Bước vào Quán Vòi Phun có đầu hồi ấy, bạn thấy mình đứng trong một tiền sảnh rộng, thấp và kéo dài xiêu vẹo, với những tấm ván ốp tường kiểu cổ khiến người ta liên tưởng đến mạn chắn sóng của một con tàu già đã bị kết án tháo dỡ. Trên một bên tường treo một bức tranh sơn dầu rất lớn, bị khói ám đen đến tận cùng và hư hại đủ mọi bề, đến nỗi dưới những luồng sáng chéo không đều mà bạn dùng để quan sát nó, chỉ bằng sự nghiên cứu cần mẫn, một chuỗi những lần viếng thăm có hệ thống, cùng việc cẩn thận dò hỏi hàng xóm, bạn mới có thể phần nào hiểu được dụng ý của nó. Những khối tối và bóng đổ thật khó giải thích, đến nỗi thoạt tiên bạn gần như tưởng rằng một họa sĩ trẻ đầy tham vọng nào đó, vào thời những mụ phù thủy New England, đã cố khắc họa cảnh hỗn mang bị bỏ bùa. Nhưng nhờ nghiền ngẫm rất nhiều và nghiêm túc, suy đi xét lại không biết bao lần, đặc biệt là nhờ mở tung ô cửa sổ nhỏ phía cuối tiền sảnh, rốt cuộc bạn đi đến kết luận rằng một ý tưởng như thế, dẫu hoang đường, có lẽ cũng không hoàn toàn vô căn cứ.
Nhưng điều khiến bạn bối rối và hoang mang hơn cả là một khối gì đó dài, mềm oặt, điềm gở và đen ngòm, lơ lửng giữa bức tranh phía trên ba đường thẳng đứng màu xanh lam lờ mờ, nổi trong một thứ bọt men không tên. Quả là một bức tranh lầy lội, sũng nước, nhão nhoét, đủ khiến một người thần kinh yếu phải phát điên. Thế nhưng trong đó lại có một vẻ hùng vĩ mơ hồ, mới đạt tới nửa chừng, không thể hình dung, khiến bạn như bị đông cứng trước nó, cho đến khi bất giác tự thề với mình phải tìm ra ý nghĩa của bức họa kỳ diệu ấy. Thỉnh thoảng một ý tưởng sáng sủa nhưng, than ôi, lừa dối lại vụt xuyên qua đầu bạn.—Đó là Biển Đen giữa một cơn bão lúc nửa đêm.—Đó là cuộc giao tranh dị thường của bốn nguyên tố nguyên thủy.—Đó là một vùng hoang địa bị sét đánh.—Đó là cảnh mùa đông Hyperborea.—Đó là dòng Thời Gian bị băng phong đang vỡ tan. Nhưng cuối cùng tất cả những tưởng tượng ấy đều nhường chỗ cho cái vật điềm gở duy nhất ở giữa bức tranh. Chỉ cần tìm ra cái đó, mọi phần còn lại sẽ trở nên rõ ràng. Nhưng khoan; chẳng phải nó phảng phất giống một con cá khổng lồ sao? Thậm chí là chính đại thủy quái Leviathan?
Thực ra, dụng ý của họa sĩ dường như là thế này: đây là lý thuyết cuối cùng của riêng tôi, một phần dựa trên những ý kiến tổng hợp của nhiều vị cao niên mà tôi đã trò chuyện về đề tài ấy. Bức tranh mô tả một con tàu vượt Mũi Horn trong một cơn cuồng phong dữ dội; con tàu chìm quá nửa đang vật vã giữa sóng, chỉ còn ba cột buồm trơ trụi nhô lên; còn một con cá voi nổi điên, định nhảy vọt hoàn toàn qua con tàu, đang trong chính khoảnh khắc đồ sộ tự xiên mình lên ba đỉnh cột buồm.
Bức tường đối diện của tiền sảnh được treo kín một bộ sưu tập ngoại đạo gồm những cây chùy và ngọn giáo quái dị. Một số được gắn dày đặc những chiếc răng lấp lánh giống lưỡi cưa bằng ngà; những chiếc khác tua tủa các túm tóc người; và có một thứ mang hình lưỡi liềm, với cán lớn cong quét thành một vòng cung như vệt mà người thợ cắt cỏ tay dài để lại trên cánh đồng vừa mới phát. Bạn rùng mình khi nhìn chúng, tự hỏi tên ăn thịt người man rợ quái dị nào đã từng đi gặt hái cái chết bằng thứ binh khí chém bổ ghê rợn như thế. Xen giữa chúng là những cây thương săn cá voi cũ kỹ han gỉ cùng những ngọn lao đã gãy và méo mó. Một số là những binh khí có lai lịch. Với cây thương từng rất dài nhưng nay cong ngoặt như khuỷu tay này, năm mươi năm trước Nathan Swain đã giết mười lăm con cá voi trong khoảng từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn. Còn ngọn lao kia—nay xoắn lại chẳng khác gì đồ mở nút chai—đã được phóng trên biển Java rồi bị một con cá voi mang đi; nhiều năm sau, con vật ấy bị giết ngoài khơi Mũi Blanco. Mũi sắt ban đầu cắm gần đuôi, rồi giống một cây kim không yên nằm trong thân thể con người, nó dịch chuyển trọn bốn mươi bộ, cuối cùng được tìm thấy cắm sâu trong bướu.
Băng qua tiền sảnh âm u ấy, rồi đi tiếp qua lối vòm thấp kia—được khoét xuyên qua nơi xưa kia hẳn từng là một ống khói trung tâm khổng lồ, chung quanh đầy những lò sưởi—bạn bước vào phòng công cộng. Nơi này còn tối hơn nữa, với những thanh xà lớn, nặng nề và thấp lè tè phía trên, cùng những tấm ván sàn nhăn nheo già cỗi phía dưới, đến nỗi bạn gần như tưởng mình đang giẫm lên khoang chiến đấu của một con tàu cổ, nhất là trong một đêm gió tru như thế này, khi chiếc tàu Noah già neo ở góc phố rung lắc dữ dội đến vậy. Một bên phòng có chiếc bàn dài, thấp, giống như kệ, phủ đầy những tủ kính nứt vỡ chứa những vật hiếm hoi bám bụi, thu nhặt từ những xó xỉnh xa xôi nhất của thế giới rộng lớn này. Nhô ra từ góc sâu bên kia phòng là một cái hang tối tăm—quầy rượu—một nỗ lực thô sơ nhằm mô phỏng đầu cá voi đầu bò. Dù có đúng thế hay không, ở đó vẫn sừng sững bộ xương hàm khổng lồ cong vòm của cá voi, rộng đến mức một cỗ xe ngựa gần như có thể chạy qua bên dưới. Bên trong là những giá ọp ẹp, xếp quanh bằng các bình rượu cổ, chai lọ và bình nhỏ; và trong chính hàm răng hủy diệt mau lẹ ấy, giống như một Jonah bị nguyền rủa khác—mà quả thật người ta gọi lão bằng cái tên đó—một ông già nhỏ thó, héo quắt đang tất bật bán thật đắt cho thủy thủ, để đổi lấy tiền của họ, cơn mê sảng và cái chết.
Những chiếc cốc mà lão dùng rót độc dược thật đáng ghê tởm. Bên ngoài là những hình trụ ngay ngắn; nhưng bên trong, lớp thủy tinh xanh lục gian xảo, lồi mắt, lại thu nhỏ dần xuống một đáy giả dối. Những đường kinh tuyến song song được khắc thô sơ quanh cốc, biến chúng thành chén rượu của bọn cướp đường. Rót đến vạch này, giá chỉ một xu; đến vạch này, thêm một xu nữa; cứ thế cho tới đầy cốc—dung lượng Mũi Horn, mà bạn có thể nốc cạn với giá một shilling.
Khi bước vào nơi ấy, tôi thấy một số thủy thủ trẻ tụ tập quanh bàn, dưới ánh sáng mờ tối đang xem xét nhiều mẫu vật skrimshander. Tôi tìm chủ quán và nói rằng mình muốn thuê một phòng, nhưng nhận được câu trả lời rằng nhà đã kín—không còn giường nào trống.
“Nhưng khoan đã,” lão nói thêm, vỗ lên trán, “cậu không phản đối chuyện chung chăn với một tay phóng lao chứ? Tôi đoán cậu định đi săn cá voi, vậy thì tốt hơn nên làm quen với loại chuyện ấy.”
Tôi nói với lão rằng tôi chưa bao giờ thích hai người ngủ chung một giường; nếu có lúc nào tôi làm thế, còn phải tùy xem tay phóng lao kia là người thế nào; và nếu lão chủ quán thực sự không còn chỗ nào khác cho tôi, mà tay phóng lao ấy cũng không đến nỗi quá đáng phản đối, thì thay vì tiếp tục lang thang trong một thành phố xa lạ vào một đêm lạnh buốt như thế, tôi đành chịu dùng chung nửa tấm chăn của bất kỳ người đứng đắn nào.
“Tôi biết ngay mà. Được rồi; ngồi xuống đi. Ăn tối chứ?—cậu muốn ăn tối à? Bữa tối sắp xong ngay đây.”
Tôi ngồi xuống một chiếc ghế dài gỗ cũ, bị chạm khắc khắp nơi giống như một băng ghế ở Battery. Ở một đầu ghế, một gã thủy thủ đang trầm ngâm còn tiếp tục trang trí nó bằng con dao xếp của mình, cúi rạp xuống và chăm chỉ khắc vào khoảng giữa hai chân. Gã đang thử tài khắc một con tàu căng đầy buồm, nhưng theo tôi thấy thì chẳng tiến triển được bao nhiêu.
Cuối cùng, khoảng bốn hay năm người chúng tôi được gọi sang dùng bữa trong một phòng bên cạnh. Nơi ấy lạnh như Iceland—hoàn toàn không có lửa—chủ quán bảo lão không kham nổi chi phí. Chỉ có hai cây nến mỡ thảm hại, mỗi cây bọc trong một tấm vải liệm. Chúng tôi buộc phải cài chặt áo thủy thủ, rồi dùng những ngón tay gần như đông cứng nâng các tách trà bỏng rẫy áp lên môi. Nhưng thức ăn thì vô cùng chắc bụng—không chỉ có thịt và khoai tây, mà còn có bánh bột luộc; lạy trời! bánh bột luộc cho bữa tối! Một anh chàng trẻ mặc áo khoác dài màu xanh lục lao vào đám bánh ấy theo một cách hết sức khủng khiếp.
“Cậu bé,” chủ quán nói, “cậu chắc chắn như chết là đêm nay sẽ gặp ác mộng.”
“Chủ quán,” tôi thì thầm, “đó không phải tay phóng lao đấy chứ?”
“Ồ, không,” lão nói, với vẻ buồn cười gần như ma quỷ, “tay phóng lao là một gã nước da sẫm. Hắn chẳng bao giờ ăn bánh bột—không đâu—hắn chỉ ăn bít-tết, và thích thịt còn tái.”
“Quỷ tha ma bắt hắn,” tôi nói. “Tay phóng lao ấy đâu? Hắn có ở đây không?”
“Hắn sẽ về chẳng bao lâu nữa,” lão đáp.
Tôi không sao ngăn nổi mình bắt đầu nghi ngờ tay phóng lao “nước da sẫm” ấy. Dù sao đi nữa, tôi đã quyết rằng nếu quả thật chúng tôi phải ngủ chung, thì hắn phải cởi quần áo và lên giường trước tôi.
Ăn tối xong, mọi người quay lại phòng quầy rượu; còn tôi, chẳng biết phải làm gì khác với bản thân, quyết định dành phần còn lại của buổi tối để đứng ngoài quan sát.
Chẳng bao lâu, bên ngoài vang lên một tiếng ồn náo loạn. Chủ quán bật dậy, kêu lên:
“Đó là thủy thủ đoàn tàu Grampus. Sáng nay tôi thấy người ta báo con tàu đã xuất hiện ngoài khơi; chuyến đi ba năm, tàu đầy hàng. Hoan hô, các chàng trai; giờ chúng ta sẽ có tin tức mới nhất từ quần đảo Feegee.”
Tiếng ủng đi biển giậm thình thịch vang lên trong tiền sảnh; cửa bị đẩy tung, và một toán thủy thủ hoang dại đủ loại ào vào. Bọc trong những chiếc áo gác xù xì, đầu quấn kín bằng khăn len giữ ấm, toàn thân vá chằng vá đụp và rách rưới, râu cứng lại vì những cột băng, họ nom như một đàn gấu từ Labrador vừa phun trào ra. Họ mới lên bờ từ xuồng, và đây là ngôi nhà đầu tiên họ bước vào. Vì thế chẳng có gì lạ khi họ rẽ thẳng theo luồng nước tới miệng cá voi—quầy rượu—nơi lão Jonah nhỏ thó, nhăn nheo đang hành nghề, chẳng mấy chốc đã rót đầy cốc cho tất cả. Một người than mình bị cảm nặng ở đầu, thế là Jonah pha cho gã một thứ thuốc sền sệt như hắc ín gồm rượu gin và mật đường, rồi thề rằng đó là phương thuốc thần hiệu chữa mọi chứng cảm lạnh và sổ mũi, bất kể đã mắc bao lâu, hay mắc ngoài khơi Labrador hoặc phía đón gió của một đảo băng.
Rượu chẳng bao lâu đã bốc lên đầu họ, như thường xảy ra ngay cả với những tay bợm rượu hạng nặng nhất vừa mới từ biển lên bờ, và họ bắt đầu nhảy nhót hết sức ầm ĩ.
Tuy nhiên, tôi nhận thấy một người trong bọn đứng hơi tách riêng; và dù dường như anh ta không muốn khuôn mặt tỉnh táo của mình làm giảm niềm vui của bạn tàu, nhìn chung anh vẫn tránh gây ồn ào như những người còn lại. Người này lập tức khiến tôi chú ý; và vì các thần biển đã định rằng chẳng bao lâu sau anh ta sẽ trở thành bạn tàu của tôi—dẫu xét trong phạm vi câu chuyện này chỉ là bạn cùng giường—tôi xin mạo muội phác họa đôi chút về anh. Anh cao trọn sáu bộ, vai cao quý, lồng ngực như một đê quai. Tôi hiếm khi thấy ở một người sức vóc rắn chắc đến thế. Gương mặt anh nâu sẫm, cháy nắng, khiến hàm răng trắng càng chói lòa vì tương phản; còn trong những hõm sâu quanh mắt anh lơ lửng vài hồi ức dường như chẳng đem lại cho anh bao nhiêu niềm vui. Giọng nói lập tức cho biết anh là người miền Nam, và từ vóc dáng đẹp đẽ ấy, tôi nghĩ anh hẳn là một trong những người miền núi cao lớn từ dãy Alleghany ở Virginia. Khi cuộc vui của bạn bè lên đến đỉnh điểm, người này lặng lẽ rút đi không ai hay biết, và tôi không còn thấy anh nữa cho đến khi anh trở thành đồng đội của tôi trên biển. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, bạn tàu đã nhận ra anh vắng mặt; và dường như vì một lý do nào đó anh rất được họ yêu mến, họ đồng thanh kêu lớn:
“Bulkington! Bulkington! Bulkington đâu rồi?”
Rồi tất cả lao ra khỏi quán đuổi theo anh.
Lúc ấy khoảng chín giờ, và căn phòng sau cuộc chè chén kia bỗng yên tĩnh gần như siêu nhiên, khiến tôi bắt đầu tự chúc mừng mình vì một kế hoạch nhỏ nảy ra ngay trước khi đám thủy thủ bước vào.
Không ai thích hai người ngủ chung một giường. Thực ra, bạn thà không ngủ chung với chính anh em ruột của mình còn hơn. Tôi không biết vì sao, nhưng người ta thích được riêng tư khi ngủ. Và khi phải ngủ với một kẻ xa lạ không quen biết, trong một quán trọ xa lạ, tại một thành phố xa lạ, mà kẻ xa lạ ấy lại là tay phóng lao, thì sự phản đối của bạn tăng lên vô hạn. Cũng chẳng có lý do trần thế nào khiến tôi, vì là thủy thủ, phải ngủ chung giường hơn bất kỳ ai khác; bởi thủy thủ trên biển không ngủ hai người một giường hơn các vị vua độc thân trên bờ. Đúng là họ đều ngủ chung trong một gian, nhưng mỗi người có võng riêng, tự đắp chăn riêng và ngủ trong làn da của chính mình.
Tôi càng nghĩ về tay phóng lao này, càng ghê tởm ý tưởng ngủ chung với hắn. Có thể suy đoán hợp lý rằng, vì là tay phóng lao, đồ vải lanh hay vải len của hắn, tùy trường hợp, hẳn chẳng sạch sẽ gì, chắc chắn lại càng không tinh tươm. Tôi bắt đầu giật nảy khắp người. Hơn nữa, trời đã muộn, và tay phóng lao đứng đắn của tôi lẽ ra phải về nhà, đang sửa soạn lên giường rồi. Giả sử hắn bất ngờ lăn vào chỗ tôi lúc nửa đêm—làm sao tôi biết hắn vừa từ cái hang bẩn thỉu nào chui ra?
“Chủ quán! Tôi đổi ý về tay phóng lao ấy rồi.—Tôi sẽ không ngủ chung với hắn. Tôi sẽ thử nằm trên chiếc ghế dài này.”
“Tùy cậu; tiếc là tôi không có khăn trải bàn để cho cậu làm nệm, mà tấm ván chết tiệt này lại thô lắm”—lão vừa nói vừa sờ những mắt gỗ và vết khía. “Nhưng đợi chút, Skrimshander; tôi có một chiếc bào thợ mộc ở quầy—đợi đấy, tôi bảo, rồi tôi sẽ làm cho cậu đủ êm.” Nói đoạn, lão lấy chiếc bào; trước hết dùng chiếc khăn tay lụa cũ phủi bụi trên ghế, rồi hăng hái bào chiếc giường của tôi, trong lúc cười nhăn nhở như khỉ. Dăm bào bay sang trái sang phải; cho đến cuối cùng lưỡi bào va đánh cộp vào một mắt gỗ không thể phá nổi. Chủ quán suýt trẹo cổ tay, và tôi bảo lão vì Chúa hãy dừng lại—giường đã đủ mềm để hợp với tôi rồi, và tôi chẳng hiểu dù bào cả thế giới thì làm sao có thể biến một tấm ván thông thành lông vịt biển được. Thế là lão vừa cười nhăn nhở lần nữa vừa gom dăm bào, ném chúng vào chiếc lò lớn giữa phòng, rồi quay lại công việc và để mặc tôi chìm trong suy tưởng u ám.
Giờ tôi đo chiếc ghế dài và thấy nó ngắn hơn tôi một bộ; nhưng có thể khắc phục bằng một chiếc ghế tựa. Tuy nhiên, nó cũng hẹp hơn một bộ, còn chiếc ghế dài kia trong phòng lại cao hơn chiếc đã được bào chừng bốn inch—vậy nên không thể ghép chúng lại. Sau đó tôi đặt chiếc ghế đầu tiên theo chiều dọc dọc theo khoảng trống duy nhất sát tường, để lại một khe nhỏ cho lưng mình lún xuống. Nhưng chẳng bao lâu tôi nhận thấy từ dưới bậu cửa sổ có một luồng khí lạnh thổi xộc qua người, khiến kế hoạch này hoàn toàn không thể dùng được, nhất là khi một luồng gió khác từ cánh cửa ọp ẹp gặp luồng từ cửa sổ, cả hai hợp lại thành hàng loạt cơn lốc nhỏ ngay sát chỗ tôi định trải qua đêm.
Quỷ tha tay phóng lao ấy đi, tôi nghĩ, nhưng khoan, chẳng lẽ tôi không thể ra tay trước hắn—cài chốt cửa phòng từ bên trong, nhảy lên giường hắn và dù có đập cửa dữ dội đến đâu cũng không thức dậy? Ý tưởng ấy có vẻ không tệ; nhưng nghĩ lại, tôi loại bỏ nó. Bởi ai biết được sáng hôm sau, ngay khi tôi ló đầu khỏi phòng, tay phóng lao có thể đang đứng sẵn trong tiền sảnh, hoàn toàn sẵn sàng đánh tôi ngã lăn!
Dẫu vậy, lại nhìn quanh và chẳng thấy cách nào có thể trải qua một đêm chịu đựng nổi ngoài việc nằm trên giường của người khác, tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ mình đang nuôi những thành kiến vô căn cứ đối với tay phóng lao xa lạ kia. Tôi nghĩ, ta sẽ đợi thêm một lát; hắn hẳn sắp về rồi. Khi ấy ta sẽ nhìn kỹ hắn, và biết đâu cuối cùng chúng ta lại trở thành đôi bạn cùng giường vui vẻ—không ai nói trước được.
Nhưng dù những khách trọ khác cứ lần lượt vào từng người một, từng đôi, từng ba người rồi đi ngủ, vẫn chẳng có dấu hiệu gì của tay phóng lao của tôi.
“Chủ quán!” tôi nói, “hắn là loại người thế nào—bao giờ cũng về muộn thế sao?” Khi ấy đã gần mười hai giờ đêm.
Chủ quán lại bật tiếng cười khô đét, và dường như vô cùng thích thú trước một điều vượt ngoài khả năng hiểu của tôi.
“Không,” lão đáp, “thường thì hắn là chim dậy sớm—ngủ sớm, dậy sớm—phải, hắn là loại chim bắt được sâu. Nhưng tối nay hắn đi bán hàng rong, cậu thấy đấy, và tôi chẳng hiểu cái quái gì giữ hắn muộn đến thế, trừ phi có lẽ hắn không bán được cái đầu của mình.”
“Không bán được cái đầu?—Ông đang kể cho tôi thứ chuyện lừa bịp gì vậy?” tôi nói, cơn giận bốc cao ngút. “Ông muốn bảo, chủ quán, rằng tay phóng lao ấy thực sự đang bận rộn trong đêm thứ Bảy phúc lành này, hay đúng hơn là sáng Chủ nhật, mang cái đầu của hắn đi bán rong quanh thành phố sao?”
“Chính xác là thế,” chủ quán nói, “và tôi đã bảo hắn không bán được ở đây đâu, thị trường đã thừa hàng rồi.”
“Thừa cái gì?” tôi hét lên.
“Thì đầu chứ còn gì; chẳng phải trên đời đã có quá nhiều đầu rồi sao?”
“Tôi nói cho ông biết thế này, chủ quán,” tôi nói hết sức bình tĩnh, “tốt hơn ông nên ngừng dệt câu chuyện ấy cho tôi nghe—tôi không phải kẻ ngây thơ.”
“Có lẽ không,” lão nói, rút ra một que gỗ và gọt tăm, “nhưng tôi đoán cậu sẽ bị nướng chín nếu tay phóng lao kia nghe thấy cậu vu khống cái đầu của hắn.”
“Tôi sẽ đập vỡ nó cho hắn,” tôi nói, lúc này lại nổi cơn thịnh nộ trước mớ hỗn độn không sao giải thích của chủ quán.
“Nó vỡ sẵn rồi,” lão nói.
“Vỡ,” tôi nói—“ông bảo là vỡ sao?”
“Chắc chắn, và tôi đoán chính vì vậy mà hắn không bán được.”
“Chủ quán,” tôi nói, tiến đến gần lão, lạnh lùng như núi Hecla trong bão tuyết—“chủ quán, ngừng gọt đi. Ông và tôi phải hiểu rõ nhau, và phải làm ngay lập tức. Tôi tới nhà ông và muốn thuê một chiếc giường; ông bảo chỉ có thể cho tôi nửa chiếc; nửa còn lại thuộc về một tay phóng lao nào đó. Và về tay phóng lao này, kẻ tôi chưa từng trông thấy, ông cứ nhất quyết kể cho tôi những câu chuyện khó hiểu và chọc giận nhất, có xu hướng làm nảy sinh trong tôi một cảm giác bất an đối với người mà ông định bố trí làm bạn cùng giường của tôi—một mối quan hệ, thưa chủ quán, thân mật và đầy tin cậy đến mức cao nhất. Giờ tôi yêu cầu ông nói thẳng và cho tôi biết tay phóng lao ấy là ai, là loại người nào, và liệu về mọi phương diện tôi có an toàn khi trải qua đêm với hắn hay không. Trước hết, xin ông vui lòng rút lại câu chuyện về việc hắn bán cái đầu của mình, bởi nếu đúng thì theo tôi đó là bằng chứng rất chắc chắn rằng tay phóng lao ấy hoàn toàn điên loạn, mà tôi chẳng có ý định ngủ chung với một người điên; còn ông, thưa ông, chính ông đấy, chủ quán, ông, thưa ông, nếu biết rõ mà vẫn cố dụ tôi làm thế, thì qua đó sẽ khiến bản thân phải chịu truy tố hình sự.”
“Ờ,” chủ quán nói, hít một hơi dài, “đó là một bài giảng khá dài đối với một anh chàng thỉnh thoảng lại nổi cơn. Nhưng cứ yên tâm, yên tâm đi, tay phóng lao mà tôi kể với cậu vừa từ vùng Biển Nam trở về, nơi hắn mua cả lô đầu người New Zealand ướp xác—đồ hiếm quý, cậu biết đấy—và hắn đã bán hết trừ một cái, mà chính cái ấy hắn đang cố bán tối nay, bởi ngày mai là Chủ nhật, và mang đầu người đi bán ngoài phố trong lúc mọi người tới nhà thờ thì chẳng ra sao. Chủ nhật tuần trước hắn cũng định làm thế, nhưng tôi ngăn hắn lại ngay khi hắn sắp bước qua cửa với bốn cái đầu xâu thành chuỗi, trông giống hệt một dây hành.”
Lời giải thích này làm sáng tỏ bí ẩn tưởng chừng không thể hiểu nổi, đồng thời cho thấy rốt cuộc chủ quán chẳng có ý định đánh lừa tôi—nhưng cùng lúc ấy, tôi còn có thể nghĩ gì về một tay phóng lao ở ngoài suốt đêm thứ Bảy cho đến tận ngày Sabbath thiêng liêng, bận rộn với nghề ăn thịt người như bán đầu những kẻ thờ ngẫu tượng đã chết?
“Cứ tin tôi đi, chủ quán, tay phóng lao ấy là một kẻ nguy hiểm.”
“Hắn trả tiền đều đặn,” lão đáp lại. “Nhưng thôi, giờ đã muộn kinh khủng rồi, tốt hơn cậu nên xoay thùy đuôi mà lên giường—đó là chiếc giường tốt; Sal và tôi đã ngủ trên chiếc giường ấy vào đêm chúng tôi thành vợ chồng. Giường có dư chỗ cho hai người đá chân loạn xạ; đó là chiếc giường lớn khủng khiếp. Trước khi chúng tôi bỏ nó, Sal còn thường đặt Sam nhà tôi và Johnny bé nhỏ nằm dưới chân giường. Nhưng một đêm tôi nằm mơ rồi dang tay dang chân khắp nơi, chẳng hiểu sao Sam bị hất xuống sàn, suýt gãy tay. Sau đó Sal bảo thế không được. Đi theo tôi, tôi sẽ cho cậu ánh sáng ngay tức khắc.”
Nói đoạn, lão thắp một cây nến, giơ về phía tôi và định dẫn đường. Nhưng tôi vẫn đứng do dự; khi nhìn chiếc đồng hồ ở góc phòng, lão kêu lên:
“Thề có trời, đã là Chủ nhật rồi—đêm nay cậu sẽ không gặp tay phóng lao ấy đâu; hắn đã thả neo ở đâu đó rồi—vậy đi thôi; đi nào; cậu không đi sao?”
Tôi cân nhắc một lúc, rồi chúng tôi lên cầu thang, và tôi được dẫn vào một căn phòng nhỏ lạnh như con trai biển, được trang bị, quả đúng thế, một chiếc giường khổng lồ, gần như đủ rộng cho bốn tay phóng lao nằm ngang hàng.
“Đấy,” chủ quán nói, đặt cây nến lên một chiếc rương đi biển cũ ọp ẹp vừa làm giá rửa mặt vừa làm bàn giữa phòng; “đấy, giờ cứ tự nhiên, chúc cậu ngủ ngon.” Tôi quay lại sau khi ngắm chiếc giường, nhưng lão đã biến mất.
Lật tấm phủ giường ra, tôi cúi xuống quan sát. Dẫu chẳng thuộc loại thanh nhã nhất, nó vẫn chịu được sự xem xét khá tốt. Sau đó tôi nhìn quanh phòng; ngoài khung giường và chiếc bàn giữa phòng, tôi không thấy đồ đạc nào khác thực sự thuộc về nơi này, ngoại trừ một chiếc kệ thô sơ, bốn bức tường, và tấm chắn lò sưởi dán giấy vẽ cảnh một người đang đâm cá voi. Trong số những vật không hẳn thuộc về căn phòng, có một chiếc võng được buộc gọn rồi ném xuống sàn ở một góc; ngoài ra còn một chiếc túi thủy thủ lớn, chắc chắn đựng toàn bộ y phục của tay phóng lao, thay cho rương dùng trên đất liền. Trên kệ phía trên lò sưởi còn có một gói lưỡi câu bằng xương kỳ lạ, và một cây lao dài dựng ở đầu giường.
Nhưng vật gì nằm trên rương kia? Tôi nhấc nó lên, đưa sát lại ánh sáng, sờ, ngửi, rồi thử mọi cách có thể để đi đến một kết luận thỏa đáng về nó. Tôi chẳng thể so sánh nó với gì ngoài một tấm thảm chùi chân lớn, dọc mép trang trí những mảnh tua nhỏ leng keng, hơi giống các lông nhím nhuộm màu quanh một chiếc giày da đanh của người Da Đỏ. Ở giữa tấm thảm có một lỗ hay đường xẻ, giống thứ bạn thấy trên áo poncho Nam Mỹ. Nhưng lẽ nào một tay phóng lao tỉnh táo lại chui vào một tấm thảm chùi chân rồi diễu qua đường phố của bất kỳ thành phố Cơ Đốc giáo nào trong bộ dạng ấy? Tôi mặc thử, và nó đè nặng lên người tôi như một chiếc sọt, bởi dày và xù xì khác thường; tôi còn nghĩ nó hơi ẩm, như thể tay phóng lao bí ẩn kia đã mặc nó trong một ngày mưa. Khoác nó, tôi đi đến mảnh kính gắn trên tường và chưa bao giờ trong đời thấy cảnh tượng nào như thế. Tôi giật phăng mình ra khỏi nó vội đến mức làm trẹo cả cổ.
Tôi ngồi xuống mép giường, bắt đầu suy nghĩ về tay phóng lao bán đầu người cùng tấm thảm chùi chân của hắn. Sau khi ngồi bên giường suy nghĩ một lúc, tôi đứng dậy, cởi áo thủy thủ, rồi đứng giữa phòng tiếp tục suy nghĩ. Sau đó tôi cởi áo khoác ngoài, và trong tay áo sơ-mi lại nghĩ thêm một lát. Nhưng giờ tôi bắt đầu cảm thấy rất lạnh vì đang cởi dở quần áo; rồi nhớ lời chủ quán bảo rằng tay phóng lao sẽ không về trong đêm ấy, bởi đã quá muộn, tôi không chần chừ thêm nữa, cởi phăng quần dài và ủng, thổi tắt đèn, lăn lên giường và phó mình cho sự che chở của trời cao.
Chiếc nệm ấy được nhồi lõi ngô hay mảnh sành vỡ thì chẳng ai biết, nhưng tôi lăn qua lăn lại rất nhiều, mãi vẫn không ngủ được. Cuối cùng, tôi trượt vào một cơn ngủ chập chờn, gần như đã ra khơi khá xa về phía xứ sở của thần Ngủ, thì nghe tiếng chân nặng nề ngoài hành lang và thấy một luồng sáng le lói lọt vào phòng từ dưới khe cửa.
Lạy Chúa cứu con, tôi nghĩ, hẳn đó là tay phóng lao, tên bán đầu người địa ngục. Nhưng tôi nằm im tuyệt đối, quyết không nói lời nào cho đến khi hắn lên tiếng trước. Một tay cầm đèn, tay kia cầm đúng cái đầu New Zealand ấy, người lạ bước vào phòng; không nhìn về phía giường, hắn đặt cây nến xuống sàn ở một góc khá xa tôi, rồi bắt đầu tháo những sợi dây thắt nút của chiếc túi lớn mà tôi đã nói đến trước đó. Tôi nóng lòng muốn nhìn mặt hắn, nhưng hắn cứ quay đi trong suốt lúc loay hoay mở miệng túi. Tuy nhiên, khi làm xong, hắn quay lại—và, lạy trời! một cảnh tượng làm sao! Một khuôn mặt như thế! Nó có màu vàng tím sẫm, chỗ này chỗ kia phủ những ô vuông lớn đen thẫm. Phải, đúng như ta nghĩ, hắn là một bạn cùng giường khủng khiếp; hắn vừa đánh nhau, bị chém tơi tả, giờ mới từ chỗ bác sĩ phẫu thuật về. Nhưng đúng lúc ấy, hắn tình cờ quay mặt về phía ánh sáng đến nỗi tôi nhìn rõ những ô vuông đen trên má không thể nào là cao dán. Chúng là một dạng dấu nhuộm nào đó. Thoạt đầu tôi chẳng biết phải hiểu sao; nhưng chẳng bao lâu một tia sáng về sự thật lóe lên trong đầu. Tôi nhớ chuyện về một người da trắng—cũng là thợ săn cá voi—rơi vào tay bọn ăn thịt người rồi bị chúng xăm kín. Tôi kết luận rằng tay phóng lao này, trong những chuyến hải hành xa xôi, hẳn đã gặp một cuộc phiêu lưu tương tự. Mà rốt cuộc thì sao, tôi nghĩ! Đó chỉ là vẻ ngoài; một người vẫn có thể trung thực dưới bất kỳ màu da nào. Nhưng còn nước da quái dị của hắn, ý tôi là phần da nằm chung quanh và hoàn toàn tách biệt với những ô vuông xăm thì phải giải thích thế nào? Dĩ nhiên, có thể đó chỉ là lớp rám nắng nhiệt đới rất đậm; nhưng tôi chưa từng nghe ánh mặt trời nóng bỏng nào có thể nhuộm một người da trắng thành màu vàng tím. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ đến vùng Biển Nam; và có lẽ mặt trời nơi ấy tạo ra những hiệu ứng phi thường như vậy trên da. Trong lúc tất cả những ý nghĩ này vụt qua đầu tôi như chớp, tay phóng lao hoàn toàn không để ý đến tôi. Nhưng sau một hồi khó nhọc mở được túi, hắn bắt đầu lục lọi bên trong, rồi chẳng bao lâu rút ra một thứ giống rìu tomahawk và một chiếc ví da hải cẩu còn nguyên lông. Đặt chúng lên chiếc rương cũ giữa phòng, hắn cầm cái đầu New Zealand—một vật đủ ghê rợn—nhét sâu vào túi. Giờ hắn cởi mũ—một chiếc mũ lông hải ly mới—khiến tôi suýt kêu lên vì kinh ngạc lần nữa. Trên đầu hắn chẳng có tóc—ít nhất gần như không có—chỉ có một búi tóc da đầu nhỏ xoắn lại trên trán. Cái đầu trọc màu tím của hắn giờ nom chẳng khác gì một hộp sọ mốc meo. Nếu người lạ không đứng chắn giữa tôi và cửa, tôi hẳn đã lao ra ngoài nhanh hơn bất kỳ lần nào từng lao vào một bữa ăn.
Dẫu vậy, tôi vẫn nghĩ tới chuyện chuồn qua cửa sổ, nhưng đây là tầng hai phía sau. Tôi không phải kẻ hèn nhát, nhưng tên lưu manh màu tím bán đầu người này hoàn toàn vượt quá khả năng hiểu của tôi. Sự ngu dốt là cha đẻ của nỗi sợ, và vì hoàn toàn bó tay, rối trí trước người lạ, tôi thú nhận lúc này mình sợ hắn chẳng khác gì chính quỷ dữ vừa xông vào phòng giữa đêm khuya. Thực ra, tôi sợ hắn đến nỗi lúc ấy còn không đủ gan lên tiếng hỏi, đòi một lời giải thích thỏa đáng về những gì dường như không thể giải thích ở hắn.
Trong lúc đó, hắn tiếp tục cởi quần áo, cuối cùng để lộ ngực và cánh tay. Thề có mạng sống của tôi, những phần cơ thể vốn được che kín ấy cũng kẻ đầy những ô vuông giống hệt trên mặt; cả lưng hắn cũng phủ kín những ô vuông sẫm màu ấy; trông hắn như vừa trải qua một cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm và chỉ mới trốn thoát với chiếc áo sơ-mi bằng cao dán. Hơn nữa, ngay cả chân hắn cũng đầy dấu vết, như thể một đàn ếch xanh sẫm đang bò ngược lên thân những cây cọ non. Giờ đã hoàn toàn rõ ràng rằng hắn hẳn là một giống người man rợ ghê tởm nào đó, được nhận lên một tàu săn cá voi ở vùng Biển Nam rồi đổ bộ vào đất nước Cơ Đốc giáo này. Tôi run lên khi nghĩ đến chuyện ấy. Lại còn là kẻ bán đầu người—có lẽ đầu của chính anh em hắn. Biết đâu hắn lại thích cái đầu của tôi—trời ơi! nhìn cái rìu tomahawk kia!
Nhưng chẳng còn thời gian để run sợ, bởi giờ đây tên man rợ bắt đầu làm một việc hoàn toàn cuốn lấy sự chú ý của tôi, đồng thời khiến tôi tin chắc hắn quả thực là kẻ ngoại đạo. Hắn đi tới chiếc áo grego nặng nề, hay áo choàng kín, hay áo dreadnaught mà trước đó đã treo lên ghế, lục túi và cuối cùng lấy ra một tượng nhỏ kỳ quặc, biến dạng, lưng gù, có đúng màu của một đứa bé Congo ba ngày tuổi. Nhớ đến cái đầu ướp xác, thoạt tiên tôi gần như tưởng hình nhân đen ấy là một đứa trẻ thật được bảo quản bằng phương pháp tương tự. Nhưng thấy nó hoàn toàn không mềm dẻo, lại sáng bóng giống gỗ mun đánh nhẵn, tôi kết luận đó chỉ có thể là một thần tượng bằng gỗ, và quả đúng như vậy. Bởi giờ tên man rợ tiến đến lò sưởi trống, dời tấm chắn lò dán giấy sang một bên, rồi dựng tượng lưng gù nhỏ ấy lên như một con ki gỗ giữa hai giá đỡ củi. Hai bên thành lò cùng toàn bộ gạch bên trong đều đen kịt bồ hóng, đến nỗi tôi nghĩ lò sưởi này tạo thành một ngôi miếu nhỏ hay nhà nguyện rất thích hợp cho vị thần Congo của hắn.
Giờ tôi nheo mắt nhìn chăm chăm pho tượng bị che khuất một nửa, trong lòng hết sức bất an—để xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Trước hết hắn lấy từ túi áo grego ra khoảng hai vốc dăm bào, cẩn thận đặt trước thần tượng; rồi đặt một mẩu bánh quy tàu thủy lên trên, dùng ngọn lửa từ đèn châm vào và đốt dăm bào thành một đống lửa hiến tế. Chẳng bao lâu, sau nhiều lần thò tay vội vã vào lửa rồi rút ngón tay ra còn vội hơn—khiến dường như chúng bị bỏng nặng—cuối cùng hắn cũng kéo được miếng bánh quy ra; rồi thổi bớt hơi nóng và tro, lịch sự dâng nó cho hình nhân da đen nhỏ. Nhưng con quỷ nhỏ ấy dường như chẳng thích loại thức ăn khô khốc này chút nào; nó không hề động môi. Tất cả những trò kỳ quặc ấy đi kèm với những âm thanh cổ họng còn kỳ quặc hơn từ kẻ sùng tín, dường như hắn đang cầu nguyện bằng giọng ngâm nga, hoặc hát một loại thánh ca ngoại giáo nào đó, trong suốt thời gian ấy gương mặt hắn co giật một cách hết sức dị thường. Cuối cùng, sau khi dập lửa, hắn nhấc thần tượng lên hết sức thô bạo rồi lại nhét vào túi áo grego, hờ hững như một người đi săn nhét con chim dẽ gỗ đã chết vào túi.
Tất cả những hành động kỳ quặc ấy làm nỗi bất an của tôi tăng thêm; và khi thấy hắn giờ bộc lộ những dấu hiệu rõ rệt cho thấy sắp kết thúc mọi công việc rồi nhảy lên giường cùng tôi, tôi nghĩ đã đến lúc—bây giờ hoặc không bao giờ—trước khi đèn bị thổi tắt, phải phá vỡ bùa mê đã trói buộc mình quá lâu.
Nhưng khoảng thời gian tôi dùng để cân nhắc nên nói gì hóa ra lại chí mạng. Nhấc cây tomahawk khỏi bàn, hắn quan sát đầu rìu trong chốc lát, rồi đưa nó lên gần ánh sáng, ngậm cán vào miệng và phun ra những đám khói thuốc lớn. Ngay khoảnh khắc sau, đèn tắt, và tên ăn thịt người hoang dã ấy, rìu tomahawk kẹp giữa hai hàm răng, nhảy phắt lên giường với tôi. Tôi hét lên, lúc này không sao ngăn nổi; còn hắn, phát ra một tiếng gừ bất ngờ, bắt đầu sờ soạng tôi.
Lắp bắp một điều gì đó chính tôi cũng không biết, tôi lăn tránh hắn về phía tường, rồi van xin hắn, bất kể hắn là ai hay là thứ gì, hãy nằm yên và để tôi đứng dậy thắp đèn lại. Nhưng những câu đáp bằng giọng cổ họng khiến tôi lập tức hiểu rằng hắn gần như chẳng hiểu ý mình.
“Mi là quỷ nào?” cuối cùng hắn nói—“mi không nói, chết tiệt, ta giết mi.” Vừa nói, cây tomahawk còn đỏ lửa bắt đầu vung vẩy quanh tôi trong bóng tối.
“Chủ quán, vì Chúa, Peter Coffin!” tôi hét lên. “Chủ quán! Cứu! Coffin! Các thiên thần! cứu tôi!”
“Nói! bảo ta mi là ai, không thì chết tiệt, ta giết mi!” tên ăn thịt người lại gầm lên, trong khi những cú vung cây tomahawk ghê rợn của hắn làm tro thuốc nóng bắn tung quanh tôi đến nỗi tôi tưởng đồ vải trên người sắp bén lửa. Nhưng tạ ơn trời, đúng lúc ấy chủ quán cầm đèn bước vào phòng; tôi nhảy khỏi giường và chạy tới chỗ lão.
“Giờ đừng sợ,” lão nói, lại cười toe, “Queequeg đây sẽ chẳng làm hại một sợi tóc trên đầu cậu đâu.”
“Ngừng cười đi,” tôi hét, “và sao ông không bảo tôi rằng tay phóng lao địa ngục ấy là một kẻ ăn thịt người?”
“Tôi tưởng cậu biết rồi;—chẳng phải tôi đã nói hắn đi bán đầu người quanh thành phố sao?—nhưng quay thùy đuôi lại rồi ngủ đi. Queequeg, nhìn đây—mi hiểu ta, ta hiểu mi—người này ngủ với mi—mi hiểu chứ?”
“Ta hiểu nhiều,” Queequeg gừ lên, vừa rít tẩu vừa ngồi dậy trên giường.
“Mi lên giường,” hắn nói thêm, dùng cây tomahawk ra hiệu cho tôi và hất chăn sang một bên. Hắn thực sự làm vậy không chỉ lịch sự mà còn với vẻ thật lòng tử tế và nhân hậu. Tôi đứng nhìn hắn một lúc. Dẫu xăm trổ đầy mình, nhìn chung hắn vẫn là một kẻ ăn thịt người sạch sẽ và khá khôi ngô. Ta đã làm ầm lên vì chuyện gì vậy, tôi tự nghĩ—hắn cũng là con người như ta; hắn có lý do để sợ ta chẳng kém gì ta sợ hắn. Thà ngủ với một kẻ ăn thịt người tỉnh táo còn hơn một tín đồ Cơ Đốc say rượu.
“Chủ quán,” tôi nói, “bảo hắn cất cây tomahawk ấy đi, hay cái tẩu, hay ông gọi nó là gì cũng được; tóm lại, bảo hắn ngừng hút thuốc, rồi tôi sẽ lên giường với hắn. Nhưng tôi không thích có người hút thuốc trên giường cạnh mình. Nguy hiểm lắm. Hơn nữa, tôi đâu có bảo hiểm.”
Khi điều này được nói lại với Queequeg, hắn lập tức làm theo, rồi một lần nữa lịch sự ra hiệu cho tôi lên giường—lăn hẳn sang một bên như muốn nói—“Ta sẽ không chạm vào chân mi đâu.”
“Chúc ngủ ngon, chủ quán,” tôi nói, “ông có thể đi rồi.”
Tôi lên giường, và chưa bao giờ trong đời ngủ ngon hơn thế.