conseil rằng tự nhiên nhìn xa đã trao cho các động vật có vú này một vai trò trọng yếu. Về thực chất, manatee, như hải cẩu, được tạo ra để gặm các đồng cỏ dưới nước, phá hủy những cụm rong cỏ chặn cửa các sông nhiệt đới.
“Và các anh có biết,” tôi nói thêm, “điều gì đã xảy ra kể từ khi con người gần như tiêu diệt hoàn toàn những giống hữu ích này không? Rong cỏ thối rữa đã đầu độc không khí, và không khí độc ấy gây ra bệnh sốt vàng tàn phá các xứ sở tuyệt đẹp này. Thảm thực vật độc hại này đã tăng lên dưới các biển của Vùng Nóng, vì vậy bệnh dịch lan không gì cản nổi từ cửa Rio de la Plata tới Florida!”
Và nếu Giáo sư Toussenel nói đúng, tai họa này chẳng là gì so với tai ương sẽ giáng xuống con cháu chúng ta một khi các biển bị làm cạn kiệt cá voi và hải cẩu. Khi đó, đầy ắp sứa, mực và các loài devilfish khác, đại dương sẽ trở thành những trung tâm nhiễm độc khổng lồ, bởi sóng của chúng sẽ không còn sở hữu “những chiếc dạ dày khổng lồ mà Chúa đã giao phó để quét sạch mặt biển.”
Trong khi đó, không xem thường các lý thuyết này, thủy thủ đoàn chiếc Nautilus bắt được nửa tá manatee. Về thực chất, đây là chuyện dự trữ kho thực phẩm bằng thịt đỏ tuyệt hảo, còn ngon hơn thịt bò hoặc thịt bê. Cuộc săn chúng không phải một trò thể thao hấp dẫn. Manatee để mình bị hạ gục mà không chống cự. Vài nghìn ký thịt được đưa xuống dưới, để sấy khô và cất trữ.
Cùng ngày, một cách đánh cá kỳ lạ lại làm tăng thêm kho dự trữ của chiếc Nautilus, ở những biển đầy con mồi này. Lưới kéo của chúng tôi mang lên trong các mắt lưới một số con cá có đầu đội những phiến bầu dục nhỏ với mép thịt. Đó là suckerfish thuộc họ thứ ba của phân bộ Malacopterygia dưới mang. Các đĩa dẹt trên đầu chúng gồm những phiến sụn di động nằm ngang, giữa đó con vật có thể tạo chân không, cho phép chúng bám vào vật thể như giác hút.
Những con remora tôi đã quan sát ở Địa Trung Hải có họ hàng với loài này. Nhưng sinh vật đang nói đến ở đây là Echeneis osteochara, riêng có ở vùng biển này. Ngay sau khi bắt chúng, các thủy thủ của chúng tôi thả chúng vào các thùng nước.
Đánh cá xong, chiếc Nautilus lại gần bờ hơn. Ở địa điểm này, nhiều rùa biển đang ngủ trên mặt sóng. Sẽ khó bắt được những loài bò sát quý giá này, bởi chúng thức dậy trước tiếng động nhỏ nhất, và mai rắn chắc của chúng thì lao đâm không thủng. Nhưng cá suckerfish của chúng tôi sẽ thực hiện việc bắt chúng với độ chắc chắn và chính xác khác thường. Thật ra, con vật này là một lưỡi câu sống, hứa hẹn của cải và hạnh phúc cho cả người đánh cá non tay nhất trong nghề.
Người của chiếc Nautilus gắn vào đuôi mỗi con cá một chiếc vòng đủ lớn để không cản trở cử động của nó, và vào vòng này buộc một sợi dây dài có đầu kia neo trên tàu.
Bị ném xuống biển, suckerfish lập tức bắt đầu đóng vai trò của mình, đi tới và bám chặt vào yếm ngực của rùa. Sức bám của chúng lớn đến nỗi chúng thà bị xé rách chứ không chịu buông. Chúng được kéo vào, vẫn bám vào các con rùa cùng lên tàu với chúng.
Bằng cách ấy, chúng tôi bắt được vài con loggerhead, loài bò sát rộng một mét và nặng 200 ký. Chúng cực kỳ quý giá vì mai được phủ bằng những tấm sừng lớn, mỏng, nâu, trong suốt, có các vệt trắng và vàng. Ngoài ra, xét theo phương diện ăn được, chúng cũng tuyệt hảo, với hương vị tinh tế sánh được với rùa xanh.
Việc đánh bắt này kết thúc thời gian chúng tôi lưu lại các thủy lộ của Amazon, và tối hôm ấy chiếc Nautilus lại hướng ra khơi xa.
### CHƯƠNG 18
Quỷ biển
TRONG VÀI NGÀY, chiếc Nautilus cứ tiếp tục tránh xa bờ biển châu Mỹ. Rõ ràng nó không muốn lui tới các làn sóng của vịnh Mexico hay biển Caribe. Tuy nước dưới sống tàu không hề thiếu, vì độ sâu trung bình của các biển này là 1.800 mét; nhưng các thủy lộ này, rải đầy đảo và bị tàu hơi nước cày xới, hẳn không hợp với Thuyền trưởng Nemo.
Ngày 16 tháng 4, chúng tôi thấy Martinique và Guadeloupe từ khoảng cách chừng ba mươi dặm. Trong một khoảnh khắc, tôi có thể nhìn thấy các đỉnh cao của chúng.
Người Canada khá chán nản, vì đã trông cậy vào việc thực hiện kế hoạch trong vịnh, hoặc bằng cách tới bờ, hoặc bằng cách ghé sát một trong nhiều chiếc thuyền qua lại buôn bán ven biển từ đảo này sang đảo khác. Một cuộc trốn thoát hẳn hoàn toàn khả thi, nếu Ned Land xoay xở chiếm được xuồng mà thuyền trưởng không biết. Nhưng giữa đại dương thì điều đó không thể nghĩ tới.
Người Canada, Conseil và tôi đã có một cuộc trò chuyện khá dài về chuyện này. Trong sáu tháng, chúng tôi đã là tù nhân trên chiếc Nautilus. Chúng tôi đã đi 17.000 dặm biển, và như Ned Land nói, chẳng thấy hồi kết. Vì vậy ông đưa ra cho tôi một đề xuất mà tôi chưa dự liệu. Chúng tôi phải hỏi thẳng Thuyền trưởng Nemo câu này: thuyền trưởng có định giữ chúng tôi vĩnh viễn trên tàu của ông không?
Biện pháp này làm tôi khó chịu. Theo ý tôi, nó sẽ chẳng dẫn đến đâu. Chúng tôi không thể hy vọng gì ở người chỉ huy chiếc Nautilus mà chỉ có thể dựa vào chính mình. Hơn nữa, từ ít lâu nay con người ấy trở nên u ám hơn, khép kín hơn, ít giao thiệp hơn. Ông dường như tránh mặt tôi. Tôi chỉ gặp ông vào những khoảng rất thưa. Trước kia ông từng thích giải thích cho tôi các kỳ quan dưới nước; giờ đây ông để mặc tôi với nghiên cứu của mình và không còn vào phòng khách.
Những thay đổi nào đã đến với ông? Do nguyên nhân gì? Tôi không có lý do gì để trách mình. Phải chăng sự hiện diện của chúng tôi trên tàu là một gánh nặng đối với ông? Dù vậy, tôi không nuôi hy vọng rằng con người ấy sẽ thả chúng tôi tự do.
Vì vậy tôi cầu xin Ned để tôi suy nghĩ trước khi hành động. Nếu biện pháp này không có kết quả, nó có thể làm thuyền trưởng nghi ngờ, khiến hoàn cảnh của chúng tôi gian nan hơn, và gây nguy hiểm cho các kế hoạch của người Canada. Tôi có thể nói thêm rằng tôi khó có thể dùng tình trạng sức khỏe của chúng tôi làm lý lẽ. Ngoại trừ thử thách khắc nghiệt dưới Vành Đai Băng ở Nam Cực, chúng tôi chưa bao giờ thấy khỏe hơn, cả Ned, Conseil lẫn tôi. Thức ăn bổ dưỡng, không khí duy trì sự sống, sinh hoạt đều đặn và nhiệt độ đồng nhất đã giữ bệnh tật ở xa; và đối với một người không nhớ cuộc sống cũ của mình trên đất liền, đối với một Thuyền trưởng Nemo ở nhà tại đây, đi nơi mình muốn, đạt mục đích bằng những con đường bí ẩn với người khác nếu không phải với chính ông, tôi có thể hiểu cuộc đời như thế. Nhưng chính chúng tôi thì chưa cắt đứt mọi ràng buộc với nhân loại. Về phần mình, tôi không muốn những nghiên cứu mới mẻ và lạ thường của tôi bị chôn cùng xương cốt mình. Bấy giờ tôi đã giành được quyền viết cuốn sách hoàn chỉnh về biển, và sớm muộn tôi muốn cuốn sách ấy thấy ánh sáng ban ngày.
Một lần nữa, qua các tấm che mở vào vùng nước Caribe này mười mét dưới mặt sóng, tôi tìm thấy biết bao mẫu vật hấp dẫn để miêu tả trong ghi chép hằng ngày của mình! Trong số các zoophyte, có những con Portuguese man-of-war được gọi bằng tên Physalia pelagica, như những túi phồng lớn, thuôn dài, lấp lánh màu ngọc trai, căng màng trước gió, để các xúc tu xanh của chúng trôi như những sợi tơ; với mắt thì là những con sứa đáng yêu, với tay chạm vào thì là những cây tầm ma thật sự rỉ ra một chất lỏng ăn mòn. Trong số articulates, có những giun đốt dài một mét rưỡi, được trang bị một vòi hồng, có 1.700 cơ quan vận động, uốn lượn trong nước, và khi đi, phát ra mọi ánh trong quang phổ mặt trời. Từ ngành cá có manta ray, những cá sụn khổng lồ dài mười foot và nặng 600 pound, vây ngực tam giác, giữa lưng hơi cong, mắt gắn vào mép mặt ở phía trước đầu; chúng nổi như mảnh vỡ tàu, đôi khi bám vào cửa kính chúng tôi như những tấm màn đục. Có những cá triggerfish châu Mỹ mà tự nhiên chỉ nghiền cho chúng hai sắc tố đen và trắng, goby hình lông chim dài và mập với vây vàng và hàm nhô, cá thu dài mười sáu decimét có răng ngắn, sắc, phủ vảy nhỏ và có họ hàng với loài albacore. Kế đến là bầy red mullet mặc áo nẹp bằng các sọc vàng từ đầu đến đuôi, các vây sáng bóng run rẩy, những kiệt tác trang sức thật sự, xưa kia linh thiêng với nữ thần Diana, được giới La Mã giàu có săn lùng nhiều, và về chúng có câu tục ngữ cổ: “Kẻ bắt được chúng thì không ăn chúng!” Cuối cùng, trang điểm bằng các dải lục bảo và khoác nhung lụa, cá thiên thần vàng đi qua trước mắt chúng tôi như các triều thần trong tranh Veronese; cá spurred gilthead lướt qua bằng các vây ngực nhanh nhẹn; cá thread herring dài mười lăm inch bọc trong ánh lân quang của mình; cá gray mullet quất biển bằng cái đuôi thịt lớn; cá hồi đỏ dường như cắt sóng bằng các vây ngực sắc; và cá mặt trăng bạc, xứng với tên gọi, mọc trên chân trời nước như những phản chiếu trắng nhạt của nhiều mặt trăng.
Biết bao mẫu vật mới kỳ diệu khác tôi vẫn có thể quan sát nếu, từng chút một, chiếc Nautilus không lắng xuống các tầng sâu hơn! Các vây nghiêng kéo nó xuống độ sâu 2.000 và 3.500 mét. Ở đó, đời sống động vật chỉ còn được đại diện bởi huệ biển, sao biển, những crinoid xinh đẹp có đầu hình chuông như chiếc chén nhỏ trên thân thẳng, ốc top-shell, ốc răng đỏ máu, và ốc fissurella, một loài thân mềm ven bờ cỡ lớn.
Đến ngày 20 tháng 4, chúng tôi đã nổi lên mức trung bình 1.500 mét. Đất liền gần nhất là quần đảo Bahamas, rải như một mẻ sỏi trên mặt nước. Ở đó những vách đá ngầm cao vươn lên, những bức tường thẳng đứng làm bằng các khối lởm chởm xếp như nền đá lớn, giữa đó mở ra những hang đen sâu đến mức các tia điện của chúng tôi không thể chiếu tới tận cùng.
Các tảng đá này được treo bằng những cây rong khổng lồ, immense sea tangle, fucus đồ sộ—một giàn cây nước thật sự xứng với thế giới của những người khổng lồ.
Khi bàn về các cây khổng lồ này, Conseil, Ned và tôi tự nhiên nhắc tới những động vật khổng lồ của biển. Rõ ràng cái trước được dành để nuôi cái sau. Tuy nhiên, qua các cửa sổ của chiếc Nautilus gần như bất động, tôi không thấy gì giữa các sợi dài này ngoài những articulates chủ yếu thuộc phân ngành Brachyura: cua nhện chân dài, cua tím và cua bọt biển riêng có ở vùng nước Caribe.
Khoảng mười một giờ, Ned Land gọi tôi chú ý tới một sự náo động đáng sợ ngoài khu rong biển khổng lồ này.
“Chà,” tôi nói, “đây là những hang quỷ biển thật sự, và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thấy vài quái vật như thế quanh đây.”
“Gì cơ!” Conseil chen vào. “Mực, những con mực thường thuộc lớp Cephalopoda à?”
“Không,” tôi nói, “quỷ biển kích thước lớn. Nhưng bạn Land chắc chắn nhầm, vì tôi chẳng thấy gì.”
“Đáng tiếc thật,” Conseil đáp. “Tôi muốn đối mặt với một con trong số những quỷ biển tôi đã nghe nói rất nhiều, chúng có thể kéo tàu xuống vực sâu. Những con thú ấy mang tên krake—”
“Fake thì có,” người Canada mỉa mai đáp.
“Krakens!” Conseil đáp trả, hoàn tất từ của mình mà không nao núng trước câu dí dỏm của bạn đồng hành.
“Không ai có thể làm tôi tin,” Ned Land nói, “rằng những con vật như thế tồn tại.”
“Sao lại không?” Conseil đáp. “Chúng ta từng chân thành tin vào con kỳ lân biển của ngài mà.”
“Chúng ta đã sai, Conseil.”
“Không nghi ngờ gì, nhưng có những người khác đến tận hôm nay vẫn không chút nghi ngờ mà tin!”
“Có lẽ, Conseil. Nhưng về phần tôi, tôi kiên quyết không chấp nhận sự tồn tại của bất kỳ quái vật nào như vậy cho đến khi chính tay tôi mổ xẻ nó.”
“Tuy nhiên,” Conseil hỏi tôi, “ngài không tin vào những con quỷ biển khổng lồ sao?”
“Ôi chao! Ai dưới địa ngục từng tin vào chúng?” người Canada kêu lên.
“Nhiều người đấy, Ned bạn tôi,” tôi nói.
“Không phải ngư dân. Có lẽ các nhà khoa học!”
“Xin thứ lỗi, Ned. Ngư dân và các nhà khoa học!”
“Vì chính tôi đây,” Conseil nói với vẻ mặt nghiêm trang nhất thế giới, “tôi nhớ hoàn toàn đã thấy một chiếc thuyền lớn bị các cánh tay của một cephalopod kéo xuống dưới sóng.”
“Anh thấy chuyện đó?” người Canada hỏi.
“Phải, Ned.”
“Bằng chính hai mắt của anh?”
“Bằng chính hai mắt của tôi.”
“Ở đâu, xin hỏi?”
“Ở Saint-Malo,” Conseil đáp không nao núng.
“Trong cảng?” Ned Land nói mỉa mai.
“Không, trong một nhà thờ,” Conseil đáp.
“Trong một nhà thờ!” người Canada kêu lên.
“Phải, Ned bạn tôi. Ở đó có một bức tranh miêu tả con quỷ biển đang nói đến.”
“Hay lắm!” Ned Land phá lên cười. “Ông Conseil đã chơi khăm tôi một vố!”
“Thật ra anh ấy nói đúng,” tôi nói. “Tôi từng nghe nói về bức tranh ấy. Nhưng đề tài nó miêu tả được lấy từ một truyền thuyết, mà anh biết phải đánh giá truyền thuyết ra sao trong các vấn đề lịch sử tự nhiên! Hơn nữa, khi nói đến quái vật, trí tưởng tượng con người bao giờ cũng có khuynh hướng phóng túng quá đà. Người ta không chỉ khẳng định rằng những con quỷ biển này có thể kéo tàu xuống nước, mà một ông Olaus Magnus nào đó còn kể về một con cephalopod dài một dặm, trông giống một hòn đảo hơn là một con vật. Cũng có câu chuyện kể rằng một ngày nọ, Giám mục Trondheim đã dựng bàn thờ trên một tảng đá mênh mông. Sau khi ông làm lễ xong, tảng đá ấy bắt đầu chuyển động và quay trở lại biển. Tảng đá ấy là một con quỷ biển.”
“Và đó là tất cả những gì chúng ta biết?” người Canada hỏi.
“Không,” tôi đáp, “một giám mục khác, Pontoppidan ở Bergen, cũng kể về một con quỷ biển lớn đến mức cả một trung đoàn kỵ binh có thể thao diễn trên mình nó.”
“Các vị giám mục thời xưa ấy quả là nói dai!” Ned Land nói.
“Cuối cùng, các nhà tự nhiên học cổ đại nhắc đến vài quái vật có miệng lớn như một vịnh biển, to đến mức không thể lọt qua eo Gibraltar.”
“Làm việc giỏi đấy, các ông!” người Canada chen vào.
“Nhưng trong tất cả những chuyện ấy, có chút sự thật nào không?” Conseil hỏi.
“Hoàn toàn không, các bạn của tôi, ít nhất là trong những chuyện vượt khỏi ranh giới đáng tin và bay thẳng vào ngụ ngôn hoặc truyền thuyết. Tuy vậy, đối với những tưởng tượng của các người kể chuyện ấy, nếu không có nguyên nhân, thì ít ra cũng phải có cái cớ. Không thể phủ nhận rằng một số loài mực và các loài quỷ biển khác khá lớn, dù vẫn nhỏ hơn cá voi. Aristotle đã đặt kích thước một con mực ở mức năm cubit, tức 3,1 mét. Ngư dân của chúng ta thường thấy những mẫu vật dài hơn 1,8 mét. Các bảo tàng ở Trieste và Montpellier đã bảo quản một vài xác quỷ biển dài hai mét. Ngoài ra, theo tính toán của các nhà tự nhiên học, một trong những con vật này chỉ dài sáu foot cũng sẽ có các xúc tu dài tới hai mươi bảy foot. Như thế đã đủ tạo nên một quái vật đáng sợ rồi.”
“Ngày nay có ai đánh bắt chúng không?” người Canada hỏi.
“Nếu người ta không đánh bắt chúng, thì ít nhất thủy thủ cũng trông thấy chúng. Một người bạn của tôi, Thuyền trưởng Paul Bos ở Le Havre, thường thề với tôi rằng ông đã gặp một trong những quái vật có kích thước khổng lồ này ở các biển Đông Ấn. Nhưng sự kiện đáng kinh ngạc nhất, chứng minh không thể chối cãi rằng những con vật khổng lồ này thật sự tồn tại, đã xảy ra vài năm trước, vào năm 1861.”
“Sự kiện gì vậy?” Ned Land hỏi.
“Chính là chuyện này. Năm 1861, ở phía đông bắc Tenerife và khá gần vĩ độ nơi chúng ta đang ở hiện nay, thủy thủ đoàn tàu pháo Alecto phát hiện một con mực khổng lồ đang bơi trong vùng nước của họ. Chỉ huy Bouguer tiếp cận con vật và tấn công nó bằng lao cùng những loạt súng trường, nhưng không mấy thành công vì đạn và lao xuyên qua thịt mềm của nó như thể đó là thạch bán lỏng. Sau nhiều lần thử vô hiệu, thủy thủ đoàn xoay xở luồn được một thòng lọng quanh thân loài thân mềm ấy. Thòng lọng này trượt tới tận các vây đuôi rồi dừng lại. Sau đó họ cố kéo quái vật lên tàu, nhưng trọng lượng nó quá lớn đến nỗi khi họ kéo dây, con vật chia tay với cái đuôi của nó; và mất món trang sức ấy, nó biến mất dưới làn nước.”
“Cuối cùng cũng có một sự kiện thật,” Ned Land nói.
“Một sự kiện không thể tranh cãi, Ned can đảm của tôi. Vì vậy người ta đã đề nghị đặt tên con quỷ biển này là Mực của Bouguer.”
“Nó dài bao nhiêu?” người Canada hỏi.
“Nó chẳng phải dài khoảng sáu mét sao?” Conseil nói, người đang đứng bên cửa sổ và lại xem xét các kẽ nứt trên vách đá.
“Chính xác,” tôi đáp.
“Đầu nó chẳng phải,” Conseil nói tiếp, “được đội bởi tám xúc tu run rẩy trong nước như một ổ rắn sao?”
“Chính xác.”
“Mắt nó chẳng phải lồi rõ và to đáng kể sao?”
“Phải, Conseil.”
“Và miệng nó chẳng phải là một cái mỏ vẹt thật sự nhưng có kích thước đáng sợ sao?”
“Đúng, Conseil.”
“Vậy thì, với tất cả sự kính trọng dành cho ngài,” Conseil bình thản đáp, “nếu đây không phải Mực của Bouguer, thì ít nhất nó cũng là một họ hàng gần của con ấy!”
Tôi nhìn chằm chằm Conseil. Ned Land lao tới cửa sổ.
“Một con vật kinh khủng quá!” ông kêu lên.
Tới lượt tôi nhìn, và không thể kìm được một cử động ghê tởm. Trước mắt tôi đang run rẩy một con quái vật khủng khiếp xứng đáng có chỗ trong những truyền thuyết quái thai hoang đường nhất.
Đó là một con mực có kích thước khổng lồ, dài trọn tám mét. Nó đang đi lùi với tốc độ ghê gớm theo cùng hướng với chiếc Nautilus. Nó nhìn chòng chọc bằng đôi mắt khổng lồ, trừng trừng, nhuộm màu xanh biển. Tám cánh tay của nó—hay nói chính xác hơn, tám cái chân—mọc từ đầu nó, điều đã khiến những con vật này mang tên cephalopod; các cánh tay ấy vươn xa gấp đôi chiều dài thân thể và quằn quại như tóc rắn của các nữ thần Báo Thù. Người ta có thể thấy rõ 250 giác hút của nó, xếp dọc mặt trong các xúc tu và có hình những nang bán cầu. Đôi khi các giác hút này bám vào cửa sổ phòng khách bằng cách tạo chân không ép vào đó. Miệng quái vật—một cái mỏ bằng chất sừng và có hình như mỏ vẹt—mở ra khép lại theo chiều dọc. Lưỡi nó, cũng bằng chất sừng và được vũ trang bằng nhiều hàng răng sắc, thò ra thụt vào giữa cặp kéo thật sự ấy. Một quái thai của tự nhiên! Mỏ chim trên thân một loài thân mềm! Thân nó có hình con suốt, phình ở giữa, một khối thịt hẳn phải nặng 20.000 đến 25.000 kilôgam. Màu sắc bất ổn của nó thay đổi với tốc độ dữ dội khi con vật bị kích động, lần lượt chuyển từ xanh xám sang nâu đỏ.
Điều gì đang làm loài thân mềm này kích động? Chắc chắn là sự hiện diện của chiếc Nautilus, còn đáng sợ hơn chính nó, và nó không thể bám giữ bằng hàm hay các giác hút trên tay. Thế mà những con quỷ biển ấy là quái vật biết bao, Đấng Tạo Hóa đã ban cho chúng sức sống nào, sức mạnh nào trong các chuyển động, nhờ chúng có tới ba quả tim!
Tình cờ thuần túy đã đặt chúng tôi trước mặt con mực này, và tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội nghiên cứu tỉ mỉ một mẫu cephalopod như thế. Tôi vượt qua nỗi kinh hoàng do dáng vẻ của nó gợi lên trong tôi, cầm bút chì và bắt đầu phác họa nó.
“Có lẽ nó chính là con của tàu Alecto,” Conseil nói.
“Không thể,” người Canada đáp, “vì con này còn nguyên vẹn, còn con kia mất đuôi!”
“Điều đó không nhất thiết đúng,” tôi nói. “Tay và đuôi của những con vật này mọc lại nhờ tái sinh, và trong bảy năm, cái đuôi của Mực Bouguer chắc chắn đã đủ thời gian mọc lại.”
“Dù sao,” Ned đáp trả, “nếu không phải thằng này, có lẽ là một trong những thằng kia!”
Quả thật, những con quỷ biển khác đã xuất hiện bên cửa sổ mạn phải. Tôi đếm được bảy con. Chúng hộ tống chiếc Nautilus, và tôi có thể nghe tiếng mỏ chúng nghiến trên thân sắt. Chúng tôi khó lòng đòi hỏi một đoàn tùy tùng tận tụy hơn.
Tôi tiếp tục phác họa. Những quái vật này theo kịp vùng nước của chúng tôi với độ chính xác đến mức chúng dường như đứng yên, và tôi có thể vạch các đường nét của chúng thu nhỏ trên cửa sổ. Nhưng chúng tôi đang di chuyển với tốc độ vừa phải.
Đột nhiên chiếc Nautilus dừng lại. Một cú giật làm nó run lên trong toàn bộ khung sườn.
“Chúng ta chạm đáy sao?” tôi hỏi.
“Dù sao thì chúng ta cũng đã thoát rồi,” người Canada đáp, “vì chúng ta đang nổi.”
Chắc chắn chiếc Nautilus đang nổi, nhưng nó không còn chuyển động nữa. Các cánh chân vịt của nó không còn khuấy sóng. Một phút trôi qua. Theo sau là viên phó chỉ huy, Thuyền trưởng Nemo bước vào phòng khách.
Tôi đã lâu rồi không gặp ông. Trông ông u ám. Không nói với chúng tôi, thậm chí có lẽ không thấy chúng tôi, ông đi tới tấm che, nhìn chằm chằm những con quỷ biển, và nói vài lời với viên phó chỉ huy.
Người kia đi ra. Chẳng mấy chốc các tấm che khép lại. Trần nhà sáng lên.
Tôi đi tới chỗ thuyền trưởng.
“Một bộ sưu tập quỷ biển khác thường,” tôi nói với ông, bằng vẻ thản nhiên như một nhà sưu tập trước bể thủy sinh.
“Đúng, ngài nhà tự nhiên học,” ông đáp, “và chúng ta sẽ giao chiến với chúng ở cự ly gần.”
Tôi nhìn thuyền trưởng há hốc. Tôi tưởng tai mình nghe nhầm.
“Ở cự ly gần?” tôi lặp lại.
“Phải, thưa ông. Chân vịt của chúng ta bị kẹt. Tôi nghĩ hàm phủ sừng của một trong những con mực này mắc vào cánh chân vịt. Vì vậy chúng ta không di chuyển.”
“Và ông định làm gì?”
“Nổi lên mặt nước và tàn sát lũ sâu bọ ấy.”
“Một việc khó đấy.”
“Đúng. Đạn điện của chúng ta vô hiệu với thứ thịt mềm như vậy, nơi chúng không gặp đủ sức cản để nổ. Nhưng chúng ta sẽ tấn công lũ thú bằng rìu.”
“Và lao, thưa ông,” người Canada nói, “nếu ông không từ chối sự giúp đỡ của tôi.”
“Tôi chấp nhận, ông Land.”
“Chúng tôi sẽ đi cùng ông,” tôi nói. Và chúng tôi theo Thuyền trưởng Nemo, hướng về cầu thang trung tâm.
Ở đó khoảng mười người đang đứng sẵn chờ xung kích, vũ trang bằng rìu đổ bộ. Conseil và tôi nhặt thêm hai chiếc rìu. Ned Land cầm lấy một cây lao.
Khi ấy chiếc Nautilus đã trở lại mặt sóng. Đứng ở các bậc trên cùng, một thủy thủ tháo chốt cửa sập. Nhưng anh ta vừa mới vặn lỏng đai ốc thì cửa sập bật tung lên với sức mạnh ghê gớm, hiển nhiên bị các giác hút trên một cánh tay quỷ biển kéo mở.
Lập tức một trong những cánh tay dài ấy trườn như rắn vào khe mở, và hai mươi cánh tay khác đang run rẩy bên trên. Bằng một nhát rìu, Thuyền trưởng Nemo chặt đứt cái xúc tu đáng sợ này, nó trượt xuống các bậc thang trong cơn quằn quại.
Đúng lúc chúng tôi chen nhau để lên sàn ngoài, hai cánh tay khác quất vào không trung, sà xuống người thủy thủ đứng trước Thuyền trưởng Nemo và cuốn anh ta đi bằng sức mạnh không gì cưỡng nổi.
Thuyền trưởng Nemo hét lên và nhảy ra ngoài. Chúng tôi lao theo ông.
Một cảnh tượng thế nào! Bị xúc tu tóm lấy và dính chặt vào các giác hút, người bất hạnh ấy đung đưa trên không trung, phó mặc cho bộ phận phụ khổng lồ này. Anh thở hổn hển, nghẹt thở, kêu lên: “Cứu! Cứu!” Những lời ấy, thốt bằng tiếng Pháp, khiến tôi sững sờ sâu sắc! Vậy là trên tàu tôi có một đồng bào, có lẽ nhiều người! Tôi sẽ nghe tiếng kêu thảm thiết ấy suốt phần đời còn lại!
Người tội nghiệp coi như đã xong. Ai có thể giằng anh khỏi một vòng kìm mạnh như thế? Dù vậy, Thuyền trưởng Nemo lao vào con quỷ biển và bằng một nhát rìu chém đứt thêm một cánh tay của nó. Viên phó chỉ huy của ông vật lộn dữ dội với những quái vật khác đang bò lên hai bên chiếc Nautilus. Thủy thủ đoàn chiến đấu bằng những nhát rìu vun vút. Người Canada, Conseil và tôi cắm vũ khí vào các khối thịt ấy. Một mùi xạ nồng nặc tràn ngập không khí. Thật kinh khủng.

Trong một khoảnh khắc, tôi tưởng người tội nghiệp bị con quỷ biển quấn lấy có thể được giằng ra khỏi sức hút mạnh mẽ của nó. Bảy trong tám cánh tay đã bị chặt. Một xúc tu duy nhất quằn quại trên không trung, vung nạn nhân của nó như một chiếc lông. Nhưng đúng lúc Thuyền trưởng Nemo và viên phó chỉ huy lao tới, con vật phun ra một vòi chất lỏng đen nhạt, tiết ra từ một túi nằm trong bụng nó. Chất ấy làm chúng tôi mù mắt. Khi đám mây này tan đi, con mực đã biến mất, và người đồng bào tội nghiệp của tôi cũng vậy!
Cơn thịnh nộ nào khi ấy đã xua chúng tôi lao vào lũ quái vật! Chúng tôi mất hết tự chủ. Mười hay mười hai con quỷ biển đã tràn ngập sàn ngoài và hai bên chiếc Nautilus. Chúng tôi nhào bừa vào giữa đám rắn bị chém cụt đang phóng trên sàn giữa những làn sóng máu và mực sepia. Tựa như các xúc tu nhớt nhát ấy mọc lại như vô số đầu của Hydra. Mỗi cú đâm, ngọn lao của Ned Land lại cắm vào một con mắt xanh biển của mực và làm nó vỡ tung. Nhưng người bạn đồng hành táo bạo của tôi đột ngột bị các xúc tu của một quái vật mà ông không tránh kịp đánh ngã.
Ôi, tim tôi gần như nổ tung vì kích động và kinh hoàng! Mỏ đáng sợ của con mực há rộng phía trên Ned Land. Người tội nghiệp sắp bị cắt làm đôi. Tôi lao tới cứu ông. Nhưng Thuyền trưởng Nemo đã đến trước. Rìu của ông biến mất giữa hai hàm khổng lồ, và người Canada, được cứu một cách kỳ diệu, đứng dậy cắm ngọn lao thẳng vào quả tim ba ngăn của quỷ biển.
“Có qua có lại,” Thuyền trưởng Nemo nói với người Canada. “Tôi tự thấy mắc nợ ông.”
Ned cúi chào mà không đáp lời ông.
Cuộc chiến này kéo dài một phần tư giờ. Bị đánh bại, bị cắt xẻ, bị đập đến chết, lũ quái vật cuối cùng khuất phục trước chúng tôi và biến mất dưới sóng.
Đỏ máu, bất động bên cạnh đèn hiệu, Thuyền trưởng Nemo nhìn chằm chằm vào biển đã nuốt mất một trong những bạn đồng hành của ông, và những giọt lệ lớn chảy dài từ mắt ông.
### CHƯƠNG 19
Dòng Gulf Stream
CẢNH TƯỢNG KHỦNG KHIẾP ngày 20 tháng 4 ấy không ai trong chúng tôi có thể quên được. Tôi viết lại nó trong tình trạng xúc động dữ dội. Sau đó tôi xem lại bài kể của mình. Tôi đọc nó cho Conseil và người Canada nghe. Họ thấy nó chính xác về chi tiết nhưng thiếu sức tác động. Để truyền đạt những cảnh như thế, cần đến ngòi bút của nhà thơ nổi tiếng nhất của chúng ta, Victor Hugo, tác giả của Những người lao động biển.
Như tôi đã nói, Thuyền trưởng Nemo khóc khi nhìn chằm chằm vào sóng. Nỗi đau của ông mênh mông. Đây là người bạn đồng hành thứ hai ông mất kể từ khi chúng tôi lên tàu. Và chết theo cách nào! Bị những cánh tay đáng sợ của một con quỷ biển đập vỡ, siết nghẹt, nghiền nát, bị nghiền giữa hai hàm sắt của nó, người bạn này sẽ không bao giờ nghỉ bên các bạn đồng hành trong những vùng nước yên tĩnh của nghĩa trang san hô!
Về phần tôi, điều làm tim tôi nhói buốt giữa cuộc vật lộn ấy là tiếng kêu tuyệt vọng của người bất hạnh kia. Quên thứ ngôn ngữ quy định của mình, người Pháp tội nghiệp này đã trở về tiếng mẹ đẻ để thốt lên lời van xin cuối cùng! Giữa thủy thủ đoàn chiếc Nautilus, những người gắn bó cả thể xác lẫn linh hồn với Thuyền trưởng Nemo và cũng chạy trốn khỏi tiếp xúc với nhân loại, tôi đã tìm thấy một đồng bào! Anh ta có phải người đại diện duy nhất của nước Pháp trong liên minh bí ẩn này, rõ ràng gồm những cá nhân từ các quốc tịch khác nhau không? Đây chỉ là thêm một trong những vấn đề không lời giải cứ dâng lên trong tâm trí tôi!
Thuyền trưởng Nemo trở vào phòng riêng, và tôi không còn gặp ông trong một thời gian dài. Nhưng ông hẳn buồn bã, tuyệt vọng và do dự đến thế nào, nếu xét theo con tàu mà ông là linh hồn, con tàu phản chiếu mọi tâm trạng của ông! Chiếc Nautilus không còn giữ một hướng cố định. Nó trôi tới lui, cưỡi trên sóng như một xác chết. Chân vịt của nó đã được gỡ rối nhưng hầu như không được sử dụng. Nó đi ngẫu nhiên. Nó không thể tự xé mình khỏi khung cảnh của cuộc chiến cuối cùng này, khỏi vùng biển đã nuốt mất một người của nó!
Mười ngày trôi qua như vậy. Chỉ đến ngày 1 tháng 5, chiếc Nautilus mới công khai trở lại hành trình về phía bắc, sau khi thấy Bahamas ở cửa Old Bahama Channel. Khi ấy chúng tôi đi theo dòng của con sông lớn nhất biển, nó có bờ riêng, cá riêng và nhiệt độ riêng. Tôi muốn nói tới Gulf Stream.
Quả thật đó là một con sông chảy độc lập giữa Đại Tây Dương, nước nó không bao giờ hòa lẫn với nước đại dương. Đó là một con sông mặn, mặn hơn vùng biển bao quanh nó. Độ sâu trung bình của nó là 3.000 foot, bề rộng trung bình sáu mươi dặm. Ở vài địa điểm, dòng chảy của nó di chuyển với tốc độ bốn kilômét một giờ. Lượng nước bất biến của nó lớn hơn tổng lượng nước của mọi con sông trên thế giới cộng lại.
Theo khám phá của Chỉ huy Maury, nguồn thật sự của Gulf Stream, điểm khởi đầu của nó, nếu anh thích nói vậy, nằm ở vịnh Biscay. Tại đó nước của nó, còn yếu về nhiệt độ và màu sắc, bắt đầu hình thành. Nó đi xuống phía nam, men theo châu Phi xích đạo, làm ấm sóng của mình trong các tia nắng Vùng Nóng, băng qua Đại Tây Dương, tới Cape São Roque trên bờ biển Brazil, rồi chẻ thành hai nhánh, một nhánh đi vào biển Caribe để tiếp tục bão hòa bằng các hạt nhiệt. Rồi, được giao phó nhiệm vụ khôi phục cân bằng giữa các nhiệt độ nóng và lạnh và pha trộn nước nhiệt đới với nước phương bắc, Gulf Stream bắt đầu đóng vai trò ổn định của nó. Đạt tới sức nóng trắng trong vịnh Mexico, nó hướng bắc dọc bờ châu Mỹ, tiến xa tới Newfoundland, ngoặt đi dưới lực đẩy của một dòng lạnh từ eo Davis, và tiếp tục hành trình đại dương bằng cách đi dọc một vòng lớn của trái đất theo đường rhumb; sau đó nó chia thành hai nhánh gần vĩ tuyến 43; một nhánh, được gió mậu dịch đông bắc hỗ trợ, trở về vịnh Biscay và Azores; nhánh kia rửa các bờ Ireland và Norway bằng nước ấm dịu, đi quá Spitzbergen, nơi nhiệt độ của nó rơi xuống 4 độ centigrade, và tạo nên biển mở ở cực.
Chính trên con sông đại dương này mà chiếc Nautilus khi ấy đang đi. Rời Old Bahama Channel, rộng mười bốn dặm biển và sâu 350 mét, Gulf Stream di chuyển với tốc độ tám kilômét một giờ. Tốc độ của nó đều đặn giảm khi tiến về phía bắc, và chúng ta phải cầu mong sự đều đặn này tiếp tục, bởi như các chuyên gia đồng ý, nếu tốc độ và hướng của nó thay đổi, khí hậu châu Âu sẽ trải qua những xáo trộn mà hậu quả không thể tính hết.
Gần trưa, tôi ở trên sàn ngoài cùng Conseil. Tôi chia sẻ với anh các chi tiết liên quan về Gulf Stream. Khi phần giải thích kết thúc, tôi mời anh nhúng tay vào dòng chảy của nó.
Conseil làm vậy, và anh khá ngạc nhiên khi không cảm thấy nóng hay lạnh.
“Điều ấy đến từ,” tôi nói với anh, “nhiệt độ nước của Gulf Stream, thứ khi rời vịnh Mexico chỉ vừa khác nhiệt độ máu của anh. Gulf Stream này là một máy phát nhiệt khổng lồ cho phép các bờ biển châu Âu khoác cây xanh vĩnh cửu. Và nếu Chỉ huy Maury nói đúng, nếu người ta khai thác toàn bộ hơi ấm của dòng này, nó sẽ cung cấp đủ nhiệt để giữ nóng chảy một con sông hàn sắt lớn bằng Amazon hoặc Missouri.”
Đúng lúc ấy tốc độ của Gulf Stream là 2,25 mét mỗi giây. Dòng chảy của nó khác biệt rõ rệt với vùng biển xung quanh đến mức vùng nước bị giới hạn của nó nổi bật trên đại dương và hoạt động ở một mức khác với nước lạnh hơn. Đục hơn nữa, và rất giàu chất muối, màu chàm tinh khiết của nó tương phản với các sóng xanh bao quanh. Hơn nữa, đường phân giới của nó rõ đến mức ngang Carolinas, mũi thúc của chiếc Nautilus cắt sóng của Gulf Stream trong khi chân vịt vẫn đang khuấy nước thuộc về đại dương.
Dòng chảy này cuốn theo nó cả một đoàn sinh vật chuyển động. Argonaut, rất thường thấy ở Địa Trung Hải, đi tại đây thành những đàn đông đảo. Trong số cá sụn, đáng chú ý nhất là các loài đuối có đuôi siêu mảnh chiếm gần một phần ba thân thể, thân hình như một viên kim cương khổng lồ dài hai mươi lăm foot; rồi những con cá mập nhỏ dài một mét, đầu lớn, mõm ngắn và tròn, răng sắc xếp thành nhiều hàng, thân dường như phủ vảy.
Trong số cá xương, tôi ghi nhận wrasse xám chỉ có ở các biển này, gilthead tầng sâu có mống mắt ánh lửa, croaker dài một mét có miệng lớn tua tủa răng nhỏ và phát ra những tiếng kêu mảnh, rudderfish đen giống những con tôi đã bàn tới, dorado xanh điểm vàng và bạc, parrotfish cầu vồng có thể sánh với những loài chim nhiệt đới đẹp nhất về màu sắc, blenny sọc có đầu tam giác, flounder xanh không vảy, toadfish phủ một dải vàng ngang hình chữ t Hy Lạp, bầy goby nhỏ lấm tấm tàn nhang với các đốm nâu, lungfish đầu bạc và đuôi vàng, nhiều mẫu salmon, mullet dáng mảnh và có ánh sáng dịu mà Lacépède đã dâng tặng cho ký ức vợ mình, và cuối cùng là cavalla châu Mỹ, một loài cá đẹp được trang trí bằng mọi huân chương danh dự, điểm tô bằng mọi dải băng của chúng, lui tới các bờ của quốc gia lớn này nơi dải băng và huân chương bị xem nhẹ đến thế.
Tôi có thể nói thêm rằng ban đêm, vùng nước lân quang của Gulf Stream sánh với ánh điện từ đèn hiệu của chúng tôi, nhất là trong thời tiết bão tố thường xuyên đe dọa chúng tôi.
Ngày 8 tháng 5, khi ngang North Carolina, chúng tôi lại đối diện Cape Hatteras. Ở đó Gulf Stream rộng bảy mươi lăm dặm và sâu 210 mét. Chiếc Nautilus tiếp tục lang thang ngẫu nhiên. Dường như mọi sự giám sát đã bị vứt bỏ. Trong những điều kiện này, tôi thừa nhận rằng chúng tôi có thể dễ dàng trốn thoát. Thật vậy, các bờ biển đông dân khắp nơi đều sẵn nơi trú ẩn. Biển liên tục bị cày bởi nhiều tàu hơi nước phục vụ tuyến giữa vịnh Mexico với New York hoặc Boston, và ngày đêm có các thuyền buồm nhỏ đi qua, chuyên chở ven biển giữa nhiều điểm trên bờ châu Mỹ. Chúng tôi có thể hy vọng được vớt lên. Vì thế đó là một cơ hội hứa hẹn, bất chấp ba mươi dặm ngăn chiếc Nautilus với các bờ biển Liên Bang này.
Nhưng một hoàn cảnh đáng buồn hoàn toàn phá hỏng các kế hoạch của người Canada. Thời tiết hết sức xấu. Chúng tôi đang tới gần những vùng nước nơi bão tố là chuyện thường, chính quê hương của lốc xoáy và cyclone do dòng Gulf Stream sinh ra. Đối mặt một biển thường xuyên cuồng nộ trong chiếc xuồng mỏng manh chẳng khác nào lao vào tai họa chắc chắn. Ned Land tự mình thừa nhận điều này. Vì vậy ông bứt rứt như ngựa bị ghìm cương, trong cơn nhớ nhà dữ dội mà chỉ cuộc trốn thoát của chúng tôi mới có thể chữa khỏi.
“Thưa ngài,” ông nói với tôi hôm đó, “chuyện này phải chấm dứt. Tôi muốn đi đến tận cùng. Nemo của ông đang rẽ xa bờ và hướng lên phía bắc. Nhưng ông tin tôi đi, tôi đã ngán tới tận cổ ở Nam Cực và tôi sẽ không đi với ông ta tới Bắc Cực đâu.”
“Chúng ta có thể làm gì, Ned, vì trốn thoát ngay bây giờ là không khả thi?”
“Tôi cứ quay lại ý của mình. Chúng ta phải nói chuyện với thuyền trưởng. Khi ở trong các biển của xứ ông, ông không nói lời nào. Bây giờ khi ở trong biển của tôi, tôi định lên tiếng. Chỉ vài ngày nữa, tôi đoán chiếc Nautilus sẽ nằm ngang Nova Scotia, và từ đó tới Newfoundland là miệng một vịnh lớn, và sông St. Lawrence đổ vào vịnh ấy, và St. Lawrence là con sông của tôi, con sông chảy qua Quebec, quê nhà tôi—và khi nghĩ tới tất cả điều này, cổ tôi nghẹn lại và tóc tôi dựng đứng! Thành thật mà nói, thưa ngài, tôi thà nhảy xuống biển! Tôi không thể ở đây lâu hơn nữa! Tôi đang nghẹt thở!”
Người Canada rõ ràng đã tới tận cùng lòng kiên nhẫn. Bản tính mạnh mẽ của ông không thể thích nghi với cảnh giam cầm kéo dài này. Vẻ mặt ông thay đổi từng ngày. Tâm trạng ông càng ngày càng u ám. Tôi cảm nhận được điều ông chịu đựng vì tôi cũng bị nỗi nhớ nhà siết chặt. Gần bảy tháng đã trôi qua mà chúng tôi không hề có tin tức nào từ bờ. Hơn nữa, sự khép kín của Thuyền trưởng Nemo, tính khí thay đổi của ông, và nhất là sự im lặng hoàn toàn của ông từ sau trận chiến với lũ quỷ biển, tất cả khiến tôi nhìn sự việc dưới một ánh sáng khác. Tôi không còn cảm thấy nhiệt tình như những ngày đầu trên tàu. Cần phải là người Flanders như Conseil mới chấp nhận nổi hoàn cảnh này, sống trong một môi trường dành cho cá voi và các cư dân khác của vực sâu. Thật vậy, nếu chàng trai can đảm ấy có mang thay vì phổi, tôi nghĩ anh sẽ là một con cá xuất sắc!
“Thế nào, thưa ngài?” Ned Land nói tiếp, thấy tôi chưa đáp.
“Thế này, Ned, ông muốn tôi hỏi Thuyền trưởng Nemo xem ông ta định làm gì với chúng ta?”
“Vâng, thưa ngài.”
“Dù ông ta đã nói rõ chuyện đó?”
“Vâng. Tôi muốn nó được giải quyết một lần cho xong. Ông chỉ nói cho tôi thôi, nhân danh riêng tôi, nếu ông muốn.”
“Nhưng tôi hiếm khi gặp ông ấy. Ông ấy rõ ràng tránh tôi.”
“Càng có lý do để ông đi tìm ông ta.”
“Tôi sẽ trao đổi với ông ấy, Ned.”
“Khi nào?” người Canada hỏi dồn.
“Khi tôi gặp ông ấy.”
“Giáo sư Aronnax, ông có muốn tôi tự đi tìm ông ta không?”
“Không, để tôi làm. Ngày mai—”
“Hôm nay,” Ned Land nói.
“Được thôi. Tôi sẽ gặp ông ấy hôm nay,” tôi đáp người Canada, người chắc chắn sẽ làm hỏng mọi chuyện nếu tự mình hành động.
Tôi còn lại một mình. Yêu cầu của ông đã được chấp nhận, tôi quyết định giải quyết nó ngay. Tôi thích mọi chuyện được làm cho xong.
Tôi trở lại phòng riêng. Từ đó tôi có thể nghe chuyển động bên trong phòng của Thuyền trưởng Nemo. Tôi không thể bỏ qua cơ hội gặp ông này. Tôi gõ cửa ông. Không có hồi đáp. Tôi gõ lần nữa, rồi thử tay nắm. Cửa mở.
Tôi bước vào. Thuyền trưởng ở đó. Ông cúi xuống bàn làm việc và không nghe thấy tôi. Quyết không rời đi mà không chất vấn ông, tôi tiến lại gần. Ông đột ngột ngước lên, cau mày, và nói bằng một giọng khá nghiêm khắc:
“Ồ, là ông! Ông muốn gì?”
“Nói chuyện với ông, thuyền trưởng.”
“Nhưng tôi bận, thưa ông, tôi đang làm việc. Tôi cho ông tự do tận hưởng sự riêng tư của mình, chẳng lẽ tôi không thể có điều tương tự cho mình sao?”
Sự đón tiếp này không mấy khích lệ. Nhưng tôi quyết tâm đáp lại xứng đáng.
“Thưa ông,” tôi lạnh lùng nói, “tôi cần nói với ông về một việc hoàn toàn không thể chờ.”
“Có thể là việc gì vậy, thưa ông?” ông mỉa mai đáp. “Ông đã phát hiện điều gì thoát khỏi tôi sao? Biển đã dâng cho ông một bí mật mới nào chăng?”
Chúng tôi cách nhau muôn trùng. Nhưng trước khi tôi kịp trả lời, ông chỉ cho tôi một bản thảo đang mở trên bàn và nói với tôi bằng giọng nghiêm túc hơn:
“Đây, Giáo sư Aronnax, là một bản thảo viết bằng nhiều thứ tiếng. Nó chứa bản tóm tắt các nghiên cứu của tôi dưới biển, và nếu Chúa muốn, nó sẽ không mất đi cùng tôi. Được ký tên tôi, đầy đủ câu chuyện đời tôi, bản thảo này sẽ được đặt trong một thiết bị nhỏ không chìm. Người sống sót cuối cùng trên chiếc Nautilus sẽ ném thiết bị này xuống biển, và nó sẽ đi tới bất cứ nơi nào sóng mang nó tới.”
Tên của người này! Câu chuyện đời ông do chính ông viết! Vậy bí mật về sự tồn tại của ông có lẽ một ngày nào đó sẽ được hé mở? Nhưng đúng lúc ấy, tôi chỉ xem lời tuyên bố này như một đoạn dẫn vào chủ đề của mình.
“Thuyền trưởng,” tôi đáp, “tôi hết lời tán thưởng ý tưởng ông đang thực hiện. Kết quả các nghiên cứu của ông không được mất đi. Nhưng phương pháp ông dùng khiến tôi thấy nó thô sơ. Ai biết gió sẽ đưa thiết bị ấy tới đâu, vào tay ai? Ông không tìm được cách tốt hơn sao? Ông hoặc một người của ông không thể—”
“Không bao giờ, thưa ông,” thuyền trưởng nói, nhanh chóng ngắt lời tôi.
“Nhưng các bạn đồng hành của tôi và tôi sẵn sàng bảo vệ bản thảo này, và nếu ông trả lại tự do cho chúng tôi—”
“Tự do của các ông!” Thuyền trưởng Nemo chen vào, đứng dậy.
“Phải, thưa ông, và đó là chủ đề tôi muốn trao đổi với ông. Trong bảy tháng, chúng tôi đã ở trên tàu ông, và hôm nay tôi hỏi ông, nhân danh các bạn đồng hành cũng như bản thân tôi, liệu ông có định giữ chúng tôi ở đây mãi mãi không.”
“Giáo sư Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo nói, “hôm nay tôi sẽ trả lời ông đúng như tôi đã trả lời bảy tháng trước: bất kỳ ai lên chiếc Nautilus thì không bao giờ được rời nó.”
“Điều ông áp đặt lên chúng tôi là nô lệ trắng trợn!”
“Gọi nó là gì tùy ông.”
“Nhưng mọi nô lệ đều có quyền giành lại tự do của mình! Bằng bất kỳ phương tiện khả thi, xứng đáng nào!”
“Ai đã phủ nhận quyền đó của ông?” Thuyền trưởng Nemo đáp. “Tôi có bao giờ cố ràng buộc ông bằng lời danh dự không?”
Thuyền trưởng nhìn tôi chằm chằm, khoanh tay.
“Thưa ông,” tôi nói với ông, “nêu lại chủ đề này lần thứ hai sẽ gây khó chịu cho cả hai chúng ta. Vì vậy hãy kết thúc điều chúng ta đã bắt đầu. Tôi nhắc lại: tôi nêu vấn đề này không chỉ cho bản thân mình. Với tôi, nghiên cứu là một nguồn khuây khỏa, một trò tiêu khiển mạnh mẽ, một sự quyến rũ, một đam mê có thể khiến tôi quên mọi thứ khác. Như ông, tôi là một người bị bỏ quên và không ai biết đến, sống trong hy vọng mờ nhạt rằng một ngày nào đó có thể truyền lại cho các thế hệ tương lai thành quả lao động của mình—nói theo nghĩa bóng, bằng một thiết bị nào đó phó mặc cho may rủi của gió và sóng. Tóm lại, tôi có thể ngưỡng mộ ông và thoải mái đi cùng ông trong khi đóng một vai trò mà tôi chỉ hiểu một phần; nhưng tôi vẫn thoáng thấy những phương diện khác trong đời ông, được bao quanh bởi những dính líu và bí mật mà, khi một mình trên tàu, các bạn đồng hành của tôi và tôi không thể chia sẻ. Và ngay cả khi trái tim chúng tôi có thể đập cùng nhịp với ông, xúc động trước vài nỗi đau của ông hoặc rung động trước các hành động can đảm và thiên tài của ông, chúng tôi vẫn phải bóp nghẹt ngay cả dấu hiệu nhỏ nhất của sự cảm thông nảy sinh khi thấy một điều cao đẹp và tốt lành, dù nó đến từ bạn hay thù. Được rồi! Chính cảm giác xa lạ với những mối bận tâm sâu kín nhất của ông khiến hoàn cảnh của chúng tôi không thể chấp nhận, không thể chịu đựng, thậm chí không thể với tôi nhưng đặc biệt là với Ned Land. Mỗi con người, nhờ chính nhân tính của mình, đều xứng đáng được đối xử công bằng. Ông đã nghĩ xem tình yêu tự do và lòng căm ghét nô lệ có thể dẫn đến những kế hoạch trả thù ra sao trong một tính khí như của người Canada, ông ấy có thể nghĩ gì, thử gì, cố làm gì...?”
Tôi im lặng. Thuyền trưởng Nemo đứng dậy.
“Ned Land có thể nghĩ, thử, hay cố làm bất cứ điều gì ông ta muốn, điều đó can hệ gì đến tôi? Tôi đâu đi tìm ông ta! Tôi không giữ ông ta trên tàu vì vui thú của mình! Còn ông, Giáo sư Aronnax, ông là người có thể hiểu mọi thứ, ngay cả sự im lặng. Tôi không còn gì để nói với ông. Hãy để lần đầu tiên ông đến bàn luận chủ đề này cũng là lần cuối, vì lần thứ hai tôi thậm chí sẽ không nghe.”
Tôi rút lui. Từ ngày ấy trở đi, vị trí của chúng tôi trở nên rất căng thẳng. Tôi thuật lại cuộc trò chuyện này cho hai bạn đồng hành của mình.
“Giờ chúng ta biết rồi,” Ned nói, “rằng không thể trông mong gì ở người này. Chiếc Nautilus đang tới gần Long Island. Chúng ta sẽ trốn, bất kể thời tiết.”
Nhưng bầu trời ngày càng đáng ngại. Có những dấu hiệu rõ rệt của một trận cuồng phong đang tới. Bầu khí quyển chuyển sang trắng và sữa. Những bó mây ti mảnh theo sau là các tầng mây nimbocumulus trên chân trời. Những đám mây thấp khác chạy nhanh. Biển dâng cao, phồng lên bởi những con sóng dài. Mọi loài chim đã biến mất trừ vài con petrel, bạn của bão tố. Phong vũ biểu hạ xuống đáng kể, báo hiệu một sức căng ghê gớm trong màn sương xung quanh. Hỗn hợp trong stormglass của chúng tôi phân rã dưới ảnh hưởng của điện tích nạp đầy không khí. Một cuộc vật lộn của các nguyên tố đang tới.
Bão bùng nổ trong ngày 13 tháng 5, đúng lúc chiếc Nautilus đang đi ngang Long Island, cách các lạch hẹp dẫn vào Upper New York Bay vài dặm. Tôi có thể miêu tả cuộc vật lộn của các nguyên tố này vì Thuyền trưởng Nemo không trốn xuống vực sâu đại dương; trái lại, vì một ý thích khó hiểu nào đó, ông quyết định đương đầu với nó trên mặt nước.
Gió thổi từ tây nam, ban đầu là một luồng gió mạnh, nói cách khác, với tốc độ mười lăm mét mỗi giây, tăng lên hai mươi lăm mét gần ba giờ chiều. Đây là con số của những trận bão lớn.
Không lay chuyển trước các cơn gió dữ này, Thuyền trưởng Nemo đứng trên sàn ngoài. Ông buộc dây quanh thắt lưng để chống lại những con sóng khổng lồ sủi bọt trên boong. Tôi kéo mình lên và buộc vào cùng chỗ, chia sự kinh ngạc của mình giữa cơn bão và con người vô song đối diện thẳng với nó.
Biển cuồng nộ bị quét bởi những đám mây rách tả tơi khổng lồ, sũng nước sóng. Tôi không còn thấy những con sóng nhỏ xen giữa hình thành trong lòng trũng các đỉnh lớn. Chỉ còn những gợn dài màu bồ hóng với đỉnh đặc đến mức không sủi bọt. Chúng cứ cao lên. Chúng thúc đẩy lẫn nhau. Chiếc Nautilus, lúc nằm nghiêng, lúc dựng đứng như cột buồm, lắc và nhồi kinh khủng.
Gần năm giờ, một cơn mưa như trút rơi xuống, nhưng nó không làm dịu gió hay biển. Bão cuồng nộ với tốc độ bốn mươi lăm mét mỗi giây, tức gần bốn mươi dặm biển một giờ. Trong những điều kiện ấy, nhà cửa sụp đổ, ngói mái xuyên thủng cửa, lan can sắt gãy đôi, và đại bác hai mươi bốn pounder bị dời chỗ. Thế nhưng giữa cơn hỗn loạn này, chiếc Nautilus đã sống đúng với câu nói của một kỹ sư lão luyện: “Một thân tàu được đóng tốt có thể thách thức mọi biển cả!” Tàu ngầm này không phải một tảng đá chống cự để sóng có thể phá hủy; nó là một con suốt thép, ngoan ngoãn chuyển động, không dây chằng cũng chẳng cột buồm, và có thể đương đầu cơn cuồng nộ của chúng mà không hề hấn.
Trong khi đó, tôi cẩn thận xem xét những con sóng đang được thả rông này. Chúng cao tới mười lăm mét trên chiều dài 150 đến 175 mét, và tốc độ lan truyền của chúng—bằng nửa tốc độ gió—là mười lăm mét mỗi giây. Thể tích và sức mạnh của chúng tăng theo độ sâu của nước. Khi ấy tôi hiểu vai trò của những con sóng này, chúng giữ không khí trong sườn mình và thả nó xuống vực sâu của biển, nơi oxy của nó mang lại sự sống. Áp lực tối đa của chúng—người ta đã tính—có thể lên tới 3.000 kilôgam trên mỗi foot vuông bề mặt mà chúng đánh vào. Chính những con sóng như thế ở Hebrides đã dịch chuyển một khối đá nặng 84.000 pound. Chính họ hàng của chúng trong trận sóng triều ngày 23 tháng 12 năm 1854 đã làm sụp đổ một phần thành phố Tokyo của Nhật Bản, rồi cùng ngày ấy đi với tốc độ 700 kilômét một giờ để vỡ trên các bãi biển châu Mỹ.
Sau khi đêm xuống, cơn bão càng dữ dội. Như trong cyclone năm 1860 trên đảo Réunion, phong vũ biểu hạ xuống 710 millimét. Cuối ngày, tôi thấy một con tàu lớn đi qua chân trời, vật lộn đau đớn. Nó nằm hứng gió với nửa hơi nước để cố giữ vững trên sóng. Hẳn đó là một tàu hơi nước thuộc một trong các tuyến từ New York tới Liverpool hoặc Le Havre. Chẳng mấy chốc nó biến mất trong bóng tối.
Lúc mười giờ đêm, bầu trời bắt lửa. Không khí bị vạch bởi những tia chớp dữ dội. Tôi không chịu nổi độ sáng này, nhưng Thuyền trưởng Nemo nhìn thẳng vào đó, như muốn hít lấy linh hồn của cơn bão. Một tiếng ồn khủng khiếp lấp đầy không khí, một tiếng ồn phức tạp gồm tiếng gầm của sóng vỡ, tiếng hú của gió, tiếng sấm. Gió đổi hướng tới mọi điểm của chân trời, và cyclone rời phía đông để quay về đó sau khi đi qua bắc, tây và nam, chuyển động ngược chiều với những cơn bão xoáy ở nam bán cầu.
Ôi, Gulf Stream ấy! Nó thật sự xứng với biệt danh Chúa Tể Bão Tố! Tự nó tạo ra những cyclone đáng sợ này nhờ sự khác biệt nhiệt độ giữa các dòng của nó và những tầng không khí chồng lên trên.
Sau mưa là một trận mưa lửa. Các giọt nước biến thành những búi nổ tung. Người ta tưởng Thuyền trưởng Nemo đang cầu một cái chết xứng với ông, tìm cách bị sét đánh. Trong một cú nhồi khủng khiếp, chiếc Nautilus dựng mũi thúc bằng thép lên không trung như một cột thu lôi, và tôi thấy những tia lửa dài bắn xuống đó.
Tan nát, sức lực cạn kiệt, tôi trượt nằm sấp xuống cửa sập. Tôi mở nó và xuống phòng khách. Khi ấy cơn bão đã đạt cường độ cực đại. Không thể đứng thẳng bên trong chiếc Nautilus.
Thuyền trưởng Nemo trở vào gần nửa đêm. Tôi có thể nghe các két dằn đầy dần từng chút một, và chiếc Nautilus nhẹ nhàng chìm xuống dưới mặt sóng.
Qua các cửa sổ mở của phòng khách, tôi thấy những con cá lớn hoảng sợ đi qua như bóng ma trong vùng nước rực lửa. Một số bị sét đánh ngay trước mắt tôi!
Chiếc Nautilus tiếp tục hạ xuống. Tôi tưởng nó sẽ tìm lại yên tĩnh ở độ sâu mười lăm mét. Không. Các tầng trên bị khuấy động quá dữ. Nó cần chìm xuống năm mươi mét, tìm nơi nghỉ trong lòng biển.
Nhưng một khi tới đó, chúng tôi tìm thấy sự yên tĩnh nào, sự im lặng nào, sự bình an nào quanh mình! Ai có thể biết rằng một trận cuồng phong khủng khiếp khi ấy đang được thả rông trên mặt đại dương này?
### CHƯƠNG 20
Ở vĩ độ 47° 24′ và kinh độ 17° 28′
SAU TRẬN BÃO này, chúng tôi bị ném trở lại phía đông. Mọi hy vọng trốn tới những nơi đổ bộ của New York hay St. Lawrence tiêu tan. Tuyệt vọng, Ned tội nghiệp rút vào cô độc như Thuyền trưởng Nemo. Conseil và tôi không còn rời nhau.
Như tôi đã nói, chiếc Nautilus rẽ về phía đông. Nói chính xác hơn, lẽ ra tôi nên nói về phía đông bắc. Lúc trên mặt sóng, lúc dưới sóng, con tàu lang thang nhiều ngày giữa những màn sương mà các nhà hàng hải rất sợ. Chúng chủ yếu do băng tan gây ra, khiến không khí cực kỳ ẩm. Biết bao con tàu đã bỏ mạng ở những thủy lộ này khi cố tìm hướng từ những ánh đèn mờ ảo trên bờ! Biết bao tai nạn đã bị gây ra bởi những màn sương đục này! Biết bao va chạm đã xảy ra với các đá ngầm này, nơi tiếng sóng vỡ bị tiếng gió che lấp! Biết bao con tàu đã đâm vào nhau, bất chấp đèn hành trình, bất chấp những cảnh báo từ còi bosun và chuông báo động!
Vì vậy nền biển này có dáng vẻ của một chiến trường nơi mọi con tàu bị đại dương đánh bại vẫn còn nằm đó, một số đã cũ và đóng vỏ cứng, số khác mới hơn và phản chiếu ánh đèn hiệu của chúng tôi trên bộ phận sắt và đáy đồng. Trong số các tàu này, biết bao chiếc đã chìm cùng toàn bộ người trên tàu, với thủy thủ đoàn và những đoàn di dân, tại các điểm nguy hiểm rất nổi bật trong thống kê: Cape Race, đảo St. Paul, eo Belle Isle, cửa sông St. Lawrence! Và chỉ trong vài năm, biết bao nạn nhân đã được đưa vào cáo phó bởi các tuyến Royal Mail, Inman và Montreal; bởi những con tàu mang tên Solway, Isis, Paramatta, Hungarian, Canadian, Anglo-Saxon, Humboldt và United States, tất cả đều mắc cạn; bởi Arctic và Lyonnais, chìm vì va chạm; bởi President, Pacific và City of Glasgow, mất tích vì lý do không rõ; giữa đống vụn u ám của chúng, chiếc Nautilus đi như thể duyệt qua những người chết!
Đến ngày 15 tháng 5, chúng tôi ở ngoài mũi nam của Grand Banks Newfoundland. Các bãi này là kết quả của lắng đọng biển, một sự tích tụ rộng lớn chất thải hữu cơ do hoặc dòng Gulf Stream mang từ xích đạo tới, hoặc dòng ngược nước lạnh men theo bờ châu Mỹ mang từ Bắc Cực xuống. Ở đây cũng vậy, các tảng băng trôi thất thường tích lại từ mùa băng tan. Ở đây hình thành một nghĩa địa xương khổng lồ từ cá, thân mềm và zoophyte chết trên đó hàng tỷ con.
Biển ở Grand Banks không sâu lắm. Tốt nhất cũng chỉ vài trăm fathom. Nhưng về phía nam có một hõm sâu đột ngột, một hố 3.000 mét. Tại đây Gulf Stream mở rộng. Nước nó nở rộ hoàn toàn. Nó mất tốc độ và nhiệt độ, nhưng biến thành một biển.
Trong số cá mà chiếc Nautilus làm kinh động trên đường, tôi sẽ nhắc tới một con lumpfish dài một mét, đen nhạt phía trên với bụng cam và hiếm trong họ hàng của nó vì thực hành chế độ một vợ một chồng, một con eelpout khá lớn, một dạng cá chình moray màu lục bảo có hương vị tuyệt hảo, wolffish mắt to trên một cái đầu hơi giống đầu chó, blenny đẻ con có trứng nở trong thân như trứng rắn, gobio phồng—hay cá bống đen—dài hai decimét, grenadier có đuôi dài và lấp lánh ánh bạc, loài cá nhanh nhẹn mạo hiểm đi xa khỏi những biển Bắc Cực cao của chúng.
Lưới của chúng tôi cũng kéo lên một con cá táo bạo, can đảm, mạnh mẽ và cơ bắp, được vũ trang bằng gai trên đầu và ngạnh trên vây, một con bọ cạp thật sự dài hai đến ba mét, kẻ thù tàn nhẫn của cá tuyết, blenny và cá hồi; đó là bullhead của các biển phương bắc, cá có vây đỏ và thân nâu phủ đầy nốt. Những ngư dân của chiếc Nautilus gặp đôi chút khó khăn khi nắm giữ con vật này, vì nhờ cấu tạo nắp mang, nó có thể bảo vệ các cơ quan hô hấp của mình khỏi mọi tiếp xúc khô héo với không khí và có thể sống ngoài nước trong một thời gian khá lâu.
Và tôi sẽ nhắc—để ghi lại—vài con blenny nhỏ có sọc, theo tàu tới các biển cực bắc, cá chép mõm nhọn riêng có ở bắc Đại Tây Dương, scorpionfish, và cuối cùng là họ gadoid, chủ yếu là loài cá tuyết, mà tôi phát hiện trong vùng nước ưa thích của chúng trên những Grand Banks không bao giờ cạn kiệt này.
Vì Newfoundland chỉ đơn giản là một đỉnh núi dưới nước, người ta có thể gọi những con cá tuyết này là cá núi. Khi chiếc Nautilus mở đường qua các hàng ngũ dày đặc của chúng, Conseil không thể không bình luận:
“Ơn trời, nhìn những con cá tuyết này kìa!” anh nói. “Sao, tôi cứ tưởng cá tuyết bẹt, như cá dab hay sole!”
“Cậu bé ngây thơ!” tôi kêu lên. “Cá tuyết chỉ bẹt ở cửa hàng thực phẩm, nơi chúng bị mổ phanh và trải ra trưng bày. Nhưng dưới nước chúng giống cá mullet, hình con suốt và hoàn hảo để bơi nhanh.”
“Tôi dễ dàng tin ngài,” Conseil đáp. “Nhưng thật đông biết bao! Thật nhiều đàn biết bao!”
“Chà! Bạn tôi, chúng sẽ còn nhiều hơn nữa nếu không có kẻ thù của chúng, scorpionfish và con người! Anh có biết người ta đã đếm được bao nhiêu trứng trong một con cái không?”
“Tôi sẽ đoán thật mạnh,” Conseil đáp. “500.000.”
“11.000.000, bạn tôi.”
“11.000.000! Tôi từ chối chấp nhận điều đó cho đến khi tự mình đếm chúng.”
“Vậy đếm đi, Conseil. Nhưng tin tôi sẽ ít việc hơn. Hơn nữa, người Pháp, người Anh, người Mỹ, người Đan Mạch và người Na Uy bắt những con cá tuyết này hàng nghìn con. Chúng được ăn với số lượng khổng lồ, và nếu không có sức sinh sản đáng kinh ngạc của loài cá này, các biển chẳng mấy chốc sẽ bị rút cạn chúng. Vì vậy, chỉ riêng ở Anh và Mỹ, 5.000 tàu với 75.000 thủy thủ đi săn cá tuyết. Mỗi tàu mang về trung bình 4.400 con cá, thành 22.000.000 con. Ngoài bờ biển Na Uy, tổng số cũng tương tự.”
“Được,” Conseil đáp, “tôi sẽ tin lời ngài. Tôi không đếm chúng nữa.”
“Đếm gì?”
“11.000.000 quả trứng ấy. Nhưng tôi xin nhận xét một điều.”
“Điều gì?”
“Nếu tất cả trứng của chúng đều nở, chỉ bốn con cá tuyết cũng đủ nuôi England, America và Norway.”
Khi chúng tôi lướt qua những tầng sâu của Grand Banks, tôi có thể thấy rõ những dây câu dài, mỗi dây mắc 200 lưỡi câu, mà mỗi thuyền đều thả xuống hàng chục chiếc. Đầu dưới của mỗi dây kéo lê trên đáy nhờ một chiếc neo móc nhỏ, còn trên mặt nước nó được buộc vào dây phao của một chiếc phao bằng bần. Chiếc Nautilus phải xoay xở thật khôn khéo giữa mạng nhện dưới nước ấy.
Nhưng con tàu không ở lâu trong những thủy lộ đông đúc này. Nó đi lên khoảng vĩ độ 42 độ. Điều này đưa nó ngang St. John’s ở Newfoundland và Heart’s Content, nơi Cáp Đại Tây Dương chạm tới điểm cuối của mình.
Thay vì tiếp tục lên phía bắc, chiếc Nautilus lấy hướng đông, như thể muốn đi dọc cao nguyên nơi sợi cáp điện tín nằm nghỉ, nơi nhiều lần đo sâu đã cho ra những đường nét địa hình với độ chính xác cao nhất.
Chính vào ngày 17 tháng 5, cách Heart’s Content khoảng 500 dặm và ở độ sâu 2.800 mét, tôi phát hiện sợi cáp này nằm trên đáy biển. Conseil, người tôi chưa báo trước, thoạt đầu tưởng nó là một con rắn biển khổng lồ và đang sửa soạn phân loại nó theo lối hay nhất của mình. Nhưng tôi đã khai sáng cho chàng trai tử tế ấy và nhẹ nhàng làm anh thất vọng bằng cách cho anh biết nhiều chi tiết khác nhau về việc đặt sợi cáp này.
Sợi cáp đầu tiên được đặt trong những năm 1857-1858; nhưng sau khi truyền khoảng 400 bức điện tín, nó chết lặng. Năm 1863, các kỹ sư chế tạo một sợi cáp mới dài 3.400 kilômét, nặng 4.500 tấn mét, và được chở trên tàu Great Eastern. Nỗ lực này cũng thất bại.
Thế rồi, ngày 25 tháng 5, khi đang chìm ở độ sâu 3.836 mét, chiếc Nautilus nằm đúng nơi sợi cáp thứ hai này bị đứt, làm hỏng toàn bộ công cuộc. Việc ấy xảy ra cách bờ biển Ireland 638 dặm. Vào khoảng hai giờ chiều, mọi liên lạc với châu Âu bị cắt đứt. Các thợ điện trên tàu quyết định cắt sợi cáp trước khi kéo nó lên, và đến mười một giờ đêm họ đã thu được phần hư hỏng. Họ sửa mối nối và chỗ bện; rồi sợi cáp lại được thả xuống. Nhưng vài ngày sau nó lại đứt và không thể vớt lên từ những tầng sâu đại dương.
Những người Mỹ này không chịu bỏ cuộc. Cyrus Field táo bạo, người đã mạo hiểm toàn bộ gia sản để thúc đẩy công cuộc này, kêu gọi phát hành một đợt trái phiếu mới. Nó được bán sạch ngay lập tức. Một sợi cáp khác được đặt trong những điều kiện tốt hơn. Các bó dây dẫn của nó được cách điện trong một lớp vỏ gutta-percha, được bảo vệ bằng một lớp đệm vật liệu dệt bọc trong một vỏ kim loại. Tàu Great Eastern lại ra khơi ngày 13 tháng 7 năm 1866.
Công việc tiến triển nhanh chóng. Tuy vậy vẫn có một trục trặc. Khi họ dần dần thả sợi cáp thứ ba này, các thợ điện nhiều lần nhận thấy có kẻ mới đóng đinh vào nó, cố làm hỏng lõi cáp. Thuyền trưởng Anderson, các sĩ quan của ông và các kỹ sư bàn bạc với nhau, rồi đăng một lời cảnh cáo rằng nếu thủ phạm bị phát hiện, hắn sẽ bị ném xuống biển không cần xét xử. Sau đó những mưu toan đê tiện ấy không còn lặp lại.
Đến ngày 23 tháng 7, tàu Great Eastern chỉ còn cách Newfoundland chưa tới 800 kilômét thì nhận được tin điện tín từ Ireland về một hiệp định đình chiến được ký giữa Prussia và Austria sau trận Sadova. Qua màn sương ngày 27, nó trông thấy cảng Heart’s Content. Công cuộc đã kết thúc tốt đẹp, và trong bức điện đầu tiên, châu Mỹ trẻ tuổi gửi tới châu Âu già cỗi những lời khôn ngoan hiếm khi được hiểu thấu: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm.”
Tôi không trông đợi thấy sợi cáp điện này còn nguyên vẹn như lúc rời nơi chế tạo. Con rắn dài ấy phủ đầy mảnh vỏ sò và tua tủa foraminifera; một lớp sỏi đóng bánh bảo vệ nó khỏi mọi loài thân mềm có thể khoan thủng nó. Nó nằm yên bình, tránh khỏi chuyển động của biển, dưới một áp lực thuận lợi cho việc truyền tia điện đi từ America tới Europe trong 32/100 giây. Sợi cáp này chắc chắn sẽ tồn tại vô hạn, bởi như các nhà quan sát nhận xét, vỏ bọc gutta-percha của nó còn được cải thiện khi ngâm trong nước mặn.
Hơn nữa, trên cao nguyên được chọn lựa khéo léo này, sợi cáp không bao giờ nằm ở độ sâu có thể gây đứt gãy. Chiếc Nautilus theo nó tới những tầng thấp nhất, ở độ sâu 4.431 mét, và ngay cả ở đó nó vẫn nằm yên không chút căng kéo. Rồi chúng tôi quay trở lại địa điểm xảy ra tai nạn năm 1863.
Ở đó đáy đại dương tạo thành một thung lũng rộng 120 kilômét, nơi có thể đặt lọt núi Mt. Blanc mà đỉnh nó vẫn không nhô lên khỏi mặt sóng. Thung lũng này khép lại về phía đông bằng một vách dựng đứng cao 2.000 mét. Chúng tôi tới đó vào ngày 28 tháng 5, và chiếc Nautilus chỉ cách Ireland 150 kilômét.
Liệu Thuyền trưởng Nemo có hướng lên phía bắc và đưa chúng tôi dạt vào British Isles không? Không. Trái với sự ngạc nhiên của tôi, ông lại đi xuống phía nam và quay về các biển châu Âu. Khi vòng quanh Emerald Isle, trong một khoảnh khắc tôi trông thấy Cape Clear, cùng ngọn hải đăng trên Fastnet Rock, nơi dẫn đường cho tất cả hàng nghìn con tàu khởi hành từ Glasgow hay Liverpool.
Một câu hỏi quan trọng khi ấy bật lên trong đầu tôi. Liệu chiếc Nautilus có dám đương đầu English Channel không? Ned Land, người lập tức xuất hiện trở lại khi chúng tôi men gần bờ, không ngừng chất vấn tôi. Tôi có thể trả lời gì đây? Thuyền trưởng Nemo vẫn vô hình. Sau khi cho người Canada thoáng thấy các bờ biển America, phải chăng ông sắp cho tôi thấy bờ biển France?
Nhưng chiếc Nautilus cứ trĩu về phía nam. Ngày 30 tháng 5, trong tầm nhìn Land’s End, nó đi qua giữa mũi thấp nhất của England và quần đảo Scilly, bỏ chúng lại bên mạn phải.
Nếu nó định vào English Channel, rõ ràng nó cần hướng về phía đông. Nó đã không làm vậy.
Suốt ngày 31 tháng 5, chiếc Nautilus quét quanh biển theo một loạt vòng tròn khiến tôi hết sức bối rối. Dường như nó đang tìm một địa điểm nào đó mà nó gặp khó khăn khi xác định. Đến trưa, chính Thuyền trưởng Nemo tới lấy tọa độ. Ông không nói với tôi một lời. Ông trông u ám hơn bao giờ hết. Điều gì đang phủ đầy ông bằng nỗi buồn như thế? Phải chăng là việc chúng tôi ở gần các bờ biển châu Âu này? Phải chăng ông đang sống lại ký ức về đất nước mình đã bỏ lại phía sau? Nếu vậy, ông cảm thấy gì? Ân hận hay tiếc nuối? Trong một thời gian dài những ý nghĩ ấy chiếm lấy tâm trí tôi, và tôi có linh cảm rằng chẳng bao lâu số phận sẽ làm lộ những bí mật của thuyền trưởng.
Ngày hôm sau, 1 tháng 6, chiếc Nautilus vẫn giữ cùng đường đi. Rõ ràng nó đang cố định vị một điểm chính xác nào đó trong đại dương. Cũng như hôm trước, Thuyền trưởng Nemo đến lấy độ cao của mặt trời. Biển phẳng lặng, bầu trời quang đãng. Cách tám dặm về phía đông, một tàu hơi nước lớn hiện rõ trên đường chân trời. Không lá cờ nào phấp phới trên gaff của buồm fore-and-aft của nó, và tôi không thể biết quốc tịch của nó.
Vài phút trước khi mặt trời đi qua thiên đỉnh, Thuyền trưởng Nemo nâng kính lục phân và ngắm với độ chính xác cao nhất. Sự lặng tuyệt đối của sóng tạo thuận lợi cho thao tác này. Chiếc Nautilus nằm bất động, không lắc cũng không nhồi.
Khi ấy tôi đang ở trên sàn ngoài. Sau khi xác định vị trí của chúng tôi, thuyền trưởng chỉ thốt ra những lời này:
“Chính là đây!”
Ông đi xuống cửa sập. Phải chăng ông đã thấy con tàu kia đổi hướng và dường như tiến về phía chúng tôi? Tôi không thể nói.
Tôi trở lại phòng khách. Cửa sập đóng lại, và tôi nghe tiếng nước rít trong các két dằn. Chiếc Nautilus bắt đầu chìm theo một đường thẳng đứng, vì chân vịt đã ngừng và không còn tạo ra chuyển động tiến.
Vài phút sau nó dừng ở độ sâu 833 mét và nằm nghỉ trên đáy biển.
Rồi đèn trần trong phòng khách tắt, các tấm che mở ra, và qua các cửa sổ tôi thấy, trong bán kính nửa dặm, biển được chiếu sáng rực rỡ bởi các tia của đèn hiệu.
Tôi nhìn sang mạn trái và không thấy gì ngoài sự mênh mông của vùng nước yên tĩnh này.
Bên mạn phải, một chỗ phồng nổi bật trên đáy biển thu hút sự chú ý của tôi. Người ta có thể tưởng đó là một tàn tích phủ kín dưới lớp vỏ sò trắng xóa, như dưới một tấm áo tuyết. Xem kỹ khối này, tôi nhận ra những đường nét trương phồng của một con tàu bị cắt mất cột buồm, hẳn đã chìm mũi trước. Tai nạn ấy chắc chắn đã có từ một thời xa xôi. Để bị đá vôi của vùng nước này đóng dày đến thế, đống xác tàu này hẳn đã nằm nhiều năm trên đáy đại dương.
Con tàu này là gì? Vì sao chiếc Nautilus đến viếng mồ nó? Có phải không chỉ một tai nạn hàng hải đã kéo chiếc tàu này xuống dưới nước?
Tôi không biết phải nghĩ gì, nhưng bên cạnh tôi, tôi nghe giọng Thuyền trưởng Nemo chậm rãi nói:
“Ban đầu con tàu này được đặt tên là Marseillais. Nó mang bảy mươi bốn khẩu đại bác và được hạ thủy năm 1762. Ngày 13 tháng 8 năm 1778, dưới quyền La Poype-Vertrieux, nó đã chiến đấu anh dũng chống lại Preston. Ngày 4 tháng 7 năm 1779, với tư cách một thành viên của hải đội dưới quyền Đô đốc d’Estaing, nó hỗ trợ việc chiếm đảo Grenada. Ngày 5 tháng 9 năm 1781, dưới quyền Bá tước de Grasse, nó tham gia trận Chesapeake Bay. Năm 1794, nền Cộng hòa mới của France đổi tên con tàu này. Ngày 16 tháng 4 cùng năm ấy, nó gia nhập hải đội tại Brest dưới quyền Chuẩn đô đốc Villaret de Joyeuse, người được giao hộ tống một đoàn tàu chở lúa mì đến từ America dưới quyền Đô đốc Van Stabel. Vào năm thứ hai của Lịch Cách mạng Pháp, ngày 11 và 12 tháng Đồng Cỏ, hải đội này giao chiến với các tàu Anh. Thưa ông, hôm nay là ngày 1 tháng 6 năm 1868, tức ngày 13 tháng Đồng Cỏ. Bảy mươi bốn năm trước đúng ngày này, tại chính nơi này, ở vĩ độ 47 độ 24′ và kinh độ 17 độ 28′, con tàu này chìm sau một trận chiến anh hùng; ba cột buồm bị mất, nước tràn khoang, một phần ba thủy thủ đoàn mất khả năng chiến đấu, nó thà xuống đáy cùng 356 thủy thủ hơn là đầu hàng; và với lá cờ bị đóng đinh trên boong sau, nó biến mất dưới sóng giữa những tiếng hô ‘Cộng hòa muôn năm!’”
“Đây là Avenger!” tôi kêu lên.
“Phải, thưa ông! Avenger! Một cái tên rực rỡ!” Thuyền trưởng Nemo thì thầm, khoanh tay.
### CHƯƠNG 21
Một cuộc hành quyết tập thể
CÁCH ÔNG NÓI điều này, sự bất ngờ của cảnh tượng này, trước hết là tiểu sử của con tàu yêu nước ấy, rồi niềm xúc động mà con người kỳ dị này dùng để thốt ra những lời cuối cùng—cái tên Avenger với ý nghĩa không thể nào thoát khỏi tôi—tất cả những điều đó, cộng lại, đã tác động sâu sắc lên tâm trí tôi. Mắt tôi không rời thuyền trưởng. Hai tay vươn về phía biển, ông chiêm ngưỡng xác tàu kiêu hãnh bằng đôi mắt rực cháy. Có lẽ tôi sẽ không bao giờ biết ông là ai, ông từ đâu đến hay đi về đâu, nhưng tôi ngày càng thấy rõ một sự phân biệt giữa con người và nhà khoa học. Không phải một thứ chán ghét nhân loại tầm thường đã giữ Thuyền trưởng Nemo và các bạn đồng hành của ông biệt lập trong lớp vỏ thép của chiếc Nautilus, mà là một lòng căm thù khổng lồ đến mức quái dị hoặc cao cả, thứ mà năm tháng trôi qua không bao giờ có thể làm yếu đi.
Lòng căm thù ấy có còn khao khát trả thù không? Thời gian sẽ sớm cho biết.
Trong khi đó, chiếc Nautilus từ từ nổi lên mặt biển, và tôi nhìn hình dáng tối tăm của Avenger dần dần biến mất. Chẳng mấy chốc một chuyển động lắc nhẹ cho tôi biết rằng chúng tôi đang nổi trong không khí mở.
Đúng lúc ấy vang lên một tiếng nổ rỗng. Tôi nhìn thuyền trưởng. Thuyền trưởng không động đậy.
“Thuyền trưởng?” tôi nói.
Ông không đáp.
Tôi rời ông và trèo lên sàn ngoài. Conseil và người Canada đã ở đó.
“Tiếng nổ ấy do đâu?” tôi hỏi.
“Một khẩu đại bác khai hỏa,” Ned Land đáp.
Tôi nhìn theo hướng con tàu mà tôi đã phát hiện. Nó đang đi về phía chiếc Nautilus, và có thể thấy nó đã tăng hơi nước. Sáu dặm ngăn nó với chúng tôi.
“Nó là loại tàu gì, Ned?”
“Nhìn giàn buồm và các cột thấp của nó,” người Canada đáp, “tôi cá đó là một chiến hạm. Mong sao nó kéo tới và đánh chìm chiếc Nautilus khốn kiếp này!”
“Ned bạn tôi,” Conseil đáp, “nó có thể làm hại gì chiếc Nautilus? Nó sẽ tấn công chúng ta dưới sóng sao? Nó sẽ bắn đại bác vào chúng ta dưới đáy biển sao?”
“Nói tôi nghe, Ned,” tôi hỏi, “ông có nhận ra quốc tịch của con tàu ấy không?”
Nhăn trán, hạ mí mắt và mím khóe mắt, người Canada tập trung toàn bộ sức nhìn vào con tàu trong một lúc ngắn.
“Không, thưa ngài,” ông đáp. “Tôi không nhận ra nó thuộc quốc gia nào. Nó không treo cờ. Nhưng tôi thề đó là một chiến hạm, vì có một cờ hiệu dài đang bay từ đỉnh cột buồm chính.”
Trong một phần tư giờ, chúng tôi tiếp tục quan sát con tàu đang áp sát. Nhưng tôi không thể hiểu nổi làm sao nó phát hiện chiếc Nautilus ở khoảng cách như thế, lại càng không hiểu làm sao nó biết cỗ máy dưới nước này thật sự là gì.
Chẳng mấy chốc người Canada thông báo rằng con tàu là một chiến hạm lớn, một thiết giáp hạm hai tầng hoàn chỉnh với mũi đâm. Khói đen đặc phụt ra từ hai ống khói của nó. Những cánh buồm cuốn lại nhập vào đường nét các xà ngang. Gaff của buồm fore-and-aft không treo cờ. Khoảng cách vẫn ngăn chúng tôi phân biệt màu sắc của cờ hiệu, nó đang phấp phới như một dải băng mảnh.
Nó đang tới nhanh. Nếu Thuyền trưởng Nemo để nó áp sát, một cơ hội cứu thoát có thể mở ra cho chúng tôi.
“Thưa ngài,” Ned Land nói với tôi, “nếu con tàu ấy tới trong vòng một dặm, tôi sẽ nhảy xuống biển, và tôi đề nghị ông làm theo.”
Tôi không đáp lời đề nghị của người Canada mà tiếp tục nhìn con tàu, lúc này đang lớn dần trên chân trời. Dù là tàu Anh, Pháp, Mỹ hay Nga, chắc chắn nó sẽ đón chúng tôi lên nếu chúng tôi có thể tới đó.
“Ngài có thể nhớ,” Conseil khi ấy nói, “rằng chúng ta cũng có chút kinh nghiệm bơi lội. Ngài có thể trông cậy vào tôi kéo ngài tới con tàu kia, nếu ngài đồng ý đi với bạn Ned của chúng ta.”
Trước khi tôi kịp đáp, khói trắng tuôn ra từ mũi chiến hạm. Rồi vài giây sau, nước bắn tung sau đuôi chiếc Nautilus, bị khuấy động bởi cú rơi của một vật nặng. Ngay sau đó, một tiếng nổ đập vào tai tôi.
“Gì thế này? Họ đang bắn chúng ta!” tôi kêu lên.
“Những chàng trai khá lắm!” người Canada lẩm bẩm.
“Có nghĩa là họ không xem chúng ta là những người đắm tàu bám trên một mảnh vỡ!”
“Với tất cả sự kính trọng dành cho ngài—lạy trời!” Conseil chen vào, phủi nước từ một quả đạn khác vừa bắn tóe lên người. “Với tất cả sự kính trọng dành cho ngài, họ đã phát hiện con kỳ lân biển và đang bắn đại bác vào đúng nó.”
“Nhưng họ hẳn phải thấy rõ,” tôi kêu lên, “rằng họ đang đối mặt với con người.”
“Có lẽ chính vì thế!” Ned Land đáp, nhìn tôi chằm chằm.
Toàn bộ sự thật lóe lên trong tôi. Chắc chắn giờ đây người ta biết mình đang đứng ở đâu trước sự tồn tại của cái gọi là quái vật này. Chắc chắn cuộc gặp của nó với Abraham Lincoln, khi người Canada đánh trúng nó bằng lao, đã khiến Chỉ huy Farragut nhận ra kỳ lân biển thật ra là một chiếc tàu ngầm, nguy hiểm hơn bất kỳ loài cá voi phi trần nào!
Phải, hẳn là như vậy, và chắc chắn giờ đây trên mọi biển người ta đang truy đuổi cỗ máy hủy diệt đáng sợ này!
Quả là đáng sợ, nếu như chúng tôi có thể giả định rằng Thuyền trưởng Nemo đã dùng chiếc Nautilus vào các công cuộc báo thù! Đêm ấy giữa Ấn Độ Dương, khi ông giam chúng tôi trong buồng, chẳng phải ông đã tấn công một con tàu nào đó sao? Người đàn ông hiện chôn trong nghĩa trang san hô, chẳng phải là nạn nhân của một vụ va chạm do chiếc Nautilus gây ra sao? Phải, tôi nhắc lại: hẳn là như vậy. Một phần đời bí mật của Thuyền trưởng Nemo đã được hé lộ. Và giờ đây, dù danh tính ông vẫn chưa được biết, ít nhất các quốc gia liên minh chống lại ông đã biết rằng họ không còn săn đuổi một quái vật thần thoại, mà là một con người đã thề một lòng căm ghét không đội trời chung với họ!
Toàn bộ chuỗi biến cố đáng sợ ấy hiện ra trong mắt trí tưởng tượng của tôi. Thay vì gặp bạn bè trên con tàu đang tới gần này, chúng tôi sẽ chỉ gặp những kẻ thù không khoan nhượng.
Trong khi ấy đạn pháo rơi quanh chúng tôi ngày càng nhiều. Một số quả, chạm mặt nước, nảy đi và biến mất xuống biển ở những khoảng cách đáng kể. Nhưng không quả nào chạm tới chiếc Nautilus.
Khi ấy chiếc thiết giáp hạm chỉ còn cách chưa tới ba dặm. Bất chấp trận pháo kích dữ dội, Thuyền trưởng Nemo vẫn chưa xuất hiện trên sàn ngoài. Thế nhưng nếu một trong những quả đạn hình nón kia trúng thân chiếc Nautilus một cú thông thường, nó có thể gây chết người cho ông.
Người Canada khi ấy nói với tôi:
“Thưa ngài, chúng ta phải làm mọi cách có thể để thoát khỏi mớ rắc rối này! Hãy ra hiệu cho họ! Quỷ tha ma bắt! Có lẽ họ sẽ nhận ra chúng ta là người tử tế!”
Ned Land rút khăn tay để vẫy trong không khí. Nhưng ông vừa mới mở nó ra thì đã bị một nắm tay sắt đánh gục, và bất chấp sức mạnh ghê gớm của mình, ông ngã nhào xuống boong.
“Đồ cặn bã!” thuyền trưởng hét lên. “Ngươi muốn bị đóng đinh vào mũi thúc của chiếc Nautilus trước khi nó lao vào con tàu kia sao?”
Nghe đã đáng sợ, Thuyền trưởng Nemo trông còn đáng sợ hơn. Mặt ông tái đi vì một cơn co thắt của tim, hẳn đã ngừng đập trong một khoảnh khắc. Đồng tử ông co lại khủng khiếp. Giọng ông không còn nói, mà gầm lên. Gập người từ thắt lưng, ông lắc vai người Canada.
Rồi, buông Ned ra và quay về phía chiến hạm đang trút đạn quanh ông:
“Hỡi con tàu của một quốc gia bị nguyền rủa, ngươi biết ta là ai!” ông hét lên bằng giọng mạnh mẽ. “Và ta không cần màu cờ của ngươi để nhận ra ngươi! Nhìn đây! Ta sẽ cho ngươi thấy màu cờ của ta!”
Và trên mũi sàn ngoài, Thuyền trưởng Nemo mở tung một lá cờ đen, giống lá cờ ông đã cắm ở Nam Cực.
Đúng lúc ấy một quả đạn bắn xiên vào thân chiếc Nautilus, không xuyên thủng được nó, nảy gần thuyền trưởng rồi biến mất xuống biển.
Thuyền trưởng Nemo nhún vai. Rồi, quay sang tôi:
“Xuống dưới!” ông nói bằng giọng cụt lủn. “Ông và các bạn đồng hành của ông, xuống dưới!”
“Thưa ông,” tôi kêu lên, “ông định tấn công con tàu này sao?”
“Thưa ông, tôi sẽ đánh chìm nó.”
“Ông sẽ không làm thế!”
“Tôi sẽ làm,” Thuyền trưởng Nemo lạnh lùng đáp. “Ông không nên phán xét tôi, thưa ông. Số phận đã cho ông thấy điều ông không được phép thấy. Cuộc tấn công đã đến. Câu trả lời của chúng tôi sẽ khủng khiếp. Trở vào trong!”
“Con tàu ấy thuộc quốc gia nào?”
“Ông không biết? Tốt, càng hay! Ít nhất quốc tịch của nó sẽ vẫn là bí mật đối với ông. Xuống dưới!”
Người Canada, Conseil và tôi chỉ có thể vâng lời. Khoảng mười lăm thủy thủ của chiếc Nautilus vây quanh thuyền trưởng của họ và nhìn chằm chằm bằng một cảm giác căm thù không đội trời chung về phía con tàu đang lao đến. Có thể cảm thấy cùng một tinh thần báo thù bốc cháy trong từng linh hồn của họ.
Tôi đi xuống đúng lúc một quả đạn khác cào qua thân chiếc Nautilus, và tôi nghe thuyền trưởng thét lên:
“Bắn đi, con tàu điên loạn! Trút những quả đạn vô ích của ngươi đi! Ngươi sẽ không thoát khỏi mũi thúc của chiếc Nautilus! Nhưng đây không phải nơi ngươi sẽ chết! Ta không muốn xác ngươi lẫn với xác Avenger!”
Tôi trở về phòng riêng. Thuyền trưởng và viên phó chỉ huy của ông ở lại trên sàn ngoài. Chân vịt được khởi động. Chiếc Nautilus nhanh chóng lùi ra, đưa chúng tôi khỏi tầm đạn của con tàu. Nhưng cuộc truy đuổi vẫn tiếp diễn, và Thuyền trưởng Nemo hài lòng giữ khoảng cách.
Gần bốn giờ chiều, không thể kiềm chế sự sốt ruột và bất an đang gặm nhấm mình, tôi trở lại cầu thang trung tâm. Cửa sập mở. Tôi mạo hiểm bước lên sàn ngoài. Thuyền trưởng vẫn đang đi lại ở đó, những bước chân kích động. Ông nhìn chằm chằm con tàu đang ở phía khuất gió của ông, cách năm hay sáu dặm. Ông quần quanh nó như một con thú dữ, kéo nó về phía đông, để nó đuổi theo mình. Thế nhưng ông không tấn công. Phải chăng, có lẽ, ông vẫn còn do dự?
Tôi cố can thiệp lần cuối. Nhưng tôi vừa mới hỏi Thuyền trưởng Nemo thì ông đã buộc tôi im lặng:
“Ta là luật pháp, ta là tòa án! Ta là kẻ bị áp bức, và kia là những kẻ áp bức ta! Nhờ chúng, ta đã chứng kiến sự hủy diệt của mọi thứ ta yêu thương, trân quý và tôn kính—quê hương, vợ, con, cha, và mẹ! Kia là tất cả những gì ta căm ghét! Không thêm một lời nào từ ông nữa!”
Tôi nhìn con chiến hạm đang tăng hơi lần cuối. Rồi tôi trở lại với Ned và Conseil.
“Chúng ta sẽ trốn!” tôi kêu lên.
“Tốt,” Ned chen vào. “Con tàu ấy của nước nào?”
“Tôi không biết. Nhưng dù nó của nước nào, trước khi đêm xuống nó cũng sẽ chìm. Dù sao đi nữa, thà chết cùng nó còn hơn làm đồng lõa trong một cuộc báo thù mà giá trị của nó chúng ta không thể đo lường.”
“Tôi cũng nghĩ vậy,” Ned Land lạnh lùng đáp. “Hãy chờ đêm xuống.”
Đêm xuống. Một sự im lặng sâu thẳm ngự trị trên tàu. La bàn cho thấy chiếc Nautilus không đổi hướng. Tôi nghe nhịp chân vịt của nó khuấy sóng với tốc độ đều đặn. Ở lại trên mặt nước, nó lắc nhẹ, lúc sang bên này, lúc sang bên kia.
Các bạn đồng hành của tôi và tôi đã quyết định trốn thoát ngay khi con tàu đến đủ gần để chúng tôi được nghe thấy—hoặc được thấy, bởi trăng sẽ tròn trong ba ngày nữa và đang tỏa sáng rực rỡ. Một khi chúng tôi lên được con tàu ấy, nếu không thể ngăn cú đánh đang đe dọa nó, ít nhất chúng tôi có thể làm tất cả những gì hoàn cảnh cho phép. Nhiều lần tôi tưởng chiếc Nautilus sắp tấn công. Nhưng nó chỉ hài lòng để đối thủ tiến gần, rồi lại nhanh chóng tiếp tục lối rút lui của mình.
Một phần đêm trôi qua không có biến cố. Chúng tôi canh chừng cơ hội hành động. Chúng tôi ít nói, vì quá căng thẳng. Ned Land chỉ muốn nhảy xuống biển. Tôi buộc ông chờ. Theo tôi, chiếc Nautilus sẽ tấn công con tàu hai tầng trên mặt sóng, và khi ấy trốn thoát không chỉ có thể mà còn dễ dàng.
Đến ba giờ sáng, lòng đầy bất an, tôi leo lên sàn ngoài. Thuyền trưởng Nemo vẫn chưa rời đó. Ông đứng ở mũi cạnh lá cờ của mình, một làn gió nhẹ đang mở tung nó phía trên đầu ông. Mắt ông không hề rời con tàu ấy. Cường độ phi thường trong cái nhìn của ông dường như hút lấy nó, mê hoặc nó, kéo nó lại chắc chắn hơn cả khi ông đang buộc nó bằng dây kéo!
Lúc ấy mặt trăng đi qua thiên đỉnh. Jupiter đang mọc ở phía đông. Giữa khung cảnh thiên nhiên yên bình này, trời và đại dương ganh nhau trong tĩnh lặng, và biển dâng cho thiên thể ban đêm tấm gương đẹp nhất từng phản chiếu hình ảnh của nó.
Và khi tôi so sánh sự điềm tĩnh sâu xa này của các nguyên tố với toàn bộ cơn cuồng nộ đang sôi sục bên trong lớp vỏ của chiếc Nautilus hầu như không thể nhận ra kia, tôi rùng mình toàn thân.
Con tàu ở cách hai dặm. Nó tiến lại gần, vẫn luôn hướng về ánh lân quang báo hiệu sự hiện diện của chiếc Nautilus. Tôi thấy các đèn hiệu xanh và đỏ của nó, cùng chiếc đèn lồng trắng treo trên dây chằng lớn của cột trước. Những ánh chập chờn mờ ảo phản chiếu trên giàn dây của nó và cho thấy các lò lửa đang bị thúc tới giới hạn. Mưa tia lửa và tro than cháy thoát ra từ các ống khói, rắc sao lên không khí.
Tôi đứng đó đến sáu giờ sáng, Thuyền trưởng Nemo dường như không hề để ý tới tôi. Con tàu ở cách một dặm rưỡi, và cùng những ánh sáng đầu tiên của ban ngày, nó lại bắt đầu pháo kích. Thời khắc chiếc Nautilus tấn công đối thủ hẳn không còn xa, và các bạn đồng hành của tôi cùng tôi sẽ rời vĩnh viễn con người mà tôi không dám phán xét này.
Tôi đang định xuống dưới báo cho họ thì viên phó chỉ huy trèo lên sàn ngoài. Vài thủy thủ đi cùng ông ta. Thuyền trưởng Nemo không nhìn thấy họ, hoặc không muốn nhìn thấy họ. Họ thực hiện vài thao tác mà trên chiếc Nautilus có thể gọi là “dọn boong chiến đấu.” Những việc ấy rất đơn giản. Những dây tay vịn tạo thành lan can quanh sàn ngoài được hạ xuống. Tương tự, nhà bánh lái và vỏ đèn hiệu được rút vào thân tàu cho đến khi chúng nằm đúng ngang bằng với nó. Bề mặt của điếu xì gà dài bằng thép này không còn một chỗ lồi nào có thể cản trở các động tác của nó.
Tôi trở lại phòng khách. Chiếc Nautilus vẫn nổi trên mặt nước. Vài tia sáng buổi sớm thấm vào các tầng nước. Dưới các gợn sóng, những cửa sổ rực lên màu hồng của mặt trời mọc. Ngày 2 tháng 6 khủng khiếp ấy đã rạng.
Lúc bảy giờ, đồng hồ tốc độ cho tôi biết chiếc Nautilus đã giảm tốc. Tôi nhận ra nó đang để chiến hạm đến gần. Hơn nữa, các tiếng nổ nghe mỗi lúc một dữ dội hơn. Đạn pháo rạch nước quanh chúng tôi, khoan xuyên qua nó bằng một tiếng rít kỳ lạ.
“Các bạn tôi,” tôi nói, “đến lúc rồi. Hãy bắt tay nhau, và xin Chúa ở cùng chúng ta!”
Ned Land quả quyết, Conseil bình tĩnh, còn tôi thì căng thẳng và hầu như không kiểm soát nổi mình.
Chúng tôi vào thư viện. Đúng lúc tôi đẩy mở cánh cửa dẫn tới giếng cầu thang trung tâm, tôi nghe cửa sập đóng mạnh phía trên.
Người Canada nhảy lên các bậc thang, nhưng tôi chặn ông lại. Một tiếng rít quen thuộc cho tôi biết nước đang vào các két dằn của con tàu. Quả thật, trong vài khoảnh khắc, chiếc Nautilus đã chìm xuống vài mét dưới mặt sóng.
Tôi hiểu thao tác này. Đã quá muộn để hành động. Chiếc Nautilus sẽ không đánh vào con tàu hai tầng ở nơi nó được bọc trong giáp sắt không thể xuyên thủng, mà dưới đường nước của nó, nơi lớp mai kim loại không còn bảo vệ thân gỗ.
Chúng tôi lại là tù nhân, những khán giả bất đắc dĩ trước màn kịch khủng khiếp này. Nhưng chúng tôi hầu như không có thời gian suy nghĩ. Trú trong phòng riêng của tôi, chúng tôi nhìn nhau mà không nói một lời. Tâm trí tôi tê dại hoàn toàn. Các quá trình suy nghĩ của tôi ngừng hẳn. Tôi lơ lửng trong trạng thái đau đớn thường ngự trị trong thời gian chờ đợi trước một tiếng nổ kinh hoàng nào đó. Tôi chờ, tôi nghe, tôi chỉ sống qua thính giác của mình!
Trong khi đó, tốc độ của chiếc Nautilus tăng lên rõ rệt. Vậy là nó đang lấy đà. Toàn bộ thân tàu rung lên.
Đột nhiên tôi bật ra một tiếng kêu. Có va chạm, nhưng tương đối nhẹ. Tôi cảm thấy lực xuyên thấu của mũi thúc thép. Tôi nghe những tiếng cào xước và cọ sát. Bị cuốn đi bởi sức lao của mình, chiếc Nautilus đã xuyên qua khối thân con tàu như kim khâu buồm xuyên qua vải bạt!
Tôi không thể đứng yên. Điên cuồng, gần như phát điên, tôi lao ra khỏi phòng riêng và phóng vào phòng khách.
Thuyền trưởng Nemo ở đó. Câm lặng, u ám, không khoan nhượng, ông nhìn chằm chằm qua tấm kính mạn trái.
Một khối khổng lồ đang chìm xuống dưới nước, và chiếc Nautilus, không bỏ lỡ một cơn hấp hối nào của nó, đang hạ xuống vực sâu cùng nó. Cách mười mét, tôi có thể thấy thân tàu há toang, nơi nước đang ào vào với tiếng sấm, rồi hai hàng đại bác và lan can kép của nó. Boong tàu phủ đầy những bóng đen run rẩy.
Nước dâng lên. Những người tội nghiệp ấy nhảy lên các dây néo, bám vào cột buồm, quằn quại dưới nước. Đó là một tổ kiến người bị một biển cả xâm lấn bắt quả tang!
Tê liệt, cứng đờ vì thống khổ, tóc dựng đứng, mắt lồi ra khỏi đầu, hụt hơi, nghẹt thở, câm lặng, tôi nhìn—cả tôi nữa! Tôi bị dán vào cửa sổ bởi một sức hút không cưỡng nổi!
Con tàu khổng lồ chậm chạp chìm xuống. Theo nó đi xuống, chiếc Nautilus theo dõi từng chuyển động của nó. Đột nhiên có một vụ phun nổ. Không khí bị nén bên trong con tàu hất tung các boong của nó, như thể kho thuốc súng đã bốc cháy. Sức đẩy của nước mạnh đến nỗi chiếc Nautilus lệch đi.
Con tàu tội nghiệp khi ấy chìm nhanh hơn. Các đầu cột của nó hiện ra, nặng trĩu nạn nhân, rồi các xà ngang cong xuống dưới từng chùm người, cuối cùng là đỉnh cột buồm chính. Rồi khối tối biến mất, và cùng với nó là một thủy thủ đoàn xác chết bị kéo xuống bởi những xoáy nước đáng sợ. . . .
Tôi quay sang Thuyền trưởng Nemo. Kẻ hành quyết khủng khiếp ấy, vị tổng lãnh thiên thần của hận thù thật sự ấy, vẫn nhìn chằm chằm. Khi tất cả đã kết thúc, Thuyền trưởng Nemo đi tới cửa phòng riêng của mình, mở nó và bước vào. Mắt tôi dõi theo ông.
Trên vách sau, bên dưới chân dung các anh hùng của ông, tôi thấy chân dung một người phụ nữ còn trẻ với hai đứa con nhỏ. Thuyền trưởng Nemo nhìn họ trong vài khoảnh khắc, vươn tay về phía họ, quỳ xuống, và tan ra trong những tiếng nức nở.
### CHƯƠNG 22
Những lời cuối cùng của Thuyền trưởng Nemo
CÁC TẤM CHE khép lại trên cảnh tượng kinh hoàng này, nhưng đèn không bật sáng trong phòng khách. Bên trong chiếc Nautilus, tất cả là u ám và im lặng. Nó rời nơi tàn phá này với tốc độ phi thường, sâu 100 foot dưới nước. Nó đi đâu? Bắc hay nam? Con người ấy sẽ trốn tới nơi nào sau hành động trả thù khủng khiếp này?
Tôi trở về phòng riêng, nơi Ned và Conseil đang lặng lẽ chờ. Thuyền trưởng Nemo làm tôi ngập trong nỗi kinh hoàng không thể vượt qua. Dù ông từng chịu đựng điều gì dưới tay nhân loại, ông cũng không có quyền giáng xuống hình phạt như thế. Ông đã biến tôi, nếu không phải đồng phạm, thì ít nhất thành nhân chứng cho cuộc báo thù của ông! Ngay cả điều này cũng không thể chịu nổi.
Lúc mười một giờ, đèn điện bật sáng trở lại. Tôi vào phòng khách. Nó trống không. Tôi xem các dụng cụ khác nhau. Chiếc Nautilus đang lao về phía bắc với tốc độ hai mươi lăm dặm một giờ, lúc trên mặt biển, lúc ba mươi foot dưới nó.
Sau khi vị trí của chúng tôi được đánh dấu trên bản đồ, tôi thấy chúng tôi đang đi vào cửa English Channel, rằng hướng đi của chúng tôi sẽ đưa chúng tôi tới những biển cực bắc với tốc độ vô song.
Tôi hầu như chỉ kịp thoáng thấy sự vụt qua nhanh của cá mập mõm dài, cá mập đầu búa, cá chó biển đốm thường lui tới các vùng nước này, các con đuối đại bàng lớn, đàn cá ngựa trông như những quân mã trên bàn cờ, cá chình run rẩy như rắn pháo hoa, quân đoàn cua bỏ chạy nghiêng bằng cách bắt chéo càng trên mai, cuối cùng là các đàn cá heo thi tốc độ với chiếc Nautilus. Nhưng đến lúc này, quan sát, nghiên cứu và phân loại đều không còn là vấn đề nữa.
Đến tối, chúng tôi đã vượt 200 dặm biển lên Đại Tây Dương. Bóng tối tụ lại và u ám tràn khắp biển cho đến khi mặt trăng mọc.
Tôi trở về phòng riêng. Tôi không thể ngủ. Ác mộng tấn công tôi. Cảnh hủy diệt khủng khiếp ấy cứ lặp đi lặp lại trong mắt trí tưởng tượng của tôi.
Từ ngày đó trở đi, ai biết chiếc Nautilus đã đưa chúng tôi tới đâu trong lưu vực bắc Đại Tây Dương? Luôn luôn với tốc độ không thể tính! Luôn luôn giữa những màn sương Bắc Cực cao! Nó có ghé các mũi đất của Spitzbergen hay bờ Novaya Zemlya không? Nó có thăm những biển chưa được lập bản đồ như White Sea, Kara Sea, Gulf of Ob, Lyakhov Islands, hay những bãi biển chưa biết trên bờ Siberia không? Tôi không thể nói. Tôi mất dấu thời gian trôi qua. Thời gian bị đình chỉ trên những đồng hồ của con tàu. Như xảy ra ở các vùng cực, dường như đêm và ngày không còn tiếp nối nhau theo trật tự thông thường. Tôi cảm thấy mình bị kéo vào lãnh địa kỳ lạ nơi trí tưởng tượng quá kích thích của Edgar Allan Poe từng cư trú. Như Arthur Gordon Pym trong huyền thoại của ông, bất cứ lúc nào tôi cũng mong thấy “một hình người quấn khăn liệm, có kích thước lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ cư dân nào giữa loài người,” hiện ngang thác nước bảo vệ vùng ngoại vi của cực!
Tôi ước tính—nhưng có lẽ tôi lầm—rằng hành trình bất định của chiếc Nautilus kéo dài mười lăm hay hai mươi ngày, và tôi không chắc việc này còn tiếp diễn bao lâu nếu không có thảm họa đã chấm dứt chuyến đi của chúng tôi. Về Thuyền trưởng Nemo, ông không còn xuất hiện nữa. Về viên phó chỉ huy của ông cũng vậy. Không một thủy thủ nào lộ diện trong một khoảnh khắc nào. Chiếc Nautilus hầu như liên tục đi dưới nước. Khi nó nổi lên một lát để đổi mới không khí, các cửa sập mở ra đóng lại như thể tự động. Không vị trí nào được ghi thêm trên bản đồ thế giới. Tôi không biết chúng tôi ở đâu.
Tôi cũng sẽ nói rằng người Canada, cạn kiệt sức lực và kiên nhẫn, không xuất hiện nữa. Conseil không thể dỗ ông nói được một lời và sợ rằng trong một cơn mê sảng dưới sự chi phối của nỗi nhớ nhà ghê rợn, Ned sẽ tự sát. Vì thế anh tận tụy canh chừng bạn mình từng khoảnh khắc.
Có thể hiểu rằng trong những điều kiện này, tình trạng của chúng tôi đã trở nên không thể chịu nổi.
Một buổi sáng—mà tôi không thể xác định ngày tháng—tôi đang ngủ lơ mơ gần những giờ đầu của bình minh, một giấc ngủ đau đớn, bệnh hoạn. Tỉnh dậy, tôi thấy Ned Land cúi trên mình, và nghe ông nói với tôi bằng giọng thấp:
“Chúng ta sẽ trốn!”
Tôi ngồi bật dậy.
“Khi nào?” tôi hỏi.
“Tối nay. Dường như trên chiếc Nautilus không còn sự giám sát nào nữa. Có thể tưởng một cơn mê mụ toàn diện đang ngự trị trên tàu. Ông sẽ sẵn sàng chứ, thưa ngài?”
“Có. Chúng ta ở đâu?”
“Trong tầm nhìn đất liền. Tôi thấy nó qua sương mù sáng nay, cách hai mươi dặm về phía đông.”
“Đó là đất nào?”
“Tôi không biết, nhưng dù là đất nào, chúng ta sẽ trú ở đó.”
“Phải, Ned! Tối nay chúng ta sẽ trốn, dù biển có nuốt chúng ta!”
“Biển động, gió thổi mạnh, nhưng chuyến vượt hai mươi dặm trong xuồng dài nhanh nhẹn của chiếc Nautilus không làm tôi sợ. Tôi đã lén thủy thủ đoàn cất ít thức ăn và vài bình nước bên trong.”
“Tôi đi với ông.”
“Hơn nữa,” người Canada nói thêm, “nếu họ bắt được tôi, tôi sẽ tự vệ, tôi sẽ chiến đấu đến chết.”
“Vậy chúng ta sẽ chết cùng nhau, Ned bạn tôi.”
Tôi đã quyết tâm. Người Canada rời tôi. Tôi đi ra sàn ngoài, nơi tôi hầu như không thể đứng thẳng trước các cú nhồi của sóng. Bầu trời đầy đe dọa, nhưng đất liền nằm trong những màn sương dày ấy, và chúng tôi phải trốn. Không một ngày, thậm chí không một giờ nào chúng tôi có thể để mất.
Tôi trở lại phòng khách, vừa sợ vừa muốn gặp Thuyền trưởng Nemo, vừa muốn vừa không muốn thấy ông. Tôi sẽ nói gì với ông? Làm sao tôi che giấu nỗi kinh hoàng không tự chủ mà ông gợi lên trong tôi? Không! Tốt nhất là không gặp trực diện ông! Tốt nhất là cố quên ông! Thế nhưng . . . !
Ngày ấy dài biết bao, ngày cuối cùng tôi sẽ ở trên chiếc Nautilus! Tôi ở lại một mình. Ned Land và Conseil tránh nói chuyện với tôi, sợ họ sẽ để lộ mình.
Lúc sáu giờ, tôi ăn bữa tối, nhưng không ngon miệng. Bất chấp sự ghê tởm, tôi ép mình ăn, muốn giữ sức.
Lúc 6:30, Ned Land vào phòng tôi. Ông nói với tôi:
“Chúng ta sẽ không gặp lại nhau trước khi đi. Mười giờ, trăng chưa mọc. Chúng ta sẽ lợi dụng bóng tối. Hãy tới xuồng. Conseil và tôi sẽ ở trong chờ ông.”
Người Canada rời đi mà không cho tôi thời gian trả lời.
Tôi muốn xác minh hướng đi của chiếc Nautilus. Tôi đi tới phòng khách. Chúng tôi đang lao về bắc đông bắc với tốc độ khủng khiếp, ở độ sâu năm mươi mét.
Tôi nhìn lần cuối các kỳ quan tự nhiên và kho báu nghệ thuật được tích tụ trong bảo tàng, bộ sưu tập không gì sánh được này, một ngày kia sẽ bị định mệnh làm tiêu vong trong những tầng sâu của biển, cùng với người quản thủ của nó. Tôi muốn khắc một ấn tượng tối hậu vào tâm trí mình. Tôi ở đó một giờ, tắm trong quầng sáng của đèn trần, lần lượt điểm duyệt các kho báu sáng lấp lánh trong tủ kính. Rồi tôi trở lại phòng riêng.
Ở đó tôi mặc quần áo đi biển chắc chắn. Tôi gom các ghi chép của mình và âu yếm cất chúng sát vào người. Tim tôi đập dữ dội. Tôi không thể kìm nhịp đập của nó. Sự lo lắng và kích động của tôi chắc chắn đã tố cáo tôi nếu Thuyền trưởng Nemo nhìn thấy.
Ông đang làm gì lúc này? Tôi lắng nghe ở cửa phòng ông. Tôi nghe tiếng bước chân. Thuyền trưởng Nemo ở bên trong. Ông chưa đi ngủ. Với mỗi chuyển động của ông, tôi tưởng tượng ông sẽ xuất hiện và hỏi tôi vì sao muốn trốn! Tôi cảm thấy mình ở trong trạng thái báo động thường trực. Trí tưởng tượng của tôi phóng đại cảm giác ấy. Cảm giác trở nên dữ dội đến mức tôi tự hỏi liệu có phải tốt hơn là bước vào phòng thuyền trưởng, thách thức ông mặt đối mặt, đương đầu bằng lời nói và hành động!
Đó là một ý nghĩ điên rồ. May thay tôi đã tự kiểm soát và duỗi mình trên giường để làm dịu sự kích động thể xác. Thần kinh tôi lắng xuống đôi chút, nhưng với bộ não bị khơi động như thế, tôi nhanh chóng điểm lại toàn bộ cuộc sống của mình trên chiếc Nautilus, mọi sự cố vui hay buồn đã đi qua đường tôi kể từ khi tôi rơi xuống khỏi Abraham Lincoln: chuyến săn dưới nước, eo Torres, vụ mắc cạn, những người man rợ Papua, nghĩa trang san hô, đường qua Suez, đảo Santorini, người thợ lặn Crete, Bay of Vigo, Atlantis, Ice Bank, Nam Cực, cuộc giam hãm trong băng, trận chiến với lũ quỷ biển, cơn bão trong Gulf Stream, Avenger, và cảnh khủng khiếp con tàu chìm cùng thủy thủ đoàn của nó . . . ! Tất cả các sự kiện ấy đi qua trước mắt tôi như những phông cảnh cuộn lên sau sân khấu trong một nhà hát. Trong khung cảnh kỳ lạ này, Thuyền trưởng Nemo khi ấy lớn lên một cách huyền ảo. Các nét của ông được nhấn mạnh, mang lấy những tỷ lệ siêu phàm. Ông không còn là người ngang hàng với tôi nữa, ông là Con Người của Nước, Linh Hồn của Biển.
Khi ấy đã 9:30. Tôi ôm đầu bằng cả hai tay để giữ nó khỏi vỡ tung. Tôi nhắm mắt. Tôi không còn muốn nghĩ. Còn nửa giờ nữa để chờ! Nửa giờ ác mộng có thể khiến tôi phát điên!
Đúng lúc ấy tôi nghe những hợp âm mơ hồ từ đàn organ, các hòa âm u uất của một khúc thánh ca không thể định danh, những lời khẩn cầu thật sự của một linh hồn đang cố cắt đứt ràng buộc với trần gian. Tôi lắng nghe bằng mọi giác quan cùng lúc, hầu như không thở, chìm đắm như Thuyền trưởng Nemo trong cơn xuất thần âm nhạc đang kéo ông vượt khỏi những giới hạn của thế giới này.
Rồi một ý nghĩ đột ngột làm tôi kinh hoàng. Thuyền trưởng Nemo đã rời phòng mình. Ông đang ở đúng phòng khách mà tôi phải đi qua để trốn. Ở đó tôi sẽ gặp ông lần cuối. Ông sẽ thấy tôi, có lẽ nói với tôi! Một cử chỉ của ông có thể xóa sổ tôi, một lời nói duy nhất khóa xiềng tôi vào con tàu của ông!
Dù vậy, mười giờ sắp điểm. Đã đến lúc rời phòng riêng và tái ngộ các bạn đồng hành.
Tôi không dám do dự, ngay cả khi Thuyền trưởng Nemo đứng trước mặt. Tôi thận trọng mở cửa, nhưng khi nó xoay trên bản lề, nó dường như tạo ra một tiếng động khủng khiếp. Tiếng động này, có lẽ, chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của tôi!
Tôi len lén tiến qua các hành lang tối của chiếc Nautilus, dừng lại sau mỗi bước để kìm tiếng tim đập.
Tôi tới cánh cửa góc của phòng khách. Tôi nhẹ nhàng mở nó. Phòng khách chìm trong bóng tối sâu thẳm. Các hợp âm từ đàn organ vang vọng mơ hồ. Thuyền trưởng Nemo ở đó. Ông không thấy tôi. Ngay cả giữa ban ngày sáng rõ, tôi cũng ngờ rằng ông sẽ không nhận ra tôi, hoàn toàn đắm mình trong cơn xuất thần.
Tôi nhích trên thảm, tránh va chạm nhỏ nhất mà tiếng động có thể tố cáo tôi. Tôi mất năm phút mới tới được cánh cửa ở đầu bên kia, dẫn vào thư viện.
Tôi sắp mở nó thì một tiếng thở hắt từ Thuyền trưởng Nemo đóng đinh tôi tại chỗ. Tôi nhận ra ông đang đứng dậy. Tôi thậm chí thoáng thấy ông vì vài tia sáng từ thư viện đã lọc vào phòng khách. Ông đang tiến về phía tôi, hai tay khoanh, im lặng, không bước mà lướt đi như một bóng ma. Lồng ngực ông phập phồng, căng lên vì những tiếng nức nở. Và tôi nghe ông thì thầm những lời này, những lời cuối cùng của ông đến được tai tôi:
“Ôi Thiên Chúa toàn năng! Đủ rồi! Đủ rồi!”
Có phải đó là một lời thề sám hối vừa thoát ra khỏi lương tâm con người này không . . . ?
Điên cuồng, tôi lao vào thư viện. Tôi trèo cầu thang trung tâm, và đi dọc hành lang trên, tới được chiếc xuồng. Tôi chui qua lỗ mở đã cho hai bạn đồng hành của tôi vào trước.
“Đi thôi, đi thôi!” tôi kêu lên.
“Ngay lập tức!” người Canada đáp.
Trước hết, Ned Land đóng và khóa chặt lỗ mở cắt trên lớp sắt của chiếc Nautilus, dùng chiếc mỏ lết ông mang theo. Sau khi cũng đóng lỗ mở trong xuồng, người Canada bắt đầu vặn các đai ốc vẫn còn bắt chúng tôi vào chiếc tàu ngầm.
Đột nhiên một tiếng động từ bên trong tàu vang lên. Các giọng nói đáp nhau hối hả. Chuyện gì vậy? Họ đã phát hiện cuộc trốn thoát của chúng tôi sao? Tôi cảm thấy Ned Land trượt một con dao găm vào tay tôi.
“Phải,” tôi lẩm bẩm, “chúng ta biết cách chết!”
Người Canada dừng công việc. Nhưng một từ được lặp lại hai mươi lần, một từ đáng sợ, cho tôi biết lý do cơn kích động lan khắp chiếc Nautilus. Chúng tôi không phải nguyên nhân khiến thủy thủ đoàn lo lắng.
“Maelstrom! Maelstrom!” họ đang kêu.
Maelstrom! Còn cái tên nào đáng sợ hơn có thể vang vào tai chúng tôi trong những hoàn cảnh đáng sợ hơn? Phải chăng chúng tôi đang nằm trong những vùng nước nguy hiểm ngoài khơi Na Uy? Chiếc Nautilus có đang bị kéo vào xoáy nước này đúng lúc chiếc xuồng sắp tách khỏi vỏ nó không?
Như anh biết, vào lúc triều đổi, nước bị giam giữa Faroe và Lofoten Islands ùa ra với sức mạnh không thể cưỡng lại. Chúng tạo thành một xoáy nước mà chưa con tàu nào từng có thể thoát khỏi. Những con sóng khổng lồ từ mọi điểm của chân trời cùng lao tới. Chúng tạo thành một vực xoáy được gọi rất đúng là “rốn đại dương,” có sức hút lan xa mười lăm kilômét. Nó có thể hút xuống không chỉ tàu thuyền mà cả cá voi, và thậm chí gấu trắng từ những vùng cực bắc.
Đây là nơi chiếc Nautilus đã bị đưa tới một cách tình cờ—hoặc có lẽ có chủ ý—bởi thuyền trưởng của nó. Nó đang bị cuốn quanh theo một đường xoắn ốc có bán kính mỗi lúc một nhỏ hơn. Chiếc xuồng, vẫn còn gắn vào vỏ tàu, cũng bị cuốn vòng với tốc độ chóng mặt. Tôi cảm thấy chúng tôi quay tít. Tôi đang trải qua cơn buồn nôn đi kèm sau những chuyển động quay liên tục như thế. Chúng tôi kinh hãi, ở những giai đoạn cuối cùng của nỗi khiếp đảm thuần túy, máu đông lại trong huyết quản, thần kinh tê liệt, đẫm mồ hôi lạnh như trong cơn hấp hối! Và quanh chiếc xuồng mỏng manh của chúng tôi là tiếng ồn thế nào! Những tiếng gầm vọng lại từ cách nhiều dặm! Những tiếng va đập của nước vỡ vào các mỏm đá sắc trên đáy biển, nơi những vật cứng nhất bị nghiền nát, nơi thân cây bị bào mòn và biến thành “một lớp lông xù,” như người Na Uy diễn đạt!
Hoàn cảnh thật tuyệt vọng! Chúng tôi lắc lư ghê gớm. Chiếc Nautilus tự vệ như một con người. Những bắp thịt thép của nó kêu răng rắc. Đôi khi nó dựng đứng lên, kéo cả ba chúng tôi theo!
“Chúng ta phải bám thật chặt,” Ned nói, “và vặn lại các đai ốc! Nếu có thể còn gắn với chiếc Nautilus, chúng ta vẫn có thể thoát...!”
Ông chưa nói hết thì một tiếng nứt vang lên. Các đai ốc bật tung, và bị giật khỏi ổ của mình, chiếc xuồng bị phóng như một hòn đá khỏi dây ném vào giữa xoáy nước.
Đầu tôi va vào một thanh sắt, và với cú chấn động dữ dội ấy, tôi mất ý thức.
### CHƯƠNG 23
Kết luận
CHÚNG TA ĐI ĐẾN phần kết của chuyến du hành dưới biển này. Điều gì đã xảy ra đêm ấy, chiếc xuồng thoát khỏi những xoáy nước đáng sợ của Maelstrom ra sao, Ned Land, Conseil và tôi đã ra khỏi vực xoáy ấy thế nào, tôi không thể nói. Nhưng khi tỉnh lại, tôi đang nằm trong một túp lều ngư dân trên một trong các đảo Lofoten. Hai bạn đồng hành của tôi, bình an vô sự, ở bên giường tôi và nắm lấy tay tôi. Chúng tôi ôm nhau thật chặt.
Ngay lúc này, chúng tôi thậm chí chưa thể mơ đến việc trở về Pháp. Việc đi lại giữa miền thượng Norway và miền nam rất hạn chế. Vì vậy tôi phải chờ một tàu hơi nước đến, chiếc tàu cung cấp dịch vụ hai tháng một chuyến từ North Cape.
Vậy là chính tại đây, giữa những con người can đảm đã đón nhận chúng tôi, tôi đang xem lại bản tường thuật của mình về những cuộc phiêu lưu này. Nó chính xác. Không một sự kiện nào bị bỏ sót, không một chi tiết nào bị phóng đại. Đó là ghi chép trung thực về cuộc thám hiểm không thể tưởng tượng nổi vào một yếu tố hiện còn vượt khỏi tầm với của con người, nhưng nơi mà tiến bộ một ngày kia sẽ xâm nhập sâu rộng.
Liệu có ai tin tôi không? Tôi không biết. Rốt cuộc điều ấy không quan trọng. Điều tôi có thể khẳng định bây giờ là tôi đã giành được quyền nói về những biển này, bên dưới chúng, trong chưa đầy mười tháng, tôi đã đi 20.000 dặm biển trong chuyến vòng quanh thế giới dưới nước này, chuyến đi đã cho tôi thấy biết bao kỳ quan khắp Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Biển Đỏ, Địa Trung Hải, Đại Tây Dương, các biển cực nam và cực bắc!
Nhưng điều gì đã xảy ra với chiếc Nautilus? Nó có chống nổi vòng kìm của Maelstrom không? Thuyền trưởng Nemo còn sống không? Ông còn ở dưới đại dương theo đuổi chương trình báo thù đáng sợ của mình không, hay ông đã dừng lại sau cuộc hành quyết tập thể sau cùng ấy? Một ngày nào đó sóng có mang trả bản thảo chứa trọn câu chuyện đời ông không? Cuối cùng tôi có biết được tên người ấy không? Quốc tịch của chiến hạm bị đánh chìm có cho chúng ta biết quốc tịch của Thuyền trưởng Nemo không?
Tôi hy vọng như vậy. Tôi cũng hy vọng rằng con tàu ngầm hùng mạnh của ông đã đánh bại biển cả ngay trong vực xoáy đáng sợ nhất của nó, rằng chiếc Nautilus đã sống sót nơi biết bao con tàu đã bỏ mạng! Nếu đúng thế, và Thuyền trưởng Nemo vẫn còn cư ngụ trong đại dương—tổ quốc ông đã chọn—thì mong sao lòng căm thù được xoa dịu trong trái tim dữ dội ấy! Mong sự chiêm ngưỡng bao nhiêu kỳ quan dập tắt tinh thần báo thù trong ông! Mong kẻ hành quyết qua đi, và nhà khoa học tiếp tục cuộc thám hiểm yên bình các biển! Nếu số phận ông kỳ lạ, thì nó cũng cao cả. Chẳng phải chính tôi đã bao quát nó sao? Chẳng phải tôi đã sống mười tháng trong cuộc tồn tại khác cõi trần này sao? Vì vậy, đối với câu hỏi được nêu ra 6.000 năm trước trong Sách Ecclesiastes—“Ai có thể dò thấu những vực sâu không tiếng?”—giờ đây trong toàn nhân loại có hai người đã giành được quyền trả lời. Thuyền trưởng Nemo và tôi.