The Book of the Thousand Nights and a Night — Volume 03 (of 10) cover placeholder
Completed
Gutenberg #3437

The Book of the Thousand Nights and a Night — Volume 03 (of 10)

Bản dịch Gutenberg đã hoàn tất. Bạn có thể đọc theo bố cục EPUB, đọc text thuần, hoặc nghe từng block audio ngay trong thư viện.

Tác giả

Burton, Richard Francis

Ngôn ngữ

en

Blocks

51

Reader room

The Book of the Thousand Nights and a Night — Volume 03 (of 10)

Burton, Richard Francis · en · cập nhật 17:14 17/07/2026

Preserved structure

EPUB reader

51 blocks
HTML Head#2
The Book of the Thousand Nights and a Night, Volume 3, by Richard F. Burton
PRE#3

Sách điện tử Project Gutenberg: The Book of the Thousand Nights and a Night, Tập 3, của Richard F. Burton

Sách điện tử này dành cho bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào tại Hoa Kỳ và phần lớn
những vùng khác trên thế giới, sử dụng miễn phí và hầu như không bị bất kỳ hạn chế
nào.  Bạn có thể sao chép, trao tặng hoặc tái sử dụng sách này theo các điều khoản của
Giấy phép Project Gutenberg đi kèm sách điện tử này hoặc trực tuyến tại
www.gutenberg.org.  Nếu bạn không cư trú tại Hoa Kỳ, bạn sẽ phải
kiểm tra luật pháp của quốc gia nơi bạn đang cư trú trước khi sử dụng sách điện tử này.

Nhan đề: The Book of the Thousand Nights and a Night, Tập 3

Tác giả: Richard F. Burton

Ngày phát hành: 20 tháng 5, 2001 [Sách điện tử #3437]
Cập nhật lần cuối: 26 tháng 5, 2019

Ngôn ngữ: Tiếng Anh

Mã hóa bộ ký tự: UTF-8

*** BẮT ĐẦU SÁCH ĐIỆN TỬ PROJECT GUTENBERG NÀY: THE BOOK OF THE THOUSAND NIGHTS ***

Văn bản điện tử này do J.C. Byers thực hiện. Những người hiệu đính gồm: J.C. Byers,
Norm Wolcott, Dianne Doefler và Charles Wilson.

The Book of the Thousand Nights and a Night — Volume 03 (of 10)#4
*******************************************************************
SÁCH ĐIỆN TỬ NÀY LÀ MỘT TRONG NHỮNG TẬP TIN THỜI KỲ ĐẦU CỦA PROJECT GUTENBERG, ĐƯỢC THỰC HIỆN VÀO THỜI ĐIỂM CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ HIỆU ĐÍNH CHƯA ĐƯỢC PHÁT TRIỂN ĐẦY ĐỦ. CÓ MỘT ẤN BẢN ĐƯỢC CẢI THIỆN CỦA NHAN ĐỀ NÀY, CÓ THỂ XEM DƯỚI DẠNG SÁCH ĐIỆN TỬ (#52564) tại https://www.gutenberg.org/ebooks/52564
*******************************************************************

THE BOOK OF THE
THOUSAND NIGHTS AND A NIGHT

Một bản dịch giản dị và sát nghĩa
của Những cuộc mua vui Đêm Ả Rập

Do
Richard F. Burton dịch và chú giải

TẬP BA

Ấn hành riêng bởi The Burton Club

Đề tặng ký ức
của
Một người bạn
Người
Trong suốt tình bằng hữu hai mươi sáu năm
Luôn dành cho tôi
Lòng tử tế không mỏi mệt,
Richard Monckton Milnes
Nam tước Houghton.

Mục lục Tập Ba

Truyện về vua Omar Bin Al-Nu'uman và hai con trai Sharrkan và Zau Al-Makan (tiếp)
aa. Tiếp truyện Aziz và Azizah
b. Truyện gã ăn Hashish
c. Truyện Hammad người Badawi
10. Chim chóc, thú vật và người thợ mộc
11. Những vị ẩn tu
12. Chim nước và rùa
13. Sói và cáo
a. Truyện chim ưng và chim đa đa
14. Chuột và cầy Mangut
15. Mèo và quạ
16. Cáo và quạ
a. Bọ chét và chuột
b. Chim ưng Saker và các loài chim
c. Chim sẻ và đại bàng
17. Nhím và bồ câu rừng
a. Người lái buôn và hai gã lừa đảo
18. Tên trộm và con khỉ của hắn
a. Gã thợ dệt ngu xuẩn
19. Chim sẻ và công
20. Ali Bin Bakkar và Shams Al-Nahar
21. Truyện Kamar Al-Zaman

The Book Of The
THOUSAND NIGHTS AND A NIGHT

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm hai mươi lăm

Shahrazad kể tiếp: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Aziz tiếp tục nói với Taj al-Muluk: Bấy giờ tôi bước vào vườn hoa và đi thẳng đến đình, nơi tôi thấy con gái của Dalilah Mưu Trí đang ngồi, đầu tựa gối và tay áp má. Sắc diện nàng đã đổi khác, đôi mắt trũng sâu; nhưng khi trông thấy tôi, nàng kêu lên: “Tạ ơn Allah vì chàng được bình an!” Rồi nàng muốn đứng dậy nhưng vì mừng quá mà ngã xuống. Tôi hổ thẹn trước nàng và cúi gằm đầu; song một lát sau, tôi tiến lại gần, hôn nàng và hỏi: “Làm sao nàng biết rằng đêm nay ta sẽ đến cùng nàng?” Nàng đáp: “Thiếp không biết! Thề bởi Allah, suốt cả năm qua thiếp chưa hề nếm được mùi vị của giấc ngủ, mà đêm nào cũng thức trắng chờ chàng; và tình cảnh thiếp đã như vậy từ ngày chàng rời khỏi thiếp, khi thiếp trao cho chàng bộ y phục mới, và chàng hứa với thiếp sẽ đến Hammam rồi trở lại! Vậy mà thiếp ngồi đợi chàng đêm ấy, rồi đêm thứ hai, rồi đêm thứ ba; nhưng chàng không đến cho đến sau một sự chậm trễ dài đến thế, còn thiếp thì vẫn hằng mong chàng trở lại; bởi đó là lối của những kẻ yêu nhau. Và nay thiếp muốn chàng kể cho thiếp biết nguyên do nào khiến chàng vắng mặt khỏi thiếp suốt cả năm qua?” Thế là tôi kể cho nàng nghe. Và khi nàng biết rằng tôi đã cưới vợ, sắc mặt nàng vàng bệch, còn tôi nói thêm: “Đêm nay ta đến với nàng nhưng phải rời nàng trước khi trời sáng.” Nàng nói: “Chẳng lẽ nàng kia lừa chàng cưới nàng, giữ chàng làm tù nhân bên nàng suốt cả năm trời vẫn chưa đủ, mà còn bắt chàng thề bằng lời thề ly dị rằng chàng sẽ trở về với nàng ngay trong đêm ấy trước buổi sớm, không cho chàng được vui vầy với mẹ chàng hay với thiếp, cũng chẳng để chàng qua một đêm nào với một trong hai chúng tôi, xa nàng ta? Vậy thì kẻ mà chàng đã xa cách trọn một năm, mà thiếp lại biết chàng trước nàng ấy, phải chịu cảnh thế nào đây? Nhưng xin Allah thương xót cô em họ Azizah của chàng, vì nàng đã gặp điều chưa từng ai gặp và chịu đựng điều chưa một ai từng chịu, rồi nàng chết bởi sự bạc đãi của chàng; thế mà chính nàng lại là người che chở chàng khỏi tay thiếp. Quả thật, thiếp tưởng chàng yêu thiếp, nên thiếp để mặc chàng theo ý mình; bằng không, thiếp đã chẳng để chàng an toàn ra đi với làn da lành lặn, khi trong tay thiếp có thể tống chàng vào ngục và thậm chí giết chàng.” Rồi nàng khóc một trận khóc đớn đau, nổi giận, toàn thân run lên trước mặt tôi, da nổi dựng[FN#1], và nhìn tôi bằng đôi mắt cuồng nộ. Khi thấy nàng trong tình trạng ấy, tôi kinh hãi trước nàng, hai bên sườn run bần bật và co giật, vì nàng giống như một nữ Ghul đáng sợ, một mụ yêu tinh cái trong cơn thịnh nộ, còn tôi thì như hạt đậu trên lửa. Bấy giờ nàng nói: “Nay chàng chẳng còn ích gì cho thiếp nữa, vì chàng đã cưới vợ và có con; chàng cũng không còn xứng hợp làm bạn đồng hành với thiếp; thiếp chỉ thiết những trai chưa vợ, chứ không màng đàn ông đã có gia thất:[FN#2] những kẻ ấy chẳng lợi gì cho chúng ta. Chàng đã bán thiếp để lấy cái ôm hôi hám đằng kia; nhưng, thề bởi Allah, thiếp sẽ làm cho tim con điếm ấy đau đớn vì chàng, và chàng sẽ không sống cho thiếp, cũng chẳng sống cho nàng ta!” Rồi nàng hét lên một tiếng lớn, và chưa kịp để tôi suy nghĩ, các nữ nô đã xông vào, quật tôi xuống đất; và khi tôi bất lực trong tay họ, nàng đứng dậy, cầm lấy một con dao, nói: “Ta sẽ cắt cổ chàng như người ta mổ dê đực; và như thế vẫn còn nhẹ hơn điều chàng đáng chịu, vì những việc chàng đã làm với ta và với con gái chú chàng trước ta.” Khi tôi nhìn đến mạng mình và thấy bản thân nằm dưới quyền sinh sát của các nữ nô của nàng, hai má vấy bụi, lại thấy nàng mài dao, tôi tin chắc cái chết đã đến.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm hai mươi sáu,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Wazir Dandan tiếp tục kể câu chuyện của mình cho Zau al-Makan như sau: Bấy giờ chàng trẻ tuổi Aziz nói với Taj al-Muluk: Khi tôi thấy mạng mình nằm dưới quyền sinh sát của các nữ nô của nàng, hai má vấy bụi, và thấy nàng mài dao, tôi tin chắc cái chết đã đến, bèn kêu xin nàng thương xót. Nhưng nàng chỉ càng thêm dữ tợn, ra lệnh cho các nữ nô trói quặt tay tôi ra sau lưng, họ làm đúng như vậy; rồi ném tôi nằm ngửa, nàng ngồi lên giữa người tôi và ghì đầu tôi xuống. Sau đó hai người trong bọn họ tiến lại, ngồi xổm lên hai ống chân tôi, trong khi hai người khác nắm lấy hai bàn tay và cánh tay tôi; còn nàng gọi thêm một đôi thứ ba và truyền họ đánh tôi. Thế là họ đánh tôi cho đến khi tôi ngất đi và tiếng kêu tắt hẳn. Khi tỉnh lại, tôi tự nhủ: “Bị cắt cổ họng còn dễ chịu và tốt hơn là bị đánh kiểu này!” Rồi tôi nhớ đến lời của cô em họ tôi, nhớ nàng từng nói với tôi: “Allah gìn giữ huynh khỏi mối hại của nàng ta!”; và tôi thét lên, khóc lóc đến khi tiếng lịm mất, rồi nằm đó không còn sức thở hay cử động. Sau đó nàng lại mài dao và nói với các nữ nô: “Lột hắn ra.” Bấy giờ Đức Chúa soi dẫn cho tôi lặp lại với nàng hai câu mà cô em họ đã dạy tôi và để lại cho tôi như di ngôn, nên tôi nói: “Hỡi phu nhân của ta, nàng chẳng biết rằng Trung tín thì đẹp, Bất tín thì xấu sao?” Khi nghe lời ấy, nàng kêu lên và nói: “Allah thương xót nàng, Azizah, và ban cho nàng Thiên đường để đổi lấy tuổi xuân đã bị phí hoài! Thề bởi Allah, quả thật nàng đã phụng sự chàng khi còn sống và cả sau khi chết, và nay nàng đã cứu mạng sống của chàng khỏi tay ta bằng hai câu cưa xẻ ấy. Tuy nhiên, ta tuyệt chẳng thể để chàng như vậy, mà nhất thiết phải đặt dấu của ta lên người chàng, để chọc tức cái mặt đồng lì đằng kia, con ả đã giữ chàng khỏi tay ta.” Bấy giờ nàng gọi các nữ nô và truyền họ trói chân tôi bằng dây, rồi nói với họ: “Ngồi lên hắn!” Họ làm theo lệnh nàng; đoạn nàng đứng dậy, lấy một chiếc chảo đồng treo trên lò than, rót dầu mè vào đó, trong dầu ấy nàng rán phô mai.[FN#3] Rồi nàng tiến lại chỗ tôi (khi ấy tôi vẫn còn mê man), tháo dải quần rộng của tôi, buộc một sợi dây quanh tinh hoàn tôi và đưa dây ấy cho hai nữ nô, truyền họ kéo căng. Họ làm vậy, tôi ngất đi và vì cơn đau quá độ mà như lạc sang một thế giới khác. Sau đó nàng đến với một lưỡi dao cạo bằng thép và cắt phăng nam căn của tôi,[FN#4] khiến tôi còn lại như một người đàn bà: rồi nàng lấy dầu sôi đốt se vết thương và xát thuốc bột lên đó, trong khi tôi vẫn bất tỉnh. Khi tôi hồi tỉnh, máu đã ngừng chảy; thế là nàng truyền các nữ nô cởi trói cho tôi và bắt tôi uống một chén rượu. Rồi nàng nói với tôi: “Giờ hãy đi về với con đàn bà chàng đã cưới và kẻ đã tiếc với ta chỉ một đêm, và xin lòng thương của Allah ở cùng cô em họ Azizah của chàng, người đã cứu mạng chàng và chưa bao giờ nói ra mối tình thầm kín của nàng! Thật vậy, nếu chàng không lặp lại những lời ấy với ta, hẳn ta đã rạch cổ họng chàng rồi. Hãy lập tức đi đến nơi nào chàng muốn, bởi ta chẳng cần gì ở chàng ngoài thứ ta vừa cắt bỏ; nay ta chẳng còn phần gì nơi chàng, cũng chẳng còn cần hay màng đến chàng nữa. Vậy hãy đi lo việc của chàng, xoa đầu mình[FN#5] và cầu xin lòng thương cho con gái của chú chàng!” Nói rồi nàng đá tôi một cú bằng chân, và tôi đứng dậy, hầu như không thể bước đi; tôi đi từng chút một cho đến khi tới cửa nhà chúng tôi. Tôi thấy cửa mở, bèn ném mình vào trong và ngã xuống trong một cơn ngất; vợ tôi từ trong đi ra, nâng tôi dậy, mang tôi vào phòng lớn và thấy rõ tôi đã trở nên như đàn bà. Rồi tôi chìm vào một giấc ngủ, một giấc ngủ sâu; và khi tỉnh dậy, tôi thấy mình bị ném xuống trước cổng vườn,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm hai mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Wazir Dandan tiếp tục kể với vua Zau al-Makan, chàng trẻ tuổi Aziz tiếp tục câu chuyện của mình với Taj al-Muluk như sau: Khi tỉnh dậy và thấy mình bị ném xuống trước cổng vườn, tôi đứng lên, rên rỉ vì đau đớn và khốn khổ, rồi lần đường về nhà; bước vào, tôi gặp mẹ tôi đang khóc vì tôi và nói: “Ôi con trai ta, ước gì ta biết con đang ở xứ nào?” Thế là tôi đến gần và ném mình vào lòng bà; khi bà nhìn tôi và sờ vào tôi, bà biết tôi đang đau bệnh, vì mặt tôi đã đen sạm và rám nắng. Rồi tôi nghĩ đến cô em họ của tôi và mọi điều tử tế nàng từng làm cho tôi, và tôi hiểu ra quá muộn rằng nàng quả thật đã yêu tôi; thế là tôi khóc vì nàng, và mẹ tôi cũng khóc. Lát sau bà nói với tôi: “Ôi con trai ta, cha con đã chết.” Nghe vậy, cơn giận của tôi đối với Định Mệnh lại tăng gấp bội, và tôi khóc cho đến khi ngã vào một cơn mê. Khi tỉnh lại, tôi nhìn chỗ cô em họ Azizah thường ngồi, rồi lại tuôn nước mắt, đến nỗi suýt ngất đi lần nữa vì khóc quá độ; tôi không ngừng khóc, nức nở và than van cho đến nửa đêm, khi mẹ tôi nói: “Cha con đã chết được mười ngày rồi.” Tôi đáp: “Con sẽ không bao giờ nghĩ đến ai ngoài cô em họ Azizah của con; và quả thật con đáng chịu mọi điều đã xảy ra, bởi con đã bỏ mặc người yêu con bằng một tình yêu tha thiết đến thế.” Bà hỏi: “Điều gì đã xảy ra với con?” Vậy tôi kể cho bà nghe tất cả những gì đã xảy ra, và bà khóc một hồi; rồi bà đứng dậy, đặt ít thức ăn và thức uống trước mặt tôi. Tôi ăn một chút và uống, sau đó lặp lại câu chuyện của mình với bà, kể cho bà toàn bộ sự việc; nghe xong, bà kêu lên: “Tạ ơn Allah, vì nàng ta chỉ làm đến thế với con và tha cho con khỏi bị giết!” Rồi bà chăm sóc tôi và thuốc thang cho tôi cho đến khi tôi phục hồi sức khỏe; và khi tôi đã bình phục hoàn toàn, bà nói với tôi: “Ôi con trai ta, giờ mẹ sẽ đem ra cho con vật mà cô em họ con đã giao phó cho mẹ giữ hộ con; vì nó là của con. Nàng bắt mẹ thề không trao nó cho con cho đến khi mẹ thấy con nhớ đến nàng, khóc thương nàng, và mối liên hệ của con bị cắt đứt khỏi mọi người khác ngoài nàng; nay mẹ biết những điều kiện ấy đã thành nơi con.” Rồi bà đứng dậy, mở một chiếc rương, lấy ra mảnh vải lanh này, có thêu hình những con linh dương, mà thuở trước tôi đã trao cho Azizah; và khi cầm lấy, tôi thấy trong đó viết những vần thơ này,

“Hỡi giai nhân, hãy nói, ai dạy nàng mưu lòng cay nghiệt, *
Giết kẻ tình si khốn khổ này bằng khát vọng ái ân quá độ của chính nàng?
Nếu sau ngày ly biệt nàng muốn quên ta cho thật tuyệt, * Allah sẽ
biết rằng riêng nàng, chỉ nàng thôi, ký ức ta chẳng bao giờ để mất.
Nàng trách ta bằng lời cay đắng, song với ta vẫn ngọt ngào; *
Liệu nàng rộng lượng, có đoái thương một ngày tỏ chút dấu yêu chăng?
Ta chẳng từng tính rằng Tình yêu chứa nhiều héo hắt và đớn đau đến vậy; *
Và nỗi sầu hồn cho đến khi vì nàng ta đến với đau đớn và héo hon
Tim ta chưa từng biết mỏi mòn, cho đến buổi chiều ta ngã * Vào tình yêu
với nàng, rồi phủ phục trước đôi mắt liếc nhìn kia!
Ngay cả thù địch của ta cũng thương xót cảnh ta và than vì nó; * Nhưng nàng,
Ôi trái tim thép Ấn Độ, mọi lòng thương đều chối từ.
Không, chẳng bao giờ ta được an ủi, thề bởi Allah, dẫu ta chết, * Cũng chẳng
quên tình yêu dành cho nàng, dù đời này có đổ nát!”

Khi đọc những vần thơ ấy, tôi khóc một trận thảm thiết và đấm vào mặt mình; rồi tôi mở cuộn vải, và từ đó rơi ra một tờ giấy khác. Tôi mở nó ra và kìa, tôi thấy trong đó viết rằng: ‘Hãy biết, hỡi con trai của chú ta, rằng ta tha cho huynh khỏi món nợ máu của ta và cầu xin Allah hòa hợp huynh với người huynh yêu; nhưng nếu có điều gì xảy đến với huynh bởi con gái của Dalilah Mưu Trí, thì chớ trở lại với nàng ta, cũng chớ tìm đến bất kỳ người đàn bà nào khác, mà hãy nhẫn nại chịu đựng tai ương của huynh, bởi nếu không phải số mệnh đã dành cho huynh một đời sống dài, hẳn huynh đã diệt vong từ lâu; nhưng tạ ơn Allah Đấng đã định ngày chết của ta trước ngày chết của huynh! Bình an của ta ở cùng huynh; hãy giữ gìn tấm vải có thêu hình những con linh dương này và đừng để nó rời khỏi huynh, vì nó là bạn đồng hành của ta khi huynh vắng mặt khỏi ta;”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm hai mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Wazir Dandan tiếp tục kể với vua Zau al-Makan, và chàng trẻ tuổi Aziz kể tiếp với Taj al-Muluk: Vậy tôi đọc những gì cô em họ đã viết và lời căn dặn dành cho tôi, rằng: “Hãy giữ gìn tấm vải có hình linh dương này và đừng để nó rời khỏi huynh, vì nó là bạn đồng hành của ta khi huynh vắng mặt khỏi ta và, xin Allah chứng giám! nếu huynh tình cờ gặp người đã thêu những con linh dương này, hãy lánh xa nàng và đừng để nàng đến gần huynh, cũng đừng cưới nàng; còn nếu huynh không gặp nàng và không tìm được đường đến nàng, thì hãy coi chừng, chớ kết giao với bất kỳ ai thuộc giới của nàng. Hãy biết rằng người đã làm ra những con linh dương này mỗi năm đều thêu một tấm vải linh dương và gửi nó đến những xứ xa, để tiếng tăm nàng và vẻ đẹp của đường thêu, điều chẳng ai trên đời sánh được, được truyền rộng khắp nơi. Còn về người yêu của huynh, con gái của Dalilah Mưu Trí, tấm vải này đã lọt vào tay nàng ta, và nàng ta từng dùng nó để giăng bẫy người đời, đưa nó cho họ xem và nói: ‘Ta có một người chị em đã thêu tấm này.’ Nhưng nàng ta đã nói dối khi nói vậy, cầu Allah xé tan màn che của nàng ta! Đây là lời khuyên ly biệt của ta; và ta căn dặn huynh điều này chỉ vì ta biết[FN#6] rằng sau khi ta chết, thế gian sẽ trở nên chật hẹp với huynh, và rất có thể vì vậy huynh sẽ rời quê hương, phiêu bạt nơi đất khách, rồi khi nghe nói về người đã thêu những hình này, huynh có thể nảy ý tìm gặp nàng. Khi ấy huynh sẽ nhớ đến ta, vào lúc ký ức chẳng còn ích gì cho huynh; và huynh sẽ không biết giá trị của ta cho đến sau khi ta chết. Cuối cùng, hãy biết rằng người đã thêu những con linh dương là con gái của vua các đảo Camphor và là một quý nữ cao sang bậc nhất.” Khi tôi đọc xong cuộn giấy ấy và hiểu những gì viết trong đó, tôi lại bật khóc, và mẹ tôi khóc vì tôi khóc; tôi cứ mãi ngắm nhìn nó và tuôn lệ cho đến khi đêm xuống. Tôi sống trong tình cảnh ấy suốt một năm, đến cuối năm thì các thương nhân, những người cùng đi với tôi trong đoàn cafilah này, chuẩn bị rời thành quê tôi; mẹ tôi khuyên tôi sắm sửa hành trang và lên đường cùng họ, may ra tôi có thể được khuây khỏa và nỗi sầu được xua tan, bà nói: “Hãy lấy lại lòng khuây khỏa và gạt bỏ tang thương này khỏi con, đi chu du một năm, hai năm hoặc ba năm, cho đến khi đoàn lữ hành trở về, khi ấy có lẽ lồng ngực con sẽ rộng mở và trái tim con sẽ được vững lại.” Bà không ngừng thuyết phục tôi bằng những lời âu yếm, cho đến khi tôi chuẩn bị hàng hóa và lên đường cùng đoàn lữ hành. Nhưng suốt thời gian đi đường, nước mắt tôi chưa bao giờ khô; không, chưa từng! và tại mỗi chỗ dừng chân nơi chúng tôi nghỉ lại, tôi mở mảnh vải lanh này ra, nhìn những con linh dương ấy, nhớ đến cô em họ Azizah của tôi và khóc vì nàng như ngài đã thấy; bởi quả thật nàng yêu tôi bằng một tình yêu tha thiết nhất và đã chết, bị áp bức bởi sự không yêu của tôi. Tôi chẳng làm gì cho nàng ngoài điều dữ, còn nàng chẳng làm gì cho tôi ngoài điều lành. Khi những thương nhân này trở về từ chuyến đi, tôi sẽ trở về cùng họ, khi ấy tôi đã vắng nhà trọn một năm: vậy mà nỗi buồn của tôi lại càng lớn hơn, niềm đau và tai ương của tôi chỉ tăng thêm bởi chuyến thăm đến các đảo Camphor và Lâu đài Pha lê. Các đảo ấy gồm bảy đảo và do một vị vua cai trị, tên là Shahriman,[FN#7] có một người con gái tên Dunyá;[FN#8] và tôi được kể rằng chính nàng là người đã thêu những con linh dương này và mảnh vải trong tay tôi là tác phẩm thêu của nàng. Khi biết điều đó, nỗi khát khao của tôi lại nhân đôi, tôi bốc cháy trong ngọn lửa âm ỉ của héo hắt và chìm đắm trong biển sầu tư; tôi khóc thương cho chính mình vì tôi đã trở nên như một người đàn bà, không còn khí cụ nam nhi như những người đàn ông khác, và chẳng có cách nào khác. Từ ngày rời khỏi các đảo Camphor, mắt tôi luôn đẫm lệ và lòng tôi nặng trĩu, tình cảnh tôi như vậy đã lâu rồi, và tôi không biết liệu mình có được trở về quê hương, chết bên mẹ hay không; bởi tôi đã bệnh vì ăn quá nhiều trần thế.” Nói đến đây, chàng thương nhân trẻ tuổi khóc, rên rỉ, than thở và nhìn những con linh dương; trong khi nước mắt chảy thành dòng xuống hai má, chàng đọc hai vần thơ này,

“Niềm vui tất sẽ đến,” một kẻ lắm lời bắt đầu bi bô: *
“Lời trách móc tất sẽ dứt!” Ta rung động đến nỗi muốn bật lời:
‘Theo thời gian,’ hắn nói: ta đáp ‘Thật lạ lùng thay! *
Ai bảo đảm được đời ta, hỡi kẻ nói chuyện lạnh tanh!’”[FN#9]

Và chàng cũng đọc những câu này,

“Allah biết rõ rằng từ ngày ta ly biệt *
Ta đã khóc đến mức phải vay thêm nước mắt:
‘Hãy kiên nhẫn! (kẻ trách móc kêu lên): rồi chàng sẽ có nàng!’ *
Ta đáp: ‘Hỡi kẻ trách móc, kiên nhẫn trú ngụ nơi nào?’”

Rồi chàng nói: “Tâu đức vua! Đó là câu chuyện của tôi: ngài đã từng nghe chuyện nào lạ hơn chăng?” Taj al-Muluk vô cùng kinh ngạc trước câu chuyện của chàng thương nhân trẻ tuổi, và lửa bắn vào tận ruột gan chàng khi nghe tên phu nhân Dunya và vẻ mỹ lệ của nàng.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm hai mươi chín,

Contents of the Third Volume#5

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Wazir Dandan tiếp tục kể với Zau al-Makan: Khi Taj al-Muluk nghe câu chuyện của chàng thương nhân trẻ tuổi, chàng vô cùng kinh ngạc, và lửa bắn vào tận ruột gan chàng khi nghe đến tên phu nhân Dunya, người mà, như chàng biết, đã thêu những con linh dương; tình yêu và nỗi khát khao của chàng từng giờ càng lớn, nên chàng nói với chàng trai: “Thề bởi Allah, điều đã xảy đến với huynh là điều chưa từng xảy đến với ai ngoài chính huynh; nhưng huynh có một hạn đời đã được định sẵn, mà huynh phải sống cho trọn; và nay ta muốn hỏi huynh một câu.” Aziz đáp: “Là câu gì?” Chàng nói: “Huynh có kể cho ta biết huynh đã nhìn thấy vị thiếu nữ đã thêu những con linh dương này như thế nào chăng?” Bấy giờ Aziz đáp: “Thưa chúa công, tôi đã đến được gần nàng bằng một mưu kế, và sự việc là thế này. Khi tôi vào thành của nàng cùng đoàn lữ hành, tôi ra ngoài và đi lang thang qua các khu vườn, cho đến khi đến một vườn hoa đầy cây cối, người coi giữ vườn là một lão nhân đáng kính, một Shaykh tuổi tác đã cao. Tôi hỏi ông rằng: ‘Thưa bậc lão trượng, khu vườn này thuộc về ai?’ và ông đáp: ‘Nó thuộc về con gái của đức vua, phu nhân Dunya. Chúng ta hiện đang ở dưới cung điện của nàng, và khi nàng muốn tiêu khiển, nàng mở cửa riêng nhỏ và bước vào vườn, ngửi hương thơm của hoa.’ Vậy tôi nói với ông: ‘Xin ban ân cho tôi bằng cách cho tôi ngồi trong vườn này cho đến khi nàng đến; biết đâu tôi được hưởng một thoáng nhìn nàng khi nàng đi qua.’ Shaykh đáp: ‘Việc ấy chẳng hại gì.’ Bấy giờ tôi đưa cho ông một dirham hay chừng ấy và nói với ông: ‘Hãy mua cho chúng ta ít gì để ăn.’ Ông vui vẻ nhận tiền, mở cửa và tự mình bước vào, rồi cho tôi vào khu vườn, nơi chúng tôi dạo bước và không ngừng dạo bước cho đến khi tới một chỗ dễ chịu, tại đó ông bảo tôi ngồi xuống đợi ông đi rồi trở lại. Sau đó ông mang đến cho tôi ít trái cây, rồi rời tôi đi mất một giờ; nhưng một lát sau ông trở lại với tôi, mang theo một con cừu non quay, chúng tôi ăn cho đến khi đã đủ no, trong khi trái tim tôi vẫn khát khao được nhìn thấy phu nhân ấy. Lát sau, khi chúng tôi đang ngồi, cửa hậu mở ra và người coi vườn nói với tôi: ‘Đứng dậy và trốn đi.’ Tôi làm vậy; và kìa, một hoạn quan da đen thò đầu ra qua cửa nhỏ của khu vườn và hỏi: ‘Hỡi Shaykh, có ai ở cùng ông không?’ Ông đáp: ‘Không,’ và hoạn quan nói: ‘Đóng cổng vườn lại.’ Vậy người coi vườn đóng cổng, và kìa! phu nhân Dunya bước vào qua cửa riêng. Khi tôi thấy nàng, tôi ngỡ mặt trăng đã mọc trên đường chân trời và đang tỏa sáng; tôi nhìn nàng suốt một giờ trọn và khao khát nàng như kẻ khát nước khao khát nước. Một lát sau nàng lui về và đóng cửa; khi ấy tôi rời khu vườn và tìm về chỗ trọ, biết rằng tôi không thể đến được với nàng và rằng tôi chẳng phải người dành cho nàng, nhất là khi tôi đã trở nên như đàn bà, không có khí cụ nam nhi: hơn nữa nàng là con gái của một đức vua, còn tôi chỉ là một thương nhân; vậy thì làm sao tôi có thể đến gần người như nàng, hay—bất cứ người đàn bà nào khác? Bởi thế, khi những bạn đồng hành của tôi chuẩn bị lên đường, tôi cũng sắm sửa và khởi hành cùng họ; chúng tôi đi về phía thành này cho đến khi đến nơi trước khi gặp ngài. Ngài đã hỏi tôi và tôi đã trả lời; đó là những cuộc phiêu lưu của tôi, và bình an ở cùng ngài!” Khi Taj al-Muluk nghe lời thuật ấy, những ngọn lửa bùng lên trong lồng ngực chàng, còn trái tim và ý nghĩ của chàng đều bị tình yêu dành cho phu nhân Dunya chiếm lấy; đam mê và nỗi khát khao đè nặng trên chàng. Rồi chàng đứng dậy, cưỡi ngựa và, đem Aziz theo cùng, trở về kinh đô của phụ vương, nơi chàng sắp xếp cho Aziz ở trong một ngôi nhà riêng và cung cấp cho chàng mọi thứ cần thiết về đồ ăn, thức uống và y phục. Sau đó chàng rời Aziz và trở về cung điện của mình, nước mắt chảy ròng ròng xuống hai má, vì nghe nhiều khi thay cho thấy và biết.[FN#10] Và chàng không ngừng ở trong trạng thái ấy cho đến khi phụ vương đến gặp chàng; thấy chàng mặt mày xanh xao, tay chân gầy guộc và mắt đẫm lệ, vua biết đã có điều gì đó khiến chàng phiền muộn, bèn nói: “Ôi con trai ta, hãy cho ta biết tình cảnh của con và kể ta nghe điều gì đã xảy đến với con, khiến sắc diện con đổi khác và thân thể con hao mòn.” Vậy chàng kể cho vua nghe tất cả những gì đã qua, câu chuyện chàng đã nghe từ Aziz và lời thuật về công chúa Dunya; và việc chàng đã yêu nàng chỉ vì nghe kể, chưa từng tận mắt nhìn thấy nàng. Phụ vương nói: “Ôi con trai ta, nàng là con gái của một vị vua có xứ sở xa cách xứ ta: vậy hãy gạt ý nghĩ này đi và vào cung điện của mẹ con.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Wazir Dandan tiếp tục kể với Zau al-Makan: Và cha của Taj al-Muluk nói với chàng theo cách này: “Ôi con trai ta, cha nàng là một vị vua có xứ sở xa cách xứ ta: vậy hãy gạt ý nghĩ này đi và vào cung điện của mẹ con, nơi có năm trăm thiếu nữ đẹp như trăng, và bất cứ người nào trong số họ làm con vừa lòng, hãy lấy nàng; bằng không, chúng ta sẽ tìm cho con cưới một trong các công chúa của các vua, đẹp hơn phu nhân Dunya.” Taj al-Muluk đáp: “Ôi phụ vương, con không muốn ai khác, vì chính nàng là người đã thêu những con linh dương mà con đã thấy, và không còn cách nào khác ngoài việc con phải có nàng; nếu không, con sẽ trốn vào thế gian và hoang mạc, rồi tự giết mình vì nàng.” Bấy giờ cha chàng nói: “Hãy kiên nhẫn với ta, cho đến khi ta sai sứ đến phụ vương nàng, cầu hôn nàng cho con, và giành cho con điều con mong ước như ta đã từng làm cho chính mình với mẹ con. Biết đâu Allah sẽ đưa con đến điều con ao ước; và nếu cha mẹ nàng không thuận, ta sẽ làm vương quốc của hắn rung chuyển dưới chân hắn bằng một đạo quân mà hậu đội ở cùng ta, còn tiền quân thì áp sát hắn.” Rồi vua cho gọi chàng trai Aziz và hỏi: “Ôi con trai ta, hãy nói cho ta biết, con có biết đường đến các đảo Camphor không?” Aziz đáp: “Có”; và nhà vua nói: “Ta muốn con đi đến đó cùng Wazir của ta.” Aziz đáp: “Tôi nghe và vâng lệnh, tâu đức vua của Thời Đại!” Bấy giờ vua triệu quan Đại thần của mình và nói với ông: “Hãy nghĩ cho ta một kế, nhờ đó việc của con trai ta có thể được xử trí cho đúng, rồi khanh hãy lên đường đến các đảo Camphor và cầu hôn con gái của vua xứ ấy cho con trai ta, Taj al-Muluk.” Wazir đáp: “Xin nghe và tuân lệnh.” Sau đó Taj al-Muluk trở về nơi ở của mình, còn tình yêu và nỗi khát khao của chàng lại nhân đôi, sự chậm trễ đối với chàng dường như vô tận; và khi đêm tối phủ quanh chàng, chàng khóc, thở dài, than vãn và đọc bài thơ này,

“Đêm buông tối: lệ ta không ai giúp vẫn tuôn trào * Và những
ngọn lửa tình dữ dội nhất công phá trái tim ta:
Hãy hỏi những đêm về ta, chúng sẽ kể * Rằng ta có tìm được việc gì
để làm ngoài khóc than rên rỉ chăng:
Suốt đêm thức trắng, ta ngắm những vì sao trong khi * Trên má ta
nước mắt đổ xuống như mưa đá rơi:
Và ta đã trở nên cô độc, bị bỏ rơi, chẳng ai trợ giúp; * Vì thân thích họ hàng
đều phụ kẻ tình nhân đã mất tình.”

Và khi chàng đọc xong, chàng ngất đi và không tỉnh lại cho đến sáng; lúc ấy một trong các hoạn quan của phụ vương đến với chàng, đứng nơi đầu chàng và triệu chàng vào diện kiến nhà vua. Vậy chàng đi cùng người ấy; phụ vương chàng, thấy vẻ tái nhợt của chàng càng tăng, bèn khuyên chàng nhẫn nại và hứa cho chàng được đoàn tụ với người chàng yêu. Rồi vua trang bị cho Aziz và Wazir, cấp cho họ lễ vật; họ lên đường và đi ngày đêm cho đến khi đến gần các đảo Camphor, nơi họ dừng lại bên bờ một con suối, và quan Đại thần phái một sứ giả đi báo cho nhà vua biết về việc ông đến. Sứ giả vội vã tiến đi, và chưa đi quá một giờ, họ đã thấy các thị thần và Emir của nhà vua đang tiến về phía họ, để đón họ từ khoảng cách một parasang ngoài thành và hộ tống họ vào trước long nhan. Họ đặt lễ vật trước mặt nhà vua và trở thành khách của vua trong ba ngày. Đến ngày thứ tư, Wazir đứng dậy, vào gặp nhà vua, đứng trước mặt vua và trình bày mục đích đã khiến ông đến thăm; nghe vậy vua bối rối không biết trả lời ra sao, bởi con gái vua ghét đàn ông và chán ghét hôn nhân. Vậy vua cúi đầu xuống đất một lúc, rồi ngẩng lên, gọi một trong các hoạn quan và bảo hắn: “Hãy đến với chủ nhân của ngươi, phu nhân Dunya, và lặp lại cho nàng những gì ngươi đã nghe cùng mục đích chuyến đến của vị Wazir này.” Vậy hoạn quan đi ra, và một lúc sau trở lại, thưa với nhà vua: “Tâu đức vua của Thời Đại, khi thần vào gặp phu nhân Dunya và thuật với nàng điều thần đã nghe, nàng nổi giận dữ dội và đứng phắt dậy cầm gậy định đánh vỡ đầu thần; thế nên thần chạy trốn khỏi nàng, còn nàng nói với thần: ‘Nếu phụ vương ép ta cưới hắn, thì bất kỳ ai ta cưới ta cũng sẽ giết, rồi tự giết mình sau hắn.’” Bấy giờ cha nàng nói với Wazir và Aziz: “Các khanh đã nghe, và nay các khanh đã biết hết! Vậy hãy để vua của các khanh biết điều đó, gửi đến ngài lời chào của ta và nói rằng con gái ta ghét đàn ông và chán ghét hôn nhân.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi mốt,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng vua Shahriman đã nói với Wazir và Aziz như sau: “Hãy chào vua của các khanh thay ta và báo cho ngài biết những gì các khanh đã nghe, ấy là con gái ta chán ghét hôn nhân.” Vậy họ quay đi trong thất bại và không ngừng lên đường cho đến khi trở lại với nhà vua, rồi kể cho vua nghe những gì đã xảy ra; nghe xong vua truyền cho các quan chỉ huy trưởng triệu tập quân đội và chuẩn bị sẵn sàng cho việc hành quân và chinh chiến. Nhưng Wazir thưa với vua: “Tâu chúa công của thần, xin đừng làm vậy: vị vua kia không có lỗi, bởi khi con gái ngài biết việc của chúng ta, nàng đã gửi lời rằng: ‘Nếu phụ vương ép ta cưới, thì bất kỳ ai ta cưới ta cũng sẽ giết, rồi tự giết mình sau hắn.’ Vậy lời từ chối đến từ nàng.” Khi nhà vua nghe lời của quan Đại thần, vua lo sợ cho Taj al-Muluk và nói: “Quả thật nếu ta gây chiến với vua các đảo Camphor và cướp con gái hắn về, nàng sẽ tự giết mình và điều đó chẳng ích gì cho ta.” Rồi vua kể cho con trai biết tình hình; chàng nghe xong bèn nói: “Ôi phụ vương, con không thể sống thiếu nàng; vậy con sẽ đến với nàng và bày mưu để gặp được nàng, dù có chết trong lúc ấy, và con chỉ làm điều này chứ không gì khác.” Cha chàng hỏi: “Con sẽ đến với nàng bằng cách nào?” chàng đáp: “Con sẽ đi trong lốt một thương nhân.”[FN#11] Bấy giờ nhà vua nói: “Nếu con nhất định phải đi và không còn cách nào khác, hãy đem theo Wazir và Aziz.” Rồi vua lấy tiền từ kho tàng của mình và chuẩn bị cho con trai hàng hóa trị giá một trăm nghìn dinar. Hai người đã định xong việc này; và khi giờ tối đến, Taj al-Muluk cùng Aziz đi đến chỗ trọ của Aziz và qua đêm tại đó; vị hoàng tử bị tình yêu đánh trúng tim, chẳng còn vui thú gì trong ăn uống hay giấc ngủ, vì u sầu đè nặng trên chàng và chàng xao động bởi nỗi khát khao người yêu. Vậy chàng cầu xin Đấng Tạo Hóa đoái ban cho chàng được đoàn tụ với nàng, rồi chàng khóc, rên rỉ, than van và bắt đầu ngâm thành thơ,

“Đoàn tụ, khi chia lìa này kết thúc, liệu một ngày ta sẽ thấy? * Khi ấy
nước mắt ta sẽ phác nên số phận lạc tình này của ta.
Trong khi đêm quên hết mọi âu lo, riêng ta chỉ nhớ đến nàng, * Và nàng đã
khiến ta thức trắng khi muôn người nằm trong quên lãng.”

Và khi lời ứng khẩu của chàng chấm dứt, chàng khóc một trận khóc đớn đau, Aziz cũng khóc cùng chàng, vì nhớ đến cô em họ của mình; cả hai không ngừng tuôn lệ cho đến khi bình minh ló dạng, bấy giờ Taj al-Muluk đứng dậy, mặc y phục đi đường, đến từ biệt mẹ mình. Bà hỏi về tình cảnh của chàng, và chàng kể lại câu chuyện cho bà; vậy bà trao cho chàng năm mươi nghìn đồng vàng và từ biệt chàng; khi chàng lên đường, bà dâng lời cầu nguyện cho chàng được bình an, được đoàn tụ với người yêu và bạn hữu. Rồi chàng đến với phụ vương và xin phép khởi hành. Nhà vua cho phép chàng và, tặng chàng thêm năm mươi nghìn dinar nữa, truyền dựng một chiếc lều cho chàng ngoài thành, họ dựng một đình trại nơi những người lữ hành ở lại hai ngày. Sau đó tất cả lên đường. Bấy giờ Taj al-Muluk vui thích trong bầu bạn với Aziz và nói với chàng: “Ôi huynh đệ của ta, từ nay ta chẳng bao giờ có thể rời xa huynh.” Aziz đáp: “Tôi cũng một lòng như vậy và cam lòng chết dưới chân ngài: nhưng, ôi huynh đệ của tôi, lòng tôi lo cho mẹ tôi.” Hoàng tử nói: “Khi chúng ta đạt được điều mong ước, sẽ chẳng có gì ngoài điều tốt lành!” Bấy giờ Wazir tiếp tục khuyên Taj al-Muluk phải kiên nhẫn, trong khi Aziz mỗi tối lại trò chuyện với chàng, ngâm thơ cho chàng nghe, làm chàng khuây khỏa bằng những chuyện tích và giai thoại. Và như thế họ chuyên cần lên đường ngày đêm suốt hai tháng trọn, cho đến khi đường đi trở nên nhàm chán đối với Taj al-Muluk và ngọn lửa khát vọng lại bùng gấp bội trong chàng; chàng bật đọc,

“Đường đi quạnh vắng; nỗi sầu và niềm thiếu thốn của ta thêm lớn, * Trong khi trên
ngực ta lửa tình mãi mãi được nuôi dưỡng:
Đích đến của hy vọng ta, đối tượng duy nhất của ước nguyện ta! * Thề bởi Đấng đã nắn
con người từ một giọt mầm,
Ta mang những gánh khát khao tình yêu nàng, * Hỡi người yêu dấu, nặng hơn
sức nặng của các núi al Shumm:
Ôi ‘Phu nhân của Thế Giới ta’[FN#12] Tình yêu khiến ta chết; * Chẳng còn hơi thở
sinh mệnh nào để cầu xin cho đời sống;
Nếu không nhờ hy vọng đoàn viên cho ta sức mạnh, * Tứ chi mỏi mệt của ta
đã yếu đi, chẳng thể mau bước trên đường này.”

Khi chàng đọc xong những vần thơ, chàng khóc (và Aziz khóc cùng chàng) bởi trái tim bị thương tích, cho đến khi quan Đại thần động lòng thương vì nước mắt của họ và nói: “Thưa chúa công, xin hãy vui lòng và giữ đôi mắt khỏi lệ; sẽ chẳng có gì ngoài điều tốt lành!” Taj al-Muluk nói: “Ôi Wazir, quả thật ta đã mỏi mệt vì đường dài. Hãy nói cho ta biết chúng ta còn cách thành bao xa.” Aziz đáp: “Chỉ còn một quãng ngắn nữa thôi.” Rồi họ tiếp tục hành trình, băng qua các thung lũng sông và đồng bằng, rừng cây và hoang địa đá sỏi, cho đến một đêm, khi Taj al-Muluk đang ngủ, chàng mơ thấy người yêu ở cùng mình, và chàng ôm nàng, ép nàng vào ngực; chàng tỉnh dậy run rẩy, rùng mình vì đau đớn, mê sảng bởi xúc động, rồi ứng khẩu những vần thơ này,

“Hỡi bạn yêu dấu, lệ ta mãi chảy xuống hai má này, *
Với nỗi đau dài dằng dặc và hao mòn, vương miện sầu thương của ta:
Ta than như người đàn bà khóc đứa con bị cướp mất, *
Và khi đêm xuống, ta rên như bồ câu mái góa chồng:
Nếu làn gió thổi từ miền đất nơi nàng cư ngụ, *
Ta thấy trên mặt đất cháy nắng một làn mát ngọt ngào thổi qua.
Bình an ở cùng nàng, tình yêu của ta, khi gió tây còn thở, *
Và chim cu gáy còn bay, rùa còn cất tiếng than.”

Contents of the Third Volume#6

Và khi chàng đã dứt lời ngâm thơ, Wazir đến bên chàng và nói: “Hãy vui lên; đây là điềm lành: vậy hãy phấn chấn và giữ đôi mắt mát lành, trong trẻo, vì chắc chắn chúa công sẽ đạt được điều mình ước muốn.” Aziz cũng đến bên chàng, khuyên chàng nhẫn nại và ra sức làm chàng khuây khỏa, trò chuyện với chàng và kể cho chàng nghe những chuyện tích. Vậy họ thúc đường đi tiếp, hành quân ngày đêm thêm hai tháng nữa, cho đến một ngày lúc mặt trời mọc, từ xa hiện ra trước mắt họ một vật gì trắng trắng, và Taj al-Muluk nói với Aziz: “Vệt trắng đằng kia là gì?” Chàng đáp: “Thưa chúa công! Đằng kia là Lâu đài Pha lê, và đó chính là thành mà ngài tìm kiếm.” Nghe vậy, vị hoàng tử mừng rỡ, và họ không ngừng tiến về phía trước cho đến khi tới gần thành; càng đến gần, Taj al-Muluk càng vui mừng khôn xiết, và nỗi lo âu rời khỏi chàng. Họ vào thành trong dáng vẻ lái buôn, con trai nhà vua mặc trang phục như một thương nhân quan trọng; rồi tìm đến một Khan lớn, gọi là Quán trọ Thương nhân. Taj al-Muluk hỏi Aziz: “Đây có phải là nơi các thương nhân lui tới không?”; chàng đáp: “Phải; chính là Khan nơi tôi đã từng trọ trước kia.” Vậy họ xuống ngựa tại đó, cho lạc đà chở hành lý quỳ xuống, dỡ hàng và cất hàng hóa vào các kho.[FN#13] Họ ở lại bốn ngày để nghỉ ngơi; rồi Wazir khuyên họ nên thuê một ngôi nhà lớn. Họ đồng ý việc ấy và tìm được một ngôi nhà rộng rãi, trang hoàng sẵn cho những cuộc vui hội, nơi họ đến cư trú; còn Wazir và Aziz lo nghĩ kế bày mưu cho Taj al-Muluk, trong khi chàng vẫn ở trong trạng thái bối rối, chẳng biết phải làm gì. Bấy giờ vị Đại thần không nghĩ ra cách nào ngoài việc để chàng lập mình làm thương nhân nơi sàn giao dịch và trong chợ hàng vải quý; nên ông quay sang vị hoàng tử và bạn đồng hành của chàng mà nói: “Hãy biết rằng nếu chúng ta cứ nán lại đây theo cách này, chắc chắn chúng ta sẽ không đạt được ước muốn, cũng chẳng tới được mục tiêu; nhưng trong trí ta vừa nảy ra một việc, nhờ đó (nếu Allah muốn!) chúng ta sẽ tìm thấy lợi thế của mình.” Taj al-Muluk và Aziz đáp: “Hãy làm điều ngài thấy là tốt; quả thật trong chòm râu bạc có phúc lành, nhất là nơi những người, như ngài, thông thuộc cách xử trí công việc: vậy hãy nói cho chúng tôi biết điều gì đã nảy ra trong trí ngài.” Wazir đáp: “Lời khuyên của ta là chúng ta thuê cho chúa công một cửa hiệu trong chợ vải, nơi chúa công có thể ngồi bán và mua. Người nào, lớn cũng như nhỏ, đều cần lụa là và các loại vải khác; vậy nếu chúa công kiên nhẫn ngồi trong cửa hiệu, công việc của chúa công sẽ thịnh đạt, Inshallah! huống chi chúa công lại có dung mạo tuấn mỹ. Tuy nhiên, hãy đặt Aziz làm quản lý cho chúa công và cho chàng ở trong cửa hiệu, để trao các súc vải và hàng vải cho chúa công.” Khi Taj al-Muluk nghe những lời ấy, chàng nói: “Lời khuyên này đúng đắn và là một sự tính toán thật dễ chịu.” Vậy chàng lấy ra một bộ y phục thương nhân đẹp đẽ, mặc vào, rồi lên đường ra chợ, các gia nhân đi theo sau; chàng đã trao cho một người trong bọn họ một nghìn dinar để sắm sửa cửa hiệu. Họ không ngừng đi cho đến khi tới chợ vải, và khi các thương nhân thấy vẻ đẹp cùng phong thái duyên dáng của Taj al-Muluk, họ sững sờ và đi quanh nói rằng: “Quả thật Rizwán[FN#14] đã mở các cổng Thiên đường và bỏ chúng không canh giữ, để chàng trai có vẻ đẹp vượt trội này bước ra.” Những người khác lại nói: “Có lẽ đây là một trong các thiên thần.” Bấy giờ khi họ vào giữa đám thương nhân, họ hỏi cửa hiệu của vị Giám quản chợ, và các thương nhân chỉ đường cho họ tới đó. Vậy họ không chậm trễ mà đến ngay nơi ấy và chào ông; ông cùng những người ở với ông đứng dậy đón họ, mời họ ngồi và trọng đãi họ, bởi thấy Wazir là một người đã lớn tuổi và có dáng vẻ đáng kính; lại nhìn hai chàng trai Aziz và Taj al-Muluk đi cùng ông, họ nói với nhau: “Chắc chắn vị Shaykh của chúng ta là cha của hai chàng trai này.” Rồi Wazir hỏi: “Ai trong các vị là Giám quản chợ?” Họ đáp: “Chính là người này”; và kìa, ông tiến lên, Wazir quan sát ông kỹ lưỡng và thấy ông là một lão nhân có cử chỉ nghiêm trang, tôn quý, có hoạn quan, gia nhân và nô lệ da đen. Vị Syndic chào họ bằng lời chào của bạn hữu và hết sức ân cần với họ; rồi ông mời họ ngồi bên cạnh mình và hỏi: “Các vị có việc gì mà chúng tôi[FN#15] có thể được hạnh phúc giải quyết chăng?” Vị Đại thần đáp: “Có; ta là một lão nhân tuổi tác đã cao, và có cùng ta hai chàng trai này, những người ta đã đưa đi qua mọi thành thị và xứ sở, không vào một đô thành lớn nào mà không ở lại đó trọn một năm, để họ có thể thỏa thích ngắm nhìn nơi ấy và biết dân chúng của nó. Nay ta đã đến thăm thành của các vị, định lưu lại đây một thời gian; vậy ta cần nơi ngươi một cửa hiệu đẹp ở vị trí tốt nhất, để ta đặt họ vào đó, cho họ buôn bán và học mua bán, trao đổi, trong khi họ tiêu khiển bằng việc ngắm nhìn nơi này và trở nên quen thuộc với phong tục của dân chúng nơi đây.” Vị Giám quản nói: “Việc ấy chẳng hại gì”; rồi nhìn hai chàng trai, ông vui thích với họ và đem lòng quý mến nồng nhiệt. Bấy giờ ông là một bậc đại sành sỏi trong những ánh nhìn mê hoặc, chuộng tình yêu trai trẻ hơn tình yêu thiếu nữ và nghiêng về vị chua hơn vị ngọt của ái tình. Vậy ông tự nhủ: “Quả đây là món săn tuyệt hảo. Vinh quang thay Đấng đã tạo thành và nắn nên họ từ thứ nước hèn mọn!”[FN#16] rồi đứng dậy trước mặt họ như một gia nhân để tỏ lòng tôn kính. Sau đó ông đi ra và chuẩn bị cho họ một cửa hiệu nằm ngay chính giữa Sàn giao dịch; trong chợ không có cửa hiệu nào rộng hơn hay tốt hơn, vì nó khoáng đạt, trang hoàng đẹp đẽ và được lắp các kệ bằng ngà voi và gỗ mun. Sau đó ông trao chìa khóa cho Wazir, người đang mặc như một thương nhân già, nói rằng: “Hãy nhận lấy, thưa chúa công, và cầu Allah khiến nơi này thành chỗ trú ngụ đầy phúc lành cho hai con trai của ngài!” Vị Đại thần nhận chìa khóa, và cả ba trở về Khan nơi họ đã xuống nghỉ, truyền cho gia nhân chuyển tất cả hàng hóa và vải vóc của họ đến cửa hiệu.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Wazir nhận chìa khóa cửa hiệu, ông đi cùng Taj al-Muluk và Aziz đến Khan, rồi họ truyền cho gia nhân chuyển đến cửa hiệu tất cả hàng hóa, vải vóc và vật quý giá của họ, những thứ họ có rất nhiều, đáng giá cả kho tiền. Khi mọi việc ấy đã được làm chu toàn, họ đến cửa hiệu và sắp đặt hàng buôn của mình, rồi ngủ ở đó đêm ấy. Vừa sáng hôm sau, Wazir đưa hai chàng trai trẻ đến nhà tắm Hammam, nơi người ta tắm rửa họ sạch sẽ; họ mặc y phục sang trọng, xức hương liệu và tận hưởng khoái lạc đến mức cao nhất. Bấy giờ mỗi chàng trai đều tuyệt đẹp để ngắm nhìn, và trong nhà tắm họ đúng như lời thi nhân nói,

“Phúc thay người kỳ cọ, bàn tay khéo léo phủ màu lên *
Một thân hình sinh ra giữa dòng trong và ánh sáng:[FN#17]
Người phô bày pháp thuật của nghề mình, *
Và gom xạ hương trong hình hài mặc sắc long não.”[FN#18]

Sau khi tắm, họ rời đi; và khi vị Giám quản nghe rằng họ đã đến Hammam, ông ngồi xuống đợi đôi trai ấy, và lát sau họ tiến đến chỗ ông như hai con linh dương; đôi má họ ửng đỏ vì nhà tắm, còn đôi mắt họ lại càng sẫm hơn bao giờ hết; gương mặt họ rạng rỡ và họ như hai vầng trăng sáng chói hay hai cành cây trĩu quả. Khi ông thấy họ, ông lập tức đứng dậy và nói với họ: “Ôi các con trai của ta, cầu cho buổi tắm luôn đem lợi ích cho các con!”[FN#19] Bấy giờ Taj al-Muluk đáp bằng lời lẽ ngọt ngào nhất: “Cầu Allah rộng lượng với ngài, ôi phụ thân của tôi; sao ngài không đi cùng chúng tôi và tắm trong bầu bạn với chúng tôi?” Rồi cả hai cùng cúi xuống bàn tay phải của ông, hôn nó và bước đi trước ông đến cửa hiệu, để thỉnh ông bằng danh dự và tỏ lòng kính trọng đối với ông, bởi ông là Trưởng thương nhân và trưởng chợ, và ông đã đối xử tốt với họ khi trao cửa hiệu cho họ. Khi ông thấy hông họ rung động lúc họ bước đi, ham muốn và nỗi khát khao lại nhân đôi trong ông; ông phì phò, khịt mũi và nuốt chửng họ bằng đôi mắt, vì ông không thể tự kìm giữ, trong lúc ấy lặp lại hai vần thơ này,

“Nơi đây trái tim đọc một chương của lòng sùng kính tinh tuyền; *
Và chẳng đọc tranh biện nếu Trời nhận bạn đồng thờ phụng:
Chẳng lạ gì kẻ ấy run lên khi bước dưới sức nặng dường kia! *
Quả cầu xoay ấy hẳn phải tạo nên
bao nhiêu chuyển động.[FN#20]”

Hơn nữa ông nói,

“Ta thấy hai kẻ mê hồn bước trên đất thấp hèn. *
Hai người ta phải yêu dù họ giẫm lên mắt ta.”

Khi họ nghe những lời này, họ nài ông vào nhà tắm cùng họ lần thứ hai. Ông hầu như không tin vào tai mình, vội vã đến đó và bước vào cùng họ. Wazir vẫn chưa rời nhà tắm; vậy khi ông nghe tin vị Giám quản đến, ông bước ra, gặp ông giữa sảnh nhà tắm và mời ông vào. Ông từ chối; bấy giờ Taj al-Muluk nắm tay ông đi một bên, Aziz đi bên kia, rồi đưa ông vào một gian phòng nhỏ; và lão nhân ô uế ấy chịu để họ dẫn, trong khi cảm xúc trong ông càng tăng. Ông lẽ ra muốn từ chối, dẫu đây chính là điều ông mong muốn; nhưng vị Đại thần nói với ông: “Họ là con trai của ngài; hãy để họ tắm rửa và làm sạch cho ngài.” Vị Giám quản kêu lên: “Cầu Allah gìn giữ họ cho ngài! Thề bởi Allah, sự đến của ngài và sự đến của những người đi cùng ngài đem phúc lành và vận may xuống thành của chúng tôi!” Và ông lặp lại hai vần thơ này,

“Người đến, đồi núi lại xanh tươi; *
Và sắc hoa ngọt ngào nhất gieo xuống chú rể,
Trong khi Đất và con dân sinh từ đất cùng lớn tiếng reo vang *
‘Kính chào và hoan nghênh người đến để ban ân sủng.’”

Họ cảm tạ ông vì lời ấy, và Taj al-Muluk không ngừng tắm rửa cho ông và dội nước lên ông, còn ông thì tưởng linh hồn mình đang ở Thiên đường. Khi họ đã phục vụ ông xong, ông chúc phúc cho họ và ngồi bên Wazir, trò chuyện nhưng vẫn đưa mắt ngắm hai chàng trai. Lát sau, các gia nhân mang khăn tắm đến cho họ, họ lau khô mình và mặc y phục. Rồi họ đi ra, và vị Đại thần quay sang vị Syndic mà nói: “Thưa chúa công! quả thật nhà tắm là Thiên đường[FN#21] của cõi đời này.” Vị Giám quản đáp: “Cầu Allah ban cho ngài một Thiên đường như thế, và sức khỏe cho các con trai ngài, đồng thời gìn giữ họ khỏi con mắt ác! Các vị có nhớ điều gì mà những người hùng biện đã nói để ca ngợi nhà tắm chăng?” Taj al-Muluk nói: “Tôi sẽ đọc cho ngài một cặp vần thơ”; rồi chàng đọc,

Sự sống của nhà tắm là niềm vui của đời người,[FN#22] *
Chỉ tiếc thời gian ở đó quá ngắn cho chúng ta lưu lại:
Một Thiên đường mà ở lại lâu thì phiền chán; *
Một Địa ngục, lại khoái lạc lúc bước vào.”

Khi chàng đọc xong, Aziz nói: “Tôi cũng nhớ hai vần thơ ca ngợi nhà tắm.” Vị Giám quản nói: “Hãy cho ta nghe chúng,” vậy chàng đọc những câu sau,

“Một ngôi nhà nơi hoa mọc lên từ đá hoa cương, *
Đẹp nhất khi nóng lên bởi những dòng chảy sống động:
Ngươi tưởng đó là Địa ngục, nhưng quả thật nơi đây là Thiên đường, *
Và có những kẻ như mặt trời, mặt trăng hiện ra trong đó.”

Và khi chàng đọc xong, những vần thơ của chàng làm vị Giám quản hài lòng; ông kinh ngạc trước lời chàng, thưởng thức vẻ duyên dáng và phong nhiêu của chúng, rồi nói với họ: “Thề bởi Allah, các chàng có cả sắc đẹp lẫn tài hùng biện. Nhưng nay hãy nghe ta, cả hai chàng!” Rồi ông bắt đầu ngâm nga, đọc bằng giọng hát những câu thơ sau,

“Ôi niềm vui của Địa ngục và Thiên đường! Nơi cực hình của nó *
Làm sống dậy thân xác và linh hồn bằng niềm hoan lạc sinh động:
Ta kinh ngạc khi thấy một ngôi nhà dễ chịu đến vậy, *
Và nhất là khi thấy lửa được nhóm bên dưới nó:
Chốn cư ngụ phúc lạc cho khách viếng thăm, mà đồng thời *
Các hồ nước không ngừng tuôn lệ xuống trên họ.”

Rồi ánh mắt ông lang thang và gặm nhấm những khu vườn sắc đẹp của họ, và ông lặp lại hai vần thơ này,

“Ta đến ngôi nhà của người canh giữ; *
Hắn đi vắng, nhưng những người khác bắt đầu mỉm cười:
Ta bước vào Thiên đường[FN#23] của hắn rồi vào Địa ngục[FN#24] của hắn; *
Và ta nói: ‘Chúc phúc Málik[FN#25] và chúc phúc Rizwán.’ ”[FN#26]

Khi họ nghe những vần thơ ấy, họ lấy làm say mê, và vị Giám quản mời họ đến nhà ông; nhưng họ từ chối và trở về chỗ của mình, để nghỉ vì sức nóng lớn của nhà tắm. Vậy họ thư thái tại đó, ăn uống và qua đêm ấy trong sự an ủi và mãn nguyện trọn vẹn, cho đến khi bình minh ló dạng; bấy giờ họ thức dậy khỏi giấc ngủ, làm lễ tẩy rửa nhỏ, cầu nguyện buổi bình minh và uống chén sáng.[FN#27] Khi mặt trời vừa mọc và các cửa hiệu cùng chợ búa mở ra, họ đứng dậy, rời nơi ở đi đến chợ, mở cửa hiệu của họ, vốn đã được gia nhân bày biện theo lối đẹp đẽ nhất, trải thảm cầu nguyện và thảm lụa, đặt trên các trường kỷ một đôi nệm, mỗi tấm trị giá một trăm dinar. Trên mỗi tấm nệm, họ đã trải một tấm thảm da xứng với vua, viền tua vàng; và ngay giữa cửa hiệu đặt một chỗ ngồi thứ ba còn sang trọng hơn, đúng như nơi ấy đòi hỏi. Rồi Taj al-Muluk ngồi xuống trên một trường kỷ, Aziz trên một trường kỷ khác, còn Wazir ngồi trên chiếc ở giữa, và các gia nhân đứng trước mặt họ. Chẳng mấy chốc dân trong thành nghe nói về họ và kéo đến vây quanh, nên họ bán được một số hàng hóa và không ít vải vóc; bởi sắc đẹp và vẻ đáng yêu của Taj al-Muluk đã thành chuyện bàn tán khắp thành. Như vậy họ trải qua một ít thời gian, và mỗi ngày dân chúng lại đổ xô đến họ, chen chúc quanh họ càng lúc càng đông, cho đến khi Wazir, sau khi khuyên Taj al-Muluk giữ kín bí mật của mình, giao chàng cho Aziz chăm sóc rồi trở về nhà, để ông có thể một mình suy tính và tìm xem có mưu kế nào có thể giúp ích cho họ. Trong khi ấy, hai chàng trai ngồi trò chuyện, và Taj al-Muluk nói với Aziz: “Biết đâu sẽ có người nào đó từ phu nhân Dunya đến.” Vậy chàng không ngừng mong chờ cơ hội ấy ngày đêm, nhưng lòng chàng rối loạn và chàng chẳng biết đến ngủ nghỉ; vì khát vọng đã làm chủ chàng, tình yêu cùng nỗi nhớ đè nặng trên chàng, khiến chàng từ bỏ sự an ủi của giấc ngủ và kiêng cả ăn uống; tuy vậy chàng vẫn như mặt trăng trong đêm tròn đầy. Bấy giờ một ngày nọ, khi chàng đang ngồi trong cửa hiệu, kìa, có một bà lão tiến đến.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi ba,

Contents of the Third Volume#7

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Wazir Dandan tiếp tục kể với Zau al-Makan: Một ngày nọ, khi Taj al-Muluk đang ngồi trong cửa hiệu của mình, kìa, xuất hiện một bà lão, tiến đến chỗ chàng, theo sau là hai nữ nô. Bà không ngừng bước tới cho đến khi đứng trước cửa hiệu của Taj al-Muluk; trông thấy thân hình cân đối, vẻ đẹp và nét đáng yêu của chàng, bà kinh ngạc trước sức quyến rũ ấy và mồ hôi túa ra trong chiếc quần lót rộng của mình, kêu lên: “Vinh quang thay Đấng đã tạo nên chàng từ thứ nước hèn mọn, và khiến chàng thành cơn cám dỗ đối với mọi kẻ trông thấy!” Rồi bà dán mắt vào chàng và nói: “Đây không phải là người phàm, chàng chẳng là gì khác ngoài một thiên thần đáng được tôn kính bậc nhất.”[FN#28] Sau đó bà tiến lại gần và chào chàng; chàng đáp lễ, đứng dậy đón bà và mỉm cười với bà (tất cả đều theo dấu hiệu của Aziz); rồi chàng mời bà ngồi xuống bên cạnh mình và quạt cho bà bằng một chiếc quạt, cho đến khi bà được nghỉ ngơi và tỉnh lại. Bấy giờ bà quay sang Taj al-Muluk và nói: “Ôi con trai ta! Ôi chàng, người hoàn hảo cả về ân tứ thân xác lẫn duyên lành tinh thần; hãy nói cho ta biết, chàng có phải người xứ này chăng?” Chàng đáp, bằng giọng ngọt ngào nhất và âm điệu dễ nghe nhất: “Thề bởi Allah, thưa phu nhân của tôi, trong đời tôi chưa từng ở xứ này cho đến lần này, và tôi cũng không lưu lại đây ngoài việc tiêu khiển.” Bà đáp: “Cầu Đấng Ban Phúc ban cho chàng mọi vinh dự và thịnh đạt! Vậy chàng đã mang theo những thứ hàng vải nào? Hãy cho ta xem thứ gì thật tuyệt đẹp; bởi người đẹp đẽ thì không nên mang gì ngoài những thứ đẹp đẽ.” Khi nghe lời bà, tim chàng phập phồng và chàng không hiểu ý nghĩa bên trong của chúng; nhưng Aziz ra dấu cho chàng, và chàng đáp: “Tôi có mọi thứ bà có thể mong muốn, và đặc biệt tôi có những hàng hóa không hợp với ai ngoài các vị vua và con gái của vua; vậy hãy nói cho tôi biết bà muốn loại vải nào và cho ai, để tôi có thể cho bà xem thứ hợp với người ấy.” Chàng nói vậy để dò biết ý nghĩa những lời bà; và bà đáp: “Ta muốn một thứ vải xứng với công chúa Dunya, con gái vua Shahriman.” Khi vị hoàng tử nghe tên người mình yêu, chàng vui mừng khôn xiết và nói với Aziz: “Đưa cho ta một gói như thế.” Vậy Aziz mang nó đến và mở ra trước mặt Taj al-Muluk, chàng nói với bà lão: “Hãy chọn thứ hợp với nàng; bởi những hàng hóa này chỉ có ở nơi tôi.” Bà chọn những tấm vải trị giá một nghìn dinar và hỏi: “Cái này giá bao nhiêu?”; trong lúc ấy bà vẫn không ngừng trò chuyện với chàng và lấy lòng bàn tay xoa thứ ở giữa hai đùi mình. Taj al-Muluk đáp: “Lẽ nào tôi lại mặc cả với người như bà về cái giá nhỏ nhoi này? Tạ ơn Allah đã cho tôi quen biết bà!” Bà lão đáp: “Danh Allah ở trên chàng! Ta phó thác gương mặt đẹp đẽ của chàng cho sự che chở của Chúa Tể Bình Minh.[FN#29] Gương mặt đẹp và lời nói hùng biện! Hạnh phúc thay người nằm trong lòng chàng, ôm lấy eo chàng bằng đôi tay mình và hưởng tuổi xuân của chàng, nhất là nếu nàng cũng xinh đẹp và đáng yêu như chính chàng!” Nghe vậy, Taj al-Muluk cười đến ngã ngửa và tự nhủ: “Ôi Đấng hoàn thành những ước muốn của con người nhờ các bà lão mối lái! Họ mới thật là những kẻ hoàn thành ước muốn!” Rồi bà hỏi: “Ôi con trai ta, tên chàng là gì?” Chàng đáp: “Tên tôi là Taj al-Muluk, Vương miện của các vua.” Bà nói: “Đó quả thật là tên của các vua và con trai vua, trong khi chàng lại mặc y phục thương nhân.” Aziz nói: “Vì tình yêu mà cha mẹ và gia đình dành cho chàng, và vì giá trị họ đặt nơi chàng, họ đặt tên chàng như vậy.” Bà lão đáp: “Chàng nói thật; cầu Allah gìn giữ cả hai chàng khỏi con mắt ác và kẻ ghen ghét, dẫu bao trái tim có tan vỡ bởi vẻ quyến rũ của các chàng!” Rồi bà lấy các tấm vải và đi đường mình; nhưng bà kinh ngạc trước vẻ đẹp, tầm vóc và sự cân đối của chàng, và bà không ngừng đi cho đến khi gặp phu nhân Dunya, rồi nói với nàng: “Thưa phu nhân của tôi! Tôi đã mang đến cho người vài thứ vải đẹp.” Công chúa nói: “Đưa ta xem.” Bà lão đáp: “Ôi trái táo trong mắt tôi, nó đây, hãy lật lên và xem kỹ.” Khi công chúa nhìn nó, nàng kinh ngạc và nói: “Ôi nhũ mẫu của ta, đây quả là loại vải đẹp: ta chưa từng thấy thứ nào giống thế trong thành của chúng ta.” Bà nhũ mẫu già đáp: “Ôi phu nhân của tôi, người bán nó cho tôi còn đẹp hơn nữa. Cứ như thể Rizwan đã sơ ý để mở các cổng Thiên đường, và như thể chàng trai bán cho tôi tấm vải này đã nguyên hình bước ra từ Thiên giới. Ước gì đêm nay chàng có thể ngủ cùng người và nằm giữa đôi ngực người.[FN#30] Chàng đã đến thành của người với những tấm vải quý này để tiêu khiển, và chàng là cơn cám dỗ cho mọi kẻ đặt mắt nhìn chàng.” Công chúa bật cười trước lời bà và nói: “Cầu Allah giáng họa xuống bà, hỡi mụ già độc hại! Bà đã lẩm cẩm rồi, trong bà chẳng còn chút lý trí nào.” Một lát sau, nàng nói tiếp: “Đưa ta tấm vải để ta nhìn lại nó.” Vậy bà đưa cho nàng, nàng lại cầm lấy và thấy kích thước của nó nhỏ mà giá trị lớn. Nó làm nàng hài lòng, vì trong đời nàng chưa từng thấy thứ nào như vậy, và nàng kêu lên: “Thề bởi Allah, đây là một tấm vải đẹp!” Bà lão đáp: “Ôi phu nhân của tôi, thề bởi Allah! nếu người trông thấy chủ nhân của nó, người sẽ biết chàng là người đàn ông đẹp nhất trên mặt đất.” Phu nhân Dunya hỏi: “Bà có hỏi chàng xem chàng có điều gì cần chăng, để chàng nói với chúng ta và chúng ta đáp ứng điều ấy?” Nhưng bà nhũ mẫu lắc đầu và nói: “Cầu Đức Chúa giữ gìn sự tinh tường của người! Thề bởi Allah, chàng có một điều cần, cầu cho tài khéo của người không sai. Sao! Có người đàn ông nào mà không có điều cần chăng?” Công chúa đáp: “Hãy trở lại với chàng, chào chàng và nói với chàng: ‘Xứ sở và thành của chúng tôi được vinh dự bởi chuyến viếng thăm của ngài, và nếu ngài có điều gì cần, chúng tôi sẽ thực hiện cho ngài, bằng đầu và mắt của chúng tôi.’” Vậy bà lão lập tức trở lại với Taj al-Muluk, và khi chàng thấy bà, tim chàng nhảy lên vì vui mừng và hân hoan; chàng đứng dậy trước bà, cầm tay bà và mời bà ngồi bên cạnh mình. Khi bà đã nghỉ xong, bà kể cho chàng nghe những lời công chúa Dunya đã nói; và chàng nghe vậy thì vui mừng khôn xiết; lồng ngực chàng mở rộng đến tận cùng; niềm vui đi vào trái tim chàng và chàng tự nhủ: “Quả thật, ta đã có điều mình cần.” Rồi chàng hỏi bà lão: “Có lẽ bà sẽ mang cho nàng một thông điệp từ tôi và đem về cho tôi lời đáp của nàng chăng?”; bà đáp: “Tôi nghe và vâng lệnh.” Vậy chàng nói với Aziz: “Mang cho ta hộp mực, giấy và một cây bút đồng.” Khi Aziz mang đến cho chàng những thứ chàng cần, chàng cầm bút trong tay và viết những dòng thơ này,

“Ta viết gửi nàng, ôi hy vọng nồng nàn nhất! một bức thư *
Mang nỗi sầu mà chia lìa đặt lên linh hồn ta:
Dòng đầu của nó nói, ‘Trong tim ta là nợ tình!’ *
Dòng thứ hai, ‘Tình yêu và Khát vọng đang gặm nhấm ta!’
Dòng thứ ba, ‘Kiên nhẫn của ta cạn kiệt, đời ta phai tàn!’ *
Dòng thứ tư, ‘Không gì làm dịu được đau đớn và héo mòn của ta!’
Dòng thứ năm, ‘Khi nào mắt ta được hưởng dung nhan nàng?’ *
Dòng thứ sáu, ‘Hãy nói, khi nào ngày gặp gỡ của chúng ta rạng sáng?’ ”

Và sau cùng, như lời ký cuối thư, chàng viết những dòng này. “Bức thư này đến từ kẻ bị mê hoặc giam cầm * bị nhốt trong ngục của mong chờ khát vọng * nơi không có sự giải thoát * ngoài trong niềm trông đợi, giao hòa và hợp nhất * sau vắng cách và chia lìa. * Vì bởi sự chia xa những người bạn mà chàng yêu tha thiết * chàng chịu những cơn đau tình ái và nỗi đau héo hắt. *” Rồi nước mắt chàng trào ra, và chàng viết hai vần thơ này,

“Ta viết cho nàng, tình yêu ơi, trong khi lệ ta đổ xuống; *
Và chúng chẳng bao giờ ngừng tuôn, dày đặc và mau lẹ:
Tuy vậy ta không tuyệt vọng nơi Thượng Đế của ta, ân sủng của Ngài *
Biết đâu một ngày sẽ cho đôi ta được gặp nhau.”

Rồi chàng gấp bức thư[FN#31] và niêm nó bằng nhẫn ấn của mình, trao cho bà lão, nói: “Hãy mang nó đến cho phu nhân Dunya.” Bà nói: “Nghe là vâng”; bấy giờ chàng trao cho bà một nghìn dinar và nói với bà: “Ôi mẹ của tôi! hãy nhận món quà này từ tôi như một dấu hiệu tình cảm của tôi.” Bà nhận cả hai từ tay chàng, chúc phúc cho chàng rồi đi đường mình, và không hề ngơi bước cho đến khi vào gặp phu nhân Dunya. Khi công chúa thấy bà, nàng nói với bà: “Ôi nhũ mẫu của ta, chàng cần điều gì để chúng ta thực hiện ước muốn ấy cho chàng?” Bà lão đáp: “Thưa phu nhân của tôi, chàng gửi đến người bức thư này qua tay tôi, và tôi không biết trong đó có gì”; rồi trao nó cho nàng. Bấy giờ công chúa cầm lấy thư và đọc; khi hiểu nội dung, nàng kêu lên: “Tên thương nhân này từ đâu đến và đi về đâu mà dám gửi cho ta một bức thư như thế?” Rồi nàng vả vào mặt mình và nói: “Chúng ta từ đâu mà lại phải hạ mình đến hàng quán? Awah! Awah! Thề bởi Đức Chúa, nếu không vì ta kính sợ Allah Toàn Năng, ta đã giết hắn rồi”; nàng nói thêm: “Phải, ta đã đóng đinh[FN#32] hắn trên cửa hiệu của hắn!” Bà lão hỏi: “Trong bức thư này có gì khiến trái tim người bực bội và làm cơn giận của người chuyển động đến thế? Nó có chứa lời than phiền bị áp bức hay đòi tiền tấm vải không?” Công chúa đáp: “Khốn cho bà! Trong đó chẳng có gì như vậy, chẳng có gì ngoài những lời yêu đương và âu yếm. Tất cả là do bà: bằng không tên Satan[FN#33] này làm sao biết ta?” Bà lão đáp: “Ôi phu nhân của tôi, người ngồi trong cung điện cao của mình và không ai có thể đến gần người; không, ngay cả chim trời cũng không. Cầu Allah gìn giữ người, và giữ tuổi xuân của người khỏi lời chê trách và khiển trách! Người chẳng cần bận tâm đến tiếng chó sủa, bởi người là công chúa, con gái của vua. Xin đừng giận tôi vì đã mang cho người bức thư này, trong khi tôi không biết trong đó có gì; nhưng tôi nghĩ người nên gửi cho chàng một lời đáp, đe dọa chàng bằng cái chết và cấm chàng nói những lời ngu xuẩn này; chắc chắn chàng sẽ thôi và không làm điều tương tự lần nữa.” Phu nhân Dunya nói: “Ta sợ rằng nếu ta viết cho hắn, hắn sẽ càng khao khát ta hơn.” Bà lão đáp: “Khi chàng nghe lời đe dọa và hứa trừng phạt của người, chàng sẽ thôi sự cố chấp.” Nàng kêu: “Mang hộp mực, giấy và bút đồng đến đây”; và khi người ta mang chúng đến, nàng viết những vần thơ này,

“Ôi kẻ vì những đêm thức trắng của mình mà muốn đòi tình yêu ta
làm ân huệ, * Vì nỗi héo hon mà ngươi hẳn phải cảm thấy và
cơn khổ nạn!
Ngươi, kẻ ngốc si mê và kiêu hãnh trong hồn, lại tìm gặp
Mặt Trăng ư? * Nói xem, đã từng có người nào đạt được ước muốn ôm lấy
Mặt Trăng trong tay chăng?
Ta khuyên ngươi, hãy ném khỏi linh hồn ước muốn trú ngụ
trong đó, * Và cắt ngắn điều đang sớm đe dọa ngươi bằng
hiểm nguy đau đớn:
Nếu ngươi dám trở lại với những lời như thế, ta bảo ngươi hãy chờ đợi *
Từ ta hình phạt khủng khiếp xứng với một gã ngốc ngang ngạnh:
Ta thề bởi Đấng đã nắn nên con người từ giọt máu đông
đặc,[FN#34] * Đấng thắp Mặt Trời sáng ban ngày và thắp
Mặt Trăng cho đêm tối,
Nếu ngươi trở lại nhắc rằng ngươi từng nói trong kiêu ngạo, *
Ta sẽ ban cho ngươi ân huệ là bị đóng đinh trên một cây thập giá!”

Rồi nàng gấp bức thư, trao cho bà lão và nói: “Đưa cái này cho hắn và nói với hắn: ‘Hãy thôi những lời ấy!’” Bà đáp: “Xin nghe và tuân lệnh,” rồi vui vẻ nhận bức thư, trở về nhà mình, ở đó qua đêm; và khi bình minh ló dạng, bà đến cửa hiệu của Taj al-Muluk, người mà bà thấy đang trông đợi mình. Khi chàng thấy bà, chàng sẵn sàng bay lên[FN#35] vì vui sướng; khi bà đến gần, chàng đứng dậy đón bà và mời bà ngồi bên cạnh mình. Sau đó bà lấy bức thư ra và trao cho chàng, nói: “Hãy đọc những gì trong này”; rồi nói thêm: “Khi công chúa Dunya đọc thư của chàng, nàng đã nổi giận; nhưng ta dỗ dành và bông đùa với nàng cho đến khi làm nàng bật cười, và nàng thương xót chàng nên đã trả lời chàng.” Chàng cảm tạ bà vì lòng tốt, rồi bảo Aziz đưa cho bà một nghìn đồng vàng: sau đó chàng đọc thư, hiểu nội dung thì bật khóc một trận đớn đau đến nỗi trái tim bà lão động lòng thương xót chàng, còn nước mắt và lời than của chàng làm bà đau lòng. Một lát sau bà hỏi chàng: “Ôi con trai ta, trong thư này có gì khiến chàng khóc?” Chàng đáp: “Nàng đã đe dọa ta bằng cái chết và việc đóng đinh, và nàng cấm ta viết cho nàng, nhưng nếu ta không viết thì cái chết tốt hơn sự sống của ta. Vậy bà hãy mang lời đáp thư của ta, và để nàng làm theo ý mình.” Bà lão đáp: “Thề bởi đời tuổi trẻ của chàng, ta nhất định phải liều mạng vì chàng, để ta có thể đưa chàng đến điều chàng ước muốn và giúp chàng giành được điều nằm trong tim chàng!” Taj al-Muluk nói: “Bất cứ điều gì bà làm, tôi sẽ báo đáp bà vì việc ấy, và xin bà hãy cân nhắc nó trên chiếc cân phán đoán của bà, bởi bà từng trải trong việc xử trí mọi sự, và thành thạo trong việc đọc các chương của cuốn sách mưu kế: mọi việc khó đối với bà đều thành việc dễ; và Allah có thể làm nên mọi sự.” Rồi chàng lấy một tờ giấy và viết lên đó những vần thơ ứng khẩu này,

“Đêm qua tình yêu của ta đe dọa giết ta, *
Nhưng ngọt ngào thay sự bị giết và cái Chết đã được định trước:
Phải, Cái Chết ngọt ngào với kẻ yêu bị buộc phải chịu *
Đời dài, bị khước từ, bị tổn thương và giam hãm:
Thề bởi Allah! xin đoái thương viếng người bạn không bạn bè! *
Ta là nô lệ của nàng và như nô lệ ta bị xiềng:
Xin thương xót, ôi phu nhân của ta, vì ta yêu nàng! *
Ai yêu linh hồn cao quý thì đáng được tha.”

Rồi chàng thở những tiếng thở dài nặng nề và khóc cho đến khi bà lão cũng khóc; lát sau bà nhận bức thư và nói với chàng: “Hãy vui lòng, mắt mát lành và trong sáng; vì ta nhất định phải đưa chàng đến điều chàng ước muốn.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi tư,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Taj al-Muluk khóc, bà lão nói với chàng: “Hãy vui lòng, mắt mát lành và trong sáng; vì ta nhất định phải đưa chàng đến điều chàng ước muốn.” Rồi bà đứng dậy, để chàng lại trên than lửa; và trở về với công chúa Dunya, người mà bà thấy trên gương mặt đổi khác vẫn còn biểu lộ cơn giận vì bức thư của Taj al-Muluk. Vậy bà đưa cho nàng bức thư thứ hai của chàng; trước việc ấy, cơn giận của nàng lại tăng gấp bội và nàng nói: “Ta đã chẳng nói rằng hắn sẽ càng khao khát chúng ta hơn sao?” Bà lão đáp: “Con chó này là thứ gì mà dám ngưỡng vọng đến người?” Công chúa nói: “Hãy trở lại với hắn và nói với hắn rằng, nếu sau lần này hắn viết cho ta, ta sẽ chặt đầu hắn.” Bà nhũ mẫu nói: “Hãy viết những lời này trong một bức thư, và tôi sẽ mang nó đến cho hắn để nỗi sợ của hắn càng lớn.” Vậy nàng lấy một tờ giấy và viết lên đó những vần thơ này,

“Này ngươi, kẻ xem thường những hiểm nguy đã qua và đã mất! *
Ngươi, kẻ lê bước quá chậm để giành phần thưởng gặp gỡ!
Vì kiêu hãnh tinh thần, ngươi tưởng mình giành được sao Soha[FN#36] sao? *
Dẫu ngươi chẳng thể chạm tới Mặt Trăng sáng trên
tầng không cao?
Sao ngươi dám mong giành ân huệ của ta, hy vọng ôm *
Trên ngực tình nhân bốc cháy thân hình hiếm quý như ngọn giáo của ta?
Hãy bỏ mục đích này, kẻo một ngày cơn giận của ta giáng xuống ngươi, *
Một ngày thịnh nộ sẽ làm đường rẽ tóc của ngươi hóa bạc!”

Rồi nàng gấp bức thư và trao cho bà lão; bà nhận lấy và tìm đến Taj al-Muluk. Khi chàng thấy bà, chàng đứng bật dậy và kêu lên: “Cầu Allah đừng bao giờ tước khỏi tôi phúc lành là sự đến của bà!” Bà nói: “Hãy nhận lời đáp thư của chàng.” Chàng nhận lấy, đọc nó, rồi khóc một trận đớn đau và nói: “Ta mong có ai đó giết ta ngay lúc này và đưa ta đến chốn yên nghỉ, vì quả thật cái chết đối với ta dễ chịu hơn tình trạng này!” Rồi chàng lấy hộp mực, bút và giấy, viết một bức thư chứa hai vần thơ này,

“Ôi hy vọng của ta! xin đừng truy đuổi ta bằng nghiêm khắc và khinh miệt: *
Xin đoái thương viếng kẻ si tình chìm đắm trong tình yêu nàng;
Đừng nghĩ ta còn chịu đựng đời sống bị oan khổ sâu dường ấy lâu hơn; * Linh hồn ta
vì chia lìa bạn yêu đã ly dị khung thân hư yếu này.”

Sau cùng chàng gấp thư và trao cho bà lão, nói: “Xin đừng giận tôi, dẫu tôi đã làm bà mệt nhọc vô ích.” Rồi chàng bảo Aziz đưa cho bà thêm một nghìn ducat, nói: “Ôi mẹ của tôi, bức thư này nhất định phải dẫn đến đoàn tụ trọn vẹn hoặc chia lìa tuyệt đối.” Bà đáp: “Ôi con trai ta, thề bởi Allah, ta chẳng mong gì ngoài điều tốt lành cho chàng; và mục đích của ta là nàng phải thuộc về chàng, vì quả thật chàng là vầng trăng sáng, còn nàng là mặt trời đang mọc.[FN#37] Nếu ta không đưa hai người đến với nhau, đời ta còn ích gì; và ta đã sống đời mình cho đến tuổi chín mươi trong nghề mưu mẹo và thủ đoạn; vậy làm sao ta lại không thể kết hợp hai kẻ yêu nhau, dẫu có trái với lẽ phải và luật lệ?” Rồi bà từ biệt chàng sau khi đã an ủi trái tim chàng, và không ngừng bước đi cho đến khi vào gặp phu nhân Dunya. Bấy giờ bà đã giấu bức thư trong tóc mình: nên khi ngồi xuống bên công chúa, bà xoa đầu và nói: “Ôi phu nhân của tôi, có lẽ người sẽ gỡ giúp búi tóc của tôi, vì đã lâu rồi tôi chưa đến Hammam.” Con gái nhà vua xắn tay áo đến khuỷu và, thả các lọn tóc của bà lão xuống, bắt đầu gỡ búi tóc phía sau; khi ấy bức thư rơi ra và phu nhân Dunya trông thấy, hỏi: “Tờ giấy này là gì?” Bà nhũ mẫu đáp: “Khi tôi ngồi trong cửa hiệu của người thương nhân, chắc tờ giấy này đã dính vào tôi: xin đưa nó cho tôi để tôi trả lại cho chàng; có thể nó chứa một sổ sách nào đó mà chàng cần.” Nhưng công chúa mở nó ra và đọc; khi hiểu nội dung, nàng kêu lên: “Đây là một trong vô số trò quỷ quyệt của bà, và nếu bà không phải người đã nuôi nấng ta, ta sẽ ra tay dữ dội với bà ngay lúc này! Quả thật Allah đã giáng tai họa tên thương nhân này xuống ta: nhưng mọi điều xảy ra với ta vì hắn đều ở trên đầu bà. Ta không biết kẻ này có thể từ xứ nào đến: ngoài hắn ra, chẳng người đàn ông nào dám cả gan xúc phạm ta như thế, và ta sợ chuyện này của ta lan ra ngoài, nhất là khi nó liên quan đến một kẻ chẳng phải thân tộc, cũng chẳng ngang hàng với ta.” Bà lão đáp: “Không ai dám nói đến chuyện này vì sợ cơn giận của người và vì kính sợ phụ vương người; vậy gửi cho chàng một lời đáp cũng chẳng hại gì.” Công chúa nói: “Ôi nhũ mẫu của ta, quả thật kẻ này là một Satan hoàn hảo! Sao hắn dám dùng ngôn ngữ như vậy với ta mà không sợ cơn thịnh nộ của Sultan. Quả thật ta bối rối về trường hợp của hắn: nếu ta ra lệnh xử tử hắn, thì sẽ là bất công; còn nếu ta để hắn sống, sự táo tợn của hắn sẽ tăng thêm.” Bà lão nói: “Nào, hãy viết cho chàng một bức thư; có thể chàng sẽ thôi vì sợ.” Vậy nàng gọi mang giấy, hộp mực và bút đến, rồi viết những vần thơ này,

“Sự ngu dại của ngươi cứ đẩy ngươi tới, dù ta đã trách mắng lâu rồi, *
Viết bằng thơ: ta còn phải cấm đến bao giờ?
Dù bị cấm đoán đủ điều, ngươi càng cố chấp hơn, *
Và ân huệ duy nhất của ta là giữ kín chuyện này;
Vậy hãy giấu tình yêu của ngươi và đừng bao giờ dám để lộ, *
Vì nếu ngươi nói, ta sẽ sớm trừ khử ngươi
Nếu ngươi lại trở về với lời lẽ ngu xuẩn của mình, *
Quạ sẽ kêu báo tang cho ngươi giữa đồng hoang:
Và Cái Chết chẳng bao lâu sẽ đến, đánh ngươi gục xuống, *
Đưa khỏi tầm mắt và chôn dưới một nắp đất:
Người thân của ngươi, hỡi kẻ ngốc si mê! ngươi sẽ để họ lại khóc thương mình, *
Và suốt đời họ sẽ sầu thảm trong cô quạnh.”

Rồi nàng gấp bức thư và giao nó cho bà lão; bà nhận lấy, trở lại với Taj al-Muluk và trao nó cho chàng. Khi chàng đọc thư, chàng biết công chúa cứng lòng và rằng mình sẽ không giành được lối đến nàng; vậy chàng than phiền tình cảnh của mình với Wazir và cầu xin ông lời khuyên. Vị Đại thần nói: “Hãy biết rằng chẳng gì có ích cho chúa công ngoài việc chúa công viết cho nàng và khẩn cầu sự báo ứng của Trời giáng xuống nàng.” Vị hoàng tử nói: “Ôi huynh đệ của ta, ôi Aziz, huynh hãy viết cho nàng như thể lưỡi ta đang nói, theo hiểu biết của huynh.” Vậy Aziz lấy một tờ giấy và viết những vần thơ này,

Contents of the Third Volume#8

“Nhân danh Năm vị Shaykh,[FN#38] ôi Đức Chúa, con cầu xin Ngài giải thoát con; *
Hãy để nàng, người vì nàng con chịu khổ, cũng mang nỗi khổ như con:
Ngài biết con cháy rán ra sao trong ngọn lửa tình rực đỏ, *
Trong khi người con yêu chẳng có chút xót thương hay khoan thứ:
Đến bao giờ con còn phải, dẫu đau đớn, dè giữ cảm xúc của nàng? *
Đến bao giờ nàng còn gieo bạo ngược lên kẻ yếu hèn là con?
Trong những cơn đau của cái chết không ngừng dứt, con mãi sầu thương: *
Ôi Đức Chúa, xin đoái thương trợ giúp; con chẳng thấy bàn tay nào khác nâng đỡ.
Con những muốn quên nàng và quên tình yêu nàng biết bao! *
Nhưng làm sao quên được khi Tình yêu đã khiến Kiên nhẫn phải chịu chết?
Ôi nàng, người cản trở Tình yêu hưởng mùa gặp gỡ đẹp tươi, *
Hãy nói! nàng có an toàn trước lòng ghen của Thời Gian và Vận Mệnh chăng?
Nàng chẳng vui mừng và được ban phúc với đời sống hạnh phúc, trong khi ta *
Vì yêu nàng mà bị định phải lìa bỏ dân tộc và quê hương sao?”

Rồi Aziz gấp bức thư và trao cho Taj al-Muluk; chàng đọc và hài lòng với nó. Vậy chàng đưa nó cho bà lão, bà nhận lấy rồi đem vào cho công chúa Dunya. Nhưng khi nàng đọc và nắm rõ ý nghĩa trong thư, nàng nổi giận dữ dội và nói: “Tất cả những gì xảy đến với ta đều do mụ già điềm gở này!” Rồi nàng gọi lớn các thị nữ và hoạn quan, nói: “Bắt lấy mụ già này, con mụ lừa đảo đáng nguyền rủa này, và đánh nó bằng dép của các ngươi!” Thế là họ xông vào đánh bà cho đến khi bà ngất đi; và khi bà tỉnh lại, công chúa nói với bà: “Thề bởi Đức Chúa! Hỡi mụ già độc ác, nếu ta không kính sợ Allah Toàn Năng, ta đã giết bà rồi.” Rồi nàng bảo họ: “Đánh nó nữa,” và họ làm vậy cho đến khi bà ngất lần thứ hai; bấy giờ nàng truyền họ kéo bà ra ngoài và ném bà bên ngoài cửa cung điện. Vậy họ kéo lê bà trên mặt bà và ném bà xuống trước cổng; nhưng vừa tỉnh lại, bà đứng dậy khỏi mặt đất, lúc đi lúc ngồi, lần đường về nhà. Ở đó bà qua đêm cho đến sáng; khi đứng dậy, bà đến với Taj al-Muluk và kể cho họ nghe tất cả những gì đã xảy ra. Chàng đau buồn trước tin dữ nặng nề ấy và nói: “Ôi mẹ của tôi, điều xảy đến với bà quả thật khắc nghiệt đối với chúng tôi, nhưng mọi sự đều theo định mệnh và phần số của con người.” Bà đáp: “Hãy vui lòng và giữ đôi mắt mát lành, trong trẻo, vì ta sẽ không thôi gắng sức cho đến khi đưa chàng và nàng đến với nhau, và cho chàng hưởng lạc thú với nàng phóng đãng đã đốt cháy da thịt ta bằng đòn đánh.” Vị hoàng tử hỏi: “Hãy nói cho tôi biết điều gì khiến nàng căm ghét đàn ông”; bà lão đáp: “Điều ấy phát sinh từ những gì nàng thấy trong một giấc mộng.” “Và giấc mộng ấy là gì?” “Là thế này: một đêm nọ, khi nàng đang ngủ, nàng thấy một người bẫy chim trải lưới trên mặt đất và rắc hạt lúa mì quanh lưới. Rồi hắn ngồi xuống gần đó, và chẳng có con chim nào trong vùng lân cận mà không kéo đến bẫy của hắn. Trong số đó nàng thấy một đôi bồ câu, trống và mái; trong khi nàng đang nhìn tấm lưới, kìa, chân chim trống mắc vào mắt lưới và nó bắt đầu vùng vẫy; bấy giờ tất cả những con chim khác hoảng sợ và bay đi. Nhưng lát sau bạn tình của nó quay lại, lượn trên đầu nó, rồi đáp xuống tấm lưới mà người bẫy chim không để ý, bắt đầu dùng mỏ mổ và kéo mắt lưới nơi chân chim trống bị vướng, cho đến khi nàng giải thoát những ngón chân ấy, và chúng cùng bay đi. Rồi người bẫy chim tiến đến, sửa lại lưới và ngồi cách xa. Sau chừng một giờ, đàn chim bay trở lại và con bồ câu mái mắc vào lưới; bấy giờ tất cả những con chim khác hoảng sợ và vội bay đi; còn con bồ câu trống trốn theo bọn kia và không quay lại với bạn tình của nó, nhưng người bẫy chim tiến đến, bắt con bồ câu mái và cắt cổ nó. Công chúa tỉnh dậy, bối rối vì giấc mộng của mình, và nói: ‘Mọi con trống đều giống con bồ câu này, những tạo vật vô giá trị: và đàn ông nói chung thiếu ơn nghĩa và lòng tốt đối với đàn bà.’” Khi bà lão kể xong câu chuyện của mình, vị hoàng tử nói với bà: “Ôi mẹ của tôi, tôi muốn được nhìn nàng một lần, dẫu điều đó là cái chết của tôi; vậy bà hãy bày cho tôi một mưu kế nào đó để được thấy nàng.” Bà đáp: “Vậy hãy biết rằng bên dưới các cửa sổ cung điện của nàng có một khu vườn nơi nàng tiêu khiển; và nàng đến đó mỗi tháng một lần qua cửa riêng. Sau mười ngày nữa, thời điểm nàng ra đó vui chơi sẽ đến; vậy khi nàng sắp đến thăm khu vườn, ta sẽ đến báo cho chàng, để chàng có thể tới đó và gặp nàng. Và hãy nhớ đừng rời khu vườn, bởi biết đâu, nếu nàng thấy vẻ đẹp và nét đáng yêu của chàng, trái tim nàng sẽ bị tình yêu dành cho chàng chiếm lấy, và tình yêu là phương tiện mạnh nhất để kết hợp.” Chàng nói: “Tôi nghe và vâng lệnh”; rồi chàng và Aziz đứng dậy, rời cửa hiệu, đưa bà lão theo và chỉ cho bà nơi họ trú ngụ. Sau đó Taj al-Muluk nói với Aziz: “Ôi huynh đệ của ta, nay ta không cần cửa hiệu nữa, vì đã hoàn thành mục đích của nó; vậy ta tặng nó cho huynh cùng mọi thứ trong đó, bởi huynh đã rời xứ đi cùng ta và đã bỏ quê hương vì ta.” Aziz nhận món quà của chàng, rồi họ ngồi trò chuyện, trong khi vị hoàng tử hỏi chàng về những cuộc phiêu lưu kỳ lạ đã xảy đến với chàng, và bạn đồng hành của chàng kể rõ các chi tiết. Lát sau, họ đến với Wazir và, báo cho ông biết ý định của Taj al-Muluk, hỏi ông: “Phải làm gì đây?” Ông đáp: “Chúng ta hãy đến khu vườn.” Vậy từng người một mặc y phục sang trọng nhất và lên đường, theo sau là ba nô lệ da trắng đến khu vườn, mà họ thấy rậm rạp những bụi cây và có các dòng rạch bao quanh. Khi thấy người coi vườn ngồi ở cổng, họ chào ông bằng lời Salam và ông đáp lễ. Rồi Wazir trao cho ông một trăm đồng vàng, nói: “Xin ông hãy nhận món tiền nhỏ này và mua cho chúng ta ít gì để ăn; vì chúng ta là khách lạ và ta có cùng ta hai chàng thiếu niên mà ta muốn làm cho vui.”[FN#39] Người làm vườn nhận những đồng sequin và nói với họ: “Hãy vào và tiêu khiển trong vườn, vì tất cả đều là của các vị; và hãy ngồi xuống cho đến khi tôi mang thức ăn các vị cần.” Vậy ông ra chợ, trong khi Wazir, Taj al-Muluk và Aziz bước vào khu vườn. Chẳng bao lâu sau khi rời đi đến chợ, người làm vườn trở lại với một con cừu non quay và bánh mì trắng như bông, đặt trước mặt họ; họ ăn và uống; sau đó ông dọn bánh mứt ngọt lên, họ ăn những thứ ấy, rửa tay rồi ngồi trò chuyện. Lát sau Wazir nói với người coi vườn: “Hãy kể cho ta nghe về khu vườn này: nó là của ông hay ông thuê nó?” Shaykh đáp: “Nó không thuộc về tôi, mà thuộc về con gái đức vua của chúng tôi, công chúa Dunya.” “Lương hằng tháng của ông là bao nhiêu?” Wazir hỏi, và ông đáp: “Một dinar, không hơn.” Bấy giờ vị Đại thần nhìn quanh khu vườn và, thấy ở giữa vườn một tòa đình cao lớn, bề thế nhưng cũ kỹ và bỏ không, bèn nói với người coi vườn: “Hỡi bậc trưởng lão, ta có ý làm tại đây một việc tốt, nhờ đó ông sẽ nhớ đến ta.” Người kia đáp: “Thưa chúa công, việc tốt mà ngài muốn làm là gì?” Wazir đáp: “Hãy nhận ba trăm dinar này.” Khi người coi vườn nghe nói đến vàng, ông nói: “Thưa chúa công, bất cứ điều gì ngài muốn, xin cứ làm!” Vậy Wazir trao tiền cho ông, nói: “Inshallah, chúng ta sẽ làm một việc tốt ở nơi này!” Rồi họ rời ông và trở về chỗ trọ, nơi họ qua đêm; sang ngày hôm sau, vị Đại thần sai gọi một thợ trát, một họa sĩ và một thợ kim hoàn khéo léo, cung cấp cho họ mọi công cụ họ cần, rồi đưa họ đến khu vườn, nơi ông truyền họ quét vôi các bức tường của tòa đình và trang trí nó bằng nhiều loại tranh vẽ. Hơn nữa ông cho mang vàng và lapis lazuli[FN#40] đến rồi nói với họa sĩ: “Hãy vẽ cho ta trên bức tường, ở đầu trên của sảnh này, một người bẫy chim với lưới giăng ra, chim sa vào đó và một con bồ câu mái bị vướng mỏ trong mắt lưới.” Và khi họa sĩ đã hoàn thành bức tranh ở một bên, Wazir nói: “Hãy vẽ cho ta ở bên kia một hình tương tự, và thể hiện con bồ câu mái một mình trong bẫy, còn người bẫy chim đang bắt lấy nó và kề dao vào cổ nó; rồi trên bức tường thứ ba, hãy vẽ một con chim săn mồi lớn đang chộp lấy con bồ câu trống, bạn tình của nó, và cắm móng vuốt vào nó.” Người nghệ sĩ làm theo lệnh ông, và khi ông ta cùng những người khác đã hoàn thành các hình vẽ, họ nhận tiền công rồi đi. Sau đó Wazir và các bạn đồng hành từ biệt người làm vườn và trở về nơi ở của mình, tại đó họ ngồi xuống trò chuyện. Và Taj al-Muluk nói với Aziz: “Ôi huynh đệ của ta, hãy ngâm cho ta vài vần thơ: có lẽ nó sẽ mở rộng lồng ngực ta, xua tan sầu khổ của ta và dập tắt ngọn lửa đang cháy trong tim ta.” Vậy Aziz ngâm bằng giọng ngân nga ngọt ngào những vần thơ này,

“Dẫu họ nói gì về nỗi sầu đến với những kẻ yêu nhau, *
Ta, kẻ yếu hèn này, một mình cũng có thể nhận hết về mình:
Nếu ngươi tìm chỗ lấy nước,[FN#41] đôi mắt tuôn dòng của ta *
Đổ ra những trận lũ có thể dập tắt cơn khát, dẫu nó bốc cháy ra sao
Hoặc nếu ngươi muốn thấy Tình yêu đã gây hoang tàn thế nào *
Bằng đôi tay tàn nhẫn, thì hãy nhìn thân hình hao mòn này.”

Và mắt chàng trào lệ, rồi chàng cũng lặp lại những vần thơ này,

“Kẻ không yêu cổ thiên nga và đôi mắt tựa linh dương, *
Mà vẫn tự nhận biết niềm vui của Đời, ta bảo hắn nói dối:
Trong Tình yêu có điều huyền nhiệm, chẳng ai có thể học được *
Ngoài kẻ yêu bằng lối yêu tinh tuyền.
Cầu Allah đừng bao giờ làm nhẹ trái tim ta khỏi tình yêu này, *
Cũng đừng cướp đi sự thức trắng mà đôi mi này quý trọng.”

Rồi chàng đổi điệu hát và hát những vần thơ này:

“Ibn Síná[FN#42] trong bộ Canon của mình cho rằng *
Phương thuốc tốt nhất cho kẻ yêu là khúc ca vui:
Trong cuộc gặp với người yêu cùng một bậc, *
Tráng miệng trong vườn, những chén rượu dài và mạnh:
Ta đã chọn một người khác có thể chữa ta khỏi nàng *
Trong khi Sức Mạnh và Vận May giúp đỡ tốt lành và dài lâu
Nhưng ôi! ta đã biết cơn bệnh chí tử của Tình yêu, trong đó *
Phương thuốc của Ibn Sina thật si mê và sai lầm.”

Sau khi nghe đến cuối, Taj al-Muluk hài lòng với những vần thơ của chàng và kinh ngạc trước tài hùng biện cùng sự xuất sắc trong lối ngâm đọc của chàng, nói rằng: “Quả thật huynh đã xua đi được phần nào nỗi sầu của ta.” Bấy giờ Wazir nói: “Quả thật, đã từng xảy ra với người xưa những điều làm kinh ngạc những ai nghe kể.” Vị hoàng tử nói: “Nếu ngài có thể nhớ ra điều gì thuộc loại này, xin hãy cho chúng tôi nghe những dòng tinh tế của ngài và tiếp tục câu chuyện.” Vậy vị Đại thần ngâm bằng giọng hát có điệu những vần thơ này,

“Quả thật ta từng tưởng ân huệ của nàng có thể mua được *
Bằng quà vàng và những vật làm hồn vui sướng
Và vì ngu dại, tưởng nàng là kẻ dễ yêu, *
Trong khi tình yêu của nàng có thể hạ thấp quyền lực cao nhất;
Cho đến khi ta thấy nàng chọn một người, người ấy *
Được yêu bằng mọi ân sủng, đội vương miện của mọi hoan lạc:
Rồi ta biết nàng chẳng bao giờ có thể bị chiếm lấy bằng mưu mẹo *
Và ta giấu đầu mình dưới cánh khỏi tầm nhìn
Và trong tổ say mê này ta lập chỗ ở, *
Nơi ta nép mình sớm, trưa và tối.”

Chuyện về họ là như thế; còn về phần bà lão, bà vẫn đóng kín mình khỏi thế gian trong nhà, cho đến khi xảy ra việc con gái nhà vua nảy ý muốn tiêu khiển trong khu vườn. Bấy giờ nàng vốn chưa từng quen làm thế ngoài khi có nhũ mẫu đi cùng; vì vậy nàng cho gọi bà đến, làm hòa với bà và xoa dịu nỗi buồn của bà, nói: “Ta muốn ra vườn, để tiêu khiển bằng cảnh cây cối và trái quả, và mở rộng lồng ngực bằng hương hoa.” Bà lão đáp: “Tôi nghe và vâng lệnh; nhưng trước tiên tôi muốn về nhà mình, rồi lát nữa sẽ ở bên người.” Công chúa đáp: “Hãy về nhà, nhưng đừng vắng mặt lâu khỏi ta.” Vậy bà lão rời nàng và, tìm đến Taj al-Muluk, nói với chàng: “Hãy chuẩn bị và mặc y phục sang trọng nhất của chàng, rồi đến khu vườn, tìm người làm vườn, chào ông ta, sau đó ẩn mình trong đó.” Chàng đáp: “Nghe là vâng”; và bà thỏa thuận với chàng một dấu hiệu, sau đó trở về với phu nhân Dunya. Ngay khi bà đi khỏi, Wazir và Aziz đứng dậy, mặc cho Taj al-Muluk một bộ vương phục lộng lẫy trị giá năm nghìn dinar, và thắt giữa lưng chàng một chiếc đai vàng gắn đá quý cùng kim loại quý. Rồi họ đến khu vườn và thấy người coi vườn ngồi ở cổng; vừa thấy vị hoàng tử, ông bật dậy đón chàng với mọi sự kính trọng và tôn nghiêm, mở cổng và nói: “Hãy vào và thỏa thích ngắm nhìn khu vườn.” Bấy giờ người làm vườn không biết rằng con gái nhà vua sẽ đến thăm nơi ấy vào ngày đó; nhưng khi Taj al-Muluk ở đó được một lát, chàng nghe một tiếng huyên náo, và chưa kịp suy nghĩ, các hoạn quan cùng thị nữ đã đi ra qua cửa riêng nhỏ. Người làm vườn thấy vậy bèn đến bên vị hoàng tử, báo cho chàng biết nàng đang đến và nói với chàng: “Thưa chúa công, phải làm gì đây? Công chúa Dunya, con gái nhà vua, đang ở đây.” Vị hoàng tử đáp: “Đừng sợ, sẽ chẳng có hại gì xảy đến với ông; vì ta sẽ ẩn mình đâu đó trong vườn.” Vậy người coi vườn hết sức khuyên chàng thận trọng rồi đi khỏi. Lát sau công chúa bước vào khu vườn cùng các thị nữ và bà lão, người tự nhủ: “Nếu các hoạn quan này ở lại với chúng ta, chúng ta sẽ không đạt được mục đích.” Vậy bà nói với con gái nhà vua: “Ôi phu nhân của tôi, tôi có điều muốn thưa với người, điều sẽ làm lòng người nhẹ đi.” Công chúa nói: “Hãy nói điều bà muốn nói.” “Ôi phu nhân của tôi,” bà lão đáp, “người chẳng cần những hoạn quan này vào một lúc như hiện tại; người cũng sẽ không thể tiêu khiển theo ý mình khi họ ở cùng chúng ta; vậy hãy cho họ lui đi”; và phu nhân Dunya đáp: “Bà nói đúng.” Theo đó nàng cho họ lui, rồi bắt đầu dạo bước, trong khi Taj al-Muluk nhìn nàng và nuôi đôi mắt mình bằng vẻ đẹp cùng nét yêu kiều của nàng (nhưng nàng không biết); và mỗi lần chàng nhìn nàng, chàng lại ngất đi vì sức quyến rũ vượt bậc của nàng.[FN#43] Bà lão dẫn nàng đi bằng câu chuyện cho đến khi họ tới tòa đình mà Wazir đã truyền trang trí; khi công chúa bước vào, liếc nhìn quanh và nhận thấy bức tranh chim chóc, người bẫy chim và con bồ câu, nàng kêu lên: “Allah tối cao thay! Đây đúng là hình ảnh giống hệt những gì ta đã thấy trong giấc mộng.” Nàng tiếp tục nhìn các hình chim và người bẫy chim cùng tấm lưới của hắn, thán phục công trình ấy, rồi lát sau nàng nói: “Ôi nhũ mẫu của ta, ta vốn quen trách cứ và ghét đàn ông, nhưng nay hãy nhìn người bẫy chim xem hắn đã giết con chim mái, con đã giải thoát bạn tình của nó; trong khi con trống vốn định quay lại với nó và giúp nó trốn thoát thì lại gặp chim săn mồi và bị xé thành từng mảnh.” Bấy giờ bà lão giả vờ không biết với nàng và không ngừng giữ nàng trong chuyện trò, cho đến khi họ đến gần nơi Taj al-Muluk đang ẩn mình. Khi ấy bà ra dấu cho chàng bước ra và đi dưới các cửa sổ của tòa đình, và khi phu nhân Dunya đứng nhìn từ ô cửa sổ, kìa, ánh mắt nàng rơi về phía ấy, nàng thấy chàng và nhận ra vẻ đẹp nơi gương mặt cùng hình dáng chàng, bèn nói với bà lão: “Ôi nhũ mẫu của ta, chàng trai tuấn tú đằng kia từ đâu đến?” Bà lão đáp: “Tôi chẳng biết gì về chàng, ngoài việc tôi nghĩ chàng hẳn phải là con trai của một vị vua lớn, vì chàng đạt đến vẻ tuấn mỹ quá độ và nét yêu kiều đến cực điểm.” Và phu nhân Dunya yêu chàng đến mê dại; những bùa chú trói buộc nàng được tháo gỡ, lý trí nàng bị vẻ đẹp và phong thái của chàng khuất phục; tầm vóc và tỷ lệ đẹp đẽ của chàng cũng mạnh mẽ kích động những ham muốn xác thịt nơi nàng. Vậy nàng nói: “Ôi nhũ mẫu của ta! Quả thật đây là một chàng trai tuấn tú”; và bà lão đáp: “Người nói đúng, thưa phu nhân của tôi,” rồi ra dấu cho Taj al-Muluk trở về nhà. Và dẫu ham muốn cùng khát khao bốc cháy trong chàng, và chàng rối loạn vì tình yêu, chàng vẫn đi khỏi, từ biệt người làm vườn và trở về nơi ở của mình, vâng lời bà lão và không dám trái ý bà. Khi chàng kể cho Wazir và Aziz rằng bà đã ra dấu cho chàng rời đi, họ khuyên chàng kiên nhẫn, nói: “Nếu lão bà ấy không biết có một mục đích cần đạt được bằng việc chúa công rời đi, bà đã chẳng ra hiệu cho chúa công trở về nhà.” Tình cảnh của Taj al-Muluk, Wazir và Aziz là như thế; còn về phần con gái nhà vua, phu nhân Dunya, ham muốn và đam mê trong nàng tăng gấp bội; nàng bị tình yêu và khát vọng khuất phục, và nàng nói với nhũ mẫu của mình: “Ta không biết làm sao để sắp xếp một cuộc gặp với chàng trai này, ngoài nhờ bà.” Bà lão kêu lên: “Ta cầu Allah che chở khỏi Satan bị ném đá! Người vốn ghét đàn ông kia mà! Sao nay người lại bị khổ bởi hy vọng và sợ hãi vì chàng trai này? Tuy vậy, thề bởi Allah, chẳng ai xứng với tuổi xuân của người ngoài chàng.” Phu nhân Dunya nói: “Ôi nhũ mẫu của ta, hãy giúp việc của ta và giúp ta gặp gỡ chàng, rồi bà sẽ có từ ta một nghìn dinar và một bộ áo vinh dự cũng đáng giá từng ấy: nhưng nếu bà không giúp ta đến được với chàng, thì ta quả thật là một người đàn bà đã chết.” Lão bà đáp: “Hãy về cung điện của người và để tôi tự nghĩ cách đưa đôi người đến với nhau. Tôi sẽ ném bỏ mạng sống của mình để làm hài lòng cả hai người!” Vậy phu nhân Dunya trở về cung điện, còn bà lão tìm đến Taj al-Muluk; khi chàng thấy bà, chàng đứng dậy đón bà và đối đãi với bà bằng sự kính trọng cùng tôn nghiêm, mời bà ngồi bên cạnh mình. Rồi bà nói: “Mưu kế đã thành công,” và kể cho chàng nghe tất cả những gì đã xảy ra giữa bà và công chúa. Chàng hỏi bà: “Khi nào cuộc gặp của chúng tôi sẽ diễn ra?”; bà đáp: “Ngày mai.” Vậy chàng trao cho bà một nghìn dinar và một bộ áo cùng giá trị; bà nhận lấy và không ngơi bước cho đến khi trở về với chủ nhân của mình, người nói với bà: “Ôi nhũ mẫu của ta! Có tin gì về người yêu dấu?” Bà đáp: “Tôi đã biết nơi chàng ở và ngày mai sẽ đưa chàng đến với người.” Nghe vậy công chúa vui mừng, trao cho bà một nghìn dinar và một bộ áo cũng đáng giá từng ấy; bà nhận lấy rồi trở về chỗ của mình, nơi bà qua đêm cho đến sáng. Rồi bà đến với Taj al-Muluk và mặc cho chàng y phục đàn bà, nói với chàng: “Hãy theo ta và lắc lư từ bên này sang bên kia[FN#44] khi bước, chớ vội vàng cũng đừng để ý bất kỳ ai nói với chàng.” Sau khi căn dặn chàng như vậy, bà đi ra, vị hoàng tử theo sau trong y phục đàn bà, và bà tiếp tục căn dặn cùng khích lệ chàng trên đường, để chàng khỏi sợ; họ không ngừng bước cho đến khi tới cổng cung điện. Bà bước vào và vị hoàng tử theo sau bà, rồi bà dẫn chàng đi tiếp, qua những cửa và tiền sảnh, cho đến khi họ đã vượt qua bảy cửa.[FN#45] Khi đến gần cửa thứ bảy, bà nói với chàng: “Hãy làm vững lòng chàng, và khi ta gọi chàng, nói rằng: ‘Hỡi cô gái, đi tiếp đi!’ thì đừng chậm bước, mà hãy tiến như thể sắp chạy. Khi chàng ở trong tiền sảnh, hãy nhìn sang bên trái, chàng sẽ thấy một đại sảnh có nhiều cửa: đếm năm cửa và vào cửa thứ sáu, vì trong đó là điều chàng mong muốn.” Taj al-Muluk hỏi: “Còn bà sẽ đi đâu?”; bà đáp: “Ta chẳng đi đâu cả, trừ việc có lẽ ta sẽ tụt lại sau chàng, và hoạn quan trưởng có thể giữ ta lại để trò chuyện với hắn.” Bà bước tiếp (chàng theo sau bà) cho đến khi tới cánh cửa nơi hoạn quan trưởng đang đứng; hắn thấy Taj al-Muluk đi cùng bà, mặc như một nữ nô, bèn nói với bà lão: “Cô gái này có việc gì với bà?” Bà đáp: “Đây là một nữ nô mà phu nhân Dunya đã nghe rằng nàng giỏi nhiều loại công việc khác nhau, và nàng có ý muốn mua nàng.” Hoạn quan đáp: “Ta không biết nữ nô hay bất cứ ai khác; và không ai được vào đây mà không bị ta lục soát theo lệnh của nhà vua.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi lăm,

Contents of the Third Volume#9

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng hoạn quan thị thần quát bà lão: “Ta không biết nữ nô hay bất kỳ ai khác; và không ai được vào đây mà không bị ta lục soát theo lệnh của nhà vua.” Bấy giờ bà, giả vờ nổi giận, nói: “Ta từng tưởng ngươi là kẻ có trí và biết lễ giáo; nhưng nếu ngươi đã đổi khác, ta sẽ cho công chúa biết việc ấy và kể với nàng rằng ngươi cản trở nữ nô của nàng”; rồi bà gọi lớn với Taj al-Muluk, nói: “Đi tiếp đi, hỡi cô gái!” Vậy chàng đi tiếp vào tiền sảnh như bà đã bảo, trong khi hoạn quan im lặng và không nói thêm lời nào. Vị hoàng tử đếm năm cửa và bước vào cửa thứ sáu, nơi chàng thấy công chúa Dunya đang đứng đợi mình. Vừa thấy chàng, nàng nhận ra chàng và ôm chàng vào ngực, còn chàng cũng ôm nàng vào lòng. Lát sau bà lão bước vào với họ, sau khi đã kiếm cớ cho các nữ nô của công chúa lui đi vì sợ tai tiếng; và phu nhân Dunya nói với bà: “Bà hãy làm người giữ cửa cho chúng ta!” Vậy nàng và Taj al-Muluk ở lại riêng với nhau, không ngừng hôn nhau, ôm nhau và quấn chân vào chân nhau cho đến bình minh.[FN#46] Khi trời gần sáng, nàng rời chàng và, khóa cửa nhốt chàng lại, đi sang một phòng khác, nơi nàng ngồi xuống như thường lệ, trong khi các nữ nô của nàng bước vào, nàng lo liệu công việc của họ và trò chuyện với họ. Rồi nàng nói với họ: “Giờ hãy ra khỏi đây, vì ta muốn tiêu khiển riêng tư.” Vậy họ lui ra và nàng đến với Taj al-Muluk; bà lão mang thức ăn cho họ, họ ăn rồi trở lại với trò đùa ái ân cho đến bình minh. Rồi cửa lại bị khóa nhốt chàng như ngày trước; và họ không ngừng làm như vậy suốt một tháng trọn. Đó là việc đã xảy ra với Taj al-Muluk và phu nhân Dunya; còn về phần Wazir và Aziz, khi họ thấy vị hoàng tử đã vào cung điện của con gái nhà vua và chậm trễ ở đó suốt thời gian ấy, họ kết luận rằng chàng sẽ không bao giờ trở ra khỏi đó và rằng chàng đã mất mãi mãi; Aziz nói với Wazir: “Ôi phụ thân của tôi, chúng ta phải làm gì?” Ông đáp: “Ôi con trai ta, đây là một việc khó khăn, và nếu chúng ta không trở về với phụ vương chàng để kể cho ngài biết, ngài sẽ trách chúng ta vì việc ấy.” Vậy họ lập tức chuẩn bị và ngay tức thì lên đường về Xứ Xanh và Xứ Hai Cột Trụ, tìm đến kinh đô của Sulayman Shah. Họ băng qua các thung lũng ngày đêm cho đến khi vào gặp nhà vua, và báo cho vua biết điều đã xảy đến với con trai ngài, cùng việc từ khi chàng vào cung điện của công chúa họ chẳng nghe được tin tức gì về chàng. Nghe vậy, đối với nhà vua như thể Ngày Phán Xét đã rạng lên, nỗi hối tiếc đè nặng trên ngài, và ngài tuyên bố một cuộc Thánh chiến[FN#47] khắp vương quốc của mình. Sau đó ngài phái đại quân ra ngoài thành, dựng lều cho họ và tự mình ở trong đình trướng, trong khi quân trưng tập từ mọi miền vương quốc kéo đến; bởi thần dân yêu mến ngài vì đức công minh và lòng hào hiệp lớn lao của ngài. Rồi ngài hành quân với một đạo quân chắn kín chân trời, lên đường tìm kiếm con trai. Chuyện về họ đến đây; còn về phần Taj al-Muluk và phu nhân Dunya, hai người vẫn ở như vậy trong nửa năm, mỗi ngày họ lại tăng gấp bội tình ái dành cho nhau; và tình yêu, nỗi khát khao, đam mê cùng ham muốn dồn ép Taj al-Muluk đến nỗi cuối cùng chàng mở lòng mình và nói với nàng: “Hãy biết, ôi người yêu của tim ta và gan ruột ta, rằng ta càng ở lâu bên nàng thì tình yêu, nỗi khát khao, đam mê và ham muốn trong ta càng tăng thêm, bởi ta vẫn chưa hoàn thành trọn vẹn điều ước của mình.” Nàng hỏi: “Vậy chàng còn muốn gì, ôi ánh sáng của mắt thiếp và trái quả của gan ruột thiếp? Nếu chàng muốn điều gì ngoài hôn nhau, ôm nhau và quấn chân vào chân nhau, hãy làm điều chàng thích; vì, thề bởi Allah, không một kẻ chung phần nào có phần trong chúng ta.”[FN#48] Nhưng chàng đáp: “Đó không phải điều ta muốn: ta muốn cho nàng biết câu chuyện thật của ta. Vậy hãy biết rằng ta không phải thương nhân, không, ta là một vị vua, con trai của một vị vua, và tên phụ vương ta là đại vương Sulayman Shah, người đã sai Wazir làm sứ giả đến phụ vương nàng, để cầu hôn nàng cho ta; nhưng khi tin ấy đến tai nàng, nàng đã không thuận.” Rồi chàng kể cho nàng nghe quá khứ của mình từ đầu đến cuối, mà chuyện kể hai lần thì chẳng ích gì, và chàng nói thêm: “Nay ta muốn trở về với phụ vương ta, để ngài sai một sứ giả đến phụ vương nàng, cầu hôn nàng cho ta, như vậy chúng ta có thể được yên ổn.” Khi nàng nghe những lời ấy, nàng vui mừng khôn xiết vì điều ấy hợp với ước muốn của chính nàng, và họ qua đêm trong sự đồng thuận ấy. Nhưng do sắc lệnh của Định Mệnh, đêm ấy hơn mọi đêm khác, giấc ngủ thắng họ và họ còn ngủ cho đến khi mặt trời đã mọc. Bấy giờ vào giờ ấy, vua Shahriman đang ngồi trên đệm ngự, trước mặt là các Emir và đại thần, thì vị Syndic của những người thợ kim hoàn trình diện trước tay vua, mang theo một chiếc hộp lớn. Ông tiến lên, mở nó ra trước mặt nhà vua, lấy từ trong ấy ra một tráp nhỏ chế tác tinh xảo trị giá một trăm nghìn dinar, vì những thứ bên trong gồm đá quý, hồng ngọc và ngọc lục bảo vượt quá khả năng bất kỳ bậc quân vương nào trên đời có thể sắm được. Khi nhà vua thấy nó, ngài kinh ngạc trước vẻ đẹp của nó; rồi quay sang hoạn quan trưởng (chính kẻ mà bà lão từng phải đối phó), nói với hắn: “Hỡi Kafur,[FN#49] hãy cầm chiếc tráp này và đem nó đến cho công chúa Dunya.” Kẻ bị thiến nhận tráp, đi đến căn phòng của con gái nhà vua, thấy cửa đóng và bà lão đang ngủ trên ngưỡng cửa; hắn nói: “Sao! Ngủ vào giờ này ư?” Khi bà lão nghe tiếng hoạn quan, bà giật mình tỉnh giấc, kinh hãi và nói với hắn: “Hãy đợi để ta đi lấy chìa khóa.” Rồi bà đi ra và bỏ chạy để giữ mạng mình. Tình cảnh của bà là như vậy; còn về phần kẻ ái nam, thấy bà hoảng sợ, hắn nhấc cánh cửa khỏi bản lề,[FN#50] bước vào và thấy phu nhân Dunya đang vòng tay quanh cổ Taj al-Muluk, cả hai ngủ say. Trước cảnh ấy hắn sửng sốt và đang chuẩn bị trở về với nhà vua, thì công chúa thức dậy, thấy hắn, bèn kinh hãi, đổi sắc mặt và tái nhợt, rồi nói với hắn: “Hỡi Kafur, hãy che giấu điều Allah đã che giấu!”[FN#51] Nhưng hắn đáp: “Ta không thể giấu điều gì khỏi nhà vua”; rồi khóa cửa nhốt họ lại, trở về với Shahriman. Vua hỏi hắn: “Ngươi đã trao chiếc tráp cho công chúa chưa?” Hoạn quan đáp: “Xin cầm lấy chiếc tráp, nó đây, vì thần không thể giấu ngài điều gì. Hãy biết rằng thần thấy một chàng trai tuấn tú bên cạnh công chúa, cả hai ngủ trên một giường và ôm nhau.” Nhà vua truyền đem họ vào diện kiến và nói với họ: “Đây là chuyện kiểu gì?” Rồi vì nổi giận dữ dội, ngài chộp lấy một con dao găm và sắp đâm Taj al-Muluk bằng nó, thì phu nhân Dunya nhào lên người chàng và nói với cha mình: “Xin hãy giết con trước khi giết chàng.” Nhà vua mắng nhiếc nàng và truyền đưa nàng về phòng; sau đó ngài quay sang Taj al-Muluk và nói với chàng: “Khốn cho ngươi! ngươi từ đâu đến? Cha ngươi là ai và điều gì khiến ngươi cả gan làm ô uế con gái ta?” Vị hoàng tử đáp: “Hãy biết, tâu đức vua, rằng nếu ngài xử tử tôi, ngài là kẻ mất hết, và ngài cùng mọi người trong lãnh thổ của ngài sẽ hối hận vì việc ấy.” Vua hỏi: “Sao lại thế?”; Taj al-Muluk đáp: “Hãy biết rằng tôi là con trai của vua Sulayman Shah, và trước khi ngài kịp biết, ngài ấy sẽ kéo cả kỵ binh lẫn bộ binh đến trên đầu ngài.” Khi vua Shahriman nghe những lời ấy, ngài muốn trì hoãn việc giết Taj al-Muluk và thà giam chàng vào ngục cho đến khi xem xét sự thật trong lời chàng; nhưng Wazir của ngài nói với ngài: “Tâu đức vua của Thời Đại, theo ý thần, ngài nên mau chóng giết con chim giá treo cổ này, kẻ dám cả gan làm ô uế con gái của các vua.” Vậy nhà vua gọi đao phủ: “Chém đầu hắn; vì hắn là kẻ phản nghịch.” Theo đó, đao phủ bắt chàng, trói chặt và giơ tay lên hướng về các Emir, ra dấu hỏi ý họ, lần thứ nhất rồi lần thứ hai, nghĩ nhờ vậy có thể kéo dài thời gian trong việc này;[FN#52] nhưng nhà vua giận dữ quát hắn: “Ngươi còn hỏi ý kẻ khác đến bao giờ? Nếu ngươi hỏi họ lần nữa, ta sẽ chém đầu chính ngươi.” Vậy đao phủ giơ tay lên đến nỗi lộ cả lông nách, và sắp chém cổ chàng,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi sáu,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng đao phủ đã giơ tay lên định chém đầu chàng thì kìa, những tiếng kêu lớn nổi lên và dân chúng đóng cửa hiệu; bấy giờ nhà vua nói với đao phủ: “Hãy đợi một lát,” rồi phái một người đi dò tin. Sứ giả lên đường và lát sau trở về báo: “Thần thấy một đạo quân như biển xô, sóng va ầm ầm: ngựa của họ nhảy chồm đến nỗi đất rung dưới vó; và thần chẳng biết thêm gì về họ.” Khi nhà vua nghe vậy, ngài bàng hoàng và lo sợ cho vương quốc của mình, e nó bị giật khỏi tay ngài; vì vậy ngài quay sang quan Đại thần và nói: “Chẳng lẽ không có đạo quân nào của ta ra nghênh chiến đạo quân này sao?” Nhưng ngài chưa nói dứt lời, các thị thần của ngài đã bước vào cùng các sứ giả của vị vua đang tiến đến, và trong số họ có Wazir đã đi cùng Taj al-Muluk. Họ bắt đầu bằng việc chào nhà vua, ngài đứng dậy đón họ và truyền họ đến gần, rồi hỏi nguyên do họ đến; bấy giờ vị Đại thần tiến ra từ giữa họ, đứng trước mặt vua và nói: “Hãy biết rằng người đã giáng xuống vương quốc của ngài không phải là một vị vua giống các vua thuở xưa và các Sultan đã qua.” Shahriman hỏi: “Vậy người ấy là ai?” Wazir đáp: “Ngài là Chúa tể của công lý và lòng trung nghĩa, người mà tiếng tăm độ lượng đã được các đoàn lữ hành truyền rực khắp nơi, Sultan Sulayman Shah, Chúa tể Xứ Xanh và Hai Cột Trụ cùng các núi Ispahan; người yêu công lý và công bằng, ghét áp bức và bất nghĩa. Và ngài ấy nói với ngài rằng con trai ngài ấy đang ở nơi ngài và trong thành của ngài; con trai ấy là lõi tim của ngài ấy và trái quả từ thắt lưng ngài ấy, và nếu ngài ấy thấy chàng bình an, mục đích ngài ấy đã đạt, ngài sẽ nhận được lời cảm tạ và ca ngợi; nhưng nếu chàng đã mất khỏi vương quốc của ngài, hoặc nếu có điều ác nào xảy đến với chàng, thì hãy đợi lấy sự hủy diệt và sự tàn phá triều đại của ngài! vì thành này của ngài sẽ trở thành đồng hoang, nơi quạ kêu vang. Ta đã truyền xong sứ mệnh đến ngài, và bình an ở cùng ngài!” Khi vua Shahriman nghe những lời này từ sứ giả, trái tim ngài rối loạn và ngài lo sợ cho vương quốc của mình; vì vậy ngài gọi lớn các đại thần và quan Đại thần, thị thần và phó tướng; và khi họ xuất hiện, ngài nói với họ: “Khốn cho các ngươi! Hãy xuống tìm chàng trai ấy.” Bấy giờ vị hoàng tử vẫn còn dưới tay đao phủ, nhưng chàng đã đổi khác vì cơn kinh sợ vừa trải qua. Lát sau, Wazir tình cờ đưa mắt nhìn quanh, thấy vị hoàng tử trên tấm thảm máu và nhận ra chàng; vậy ông đứng dậy, lao mình đến bên chàng, và các sứ giả khác cũng làm vậy. Rồi họ bắt đầu tháo dây trói cho chàng, hôn tay và chân chàng, bấy giờ Taj al-Muluk mở mắt ra và, nhận ra Wazir của phụ vương cùng bạn mình Aziz, ngất đi vì quá đỗi vui mừng khi thấy họ. Khi vua Shahriman chắc chắn rằng sự xuất hiện của đạo quân này quả thật là vì chàng trai ấy, ngài bàng hoàng và sợ hãi vô cùng; vậy ngài tiến đến Taj al-Muluk, hôn đầu chàng và nói: “Ôi con trai ta, xin đừng giận ta, cũng đừng trách kẻ có tội vì tội của hắn; mà hãy thương lấy mái tóc bạc của ta, và đừng làm vương quốc ta hoang phế.” Bấy giờ Taj al-Muluk đến gần ngài, hôn tay ngài và đáp: “Sẽ chẳng có hại gì đến với ngài, vì quả thật ngài đối với tôi như cha tôi; nhưng hãy xem chừng đừng để điều gì xảy đến với người yêu của tôi, phu nhân Dunya!” Nhà vua đáp: “Thưa chúa công! xin đừng lo cho nàng; chẳng gì ngoài niềm vui sẽ xảy đến với nàng”; rồi ngài tiếp tục tự biện bạch và giảng hòa với Wazir của Sulayman Shah, người mà ngài hứa ban nhiều tiền nếu ông che giấu với nhà vua những gì ông đã thấy. Sau đó ngài truyền các quan trưởng đưa vị hoàng tử đi cùng họ đến Hammam, mặc cho chàng một trong những bộ y phục tốt nhất của chính ngài và mau chóng đưa chàng trở lại. Vậy họ vâng lệnh và đưa chàng đến nhà tắm, mặc cho chàng bộ y phục mà vua Shahriman đã dành riêng cho chàng; rồi đưa chàng trở lại phòng diện kiến. Khi chàng bước vào, nhà vua đứng dậy đón chàng và khiến tất cả các đại thần đứng hầu chàng. Sau đó Taj al-Muluk ngồi xuống trò chuyện với Wazir của phụ vương và với Aziz, rồi chàng kể cho họ nghe những gì đã xảy đến với mình; sau đó họ nói với chàng: “Trong thời gian chúa công chậm trễ ấy, chúng tôi đã trở về với phụ vương chúa công và báo cho ngài biết rằng chúa công đã vào cung điện của công chúa và không trở ra, và tình trạng của chúa công đối với chúng tôi dường như đáng ngờ. Nhưng khi phụ vương chúa công nghe việc này, ngài tập hợp binh lực; rồi chúng tôi đến xứ này, và quả thật sự đến của chúng tôi đã đem cho chúa công sự giải cứu trong lúc cùng cực, còn cho chúng tôi niềm vui lớn.” Chàng nói: “Vận may đã theo mọi hành động của các ông, từ đầu đến cuối.” Trong khi việc này diễn ra, vua Shahriman vào gặp con gái mình là công chúa Dunya, và thấy nàng đang than khóc vì Taj al-Muluk. Hơn nữa, nàng đã lấy một thanh kiếm, cắm chuôi xuống đất và đặt mũi kiếm vào giữa trái tim mình, giữa hai bầu ngực; nàng cúi người trên lưỡi kiếm và nói: “Ta nhất định phải tự giết mình, không sống sót sau người yêu của ta.” Khi phụ vương nàng bước vào và thấy nàng trong tình cảnh ấy, ngài kêu lên với nàng rằng: “Ôi công chúa của các con gái vua, hãy dừng tay và thương xót cha con cùng dân chúng trong vương quốc của con!” Rồi ngài đến bên nàng và nói tiếp: “Đừng để một điều xấu xảy đến với cha con vì cớ con!” Và ngài kể cho nàng toàn bộ câu chuyện rằng người yêu của nàng là con trai vua Sulayman Shah và tìm nàng làm vợ, rồi nói thêm: “Hôn sự chỉ còn chờ sự thuận ý của con.” Nghe vậy nàng mỉm cười và nói: “Con đã chẳng nói với cha rằng chàng là con trai của một Sultan sao? Thề bởi Allah, không còn cách nào khác ngoài việc con để chàng đóng đinh cha trên một mảnh gỗ đáng giá hai đồng bạc!” Nhà vua đáp: “Ôi con gái ta, hãy thương xót ta, để Allah thương xót con!” Nàng nói: “Cha hãy đứng dậy, mau lên và đem chàng đến cho con không chậm trễ.” Nhà vua đáp: “Việc ấy đặt trên đầu và mắt ta!”; rồi ngài rời nàng, vội vã đi vào chỗ Taj al-Muluk và lặp lại những lời nàng nói bên tai chàng.[FN#53] Vậy chàng đứng dậy và theo nhà vua đến với công chúa; khi nàng bắt gặp người yêu, nàng nắm lấy chàng, ôm chàng trước mặt cha mình, treo mình trên người chàng và hôn chàng, nói: “Chàng đã làm thiếp hoang tàn vì sự vắng mặt của chàng!” Rồi nàng quay sang cha mình và nói: “Cha từng thấy ai có thể làm hại một hữu thể đẹp đẽ như thế này chưa, hơn nữa chàng còn là vua, con trai của vua và thuộc dòng tự do sinh ra,[FN#54] được gìn giữ khỏi những việc hèn hạ?” Bấy giờ vua Shahriman đi ra, tự tay đóng cửa lại cho họ; rồi ngài trở về với Wazir và các sứ giả khác của Sulayman Shah, truyền họ báo cho vua của họ biết rằng con trai ngài đang khỏe mạnh, vui mừng và hưởng mọi lạc thú của đời sống cùng người yêu. Vậy họ trở về với vua Sulayman và báo cho ngài biết việc này; bấy giờ vua Shahriman ra lệnh phát tiền và lương thực hào phóng cho quân đội của vua Sulayman Shah; và khi họ đã chuyển xong mọi thứ ngài truyền, ngài lại truyền đem ra một trăm tuấn mã, một trăm lạc đà chạy nhanh, một trăm nô lệ da trắng, một trăm nàng hầu, một trăm nô lệ da đen và một trăm nữ nô; tất cả những thứ ấy ngài gửi đến nhà vua làm lễ vật. Sau đó ngài lên ngựa, cùng các đại thần và quan trưởng, cưỡi ra khỏi thành theo hướng doanh trại của nhà vua. Ngay khi Sultan Sulayman Shah biết về sự đến của ngài, ngài đứng dậy và bước nhiều bước tiến ra đón. Bấy giờ Wazir và Aziz đã kể cho ngài toàn bộ tin tức, khiến ngài vui mừng và kêu lên: “Ngợi ca Allah, Đấng đã ban cho con trai ta điều ước thân yêu nhất!” Rồi vua Sulayman ôm vua Shahriman trong tay và mời ngài ngồi bên cạnh mình trên long sàng, nơi họ trò chuyện một lúc và lấy làm vui trong cuộc chuyện trò với nhau. Lát sau thức ăn được dọn trước mặt họ, họ ăn cho đến khi thỏa mãn; bánh mứt và trái cây khô được mang ra, và họ hưởng món tráng miệng. Sau một lúc, Taj al-Muluk đến với họ, ăn mặc lộng lẫy và trang điểm rực rỡ; khi phụ vương thấy chàng, ngài đứng dậy, ôm chàng và hôn chàng. Rồi tất cả những người đang ngồi đều đứng dậy để tỏ lòng tôn kính chàng; hai vị vua mời chàng ngồi giữa họ, và họ trò chuyện một lúc, sau đó vua Sulayman Shah nói với vua Shahriman: “Ta muốn khế ước hôn nhân giữa con trai ta và con gái ngài được lập trước mặt các nhân chứng, để hôn lễ được công khai, đúng như phong tục của các vua.” Vua Shahriman nói: “Tôi nghe và vâng lệnh,” rồi triệu Kazi và các nhân chứng, họ đến và viết khế ước hôn nhân giữa Taj al-Muluk và phu nhân Dunya. Rồi họ ban bakhshish[FN#55] bằng tiền và bánh kẹo; hào phóng đốt hương và rảy hương liệu; quả thật đó là một ngày vui mừng và hân hoan, mọi đại thần cùng binh sĩ đều vui trong ngày ấy. Sau đó vua Shahriman lo của hồi môn và trang bị cho con gái mình; còn Taj al-Muluk nói với phụ vương: “Quả thật chàng trai Aziz này là người hào hiệp và đã làm cho con một việc đáng kể, khi chịu đựng mệt nhọc cùng con; chàng đã đi đường với con và đưa con đến điều con mong muốn. Chàng không ngừng nhẫn nại với con và khuyên con kiên nhẫn cho đến khi con hoàn thành ý định; nay chàng đã ở lại cùng chúng ta trọn hai năm, và bị cắt rời khỏi quê hương mình. Vì vậy giờ con định trang bị cho chàng hàng hóa, để chàng rời khỏi đây với lòng nhẹ nhõm; bởi xứ sở của chàng ở gần.” Cha chàng đáp: “Lời khuyên của con là đúng”; vậy họ chuẩn bị một trăm kiện những thứ vải vóc sang trọng và đắt giá nhất, và Taj al-Muluk tặng chúng cùng rất nhiều tiền cho Aziz, rồi từ biệt chàng, nói: “Ôi huynh đệ của ta và người bạn chân thật của ta! hãy nhận những kiện hàng này và nhận chúng từ ta như quà tặng và dấu hiệu tình cảm, rồi hãy bình an trở về xứ sở của huynh.” Aziz nhận các lễ vật và hôn mặt đất giữa hai tay của vị hoàng tử cùng phụ vương chàng, rồi từ biệt họ. Hơn nữa, Taj al-Muluk lên ngựa và tiễn chàng ba dặm trên đường về nhà như bằng chứng tình thân, sau đó Aziz khẩn khoản xin chàng quay lại, nói: “Thề bởi Allah, ôi chủ nhân của tôi, nếu không vì mẹ tôi, tôi chẳng bao giờ rời xa ngài! Nhưng, thưa chúa công tốt lành của tôi! xin đừng để tôi không có tin tức của ngài.” Taj al-Muluk đáp: “Sẽ như vậy!” Rồi vị hoàng tử trở về thành, còn Aziz tiếp tục hành trình cho đến khi đến thành quê hương; chàng bước vào đó và không ngừng đi cho đến khi vào gặp mẹ mình, thấy bà đã dựng cho chàng một ngôi mộ tưởng niệm ở giữa nhà và thường xuyên đến thăm nó. Khi chàng bước vào, chàng thấy bà tóc rối tung, xõa phủ trên mộ, đang khóc và lặp lại những dòng này,

“Quả thật ta mạnh để chịu mọi điều xảy đến; *
Nhưng yếu lòng trước tai họa ghê gớm của chia lìa như thế:
Trái tim nào chịu nổi sự xa cách của bạn yêu? *
Sức nào chống nổi cuộc tấn công của phân ly?”

Rồi những tiếng nức nở bật ra từ ngực bà, và bà cũng đọc những vần thơ này,

“Đây là gì? Ta đi qua những nấm mộ, âu yếm chào *
Những nơi ở cuối cùng của bạn ta, nhưng họ chẳng gửi lời đáp:
Vì mỗi bạn nói rằng, ‘Ta đáp lại sao được *
Khi ta nằm cầm cố cho đất sét và thế chấp cho đá?
Đất đã ăn mất vẻ duyên dáng của ta và ta quên *
Tình yêu của ngươi, ta, kẻ nghèo bị đày xa khỏi thân tộc họ hàng.’ ”

Contents of the Third Volume#10

Khi bà đang như vậy, kìa, Aziz bước vào với bà, và khi thấy chàng, bà ngã xuống, ngất đi vì quá đỗi vui mừng. Chàng rảy nước lên mặt bà cho đến khi bà tỉnh lại; rồi bà đứng dậy, ôm chàng trong tay và ghì chàng vào ngực, trong khi chàng cũng ôm bà như vậy. Sau đó chàng chào bà và bà chào chàng, rồi bà hỏi nguyên do chàng vắng mặt lâu đến thế; bấy giờ chàng kể cho bà nghe tất cả những gì đã xảy đến với chàng từ đầu đến cuối, và cho bà biết Taj al-Muluk đã tặng chàng một trăm kiện tiền bạc cùng vải vóc. Nghe vậy bà vui mừng, và Aziz ở lại với mẹ mình trong thành quê hương, khóc thương những tai họa đã xảy đến với chàng bởi con gái của Dalilah Mưu Trí, chính nàng là kẻ đã thiến[FN#56] chàng. Tình cảnh của Aziz là như thế; còn về phần Taj al-Muluk, chàng vào với người yêu của mình, công chúa Dunya, và phá trinh nàng. Rồi vua Shahriman bắt đầu sắm sửa cho con gái mình lên đường cùng chồng và cha chồng, và truyền đem đến lương thực, lễ vật cùng những vật quý hiếm. Vậy họ chất hàng lên thú cưỡi và lên đường, trong khi vua Shahriman tiễn họ, như lời từ biệt, ba ngày đường trên lối đi, cho đến khi vua Shah Sulayman khẩn khoản xin ngài quay về. Vậy ngài từ biệt họ và trở lại, còn Taj al-Muluk cùng vợ và phụ vương đi về phía trước ngày đêm, cùng quân đội của họ, cho đến khi đến gần kinh đô. Ngay khi tin họ trở về lan ra, dân chúng trang hoàng thành phố cho họ,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Shah Sulayman đến gần kinh đô, dân chúng trang hoàng thành phố cho ngài và cho con trai ngài. Vậy họ tiến vào trong uy nghi, và nhà vua, ngồi trên ngai với con trai bên cạnh, ban bố của bố thí và ân thưởng, đồng thời thả tất cả những ai ở trong ngục. Rồi ngài tổ chức một lễ cưới thứ hai cho con trai, và tiếng các nữ ca nhân cùng những người chơi nhạc cụ không hề im lặng suốt một tháng trọn; các nữ tỳ trang điểm không ngừng điểm trang phu nhân Dunya và phô bày nàng trong nhiều bộ y phục khác nhau; nàng không mệt vì được phô bày, mà các phụ nữ cũng không mỏi mắt vì ngắm nàng. Sau đó Taj al-Muluk, sau khi đã gặp gỡ một thời gian với cha mẹ mình, vào ở cùng vợ, và họ sống trong mọi niềm vui của đời sống và vận may tốt đẹp nhất, cho đến khi Kẻ Hủy Diệt Mọi Khoái Lạc[FN#57] đến với họ. Bấy giờ khi Wazir Dandan đã kể xong câu chuyện Taj al-Muluk và phu nhân Dunya, Zau al-Makan nói với ông: “Quả thật, người như khanh mới làm nhẹ được trái tim kẻ sầu thương và xứng đáng làm bạn thân của các vua, cũng như dẫn dắt chính sách của họ theo đường phải.” Tất cả những chuyện ấy xảy ra trong khi họ vẫn đang vây hãm Constantinople, nơi họ nằm lại trọn bốn năm, cho đến khi họ nhớ nhung quê hương; quân sĩ lẩm bẩm bất bình, vì đã mỏi mệt bởi canh thức và vây hãm, bởi chịu đựng giao chiến và đột kích đêm ngày. Bấy giờ vua Zau al-Makan triệu Rustam, Bahram và Tarkash, và khi họ vào diện kiến, ngài nói với họ như sau: “Hãy biết rằng chúng ta đã nằm ở đây suốt những năm này mà vẫn chưa đạt được điều ước muốn; không, chúng ta chỉ thêm phần lo âu và phiền muộn; bởi quả thật chúng ta đến đây, tưởng có thể trả thù cho vua Omar bin al-Nu'uman, vậy mà trong việc ấy, huynh đệ Sharrkan của ta lại bị giết; nên nỗi sầu của chúng ta đã thành hai nỗi sầu, tai ương của chúng ta thành hai tai ương. Tất cả những điều này đều do mụ già Zat al-Dawahi, vì chính mụ đã giết Sultan trong vương quốc của ngài và đem vợ ngài, hoàng hậu Sophia, đi; việc ấy vẫn chưa đủ với mụ, mà mụ còn phải giở thêm một trò lừa với chúng ta và cắt cổ huynh đệ Sharrkan của ta. Quả thật ta đã tự buộc mình và thề bằng những lời thề trang trọng nhất rằng không còn cách nào khác ngoài việc ta phải đòi món nợ máu từ mụ. Các khanh nói sao? Hãy suy xét lời ta và trả lời.” Bấy giờ họ cúi đầu và đáp: “Việc đưa ý kiến thuộc về Wazir Dandan.” Vậy vị Đại thần tiến lên và nói: “Hãy biết, tâu đức vua của Thời Đại! việc chúng ta nán lại đây chẳng ích gì; và lời khuyên của thần là chúng ta nhổ trại, trở về xứ sở của mình, ở đó một thời gian nhất định, rồi sau đó hãy trở lại mở một cuộc razzia đánh vào những kẻ thờ ngẫu tượng.” Nhà vua đáp: “Lời khuyên này đúng, vì quả thật dân chúng đã mỏi mòn muốn thấy gia đình mình, và ta cũng là một người khác đang phiền muộn bởi nỗi nhớ con trai Kanmakan và con gái của huynh đệ ta, Kuzia Fakan, vì nàng đang ở Damascus và ta không biết tình trạng nàng ra sao.” Khi quân sĩ nghe tin này, họ vui mừng và chúc phúc cho Wazir Dandan. Rồi nhà vua truyền người xướng lệnh loan báo việc rút lui sau ba ngày. Họ bắt đầu chuẩn bị hành quân, và đến ngày thứ tư, họ đánh trống lớn, mở cờ hiệu, và đạo quân lên đường, Wazir Dandan đi ở tiền quân, còn nhà vua cưỡi giữa trung quân, vị Đại Thị thần ở bên cạnh; tất cả đi không ngừng nghỉ, đêm ngày, cho đến khi tới thành Baghdad. Dân chúng vui mừng vì họ trở về, nỗi lo và sợ hãi rời khỏi họ, trong khi những người ở nhà ra đón những người vắng mặt, và mỗi Emir trở về nhà riêng của mình. Còn Zau al-Makan, ngài tiến lên cung điện và vào gặp con trai Kanmakan, khi ấy đã lên bảy tuổi; cậu thường xuống thao trường binh khí và cưỡi ngựa. Ngay khi nhà vua đã nghỉ ngơi sau hành trình, ngài vào Hammam cùng con trai, rồi trở về, ngồi trên trường kỷ ngự, trong khi Wazir Dandan đứng trước mặt ngài, còn các Emir và các Lãnh chúa trong vương quốc trình diện và đứng hầu ngài. Rồi Zau al-Makan cho gọi bạn đồng hành của mình, người thợ đốt lò, kẻ đã kết bạn với ngài trong những ngày phiêu bạt; và khi người ấy vào diện kiến, nhà vua đứng dậy để tỏ lòng tôn kính và mời ông ngồi bên cạnh mình. Bấy giờ ngài đã cho Wazir biết tất cả những lòng tốt và ơn nghĩa mà người thợ nhóm lò đã làm cho ngài; và ngài thấy người ấy đã trở nên béo mập, lực lưỡng nhờ nghỉ ngơi và ăn uống sung túc, đến nỗi cổ ông như họng voi và mặt ông như bụng cá heo. Hơn nữa, ông đã trở nên chậm trí, bởi chưa hề rời khỏi chỗ mình; nên lúc đầu ông không nhận ra nhà vua qua diện mạo. Nhưng Zau al-Makan tiến đến bên ông, mỉm cười vào mặt ông và chào ông theo lối thân thiết nhất, nói: “Sao ngươi quên ta nhanh thế?” Nghe vậy, người thợ đốt lò tỉnh trí lại và, nhìn chăm chú vào Zau al-Makan, biết chắc rằng mình nhận ra ngài; bấy giờ ông vội vàng bật dậy và kêu lên: “Ôi bạn ta, ai đã khiến người thành Sultan?” Rồi Zau al-Makan bật cười trước ông, và Wazir tiến đến bên ông, giải thích toàn bộ câu chuyện cho ông và nói: “Quả thật ngài ấy từng là huynh đệ và bạn của ông; còn nay ngài ấy là vua của xứ sở, và nhất định ông sẽ nhận được điều tốt lành lớn từ ngài. Vậy ta dặn ông, nếu ngài nói: ‘Hãy xin ta một ân huệ,’ thì chớ xin gì ngoài một việc lớn; vì ông rất thân quý với ngài.” Người thợ đốt lò nói: “Ta sợ rằng nếu ta xin ngài điều gì, ngài có thể không muốn ban nó hoặc không thể ban nó.” Wazir nói: “Đừng bận tâm; bất cứ điều gì ông xin, ngài sẽ ban cho ông.” Người thợ nhóm lò đáp: “Thề bởi Allah, ta phải lập tức xin ngài một điều đang ở trong ý nghĩ ta: mỗi đêm ta đều mơ về nó và cầu khẩn Allah Toàn Năng đoái ban nó cho ta.” Wazir nói: “Hãy vững lòng; thề bởi Allah, nếu ông xin ngài chức cai trị Damascus thay cho huynh đệ ngài, chắc chắn ngài sẽ ban cho ông và đặt ông làm Tổng trấn.” Nghe vậy, người thợ nhóm lò đứng dậy; Zau al-Makan ra hiệu cho ông ngồi, nhưng ông từ chối, nói: “Allah ngăn điều ấy! Những ngày ta ngồi trước mặt ngài đã qua rồi.” Sultan đáp: “Không phải vậy, chúng vẫn còn ngay bây giờ. Chính ngươi quả thật là nguyên nhân khiến ta hiện vẫn còn sống, và thề bởi Allah, bất cứ điều ước nào ngươi khao khát nhất mà ngươi đòi hỏi nơi ta, ta sẽ ban chính điều ấy cho ngươi. Nhưng trước hết hãy xin Allah, rồi sau đó xin ta!” Ông nói: “Thưa chúa công, tôi sợ.” Sultan nói: “Đừng sợ.” Ông tiếp: “Tôi sợ xin một điều gì và ngài lại từ chối nó với tôi, mà đó chỉ là…” Nghe vậy, nhà vua cười và đáp: “Nếu ngươi đòi ta một nửa vương quốc, ta cũng sẽ chia với ngươi: vậy hãy xin điều ngươi muốn và thôi nói vòng.” Người thợ đốt lò lặp lại: “Tôi sợ.” Nhà vua nói: “Đừng sợ.” Ông tiếp: “Tôi sợ rằng tôi xin một điều mà ngài không thể ban.” Bấy giờ Sultan nổi giận và quát: “Hãy xin điều ngươi muốn.” Khi ấy ông nói: “Trước hết tôi xin Allah, rồi xin ngài, rằng ngài hãy viết cho tôi một sắc lệnh đặt tôi làm Syndic của tất cả những thợ đốt lò nhà tắm trong Thành Thánh Jerusalem.” Sultan và tất cả những người có mặt bật cười, và Zau al-Makan nói: “Hãy xin điều gì lớn hơn việc này.” Ông đáp: “Thưa chúa công, tôi đã chẳng nói rằng tôi sợ ngài không muốn ban điều tôi xin hoặc ngài không thể ban nó sao?” Bấy giờ Wazir lấy chân ra hiệu cho ông một lần, hai lần, rồi ba lần, và mỗi lần ông bắt đầu: “Tôi xin ngài…” Sultan nói: “Hãy xin và mau lên.” Vậy ông nói: “Tôi xin ngài đặt tôi làm Trưởng những người quét dọn ở Thành Thánh Jerusalem, hoặc ở thành Damascus.” Khi ấy tất cả những người có mặt ngã ngửa vì cười, và Wazir đánh ông; bấy giờ ông quay sang vị Đại thần và nói với ông: “Ông là gì mà đánh ta? Đó đâu phải lỗi của ta: chẳng phải chính ông đã bảo ta xin một điều quan trọng sao?” Rồi ông nói thêm: “Hãy để ta về xứ của mình.” Nghe vậy, Sultan biết rằng ông đang đùa và nhẫn nại với ông một lúc; rồi quay sang ông và nói: “Ôi huynh đệ của ta, hãy xin ta một điều quan trọng, xứng với phẩm vị của chúng ta.” Vậy người thợ nhóm lò nói: “Tâu đức vua của Thời Đại, trước hết tôi xin Allah, rồi xin ngài, rằng ngài hãy đặt tôi làm Phó vương Damascus thay cho huynh đệ ngài”; và nhà vua đáp: “Allah ban cho ngươi điều này.” Bấy giờ người thợ đốt lò hôn đất trước mặt ngài, và ngài truyền đặt cho ông một chiếc ghế theo phẩm cấp, khoác cho ông y phục phó vương. Rồi ngài viết cho ông một sắc chỉ và đóng dấu bằng chính ấn của mình, rồi nói với Wazir Dandan: “Không ai sẽ đi cùng ông ấy ngoài khanh; và khi khanh trở về, hãy đem theo con gái của huynh đệ ta, Kuzia Fakan.” Vị Đại thần đáp: “Xin nghe và tuân lệnh”; rồi đưa người thợ đốt lò xuống cùng mình và chuẩn bị lên đường. Sau đó nhà vua chỉ định cho người thợ nhóm lò gia nhân và đoàn tùy tùng, ban cho ông một kiệu mới và đồ nghi trượng vương giả, rồi nói với các Emir: “Ai yêu ta, hãy tôn kính người này và dâng cho ông một lễ vật đẹp.” Vậy từng Emir, mỗi người, đều đem đến cho ông món quà tùy theo khả năng của mình; và nhà vua đặt tên cho ông là Zibl Khán,[FN#58] đồng thời ban cho ông tôn hiệu al-Mujáhid.[FN#59] Ngay khi hành trang đã sẵn sàng, ông đi lên cùng Wazir Dandan đến gặp nhà vua, để từ biệt ngài và xin phép khởi hành. Nhà vua đứng dậy đón ông, ôm ông, căn dặn ông phải thi hành công lý giữa thần dân của mình và bảo ông chuẩn bị chiến đấu chống lại những kẻ Vô đạo sau hai năm. Rồi họ từ biệt nhau, và nhà vua,[FN#60] người Chiến đấu vì Đức Tin mang danh Zibl Khan, sau khi lại được Zau al-Makan khuyên bảo phải đối xử công bằng với thần dân, lên đường, sau khi các Emir đã đem đến cho ông Mameluke và hoạn quan, tổng cộng đến năm nghìn người, cưỡi ngựa theo sau ông. Vị Đại Thị thần cũng lên ngựa, Bahram, thống lĩnh người Daylamite, Rustam, thống lĩnh người Ba Tư, và Tarkash, thống lĩnh người Ả Rập cũng vậy, họ đi theo để phụng sự ông; và họ không ngừng cưỡi ngựa cùng ông ba ngày đường như một sự tôn vinh. Rồi từ biệt ông, họ trở về Baghdad, còn Sultan Zibl Khan và Wazir Dandan tiếp tục lên đường cùng đoàn tùy tùng và quân sĩ, cho đến khi đến gần Damascus. Bấy giờ tin tức đã đến, trên cánh chim, với các bậc danh nhân của Damascus, rằng vua Zau al-Makan đã đặt lên Damascus một Sultan tên là Zibl Khan và mang tôn hiệu Al-Mujahid; vì vậy khi ông tới thành, ông thấy nó đã được trang hoàng để tôn vinh ông, và mọi người trong nơi ấy đều ra ngoài để ngắm ông. Vị Sultan mới tiến vào Damascus trong một cuộc rước lộng lẫy và đi lên thành lũy, nơi ông ngồi xuống trên ghế ngự, trong khi Wazir Dandan đứng hầu bên ông, để cho ông biết phẩm cấp của các Emir và vị trí của họ. Rồi các đại thần vào gặp ông, hôn tay và cầu chúc phúc lành xuống trên ông. Vị vua mới, Zibl Khan, tiếp họ một cách ân cần, ban cho họ áo vinh dự cùng nhiều lễ vật và ân thưởng khác nhau; sau đó ông mở kho tàng và ban phát hào phóng cho quân đội, lớn cũng như nhỏ. Rồi ông cai trị và thi hành công lý, đồng thời bắt đầu trang bị cho phu nhân Kuzia Fakan, con gái vua Sharrkan, chỉ định cho nàng một chiếc kiệu bằng lụa. Hơn nữa, ông cũng trang bị chu đáo cho Wazir Dandan trên đường trở về và dâng cho ông một món quà bằng tiền, nhưng ông từ chối, nói: “Ngài đã gần đến thời hạn do nhà vua định, và có lẽ ngài sẽ cần tiền, hoặc sau này chúng ta có thể sai người đến tìm ở ngài khoản chi cho Thánh chiến hay việc gì khác.” Bấy giờ khi Wazir đã sẵn sàng lên đường, Sultan al-Mujahid lên ngựa để từ biệt vị Đại thần, đưa Kuzia Fakan đến cho ông, cho nàng vào kiệu và sai mười thị nữ đi cùng nàng để phụng sự nàng. Sau đó họ tiến bước, trong khi vua “Chiến sĩ vì Đức Tin” trở về việc cai quản của mình để sắp đặt mọi sự và chuẩn bị khí giới chiến tranh, chờ đến lúc vua Zau al-Makan sai lệnh trưng cầu đến ông. Tình cảnh Sultan Zibl Khan là như thế; còn về phần Wazir Dandan, ông không ngừng tiến về trước, vượt hết các chặng đường, cùng Kuzia Fakan cho đến khi họ đến Ruhbah[FN#61] sau một tháng đi đường, rồi từ đó thúc đi tiếp, cho đến khi ông đến gần Baghdad. Sau đó ông sai người báo tin mình đến cho vua Zau al-Makan; khi vua nghe tin này, ngài lên ngựa và cưỡi ra đón ông. Wazir Dandan định xuống ngựa, nhưng nhà vua khẩn khoản bảo ông đừng làm vậy và thúc ngựa cho đến khi đến bên cạnh ông. Rồi ngài hỏi ông về Zibl Khan mang danh Al-Mujahid, và Wazir đáp rằng ông ấy bình an, đồng thời ông đã đem theo Kuzia Fakan, con gái của huynh đệ ngài. Nghe vậy nhà vua vui mừng và nói với Dandan: “Khanh hãy xuống nghỉ ngơi khỏi mệt nhọc đường xa trong ba ngày, rồi sau đó lại đến gặp ta.” Wazir đáp: “Với niềm vui và lòng biết ơn,” rồi về nhà riêng của mình, trong khi nhà vua cưỡi ngựa lên cung điện và vào gặp con gái của huynh đệ mình, Kuzia Fakan, một bé gái tám tuổi. Khi thấy nàng, ngài vui mừng vì nàng và đau buồn vì cha nàng; rồi ngài truyền may y phục cho nàng, ban cho nàng trang sức và đồ điểm trang lộng lẫy, đồng thời ra lệnh cho nàng ở cùng con trai ngài Kanmakan tại một nơi. Vậy cả hai lớn lên thành những người rạng rỡ nhất trong dân chúng thời họ và cũng dũng cảm nhất; nhưng Kuzia Fakan trở thành một thiếu nữ có trí khôn, hiểu biết và biết rõ kết cục của sự việc, trong khi Kanmakan tỏ ra là một chàng trai hào hiệp và rộng tay, chẳng bận tâm đến kết quả của bất cứ điều gì. Và họ cứ như thế cho đến khi mỗi người đạt tuổi mười hai. Bấy giờ Kuzia Fakan thường cưỡi ngựa và ra ngoài đồng trống cùng em họ, tiến lên và rong ruổi rộng khắp với chàng trong rừng; và cả hai đều học cách chém bằng gươm và đâm bằng giáo. Nhưng khi họ đã đến tuổi mười hai, vua Zau al-Makan, sau khi đã hoàn tất việc chuẩn bị, dự trữ và trang bị khí giới cho Thánh chiến, triệu Wazir Dandan và nói với ông: “Hãy biết rằng ta đã để tâm đến một việc mà ta sẽ bày tỏ với khanh, và ta muốn ý kiến của khanh về nó; vậy hãy mau chóng trả lời ta.” Wazir hỏi: “Đó là việc gì, tâu đức vua của Thời Đại?”; ngài đáp: “Ta đã quyết định đặt con trai ta Kanmakan làm Sultan và vui hưởng nơi nó khi ta còn sống, rồi chiến đấu trước mặt nó cho đến khi cái chết bắt kịp ta. Khanh nghĩ thế nào về việc này?” Wazir hôn đất trước mặt nhà vua và đáp: “Hãy biết, tâu đức vua và Sultan của thần, Chúa tể của Thời Đại và thời gian! điều đang ở trong tâm trí ngài quả thật là tốt, chỉ có điều nay chưa phải thời điểm để thực hiện, vì hai lý do; thứ nhất, con trai ngài Kanmakan vẫn còn non tuổi; và thứ hai, điều thường xảy ra là kẻ đặt con mình làm vua khi mình còn sống chỉ sống được thêm ít lâu sau đó.[FN#62] Và đó là lời đáp của thần.” Nhà vua đáp: “Hãy biết, ôi Wazir, rằng chúng ta sẽ đặt Đại Thị thần làm người giám hộ nó, vì nay ông ấy là một người trong gia đình và đã cưới em gái ta, nên ông ấy đối với ta như huynh đệ.” Wazir nói: “Hãy làm điều ngài thấy là tốt: chúng thần chỉ có việc tuân theo mệnh lệnh của ngài.” Rồi nhà vua sai gọi Đại Thị thần, người được đưa vào diện kiến cùng các Lãnh chúa trong vương quốc, và ngài nói với họ: “Các khanh biết rằng con trai ta Kanmakan này là kỵ sĩ bậc nhất của thời đại, rằng nó không có ai ngang hàng trong việc chém bằng gươm và phóng tới bằng giáo; và nay ta bổ nhiệm nó làm Sultan trên các khanh, đồng thời đặt Đại Thị thần, cậu của nó, làm người giám hộ nó.” Vị Thị thần đáp: “Thần chỉ là một cái cây do lòng hào hiệp của ngài trồng nên”; và Zau al-Makan nói: “Ôi Thị thần, quả thật con trai ta Kanmakan và cháu gái ta Kuzia Fakan là con cái của hai huynh đệ; vậy bằng đây ta gả nàng cho nó và gọi những người có mặt làm chứng cho việc ấy.” Sau đó ngài chuyển cho con trai mình những kho báu mà không lưỡi nào có thể mô tả, rồi vào gặp em gái mình, Nuzhat al-Zaman, kể cho nàng nghe những gì ngài đã làm; nghe vậy nàng vui mừng và nói: “Quả thật đôi trẻ là con của thiếp: cầu Allah gìn giữ hoàng huynh cho chúng và giữ mạng hoàng huynh vì chúng trong nhiều năm!” Ngài đáp: “Ôi em gái ta, ta đã hoàn thành mọi điều tim ta mong muốn trong cõi đời này và ta không còn lo sợ gì cho con trai ta! tuy vậy, tốt hơn là em hãy để một mắt trông chừng nó, và một mắt trông chừng mẹ nó.” Và ngài căn dặn Thị thần cùng Nuzhat al-Zaman chăm sóc con trai, cháu gái và vợ mình; ngài cứ tiếp tục làm như vậy đêm ngày cho đến khi ngã bệnh và tin chắc rằng mình sắp uống chén tử thần; vậy ngài nằm liệt giường, trong khi Thị thần bận rộn sắp đặt dân chúng và vương quốc. Đến cuối năm, nhà vua triệu con trai Kanmakan và Wazir Dandan, rồi nói: “Ôi con trai ta, sau khi ta chết, vị Wazir này là cha của con; vì hãy biết rằng ta sắp rời khỏi ngôi nhà đời sống tạm bợ này để sang ngôi nhà vĩnh cửu. Quả thật ta đã hoàn thành ý nguyện của mình trong cõi đời này; tuy vậy trong tim ta vẫn còn một nỗi tiếc nuối, cầu Allah xua tan nó qua và bởi tay con.” Con trai ngài hỏi: “Nỗi tiếc nuối ấy là gì, ôi phụ vương?” Zau al-Makan đáp: “Ôi con trai ta, nỗi tiếc nuối duy nhất của ta là ta chết mà chưa báo thù cho ông nội con, Omar bin al-Nu'uman, và chú con, Sharrkan, đối với một mụ già mà người ta gọi là Zat al-Dawahi; nhưng nếu Allah ban trợ giúp cho con, đừng ngủ cho đến khi con báo được mối thù trên mụ, và nhờ vậy xóa đi sự nhục nhã mà chúng ta đã chịu dưới tay kẻ Vô đạo; và hãy coi chừng mưu kế của mụ già ấy, làm theo những gì Wazir Dandan khuyên con, bởi từ thuở xưa ông đã là cột trụ của vương quốc chúng ta.” Và con trai ngài ưng thuận những gì ngài nói. Rồi mắt nhà vua trào lệ và bệnh tình của ngài lại tăng gấp bội; bấy giờ em rể ngài, vị Thị thần, nắm quyền coi sóc xứ sở và, vì là người có năng lực, ông xét xử, ra lệnh và ngăn cấm cho suốt cả năm ấy, trong khi Zau al-Makan bận chịu bệnh. Bệnh của ngài đè nặng trên ngài suốt bốn năm, trong thời gian ấy Đại Thị thần ngồi thay ngài và làm thỏa lòng cả dân thường lẫn quý tộc; toàn xứ đều chúc phúc cho sự cai trị của ông. Tình cảnh của Zau al-Makan và Thị thần là như thế; còn về phần con trai nhà vua, chàng chỉ bận với cưỡi ngựa, phóng giáo và bắn tên, và con gái của chú chàng, Kuzia Fakan, cũng làm như vậy; vì chàng và nàng thường ra ngoài từ đầu ngày và trở về lúc đêm xuống, khi nàng vào với mẹ mình, còn chàng vào với mẹ mình, người mà chàng luôn thấy đang ngồi khóc bên đầu trường kỷ của phụ vương. Rồi chàng chăm sóc cha suốt đêm cho đến rạng sáng, khi chàng lại ra ngoài với cô em họ theo lệ thường. Bấy giờ những cơn đau và khổ sở của Zau al-Makan cô độc đè nặng trên ngài, và ngài khóc, bắt đầu ngâm những vần thơ này,

Contents of the Third Volume#11

“Sức ta đã tàn, chuyện đời ta đã kể hết tháng ngày *
Và, hãy nhìn xem! Ta còn lại như ngươi đang thấy:
Thuở vinh quang, ta từng được tôn vinh bậc nhất, *
Và thắng cuộc đua trước mọi bạn đồng hành của ta
Ước gì Trời cho trước khi chết ta được thấy *
Con trai ta ngồi thay ta trên ngai đế nghiệp
Và xông vào quân thù của nó, để trả mối thù *
Bằng uy lực của gươm và ngọn giáo phóng oai hùng:
Trong đời này và đời sau ta đều hư mất, *
Trừ phi Đức Chúa đoái ban cho ta lòng khoan thứ.”

Khi ngài đọc xong những vần thơ ấy, ngài đặt đầu lên gối, nhắm mắt và ngủ. Rồi trong giấc ngủ, ngài thấy một người nói với mình: “Hãy vui mừng, vì con trai ngươi sẽ làm đầy các xứ sở bằng sự cai trị công minh nhất; nó sẽ trị vì chúng và thần dân sẽ vâng phục nó.” Rồi ngài tỉnh khỏi mộng, vui mừng vì điềm lành đã thấy, và sau ít ngày, Tử Thần đánh trúng ngài; vì cái chết của ngài, nỗi grief lớn đổ xuống dân Baghdad, kẻ hèn cũng như người sang đều than khóc cho ngài. Nhưng Thời Gian trôi qua trên ngài, như thể ngài chưa từng tồn tại[FN#63], và thân phận Kanmakan đổi khác; vì dân Baghdad gạt chàng sang một bên, đặt chàng và gia đình chàng ở một nơi riêng. Bấy giờ khi mẹ chàng thấy điều ấy, bà rơi vào cảnh đáng thương nhất và nói: “Không còn cách nào khác ngoài việc ta phải đến gặp Đại Thị thần, và ta phải hy vọng vào sự trợ giúp của Đấng Tinh Tường, Đấng Toàn Trí!” Rồi bà đứng dậy khỏi chỗ mình và tìm đến nhà của vị Thị thần, người nay đã trở thành Sultan, và bà thấy ông đang ngồi trên tấm thảm của mình. Vậy bà vào gặp vợ ông, Nuzhat al-Zaman, khóc một trận thảm thiết và nói với nàng: “Quả thật người chết không có bạn hữu! Cầu Allah đừng bao giờ đưa người đến cảnh thiếu thốn chừng nào tuổi đời và năm tháng của người còn kéo dài, và cầu cho người không ngừng cai trị công minh trên người giàu lẫn kẻ nghèo. Tai người đã nghe và mắt người đã thấy tất cả những gì từng thuộc về chúng tôi: vương quyền, vinh dự, phẩm giá, của cải, vận may tốt lành của đời sống và địa vị; còn nay Thời Gian đã quay lưng lại với chúng tôi, định mệnh và thế gian đã phản bội chúng tôi và cư xử với chúng tôi theo lối thù nghịch, vì vậy tôi đến với người để cầu xin ân huệ của người, tôi, kẻ mà xưa kia người ta từng cầu xin ân huệ: bởi khi một người đàn ông chết, phụ nữ và thiếu nữ bị đưa đến cảnh bị khinh rẻ.” Rồi bà đọc những vần thơ này,

“Cái Chết đủ khiến những điều kỳ dị ấy tăng thêm, *
Và những đời bị chia lìa làm nên chia lìa bền mãi:
Ngày tháng của con người là những điều kỳ dị, còn các trạm dừng của chúng *
Chỉ là những hố nước[FN#64] của khốn khổ và tai ương.
Chẳng gì bóp nghẹt tim ta ngoài mất mát những bạn hữu cao quý, *
Bị vây quanh bởi những vòng cảnh ngộ cứng rắn, khắc nghiệt.”

Khi Nuzhat al-Zaman nghe những lời ấy, nàng nhớ đến huynh mình, Zau al-Makan, và con trai huynh ấy là Kanmakan; nàng bảo bà đến gần mình, tỏ lòng tôn trọng bà và nói: “Quả thật vào lúc này, thề bởi Allah, ta đã trở nên giàu có còn ngươi thì nghèo; nay thề bởi Đức Chúa! chúng ta vẫn không ngừng tìm kiếm ngươi, nhưng chúng ta sợ làm tổn thương trái tim ngươi, e ngươi tưởng quà tặng của chúng ta dành cho ngươi là của bố thí. Song tất cả phúc lành mà nay chúng ta hưởng đều đến từ ngươi và phu quân ngươi; vậy nhà của chúng ta là nhà của ngươi, chỗ của chúng ta là chỗ của ngươi, và mọi của cải của chúng ta đều là của ngươi, những gì chúng ta có đều thuộc về ngươi.” Rồi nàng mặc cho bà những áo choàng lộng lẫy và dành riêng cho bà một nơi trong cung điện, liền kề nơi ở của chính nàng; và họ ở đó, bà cùng con trai bà, trong mọi niềm vui của đời sống. Nuzhat al-Zaman cũng mặc cho chàng y phục của các vua và ban cho cả hai những nữ tỳ riêng để phụng sự họ. Ít lâu sau, nàng kể với chồng mình tình cảnh đáng buồn của góa phụ huynh nàng, Zau al-Makan; nghe vậy mắt ông đầy lệ và ông nói: “Nếu nàng muốn thấy thế gian sau nàng, hãy nhìn thế gian sau người khác ngoài chính mình. Vậy hãy đối đãi với bà một cách danh dự và làm giàu sự nghèo khó của bà.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Nuzhat Al-Zaman kể với chồng tình cảnh đáng buồn của góa phụ huynh mình, Zau al-Makan, vị Thị thần nói: “Hãy đối đãi với bà một cách danh dự và làm giàu sự nghèo khó của bà.” Chuyện về Nuzhat al-Zaman, phu quân nàng và quả phụ của Zau al-Makan đến đây; còn về phần Kanmakan và cô em họ Kuzia Fakan của chàng, họ lớn lên và nở rộ cho đến khi trở nên như hai cành trĩu quả hay hai vầng trăng sáng; và họ đạt đến tuổi mười lăm. Quả thật nàng là thiếu nữ đẹp nhất trong những nàng được che màn đoan trang, gương mặt đáng yêu với đôi má mịn màng được điểm duyên, eo thon đặt trên cặp hông đầy đặn; dáng nàng là đường mảnh của thân tên, môi nàng ngọt hơn rượu lâu năm, còn mật hoa trong miệng nàng như thể suối Salsabíl[FN#65]; đúng như thi nhân nói trong hai vần thơ này khi tả một người giống nàng,

“Như thể nước thuốc rượu trên môi nàng là mật sương *
Rỏ xuống từ những chùm nho chín mọc thành miệng nàng
Và khi ngươi gập thân nàng, dây nho nàng cúi thấp, *
Hãy ngợi ca quyền năng Đấng Tạo Hóa mà chưa tạo vật nào từng biết.”

Quả thật Allah đã hợp nhất nơi nàng mọi vẻ quyến rũ: vóc dáng nàng khiến cành cây đong đưa phải hổ thẹn, và đóa hồng trước đôi má nàng phải cầu xin lòng khoan thứ; mật sương của đôi môi rượu nàng khiến rượu thành trò cười, dù lâu năm và trong trẻo đến đâu, và nàng làm trái tim cùng người ngắm vui lên bằng niềm hoan lạc rạng rỡ, đúng như thi nhân nói về nàng,

“Nàng đẹp đẽ trong những ân tứ, và mê hoặc thay đôi mắt hoàn mỹ ấy, *
Với hàng mi làm Kohl và mọi giai nhân kẻ Kohl phải hổ thẹn[FN#66]
Và từ đôi mắt ấy, những ánh nhìn xuyên thủng trái tim kẻ yêu, *
Như thanh gươm trong tay Mír al-Muminína Ali.”

Và (người kể chuyện tiếp tục) còn về Kanmakan, chàng trở nên độc nhất trong vẻ đáng yêu và cũng trội vượt trong sự hoàn hảo không kém; không ai có thể sánh với chàng về phẩm chất cũng như vẻ đẹp, và ánh sáng của lòng dũng cảm giữa hai mắt chàng được nhìn thấy, làm chứng cho chàng chứ chẳng bao giờ chống lại chàng. Những trái tim cứng rắn nhất cũng nghiêng về phía chàng; mi mắt chàng mang hàng mi đen như kẻ Kohl; và chàng có giá trị vượt trội cả thân xác lẫn linh hồn. Khi lớp tơ trên môi và má bắt đầu mọc lên, các thi nhân và ca nhân xa gần hát về chàng,

“Lời biện minh của ta chưa hiện ra cho đến khi tóc phủ má chàng, *
Và bóng tối bò qua nửa gương mặt ấy (cảnh khiến người choáng váng!)
Một chú nai tơ, khi mắt muốn no say vì vẻ duyên của chàng, *
Mỗi ánh nhìn đều phóng một nhát như mũi dao Khanjar.”

Và một người khác nói,

“Linh hồn những kẻ yêu chàng đã vẽ lên má chàng *
Một con kiến hoàn thiện ánh hồng của nó:
Ta kinh ngạc trước những kẻ tử đạo bị ném vào Lazá như vậy *
Mà vẫn mặc áo xanh của Thiên đường.”[FN#67]

Bấy giờ tình cờ vào một ngày lễ, Kuzia Fakan đi ra để dự hội cùng vài thân thích trong triều, và nàng đi giữa vòng các nữ tỳ của mình. Quả thật vẻ đẹp bao quanh nàng, những đóa hồng trên má nàng khiến nốt ruồi của chúng phải ganh tị; từ đôi môi mỉm cười của nàng ánh trắng lóe lên, lấp lánh như hoa cúc camomile[FN#68]; và Kanmakan bắt đầu xoay quanh nàng và nuốt lấy nàng bằng ánh nhìn, vì nàng là vầng trăng của ánh sáng rạng ngời. Rồi chàng lấy can đảm, đánh thức lưỡi mình và bắt đầu ứng khẩu,

“Khi nào trái tim thất vọng được chữa lành khỏi chia lìa, *
Và môi Đoàn Viên mỉm cười khi vận dữ khắc nghiệt của chúng ta chấm dứt?
Ước gì Trời cho ta biết sẽ có một đêm nào đến, và cùng nó chắc chắn
đem lại * Cuộc gặp với bạn yêu, người cũng chịu đựng
khổ đau như ta.”[FN#69]

Khi Kuzia Fakan nghe những vần thơ này, nàng tỏ vẻ bực bội và không hài lòng, rồi làm ra dáng kiêu hãnh và giận dữ, nói với chàng: “Huynh nêu tên muội trong thơ của huynh để làm muội xấu hổ giữa người đời sao? Thề bởi Allah, nếu huynh không quay khỏi lời lẽ này, chắc chắn muội sẽ than phiền về huynh với Đại Thị thần, Sultan của Khorasan và Baghdad, chúa tể của công lý và công bằng; để ô nhục và hình phạt giáng xuống huynh!” Kanmakan vì giận mà không đáp lại, nhưng chàng trở về Baghdad; và Kuzia Fakan cũng trở về cung điện của mình, than phiền với mẹ về em họ, còn mẹ nàng nói với nàng: “Ôi con gái ta, có lẽ nó không có ý hại con, và nó là gì ngoài một đứa mồ côi? Hơn nữa, nó chẳng nói lời trách móc nào với con; vậy hãy coi chừng đừng kể điều này với ai, e may ra chuyện đến tai Sultan và ông ấy cắt ngắn đời nó, xóa tên nó, khiến nó giống như ngày hôm qua, ký ức đã trôi qua.” Tuy nhiên, tình yêu của Kanmakan dành cho Kuzia Fakan lan rộng khắp Baghdad, đến nỗi phụ nữ bàn tán về nó. Hơn nữa, lồng ngực chàng trở nên chật hẹp, lòng kiên nhẫn cạn dần, chàng chẳng biết phải làm gì, vậy mà không thể giấu tình trạng của mình khỏi thế gian. Rồi chàng mong được trút ra những cơn đau mình chịu đựng, bởi ngọn lửa chia lìa; nhưng chàng sợ lời quở trách và cơn giận của nàng; vậy chàng bắt đầu ứng khẩu,

“Nay nỗi sợ của ta là chuốc lấy những lời trách móc, vốn *
Làm rối tính nàng và che mờ tâm trí nàng,
Ta sẽ nhẫn nại chịu chúng; như chàng trai hào hiệp chịu cảnh của mình để
chữa lành.” * Chịu vết bỏng của dấu nung để
chữa cảnh mình.”[FN#70]

Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm ba mươi chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Đại Thị thần trở thành Sultan, người ta gọi ông là vua Sásán; và sau khi lên ngôi, ông cai trị dân chúng theo lối chính trực. Bấy giờ một ngày nọ khi ông đang thiết triều, những vần thơ của Kanmakan đến tai ông. Lập tức ông hối tiếc về quá khứ, vào gặp vợ mình là Nuzhat al-Zaman và nói với nàng: “Quả thật, ghép cỏ Halfah với lửa[FN#71] là nguy cơ lớn nhất, và đàn ông không thể được tin cậy khi ở với đàn bà, chừng nào mắt còn liếc nhìn và mí còn rung động. Nay con trai của huynh nàng, Kanmakan, đã đến tuổi đàn ông, và chúng ta phải cấm nó vào những phòng nơi vòng chân leng keng, càng cần hơn nữa là cấm con gái nàng gần gũi đàn ông, vì người như nó nên được giữ trong Hậu cung.” Nàng đáp: “Chàng nói đúng, ôi đức vua khôn ngoan!” Ngày hôm sau, Kanmakan đến theo lệ thường; chàng vào gặp cô mình và chào nàng. Nàng đáp lễ chàng và nói với chàng: “Ôi con trai ta! Ta có đôi điều muốn nói với con, những điều ta muốn để mặc không nói; tuy vậy ta phải nói với con bất chấp lòng ta không muốn.” Chàng nói: “Xin cô nói”; và nàng nói: “Vậy hãy biết rằng cha con là Thị thần, cha của Kuzia Fakan, đã nghe về những vần thơ con làm liên quan đến nàng, và đã ra lệnh giữ nàng trong Hậu cung, ngoài tầm với của con; do đó, ôi con trai ta, nếu con cần gì từ chúng ta, ta sẽ gửi nó cho con từ phía sau cửa; và con sẽ không được nhìn Kuzia Fakan, cũng không được trở lại đây từ ngày này trở đi.” Khi chàng nghe vậy, chàng đứng dậy và rút lui mà không nói một lời; rồi tìm đến mẹ mình, kể lại những gì cô chàng đã nói. Bà nhận xét: “Tất cả chuyện này đều do con nói quá nhiều. Con biết rằng tin về đam mê của con dành cho Kuzia Fakan đã vang ra ngoài, và lời đồn đã lan khắp nơi rằng con ăn thức ăn của họ rồi sau đó lại ve vãn con gái họ.” Chàng đáp: “Và ai nên có nàng ngoài con? Nàng là con gái của huynh đệ phụ vương con, và con có quyền tốt nhất đối với nàng.” Mẹ chàng đáp lại: “Đó là những lời vô ích. Hãy im lặng, e may ra lời con đến tai vua Sasan và trở thành nguyên do khiến con mất nàng, cũng là lý do cho sự hủy hoại của con và làm tai ương của con tăng thêm. Đêm nay họ không gửi bữa tối nào cho chúng ta và chúng ta sẽ chết đói; nếu chúng ta ở bất cứ xứ nào khác ngoài nơi này, chúng ta đã chết vì đói hoặc vì nhục nhã khi phải xin bánh rồi.” Khi Kanmakan nghe những lời ấy từ mẹ mình, nỗi tiếc hận của chàng tăng gấp bội; mắt chàng trào lệ, chàng than thở và bắt đầu ứng khẩu,

“Hãy giảm bớt lời trách này mà ta luôn chịu từ các người: *
Tim ta yêu nàng, người đáng nhận mọi tình yêu:
Đừng đòi hỏi nơi ta chút nào hay ít nào kiên nhẫn, *
Ly dị Kiên nhẫn, thề bởi Nhà của Allah! Ta hối tiếc:
Những gì kẻ trách móc rao giảng về kiên nhẫn, ta chẳng nghe; *
Ta đây, vững bước theo đường tình!
Quả thật họ ngăn ta lối đến người yêu, *
Ta đây, nhờ lòng thương của Allah, chẳng cầu điều xấu!
Thật vậy, xương cốt ta, khi nghe tên nàng, *
Run lên như chim run khi Nisus bay qua chúng:[FN#72]
Ôi! hãy nói với những kẻ trách tình yêu của ta rằng ta *
Sẽ yêu gương mặt cô em họ xinh đẹp ấy cho đến khi ta chết.”

Và khi chàng đọc xong những vần thơ, chàng nói với mẹ mình: “Con không còn chỗ trong nhà của cô con, cũng không còn giữa những người này, mà con sẽ ra khỏi cung điện và ở nơi các góc thành.” Vậy chàng và mẹ rời triều đình; sau khi tìm một chỗ ở trong khu lân cận của hạng nghèo hơn, họ định cư ở đó; nhưng bà thỉnh thoảng vẫn đến cung điện của vua Sasan và từ đó nhận bánh hằng ngày cho mình và con trai. Khi việc ấy tiếp diễn, một ngày nọ Kuzia Fakan kéo bà ra riêng và nói với bà: “Than ôi, ôi cô của con, con trai cô thế nào rồi?” Bà đáp: “Ôi con gái ta, nói thật, nó mắt đẫm lệ và lòng nặng trĩu, vì đã sa vào lưới tình của con.” Rồi bà lặp lại cho nàng nghe những vần thơ chàng đã làm; nghe vậy Kuzia Fakan khóc và nói: “Thề bởi Allah! Con trách huynh ấy không phải vì lời huynh nói, cũng không phải vì ác ý với huynh, mà vì con sợ cho huynh ấy trước sự hiểm độc của kẻ thù. Quả thật đam mê của con dành cho huynh ấy gấp đôi điều huynh ấy cảm thấy dành cho con; lưỡi con không thể tả nỗi khát khao của con đối với huynh ấy; nếu không vì sự phóng túng quá độ trong lời nói của huynh ấy và sự lang thang của trí huynh ấy, phụ thân con đã không cắt khỏi huynh ấy những ân huệ xứng đáng, cũng chẳng định cho huynh ấy sự loại trừ và cấm đoán như điều phải có. Tuy nhiên, ngày tháng của con người chẳng đem lại gì ngoài đổi thay, và trong mọi cảnh, kiên nhẫn là điều đẹp đẽ nhất: biết đâu Đấng đã định sự chia lìa của chúng con sẽ đoái ban cho chúng con đoàn tụ!” Và nàng bắt đầu ngâm thành thơ trong hai vần này,

“Ôi con trai của chú ta! Ta mang cùng nỗi sầu, *
Và chịu cùng niềm lo nhọc và bận lòng như huynh
Song ta giấu khỏi người đời điều ta chịu vì héo hon; *
Huynh cũng hãy giấu nó, và đừng bao giờ phơi bày bí mật ấy trước người đời!”

Khi mẹ chàng nghe điều này từ nàng, bà cảm tạ và chúc phúc cho nàng; rồi bà rời nàng và cho con trai biết những gì nàng đã nói; nghe vậy nỗi khao khát của chàng dành cho nàng tăng thêm, và chàng lấy lại can đảm, được nhẹ bớt khỏi tuyệt vọng và cơn rối loạn của tình yêu cùng nỗi lo. Chàng nói: “Thề bởi Allah, ta chẳng mong ai ngoài nàng!”; rồi chàng bắt đầu ứng khẩu,

“Hãy thôi lời trách này, ta sẽ chẳng nghe tiếng giễu của kẻ thù! *
Ta đã tiết lộ một bí mật từng được dặn phải giữ kín:
Người mà ta khát khao đoàn tụ đã khuất khỏi mắt ta, *
Và ta canh thức suốt trong khi người ấy có thể nằm ngủ yên.”

Vậy ngày đêm trôi qua trong khi Kanmakan nằm lăn trở trên than lửa,[FN#73] cho đến khi chàng đạt tuổi mười bảy; vẻ đẹp của chàng đã thành toàn và trí tuệ chàng ở độ sáng nhất. Một đêm nọ, khi nằm thao thức, chàng tự nói với mình: “Sao ta phải giữ im lặng cho đến khi hao mòn mà không thấy người yêu? Ta chẳng có lỗi gì ngoài nghèo khó; vậy thề bởi Allah, ta quyết rời khỏi vùng này và phiêu bạt qua hoang địa cùng rừng rú; vì địa vị của ta trong thành này là một cực hình, ta chẳng có bạn hữu hay người yêu nào trong đó để an ủi; bởi vậy ta quyết làm mình khuây khỏa bằng sự vắng mặt khỏi quê hương cho đến khi ta chết và được nghỉ ngơi sau nhục nhã và khổ nạn này.” Rồi chàng bắt đầu ứng khẩu và đọc những vần thơ này,

“Dẫu gan ruột ta run lên dưới lệnh cấm này; *
Trước mặt kẻ thù, ta sẽ không bao giờ làm mình mất khí phách đàn ông!
Vậy hãy tha thứ cho ta, gan ruột ta là một bức thư *
Mà lời đề trên đó là những giọt lệ đã tuôn của ta:
Ôi chao! cô em họ của ta dường như một Houri có thể *
Từ Thiên đường xuống trần vì Rizwan:
Chẳng thoát được nhát phóng gươm đáng sợ từ ánh nhìn của nàng *
Kẻ nào dám dò xét tia liếc của đôi mắt ấy:
Trên thế giới rộng mở của Allah, ta sẽ lang thang và lang thang, *
Và từ chốn lưu đày ấy giành lấy miếng bánh nào ta có thể
Phải, trên mặt đất mênh mông ta sẽ lang thang và cứu linh hồn ta, *
Chịu đựng mọi điều trừ sự vắng mặt của nàng như một người đàn ông
Với trái tim vui vẻ, ta sẽ lui tới chiến trường, *
Và gặp kẻ Dũng cảm nhất trong hàng đầu trận chiến!”

Vậy Kanmakan rời cung điện, chân trần, bước đi trong một chiếc áo tay ngắn, đội trên đầu chiếc mũ sọ bằng nỉ[FN#74] đã bảy năm tuổi và mang theo một chiếc bánh nướng đã cũ ba ngày; trong bóng tối sâu thẳm của đêm, chàng tìm đến cổng al-Arij của Baghdad. Tại đây chàng đợi cổng được mở, và khi cổng mở, chàng là người đầu tiên đi qua; chàng đi ra không định hướng và lang thang khắp hoang địa đêm ngày. Khi giờ tối đến, mẹ chàng tìm chàng nhưng không thấy; bấy giờ thế gian trở nên chật hẹp với bà, dẫu nó vốn lớn lao và rộng rãi, và bà chẳng còn vui thích trong bất cứ phúc lành nào nó cung cấp. Bà tìm chàng ngày thứ nhất, ngày thứ hai, ngày thứ ba cho đến khi mười ngày trôi qua, nhưng không tin tức nào về chàng đến với bà. Rồi lồng ngực bà thắt lại, bà thét lên và kêu rít, nói: “Ôi con trai ta! Ôi con yêu dấu của ta! Con đã làm sống lại những nỗi tiếc hận của ta. Những gì ta đã chịu đựng vẫn chưa đủ sao, mà con còn phải rời khỏi nhà ta? Sau con, ta không màng thức ăn, cũng chẳng vui trong giấc ngủ, và chẳng còn gì để lại cho ta ngoài nước mắt và tang tóc. Ôi con trai ta, ta sẽ gọi con từ xứ nào? Và thành nào đã cho con trú ẩn?” Rồi những tiếng nức nở của bà bật ra, và bà bắt đầu lặp lại những vần thơ này,

“Chúng ta đã học rõ, từ khi các người rời đi, cách chịu đựng grief và sầu thương, *
Trong khi những cung chia lìa bắn tên của chúng trong bao trận mưa trách móc:
Họ bỏ ta lại, sau khi đã thắt yên bằng da corduwayne lên ngựa của họ *
Để chiến đấu với chính những cơn đau tử biệt khi họ băng qua
đồng cát:
Huyền bí trong bóng tối đêm vang đến tiếng rên của
chim bồ câu; * Một con cu vòng cổ, và ta đáp: ‘Hãy thôi than, sao
ngươi dám kêu ca?’
Nếu, thề bởi đời ta, tim nó, như tim ta, đầy đau đớn và
héo hon * Nó đã chẳng điểm cổ bằng vòng hay gan bàn chân bằng
sắc nhuộm đỏ.[FN#75]
Người bạn quen thân của riêng ta đã bỏ trốn, để lại cho ta một kho *
Cơn đau chia biệt và nỗi nhức vắng xa phải chịu mãi mãi.”

Rồi bà kiêng ăn uống và phó mình cho việc tuôn lệ cùng than khóc quá độ. Nỗi grief của bà trở thành chuyện chung lan xa rộng, và tất cả dân trong thành cùng thôn quê đều khóc với bà và kêu lên: “Mắt của ngài ở đâu, ôi Zau al-Makan?” Họ than vãn những khắc nghiệt của Thời Gian, nói: “Ước gì Trời cho chúng ta biết điều gì đã xảy đến với Kanmakan, khiến chàng chạy khỏi thành quê hương, và tự xua mình khỏi nơi phụ vương chàng từng làm no tất cả những kẻ đói khát và thi hành công lý cùng ân đức?” Mẹ chàng lại tăng gấp bội tiếng khóc và than vãn, cho đến khi tin Kanmakan bỏ đi đến tai vua Sasan.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi,

Contents of the Third Volume#12

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng tin Kanmakan ra đi đã đến với vua Sasan qua các Emir trưởng, những người thưa với ngài: “Quả thật chàng là con trai của quân vương chúng ta và là dòng giống của vua Omar bin al-Nu'uman, và chuyện đến tai chúng thần rằng chàng đã tự lưu đày khỏi xứ sở.” Khi vua Sasan nghe những lời ấy, ngài nổi giận với họ và ra lệnh treo cổ một người trong bọn họ để làm hắn câm miệng; vì thế nỗi sợ ngài rơi xuống trái tim của tất cả các đại thần khác, và họ chẳng dám nói một lời. Rồi ngài nhớ lại tất cả lòng tốt mà Zau al-Makan đã làm cho mình, và việc ngài ấy đã giao phó cho mình chăm sóc con trai; bởi vậy ngài đau buồn vì Kanmakan và nói: “Nhất định ta phải cho tìm nó trong mọi xứ sở.” Vậy ngài triệu Tarkash và truyền ông chọn một trăm kỵ sĩ rồi đi cùng họ tìm kiếm vị hoàng tử. Theo đó ông ra đi và vắng mặt mười ngày, sau đó trở về và nói: “Thần không biết được tin tức nào về chàng, cũng chẳng tìm ra dấu vết gì của chàng, không ai có thể nói cho thần điều gì về chàng.” Bấy giờ vua Sasan hối tiếc về những gì mình đã làm đối với vị hoàng tử; trong khi mẹ chàng ở mãi trong bất an không ngừng, và lòng kiên nhẫn chẳng chịu đến theo tiếng gọi của bà: cứ như vậy hai mươi ngày trôi qua trên bà trong toàn nỗi nặng nề. Đó là điều đã xảy ra với những người này; còn về phần Kanmakan, khi rời Baghdad, chàng bước đi trong cảnh bối rối về tình trạng của mình và chẳng biết nên đi đâu: vậy chàng một mình đi qua sa mạc trong ba ngày và không thấy người đi bộ cũng chẳng thấy kỵ sĩ; thêm vào đó, giấc ngủ rời bỏ chàng và sự thức trắng của chàng tăng gấp bội, vì chàng hao mòn nhớ người thân và mái nhà. Chàng ăn rau cỏ của đất và uống nước chảy của đất, nghỉ trưa dưới những hàng cây vào giờ nắng giữa ngày, cho đến khi rẽ khỏi con đường ấy sang một lối khác; theo lối ấy thêm ba ngày nữa, đến ngày thứ tư chàng tới một miền đồng cỏ xanh, nhuộm sắc cây cỏ và bóng cây, với những triền thung lũng nghiêng mình làm vui mắt, đầy dẫy hoa quả của đất. Nó đã uống những chén của mây, trong tiếng sấm vang cuồn cuộn và khúc ca của chim cu gáy thở nhẹ, cho đến khi sườn đồi sáng rực màu xanh và các cánh đồng ngát hương dịu ngọt. Bấy giờ Kanmakan nhớ lại thành Baghdad của phụ vương, và vì cảm xúc quá độ, chàng bật thành thơ,

“Ta lang thang, và khi lang thang vẫn hy vọng trở về; *
Nhưng chẳng thấy trở về bằng cách nào hay khi nào:
Ta ra đi vì yêu một người ta không thể giành được, *
Cũng chẳng biết đường thoát khỏi những tai ương đang đè nặng.”

Khi chàng đọc xong, chàng khóc; nhưng lát sau chàng lau nước mắt và ăn hoa quả của đất đủ cho nhu cầu hiện tại. Rồi chàng làm lễ tẩy rửa Wuzu và cầu những buổi cầu nguyện đã định mà suốt thời gian ấy chàng đã bỏ bê; và chàng ngồi nghỉ ở nơi đó suốt cả ngày dài. Khi đêm đến, chàng ngủ và cứ ngủ cho đến nửa đêm, khi chàng tỉnh dậy và nghe một giọng người ngâm những vần thơ này,

“Đời sống là gì với ta, nếu ta không thấy ánh ngọc trai *
Của hàm răng ta yêu, và không nhìn dáng vẻ vinh quang ấy?
Hãy cầu nguyện cho các Giám mục của nàng, những người trị vì trong tu viện, *
Tranh nhau cúi mình trước nữ vương thiên giới ấy.
Và Cái Chết còn nhẹ hơn cơn giận của người yêu dấu, *
Bóng hình nàng ám ta trong mọi cảnh nhìn thấy:
Ôi niềm vui của bạn chén, khi họ gặp nhau, *
Và người yêu cùng kẻ được yêu tựa vào nhau!
Lại càng hơn vào mùa xuân, chúa tể của hoa, *
Khi thế gian ngát hương với sắc nở và màu xanh:
Kẻ uống cạn nước nho! hãy đứng dậy, vì nay *
Đất là một Thiên đường nơi nước ngọt chảy trôi.[FN#76]”

Khi Kanmakan nghe những câu song vận ấy, nỗi sầu của chàng dâng cuộn lên; nước mắt chảy xuống má chàng như lũ suối, và những ngọn lửa bắn vào tim chàng. Vậy chàng đứng dậy để xem ai là người nói những lời này, nhưng chẳng thấy ai vì bóng tối quá dày; bởi thế đam mê trong chàng tăng thêm, chàng sợ hãi và bị bất an chiếm lấy. Chàng từ chỗ mình xuống đáy thung lũng và đi dọc bờ suối, cho đến khi lại nghe chính giọng ấy thở những tiếng thở dài nặng nề và đọc những vần thơ này,

“Dẫu thói quen của nàng là buộc phải giấu tình yêu, *
Hãy vẫn khóc trong ngày chia lìa và ly biệt!
Giữa ta và người yêu dấu từng có lời thề hẹn; *
Lời hứa đoàn viên, giao tình càng thắm thiết:
Làm tim ta vui và ban cho nó nghỉ ngơi *
Là gió Zephyr, hơi mát của nó cưỡng thêm ham muốn.
Ôi Sa'adá,[FN#77] người đeo vòng chân ấy có nghĩ đến ta chăng? *
Hay chia lìa đã khiến nàng bội ước không chút hối hận?
Và hãy nói! những đêm có đưa chúng ta lại với nhau, để chúng ta *
Kể những gian khổ đã chịu bằng lời mềm mại chăng?
Nàng nói: ‘Chàng điên vì chúng ta và đã bị định mệnh bắt’; ta đáp, *
‘Cầu nàng bình an! nàng đã biến bao bạn hữu thành xác chết!’
Nếu mắt ta nếm được giấc ngủ ngọt ngào khi nàng vắng mặt, *
Xin Allah nguyền đôi mắt ấy bằng việc mất nàng.
Ôi những vết thương trong gan ruột ta! chúng thiếu thuốc chữa *
Là đoàn viên và vị thuốc ngọt từ đôi môi ướt sương.”[FN#78]

Khi Kanmakan lại nghe bài thơ ấy do cùng giọng nói cất lên mà vẫn không thấy ai, chàng biết người nói là một kẻ yêu như chính mình, bị ngăn khỏi đoàn tụ với người yêu mình; và chàng tự nhủ: “Thật xứng hợp để người này đặt đầu cạnh đầu ta và trở thành bạn đồng hành của ta trong cảnh xa lạ này.”[FN#79] Rồi chàng gọi người nói và cất tiếng với hắn rằng: “Hỡi người đi trong đêm tối âm u nhất, hãy đến gần ta và kể cho ta nghe chuyện của ngươi, biết đâu ngươi sẽ thấy ta là kẻ có thể cứu giúp ngươi trong những nỗi khổ của ngươi.” Và khi chủ nhân của giọng nói nghe những lời ấy, hắn kêu lên: “Hỡi người đáp lại lời than của ta và muốn nghe chuyện ta, ngươi là ai trong hàng kỵ sĩ? Ngươi là người hay Jinni? Hãy mau trả lời ta trước khi cái chết của ngươi đến gần, vì ta đã lang thang trong sa mạc này chừng hai mươi ngày và chẳng thấy ai, cũng chẳng nghe tiếng nào ngoài tiếng ngươi.” Trước những lời này, Kanmakan tự nhủ: “Tình cảnh của kẻ này giống tình cảnh của ta, vì chính ta cũng đã lang thang hai mươi ngày, và trong suốt đường đi không thấy người, chẳng nghe giọng nói nào”; rồi chàng nói thêm: “Ta sẽ không trả lời hắn cho đến khi ngày rạng.” Vậy chàng im lặng, và giọng kia lại gọi chàng, nói: “Hỡi người gọi kia, nếu ngươi thuộc loài Jinn, hãy đi trong bình an, còn nếu ngươi là người, hãy ở lại một lúc cho đến khi ngày rạng hẳn và đêm chạy khỏi bóng tối.” Người nói ở lại nơi của mình và Kanmakan cũng làm vậy, cả hai không ngừng đọc thơ, khóc những dòng lệ tuôn trào, cho đến khi ánh ngày bắt đầu hiện ra và đêm rời đi cùng bóng tối. Bấy giờ Kanmakan nhìn người kia và thấy hắn thuộc người Ả Rập Badawi, một chàng trai đang độ tuổi hoa niên; mặc quần áo sờn cũ, đeo bên dây chéo một thanh gươm rỉ mà hắn giữ trong vỏ, và các dấu hiệu của nỗi nhớ tình yêu hiện rõ trên hắn. Chàng tiến đến bên hắn, bắt chuyện và chào hắn; người Badawi đáp lễ và chào chàng bằng những lời chúc lịch thiệp cho chàng sống lâu, nhưng có phần khinh thường chàng, khi thấy tuổi chàng còn non và tình trạng của chàng giống một kẻ bần cùng. Vậy hắn nói với chàng: “Hỡi thiếu niên, ngươi thuộc bộ tộc nào và có họ với ai trong số người Ả Rập; và chuyện của ngươi là gì mà đi đêm, theo lối các kỵ sĩ? Quả thật trong bóng tối ngươi đã nói với ta những lời chẳng ai nói ngoài các dũng sĩ can trường và những chiến binh như sư tử; còn nay mạng ngươi nằm trong tay ta. Nhưng ta thương ngươi vì tuổi đời xanh non; vậy ta sẽ lấy ngươi làm bạn đồng hành của ta và ngươi sẽ đi với ta, để phụng sự ta.” Khi Kanmakan nghe hắn nói những lời bất xứng ấy, sau khi đã tỏ ra khéo léo trong thơ như vậy, chàng biết hắn khinh mình và sẽ quá trớn với mình; vì vậy chàng đáp lại hắn bằng lời mềm mỏng và được lựa chọn khéo léo, nói: “Hỡi thủ lĩnh của người Ả Rập, hãy bỏ qua tuổi đời non trẻ của ta và nói cho ta biết vì sao ngươi lang thang ban đêm trong sa mạc mà đọc thơ. Ta thấy ngươi nói về việc ta phụng sự ngươi; vậy ngươi là ai và điều gì khiến ngươi nói theo cách ấy?” Hắn đáp: “Nghe đây, chàng trai! Ta là Sabbáh, con trai của Rammáh bin Humám.[FN#80] Dân ta thuộc người Ả Rập Syria, và ta có một cô em họ tên là Najmah, người đem niềm vui đến cho tất cả những ai nhìn nàng. Khi cha ta chết, ta được nuôi dạy trong nhà của anh ông, cha của Najmah; nhưng ngay khi ta lớn lên và con gái của chú ta thành đàn bà, họ cách ly nàng khỏi ta và ta khỏi nàng, vì thấy ta nghèo và không có tiền trong túi. Rồi các thủ lĩnh của người Ả Rập và các đầu mục bộ tộc trách mắng cha nàng, ông hổ thẹn trước họ và bằng lòng gả em họ ta cho ta, nhưng với điều kiện ta phải đem đến làm sính lễ cho nàng năm mươi con ngựa và năm mươi con lạc đà chạy nhanh có thể đi mười ngày[FN#81] không dừng, năm mươi con lạc đà chở lúa mì và một số tương tự chở lúa mạch, cùng với mười nô lệ da đen và mười nữ tỳ. Như vậy gánh nặng ông đặt lên ta vượt quá sức ta chịu nổi; vì ông đòi hỏi nhiều hơn sính lễ theo luật định. Bởi thế ta ở đây, đi từ Syria đến Irak, và ta đã trải qua hai mươi ngày không thấy ai ngoài ngươi; tuy vậy ta định đến Baghdad để dò xem những thương nhân giàu có và quan trọng nào sẽ khởi hành từ đó. Rồi ta sẽ đi theo dấu họ, cướp hàng hóa của họ, giết đội hộ tống của họ và lùa lạc đà cùng hàng chở trên lưng đi. Nhưng ngươi là loại người nào?” Kanmakan đáp: “Tình cảnh của ngươi giống tình cảnh của ta, chỉ có điều tai họa của ta nặng hơn nỗi khổ của ngươi; vì cô em họ của ta là con gái của một vị vua, và khoản sính lễ mà ngươi đã nói sẽ không làm hài lòng người nhà nàng, họ cũng chẳng thỏa mãn nếu ta đem thứ tương tự.” Sabbah nói: “Chắc chắn ngươi là kẻ ngu, hoặc trí khôn của ngươi vì đam mê quá độ mà đang nhặt nhạnh lông cừu! Làm sao cô em họ của ngươi có thể là con gái vua? Trên người ngươi chẳng có dấu hiệu nào của phẩm cấp vương giả, vì ngươi chỉ là một kẻ ăn xin.” Kanmakan đáp: “Hỡi thủ lĩnh của người Ả Rập, đừng thấy tình trạng này của ta là lạ; vì chuyện đã xảy ra thì đã xảy ra;[FN#82] và nếu ngươi muốn bằng chứng về ta, ta là Kanmakan, con trai của vua Zau al-Makan, con trai của vua Omar bin al-Nu'uman, Chúa tể Baghdad và vương quốc Khorasan; Vận Mệnh đã cấm ta bằng lệnh cấm bạo ngược của nó, vì cha ta chết và vương quyền của ta bị vua Sasan lấy mất. Vậy ta bí mật trốn khỏi Baghdad, e bị người nào nhìn thấy, và đã lang thang hai mươi ngày mà không ai ngoài ngươi trông thấy. Giờ ta đã bày tỏ với ngươi tình cảnh của ta, và chuyện của ta như chuyện của ngươi, nhu cầu của ta như nhu cầu của ngươi.” Khi Sabbah nghe vậy, hắn kêu lên: “Ôi niềm vui của ta, ta đã đạt được điều mong muốn! Hôm nay ta sẽ chẳng cần chiến lợi phẩm nào ngoài chính ngươi; vì ngươi thuộc dòng giống các vua mà lại ra đi trong áo kẻ ăn xin, nhất định người của ngươi sẽ tìm ngươi; và nếu họ thấy ngươi nằm trong tay ai đó, họ sẽ chuộc ngươi bằng vô số tiền. Vậy hãy quay lưng cho ta, hỡi chàng trai, và đi trước mặt ta.” Kanmakan đáp: “Ôi huynh đệ của người Ả Rập, đừng hành động theo lối ấy, vì người của ta sẽ không mua ta bằng bạc hay vàng, thậm chí không bằng một dirham đồng; còn ta là người nghèo, không mang theo nhiều hay ít gì, vậy hãy thôi con đường này và đưa ta đến với bạn đồng hành của ngươi. Chúng ta hãy lên đường đến xứ Irak và lang thang khắp thế gian, biết đâu chúng ta có thể kiếm được sính lễ và phần cưới, rồi có thể tìm và hưởng những nụ hôn cùng vòng ôm của các cô em họ khi trở về.” Nghe vậy, Sabbah nổi giận; sự kiêu ngạo và cuồng nộ của hắn tăng gấp bội và hắn nói: “Khốn cho ngươi! Ngươi dám đấu khẩu với ta sao, hỡi con chó hèn hạ nhất? Hãy quay lưng lại, hoặc ta sẽ giáng xuống ngươi một nhát vang rền!” Kanmakan mỉm cười và đáp: “Vì sao ta phải quay lưng cho ngươi? Trong ngươi không có công lý sao? Ngươi chẳng sợ đem lời chê trách đến cho đàn ông Ả Rập khi dẫn một người như ta làm tù nhân, trong nhục nhã và khinh miệt, trước khi ngươi thử sức hắn trên đồng bằng, để biết hắn là chiến binh hay thuộc dòng hèn nhát?” Nghe vậy Sabbah cười và đáp: “Thề bởi Allah, lạ thay! Ngươi là một đứa trẻ tính theo năm tháng, nhưng trong lời nói ngươi đã già dặn. Những lời này chẳng nên phát ra từ ai ngoài một nhà vô địch can trường và táo bạo: ngươi muốn công lý gì?” Kanmakan nói: “Nếu ngươi muốn bắt ta làm tù nhân, để đi cùng ngươi và phụng sự ngươi, hãy ném vũ khí xuống, cởi áo ngoài ra và đến đây vật với ta; ai trong chúng ta quật ngã được đối phương thì sẽ được quyền làm theo ý mình với người kia và bắt kẻ ấy làm thằng hầu của mình.” Bấy giờ Sabbah cười và nói: “Ta nghĩ lời lẽ phí hơi này cho thấy cái chết của ngươi đã đến gần.” Rồi hắn đứng dậy, ném vũ khí xuống và, xắn vạt áo, đến gần Kanmakan, người cũng tiến lại; họ túm lấy nhau. Nhưng người Badawi thấy đối phương mạnh hơn mình và đè nặng lên hắn như một quintal đè nặng một dinar; hắn nhìn hai chân chàng cắm chắc trên mặt đất và thấy chúng như hai ngọn tháp nhỏ[FN#83] đặt nền vững chắc, hoặc hai cột lều cắm sâu trong đất, hoặc hai ngọn núi không thể dời lay. Vậy hắn thừa nhận mình thất bại và hối tiếc vì đã đến vật với chàng, tự nhủ: “Ước gì ta đã giết hắn bằng vũ khí!” Rồi Kanmakan nắm lấy hắn, chế ngự hắn, lắc hắn đến nỗi người Badawi tưởng ruột mình sắp vỡ tung trong bụng, và hắn bật kêu: “Dừng tay, hỡi chàng trai!” Chàng chẳng để ý đến lời hắn, mà lại lắc hắn lần nữa, rồi nhấc hắn khỏi mặt đất, đi về phía dòng suối, định ném hắn vào đó: bấy giờ người Badawi gào lên, nói: “Hỡi đấng nam nhi quả cảm, ngươi định làm gì với ta?”[FN#84] Chàng nói: “Ta định ném ngươi vào dòng suối này: nó sẽ đưa ngươi đến sông Tigris. Sông Tigris sẽ đưa ngươi đến sông Isa, và sông Isa sẽ mang ngươi đến sông Euphrates, còn sông Euphrates sẽ đưa ngươi về xứ sở của chính ngươi; như vậy bộ tộc của ngươi sẽ thấy ngươi và biết dung mạo nam nhi của ngươi, cũng như biết đam mê của ngươi chân thật đến đâu.” Rồi Sabbah kêu lớn và nói: “Hỡi nhà vô địch của hang ổ sa mạc, đừng làm với ta việc mà kẻ ác dám làm; hãy thả ta ra, nhân danh đời sống của cô em họ ngươi, viên ngọc của các giai nhân!” Nghe vậy, Kanmakan đặt hắn xuống đất, nhưng khi thấy mình được tự do, hắn chạy đến thanh gươm và khiên tròn của mình, nhặt chúng lên, đứng đó tự mưu trong lòng sự phản trắc và cuộc tấn công bất ngờ vào đối thủ.[FN#85] Vị hoàng tử đọc được ý định trong mắt hắn và nói với hắn: “Ta biết điều đang ở trong tim ngươi, nay ngươi đã cầm gươm và khiên tròn. Ngươi không có tay dài cũng chẳng có mẹo vật, nhưng ngươi nghĩ rằng nếu ngươi ở trên lưng ngựa cái và có thể xoay vòng quanh đồng bằng, dùng dao găm quấy rối ta, thì ta đã bị giết từ lâu rồi. Nhưng ta sẽ cho ngươi được đền đáp, để trong tim ngươi không còn oán hận; giờ hãy đưa ta chiếc khiên và xông vào ta bằng dao của ngươi; hoặc ngươi sẽ giết ta, hoặc ta sẽ giết ngươi.” Sabbah đáp: “Nó đây,” rồi ném chiếc khiên cho chàng, tuốt lưỡi gươm và xông vào chàng, gươm trong tay; Kanmakan nắm chiếc khiên trong tay phải và bắt đầu tự đỡ bằng nó, trong khi Sabbah chém vào chàng, mỗi nhát đều nói: “Đây là đòn kết liễu!” Nhưng nó rơi vào vô ích, vì Kanmakan đỡ hết bằng khiên, công sức đều phí hoài, dù chàng không đáp lại vì thiếu thứ để đánh, còn Sabbah không ngừng chém chàng bằng thanh gươm cong, cho đến khi cánh tay hắn mỏi. Khi đối thủ thấy vậy, chàng xông vào hắn và, ôm chặt hắn trong tay, lắc hắn rồi quật hắn xuống đất. Sau đó chàng lật hắn úp mặt xuống và trói khuỷu tay hắn ra sau bằng dây đeo gươm, rồi bắt đầu kéo hắn bằng hai chân và tiến về phía dòng sông. Bấy giờ Sabbah kêu lên: “Ngươi định làm gì với ta, hỡi thiếu niên, kỵ sĩ của thời đại và người dũng cảm của đồng bằng nơi chiến trận cuồng nộ?” Chàng đáp: “Chẳng phải ta đã nói với ngươi rằng ý định của ta là gửi ngươi theo dòng sông về với thân tộc và bộ tộc của ngươi, để tim ngươi khỏi lo cho họ và tim họ khỏi lo cho ngươi, cũng để ngươi khỏi lỡ tiệc cưới của cô em họ mình sao!” Nghe vậy Sabbah thét lớn, khóc lóc, rồi vừa la vừa nói: “Đừng làm vậy, hỡi nhà vô địch của các dũng sĩ thời đại! Hãy thả ta ra và biến ta thành một trong các nô lệ của ngươi!” Rồi hắn khóc và than, bắt đầu đọc những vần thơ này,

“Ta xa lạ khỏi dân ta và sự xa lạ kéo dài: *
Ta sẽ chết giữa những người lạ sao? Ôi, ước gì ta biết!
Ta chết, mà thân tộc ta chẳng biết ta bị giết ở đâu, *
Chết trong lưu đày, không được thấy gương mặt thân yêu của bạn ta!”

Contents of the Third Volume#13

Bấy giờ Kanmakan động lòng thương hắn và nói: “Hãy lập với ta một giao ước chân thật và thề với ta một lời thề rằng ngươi sẽ là bạn đồng hành đúng nghĩa và theo ta bất cứ nơi nào ta đi.” “Tốt lắm,” Sabbah đáp và thề như vậy. Rồi Kanmakan cởi trói cho hắn, hắn đứng dậy và muốn hôn tay vị hoàng tử; nhưng chàng cấm hắn làm thế. Sau đó người Badawi mở túi da của mình, lấy ra ba chiếc bánh lúa mạch, đặt trước mặt Kanmakan, rồi cả hai ngồi xuống bên bờ suối để ăn.[FN#86] Khi họ ăn xong cùng nhau, họ làm lễ tẩy rửa nhỏ và cầu nguyện; sau đó họ ngồi trò chuyện về những gì đã xảy đến với mỗi người từ dân mình và từ những đổi dời của Thời Gian. Lát sau Kanmakan nói: “Giờ ngươi định đi đâu?” Sabbah đáp: “Ta định tìm đến Baghdad, thành quê hương của ngươi, và ở đó cho đến khi Allah đoái ban cho ta phần sính lễ.” Người kia đáp: “Vậy hãy đứng dậy và lên đường! Ta còn nán lại đây.” Vậy người Badawi từ biệt chàng và theo đường đến Baghdad, trong khi Kanmakan ở lại phía sau, tự nhủ: “Ôi linh hồn ta, với gương mặt nào ta sẽ trở về trong cảnh nghèo rách? Nay thề bởi Allah, ta sẽ không trở về tay không và, nếu Đấng Toàn Năng muốn, chắc chắn ta sẽ tự làm nên sự giải thoát cho mình.” Rồi chàng đi đến dòng suối và làm lễ tẩy rửa Wuzu; khi phủ phục, chàng đặt trán xuống bụi đất và cầu nguyện Đức Chúa, nói: “Ôi Allah! Ngài, Đấng gửi sương xuống và nuôi con sâu cư ngụ trong đá, con cầu xin Ngài đoái ban cho con sinh kế từ quyền năng Toàn năng của Ngài và ân sủng từ lòng nhân từ của Ngài!” Rồi chàng đọc lời chào kết thúc buổi cầu nguyện; vậy mà mọi con đường đều hiện ra đóng kín trước mặt chàng. Và trong khi chàng ngồi nhìn phải nhìn trái, kìa, chàng thoáng thấy một kỵ sĩ đang tiến về phía mình, lưng cúi gập và dây cương buông lỏng. Người ấy ngồi thẳng dậy và sau một lúc đến được chỗ vị hoàng tử; kẻ lạ mặt đã ở hơi thở cuối cùng và tin chắc mình sắp chết, vì khi đến nơi hắn bị thương nặng nề; nước mắt chảy xuống má hắn như nước từ miệng túi da, và hắn nói với Kanmakan: “Hỡi thủ lĩnh của người Ả Rập, hãy nhận ta vào tình bạn của ngươi chừng nào ta còn sống, vì ngươi sẽ không tìm thấy ai giống ta; và hãy cho ta chút nước, dù uống nước có hại cho kẻ bị thương, nhất là khi máu đang chảy và sinh mệnh chảy theo nó. Nếu ta sống, ta sẽ cho ngươi thứ chữa lành sự túng quẫn và nghèo khó của ngươi: còn nếu ta chết, cầu cho ngươi được ban phúc vì thiện ý của mình.” Bấy giờ dưới kỵ sĩ ấy là một con ngựa giống, một con Rabite[FN#87] cao quý đến mức lưỡi không thể tả nổi; và khi Kanmakan nhìn đôi chân nó như những trụ đá cẩm thạch, chàng bị niềm thèm muốn chiếm lấy và tự nhủ: “Quả thật một con ngựa giống[FN#88] như thế không thể tìm thấy trong thời chúng ta.” Rồi chàng giúp người cưỡi xuống ngựa, đối đãi với hắn theo lối thân tình và cho hắn nuốt một chút nước; sau đó chàng đợi cho đến khi hắn nghỉ lại rồi hỏi hắn: “Ai đã xử với ngươi như thế?” Kỵ sĩ đáp: “Ta sẽ kể cho ngươi sự thật của chuyện này. Ta là một tên trộm ngựa, suốt đời ta bận với việc dắt trộm và cướp ngựa đêm ngày, tên ta là Ghassan, tai họa của mọi chuồng ngựa và ngựa giống. Ta nghe nói về con ngựa này, rằng nó ở xứ Roum, với vua Afridun, nơi người ta đặt tên nó là Al-Katúl và gọi biệt danh nó là Al Majnún.[FN#89] Vậy ta đi đến Constantinople vì nó và rình cơ hội; trong khi ta đang chờ như thế, có một bà lão đi ra, một người rất được kính trọng giữa người Hy Lạp, và lời bà đối với họ là luật, tên là Zat al-Dawahi, bậc thầy lão luyện trong mọi lối mưu mẹo. Bà ta mang theo con tuấn mã này và chỉ mười nô lệ, không hơn, để hầu hạ bà và con ngựa; bà đang lên đường đến Baghdad và Khorasan, tới đó để tìm vua Sasan và xin hòa bình cùng được tha khỏi lệnh cấm. Vậy ta đi theo dấu họ, khao khát đoạt được con ngựa,[FN#90] và không ngừng theo họ, nhưng không thể đến gần con ngựa giống, vì các nô lệ canh giữ nghiêm ngặt, cho đến khi họ đến xứ này, và ta sợ họ vào thành Baghdad. Khi ta đang xoay xở để trộm con ngựa giống, kìa! một đám mây bụi lớn nổi lên trước họ và che kín chân trời. Lát sau nó mở ra và để lộ năm mươi kỵ sĩ, tụ lại để chặn đường các thương nhân trên đại lộ, và thủ lĩnh của họ, tên là Kahrdash, là một con sư tử trong gan dạ và xung kích; một con sư tử cuồng nộ quật các kỵ sĩ nằm bẹp như thảm trong va chạm chiến trận.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi mốt,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng kỵ sĩ bị thương đã nói với Kanmakan như sau: “Rồi chính Kahrdash ấy xông ra, đánh vào bà lão và người của bà, áp xuống họ mà đập phá, và chẳng bao lâu họ đã trói bà cùng mười nô lệ, rồi mang tù nhân và con ngựa đi trong vui mừng. Khi ta thấy vậy, ta tự nhủ: ‘Công sức của ta đã hoài phí, và ta chẳng đạt được lợi lộc.’ Tuy nhiên, ta chờ xem sự việc sẽ diễn ra thế nào, và khi bà lão thấy mình bị trói, bà khóc và nói với thủ lĩnh Kahrdash: ‘Hỡi nhà vô địch can trường và kỵ sĩ cuồng mãnh, ngươi sẽ làm gì với một bà lão và đám nô lệ, nay đã đạt được ý muốn của ngươi nơi con ngựa?’ Rồi bà mê hoặc hắn bằng những lời mềm mại và thề rằng bà sẽ gửi cho hắn ngựa cùng gia súc, cho đến khi hắn thả bà và các nô lệ của bà. Sau đó hắn cùng các bạn đồng hành đi đường mình, còn ta theo họ cho đến khi họ đến xứ này; ta rình họ, cho đến cuối cùng tìm được cơ hội trộm con ngựa, bèn leo lên nó và, rút một chiếc roi từ túi mình, quất nó. Khi bọn cướp nghe việc này, chúng xông ra nhằm vào ta, vây quanh ta mọi phía, bắn tên và phóng giáo vào ta, trong khi ta bám chặt trên lưng nó còn nó bảo vệ ta bằng vó và phần trước thân mình,[FN#91] cho đến cuối cùng nó lao vụt ra khỏi giữa chúng cùng ta như một mũi tên không trật đích hay một vì sao băng. Nhưng trong cơn khốn quẫn và náo loạn ấy, ta nhận nhiều vết thương nặng và đau đớn; và từ lúc đó, ta đã ở trên lưng nó ba ngày mà không nếm thức ăn hay ngủ chút nào, đến nỗi sức lực ta suy sụp, và thế gian đối với ta thành hư không. Nhưng ngươi đã đối xử tử tế với ta và tỏ lòng thương ta; ta thấy ngươi trần trụi, khốn khổ, và nỗi buồn đã đặt dấu trên ngươi, vậy mà những dấu hiệu của phú quý và giáo dưỡng cao nhã vẫn hiện rõ nơi ngươi. Vậy hãy nói cho ta biết, ngươi là gì, từ đâu đến và định đi đâu?” Vị hoàng tử đáp: “Tên ta là Kanmakan, con trai của Zau al-Makan, con trai của vua Omar bin al-Nu'uman. Khi cha ta chết và số phận mồ côi là phần của ta, một kẻ hèn hạ đã chiếm lấy ngai và trở thành vua trên kẻ nhỏ người lớn.” Rồi chàng kể cho hắn nghe toàn bộ quá khứ của mình từ đầu đến cuối; và tên trộm ngựa nói với chàng, vì hắn thương hại chàng: “Thề bởi Allah, ngươi là người thuộc bậc cao và quý tộc vượt trội, chắc chắn ngươi sẽ đạt địa vị cao sang và trở thành kỵ sĩ bậc nhất của thời mình. Nếu ngươi có thể nhấc ta lên lưng ngựa và cưỡi phía sau ta, đưa ta về xứ sở của ta, ngươi sẽ có vinh dự trong đời này và phần thưởng vào ngày các đoàn người gọi nhau từng đoàn,[FN#92] vì ta không còn sức để giữ mình vững nữa; còn nếu đây là ngày cuối cùng của ta, con tuấn mã luôn luôn là của ngươi, vì ngươi xứng với nó hơn bất kỳ ai khác.” Kanmakan nói: “Thề bởi Allah, nếu ta có thể mang ngươi trên vai hoặc chia sẻ ngày tháng của ta với ngươi, ta cũng sẽ làm việc này mà không cần con ngựa! Vì ta thuộc dòng giống yêu làm điều thiện và cứu giúp những kẻ cần; một hành động tử tế vì danh dự Allah Toàn Năng có thể đẩy lui bảy mươi tai họa khỏi người làm nó. Vậy hãy chuẩn bị lên đường và đặt niềm tin vào Đấng Tinh Tường, Đấng Toàn Trí.” Và chàng định nhấc hắn lên ngựa rồi tiến bước, tin cậy nơi Allah, Đấng Phù Trợ những ai tìm sự phù trợ, nhưng tên trộm ngựa nói: “Hãy đợi ta một lát.” Rồi hắn nhắm mắt, mở hai tay ra và nói: “Ta chứng nhận rằng không có thần linh nào ngoài Thiên Chúa, và ta chứng nhận rằng Mohammed là Sứ giả của Thiên Chúa!” Hắn nói thêm: “Ôi Đấng Vinh Quang, xin tha cho con tội trọng sinh tử, vì không ai có thể tha tội trọng sinh tử ngoài Đấng Bất Tử!” Rồi hắn chuẩn bị cho cái chết và đọc những vần thơ này,

“Ta đã làm hại loài người, và đã rong ruổi như gió *
Khắp thế gian, đời ta trôi qua trong những chén rượu:
Ta đã bơi dòng thác để đoạt lấy con ngựa; *
Và mưu kế của ta đã quật đổ những nơi cao trên đồng bằng.
Nhiều điều ta đã cố giành, và tội ta quá nhiều, *
Còn Katul là chiến lợi phẩm lớn nhất và cuối cùng của ta:
Ta từng hy vọng từ con tuấn mã này đạt được ước muốn và nhu cầu, *
Nhưng kết cục cuộc hành trình rộng lớn này thật hư không.
Ta đã trộm suốt đời mình, và cái chết trong giao tranh của ta *
Đã được Đức Chúa, Đấng biết trước mọi điều, định sẵn
Và ta đã nhọc nhằn những nhọc nhằn này đến tận kết cục định mệnh của chúng *
Vì một kẻ mồ côi, một người nghèo không thân thích hay bạn bè!”

Và khi đọc xong những vần thơ, hắn nhắm mắt, mở miệng; rồi chỉ với một tiếng khò khè hấp hối, hắn rời khỏi thế gian này. Bấy giờ Kanmakan đứng dậy đào một ngôi mộ và đặt hắn vào bụi đất; sau đó chàng đến bên con tuấn mã, hôn nó, lau mặt nó và vui mừng khôn xiết, nói: “Không ai có con ngựa giống sánh với con này; không, ngay cả vua Sasan cũng không.” Tình cảnh Kanmakan là như thế; còn về phần vua Sasan, lát sau tin đến với ngài rằng Wazir Dandan đã rũ bỏ lòng trung thành, và cùng ông là một nửa quân đội, những người thề rằng họ sẽ không có vua nào ngoài Kanmakan; vị Đại thần đã ràng buộc quân sĩ bằng một giao ước trang trọng và đã cùng họ đi đến các đảo Ấn Độ, đến xứ Berber và xứ Đen;[FN#93] nơi ông đã chiêu mộ quân đội từ xa gần, như biển dâng tràn đáng sợ, không ai có thể phân biệt tiền quân với hậu quân. Vị Đại thần quyết định tiến về Baghdad, nhận việc canh giữ vương quốc và giết mọi linh hồn dám cản trở, sau khi đã thề không tra gươm chiến tranh vào vỏ cho đến khi ông lập Kanmakan làm vua. Khi tin này đến với Sasan, ngài bị nhấn chìm trong biển kinh hoàng, biết rằng toàn thể quốc gia, lớn cũng như nhỏ, đã quay lại chống ngài; nỗi khốn của ngài tăng gấp bội và mối lo của ngài thành tuyệt vọng. Vì vậy ngài mở các kho tàng, phân phát tiền bạc cho các quan chức; và ngài cầu mong Kanmakan trở về, để ngài có thể kéo trái tim chàng về phía mình bằng cách đối xử tốt và ban thưởng, rồi đặt chàng làm thống lĩnh những quân đội vẫn không ngừng trung thành với chàng, nhờ đó ngài có thể dập tắt các tia lửa trước khi chúng thành ngọn lửa. Bấy giờ khi tin này đến với Kanmakan qua các thương nhân, chàng vội trở về Baghdad trên lưng con ngựa giống kể trên; và khi vua Sasan đang ngồi bối rối trên ngai, ngài nghe tin Kanmakan đến; bấy giờ ngài phái toàn bộ quân sĩ và các thủ lĩnh trong thành ra đón chàng. Vậy tất cả những ai ở Baghdad đều đi ra, gặp vị hoàng tử và hộ tống chàng đến cung điện, hôn các ngưỡng cửa, trong khi các thị nữ và hoạn quan vào gặp mẹ chàng và báo tin lành về sự trở về của chàng. Bà đến bên chàng và hôn giữa hai mắt chàng, nhưng chàng nói với bà: “Ôi mẹ của con, xin hãy để con đến với chú con, vua Sasan, người đã trùm lên con phúc lành và ân huệ.” Và trong khi chàng làm vậy, toàn thể người trong cung cùng các thủ lĩnh đều kinh ngạc trước vẻ đẹp của con ngựa giống và nói: “Không vị vua nào giống người đàn ông này.” Vậy Kanmakan vào gặp vua Sasan và chào ngài khi ngài đứng dậy đón chàng; rồi hôn tay và chân ngài, dâng con ngựa cho ngài làm lễ vật. Nhà vua chào chàng, nói: “Mừng con đến, hoan nghênh con trai ta Kanmakan! Thề bởi Allah, thế gian đã trở nên chật hẹp với ta vì sự vắng mặt của con, nhưng ngợi ca Allah vì con bình an!” Và Kanmakan cầu phúc lành xuống trên ngài. Rồi nhà vua nhìn con tuấn mã, mang danh Al-Katul, và nhận ra nó chính là con ngựa ngài đã thấy vào năm nọ khi vây hãm bọn thờ Thập giá ở Constantinople cùng phụ vương của Kanmakan, Zau al-Makan, thời điểm họ giết chú chàng là Sharrkan. Vậy ngài nói với vị hoàng tử: “Nếu cha con có được con chiến mã này, hẳn ngài đã mua nó bằng một nghìn ngựa máu: nhưng nay hãy để danh dự trở về với người danh dự. Chúng ta nhận con tuấn mã và tặng lại nó cho con như một món quà, vì con có quyền với nó hơn bất kỳ ai, là kỵ sĩ bậc nhất trong các kỵ sĩ.” Rồi vua Sasan truyền đem ra cho chàng áo vinh dự và ngựa dắt, chỉ định cho chàng nơi ở chính trong cung điện, và tỏ với chàng tình yêu thương cùng tôn trọng lớn nhất, bởi ngài sợ kết cục từ những việc làm của Wazir Dandan. Nghe vậy Kanmakan vui mừng, sự hổ thẹn và nhục nhã rời khỏi chàng. Sau đó chàng về nhà mình và, đến gặp mẹ, hỏi: “Ôi mẹ của con, con gái của chú con thế nào?” Bà đáp: “Thề bởi Allah, ôi con trai ta, nỗi lo vì con vắng mặt đã làm mẹ xao lãng mọi điều khác, ngay cả người yêu của con; nhất là khi nàng là nguyên do khiến con lưu lạc và chia lìa khỏi mẹ.” Rồi chàng than phiền với bà về tình cảnh của mình, nói: “Ôi mẹ của con, xin mẹ đến với nàng và nói chuyện với nàng; biết đâu nàng sẽ đoái thương cho con được thấy dung nhan nàng và xua khỏi con nỗi tuyệt vọng này.” Mẹ chàng đáp: “Những ước muốn hão huyền làm cổ đàn ông cúi thấp; vậy hãy gạt khỏi con ý nghĩ chỉ có thể gây phiền muộn ấy; vì mẹ sẽ không đến với nàng, cũng không vào gặp nàng cùng thông điệp như vậy.” Bấy giờ khi nghe lời mẹ, chàng kể cho bà nghe điều tên trộm ngựa nói về Zat al-Dawahi, rằng bà lão ấy khi đó đang ở trong xứ họ, định đến Baghdad, rồi nói thêm: “Chính mụ đã giết chú con và ông nội con, và nhất định con phải trả món nợ máu thay họ, để sự nhục nhã của chúng ta được xóa bỏ.” Rồi chàng rời bà và tìm đến một bà lão, một mụ già ác độc, dâm đãng, nguy hại tên là Sa'adánah, than phiền với bà về tình cảnh của mình và những gì chàng chịu đựng vì yêu cô em họ Kuzia Fakan, cầu xin bà đến với nàng và giành ân huệ của nàng cho chàng. “Tôi nghe và vâng lệnh,” mụ già đáp; rồi rời chàng, tìm đến cung điện của Kuzia Fakan để chuyển lời giúp chàng. Sau đó mụ trở về với chàng và nói: “Quả thật Kuzia Fakan gửi lời chào chàng và hứa sẽ thăm chàng đêm nay vào khoảng nửa đêm.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi bà lão đến với Kanmakan và nói: “Quả thật con gái của chú chàng gửi lời chào chàng và nàng sẽ thăm chàng đêm nay vào khoảng nửa đêm”; chàng vui mừng và ngồi xuống chờ cô em họ thực hiện lời hứa. Nhưng trước giờ ấy trong đêm, nàng đã đến với chàng, quấn trong một tấm màn lụa đen, và nàng vào gặp chàng, đánh thức chàng khỏi giấc ngủ, nói: “Sao huynh có thể giả vờ yêu muội, khi huynh đang ngủ thanh thản, lòng không vướng bận và hoàn toàn mãn nguyện?” Vậy chàng tỉnh dậy và nói: “Thề bởi Allah, ôi ước muốn của trái tim ta, ta ngủ chỉ vì hy vọng hình bóng nàng có thể ghé thăm giấc mộng của ta!” Rồi nàng trách chàng bằng những lời mềm mại và bắt đầu ngâm thành thơ trong những vần này,

“Nếu huynh là chiếc lá trong lòng trung thành của tình yêu, *
Huynh đã chẳng bao giờ để giấc ngủ niêm phong đôi mắt ấy:
Ôi huynh, người tự nhận lòng trung thành của kẻ yêu, *
Bước trên đường đau đớn và héo hon của tình nhân!
Thề bởi Allah, ôi anh họ của muội, chưa từng có *
Mắt kẻ yêu nào ngủ một giấc ngủ bất xứng như thế.”

Bấy giờ khi nghe những lời của cô em họ, chàng hổ thẹn trước nàng, đứng dậy và tự biện bạch. Rồi họ ôm nhau và than thở với nhau về nỗi thống khổ của chia lìa; họ không ngừng như vậy cho đến khi bình minh ló dạng và ban ngày tỏa ra khắp đường chân trời; khi ấy nàng đứng dậy chuẩn bị ra đi. Thấy vậy Kanmakan khóc, thở dài và bắt đầu ứng khẩu những vần thơ này,

“Ôi nàng, người đoái thương đến lúc khốn cùng nhất, *
Môi nàng cất giữ những chiếc răng như chuỗi ngọc trai;
Ta đã hôn nàng[FN#94] nghìn lần và ôm lấy eo nàng, *
Và qua đêm, má kề má nằm sát bên nhau
Cho đến khi bình minh đến để chia đôi chúng ta, *
Như lưỡi gươm rút khỏi vỏ thành một vệt sáng.”

Contents of the Third Volume#14

Và khi chàng dứt lời thơ, Kuzia Fakan từ biệt chàng và trở về cung điện của nàng. Bấy giờ vài thị nữ của nàng biết được bí mật ấy, và một trong các nữ nô này tiết lộ nó với vua Sasan; ông vào gặp Kuzia Fakan và, rút gươm nhằm vào nàng, suýt nữa giết nàng: nhưng mẹ nàng là Nuzhat al-Zaman bước vào và nói với ông: “Thề bởi Allah, chớ làm hại nàng, vì nếu chàng làm tổn thương nàng, tiếng đồn sẽ vang ra giữa dân chúng và chàng sẽ thành điều chê trách giữa các vua của thời đại! Hãy biết rằng Kanmakan không phải con của gian dâm, mà là một người danh dự và cao quý, kẻ không làm điều gì có thể khiến mình hổ thẹn, và nàng đã được nuôi lớn cùng chàng. Vậy chớ vội vàng; vì quả thật tin đồn đã lan rộng giữa mọi người trong cung điện và toàn thể dân Baghdad, rằng Wazir Dandan đã chiêu mộ quân đội từ mọi xứ và đang trên đường đến đây để lập Kanmakan làm vua.” Sasan nói: “Thề bởi Allah, nhất định ta sẽ ném hắn vào một tai họa đến nỗi đất không đỡ hắn và trời không che bóng cho hắn! Ta chỉ nói lời đẹp với hắn và tỏ ân huệ với hắn vì thần dân và các lãnh chúa của ta, e họ nghiêng về hắn; nhưng chẳng bao lâu nàng sẽ thấy điều gì sẽ xảy đến.” Rồi ông rời nàng và đi ra để sắp đặt công việc của vương quốc. Tình cảnh của vua Sasan là như vậy; còn về phần Kanmakan, ngày hôm sau chàng vào gặp mẹ mình và nói: “Ôi mẹ của con! Con đã quyết cưỡi ngựa ra đi cướp bóc và đoạt chiến lợi phẩm: con sẽ chặn đường các đoàn lữ hành và đoạt ngựa, đàn gia súc, người da đen và nô lệ da trắng; và ngay khi con đã thu được kho lớn, tình trạng của con được cải thiện nhiều, con sẽ cầu hôn cô em họ Kuzia Fakan với chú con Sasan.” Bà đáp: “Ôi con trai ta, quả thật của cải của người đời không sẵn trong tay như con lạc đà bỏ trốn;[FN#95] vì bên này của chúng là những nhát gươm và mũi giáo, cùng những người ăn thịt thú dữ, tàn phá các xứ sở, săn linh miêu và săn sư tử.” Chàng nói: “Cầu Trời ngăn ta quay lưng khỏi quyết định của mình, cho đến khi ta đạt được ý muốn!” Rồi chàng sai bà lão đến với Kuzia Fakan, để nói với nàng rằng chàng sắp lên đường tìm kiếm một sính lễ xứng với nàng, và nói với mụ già: “Bà nhất thiết phải xin nàng gửi cho ta một lời đáp.” “Tôi nghe và vâng lệnh,” bà lão đáp; rồi ra đi, lát sau trở về với lời đáp của Kuzia Fakan, rằng: “Nàng sẽ đến với chàng lúc nửa đêm.” Vậy chàng thức chờ cho đến khi một nửa đêm đã qua, khi sự bồn chồn chiếm lấy chàng, và trước khi chàng kịp biết, nàng đã vào với chàng, nói: “Đời thiếp xin chuộc chàng khỏi sự thức trắng!” Và chàng bật dậy đón nàng, kêu lên: “Ôi ước muốn của trái tim ta, đời ta xin chuộc nàng khỏi mọi tai ương và điều ác!” Rồi chàng cho nàng biết ý định của mình, và nàng khóc; nhưng chàng nói: “Đừng khóc, ôi con gái của chú ta; vì ta cầu xin Đấng đã định sự chia lìa của chúng ta đoái ban cho chúng ta đoàn viên và sự thấu hiểu tốt lành.” Rồi Kanmakan, sau khi định một ngày khởi hành, vào gặp mẹ và từ biệt bà, sau đó chàng đi xuống khỏi cung điện, quàng dây đeo gươm qua vai, đội khăn và che mặt; rồi cưỡi ngựa Al-Katul, trông như trăng trong đêm rằm, chàng luồn qua các đường phố Baghdad cho đến khi tới cổng thành. Và kìa, tại đó chàng thấy Sabbah bin Rammah đang đi ra khỏi thành; bạn đồng hành của chàng trông thấy chàng, bèn chạy đến bàn đạp ngựa và chào chàng. Chàng đáp lễ, và Sabbah hỏi: “Ôi huynh đệ của tôi, làm sao ngài có được con tuấn mã này, thanh gươm này và y phục này, trong khi đến giờ tôi vẫn chẳng kiếm được gì ngoài gươm và khiên?” Kanmakan đáp: “Thợ săn chẳng trở về nếu không có con mồi theo mức ý định của mình. Ít lâu sau khi ngươi rời đi, vận may đã đến với ta: vậy giờ hãy nói, ngươi có đi cùng ta và thực hiện ý định của mình trong bầu bạn với ta, đồng thời du hành với ta trong sa mạc này chăng?” Sabbah đáp: “Thề bởi Chúa tể Ka'abah, từ giờ trở đi tôi sẽ không gọi ngài bằng gì khác ngoài ‘chúa công của tôi’!” Rồi hắn chạy trước ngựa, gươm treo ở cổ, túi đeo giữa hai bả vai, còn Kanmakan cưỡi cách hắn một chút phía sau; và họ lao vào sa mạc trong khoảng bốn ngày, ăn thịt linh dương và uống nước các suối. Đến ngày thứ năm, họ tới gần một ngọn đồi cao, dưới chân có một trại mùa xuân[FN#96] và một dòng suối sâu chảy xiết; các gò và hõm đầy lạc đà, bò, cừu và ngựa, còn trẻ nhỏ chơi quanh các chuồng và bãi nhốt. Khi Kanmakan thấy cảnh ấy, chàng vui mừng trước cảnh tượng ấy và lồng ngực đầy khoái lạc; vậy chàng tự sửa soạn chiến đấu, để có thể đoạt lạc đà và gia súc, rồi nói với Sabbah: “Nào, hãy cùng ta xông vào chiến lợi phẩm này, chủ nhân của nó đã bỏ mặc không canh giữ ở đây, và chúng ta hãy vì nó mà chiến đấu với gần và xa, biết đâu phần nào của cải sẽ rơi vào số mệnh chúng ta.” Sabbah đáp: “Thưa chúa công, quả thật những kẻ sở hữu các đàn này đông vô số; giữa họ có những kỵ sĩ can trường và bộ binh thiện chiến; nếu chúng ta liều mạng trong việc táo bạo này, chúng ta sẽ rơi vào nguy hiểm lớn, và chẳng ai trong hai chúng ta trở về an toàn khỏi trận này; mà cả hai sẽ bị định mệnh cắt đứt, để lại các cô em họ bơ vơ.” Bấy giờ Kanmakan bật cười và biết hắn là kẻ nhát gan; vậy chàng bỏ hắn lại và cưỡi xuống dốc, quyết tâm cướp bóc, vừa hô lớn vừa ngâm những vần thơ này,

“Ôi, một giống nòi dũng mãnh là con cháu của Nu'umán, *
Những anh hùng mà lưỡi gươm xé nát đầu dòng họ thù địch![FN#97]
Một bộ tộc mà, khi bị thử trong cuộc giằng co chiến tranh, *
Sẽ đứng nơi hàng đầu chiến trận với lòng dũng cảm:
Trong lều của họ, mắt kẻ ăn mày an toàn nhắm lại, *
Không ai xét những nét xấu xí của nghèo khó hắn:
Và ta cầu xin sự trợ giúp cho họ từ Đấng *
Là Vua của các vua và đã tạo linh hồn con người.”

Rồi chàng xông vào đàn lạc đà cái như lạc đà đực đang động tình, và lùa tất cả trước mặt mình, cừu, bò, ngựa và lạc đà chạy nhanh. Bấy giờ các nô lệ chạy đến tấn công chàng với những lưỡi gươm sáng loáng và giáo dài; đi đầu họ là một kỵ sĩ Thổ, quả thật là một nhà vô địch mạnh mẽ, can trường trong giao tranh và vận hội chiến trận, khéo dùng ngọn giáo nâu sẫm và thanh gươm chớp sáng. Hắn lao vào Kanmakan, nói: “Khốn cho ngươi! Nếu ngươi biết những đàn này thuộc về ai, ngươi đã không làm việc này. Hãy biết rằng chúng là tài sản của toán người Hy Lạp, những nhà vô địch của đại dương và đoàn người Circassia; và đoàn này không có ai ngoài những kẻ dũng mãnh, gồm một trăm kỵ sĩ, những người đã rũ bỏ lòng thần phục mọi Sultan. Nhưng một con ngựa giống cao quý của họ đã bị trộm, và họ thề sẽ không trở về khỏi đây nếu không có nó.” Bấy giờ khi Kanmakan nghe những lời ấy, chàng kêu lên rằng: “Hỡi tên vô lại, con ta đang cưỡi chính là con tuấn mã các ngươi nói đến và tìm kiếm, và các ngươi muốn chiến đấu với ta vì nó! Vậy tất cả các ngươi hãy cùng lúc xông ra chống ta, và lần này hãy làm hết sức hung dữ của mình!” Rồi chàng hét giữa hai tai Al-Katul, con ngựa lao vào bọn họ như một Ghul; bấy giờ Kanmakan phóng tới người Thổ[FN#98], đâm xuyên thân hắn, quật hắn khỏi ngựa và làm sinh mệnh hắn thoát ra; sau đó chàng quay sang kẻ thứ hai, thứ ba và thứ tư, cũng đoạt mạng họ. Khi các nô lệ thấy vậy, họ sợ chàng, và chàng kêu lớn với họ: “Này, con cái của bọn điếm, hãy lùa gia súc và đàn ngựa ra, nếu không ta sẽ nhuộm giáo của ta trong máu các ngươi.” Vậy họ tháo dây các con vật và bắt đầu lùa chúng ra; Sabbah xuống đến chỗ Kanmakan, vừa kêu lớn vừa hết sức vui mừng; thì kìa! một đám bụi nổi lên và lớn dần cho đến khi che kín tầm nhìn, và dưới đó hiện ra một trăm kỵ sĩ, như những con sư tử đói mồi. Thấy vậy Sabbah bỏ chạy, trốn lên đỉnh cao nhất của ngọn đồi, rời khỏi nơi có thể bị công kích, và thưởng thức cảnh chiến đấu, nói: “Ta không phải chiến binh; nhưng vui đùa và bỡn cợt thì ta thích.”[FN#99] Rồi một trăm kỵ sĩ tiến về phía Kanmakan và vây quanh chàng mọi phía, một người trong số họ bắt chuyện với chàng, nói: “Ngươi đem chiến lợi phẩm này đi đâu?” Chàng đáp: “Ta đã lấy nó làm phần thưởng của mình và đang mang nó đi; ta cấm các ngươi đụng đến nó, hoặc hãy xông vào giao chiến, vì hãy biết rằng người đang ở trước mặt các ngươi là một con sư tử đáng sợ, một nhà vô địch danh dự, và một thanh gươm chém đứt bất cứ nơi nào nó quay đến!” Khi kỵ sĩ kia nghe những lời ấy, hắn nhìn Kanmakan và thấy chàng là một kỵ sĩ mạnh mẽ như sư tử phủ bờm, trong khi mặt chàng như trăng tròn mọc vào đêm thứ mười bốn, còn lòng dũng cảm sáng lên giữa hai mắt chàng. Bấy giờ kỵ sĩ ấy là thủ lĩnh của một trăm kỵ sĩ, tên hắn là Kahrdash; và khi hắn thấy ở Kanmakan sự hoàn hảo của kỵ sĩ đạo cùng những ân tứ vượt trội về vẻ đẹp, sắc đẹp của chàng nhắc hắn nhớ đến một người tình xinh đẹp của hắn tên là Fátin.[FN#100] Nàng là một trong những người đàn bà đẹp mặt nhất, vì Allah đã ban cho nàng sức quyến rũ, duyên dáng và mọi phẩm chất cao quý, những thứ lưỡi không thể giải thích hết và làm say đắm trái tim đàn ông. Hơn nữa, các kỵ sĩ của bộ tộc sợ sức mạnh của nàng, và mọi nhà vô địch của xứ ấy đều kính sợ tinh thần cao ngạo của nàng; nàng đã thề rằng nàng sẽ không cưới cũng chẳng để ai chiếm hữu mình, trừ phi người ấy đánh bại được nàng trong giao chiến (Kahrdash là một trong những kẻ cầu hôn nàng); và nàng nói với cha mình: “Không ai được đến gần con, trừ phi hắn có thể quật ngã con trên chiến trường và nơi của mũi giáo cùng nhát đánh.” Bấy giờ khi tin này đến tai Kahrdash, hắn khinh việc giao đấu với một cô gái, vì sợ lời chê trách; và một người thân tín của hắn nói với hắn: “Ngươi hoàn hảo trong mọi điều kiện của sắc đẹp và vẻ tốt lành; vậy nếu ngươi giao đấu với nàng, dù nàng mạnh hơn ngươi, ngươi nhất định sẽ thắng nàng; vì khi nàng thấy sắc đẹp và duyên dáng của ngươi, nàng sẽ lúng túng trước ngươi và nhường chiến thắng cho ngươi; quả thật đàn bà cần đàn ông như ngươi thấy thật rõ ràng.” Tuy vậy Kahrdash từ chối và không chịu giao đấu với nàng, và hắn cứ tránh nàng như thế, cho đến khi gặp từ Kanmakan điều đã được ghi lại. Bấy giờ hắn tưởng vị hoàng tử là người yêu Fatin của mình và sợ hãi; dù quả thật nàng yêu hắn vì những gì đã nghe về vẻ đẹp và lòng dũng cảm của hắn; vậy hắn tiến đến gần chàng và nói: “Khốn cho nàng,[FN#101] hỡi Fatin! Nàng đến đây để phô bày sức mạnh với ta; nhưng nay hãy xuống khỏi ngựa, để ta nói chuyện với nàng, vì ta đã đoạt đàn gia súc này, đánh lừa bạn hữu mình và chặn đường biết bao người dũng cảm cùng kỵ sĩ dòng cao, tất cả vì sắc đẹp của thân hình và gương mặt nàng, những thứ không ai sánh được. Vậy hãy cưới ta ngay bây giờ, để con gái các vua hầu hạ nàng và nàng trở thành Nữ vương của những xứ này.” Khi Kanmakan nghe những lời ấy, lửa giận bùng lên trong chàng và chàng kêu lớn: “Khốn cho ngươi, hỡi chó Ba Tư! Hãy bỏ Fatin và lòng tin cùng ngờ vực của ngươi, và đến đây chém đâm, vì chẳng bao lâu nữa ngươi sẽ nằm trong bụi đất”; nói vậy, chàng bắt đầu xoay quanh hắn, tấn công hắn và tìm lối thắng. Nhưng khi Kahrdash quan sát chàng kỹ, hắn biết chàng là một kỵ sĩ can trường và một tráng sĩ trong chiến đấu; sai lầm trong ý nghĩ của hắn lộ rõ khi hắn thấy lớp tơ xanh trên má chàng trải ra như sim mọc từ trái tim một đóa hồng đỏ rực. Hắn sợ đòn xông vào của chàng và nói với những kẻ đi cùng mình: “Khốn cho các ngươi! Hãy để một người trong các ngươi xông xuống đánh hắn và cho hắn thấy thanh gươm sắc cùng ngọn giáo run rẩy; vì hãy biết rằng khi nhiều người giao chiến với một người thì ấy là nhục nhã xấu xa, dù hắn có là một dũng sĩ lực lưỡng và một kỵ sĩ bất khả chiến bại.” Bấy giờ một kỵ sĩ như sư tử trong chiến đấu lao vào Kanmakan, cưỡi trên một con ngựa đen có vó trắng như tuyết và một đốm sao trên trán, lớn bằng một dirham, làm kinh ngạc trí và mắt, như thể nó là Abjar, chiến mã của Antar, đúng như thi nhân nói về nó,

“Chiến mã xông vào quân thù giữa trận, *
Hòa trời cao bên trên với đất thấp bên dưới:[FN#102]
Như thể Buổi Sớm đã cháy rực trên trán nó, *
Và nó xé gan ruột nàng để đền bù ngang giá.”

Hắn lao vào Kanmakan, họ xoay quanh nhau một lúc, trao đòn và nhận đòn khiến hồn vía bối rối và mắt mờ đi; nhưng Kanmakan là người đầu tiên giáng cho địch một nhát chém vang rền, xẻ qua khăn quấn và mũ sắt, chạm tới đầu hắn, và hắn ngã khỏi ngựa như lạc đà ngã khi lăn mình. Rồi kẻ thứ hai xông ra thách chiến với chàng, rồi theo cách ấy là kẻ thứ ba, thứ tư và thứ năm, và chàng làm với tất cả bọn họ như đã làm với kẻ đầu tiên. Bấy giờ số còn lại lập tức xông vào chàng, vì quả thật họ bị cơn giận kích động và cuồng lên bởi thịnh nộ; nhưng chẳng bao lâu chàng đã xuyên thủng tất cả bằng mũi giáo của mình. Khi Kahrdash thấy những chiến công ấy, hắn sợ chết; vì hắn biết chàng trai là kẻ gan dạ bậc nhất và kết luận chàng độc nhất giữa kỵ sĩ và dũng sĩ; hắn nói với Kanmakan: “Ta bỏ yêu sách đối với máu ngươi và tha cho ngươi máu của các bạn đồng hành ta: vậy hãy lấy những gì ngươi muốn trong gia súc rồi đi đường ngươi, vì sự vững vàng của ngươi trong chiến đấu khiến ta động lòng thương, và sống đối với ngươi tốt hơn chết.” Kanmakan đáp: “Ngươi không thiếu lòng hào hiệp của bậc cao quý! nhưng hãy bỏ lời ấy đi, chạy lấy mạng mình và đừng nghĩ đến lời trách cũng chớ nghĩ lấy lại chiến lợi phẩm; mà hãy theo đường thẳng để giữ an toàn cho chính ngươi.” Bấy giờ Kahrdash nổi giận dữ dội, cơn giận đẩy hắn đến nguyên nhân cái chết của mình; hắn nói với Kanmakan: “Khốn cho ngươi, nếu ngươi biết ta là ai, ngươi đã không dùng những lời này giữa đồng trống. Ta là con sư tử đánh nát, nổi danh là Kahrdash, kẻ cướp phá các vua lớn, chặn đường mọi người lữ hành và chiếm những thứ quý nhất của thương nhân. Con tuấn mã dưới thân ngươi chính là thứ ta đang tìm; và ta gọi ngươi hãy nói cho ta biết ngươi có được nó bằng cách nào và vì sao giữ nó trong tay.” Kanmakan đáp: “Hãy biết rằng con tuấn mã này đang được đem đến cho chú ta, vua Sasan, dưới sự hộ tống của một lão bà có địa vị cao, được mười nô lệ theo hầu, khi ngươi xông vào bà ấy và đoạt con ngựa từ tay bà; và ta có món nợ máu với mụ già này vì ông nội ta, vua Omar bin al-Nu'uman, và chú ta, vua Sharrkan.” Kahrdash nói: “Khốn cho ngươi! cha ngươi là ai, hỡi kẻ không có mẹ hợp pháp?” Chàng đáp: “Hãy biết rằng ta là Kanmakan, con trai Zau al-Makan, con trai Omar bin al-Nu'uman.” Nhưng khi Kahrdash nghe lời này, hắn nói: “Sự hoàn hảo của ngươi không thể chối cãi, cũng như sự hợp nhất nơi ngươi của đức kỵ sĩ và vẻ đẹp”; rồi hắn nói thêm: “Hãy đi trong bình an, vì cha ngươi từng ban ân cho chúng ta.” Kanmakan đáp: “Thề bởi Allah, ta sẽ chẳng hạ mình đến mức ban danh dự cho ngươi, hỡi kẻ khốn mà ta khinh, bằng cách đánh bại ngươi trên chiến trường!” Bấy giờ người Badawi nổi giận, và họ thúc ngựa lao vào nhau, hét vang, trong khi ngựa của họ dựng tai và giương đuôi.[FN#103] Họ không ngừng va vào nhau với tiếng vang lớn đến nỗi mỗi người tưởng như vòm trời bị xé đôi, và họ tiếp tục vật lộn như hai con cừu đực húc nhau, đánh và đổi mũi giáo, đâm và chém. Lát sau Kahrdash đâm vào Kanmakan; nhưng chàng tránh được và đáp lại hắn, đâm xuyên ngực hắn đến nỗi mũi giáo ló ra từ lưng. Rồi chàng gom ngựa và chiến lợi phẩm, gọi lớn với các nô lệ rằng: “Đứng lên và lùa đi hết sức các ngươi có thể!” Nghe vậy, Sabbah đi xuống, bắt chuyện với Kanmakan và nói với chàng: “Ngài đã làm thật tốt, hỡi kỵ sĩ của thời đại! Quả thật tôi đã cầu Allah cho ngài, và Đức Chúa đã nghe lời cầu của tôi.” Rồi hắn cắt đầu Kahrdash, còn Kanmakan cười và nói: “Khốn cho ngươi, hỡi Sabbah! Ta đã tưởng ngươi là kỵ sĩ ham chiến đấu.” Người Badawi nói: “Xin đừng quên nô lệ của ngài trong việc chia chiến lợi phẩm, để biết đâu nhờ đó tôi có thể cưới cô em họ Najmah.” Kanmakan đáp: “Chắc chắn ngươi sẽ có phần trong đó, nhưng giờ hãy canh giữ chiến lợi phẩm và các nô lệ.” Rồi chàng lên đường về nhà và không ngừng đi ngày đêm cho đến khi đến gần thành Baghdad; toàn quân nghe tin về Kanmakan, thấy chiến lợi phẩm và đàn gia súc của chàng cùng đầu tên trộm đường trên mũi giáo của Sabbah. Hơn nữa (vì hắn là một tên cướp đường nổi tiếng), các thương nhân nhận ra đầu Kahrdash và vui mừng, nói: “Allah đã giải thoát loài người khỏi hắn!”; họ kinh ngạc trước việc hắn bị giết và chúc phúc cho người giết hắn. Bấy giờ toàn thể dân Baghdad kéo đến với Kanmakan, mong biết những cuộc phiêu lưu nào đã xảy đến với chàng, và chàng kể cho họ nghe những gì đã qua; thế là mọi người đều kính sợ chàng, còn các kỵ sĩ và nhà vô địch đều sợ chàng. Rồi chàng lùa chiến lợi phẩm dưới các tường cung điện; và cắm cán ngọn giáo, trên mũi có đầu Kahrdash, đối diện cổng hoàng cung, chàng ban phát hào phóng cho dân Baghdad, phân phát ngựa và lạc đà, đến nỗi mọi người đều yêu mến chàng và trái tim họ nghiêng về chàng. Lát sau chàng đưa Sabbah đi và cho hắn ở trong một ngôi nhà rộng rãi, ban cho hắn một phần chiến lợi phẩm; sau đó chàng vào gặp mẹ mình và kể cho bà mọi điều đã xảy đến với mình trong chuyến đi vừa qua. Trong khi ấy tin về chàng đến tai nhà vua, ngài đứng dậy khỏi buổi tiếp kiến và, đóng mình cùng các quan trưởng, nói với họ: “Hãy biết rằng ta muốn tiết lộ với các khanh bí mật của ta và cho các khanh biết những sự thật ẩn giấu về tình cảnh của ta. Hơn nữa, hãy biết rằng Kanmakan sẽ là nguyên nhân khiến chúng ta bị nhổ bật khỏi vương quốc này, nơi chôn nhau cắt rốn của chúng ta; vì hắn đã giết Kahrdash, dẫu hắn ấy có cùng mình các bộ tộc Kurd và Thổ, và việc của chúng ta với hắn sẽ kết thúc trong sự hủy diệt của chúng ta, vì phần lớn quân đội của chúng ta là thân tộc của hắn, và các khanh biết những gì Wazir Dandan đã làm; ông ta chối bỏ ta, sau mọi ân huệ ta đã tỏ với ông ta; và sau khi trung thành, ông ta đã thành kẻ phản bội. Quả thật chuyện đến tai ta rằng ông ta đã chiêu mộ một đạo quân ở các tỉnh và đã mưu lập Kanmakan làm Sultan, vì vương quyền là của cha hắn và ông nội hắn; và chắc chắn hắn sẽ giết ta không thương xót.” Bấy giờ khi các Lãnh chúa trong vương quốc nghe từ ngài những lời ấy, họ đáp: “Tâu đức vua, quả thật người này[FN#104] không xứng với điều ấy, và nếu chúng thần không biết hắn đã được ngài nuôi lớn, chẳng ai trong chúng thần sẽ tán thành hắn. Và xin ngài biết rằng chúng thần ở dưới mệnh lệnh của ngài; nếu ngài muốn hắn chết, chúng thần sẽ làm hắn chết; và nếu ngài muốn trừ khử hắn, chúng thần sẽ trừ khử hắn.” Khi vua Sasan nghe vậy, ngài nói: “Quả thật, giết hắn là khôn ngoan; nhưng các khanh nhất thiết phải thề về việc ấy.” Vậy tất cả thề sẽ giết Kanmakan mà không cho chàng cơ hội nào; để khi Wazir Dandan đến và nghe tin chàng chết, lực của ông ta sẽ suy yếu và mưu đồ của ông ta thất bại. Khi họ đã lập khế ước và giao ước này với ngài, nhà vua ban cho họ những vinh dự cao nhất rồi lát sau lui về căn phòng riêng. Nhưng các quan lại bỏ rơi ngài và quân sĩ từ chối phụng sự, chẳng chịu lên ngựa hay xuống ngựa cho đến khi thấy điều gì sẽ xảy ra, vì họ thấy phần lớn quân đội đứng về phía Wazir Dandan. Lát sau, tin về những việc này đến với Kuzia Fakan và khiến nàng hết sức lo lắng; vì vậy nàng sai gọi bà lão thường mang thư giữa nàng và em họ, và khi bà đến, truyền bà đi gặp chàng và cảnh báo chàng về âm mưu ấy. Chàng đáp: “Hãy mang lời chào của ta đến con gái của chú ta và nói với nàng: ‘Quả thật trái đất thuộc về Allah (Đấng có Quyền năng và Uy nghi!), và Ngài ban nó làm di sản cho bất cứ ai trong các tôi tớ của Ngài mà Ngài muốn.’ Lời của người nói thật tuyệt diệu làm sao,

‘Allah nắm vương quyền! Kẻ nào tìm chiến thắng ngoài Ngài *
Sẽ bị ném ra, với linh hồn bị kết án xuống Địa ngục tầng thấp:
Nếu ta hay bất cứ người nào khác có một bề ngang ngón tay đất, *
Quy luật đã đổi và người đời sẽ thấy hai vị thần cùng chia quyền.’ ”

Contents of the Third Volume#15

Rồi bà lão trở về với Kuzia Fakan, kể cho nàng nghe lời đáp của chàng và cho nàng biết chàng đang ở trong thành. Trong khi ấy, vua Sasan chờ chàng rời khỏi Baghdad, để có thể sai kẻ theo sau giết chàng; cho đến một buổi sáng nọ, Kanmakan đi ra để săn và đuổi thú, cùng Sabbah, kẻ không rời chàng đêm hay ngày. Chàng bắt được mười con linh dương, trong đó có một con mắt đen dịu dàng, ngoảnh phải ngoảnh trái; vậy chàng thả nó đi, và Sabbah nói với chàng: “Vì sao ngài thả con linh dương này?” Kanmakan cười và cũng thả những con khác, nói: “Chỉ có nhân đạo mới thả những con linh dương có con nhỏ, và con này ngoảnh qua ngoảnh lại chỉ để tìm bầy con của nó: vậy ta thả nó đi và thả những con khác vì danh dự của nó.” Sabbah nói: “Vậy ngài cũng thả tôi ra, để tôi về với dân tôi.” Nghe vậy Kanmakan cười và lấy cán giáo đánh vào ngực hắn, khiến hắn ngã xuống đất, quằn quại như rắn. Trong khi họ đang làm như vậy, kìa, họ thấy một đám mây bụi cuộn cao và nghe tiếng vó ngựa; lát sau dưới đó hiện ra một toán kỵ sĩ và dũng sĩ. Nguyên do họ đến là thế này. Một số tùy tùng của vua Sasan đã báo cho ngài biết Kanmakan ra ngoài đi săn; vậy ngài sai gọi một Emir của người Daylamite tên là Jámi' cùng hai mươi kỵ sĩ của hắn; ngài đưa tiền cho họ và truyền họ giết Kanmakan. Vì thế khi họ đến gần vị hoàng tử, họ xông xuống tấn công chàng, còn chàng đón họ ngay giữa đợt xung kích và giết sạch tất cả, đến người cuối cùng. Và kìa, vua Sasan lên ngựa đi ra gặp người của mình, thấy tất cả bọn họ đã bị giết, bèn kinh ngạc và quay về; thì kìa! dân trong thành đặt tay lên ông và trói ông thật chặt. Còn Kanmakan, sau cuộc phiêu lưu ấy, chàng bỏ nơi đó lại phía sau và cưỡi tiếp cùng Sabbah người Badawi. Trong khi chàng đi, kìa! chàng thấy một chàng trai ngồi ở cửa một ngôi nhà bên đường và chào hắn. Chàng trai đáp lễ, rồi vào nhà, mang ra hai chiếc mâm, một đầy sữa chua và chiếc kia đầy món bánh vụn ngâm nổi trong bơ lọc; hắn đặt mâm trước mặt Kanmakan, nói: “Xin ban ân cho chúng tôi bằng cách dùng thức ăn của chúng tôi.” Nhưng chàng từ chối và chàng trai hỏi: “Có điều gì khiến ngài không chịu ăn, hỡi người?” Kanmakan đáp: “Ta có một lời khấn trên mình.” Chàng trai hỏi: “Nguyên do lời khấn của ngài là gì?”, và Kanmakan đáp: “Hãy biết rằng vua Sasan đã chiếm lấy vương quốc của ta như một bạo chúa và kẻ thù, dù nó là của cha ta và trước ta là của ông nội ta; vậy mà ông ta đã làm chủ nó bằng vũ lực sau khi cha ta chết và không kể gì đến ta, vì tuổi ta còn non. Vì vậy ta đã tự ràng buộc mình bằng lời khấn rằng sẽ không ăn thức ăn của người nào cho đến khi ta làm nhẹ được trái tim mình khỏi kẻ thù.” Chàng trai đáp: “Hãy vui mừng, vì Allah đã hoàn thành lời khấn của ngài. Hãy biết rằng hắn đã bị giam ở một nơi kia và tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa hắn sẽ chết.” Kanmakan hỏi: “Hắn bị nhốt trong nhà nào?” Người kia đáp: “Dưới vòm cao đằng kia.” Vị hoàng tử nhìn và thấy dân chúng đang vào, đánh tát Sasan, kẻ đang chịu những cơn hấp hối. Vậy chàng đứng dậy, đi lên tòa đình và quan sát những gì ở trong đó; sau đó chàng trở về chỗ mình, ngồi xuống trước thức ăn được dâng, ăn vừa đủ cho mình rồi bỏ phần còn lại vào túi. Rồi chàng ngồi lại nơi của mình và không ngừng ngồi cho đến khi đêm tối, chàng trai chủ nhà đã ngủ; khi ấy chàng đứng dậy và tìm đến tòa đình nơi Sasan bị giam. Bấy giờ quanh đó có chó canh, một con trong bọn chúng nhảy vào chàng; vậy chàng lấy trong túi ra một miếng thịt và ném cho nó. Chàng không ngừng ném thịt cho lũ chó cho đến khi đến được tòa đình và, tìm đường vào chỗ vua Sasan, đặt tay lên đầu ông; bấy giờ ông nói lớn: “Ngươi là ai?” Chàng đáp: “Ta là Kanmakan, kẻ mà ngươi đã cố giết; nhưng Allah đã khiến ngươi sa vào chính mưu ác của mình. Việc ngươi lấy vương quốc của ta và vương quốc của cha ta vẫn chưa đủ cho ngươi sao, mà ngươi còn phải mưu giết ta?”[FN#105] Và Sasan thề một lời thề giả rằng ông không mưu giết chàng và lời đồn là không thật. Vậy Kanmakan tha cho ông và nói với ông: “Hãy theo ta.” Ông nói: “Ta không thể đi nổi một bước vì yếu.” Kanmakan nói: “Nếu tình cảnh là vậy, chúng ta sẽ kiếm hai con ngựa rồi cưỡi đi, ta và ngươi, và tìm chốn đồng trống.” Vậy chàng làm như đã nói, cùng Sasan lên ngựa và cưỡi cho đến rạng sáng; khi ấy họ cầu nguyện buổi bình minh rồi đi tiếp, không ngừng đi cho đến khi đến một khu vườn, nơi họ ngồi xuống trò chuyện. Rồi Kanmakan đứng dậy đến bên Sasan và nói: “Còn điều gì khiến tim ngươi chống lại ta chăng?” Sasan đáp: “Không, thề bởi Allah!” Vậy họ đồng ý trở về Baghdad, và Sabbah người Badawi nói: “Tôi sẽ đi trước các ngài, để báo tin lành về sự trở về của các ngài cho dân chúng.” Rồi hắn cưỡi ngựa đi trước, báo cho phụ nữ và đàn ông biết tin tốt; vì thế toàn dân kéo ra đón Kanmakan với trống nhỏ và sáo; Kuzia Fakan cũng ra, như trăng tròn tỏa sáng trong toàn bộ vẻ rực rỡ của ánh sáng qua bóng tối dày đặc của đêm. Vậy Kanmakan gặp nàng, linh hồn khao khát linh hồn và thân thể khát mong thân thể. Trong dân chúng thời ấy không có chuyện gì được nói đến ngoài Kanmakan; vì các kỵ sĩ làm chứng cho chàng rằng chàng là người dũng cảm nhất trong dân chúng thời đại và nói: “Không đúng nếu ai khác ngoài Kanmakan làm Sultan của chúng ta, mà ngai vàng của ông nội chàng phải trở về với chàng như ban đầu.” Trong khi ấy Sasan vào gặp vợ mình, Nuzhat al-Zaman, nàng nói với ông: “Thiếp nghe rằng dân chúng chẳng nói gì ngoài Kanmakan và gán cho chàng những phẩm chất mà lưỡi không tả hết.” Ông đáp: “Nghe về một người không giống thấy một người. Ta đã thấy hắn, nhưng chẳng nhận thấy nơi hắn thuộc tính hoàn hảo nào. Không phải mọi điều được nghe đều được nói ra; mà dân chúng bắt chước nhau trong việc tán dương và quý chuộng hắn, còn Allah khiến lời ca ngợi hắn chạy trên lưỡi người đời, đến nỗi trái tim dân Baghdad và Wazir Dandan nghiêng về hắn, kẻ bội tín và phản trắc ấy; người đã chiêu mộ quân sĩ từ mọi xứ và tự nhận quyền đặt tên một vị vua cho đất nước; và người chọn để đất nước ấy nằm dưới tay một kẻ cai trị mồ côi chẳng có giá trị gì.” Nuzhat al-Zaman hỏi: “Vậy chàng định làm gì?”; nhà vua đáp: “Ta định giết hắn, để Wazir bị ngăn khỏi ý định của mình và trở lại lòng trung thành, thấy chẳng có cách nào ngoài phụng sự ta.” Nàng nói: “Quả thật phản trắc với người ngoài đã là điều xấu xa, huống chi với thân tộc và họ hàng! Việc chính trực nên làm là gả nó cho con gái chàng, Kuzia Fakan, và để ý đến điều người xưa đã nói,

‘Nếu Định Mệnh đặt ai đó lên trên đầu ngươi, *
Và ngươi, tự cho mình xứng đáng hơn, chê trách sự lựa chọn của nàng,
Thì vẫn hãy tôn kính hắn theo địa vị của hắn; *
Hắn sẽ đem phúc lành đến cho ngươi, dù ngươi đi xa hay gần:
Chớ nói ý nghĩ của ngươi về hắn, bằng không ngươi sẽ thuộc *
Những kẻ tự hạ mình khỏi bậc danh dự:
Nhiều Hậu cung đẹp hơn Tân nương, *
Nhưng Thời Gian và Vận Mệnh đã trợ giúp Tân nương.’”

Khi Sasan nghe những lời này của nàng và hiểu ý thơ nàng muốn nói, ông tức giận đứng dậy khỏi nàng và nói: “Nếu cái chết của nàng không đem lại cho ta ô nhục và nhục nhã, ta đã dùng lưỡi gươm này lấy đầu nàng và chấm dứt hơi thở của nàng.” Nàng nói: “Vì sao chàng nổi giận với thiếp? Thiếp chỉ đùa với chàng.” Rồi nàng đứng dậy đến bên ông, hôn đầu và tay ông, nói: “Tầm nhìn xa của chàng là đúng, và thiếp cùng chàng sẽ tìm cách nào đó để giết hắn ngay tức khắc.” Khi nghe vậy, ông vui mừng và nói: “Hãy mau lên và bày một mưu mẹo để giải thoát ta khỏi nỗi buồn này: vì quả thật cánh cửa mưu kế đã thu hẹp lại trước ta!” Nàng đáp: “Ngay lập tức thiếp sẽ bày cho chàng cách lấy mạng hắn.” Ông hỏi: “Bằng cách nào?”; nàng đáp: “Bằng nữ nô của chúng ta, kẻ gọi là Bákún.” Bấy giờ Bakun này là bậc thầy lão luyện trong mọi loại gian trá và là một trong những mụ già nguy hiểm nhất, trong tôn giáo của mụ thì kiêng tránh điều ác là không hợp pháp; mụ đã nuôi lớn Kuzia Fakan và Kanmakan, người yêu quý mụ đến mức thường ngủ dưới chân mụ. Vậy khi vua Sasan nghe vợ mình nhắc tên mụ, ông nói: “Tính toán này đúng”; rồi sai gọi bà lão, kể cho mụ nghe những gì đã qua và truyền mụ nghĩ cách giết Kanmakan, hứa cho mụ mọi điều tốt. Mụ đáp: “Mệnh lệnh của ngài sẽ được tuân theo; nhưng tôi muốn ngài, thưa chúa công, trao cho tôi một con dao găm[FN#106] đã được tôi trong nước của cái chết, để tôi có thể xử hắn nhanh hơn cho ngài.” Sasan nói: “Hoan nghênh ngươi!”; rồi trao cho mụ một con dao cong có thể đi trước định mệnh con người. Bấy giờ nữ nô này đã nghe nhiều chuyện và thơ, thuộc lòng vô số lời lạ lùng và giai thoại: vậy mụ cầm con dao găm và đi ra khỏi phòng, suy xét làm sao có thể đạt được cái chết của chàng. Rồi mụ tìm đến Kanmakan, người đang ngồi chờ tin cuộc hẹn với con gái của chú mình, Kuzia Fakan; bởi đêm ấy ý nghĩ của chàng đầy nàng, và lửa tình dành cho nàng cuồng cháy trong tim. Trong khi chàng đang như vậy, kìa, nữ nô Bakun bước vào với chàng và nói: “Giờ đoàn tụ đã gần, những ngày chia lìa đã qua và biến mất.” Bấy giờ khi chàng nghe vậy, chàng hỏi: “Kuzia Fakan thế nào?”; Bakun đáp: “Hãy biết rằng toàn bộ thời gian của nàng đều bị tình yêu dành cho chàng chiếm lấy.” Nghe vậy chàng đứng dậy, cởi áo ngoài và khoác chúng lên mụ, hứa cho mụ mọi điều tốt. Rồi mụ nói: “Hãy biết rằng ta định qua đêm này với chàng, để ta kể cho chàng nghe những chuyện ta đã nghe và an ủi chàng bằng những chuyện về nhiều kẻ cuồng loạn vì đam mê mà tình yêu đã làm thành bệnh.” Chàng nói: “Không, đúng hơn hãy kể cho ta một chuyện làm tim ta vui và khiến những nỗi lo của ta rời đi.” Mụ đáp: “Với niềm vui và thiện ý”; rồi mụ ngồi bên cạnh chàng (con dao găm ấy ở dưới áo mụ) và bắt đầu nói: “Hãy biết rằng điều dễ chịu nhất mà tai ta từng nghe là

Truyện gã ăn Hashish.

Có một người nọ yêu những phụ nữ đẹp và tiêu hết của cải mình vì họ, cho đến khi hắn trở nên nghèo đến mức chẳng còn gì; thế gian trở nên chật hẹp với hắn, và hắn thường đi khắp các phố chợ để xin miếng bánh hằng ngày. Một lần nọ, khi đang đi, kìa, một mảnh đinh sắt đâm vào ngón tay hắn và làm chảy máu; vậy hắn ngồi xuống, lau máu đi và băng ngón tay lại. Rồi hắn đứng dậy, vừa kêu vừa đi tiếp cho đến khi đến một Hammam; bước vào, hắn cởi quần áo, và khi nhìn quanh, hắn thấy nơi ấy sạch sẽ và trống không. Vậy hắn ngồi xuống bên bể phun nước, không ngừng dội nước lên đầu mình cho đến khi mệt lả.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi ba,

The Tale of the Hashish Eater.#16

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người đàn ông ấy ngồi xuống bên bể phun nước và không ngừng dội nước lên đầu cho đến khi mệt. Rồi hắn đi ra căn phòng có bể nước lạnh; và thấy không có ai ở đó, hắn tìm một góc yên tĩnh, lấy ra một miếng Hashísh,[FN#107] rồi nuốt vào. Lát sau, hơi thuốc bốc lên óc hắn và hắn lăn ra trên nền cẩm thạch. Bấy giờ Hashish khiến hắn tưởng tượng rằng một vị đại nhân đang xoa bóp cho hắn và hai nô lệ đứng nơi đầu hắn, một người cầm bát, người kia cầm đồ tắm rửa cùng mọi vật cần thiết của Hammam. Khi thấy thế, hắn tự nhủ: “Ta tưởng chừng những kẻ này đã lầm ta với ai; hoặc họ cũng thuộc phường chúng ta, bọn ăn Hashish.”[FN#108] Rồi hắn duỗi chân ra và tưởng tượng rằng người tắm nói với hắn: “Thưa chủ nhân của tôi, giờ ngài lên cung điện đã gần đến, và hôm nay đến lượt ngài vào hầu.” Nghe vậy hắn cười và tự nhủ: “Như Allah muốn,[FN#109] ôi Hashish!” Rồi hắn ngồi im không nói gì, trong khi người tắm đứng dậy, cầm tay hắn và thắt ngang lưng hắn một chiếc khăn lụa đen; sau đó hai nô lệ theo sau hắn với bát và đồ tắm, không ngừng hộ tống cho đến khi đưa hắn vào một gian phòng nhỏ, nơi họ đốt hương và nước hoa. Hắn thấy nơi ấy đầy đủ các thứ trái cây và hoa thơm, họ xắt cho hắn một quả dưa hấu và đặt hắn ngồi trên một ghế đẩu bằng gỗ mun, trong khi người tắm đứng rửa cho hắn và các nô lệ dội nước lên hắn; sau đó họ kỳ cọ hắn thật kỹ và nói: “Ôi chúa công của chúng tôi, ngài Wazir, cầu sức khỏe ở cùng ngài mãi mãi!” Rồi họ đi ra và đóng cửa lại với hắn; trong sự phù phiếm của ảo tưởng, hắn đứng dậy tháo chiếc khăn ngang lưng ra, và cười đến suýt ngất. Hắn không ngừng cười một lúc lâu, cuối cùng tự nhủ: “Có chuyện gì khiến bọn họ gọi ta như thể ta là một Đại thần và xưng ta là Chủ nhân, là Ngài? Có lẽ hiện giờ họ đang lầm lẫn; nhưng sau một giờ họ sẽ nhận ra ta và nói: tên này là một kẻ ăn xin; rồi tha hồ tát vào gáy ta.” Lát sau, thấy nóng, hắn mở cửa, bấy giờ dường như có một nô lệ nhỏ da trắng và một hoạn quan bước vào với hắn, mang theo một gói đồ. Rồi nô lệ mở gói và lấy ra ba chiếc khăn lụa, một chiếc hắn phủ lên đầu, chiếc thứ hai lên vai, và chiếc thứ ba buộc quanh eo. Hơn nữa, hoạn quan đưa cho hắn một đôi guốc tắm,[FN#110] và hắn xỏ vào; sau đó các nô lệ da trắng và hoạn quan bước vào, nâng đỡ hắn (còn hắn thì vừa đi vừa cười) ra sảnh ngoài, nơi hắn thấy được treo và trải những đồ đạc lộng lẫy, chẳng xứng với ai ngoài các vua; các tiểu đồng vội vã đến bên hắn và đặt hắn ngồi trên trường kỷ. Rồi họ bắt đầu bóp nắn hắn cho đến khi giấc ngủ thắng hắn; và hắn mơ rằng mình có một cô gái trong vòng tay. Vậy hắn hôn nàng và đặt nàng giữa hai đùi; rồi, ngồi với nàng như đàn ông ngồi với đàn bà,[FN#111] hắn cầm khí cụ trong tay, kéo nàng về phía mình và đè nặng lên nàng, thì kìa! hắn nghe có người nói với mình: “Dậy đi, đồ vô tích sự! Giờ ngọ đã đến mà ngươi vẫn còn ngủ.” Hắn mở mắt và thấy mình đang nằm trên mép bể nước lạnh, giữa một đám đông người đang cười nhạo hắn; vì của quý hắn đang dựng đứng và chiếc khăn đã tuột khỏi eo. Vậy hắn biết tất cả chẳng qua chỉ là sự lẫn lộn của giấc mộng và ảo ảnh của Hashish, hắn bực bội và nói với kẻ đã đánh thức mình: “Giá mà ngươi đợi cho đến khi ta đưa nó vào!” Bấy giờ dân chúng nói: “Ngươi không biết xấu hổ sao, hỡi gã ăn Hashish, lại nằm ngủ trần truồng với khí cụ dựng cứng?” Và họ tát vào gáy hắn cho đến khi đỏ lên. Bấy giờ hắn đang đói lả, vậy mà quả thật hắn đã nếm hương vị khoái lạc trong giấc mộng của mình. Khi Kanmakan nghe câu chuyện của nữ nô, chàng cười đến ngã ngửa và nói với Bakun: “Ôi nhũ mẫu của ta, đây quả là một chuyện hiếm và thú vị; ta chưa từng nghe giai thoại nào giống thế. Hãy nói cho ta biết! bà còn chuyện nữa chăng?” Bà đáp: “Có,” và không ngừng kể cho chàng những cuộc phiêu lưu vui nhộn cùng những chuyện ngớ ngẩn đáng cười, cho đến khi giấc ngủ thắng chàng. Rồi bà ngồi bên đầu chàng cho đến khi phần lớn đêm đã qua, bấy giờ bà tự nhủ: “Đã đến lúc lợi dụng cơ hội.” Vậy bà bật dậy, tuốt con dao cong ra và xông đến Kanmakan, sắp cắt cổ chàng thì kìa, mẹ chàng bước vào gặp cả hai. Vừa thấy bà, Bakun đứng dậy tỏ vẻ kính trọng và tiến ra đón; nỗi sợ chiếm lấy bà, bà run lên như người mắc cơn rét. Khi mẹ chàng nhìn bà, bà kinh ngạc thấy bà ta như vậy và đánh thức con trai mình; chàng tỉnh dậy và thấy bà ngồi nơi đầu mình. Bấy giờ nguyên do bà đến là Kuzia Fakan đã nghe lỏm cuộc trò chuyện và âm mưu giết Kanmakan, nàng nói với mẹ chàng: “Ôi vợ của chú ta, hãy đến với con trai người trước khi con điếm độc ác Bakun kia giết chàng”; rồi nàng kể cho bà nghe mọi việc đã xảy ra từ đầu đến cuối. Vậy bà lập tức lên đường, không nghĩ đến điều gì và không dừng vì điều gì cho đến khi vào gặp con trai mình đúng lúc Bakun sắp giết chàng trong giấc ngủ. Khi chàng thức dậy, chàng nói với mẹ mình: “Ôi mẹ của con, quả thật mẹ đến đúng lúc, vì nhũ mẫu Bakun đã ở cùng con đêm nay.” Rồi chàng quay sang Bakun và hỏi bà: “Nhân danh mạng ta! bà có biết câu chuyện nào hay hơn những chuyện bà đã kể ta nghe chăng?” Bà đáp: “Những chuyện ta đã kể cho chàng sánh sao được với chuyện ta sẽ kể chàng nghe?; nhưng dù nó hay hơn, cũng phải kể vào lúc khác.” Rồi bà đứng dậy rời đi, hầu như không tin mình thoát được, dù chàng nói: “Hãy đi trong bình an!” vì nhờ sự tinh quái của mình bà nhận ra mẹ chàng đã biết chuyện đã xảy ra. Vậy bà đi đường mình; bấy giờ mẹ chàng nói với chàng: “Ôi con trai ta, phúc thay đêm này, vì Allah Toàn Năng đã cứu con khỏi người đàn bà đáng nguyền rủa này.” Chàng hỏi: “Và việc ấy là thế nào?” bà kể cho chàng câu chuyện từ đầu đến cuối. Chàng nói: “Ôi mẹ của con, quả thật người sống không tìm thấy kẻ giết mình, và dù bị giết cũng sẽ không chết; nhưng nay khôn ngoan hơn là chúng ta rời khỏi giữa những kẻ thù này và để Allah làm điều Ngài muốn.” Vậy khi ngày rạng, chàng rời thành và nhập cùng Wazir Dandan; sau khi chàng ra đi, một vài việc xảy ra giữa vua Sasan và Nuzhat al-Zaman, khiến nàng cũng buộc phải rời thành và nhập với họ; và lát sau họ gặp tất cả các quan chức cao cấp của vua Sasan vốn nghiêng về phe họ. Rồi họ ngồi họp bàn với nhau nghĩ xem nên làm gì, và cuối cùng tất cả đồng ý mở một cuộc razzia vào xứ Roum, tại đó trả thù cho cái chết của vua Omar bin al-Nu'uman và con trai ngài Sharrkan. Vậy họ lên đường với ý định này và, sau nhiều cuộc phiêu lưu khác nhau (kể ra thì dài dòng như sẽ thấy từ những điều sau), họ rơi vào tay Rúmzán, vua của người Hy Lạp. Sáng hôm sau, vua Rumzan truyền đem Kanmakan, Wazir Dandan và đoàn của họ vào trước mặt mình; khi họ đến, ngài cho họ ngồi bên cạnh và truyền dọn các bàn thức ăn. Vậy họ ăn uống và lấy lại can đảm bởi ân sủng, sau khi đã tin chắc mình sẽ chết, khi họ bị triệu đến trước mặt nhà vua; và họ đã nói với nhau: “Ngài sai gọi chúng ta chẳng phải vì gì ngoài việc giết chúng ta.” Khi họ đã được trấn an, nhà vua nói: “Quả thật ta đã có một giấc mộng, ta kể nó với các tu sĩ, và họ nói: ‘Không ai có thể giải nó cho ngài ngoài Wazir Dandan.’” Vị Đại thần nói: “Điều ngài thấy trong mộng là điều lành, tâu đức vua của Thời Đại!” Nhà vua nói: “Ôi Wazir, ta mơ thấy mình ở trong một hố dường như là một giếng đen, nơi vô số người đang hành hạ ta; ta muốn đứng dậy, nhưng khi bật lên, ta lại ngã xuống chân mình và không thể ra khỏi cái hố ấy. Rồi ta quay lại và thấy trong đó một đai lưng bằng vàng, ta đưa tay ra lấy nó; nhưng khi nhấc nó khỏi mặt đất, ta thấy nó là hai đai lưng. Vậy ta thắt cả hai quanh eo, và kìa, hai đai lưng trở thành một đai; và đây, ôi Wazir, là giấc mộng của ta và những gì ta thấy khi giấc ngủ của ta sâu nhất.” Dandan nói: “Ôi chúa công Sultan của chúng tôi! hãy biết rằng giấc mộng này của ngài chỉ rằng ngài có một huynh đệ, hoặc con trai của huynh đệ, hoặc con trai của chú bác, hoặc một thân tộc gần khác cùng máu thịt mà ngài không biết; hơn nữa người ấy thuộc hàng cao quý nhất trong tất cả các ngài.” Bấy giờ khi nhà vua nghe những lời ấy, ngài nhìn Kanmakan, Nuzhat al-Zaman, Kuzia Fakan, Wazir Dandan và những tù nhân còn lại, rồi tự nhủ: “Nếu ta chém cổ những người này, quân đội của họ sẽ mất tinh thần vì các thủ lĩnh bị hủy diệt, và ta sẽ có thể mau chóng trở về vương quốc của mình, e vương quyền tuột khỏi tay ta.” Vậy sau khi đã quyết định việc này, ngài gọi đao phủ và truyền hắn chém đầu Kanmakan ngay tại chỗ và tức khắc, thì kìa! nhũ mẫu của Rumzan bước tới và nói với ngài: “Tâu đức vua cát tường, ngài định làm gì?” Ngài đáp: “Ta định giết những tù nhân đang ở trong tay ta; sau đó ta sẽ ném đầu họ vào giữa quân họ: rồi ta cùng toàn bộ quân đội sẽ đổ xuống họ trong một khối, giết tất cả những kẻ có thể giết và đánh tan phần còn lại: như vậy đây sẽ là hành động quyết định của cuộc chiến và ta sẽ mau chóng trở về vương quốc trước khi có điều bất trắc xảy ra giữa thần dân ta.” Khi nhũ mẫu nghe những lời ấy, bà bước đến gần ngài và nói bằng tiếng Frank: “Sao ngài có thể tự thuyết phục mình giết con trai của chính huynh ngài, em gái ngài, và con gái của em gái ngài?” Khi ngài nghe lời này, ngài nổi giận dữ dội và nói với bà: “Hỡi người đàn bà đáng nguyền rủa, chẳng phải bà đã nói với ta rằng mẹ ta bị sát hại và cha ta chết vì thuốc độc sao? Chẳng phải bà đã đưa cho ta một viên ngọc và nói với ta: ‘Quả thật viên ngọc này là của cha ngài’ sao? Vì sao bà không nói cho ta sự thật?” Bà đáp: “Tất cả những gì ta nói với ngài đều là thật, nhưng tình cảnh của ta và tình cảnh của ngài thật kỳ lạ, lịch sử của ta và lịch sử của ngài thật nhiệm mầu. Tên ta là Marjanah, và tên mẹ ngài là Abrizah: nàng được ban cho sắc đẹp, vẻ đáng yêu và lòng dũng cảm đến nỗi người đời đặt tục ngữ về nàng, và sức mạnh của nàng lừng danh giữa những người chiến trận. Còn cha ngài là vua Omar bin al-Nu'uman, Chúa tể Baghdad và Khorasan, không chút nghi ngờ, trá ngụy hay phủ nhận. Ngài ấy sai con trai mình là Sharrkan đi razzia cùng chính Wazir Dandan này; và họ đã làm tất cả những gì nam nhi có thể làm. Nhưng Sharrkan, huynh của ngài, người đi trước đạo quân, tách mình khỏi quân sĩ và tình cờ gặp mẹ ngài, hoàng hậu Abrizah, trong cung điện của nàng; còn chúng ta khi ấy tình cờ tìm một nơi riêng để vật, nàng, ta và các thị nữ khác của nàng. Chàng tình cờ bắt gặp chúng ta khi chúng ta đang trong tình cảnh ấy, và vật với mẹ ngài, người đã thắng chàng bằng quyền năng của sắc đẹp lộng lẫy và sức mạnh của mình. Sau đó nàng tiếp đãi chàng năm ngày trong cung điện, cho đến khi tin này đến với cha nàng qua bà lão Shawahi, mang biệt danh Zat al-Dawahi; bấy giờ nàng nhận Al-Islam dưới tay Sharrkan, và chàng đem nàng đi, lén lút đưa nàng về Baghdad, cùng với nàng là ta và Rayhánab và hai mươi thị nữ khác, tất cả chúng ta cũng như nàng đều theo Chính Đạo. Khi chúng ta vào trước mặt cha ngài, vua Omar bin al-Nu'uman, và ngài thấy mẹ ngài, hoàng hậu Abrizah, ngài yêu nàng, rồi vào với nàng một đêm, giao hợp với nàng, và nàng thụ thai bởi ngài, mang thai ngài. Bấy giờ mẹ ngài có ba viên ngọc, nàng dâng chúng cho cha ngài; và ngài trao một viên cho con gái mình, Nuzhat al-Zaman, một viên khác cho huynh của ngài, Zau al-Makan, và viên thứ ba cho huynh của ngài, Sharrkan. Viên cuối này mẹ ngài lấy từ Sharrkan và giữ nó cho ngài. Nhưng khi thời điểm sinh nở đến gần, nàng nhớ nhung người thân của chính mình và tiết lộ bí mật với ta; vậy ta đến với một nô lệ da đen tên là Al-Ghazban; lén nói cho hắn biết tình cảnh của chúng ta, rồi hối lộ hắn đi cùng chúng ta. Theo đó tên da đen đưa chúng ta đi và trốn khỏi thành cùng chúng ta, mẹ ngài đã gần đến ngày sinh. Nhưng khi chúng ta đến gần một nơi hoang mạc nơi biên giới xứ sở của mình, những cơn đau sinh nở ập xuống mẹ ngài. Khi ấy tên nô lệ tỏ ra là một kẻ đê tiện dâm dục, tiến lại gần nàng và đòi ở nàng một điều đáng hổ thẹn; bấy giờ nàng hét vào mặt hắn một tiếng lớn và vô cùng khiếp sợ hắn. Trong cơn sợ quá độ ấy, nàng lập tức sinh ra ngài, và đúng lúc đó, từ phía xứ sở chúng ta, nổi lên một đám mây bụi vươn cao và bay đến cho đến khi che kín tầm nhìn. Bấy giờ tên nô lệ sợ cho mạng mình; nên trong cơn cuồng nộ hắn dùng gươm chém hoàng hậu Abrizah và giết nàng; rồi leo lên ngựa và đi đường mình. Không lâu sau khi hắn đi, bụi tan ra và để lộ ông ngoại ngài, vua Hardub, Chúa tể xứ Grćcia, người khi thấy mẹ ngài (và con gái của mình) nằm bị giết trên đồng bằng, vô cùng đau đớn trong nỗi khốn khổ tăng gấp bội, rồi hỏi ta về cách nàng chết và nguyên do nàng bí mật rời khỏi vương quốc của cha mình. Vậy ta kể cho ngài nghe tất cả những gì đã qua, từ đầu đến cuối; và đây là nguyên do mối thù giữa dân xứ Hy Lạp và dân thành Baghdad. Sau đó chúng ta đem thi hài mẹ ngài bị sát hại đi chôn; ta nhận ngài và nuôi dưỡng ngài, rồi treo quanh cổ ngài viên ngọc vốn ở với hoàng hậu Abrizah. Nhưng khi ngài lớn lên và đến tuổi đàn ông, ta không dám cho ngài biết sự thật của chuyện này, e thông tin ấy khơi lên cuộc chiến trả thù máu giữa các ngài. Hơn nữa, ông ngoại ngài đã truyền ta giữ kín, và ta không thể chống lại mệnh lệnh của cha mẹ ngài, Hardub, vua của người Hy Lạp. Vậy đây là nguyên do ta che giấu và là lý do ta kiềm mình không cho ngài biết cha ngài là vua Omar bin al-Nu'uman; nhưng khi ngài lên ngôi, ta đã nói với ngài những gì ngài biết; và ta không dám tiết lộ phần còn lại cho ngài cho đến giây phút này, tâu đức vua của Thời Đại! Vậy nay ta đã bày tỏ cho ngài bí mật và chứng cứ của ta, đã cho ngài biết tất cả những gì ta biết; và ngài hiểu rõ nhất điều đang ở trong tâm trí mình.” Bấy giờ tất cả các tù nhân đều đã nghe nữ nô Marjanah, nhũ mẫu của vua Rumzan, nói như bà đã nói; khi ấy Nuzhat al-Zaman không chậm trễ hay do dự, kêu lớn: “Vua Rumzan này là huynh của ta theo cha ta, vua Omar bin al-Nu'uman, và mẹ ngài là hoàng hậu Abrizah, con gái vua Hardub, Chúa tể người Hy Lạp; và ta biết rất rõ nữ nô Marjanah này.” Nghe vậy, sự rối loạn và bối rối chiếm lấy Rumzan, ngài lập tức truyền đưa Nuzhat al-Zaman đến bên mình. Khi ngài nhìn nàng, máu khao khát máu, và ngài hỏi nàng về lịch sử của mình. Nàng kể cho ngài câu chuyện, và chuyện của nàng khớp với chuyện của Marjanah, nhũ mẫu của ngài; bấy giờ nhà vua tin chắc rằng ngài quả thật, không còn nghi ngờ gì, là người của Irak; và vua Omar bin al-Nu'uman là cha ngài. Vì vậy không mất thời gian, ngài truyền tháo trói cho em gái mình, và Nuzhat al-Zaman tiến đến bên ngài, hôn tay ngài, trong khi mắt nàng trào lệ. Nhà vua cũng khóc khi thấy nàng khóc, tình huynh muội chiếm lấy ngài và trái tim ngài khao khát con trai của huynh mình, Sultan Kanmakan. Vậy ngài bật dậy và, lấy thanh gươm khỏi tay đao phủ (khiến các tù nhân chắc chắn cái chết đã đến), ngài cho họ được đặt gần mình và dùng lưỡi gươm cắt dây trói của họ, rồi nói với nhũ mẫu Marjanah: “Hãy giải thích việc này cho đoàn người này, đúng như bà đã giải thích cho ta.” Bà đáp: “Tâu đức vua, hãy biết rằng Shayth này là Wazir Dandan và ông là nhân chứng tốt nhất cho câu chuyện của ta, vì ông biết sự thật của việc này.” Rồi bà quay sang các tù nhân và lặp lại toàn bộ câu chuyện với họ ngay tại chỗ và tức khắc, trước mặt các vua của người Hy Lạp và các vua của người Frank; bấy giờ hoàng hậu Nuzhat al-Zaman, Wazir Dandan và tất cả những người bị giam cùng họ đều xác nhận lời bà. Khi Marjanah, nữ nô, kể xong, tình cờ nhìn Sultan Kanmakan, bà thấy trên cổ chàng viên ngọc thứ ba, bạn đôi của hai viên vốn ở với hoàng hậu Abrizah; nhận ra nó, bà kêu một tiếng lớn đến nỗi cung điện vang dội, rồi nói với nhà vua: “Ôi con trai ta, hãy biết rằng nay sự chắc chắn của ta càng được xác nhận hơn, vì viên ngọc quanh cổ tù nhân đằng kia là bạn đôi của viên ta đã treo vào cổ ngài; và vì đây là hai viên, tù nhân này quả thật là con trai của huynh ngài, Kanmakan.” Rồi nữ nô Marjanah quay sang Kanmakan và nói với chàng: “Hãy cho ta xem viên ngọc ấy, tâu đức vua của Thời Đại!”; vậy chàng lấy nó khỏi cổ và trao cho bà. Sau đó bà hỏi Nuzhat al-Zaman về viên ngọc thứ ba, và nàng trao nó cho bà; khi hai viên ở trong tay bà, bà trao chúng cho vua Rumzan, và sự thật cùng chứng cứ được tỏ rõ với ngài; ngài tin chắc rằng mình quả thật là chú của Sultan Kanmakan và cha mình là vua Omar bin al-Nu'uman. Vậy ngài lập tức và ngay tại chỗ đứng dậy, đi đến Wazir Dandan, vòng tay ôm cổ ông; rồi ngài ôm vua Kanmakan và cả hai bật lên một tiếng kêu lớn vì quá đỗi vui mừng. Tin vui lập tức được truyền rực khắp; người ta đánh trống nhỏ và não bạt, trong khi kèn shawm vang lên và dân chúng mở hội lớn. Quân đội Irak và Syria nghe tiếng vui mừng ồn ào giữa người Hy Lạp; vậy họ đều lên ngựa đến người cuối cùng, và vua Zibl Khan cũng cưỡi ngựa, tự nhủ: “Ước gì ta biết được nguyên do tiếng ồn ào và vui mừng này trong quân đội người Frank và người Hy Lạp!” Rồi quân đội Irak trang bị để chiến đấu và tiến vào đồng bằng, nơi chém và đâm. Lát sau, vua Rumzan quay lại và thấy quân đội đã dàn trận, đang sửa soạn chiến đấu, nên ngài hỏi nguyên do việc ấy và được cho biết tình cảnh. Bấy giờ ngài truyền cháu gái mình, con gái của huynh mình, Kuzia Fakan, lập tức và ngay tức khắc trở về với quân đội Syria và Irak, báo cho họ biết sự việc đã xảy ra và vì sao việc vua Rumzan là chú của Sultan Kanmakan đã được đưa ra ánh sáng. Nàng lên đường, gạt khỏi mình những sầu muộn và phiền não, rồi đến với vua Zibl Khan,[FN#112] chào ngài và kể cho ngài nghe tất cả những gì đã xảy ra về sự hòa hợp tốt lành, và việc vua Rumzan đã được chứng minh là chú của nàng và chú của Kanmakan. Khi nàng vào với ngài, nàng thấy ngài mắt đẫm lệ, lo sợ cho các Emir và hoàng tử bị bắt; nhưng khi ngài nghe những gì đã qua, từ đầu đến cuối, nỗi buồn của người Hồi giáo vơi đi và họ vui mừng càng thêm vui. Rồi vua Zibl Khan cùng tất cả quan chức và đoàn tùy tùng của ngài lên ngựa, theo công chúa Kuzia Fakan cho đến khi họ tới đình trướng của vua Rumzan; khi vào, họ thấy ngài đang ngồi cùng cháu mình, Sultan Kanmakan. Bấy giờ ngài đã bàn với Wazir Dandan về vua Zibl Khan và đã đồng ý giao cho ông cai quản thành Damascus xứ Sham, để ông làm vua trên đó như trước kia, trong khi chính họ vào Irak. Theo đó, họ xác nhận ông trong chức phó vương Damascus xứ Syria, và truyền ông lập tức lên đường về nơi cai trị; vậy ông ra đi cùng quân đội của mình, còn họ cưỡi theo ông một đoạn đường để từ biệt. Sau đó họ trở về chỗ của mình, bấy giờ hai đạo quân hội lại và ra lệnh hành quân về Irak; nhưng các vua nói với nhau: “Tim chúng ta sẽ không bao giờ yên nghỉ, cơn giận chúng ta sẽ không thôi bùng cháy cho đến khi chúng ta trả được thù trên mụ già Shawahi, biệt danh Zat al-Dawahi, và xóa sạch nỗi nhục cùng vết ô trên danh dự của chúng ta.” Bấy giờ vua Rumzan và cháu của ngài lên đường, được các quý nhân và đại thần vây quanh; quả thật Kanmakan vui mừng vì chú mình, vua Rumzan, và cầu phúc lành xuống trên nhũ mẫu Marjanah, người đã làm cho họ nhận biết nhau. Họ đi mãi và không ngừng đi cho đến khi đến gần quê nhà Baghdad; khi Đại Thị thần Sasan nghe tin họ đến gần, ông ra ngoài đón họ và hôn tay vua Rumzan, người ban cho ông một áo vinh dự. Rồi vua Roum ngồi xuống trên ngai và đặt bên cạnh mình cháu ngài là Sultan Kanmakan, người nói với ngài: “Ôi chú của con, vương quốc này không xứng với ai ngoài chú.” Rumzan đáp: “Allah là nơi con nương náu và cầu Đức Chúa ngăn ta thay thế con trong vương quốc của con!” Bấy giờ Wazir Dandan khuyên họ chia ngai giữa hai người, mỗi người thay phiên trị vì một ngày; và việc ấy khiến họ rất hài lòng.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

The Tale of the Hashish Eater.#17

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi bốn,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng hai vị vua đồng ý mỗi người thay phiên trị vì một ngày: rồi họ mở tiệc, hiến tế những con vật thanh sạch và cử hành hội lớn; họ ở như vậy một thời gian, trong khi Sultan Kanmakan qua đêm với cô em họ Kuzia Fakan. Sau thời kỳ ấy, khi hai vị vua đang ngồi vui mừng vì tình cảnh của mình và vì kết thúc tốt lành của những phiền não, kìa, họ thấy một đám mây bụi nổi lên và vươn cao cho đến khi che kín thế gian khỏi mắt họ. Từ trong đó xuất hiện một thương nhân vừa thét vừa kêu lớn cầu cứu, nói rằng: “Ôi các vua của Thời Đại! cớ sao tôi cư ngụ an toàn nơi đất của kẻ Vô đạo, mà lại bị cướp bóc trong vương quốc của các ngài, dẫu nơi đây là chốn trú ngụ của công lý[FN#113] và bình an?” Bấy giờ vua Rumzan tiến đến gần ông và hỏi về tình cảnh của ông, ông đáp: “Tôi là một thương nhân và, như những thương nhân khác, tôi đã vắng quê nhà lâu năm, đi qua các xứ xa chừng hai mươi năm; tôi có một sắc chỉ miễn trừ từ thành Damascus do vị Phó vương, vua Sharrkan (người đã gặp lòng thương xót) viết cho tôi, vì cớ tôi đã tặng ngài một nữ nô. Nay khi tôi đang đến gần quê nhà, mang theo một trăm kiện những vật quý hiếm của Hind, thì khi tôi đưa chúng đến gần Baghdad, nơi đặt vương quyền của các ngài và chốn bình an cùng công lý của các ngài, ngoài kia bọn Ả Rập hoang dã và người Kurd[FN#114] từ mọi xứ tụ lại thành toán đã xông vào tôi; chúng giết người của tôi, cướp tiền của tôi, và đây là điều chúng đã làm với tôi.” Rồi người lái buôn khóc trước mặt vua Rumzan, nói rằng mình là một lão nhân yếu infirm; ông than khóc cho mình cho đến khi nhà vua cảm thương và động lòng với ông; vua Kanmakan cũng vậy, và họ thề sẽ xuất quân đánh bọn trộm cướp. Vậy họ lên đường giữa một trăm kỵ sĩ, mỗi người được kể là đáng giá hàng nghìn người, còn người thương nhân đi trước họ để dẫn đường đúng lối; họ không ngừng đi suốt ngày ấy và trọn đêm dài cho đến rạng sáng, khi họ đến một thung lũng nhiều dòng rạch và cây cối phủ bóng. Tại đây họ thấy toán cướp rải rác khắp thung lũng, đã chia nhau các kiện hàng của người thương nhân; nhưng vẫn còn một ít hàng chưa chia. Vậy một trăm kỵ sĩ xông vào chúng và vây chúng mọi phía, vua Rumzan hô chiến hiệu, và cháu ngài Kanmakan cũng làm như vậy; chẳng bao lâu họ bắt được tất cả bọn chúng, gần ba trăm kỵ sĩ, kết bè với nhau từ cặn bã của phường vô lại.[FN#115] Họ lấy những gì có thể tìm được trong hàng hóa của người thương nhân, trói chặt chúng và đưa chúng về Baghdad, nơi vua Rumzan và cháu ngài, vua Kanmakan, cùng ngồi trên một ngai, truyền đưa các tù nhân qua trước mặt để duyệt xét, rồi hỏi chúng về tình cảnh và thủ lĩnh của chúng. Chúng nói: “Chúng tôi không có thủ lĩnh nào ngoài ba người này, chính họ đã tụ họp chúng tôi từ mọi góc và mọi xứ.” Hai vị vua nói với chúng: “Hãy chỉ ra những kẻ đầu lĩnh của các ngươi!”; và khi việc ấy xong, họ truyền bắt các thủ lĩnh, thả đồng bọn của chúng sau khi lấy lại tất cả hàng hóa trong tay chúng và hoàn trả cho người thương nhân, người kiểm tra vải vóc và tiền bạc của mình, thấy thiếu một phần tư vốn hàng. Hai vị vua nhận bù toàn bộ tổn thất của ông; bấy giờ người lái buôn lấy ra hai bức thư, một bức bằng nét chữ của Sharrkan, và bức kia bằng nét chữ của Nuzhat al-Zaman; vì đây chính là người thương nhân đã mua Nuzhat al-Zaman từ tay người Badawi, khi nàng còn là trinh nữ, và đã gửi nàng đến cho huynh nàng Sharrkan; rồi giữa họ đã xảy ra những gì đã xảy ra.[FN#116] Bấy giờ vua Kanmakan xem các bức thư và nhận ra nét chữ của chú mình Sharrkan; và, sau khi đã nghe chuyện của cô mình, Nuzhat al-Zaman, chàng vào gặp nàng với bức thư thứ hai do nàng viết cho người thương nhân đã mất tiền vì nàng; Kanmakan cũng kể cho nàng mọi điều đã xảy đến với người lái buôn từ đầu đến cuối. Nàng nhận ra nét chữ của chính mình và, nhận ra người thương nhân, sai đem lễ vật tiếp khách đến cho ông và phó thác ông cho huynh cùng cháu mình, hai người truyền ban cho ông nhiều tiền, nô lệ da đen và tiểu đồng để hầu hạ; ngoài ra Nuzhat al-Zaman gửi cho ông một trăm nghìn dirham tiền mặt và năm mươi kiện hàng hóa, lại tặng ông những lễ vật giàu sang khác. Rồi nàng sai gọi ông, và khi ông đến, nàng tiến đến gần ông, chào ông và nói với ông rằng nàng là con gái vua Omar bin al-Nu'uman, huynh nàng là vua Rumzan và vua Kanmakan là cháu nàng. Bấy giờ người thương nhân vui mừng khôn xiết, chúc mừng nàng vì nàng bình an và được đoàn tụ với huynh mình, rồi hôn tay nàng, cảm tạ nàng vì lòng hào phóng, và nói với nàng: “Thề bởi Allah! một việc thiện không mất đi nơi người!” Rồi nàng rút về căn phòng riêng của mình, còn người lái buôn ở lại với họ ba ngày; sau đó ông từ biệt họ và lên đường trở về xứ Syria. Bấy giờ hai vị vua sai gọi ba tên thủ lĩnh cướp đường kia và hỏi chúng về tình cảnh của chúng, khi một tên tiến lên và nói: “Hãy biết rằng tôi là một người Badawi, vốn quen rình bên đường để bắt cóc trẻ nhỏ[FN#117] và các cô gái đồng trinh, rồi bán họ cho thương nhân; tôi đã làm việc ấy nhiều năm, cho đến những ngày gần đây, khi Satan xúi tôi nhập bọn với hai con chim giá treo cổ kia để tụ họp mọi thứ cặn bã của người Ả Rập và các dân khác, hầu chúng tôi cướp hàng hóa và chặn đường thương nhân.” Hai vị vua nói: “Hãy kể cho chúng ta cuộc phiêu lưu lạ lùng nhất đã xảy đến với ngươi trong việc bắt cóc trẻ em và thiếu nữ.” Hắn đáp: “Ôi các vua của Thời Đại, điều kỳ lạ nhất đã xảy đến với tôi là một ngày nọ, hai mươi hai năm trước, tôi bắt cóc một cô gái thuộc Thành Thánh; nàng được ban sắc đẹp và vẻ duyên dáng, dẫu nàng chỉ là một người hầu và mặc áo quần sờn rách, trên đầu có một mảnh vải camlet. Vậy tôi dùng mưu đánh bẫy nàng khi nàng đi ra khỏi caravanserai; và ngay giờ ấy, tôi đặt nàng lên lạc đà rồi trốn đi cùng nàng, định đưa nàng về với dân tôi trong Sa mạc, ở đó bắt nàng chăn lạc đà và nhặt phân chúng trong thung lũng. Nhưng nàng khóc một trận thê thảm đến nỗi, sau khi giáng xuống nàng những đòn đánh, tôi đem nàng đến thành Damascus, nơi một thương nhân thấy nàng ở cùng tôi và, kinh ngạc trước vẻ đẹp của nàng cùng thán phục tài năng nàng, muốn mua nàng từ tôi và cứ trả giá cao hơn mãi, cho đến cuối cùng tôi bán nàng cho ông ta với giá một trăm nghìn dirham. Sau khi bán nàng, tôi nghe nàng phô bày tài hùng biện kỳ diệu; rồi chuyện đến tai tôi rằng người thương nhân mặc cho nàng y phục đẹp và dâng nàng cho Phó vương Damascus, người đã trả cho ông gấp ba lần giá ông đã trả cho tôi; và giá ấy, thề bởi đời tôi! vẫn còn ít đối với một thiếu nữ như vậy. Đây, ôi các vua của Thời Đại, là điều kỳ lạ nhất từng xảy đến với tôi.” Khi hai vị vua nghe câu chuyện của hắn, họ kinh ngạc; nhưng khi Nuzhat al-Zaman nghe điều người Badawi kể, ánh sáng trước mặt nàng hóa thành bóng tối, nàng kêu lên và nói với huynh mình Rumzan: “Chắc chắn và không nghi ngờ gì nữa, đây chính là người Badawi đã bắt cóc muội ở Thành Thánh Jerusalem!” Rồi nàng kể cho họ nghe tất cả những gì nàng đã chịu đựng bởi hắn trong cảnh xa lạ: nhọc nhằn, đòn đánh, đói khát, nhục nhã, khinh miệt, và nói thêm: “Giờ đây ta được phép giết hắn.” Nói vậy, nàng chộp lấy một thanh gươm và lao vào hắn để chém; và kìa, hắn kêu lên nói: “Ôi các vua của Thời Đại, xin đừng để nàng giết tôi, cho đến khi tôi kể cho các ngài những cuộc phiêu lưu hiếm lạ đã xảy đến với tôi.” Và cháu nàng Kanmakan nói với nàng: “Ôi cô của con, hãy để hắn kể chuyện của hắn cho chúng ta nghe, rồi sau đó cô muốn làm gì với hắn thì làm.” Vậy nàng giữ tay lại, và hai vị vua nói với hắn: “Nay hãy cho chúng ta nghe chuyện của ngươi.” Hắn nói: “Ôi các vua của Thời Đại, nếu tôi kể cho các ngài một chuyện hiếm, các ngài có tha cho tôi chăng?” Họ đáp: “Có.” Rồi tên thủ lĩnh cướp Badawi bắt đầu,

Truyện Hammad người Badawi.

Và hắn nói:—Hãy biết rằng ít lâu trước, một đêm nọ tôi thao thức dữ dội và tưởng bình minh sẽ không bao giờ rạng; vậy, ngay khi trời vừa sáng, tôi đứng dậy, không trì hoãn hay chậm trễ; rồi khoác gươm qua vai, lên ngựa và đặt giáo vào thế sẵn. Sau đó tôi cưỡi ra ngoài để tiêu khiển và săn bắn, và khi đang đi, một nhóm người bắt chuyện với tôi và hỏi tôi định đi đâu. Tôi nói với họ, và họ nói: “Chúng tôi sẽ đi cùng ngươi.” Vậy tất cả chúng tôi cùng đi với nhau, và trong khi đang đi, kìa! một con đà điểu vụt dậy, chúng tôi đuổi theo nó, nhưng nó thoát khỏi sự truy đuổi của chúng tôi, dang cánh không ngừng bay trước mặt chúng tôi (còn chúng tôi đuổi theo bằng mắt) cho đến khi nó làm chúng tôi lạc trong một sa mạc nơi không có cỏ cũng không có nước, và chúng tôi chẳng nghe thấy gì trong đó ngoài tiếng rít của rắn, tiếng than của Jinn và tiếng tru của Ghul; khi chúng tôi đến nơi ấy, con đà điểu biến mất, chúng tôi không thể biết nó đã bay lên trời hay chui xuống đất. Rồi chúng tôi quay đầu ngựa và nghĩ trở về; nhưng thấy rằng lần lại bước chân vào lúc nắng cháy ấy sẽ nhọc nhằn và nguy hiểm; vì không khí oi bức làm chúng tôi khổ sở, đến nỗi chúng tôi khát khô cổ và ngựa chúng tôi đứng lại. Chúng tôi chắc mình sẽ chết; nhưng trong khi ở tình cảnh ấy, bất chợt từ xa chúng tôi thoáng thấy một đồng cỏ rộng, nơi linh dương đang nhảy nhót. Trong đó có một chiếc lều dựng sẵn, bên cạnh lều là một con ngựa buộc dây và một ngọn giáo cắm xuống đất với mũi lóe sáng dưới mặt trời.[FN#118] Thấy vậy, trái tim chúng tôi hồi sinh sau khi đã tuyệt vọng, và chúng tôi quay đầu ngựa về phía chiếc lều ấy, tiến đến đồng cỏ và nước tưới cho nó; tất cả các bạn tôi đều đi về phía ấy, còn tôi đi đầu họ, và chúng tôi không ngừng đi cho đến khi tới đồng cỏ. Rồi chúng tôi xuống ngựa bên suối và cho thú cưỡi uống nước. Nhưng tôi bị một cơn sốt tò mò ngu xuẩn chiếm lấy, bèn đi đến cửa chiếc lều ấy, trong đó tôi thấy một chàng trai, má chưa mọc râu, đẹp như trăng non; bên tay phải chàng là một thiếu nữ eo thon, như một nhành liễu. Vừa đặt mắt nhìn nàng, tình yêu đã chiếm lấy trái tim tôi, và tôi chào chàng trai, người đáp lễ tôi. Rồi tôi nói: “Ôi huynh đệ, hãy nói cho ta biết ngươi là ai và thiếu nữ ngồi bên cạnh ngươi là gì đối với ngươi?”[FN#119] Bấy giờ chàng trai cúi đầu xuống đất một lúc, rồi ngẩng lên và đáp: “Trước hết hãy nói cho ta biết ngươi là ai và những kỵ sĩ đi cùng ngươi là ai?” Tôi đáp: “Ta là Hammad, con trai của al-Fazari, kỵ sĩ lừng danh, người được kể giữa dân Ả Rập như năm trăm kỵ sĩ. Sáng nay chúng tôi rời nơi mình ở để tiêu khiển và săn bắn, rồi bị cơn khát thắng; nên ta đến cửa lều này, nghĩ biết đâu có thể xin ngươi một ngụm nước.” Khi nghe những lời này của tôi, chàng quay sang thiếu nữ xinh đẹp và nói: “Hãy mang cho người này nước và thức ăn nào đã sẵn.” Vậy nàng đứng dậy, kéo lê tà áo, trong khi những vòng vàng leng keng nơi mắt cá chân và chân nàng vướng vào những lọn tóc dài, rồi nàng biến mất một lát. Lát sau nàng trở lại, tay phải mang một bình bạc đầy nước lạnh và tay trái một bát đầy sữa cùng chà là, kèm ít thịt thú hoang. Nhưng tôi không thể nhận thức ăn hay thức uống từ tay nàng vì đam mê quá độ, và tôi áp vào nàng hai vần thơ này, nói rằng,

“Như thể màu nhuộm đen[FN#120] trên lòng bàn tay nàng *
Là con quạ đậu trên một dải tuyết mới tinh;
Ngươi thấy Mặt Trời và Mặt Trăng hợp lại trong gương mặt nàng, *
Trong khi Mặt Trời mờ đi vì sợ và Mặt Trăng tái nhợt vì kinh.”

Sau khi tôi ăn uống xong, tôi nói với chàng trai: “Hãy biết, ôi thủ lĩnh của người Ả Rập, rằng ta đã nói với ngươi bằng tất cả sự thật ta là ai và là gì, và nay ta muốn ngươi cũng làm như vậy với ta, nói cho ta sự thật về tình cảnh của ngươi.” Chàng trai đáp: “Còn thiếu nữ này, nàng là em gái ta.” Tôi nói: “Ta muốn ngươi tự nguyện gả nàng cho ta làm vợ: bằng không ta sẽ giết ngươi và cưỡng đoạt nàng.” Nghe vậy, chàng cúi đầu xuống đất một lúc, rồi ngẩng mắt lên nhìn tôi và đáp: “Ngươi nói thật khi tự xưng là kỵ sĩ nổi tiếng và lừng danh trong chiến đấu, quả thật ngươi là sư tử của sa mạc; nhưng nếu tất cả các ngươi đánh úp ta bằng phản trắc, giết ta trong cơn thịnh nộ và cưỡng đoạt em gái ta, thì đó sẽ là một vết nhơ trên danh dự các ngươi. Nếu các ngươi, như các ngươi nói, là những kỵ sĩ được kể vào hàng các nhà vô địch và không kể gì đến cú va của cướp kích cùng giao tranh, hãy cho ta một ít thời gian để mặc giáp, đeo gươm, đặt giáo vào thế sẵn và lên chiến mã. Rồi chúng ta sẽ ra chiến trường, ta và các ngươi; nếu ta thắng các ngươi, ta sẽ giết các ngươi đến người cuối cùng; còn nếu các ngươi thắng ta và giết ta, thiếu nữ này, em gái ta, sẽ thuộc về các ngươi.” Nghe những lời như thế, tôi đáp: “Việc này đúng công lý, và chúng ta không phản đối.” Rồi tôi quay đầu ngựa lại (vì tình yêu dành cho thiếu nữ càng lúc càng nóng) và trở về với các bạn đồng hành, kể cho họ nghe vẻ đẹp và nét đáng yêu của nàng, cũng như vẻ đẹp của chàng trai ở cùng nàng, cùng lòng dũng cảm và sức mạnh tâm hồn của chàng, và việc chàng đã tự xưng là địch thủ của một nghìn kỵ sĩ. Hơn nữa, tôi mô tả cho đoàn của tôi chiếc lều và mọi của cải cùng vật quý hiếm trong đó, rồi nói với họ: “Hãy biết rằng chàng trai này sẽ không tự tách khỏi xã hội và chọn sống một mình nơi đây, nếu chàng không phải là người có sức mạnh lớn: vậy ta đề nghị ai giết được chàng trẻ tuổi ấy sẽ lấy em gái chàng.” Họ nói: “Điều này làm chúng ta hài lòng.” Rồi đoàn tôi trang bị vũ khí, lên ngựa và cưỡi đến chiếc lều, nơi chúng tôi thấy chàng trai đã mặc chiến cụ và thắng yên ngựa; nhưng em gái chàng chạy đến bên chàng (màn che của nàng ướt đẫm nước mắt), nắm lấy bàn đạp ngựa của chàng và kêu lên rằng: “Than ôi!” và “Khốn thay ngày này!” vì sợ cho huynh mình, rồi đọc những vần thơ này,

“Với Allah ta sẽ than nỗi nhọc nhằn và tai ương của ta, *
Biết đâu Iláh của Arsh[FN#121] sẽ đánh vào mặt chúng
bằng kinh hoàng:
Chúng muốn giết huynh, huynh của muội, với ý định
hung tàn phản trắc; * Dẫu chẳng có cớ báo thù nào, chẳng lỗi nào
đi trước cuộc chiến.
Thế nhưng huynh được những kẻ cưỡi ngựa biết đến như một kỵ sĩ, *
Và giữa Đông với Tây của các kỵ sĩ, huynh là kỵ sĩ của lòng dũng cảm:
Huynh sẽ giữ gìn danh dự em gái mình, dù sức nàng nhỏ bé, *
Vì huynh là huynh của nàng và vì huynh nàng cầu xin
quyền năng của Allah:
Vậy đừng để kẻ thù chiếm lấy linh hồn muội hay nô dịch thân muội, *
Và thi hành ý chúng trên muội, đối đãi với em gái huynh bằng
khinh miệt.
Thề bởi chân lý của Allah, muội sẽ chẳng bao giờ ở trong bất cứ xứ hay nhà nào *
Nơi không có huynh, dẫu nơi ấy được trang điểm bằng vui mừng và
khoái lạc
Vì tình yêu và nỗi khát khao huynh, muội muốn tự giết mình, *
Và trong nấm mộ tối tăm u ám trải giường trên đất sét.”

Nhưng khi huynh nàng nghe thơ nàng, chàng khóc một trận đớn đau và quay đầu ngựa về phía em gái, đáp lại thơ nàng như sau,

“Hãy đứng bên và xem chiến công ta sẽ phô bày hôm nay, *
Khi chúng ta gặp nhau và ta giáng cho chúng những đòn xé, chẻ và
tách đôi;
Dẫu có lao ra tìm cuộc đọ sức với sư tử chiến tranh, *
Kẻ gan dạ nhất trong mọi dũng sĩ và cũng giỏi trí nhất;
Ta sẽ không chậm trễ giáng cho hắn một đòn Sa'alabiyan,[FN#122] *
Và nhuộm đốt giáo trúc của ta trong máu bởi vết thương của địch
bị xuyên thủng:
Nếu ta không đánh bật tất cả khỏi muội, ôi em gái, mong thân này *
Bị giết, và xác ta bị ném cho chim, vì như thế mới
xứng đáng:
Phải, vì nàng thân yêu nhất, ta sẽ đánh những đòn bằng hết sức lực, *
Và khi chúng ta đã qua, sự việc này sẽ được viết trong bao cuốn sách.”

Và khi chàng dứt lời thơ, chàng nói: “Ôi em gái ta, hãy nghe điều ta sẽ căn dặn nàng”; nàng đáp: “Xin nghe và tuân lệnh.” Chàng nói: “Nếu ta ngã xuống, đừng để ai chiếm hữu thân nàng”; nghe vậy nàng vả vào mặt và nói: “Allah ngăn điều ấy, ôi huynh của muội, rằng muội phải thấy huynh bị hạ gục và tự trao mình cho kẻ thù của huynh!” Nói vậy, chàng trai đưa tay về phía nàng và kéo màn che khỏi mặt nàng, bấy giờ gương mặt nàng rực sáng như mặt trời ló ra khỏi mây trắng. Rồi chàng hôn giữa hai mắt nàng và từ biệt nàng; sau đó chàng quay sang chúng tôi và nói: “Này, các kỵ sĩ! Các ngươi đến làm khách hay thèm những nhát chém và mũi đâm? Nếu các ngươi đến với chúng ta như khách, hãy vui mừng trong quyền của khách; còn nếu các ngươi thèm vầng trăng sáng, hãy từng kỵ sĩ một bước ra chống ta trong đồng bằng này, nơi chiến đấu.” Bấy giờ một kỵ sĩ can trường lao ra với chàng, và chàng trai nói với hắn: “Hãy nói cho ta tên ngươi và tên cha ngươi, vì ta đang dưới một lời thề rằng sẽ không giết bất cứ ai có tên trùng với tên ta và tên cha hắn là tên cha ta; nếu trường hợp ấy đúng với ngươi, ta sẽ giao thiếu nữ cho ngươi.” Kỵ sĩ nói: “Tên ta là Bilál”;[FN#123] và chàng trai đáp lời hắn, nói rằng,

“Ngươi nói dối khi nói đến ‘ân huệ,’ trong khi *
Ngươi tiến ra trước mặt với ý chí xấu xa nhất;
Nếu ngươi tự hào về lòng dũng cảm, hãy nghe lời ta, *
Ta là kẻ khiến các nhà vô địch lảo đảo trên chiến trường
Bằng lưỡi gươm sắc, như sừng của trăng lưỡi liềm, *
Vậy hãy coi chừng mũi đâm sẽ khoan xuyên qua ngọn núi khổ nạn!”

Rồi họ lao xuống, người này nhằm người kia, và chàng trai đâm đối thủ vào ngực đến nỗi mũi giáo ló ra từ lưng. Thấy vậy, một kẻ khác tiến ra, và chàng trai kêu,

“Này con chó, kẻ mục ruỗng bởi xấu xa từ gốc,[FN#124] *
Phần thưởng cao nào dễ dàng cho chiến binh giành được?
Chẳng ai ngoài sư tử của dòng thuần khiết nhất *
Không màng mạng sống giữa đồng chiến trận!”

Chẳng bao lâu chàng trai đã để hắn chết chìm trong máu và kêu lên: “Ai sẽ ra với ta?” Vậy một kỵ sĩ thứ ba xông ra nhằm vào chàng trai và bắt đầu nói,

“Ta tiến ra với ngươi, trái tim ta bốc lửa, *
Và ta gọi các bạn cùng đồng đội của ta theo tên:
Khi ngươi giết thủ lĩnh của người Ả Rập hôm nay, *
Hôm nay ngươi còn lại làm vật cầm cố cho yêu sách của ta.”

Bấy giờ khi chàng trai nghe vậy, chàng đáp lại hắn bằng những lời này,

“Ngươi nói dối, hỡi kẻ nhơ bẩn nhất trong các Satan, *
Và với những lời vu cáo phóng uế, ngươi đến chiến tranh
Hôm nay ngươi sẽ ngã bởi một mũi nhọn gieo chết *
Nơi giáo phóng tới và gươm cong va vang!”

Rồi chàng đâm hắn vào ngực đến nỗi mũi giáo ló ra từ lưng và kêu lên: “Này! chẳng ai ra nữa sao?” Vậy kẻ thứ tư tiến tới và chàng trai hỏi tên hắn, hắn đáp: “Tên ta là Hilál, Trăng Non.” Và chàng trai bắt đầu lặp lại,

“Ngươi đã thất bại, kẻ muốn dìm ta trong biển hủy hoại, *
Ngươi, kẻ đến trong ác ý với lòng phản trắc:
Ta, người mà ngươi đã nghe thơ từ chính miệng mình, *
Sẽ cướp linh hồn ngươi, dẫu ngươi chưa biết ta.”

The Tale of Hammad the Badawi.#18

Rồi họ thúc ngựa lao vào nhau và giáng hai nhát chém, nhưng đòn của chàng trai đi trước đòn của kỵ sĩ đối thủ và giết hắn: và chàng cứ tiếp tục như thế, giết tất cả những ai xông ra chống lại chàng. Bấy giờ khi tôi thấy các bạn đồng hành của mình bị giết, tôi tự nhủ: “Nếu ta xuống đánh với hắn, ta sẽ không thể thắng hắn; còn nếu ta bỏ chạy, ta sẽ thành lời ô nhục truyền miệng giữa người Ả Rập.” Nhưng chàng trai chẳng cho tôi thời gian suy nghĩ, vì chàng lao vào tôi, kéo tôi khỏi yên và quật tôi xuống đất. Tôi ngất đi vì cú ngã và chàng giơ gươm lên định chém đầu tôi; nhưng tôi bám lấy vạt áo chàng, và chàng nhấc tôi trong tay như thể tôi là một con chim sẻ. Khi thiếu nữ thấy vậy, nàng vui mừng vì sức mạnh của huynh mình và tiến đến bên chàng, hôn giữa hai mắt chàng. Rồi chàng giao tôi cho nàng, nói: “Hãy nhận hắn, trông nom hắn và đối đãi với hắn theo lối hiếu khách, vì hắn đã rơi vào dưới quyền chúng ta.” Vậy nàng nắm cổ áo giáp[FN#125] của tôi và dắt tôi đi bằng nó như người ta dắt một con chó. Rồi nàng cởi áo giáp của huynh mình và mặc cho chàng một áo choàng, đặt cho chàng một ghế đẩu bằng ngà, trên đó chàng ngồi xuống; và nàng nói với chàng: “Cầu Allah làm danh dự huynh trắng sáng và ngăn khỏi huynh những đổi dời của vận mệnh!” Và chàng đáp nàng bằng những vần thơ này,

“Em gái ta nói, khi nàng thấy ta đứng thế nào *
Trong giao tranh, khi tia mặt trời soi sáng phẩm kỵ sĩ của ta
‘Cầu Allah giữ huynh bình an như một Dũng sĩ của các dũng sĩ *
Trước người mà sư tử trong thung, dẫu cuồng nộ, cũng cúi đầu!’
Ta đáp, ‘Hãy đi hỏi các nhà vô địch về tình cảnh ta, *
Khi những Chúa tể chiến tranh sợ khí thế chiến binh của ta!
Tên ta nổi danh vì vận may và sức mạnh, *
Và tinh thần ta đã vút lên tới độ cao ấy,’
Này ngươi, Hammad, ngươi đã khuấy dậy một con sư tử, *
Nó sẽ cho ngươi thấy cái chết mau như giống rắn độc.”

Bấy giờ khi nghe thơ chàng, tôi bối rối về tình cảnh mình, và xét đến tình trạng mình cùng việc tôi đã thành tù nhân, tôi thấy mình bị hạ thấp trong chính mắt mình. Rồi tôi nhìn thiếu nữ, em gái chàng, và thấy vẻ đẹp của nàng, tôi tự nhủ: “Chính nàng đã gây nên tất cả phiền não này”; rồi tôi sững sờ trước nét yêu kiều của nàng cho đến khi nước mắt chảy dòng từ mắt tôi và tôi đọc những vần thơ này,

“Bạn thân ơi! thôi lời trách cứ lớn tiếng và đổ lỗi; *
Lời trách ấy chỉ làm ta bực mà chẳng thể khiến ta kinh:
Ta sạch sành sanh rối trí vì một người mà ta chưa từng thấy *
Mà không bị nàng chiếm lấy bằng duyên yêu kiều thắng cuộc
Đêm qua huynh nàng cản đường ta trong tình yêu nàng, *
Một Dũng sĩ gan bền và tay thật dài.”

Rồi thiếu nữ đặt thức ăn trước mặt huynh nàng và chàng bảo tôi ăn cùng, khiến tôi vui mừng và tin chắc rằng mình sẽ không bị giết. Khi chàng ăn xong, nàng mang cho chàng một bình rượu tinh, và chàng chú tâm vào nó cho đến khi hơi rượu bốc lên đầu chàng và mặt chàng đỏ bừng. Rồi chàng quay sang tôi và nói: “Khốn cho ngươi, hỡi Hammad! ngươi biết ta hay không?” Tôi đáp: “Nhân danh mạng chàng, tôi chẳng giàu gì ngoài sự ngu dốt!” Chàng nói: “Ôi Hammad, ta là ‘Abbád bin Tamím bin Sa'labah, và quả thật Allah ban cho ngươi tự do, dẫn ngươi đến một tân nương hạnh phúc và tha cho ngươi sự rối loạn.” Rồi chàng uống chúc tôi sống lâu, đưa cho tôi một chén rượu và tôi uống cạn; lát sau chàng rót cho tôi chén thứ hai, thứ ba và thứ tư, tôi uống cạn tất cả; trong khi chàng vui vẻ với tôi và bắt tôi thề sẽ không bao giờ phản bội chàng. Vậy tôi thề với chàng một nghìn năm trăm lời thề rằng tôi sẽ không bao giờ đối xử phản trắc với chàng bất cứ lúc nào, mà sẽ là bạn và người trợ giúp chàng. Bấy giờ chàng bảo em gái mang cho tôi mười bộ áo lụa, nàng mang chúng đến và mặc lên người tôi, còn bộ áo tôi đang mặc trên mình là một trong số đó. Hơn nữa, chàng truyền đem đến một trong những con lạc đà cái chạy nhanh[FN#126] tốt nhất của mình, chở vải vóc và lương thực, chàng cũng bảo nàng mang đến một con ngựa hồng; và khi chúng được đem tới, chàng trao tất cả cho tôi. Tôi ở cùng họ ba ngày, ăn và uống, và những quà tặng chàng ban cho tôi vẫn ở cùng tôi cho đến hiện tại. Đến cuối ba ngày, chàng nói với tôi: “Ôi Hammad, ôi huynh đệ của ta, ta muốn ngủ một lúc và nghỉ ngơi, và quả thật ta giao mạng mình cho ngươi; nhưng nếu ngươi thấy các kỵ sĩ đi về phía này, đừng sợ, vì hãy biết rằng họ thuộc Banu Sa'labah, đang tìm cách gây chiến với ta.” Rồi chàng đặt gươm dưới gối đầu và ngủ; khi chàng chìm sâu trong giấc ngủ, Iblis cám dỗ tôi giết chàng; vậy tôi vội đứng dậy, rút gươm từ dưới đầu chàng và giáng một nhát khiến đầu chàng rơi khỏi thân. Nhưng em gái chàng biết điều tôi đã làm, bèn từ trong lều lao ra, gieo mình lên xác chàng, xé áo và lặp lại những vần thơ này,

“Hãy mang tin buồn về cảnh ngộ chúng ta đến thân tộc họ hàng; *
Khỏi định mệnh Đấng Toàn Trí đã định, chẳng người nào có thể
trốn chạy:
Huynh nằm thấp rồi, ôi huynh! rải trên đá, *
Với gương mặt phản chiếu trăng khi sáng rực rỡ nhất!
Quả thật, đó là một ngày đáng nguyền, ngày huynh bị giết, *
Làm run gãy ngọn giáo của huynh từng thắng trận trong bao cuộc chiến!
Nay huynh bị giết, chẳng kỵ sĩ nào sẽ vui thú trên lưng ngựa, *
Cũng chẳng phụ nữ sinh nở nào đưa con trai ra ánh sáng.
Sáng nay Hammad đứng dậy và hèn hạ sát hại huynh, *
Làm sai lời thề và lòng trung tín bằng lời bội thề nhơ bẩn nhất.”

Khi nàng đọc xong thơ, nàng nói với tôi: “Hỡi kẻ có tổ tiên đáng nguyền rủa, vì sao ngươi phản bội huynh ta và giết chàng khi chàng định đưa ngươi về quê hương với lương thực; hơn nữa ý định của chàng còn là gả ta cho ngươi vào đầu tháng?” Rồi nàng rút một thanh gươm mang theo, cắm chuôi xuống đất, mũi gươm đặt vào ngực mình, cúi người lên đó và gieo mình xuống cho đến khi lưỡi gươm ló ra từ lưng, rồi nàng ngã xuống đất, chết. Tôi than khóc nàng và khóc lóc, hối hận khi sự hối hận chẳng ích gì cho tôi. Rồi tôi vội đứng dậy, đi đến chiếc lều và, lấy bất cứ thứ gì nhẹ về gánh mà nặng về giá trị, lên đường; nhưng trong cơn vội vã và kinh hoàng, tôi chẳng để ý đến các bạn đồng hành đã chết, cũng không chôn cất thiếu nữ và chàng trai. Và câu chuyện này của tôi còn kỳ diệu hơn câu chuyện về cô tỳ nữ tôi đã bắt cóc từ Thành Thánh Jerusalem. Nhưng khi Nuzhat al-Zaman nghe những lời ấy từ người Badawi, ánh sáng trong mắt nàng hóa thành đêm.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi lăm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Nuzhat al-Zaman nghe những lời ấy từ người Badawi, ánh sáng trong mắt nàng hóa thành đêm; nàng đứng dậy, rút gươm, chém Hammad người Ả Rập giữa hai bả vai đến nỗi mũi gươm ló ra từ trái táo cổ họng hắn.[FN#127] Và khi tất cả những người có mặt hỏi nàng: “Vì sao người vội giết hắn?” nàng đáp: “Ngợi ca Allah, Đấng đã ban cho ta trong đời này được tự tay báo thù cho chính mình!” Rồi nàng truyền các nô lệ kéo xác hắn ra bằng chân và ném cho chó. Bấy giờ họ quay sang hai tù nhân còn lại trong ba tên; và một trong hai là nô lệ da đen, nên họ nói với hắn: “Tên ngươi là gì, hỡi gã? Hãy nói cho chúng ta sự thật về tình cảnh của ngươi.” Hắn đáp: “Còn tôi, tên tôi là Al-Ghazbán,” rồi cho họ biết những gì đã xảy ra giữa hắn và hoàng hậu Abrizah, con gái vua Hardub, Chúa tể Hy Lạp, và việc hắn đã giết nàng rồi bỏ trốn. Tên da đen vừa kết thúc câu chuyện, vua Rumzan liền dùng gươm cong chém đầu hắn, nói: “Ngợi ca Allah, Đấng đã ban cho ta sự sống! Ta đã tự tay báo thù cho mẹ mình.” Rồi ngài lặp lại cho họ nghe điều nhũ mẫu Marjanah đã kể cho ngài về chính tên nô lệ này, người có tên là Al-Ghazban; sau đó họ quay sang tù nhân thứ ba. Bấy giờ đây chính là người dắt lạc đà[FN#128] mà dân Thành Thánh Jerusalem đã thuê để chở Zau al-Makan và đưa ngài vào bệnh viện ở Damascus xứ Syria; nhưng hắn ném ngài xuống đống tro rác rồi đi đường mình. Họ nói với hắn: “Hãy cho chúng ta biết tình cảnh của ngươi và nói sự thật.” Vậy hắn kể cho họ tất cả những gì đã xảy ra với hắn cùng Sultan Zau al-Makan; việc ngài đã được chở từ Thành Thánh, trong lúc ngài đang bệnh, cho đến khi họ đến Damascus và ngài bị ném vào bệnh viện; cũng như việc dân Jerusalem đã trả tiền cho kẻ dắt lạc đà để vận chuyển người lạ đến Damascus, còn hắn nhận tiền rồi bỏ trốn sau khi ném người được giao cho mình lên đống rác bên cạnh đống tro của Hammam. Nhưng khi hắn dứt lời, Sultan Kanmakan lập tức lấy gươm và chém đầu hắn, nói: “Ngợi ca Allah, Đấng đã ban cho ta sự sống, để ta có thể đền trả kẻ phản bội này điều hắn đã làm với cha ta, vì ta đã nghe chính câu chuyện này từ vua Zau al-Makan.” Rồi các vị vua nói với nhau: “Chỉ còn lại việc chúng ta phải trả thù trên mụ già Shawahi, gọi là Zat al-Dawahi, vì mụ là nguyên nhân đầu tiên của tất cả những tai họa này và đã ném chúng ta vào cảnh khốn cùng theo lối ấy. Ai sẽ giao mụ vào tay chúng ta để chúng ta báo thù và xóa sạch nỗi ô nhục của mình?” Và vua Rumzan nói: “Nhất định chúng ta phải đưa mụ đến đây.” Vậy ngài không trì hoãn hay chậm trễ viết một bức thư cho bà ngoại mình, lão bà kể trên, cho bà biết trong đó rằng ngài đã khuất phục các vương quốc Damascus, Mosul và Irak, đã phá tan quân của người Hồi giáo và bắt được các hoàng tử của họ, nói thêm: “Ta hết sức mong bà đến với ta, mang theo hoàng hậu Sophia, con gái vua Afridun, và bất cứ thủ lĩnh Nazarene nào bà muốn, nhưng không đem quân đội; vì xứ sở đã yên và hoàn toàn ở dưới tay chúng ta.” Khi bà đọc thư và nhận ra nét chữ của vua Rumzan, bà vui mừng khôn xiết; lập tức chuẩn bị cho mình và hoàng hậu Sophia, rồi lên đường cùng tùy tùng của họ, đi không dừng cho đến khi họ đến gần Baghdad. Rồi bà sai trước một sứ giả báo cho nhà vua biết mình đã đến; bấy giờ Rumzan nói: “Tốt hơn là chúng ta mặc y phục của người Frank và ra ngoài đón bà lão, để chúng ta được bảo đảm trước mưu mẹo và phản trắc của bà.” Kanmakan đáp: “Nghe là thuận.” Vậy họ mặc quần áo Frank, và khi Kuzia Fakan thấy họ, nàng kêu lên: “Nhân danh chân lý của Chúa tể sự thờ phụng, nếu thiếp không biết các ngài, thiếp hẳn đã tưởng các ngài thật sự là người Frank!” Rồi họ xuất hành với một nghìn kỵ sĩ, vua Rumzan cưỡi trước họ, để đón bà lão. Vừa khi mắt ngài rơi vào mắt bà, ngài xuống ngựa và đi về phía bà, còn bà, nhận ra ngài, cũng xuống ngựa và ôm ngài, nhưng ngài dùng tay siết xương sườn bà cho đến khi suýt làm gãy chúng. Bà nói: “Đây là gì, ôi con trai của ta?” Nhưng trước khi bà nói dứt, Kanmakan và Dandan đã tiến đến; các kỵ sĩ đi cùng họ quát vào đám phụ nữ và nô lệ, bắt tất cả làm tù nhân. Rồi hai vị vua trở về Baghdad cùng các tù nhân của mình, và Rumzan truyền họ trang hoàng thành phố, họ làm như vậy trong ba ngày; đến cuối ba ngày ấy, họ đưa bà lão Shawahi, mang danh Zat al-Dawahi, ra ngoài, trên đầu đội một khăn đỏ nhọn bằng lá cọ, đội vương miện bằng phân lừa và đi trước là một người xướng lệnh lớn tiếng tuyên bố: “Đây là phần thưởng cho những kẻ dám cả gan đặt tay lên các vua và con trai các vua!” Rồi họ đóng đinh mụ trên một cổng thành Baghdad; và khi các bạn đồng hành của mụ thấy điều xảy đến với mụ, tất cả cùng một thể ôm lấy đức tin Al-Islam. Còn Kanmakan và chú chàng Rumzan, cô chàng Nuzhat al-Zaman cùng Wazir Dandan, họ kinh ngạc trước những sự việc kỳ diệu đã xảy đến với mình và truyền các thư lại ghi chép chúng vào sách để những người đến sau có thể đọc. Rồi tất cả họ ở lại trong phần đời còn lại, hưởng mọi an ủi và tiện nghi của đời sống, cho đến khi Kẻ Hủy Diệt Mọi Khoái Lạc và Kẻ Chia Lìa Mọi Hội Đoàn đuổi kịp họ. Và đây là toàn bộ những gì đã truyền đến chúng ta về cách vận mệnh đối xử với vua Omar bin al-Nu'uman và các con trai ngài là Sharrkan và Zau al-Makan, con trai của con trai ngài là Kanmakan, con gái ngài là Nuzhat al-Zaman và con gái nàng là Kuzia Fakan. Bấy giờ Shahryar nói với Shahrazad: “Ta muốn nàng kể cho ta đôi điều về chim chóc”; và nghe vậy Dunyazad nói với chị mình: “Em chưa từng thấy Sultan nhẹ lòng suốt thời gian này cho đến đêm nay, và niềm vui của ngài khiến em hy vọng rằng kết cục của chị với ngài có thể là một kết cục hạnh phúc.” Rồi cơn buồn ngủ thắng Sultan, nên ngài ngủ;[FN#129]—Và Shahrazad nhận ra ngày đang đến gần, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi sáu,

Shahrazad bắt đầu kể, bằng những lời này, câu chuyện về

CHIM MUÔNG, THÚ VẬT VÀ NGƯỜI THỢ MỘC[FN#130]

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng vào thời xưa và trong những đời đã trôi qua từ lâu, một con công trống sống cùng vợ mình bên bờ biển. Bấy giờ nơi ấy đầy sư tử và mọi loài thú hoang, nhưng cũng có nhiều cây cối và dòng suối. Vì thế công trống và công mái thường ngủ ban đêm trên một cây, vì sợ thú dữ, rồi ban ngày đi kiếm thức ăn. Chúng không ngừng làm như vậy cho đến khi nỗi sợ của chúng tăng lên và chúng tìm một nơi cư trú khác ngoài chỗ ở cũ; trong lúc tìm kiếm, kìa, chúng tình cờ gặp một hòn đảo nhiều suối và cây cối. Vậy chúng đáp xuống đó, ăn trái cây của nó và uống nước của nó. Nhưng trong khi chúng đang làm như vậy, kìa! một con vịt đến với chúng trong tình trạng cực kỳ kinh hoàng, và không ngừng đi tiếp cho đến khi tới cái cây nơi đôi công đang đậu, bấy giờ nó dường như được trấn an trong lòng. Con công trống không nghi ngờ rằng nó có một câu chuyện hiếm lạ nào đó; vậy chàng hỏi nó về tình cảnh và nguyên do mối lo của nó, nó đáp: “Ta bệnh vì sầu, và vì nỗi kinh hoàng trước con trai Adam:[FN#131] vậy hãy coi chừng, và ta lại nói, hãy coi chừng những con trai Adam!” Công trống đáp: “Đừng sợ, nay nàng đã được sự che chở của chúng ta.” Con vịt kêu: “Alhamdolillah! vinh quang thuộc về Thượng Đế, Đấng đã xua đi nỗi nhọc nhằn và lo âu của ta nhờ các vị ở gần! Vì quả thật ta đến đây với lòng mong được kết bạn cùng hai vị.” Và khi nó dứt lời, vợ con công trống bay xuống bên nó và nói: “Mừng nàng đến, hoan nghênh nàng, và xin hãy vui lòng! Không điều hại nào sẽ làm nàng tổn thương: làm sao con trai Adam có thể đến với chúng ta khi chúng ta ở trên hòn đảo này nằm giữa biển? Từ đất liền hắn không thể đến được chúng ta, cũng không thể chống chúng ta từ nước. Vậy hãy vui lòng và kể cho chúng ta nghe điều gì đã xảy đến với nàng từ con của Adam.” Con vịt đáp: “Vậy hãy biết, hỡi công mái, rằng quả thật ta đã sống suốt đời trên hòn đảo này trong an toàn và yên bình, chưa từng thấy điều gì làm phiền não, cho đến một đêm nọ, khi đang ngủ, ta thấy trong mộng hình dạng của một con trai Adam, kẻ nói chuyện với ta và ta nói chuyện với hắn. Rồi ta nghe một giọng nói bảo ta: ‘Hỡi vịt kia, hãy coi chừng con trai Adam và đừng để bị áp đặt bởi lời hắn cũng như bởi những gì hắn có thể gợi ý cho ngươi; vì hắn đầy dẫy mưu mẹo và thủ đoạn; vậy hãy hết sức coi chừng sự phản trắc của hắn, vì ta lại nói, hắn quỷ quyệt và vô cùng tinh ranh, đúng như thi nhân hát về hắn,

Hắn sẽ dâng bánh ngọt bằng chiếc lưỡi sắc cạnh, *
Và lừa ngươi bằng mưu cáo của loài cáo.

THE BIRDS AND BEASTS AND THE CARPENTER[FN#130]#19

Và hãy biết rằng con trai Adam vây bắt loài cá và kéo chúng ra khỏi biển; hắn bắn chim bằng viên đất sét[FN#132] và dùng mưu bắt voi. Không ai an toàn trước sự phá hoại của hắn, và chẳng chim chóc hay thú vật nào thoát khỏi hắn; theo lối ấy, ta đã kể cho ngươi nghe điều ta nghe được về con trai Adam.’ Vậy ta tỉnh dậy, sợ hãi và run rẩy, và từ giờ ấy đến nay, tim ta chưa biết niềm vui, vì khiếp sợ con trai Adam, e hắn bất ngờ đánh úp ta bằng mưu của hắn hoặc bẫy ta trong lưới của hắn. Khi cuối ngày bắt kịp ta, sức lực ta đã suy yếu và can đảm rời bỏ ta; vì muốn ăn và uống, ta đi bộ ra ngoài, tâm thần rối loạn và trái tim bất an. Bấy giờ khi ta tới ngọn núi đằng kia, ta thấy một sư tử con màu hung ở cửa một hang động, và khi thấy ta, nó vui mừng khôn xiết vì ta, bởi màu sắc và dáng vẻ duyên dáng của ta làm nó thích; vậy nó gọi ta rằng: ‘Hãy đến gần ta.’ Ta tiến đến bên nó và nó hỏi ta: ‘Tên ngươi là gì, và bản tính ngươi là gì?’ Ta đáp: ‘Tên ta là Vịt, và ta thuộc giống chim’; rồi ta nói thêm: ‘Còn ngươi, vì sao ngươi còn nán lại nơi này đến lúc này?’ Sư tử con đáp: ‘Phụ thân ta, sư tử, đã nhiều ngày cảnh báo ta về con trai Adam, và đêm nay xảy ra việc ta thấy trong giấc ngủ hình dạng của một con trai Adam.’ Rồi nó tiếp tục kể cho ta nghe giống như điều ta đã kể với các ngươi. Khi ta nghe những lời ấy, ta nói với nó: ‘Ôi sư tử, ta nương náu nơi ngươi, để ngươi có thể giết con trai Adam và vững lòng quyết tâm tàn sát hắn; quả thật ta hết sức sợ hắn cho chính mình, và nỗi kinh hãi lại thêm vào kinh hãi của ta vì ngươi cũng khiếp sợ con trai Adam, dẫu ngươi là Sultan của các loài thú dữ.’ Rồi ta không ngừng, ôi chị của ta, bảo sư tử trẻ hãy coi chừng con trai Adam và thúc nó giết hắn, cho đến khi nó bất chợt đứng dậy ngay khỏi chỗ mình, đi ra và tiến bước, còn ta theo sau nó, và ta thấy nó quất đuôi vào hai sườn. Chúng ta đi theo trật tự ấy cho đến khi tới một nơi đường rẽ nhánh, và thấy một đám bụi nổi lên; lát sau bụi tan, để lộ bên dưới một con lừa trần trụi đang bỏ chạy, lúc phi nước đại và lao vun vút, lúc lại lăn trong bụi. Khi sư tử thấy con lừa, nó gọi lừa, và lừa tiến đến bên nó trong vẻ hết sức nhún nhường. Rồi sư tử nói: ‘Nghe đây, con thú não nứt! Giống loài ngươi là gì và nguyên do ngươi đến đây là gì?’ Lừa đáp: ‘Ôi con trai của Sultan! Tôi theo giống là lừa— Asinus Caballus—và nguyên do tôi đến nơi này là tôi đang chạy trốn con trai Adam.’ Sư tử con hỏi: ‘Vậy ngươi sợ hắn sẽ giết ngươi sao?’ Lừa đáp: ‘Không phải vậy, ôi con trai của Sultan, mà tôi sợ hắn dùng mưu với tôi và cưỡi lên lưng tôi; vì hắn có một thứ gọi là Yên thồ, hắn đặt nó lên lưng tôi; lại có một thứ gọi là Dây nịt, hắn buộc quanh bụng tôi; và một thứ gọi là Dây đuôi yên, hắn đặt dưới đuôi tôi, và một thứ gọi là Hàm thiếc, hắn đặt vào miệng tôi: rồi hắn làm cho tôi một cây roi thúc[FN#133] và thúc tôi bằng nó, khiến tôi chạy quá sức. Nếu tôi vấp ngã, hắn nguyền rủa tôi; nếu tôi hí, hắn mắng nhiếc tôi;[FN#134] cuối cùng khi tôi già và không còn chạy được nữa, hắn đặt lên tôi một tấm yên gỗ[FN#135] và giao tôi cho những người gánh nước, họ chất lên lưng tôi nước từ sông trong các túi da và các bình khác, như chum, và tôi cứ mãi sống trong khốn khổ, nhục nhã và mệt nhọc cho đến khi chết, bấy giờ họ ném tôi lên các đống rác cho chó. Vậy nỗi grief nào có thể vượt nỗi grief này và tai họa nào có thể lớn hơn những tai họa ấy?’ Bấy giờ khi ta nghe, ôi công mái, những lời của lừa, da ta rùng mình và nổi gai như da ngỗng vì con trai Adam; và ta nói với sư tử con: ‘Ôi chúa công của ta, quả thật con lừa có lý do để biện minh, và lời nó làm nỗi kinh hoàng của ta thêm kinh hoàng.’ Rồi sư tử trẻ nói với lừa: ‘Ngươi đi đâu?’ Lừa đáp: ‘Trước khi mặt trời mọc, tôi thoáng thấy con trai Adam từ xa, nên chạy trốn hắn; và nay tôi muốn chạy đi, chạy không ngừng vì nỗi sợ hắn quá lớn, biết đâu tôi tìm được cho mình một nơi trú ẩn khỏi con trai Adam phản trắc.’ Trong khi lừa đang nói chuyện như vậy với sư tử con, đồng thời tìm cách từ biệt chúng ta và đi khỏi, kìa, hiện ra trước chúng ta một đám bụi khác, thấy vậy con lừa hí vang, kêu lên, nhìn chăm chăm và phóng ra một tiếng trung tiện lớn[FN#136]. Sau một lúc, bụi tan và để lộ một con tuấn mã đen được trang sức đẹp đẽ, trên trán có một đốm trắng tròn và sáng như đồng dirham;[FN#137] dấu trắng quanh vó thật đẹp, chân vững chắc mạnh mẽ dễ nhìn, và nó hí lên vì kinh hãi. Con ngựa này không ngừng chạy cho đến khi đứng trước sư tử con, con của sư tử; khi thấy nó, sư tử con kinh ngạc và tỏ ra coi trọng nó, rồi nói: ‘Giống loài ngươi là gì, hỡi thú hoang oai nghi, và vì sao ngươi chạy vào sa mạc rộng lớn mênh mông này?’ Nó đáp: ‘Ôi chúa tể của các loài thú hoang, tôi là một con tuấn mã thuộc giống ngựa, và nguyên do tôi chạy là tôi đang chạy trốn con trai Adam.’ Sư tử con kinh ngạc trước lời của con ngựa và kêu với nó: ‘Đừng nói những lời như thế, vì đó là điều hổ thẹn cho ngươi, bởi ngươi cao lớn và mạnh mẽ. Và sao ngươi lại sợ con trai Adam, ngươi với thân hình đồ sộ và bước chạy nhanh, trong khi ta, dẫu vóc dáng nhỏ bé, đã quyết gặp con trai Adam và xông vào hắn, ăn thịt hắn, để ta xua nỗi kinh hãi của con vịt tội nghiệp này và khiến nàng cư ngụ bình an nơi chỗ của mình? Nhưng nay ngươi đến đây và đã làm tim ta đau thắt bằng lời ngươi, khiến ta quay lại khỏi điều ta đã quyết làm, vì dẫu ngươi đồ sộ, con trai Adam đã chế ngự ngươi và chẳng sợ chiều cao hay chiều rộng của ngươi, dù nếu ngươi đá hắn bằng một vó, ngươi sẽ giết hắn, còn hắn không thể thắng ngươi, mà ngươi sẽ khiến hắn uống chén tử thần.’ Con ngựa cười khi nghe lời sư tử con và đáp: ‘Xa lắm, xa lắm khỏi quyền năng của tôi việc thắng hắn, ôi vương tử. Xin đừng để chiều dài, chiều rộng hay thân hình đồ sộ của tôi đánh lừa ngài về con trai Adam; vì hắn, bởi quá nhiều mưu mẹo và thủ đoạn, làm cho tôi một thứ gọi là Dây cùm và đặt vào bốn chân tôi một đôi dây thừng làm bằng sợi cọ buộc với nỉ, rồi treo đầu tôi vào một cọc cao, khiến tôi bị trói mà cứ phải đứng, không thể ngồi cũng chẳng thể nằm. Khi hắn muốn cưỡi tôi, hắn buộc vào chân mình một thứ bằng sắt gọi là Bàn đạp[FN#138] và đặt trên lưng tôi một thứ khác gọi là Yên, rồi siết chặt bằng hai Dây nịt vòng dưới nách tôi. Sau đó hắn đặt vào miệng tôi một vật bằng sắt mà hắn gọi là Hàm thiếc, buộc vào đó một thứ bằng da gọi là Dây cương; và khi hắn ngồi trên yên trên lưng tôi, hắn cầm dây cương trong tay và điều khiển tôi bằng nó, đồng thời thúc hai sườn tôi bằng bàn đạp hình xẻng cho đến khi chúng chảy máu. Vậy đừng hỏi, ôi con trai Sultan của chúng ta, những nhọc nhằn tôi chịu từ con trai Adam. Và khi tôi già, gầy còm, không còn có thể chạy nhanh, hắn bán tôi cho người xay cối, kẻ khiến tôi quay cối, và tôi không ngừng quay đêm ngày cho đến khi suy kiệt. Rồi kẻ ấy lại bán tôi cho người giết ngựa, kẻ cắt cổ tôi, lột da tôi và nhổ đuôi tôi, bán nó cho thợ làm sàng; còn mỡ tôi thì hắn nấu chảy làm nến mỡ.’ Khi sư tử trẻ nghe lời con ngựa, cơn giận và bực bội của nó tăng gấp bội, nó nói: ‘Ngươi rời con trai Adam khi nào?’ Con ngựa đáp: ‘Lúc giữa trưa, và hắn đang theo dấu tôi.’ Trong khi sư tử con đang trò chuyện với con ngựa, kìa! có một đám bụi nổi lên, rồi lát sau mở ra, để lộ dưới đó một con lạc đà cuồng nộ đang ục ọc và cào đất bằng chân, không ngừng làm vậy cho đến khi đến chỗ chúng ta. Bấy giờ khi sư tử con thấy nó to lớn và đầy đặn, nó tưởng đó là con trai Adam và sắp nhảy vồ vào nó thì ta nói với nó: ‘Ôi vương tử, quả thật đây không phải con trai Adam, đây là lạc đà, và nó có vẻ đang chạy trốn con trai Adam.’ Khi ta đang nói chuyện như vậy, ôi chị của ta, với sư tử con, con lạc đà tiến đến và chào nó; bấy giờ nó đáp lễ và nói: ‘Điều gì đưa ngươi đến đây?’ Lạc đà đáp: ‘Tôi đến đây để chạy trốn con trai Adam.’ Sư tử con nói: ‘Còn ngươi, với thân hình khổng lồ, chiều dài và chiều rộng của mình, sao ngươi lại sợ con trai Adam, khi chỉ bằng một cú đá của chân ngươi, ngươi sẽ giết hắn?’ Lạc đà nói: ‘Ôi con trai của Sultan, hãy biết rằng con trai Adam có những tinh vi và mưu mẹo mà không ai chống nổi, chẳng ai thắng được hắn, ngoại trừ Cái Chết; vì hắn đặt vào lỗ mũi tôi một sợi dây bằng lông dê gọi là Vòng mũi,[FN#139] và trên đầu tôi một thứ gọi là Dây dắt; rồi hắn giao tôi cho đứa nhỏ bé nhất trong các con nhỏ của hắn, và đứa trẻ ấy kéo tôi bằng vòng mũi, bất chấp kích thước và sức mạnh của tôi. Rồi chúng chất lên tôi những gánh nặng nhất và đi những hành trình dài với tôi, bắt tôi lao dịch nặng nhọc suốt giờ đêm và ngày. Khi tôi già, bị năm tháng đánh gục và không còn làm việc được, chủ tôi không giữ tôi lại bên hắn, mà bán tôi cho người giết súc vật, kẻ cắt cổ tôi và bán da tôi cho thợ thuộc da, bán thịt tôi cho đầu bếp: vậy đừng hỏi những khổ nhọc tôi chịu từ con trai Adam.’ Sư tử trẻ hỏi: ‘Ngươi rời con trai Adam khi nào?’ Nó đáp: ‘Lúc mặt trời lặn, và tôi cho rằng khi đến chỗ tôi sau khi tôi rời đi mà không thấy tôi ở đó, giờ hắn đang tìm tôi: vì vậy hãy để tôi đi, ôi con trai của Sultan, để tôi có thể trốn vào đồng hoang và nơi hoang dã.’ Sư tử con nói: ‘Hãy đợi một lát, hỡi lạc đà, cho đến khi ngươi thấy ta sẽ xé hắn ra sao, và cho ngươi ăn thịt hắn, trong khi ta nghiền xương hắn và uống máu hắn.’ Lạc đà đáp: ‘Ôi con vua, tôi lo sợ cho ngài trước con của Adam, vì hắn quỷ quyệt và đầy mưu trá.’ Rồi nó bắt đầu lặp lại những vần thơ này:—

‘Khi bạo chúa bước vào đất của thần dân, *
Chẳng còn gì cho thần dân ngoài mau chóng rời đi!’

Bấy giờ trong khi lạc đà đang nói với sư tử con, kìa, một đám bụi nổi lên, sau một lúc mở ra và cho thấy một ông già vóc thấp và chân tay gầy guộc; ông vác trên vai một chiếc giỏ đựng đồ nghề thợ mộc, trên đầu đội một cành cây và tám tấm ván. Ông dắt những đứa trẻ nhỏ bằng tay và đi tới với bước chạy lúp xúp,[FN#140] không hề dừng lại cho đến khi đến gần sư tử con. Khi ta thấy hắn, ôi chị của ta, ta ngã xuống vì quá sợ; nhưng sư tử trẻ đứng dậy và đi tới gặp người thợ mộc, và khi đến gần nó, người ấy mỉm cười vào mặt nó và nói với nó bằng chiếc lưỡi trôi chảy cùng lời lẽ nhã nhặn: ‘Ôi đức vua che chở khỏi tai ương và chúa tể cánh tay dài, cầu Allah làm thịnh vượng buổi chiều và nỗ lực của ngài, gia tăng lòng dũng cảm và củng cố ngài! Xin che chở tôi khỏi điều đã làm tôi khốn khổ và bằng sự độc hại của nó đã áp bức tôi, vì tôi không tìm thấy người trợ giúp nào ngoài chính ngài.’ Và người thợ mộc đứng trước mặt nó mà khóc lóc, than van và kêu ca. Khi sư tử con nghe tiếng thở dài và tiếng khóc của ông, nó nói: ‘Ta sẽ cứu giúp ngươi khỏi điều ngươi sợ. Ai đã làm hại ngươi và ngươi là gì, hỡi thú hoang, kẻ mà trong đời ta chưa từng thấy giống như ngươi, cũng chưa từng thấy ai đẹp dáng hơn hay hùng biện hơn ngươi? Tình cảnh của ngươi là gì?’ Người ấy đáp: ‘Ôi chúa tể của thú hoang, về phần tôi, tôi là thợ mộc; còn về kẻ đã làm hại tôi, quả thật đó là một con trai Adam, và vào lúc rạng sáng sau đêm sắp tới này[FN#141] hắn sẽ ở cùng ngài tại nơi này.’ Khi sư tử con nghe những lời ấy của người thợ mộc, ánh sáng trước mắt nó hóa thành đêm, nó phì hơi và gầm lên vì giận, đôi mắt bắn ra những tia lửa. Rồi nó kêu lớn rằng: ‘Thề bởi Allah, chắc chắn ta sẽ thức canh suốt đêm sắp tới cho đến rạng sáng, và sẽ không trở về với phụ thân ta cho đến khi ta đạt được ý muốn.’ Rồi nó quay sang người thợ mộc và hỏi: ‘Quả thật ta thấy bước ngươi ngắn, và ta không muốn làm tổn thương cảm xúc của ngươi, vì ta có trái tim hào hiệp; song ta nghĩ ngươi không thể theo kịp thú hoang: vậy hãy nói cho ta biết ngươi đi đâu?’ Người thợ mộc đáp: ‘Hãy biết rằng tôi đang trên đường đến gặp Wazir của phụ thân ngài, con linh miêu; vì khi nó nghe rằng con trai Adam đã đặt chân vào xứ này, nó hết sức sợ cho bản thân và sai một con thú hoang đến báo ta, để làm cho nó một ngôi nhà trong đó nó sẽ ở, hầu ngôi nhà che chở nó và ngăn kẻ thù khỏi nó, để không một con trai Adam nào đến được với nó. Vì thế tôi đã vác những tấm ván này và lên đường tìm nó.’ Bấy giờ khi sư tử trẻ nghe những lời ấy, nó ganh tị với con linh miêu và nói với người thợ mộc: ‘Nhân danh mạng ta, không còn cách nào khác ngoài việc ngươi phải làm cho ta một ngôi nhà bằng những tấm ván này trước khi ngươi làm cho ngài Linh miêu! Khi ngươi làm xong việc của ta, hãy đi đến chỗ nó và làm cho nó bất cứ điều gì nó muốn.’ Người thợ mộc đáp: ‘Ôi chúa tể của thú hoang, tôi không thể làm gì cho ngài cho đến khi đã làm cho linh miêu điều nó mong muốn: rồi tôi sẽ trở lại phụng sự ngài và dựng cho ngài một ngôi nhà như một pháo đài để phòng ngừa kẻ thù của ngài.’ Sư tử con kêu lên: ‘Thề bởi Allah, ta sẽ không để ngươi rời khỏi nơi này cho đến khi ngươi dựng cho ta một ngôi nhà bằng ván.’ Nói vậy, nó tiến đến người thợ mộc và nhảy vào ông, tưởng là đùa với ông, rồi dùng vuốt tát ông, đánh chiếc giỏ rơi khỏi vai ông; và quật ông ngã trong cơn ngất, bấy giờ sư tử trẻ cười nhạo ông và nói: ‘Khốn cho ngươi, hỡi thợ mộc, quả thật ngươi yếu ớt và chẳng có sức lực; vì vậy việc ngươi sợ con trai Adam cũng là điều có thể tha thứ.’ Bấy giờ khi người thợ mộc ngã ngửa, ông nổi giận dữ dội; nhưng ông che giấu cơn giận vì sợ sư tử con, ngồi dậy và mỉm cười vào mặt nó, nói: ‘Được rồi, ta sẽ làm cho ngươi ngôi nhà.’ Nói vậy, ông lấy những tấm ván đã mang theo và đóng lại thành ngôi nhà, làm nó theo hình một cái rương theo kích thước của sư tử trẻ. Ông để cửa mở, vì ông đã cắt trong chiếc hộp một lỗ lớn, làm cho nó một nắp đậy chắc và khoan nhiều lỗ trong đó. Rồi ông lấy ra vài chiếc đinh mới rèn và một cái búa, nói với sư tử trẻ: ‘Hãy vào nhà qua lỗ này, để ta đo nó cho vừa với ngươi.’ Nghe vậy sư tử con vui mừng và đi đến lỗ mở, nhưng thấy nó hẹp; người thợ mộc nói với nó: ‘Hãy vào và co chân tay lại!’ Vậy sư tử con làm như thế và chui vào rương, nhưng đuôi nó vẫn ở ngoài. Rồi nó muốn lùi ra và đi ra; nhưng người thợ mộc nói với nó: ‘Hãy kiên nhẫn đợi một lát cho đến khi ta xem liệu có chỗ cho đuôi ngươi ở cùng ngươi không.’ Sư tử trẻ làm như được bảo; khi ấy người thợ mộc vặn đuôi nó lại, nhét vào trong rương, quất nắp lên miệng lỗ và đóng đinh xuống; bấy giờ sư tử con kêu lên và nói: ‘Ôi thợ mộc, ngươi đã làm cho ta ngôi nhà chật hẹp gì thế này? Thả ta ra, hỡi tên kia!’ Nhưng người thợ mộc đáp: ‘Xa lắm, xa lắm khỏi ý nghĩ của ngươi! Hối hận về quá khứ chẳng ích gì, và quả thật khỏi nơi này ngươi sẽ không đi ra.’ Rồi ông cười và tiếp: ‘Quả thật ngươi đã rơi vào bẫy, và khỏi cảnh khốn của ngươi không có đường thoát, hỡi kẻ hèn hạ nhất trong các thú hoang!’ Sư tử con đáp: ‘Ôi huynh đệ của ta, những lời ngươi nói với ta là kiểu lời gì vậy?’ Người thợ mộc đáp: ‘Hãy biết, hỡi chó của sa mạc! rằng ngươi đã rơi vào chính điều ngươi sợ: Định Mệnh đã lật nhào ngươi, và sự cẩn trọng sẽ chẳng dựng ngươi dậy.’ Khi sư tử con nghe những lời này, ôi chị của ta, nó biết rằng đây quả thật chính là con trai Adam, kẻ mà nó đã được phụ thân cảnh báo trong lúc thức và được Giọng nói huyền bí cảnh báo trong giấc ngủ; và ta cũng chắc chắn rằng đây quả thật là hắn, không còn nghi ngờ; bởi thế nỗi sợ hắn rất lớn cho chính mình đã chiếm lấy ta, và ta lùi ra xa hắn một chút, chờ xem hắn sẽ làm gì với sư tử trẻ. Rồi ta thấy, ôi chị của ta, con trai Adam đào một cái hố tại nơi ấy, sát bên chiếc rương nhốt sư tử con, và, ném chiếc hộp xuống hố, chất củi khô lên đó rồi dùng lửa thiêu sư tử trẻ. Trước cảnh này, ôi chị của ta, nỗi sợ con trai Adam trong ta tăng gấp bội, và trong cơn khiếp hãi, ta đã chạy trốn hắn suốt hai ngày nay.” Nhưng khi công mái nghe câu chuyện này từ con vịt,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi công mái nghe câu chuyện này từ con vịt, nàng kinh ngạc vô cùng và nói với nó: “Ôi chị của ta, ở đây nàng an toàn khỏi con trai Adam, vì chúng ta đang ở một trong những hòn đảo giữa biển, nơi con trai Adam không có đường đến; vậy hãy ở lại cùng chúng ta cho đến khi Allah làm tình cảnh của nàng và tình cảnh của chúng ta trở nên dễ dàng.” Con vịt nói: “Ta sợ e có tai họa nào đó giáng xuống ta vào ban đêm, vì không kẻ chạy trốn nào thoát khỏi định mệnh bằng cách chạy trốn.” Công mái đáp: “Hãy ở cùng chúng ta, và giống như chúng ta”; nàng không ngừng thuyết phục con vịt cho đến khi nó thuận, nói: “Ôi chị của ta, nàng biết sức kháng cự của ta yếu đến thế nào; nhưng quả thật nếu ta không thấy nàng ở đây, ta đã không ở lại.” Công mái nói: “Điều ghi trên trán chúng ta[FN#142] quả thật chúng ta phải hoàn thành, và khi ngày định mệnh của chúng ta đến gần, ai sẽ cứu chúng ta? Nhưng không linh hồn nào rời đi trừ khi nó đã hoàn tất sinh kế và kỳ hạn đã định cho mình. Bấy giờ trong khi chúng nói chuyện như vậy, một đám bụi xuất hiện và tiến đến gần chúng; thấy vậy con vịt thét lớn và chạy xuống biển, kêu lên: “Coi chừng! coi chừng! dẫu chẳng có đường chạy khỏi Định Mệnh và Phần Số!”[FN#143] Sau một lúc, bụi mở ra và để lộ dưới đó một con linh dương; bấy giờ con vịt và công mái được trấn an, và vợ của công trống nói với bạn mình: “Ôi chị của ta, thứ nàng thấy và muốn ta coi chừng là một con linh dương, và nó đây, đang đi về phía chúng ta. Nó sẽ không làm hại chúng ta, vì linh dương ăn cỏ của đất, và cũng như nàng thuộc giống chim, nó thuộc giống thú. Vậy hãy vui lòng và thôi lo lắng; vì lo lắng làm hao mòn thân thể.” Công mái vừa nói xong thì con linh dương tiến đến bên chúng, định trú dưới bóng cây; và khi thấy công mái cùng con vịt, nó chào chúng và nói: “Hôm nay ta đến hòn đảo này và chưa thấy nơi nào giàu cỏ cây hơn hay dễ chịu hơn để cư ngụ.” Rồi nó xin chúng bầu bạn và kết thân; khi chúng thấy cách nó cư xử thân thiện với mình, chúng đón chào nó và vui lòng nhận lời. Vậy chúng kết tình bạn chân thành và thề với nhau về điều đó; chúng ngủ cùng một chỗ, ăn và uống cùng nhau; chúng không ngừng sống trong an toàn, ăn uống no đủ, cho đến một ngày nọ có một con thuyền đi lạc hướng trên biển đến đó. Thuyền thả neo gần chúng và thủy thủ đoàn đi ra, tản khắp hòn đảo. Họ chẳng bao lâu nhìn thấy ba người bạn, linh dương, công mái và vịt, rồi tiến về phía chúng; bấy giờ công mái bay lên cây và từ đó vỗ cánh xuyên không trung; linh dương trốn vào sa mạc, nhưng con vịt đứng chết cứng vì sợ. Vậy họ đuổi theo nó cho đến khi bắt được nó, và nó kêu lên nói: “Sự cẩn trọng chẳng ích gì cho ta trước Định Mệnh và Phần Số!”; rồi họ đem nó lên thuyền. Bấy giờ khi công mái thấy điều xảy đến với con vịt, nàng rời khỏi hòn đảo, nói: “Ta thấy tai họa phục kích tất cả. Nếu không vì con thuyền đằng kia, sự chia lìa đã không xảy ra giữa ta và con vịt này, bởi nó là một trong những bạn hữu chân thật nhất.” Rồi nàng bay đi và nhập lại với linh dương, kẻ chào nàng và vui mừng vì nàng được bình an, rồi hỏi về con vịt; nàng đáp: “Kẻ thù đã bắt nó, và ta ghét việc ở lại hòn đảo này sau nó.” Rồi nàng khóc vì mất con vịt và bắt đầu lặp lại,

“Ngày chia lìa đã cắt tim ta làm đôi:*
Cầu Allah cắt đôi ngày chia lìa!

Và nàng cũng nói câu thơ đôi này,

THE BIRDS AND BEASTS AND THE CARPENTER[FN#130]#20

“Ta cầu một ngày kia chúng ta được đoàn viên, *
Để ta có thể kể với chàng nẻo xấu xa của Chia Lìa.”

Con linh dương buồn một nỗi buồn lớn, nhưng can ngăn công mái khỏi quyết định rời khỏi hòn đảo. Vậy chúng ở đó cùng nó, ăn uống trong bình an và an toàn, chỉ có điều chúng không ngừng than khóc vì mất con vịt; và linh dương nói với công mái: “Ôi chị của ta, nàng thấy những kẻ từ thuyền đi ra đã là nguyên nhân chia lìa chúng ta khỏi con vịt và làm nó bị hủy diệt; vậy nàng hãy coi chừng chúng, giữ mình khỏi chúng và khỏi mưu mẹo của con trai Adam cùng thủ đoạn của hắn.” Nhưng công mái đáp: “Ta tin chắc rằng chẳng gì gây ra cái chết của nó ngoài việc nó lơ là không nói Subhan’ Allah, vinh quang thuộc về Thượng Đế; quả thật ta thường nói với nó: ‘Hãy thốt lên: “Ngợi ca Allah,” và quả thật ta lo sợ cho nàng, vì nàng lơ là không tán tụng Đấng Toàn Năng; bởi mọi vật do Allah tạo ra đều tôn vinh Ngài theo lối ấy, và kẻ nào lơ là công thức ngợi ca[FN#144] thì sự hủy diệt rình chờ hắn.’” Khi linh dương nghe lời công mái, nó kêu lên: “Cầu Allah làm gương mặt nàng tươi đẹp!” rồi chuyên tâm lặp lại công thức ngợi ca, và không ngừng làm vậy một giờ nào. Và người ta nói rằng hình thức thờ phụng của nó là như sau: “Ngợi ca Đấng Báo Đền mọi việc thiện và ác, Chúa tể của Uy nghi và Vua của các vua!” Và cũng có một câu chuyện được kể theo lối này về

Các Ẩn sĩ.

Một ẩn sĩ nọ thờ phụng trên một ngọn núi kia, nơi có một đôi bồ câu thường lui tới; và người tu hành ấy quen chia chiếc bánh hằng ngày của mình làm hai phần,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người tu hành quen chia chiếc bánh hằng ngày của mình làm hai phần, tự ăn một nửa và cho đôi bồ câu nửa kia. Ông cũng cầu nguyện cho cả hai con được ban phúc có con, nên chúng tăng lên và sinh sôi rất nhiều. Bấy giờ chúng chỉ lui tới ngọn núi nơi ẩn sĩ ở, và nguyên do chúng tụ hội với bậc thánh nhân ấy là sự chuyên cần của chúng trong việc lặp lại “Ngợi ca Allah!” vì có kể rằng con bồ câu[FN#145] trong lời ngợi ca nói: “Ngợi ca Đấng Tạo Hóa của mọi loài thụ tạo, Đấng Phân Phát bánh ăn hằng ngày, Đấng Dựng xây các tầng trời và Trải rộng các mặt đất!” Và đôi ấy không ngừng sống cùng nhau trong đời sống hạnh phúc nhất, chúng cùng đàn con, cho đến khi bậc thánh nhân chết; bấy giờ đoàn bồ câu tan rã và chúng phân tán giữa các thành, làng mạc và núi non. Nay người ta kể rằng trên một ngọn núi khác có một người chăn cừu cư ngụ, một người mộ đạo, khôn ngoan và trinh khiết; ông có những đàn cừu mà ông chăm sóc, và kiếm sống bằng sữa cùng lông của chúng. Ngọn núi làm nhà cho ông có nhiều cây cối và đồng cỏ, cũng có thú hoang, nhưng chúng không có quyền lực gì trên đàn của ông; vì vậy ông không ngừng sống trên miền cao ấy trong an toàn trọn vẹn, chẳng nghĩ đến việc đời, bởi phúc lành của mình và sự chuyên cần cầu nguyện cùng tận hiến, cho đến khi Allah định rằng ông phải ngã bệnh rất nặng. Bấy giờ ông tìm đến một hang động trong núi, còn đàn cừu của ông thường ra đồng cỏ vào buổi sáng và trú ẩn ban đêm trong hang. Nhưng Allah Toàn Năng, muốn thử ông và chứng nghiệm lòng kiên nhẫn cùng sự vâng phục của ông, sai một thiên thần của Ngài đến với ông dưới hình dáng một người đàn bà đẹp và ngồi trước mặt ông. Khi người chăn cừu thấy người đàn bà ấy ngồi trước mặt mình, thịt da ông rùng lên nổi gai[FN#146] trước nàng, và ông nói với nàng: “Hỡi đàn bà kia, điều gì đã mời nàng đến chốn ẩn cư này của ta? Ta không cần nàng, cũng chẳng có gì giữa ta và nàng đòi hỏi nàng phải vào với ta.” Nàng nói: “Ôi người đàn ông, chàng chẳng thấy sắc đẹp, vẻ đáng yêu và hương thơm hơi thở của thiếp sao; và chàng chẳng biết nhu cầu của đàn bà đối với đàn ông và của đàn ông đối với đàn bà sao? Vậy ai sẽ ngăn chàng khỏi thiếp khi thiếp đã chọn được gần chàng và muốn hưởng bầu bạn của chàng? Quả thật, thiếp tự nguyện đến với chàng và không giữ mình khỏi chàng, gần chúng ta chẳng có ai để chúng ta cần sợ; thiếp muốn ở lại với chàng chừng nào chàng còn cư ngụ trên ngọn núi này, làm bạn đồng hành và bạn chân thật của chàng. Thiếp dâng mình cho chàng, vì chàng cần sự phục vụ của đàn bà: và nếu chàng giao hợp xác thịt với thiếp và biết thiếp, bệnh tật sẽ rời khỏi chàng và sức khỏe sẽ trở lại với chàng; rồi chàng sẽ hối tiếc quá khứ vì đã thề bỏ bầu bạn với đàn bà trong những ngày nay đã không còn. Quả thật, thiếp cho chàng lời khuyên tốt: vậy hãy nghiêng về lời khuyên của thiếp và đến gần thiếp.” Người chăn cừu nói: “Hãy ra khỏi ta, hỡi đàn bà lừa lọc và phản trắc! Ta sẽ không nghiêng về nàng cũng không đến gần nàng. Ta không muốn bầu bạn với nàng cũng chẳng mong hợp nhất với nàng; kẻ tham muốn đời sau sẽ từ bỏ nàng, vì nàng dụ dỗ nhân loại, những kẻ của thời đã qua và những kẻ của thời hiện tại. Allah Tối Cao rình chờ các tôi tớ của Ngài, và khốn cho kẻ bị nguyền rủa bởi bầu bạn của nàng!” Nàng đáp: “Ôi kẻ lạc khỏi chân lý và lang thang khỏi đường lý trí, hãy quay mặt về phía thiếp, nhìn vẻ duyên của thiếp và lấy đầy phần mình trong sự gần gũi với thiếp, như những người khôn ngoan đã đi trước chàng từng làm. Quả thật, họ giàu kinh nghiệm hơn chàng và sắc trí hơn; vậy mà họ không chối bỏ, như chàng chối bỏ, việc hưởng thú vui với đàn bà; không, họ đã lấy khoái lạc từ họ và bầu bạn của họ, trong khi chàng từ bỏ họ, và điều ấy chẳng hại họ trong việc đời cũng như việc đạo. Vì thế chàng hãy lùi khỏi quyết định của mình, rồi chàng sẽ ca ngợi kết cục của tình cảnh mình.” Người chăn cừu đáp: “Tất cả những gì nàng nói ta đều phủ nhận và ghê tởm, tất cả những gì nàng dâng ta đều từ chối: vì nàng xảo quyệt và phản trắc, trong nàng chẳng có thành thật cũng chẳng có danh dự. Bao nhiêu ô uế nàng giấu dưới sắc đẹp của mình, và bao nhiêu người mộ đạo nàng đã dụ khỏi bổn phận của họ và khiến kết cục của họ thành hối hận cùng diệt vong? Hãy cút khỏi ta, hỡi kẻ chuyên mình làm hư hỏng người khác!” Bấy giờ ông trùm áo lông dê lên đầu để khỏi thấy mặt nàng, rồi chuyên tâm kêu cầu danh Đức Chúa của mình. Và khi thiên thần thấy sự tuyệt hảo trong việc ông thuận phục Thánh Ý, vị ấy rời khỏi ông và bay lên trời. Bấy giờ gần ngọn đồi của ẩn sĩ có một làng, trong đó sống một người mộ đạo, người chưa biết địa vị của người kia, cho đến một đêm ông nghe trong mộng một Giọng nói bảo mình: “Ở nơi nọ gần ngươi có một người tận hiến: hãy đến với người ấy và ở dưới mệnh lệnh của người ấy!” Vậy khi bình minh rạng, ông lên đường đến đó, và lúc sức nóng đè nặng lên ông, ông đến một cây mọc bên cạnh một dòng nước chảy. Vậy ông ngồi xuống nghỉ trong bóng cây ấy và kìa, ông thấy thú vật và chim chóc đến nguồn ấy để uống, nhưng khi chúng bắt gặp người mộ đạo đang ngồi đó, chúng sợ hãi và chạy khỏi trước mặt ông. Rồi ông nói: “Không có Uy nghi và không có Quyền năng nào ngoài Allah! Ta nghỉ ở đây chỉ để gây hại cho những thú vật và chim chóc này.” Vậy ông đứng dậy, tự trách mình và nói: “Quả thật việc ta nán lại đây hôm nay đã làm hại những con vật này, và ta có lời biện bạch gì với Đấng Tạo Hóa của ta và Đấng Tạo Hóa của những chim muông thú vật này, vì ta là nguyên nhân khiến chúng phải bỏ chạy khỏi nước uống, thức ăn hằng ngày và nơi đồng cỏ của chúng? Than ôi nỗi hổ thẹn của ta trước Đức Chúa ta vào ngày Ngài sẽ báo thù cho con cừu không sừng trên con cừu có sừng!”[FN#147] Và ông khóc, rồi bắt đầu lặp lại những vần thơ này,

“Nay nếu, thề bởi Allah, con người được biết trọn vẹn *
Vì sao mình được tạo nên, hắn đã chẳng sống trong giấc ngủ vô tâm:
Trước hết là Cái Chết, rồi đến Tỉnh Thức và Ngày Phán Xét đáng sợ, *
Lời quở trách cùng những đe dọa, nỗi kinh hoàng ghê gớm, lời nguyền khiếp đảm.
Dù chúng ta truyền lệnh hay cấm đoán, tất cả chúng ta đều giống *
Những bạn đồng hành trong Hang[FN#148] khi cuối cùng giấc ngủ của họ
đã xong.”

Rồi ông lại khóc vì mình đã khiến chim muông và thú vật rời khỏi dòng suối do ngồi dưới cây, rồi ông đi tiếp cho đến khi đến chỗ ở của người chăn cừu; bước vào, ông chào người ấy. Người chăn cừu đáp lễ và ôm ông, khóc và nói: “Điều gì đã đưa ông đến nơi này, nơi chưa một người nào từng đến với tôi?” Người mộ đạo kia nói: “Tôi thấy trong giấc ngủ một người miêu tả cho tôi chỗ ở này của ông và bảo tôi tìm đến ông rồi chào ông: vậy tôi đến, tuân theo mệnh lệnh.” Người chăn cừu đón chào ông, vui mừng vì có ông bầu bạn, và cả hai ở lại trên ngọn núi ấy, thờ phụng Allah bằng sự thờ phụng tốt đẹp nhất; họ không ngừng phụng sự Đức Chúa của mình trong hang và sống bằng thịt cùng sữa cừu của họ, đã hoàn toàn gạt khỏi mình của cải, con cái và mọi thứ khác, cho đến khi Điều Chắc Chắn, Điều Không Tránh Khỏi trở thành phần số của họ. Và đây là kết thúc câu chuyện của họ. Rồi vua Shahyrar nói: “Ôi Shahrazad, nàng muốn khiến ta từ bỏ vương quốc và nàng làm ta hối tiếc vì đã giết quá nhiều phụ nữ và thiếu nữ. Nàng có chuyện nào về chim chăng?” Nàng đáp: “Có,” rồi bắt đầu kể

TRUYỆN LOÀI THỦY CẦM VÀ CON RÙA.

Những người chân thật kể lại, tâu đức vua, rằng một con chim nọ bay cao lên về phía trời xanh và lát sau đậu xuống một tảng đá giữa dòng nước đang chảy. Khi nó ngồi đó, kìa, dòng nước đưa đến cho nó xác một người, mắc vào tảng đá, vì bị phình lên nên xác nổi. Con chim ấy, vốn là loài thủy cầm, đến gần và xem xét, thấy đó là thi thể của một con trai Adam và thấy trên đó dấu giáo cùng nhát gươm. Vậy nó tự nhủ: “Ta cho rằng người bị giết này là một kẻ làm ác, và một nhóm đã liên kết chống lại hắn, giết hắn rồi được yên khỏi hắn và việc ác của hắn.” Và khi nó còn đang kinh ngạc về việc ấy, bất chợt kền kền và diều hâu từ mọi phía sà xuống xác chết và vây quanh nó; khi thủy cầm thấy vậy, nó sợ hãi dữ dội và nói: “Ta không thể ở đây lâu hơn nữa.” Vậy nó bay đi tìm một nơi có thể cư ngụ, cho đến khi xác chết ấy hết và những chim săn mồi rời nó; và nó không dừng chuyến bay cho đến khi tìm thấy một dòng sông có một cây ở giữa. Vậy nó đậu xuống cây, phiền não, rối trí và buồn đau vì rời nơi sinh, rồi tự nhủ: “Quả thật sầu khổ không ngừng theo ta: ta đang an ổn khi thấy xác chết ấy, và vui mừng nhiều vì nó, nói rằng: ‘Đây là món quà sinh kế hằng ngày mà Allah đã chia cho ta’; nhưng niềm vui của ta thành nỗi phiền, sự hân hoan của ta đổi thành sầu, vì những chim tham ăn, giống như sư tử, đã chộp lấy nó, xé nó thành mảnh và xen vào giữa ta với chiến lợi phẩm của ta. Vậy làm sao ta có thể hy vọng được an toàn khỏi bất hạnh trong thế gian này, hoặc đặt niềm tin vào nó? Quả thật, tục ngữ nói: ‘Thế gian là nơi ở của kẻ không có nơi ở’: kẻ không có trí bị nó lừa gạt và giao phó cho nó của cải, con cái, gia đình cùng dân mình; và kẻ nào bị lừa thì không ngừng nương vào nó, kiêu hãnh bước trên mặt đất cho đến khi bị đặt dưới đất và bụi được ném lên xác hắn bởi kẻ trong mọi người từng thân yêu nhất và gần gũi nhất với hắn. Nhưng chẳng gì tốt hơn cho chàng trai hào hiệp bằng kiên nhẫn dưới những mối lo và khốn khổ của nó. Ta đã rời nơi sinh của mình và việc rời bỏ huynh đệ, bạn hữu cùng người yêu dấu thật đáng ghét với ta.” Bấy giờ trong khi nó đang suy ngẫm như vậy, kìa! một con rùa đực xuống sông và, đến gần thủy cầm, chào nó, nói: “Ôi chúa công của tôi, điều gì đã lưu đày ngài và đẩy ngài xa khỏi nơi của mình?” Thủy cầm đáp: “Sự đổ xuống của kẻ thù trên đó; vì người khôn ngoan không chịu đựng việc ở gần kẻ thù mình; và thi nhân nói hay biết bao,

Khi nào kẻ áp bức đặt chân xuống một xứ nào, * Chẳng còn gì cho những kẻ cư ngụ trong đó ngoài trốn chạy.’”[FN#149]

Rùa nói: “Nếu sự việc như ngài nói và tình cảnh như ngài mô tả, tôi sẽ không rời ngài, cũng không ngừng đứng trước ngài, để tôi có thể làm điều ngài cần và hoàn thành việc phụng sự ngài; vì người ta nói không sự hoang vắng nào đau đớn hơn sự hoang vắng của kẻ lưu đày, bị cắt khỏi bạn hữu và quê nhà; và cũng nói rằng không tai họa nào sánh bằng tai họa chia lìa khỏi người tốt; nhưng niềm an ủi tốt nhất cho người hiểu biết là tìm bầu bạn trong cảnh xa lạ và kiên nhẫn dưới sầu khổ cùng nghịch cảnh. Vì vậy tôi hy vọng ngài sẽ chấp nhận bầu bạn của tôi, vì tôi sẽ là tôi tớ và người trợ giúp cho ngài.” Bấy giờ khi thủy cầm nghe lời rùa, nó đáp: “Quả thật, ngươi nói đúng, vì nhân danh mạng ta, ta đã tìm thấy sầu đau và thống khổ trong chia lìa, trong khi ta bị tách khỏi nơi của mình và chia cách khỏi huynh đệ cùng bạn hữu; vì trong chia lìa có lời răn cho ai muốn được răn dạy và chất liệu suy tưởng cho ai muốn suy tưởng. Nếu chàng trai hào hiệp không tìm được bạn đồng hành để an ủi mình, phúc lành mãi mãi bị cắt khỏi hắn và điều ác được lập vĩnh viễn bên hắn; chẳng có gì cho bậc hiền trí ngoài việc tự an ủi trong mọi biến cố bằng huynh đệ, và kiên định trong nhẫn nại cùng chịu đựng: quả thật hai điều ấy là những phẩm chất đáng khen, cả hai nâng đỡ người ta dưới các tai họa và biến dịch của thế gian, đồng thời xua đi những nỗi sầu kinh động và mối lo xé lòng, bất cứ điều gì đến.” Rùa đáp: “Hãy coi chừng sầu khổ, vì nó sẽ làm hỏng đời ngài và làm hao phí khí phách của ngài.” Và cả hai không ngừng trò chuyện cho đến khi con chim nói: “Ta sẽ không bao giờ thôi sợ những đổi thay của thời gian và những biến dịch của sự việc.” Khi rùa nghe vậy, nó đến gần con chim và, hôn giữa hai mắt nó, nói với nó: “Cầu cho bầu bạn của loài chim không bao giờ thôi được ban phúc nơi ngài và qua ngài, và tìm thấy trí khôn trong lời khuyên tốt của ngài! Làm sao ngài lại bị nặng gánh bởi lo âu và tổn hại?” Rồi nó tiếp tục an ủi thủy cầm và xoa dịu những nỗi kinh hoàng của nó cho đến khi nó được trấn an. Sau đó nó bay đến nơi có xác chết và khi tới đó thấy chim săn mồi đã đi khỏi, chúng chẳng để lại gì của thi thể ngoài xương; bấy giờ nó trở về với rùa và cho rùa biết sự thật rằng kẻ thù đã biến khỏi nơi của mình, nói: “Hãy biết rằng quả thật ta mong mỏi trở về nhà để hưởng bầu bạn với bạn hữu; vì bậc hiền trí không thể chịu được sự chia lìa khỏi nơi sinh của mình.” Vậy cả hai cùng đến đó và chẳng thấy gì khiến chúng sợ; bấy giờ thủy cầm bắt đầu lặp lại,

“Và biết đâu khi nỗi chật hẹp giáng xuống phần số của chàng trai hào hiệp *
Thật nặng nề, thì chỉ nơi Allah mới có lối thoát khỏi phiền não:
Hắn bị bó hẹp, nhưng thường thay khi vòng và lưới siết
chặt nhất, * Hắn thoát khỏi chỗ ngặt và tìm thấy niềm vui, dù ta
chẳng thấy niềm vui.”

Vậy đôi ấy ở lại trên hòn đảo ấy; và trong khi thủy cầm đang hưởng đời sống bình an cùng hân hoan, bất chợt Định Mệnh dẫn đến đó một con chim ưng đói, nó cắm vuốt vào bụng con chim và giết nó; sự cẩn trọng chẳng ích gì cho nó khi kỳ hạn đời nó đã kết thúc. Bấy giờ nguyên do cái chết của nó là nó đã lơ là không dùng công thức ngợi ca, và người ta nói hình thức thờ phụng của nó là như sau: “Ngợi ca Đức Chúa chúng ta ở chỗ Ngài sắp đặt và định đoạt; và ngợi ca Đức Chúa chúng ta ở chỗ Ngài làm giàu và làm nghèo!” Đó là kết cục của thủy cầm và câu chuyện về những chim tham ăn. Và khi chuyện kết thúc, Sultan nói: “Ôi Shahrazad, quả thật nàng làm ta tràn ngập những lời răn và những ví dụ bổ ích. Nàng có chuyện nào về thú vật chăng?” Nàng đáp: “Có,” rồi bắt đầu kể

THE BIRDS AND BEASTS AND THE CARPENTER[FN#130]#21

TRUYỆN CON SÓI VÀ CON CÁO.[FN#150]

Hãy biết, tâu đức vua, rằng một con cáo và một con sói thuở nọ cùng ở chung một hang, ban ngày nương náu trong đó cùng nhau và ban đêm trở về đó; nhưng con sói thì tàn nhẫn và áp bức con cáo. Chúng ở như vậy một thời gian, cho đến khi tình cờ con cáo khuyên con sói hãy cư xử dịu dàng và bỏ những việc ác của mình, nói rằng: “Nếu ngươi cứ khăng khăng trong thói kiêu ngạo, có lẽ Allah sẽ trao cho con trai Adam quyền lực trên ngươi, vì hắn là bậc thầy lão luyện trong mưu mẹo và thủ đoạn; bằng mưu chước của mình, hắn kéo chim từ trời cao xuống và lôi những con cá mạnh mẽ ra khỏi dòng nước lũ: hắn cắt núi và chuyển nó từ nơi này sang nơi khác. Tất cả những điều ấy đều do tài nghệ và sự xảo quyệt của hắn: vì vậy ngươi hãy quay về với công bằng và cư xử tử tế, bỏ ngang ngược cùng bạo ngược; rồi ngươi sẽ càng tốt đẹp hơn vì điều ấy.” Nhưng con sói không chịu nhận lời khuyên của nó và đáp lại thô bạo, nói rằng: “Ngươi có quyền gì mà nói những chuyện trọng đại và quan trọng?” Rồi nó giáng cho con cáo một cái tát khiến cáo bất tỉnh; nhưng khi tỉnh lại, cáo mỉm cười trước mặt sói và, tự biện bạch cho lời nói bất xứng của mình, lặp lại hai câu thơ này,

“Nếu ta đã phạm tội nào, hay làm điều gì *
Vì yêu ngươi, mà gây nên họa hại đáng ghét;
Tội ta, ta đau đớn ăn năn và xin tha thứ; *
Vậy hãy ban cho kẻ có tội món quà tha thứ nó cầu.”

Con sói chấp nhận lời xin lỗi của nó và giữ tay khỏi ngược đãi thêm nữa, nói: “Đừng nói về điều gì không liên quan đến ngươi, kẻo ngươi nghe điều không làm ngươi vui.” Con cáo đáp: “Nghe là tuân lệnh!”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bốn mươi chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng con sói nói với con cáo: “Đừng nói về điều gì không liên quan đến ngươi, kẻo ngươi nghe điều không làm ngươi vui!” Con cáo đáp: “Nghe là tuân lệnh! Từ nay ta sẽ tránh những gì không làm ngươi vui; vì bậc hiền trí nói: ‘Hãy cẩn thận đừng nói về điều người ta không hỏi ngươi; hãy bỏ điều không liên quan đến ngươi để lo điều liên quan đến ngươi, và tuyệt đối đừng hào phóng ban lời khuyên tốt cho kẻ bất nghĩa, vì chúng sẽ trả lại ngươi bằng bất nghĩa.’” Và suy nghĩ về lời của con sói, cáo mỉm cười trước mặt nó, nhưng trong lòng mưu phản chống lại nó và thầm nói: “Không còn cách nào khác ngoài việc ta phải tính sự hủy diệt của con sói này.” Vậy nó chịu đựng cách cư xử tổn hại của sói, tự nhủ: “Quả thật sự xấc xược và lời ác là nguyên nhân của diệt vong và ném người ta vào rối loạn, và có câu rằng: ‘Kẻ xấc xược bị hủy hoại, kẻ ngu dốt hối hận; còn ai biết sợ thì được gửi đến an toàn’: chừng mực là dấu của bậc cao quý, và phong thái dịu dàng là món lợi lớn nhất. Ta cần phải giả vờ với tên bạo chúa này, và nhất định hắn phải bị quật ngã.” Rồi nó nói với con sói: “Quả thật Đức Chúa tha thứ cho tôi tớ lầm lỗi của Ngài và động lòng với hắn, nếu hắn thú nhận những lỗi phạm của mình; còn ta là một nô lệ yếu đuối và đã phạm lỗi khi cả gan khuyên ngươi. Nếu ngươi biết nỗi đau giáng xuống ta bởi cái tát của ngươi, ngươi hẳn biết rằng ngay cả voi cũng không thể đứng vững trước nó hay chịu nổi nó: nhưng ta không than phiền về vết đau của cú đánh này, bởi niềm vui và hân hoan đã đến với ta nhờ nó; vì dẫu nó đối với ta hết sức đau đớn, kết quả của nó lại là hạnh phúc nhất. Và bậc hiền trí nói đúng thay: ‘Cú đánh của thầy dạy ban đầu thật đau hại, nhưng kết thúc của nó ngọt hơn mật đã lọc.’” Con sói nói: “Ta tha lỗi cho ngươi và xóa lỗi của ngươi; nhưng hãy coi chừng sức mạnh của ta và tự nhận mình là nô lệ của ta; vì ngươi đã biết sự nghiêm khắc của ta với kẻ tỏ lòng thù nghịch!” Bấy giờ con cáo phủ phục trước con sói, nói: “Cầu Allah kéo dài đời ngươi và cầu ngươi không ngừng đánh đổ kẻ thù của mình!” Và nó không thôi sợ con sói, nịnh bợ nó và giả vờ với nó. Bấy giờ một ngày nọ, con cáo đi đến một vườn nho và thấy một chỗ vỡ trong tường vườn; nhưng nó nghi ngờ chỗ ấy và tự nhủ: “Quả thật chỗ vỡ này ắt phải có nguyên do nào đó, và lời xưa nói rằng: ‘Kẻ nào thấy một khe nứt trong đất mà không tránh nó, không cẩn trọng khi lại gần nó, kẻ ấy tự lừa mình và phơi mình trước hiểm nguy cùng hủy diệt.’ Quả thật ai cũng biết có những người làm hình con cáo trong vườn nho của họ; không, họ còn đặt trước hình ấy những chùm nho trên đĩa, để cáo thấy mà đến, rồi rơi vào diệt vong. Quả thật ta xem chỗ vỡ này là một cái bẫy, và tục ngữ nói: ‘Thận trọng là một nửa khôn khéo.’ Nay sự khôn ngoan đòi ta phải xét chỗ vỡ này và xem có gì trong đó dẫn đến diệt vong chăng; lòng tham sẽ không khiến ta ném mình vào hủy diệt.” Vậy nó đi đến lỗ ấy, đi quanh thật cẩn trọng, và kìa! đó là một cái hố sâu, do chủ vườn nho đào để bẫy những thú hoang phá hoại dây nho của mình. Rồi nó tự nhủ: “Ngươi đã được lợi, vì ngươi đã kiềm mình!”; nó nhìn và thấy cái hố được phủ nhẹ bằng bụi cùng chiếu. Vậy nó lùi khỏi đó, nói: “Ngợi ca Allah vì ta đã cẩn trọng với nó! Ta hy vọng kẻ thù của ta, con sói làm đời ta khốn khổ, sẽ rơi vào đó; khi ấy vườn nho sẽ để lại cho ta, và ta sẽ hưởng nó một mình và ở trong đó trong bình an.” Nói vậy, nó lắc đầu, cười lớn tiếng và bắt đầu ngâm thơ,

“Ước gì Trời cho ta thấy vào giờ này *
Con Sói rơi xuống dưới giếng kia,
Kẻ đã làm tim ta đau khổ bấy lâu, *
Và khiến ta uống cạn giấm chua cùng mật đắng!
Cầu Trời ban sau việc này ta được sống *
Không còn Sói trong một thời dài may mắn
Khi ta đã giải thoát nho và vườn nho khỏi hắn, *
Và vui sướng ở nơi phá hoại chùm nho.”

Thơ dứt, nó vội trở về với con sói và nói với nó: “Allah đã làm rõ cho ngươi con đường vào vườn nho mà không cần nhọc nhằn hay vất vả. Đây là bởi vận may cát tường của ngươi; vậy chúc ngươi may mắn và cầu ngươi hưởng chiến lợi phẩm dồi dào cùng lương thực phong phú mà Allah đã mở ra cho ngươi không chút phiền khổ!” Con sói hỏi: “Ngươi có bằng chứng gì cho điều ngươi khẳng định?”; con cáo đáp: “Ta đi đến vườn nho và thấy chủ nó đã chết, bị sói xé nát: vậy ta vào vườn và thấy trái cây sáng rực trên cây.” Con sói chẳng nghi ngờ lời cáo kể, và tính tham ăn chiếm lấy nó; vậy nó đứng dậy và đi đến chỗ nứt, bởi lòng tham đã làm nó mù; trong khi con cáo tụt lại phía sau, nằm như kẻ chết, ứng vào tình cảnh câu thơ đôi sau,

“Vì ân huệ của Layla[FN#151] mà ngươi tham sao? Nhưng hãy ghi nhớ *
Lòng tham là một cái ách nặng hại trên cổ con người.”

Và khi con sói đã đến chỗ vỡ, con cáo nói: “Hãy vào vườn nho: ngươi được miễn công trèo thang, vì tường vườn đã vỡ, và việc hoàn thành lợi ích là ở nơi Allah.” Vậy con sói bước tiếp và định vào vườn nho; nhưng khi nó đến giữa lớp che hố, nó rơi xuyên xuống; bấy giờ con cáo run lên vì vui mừng và hân hoan; nỗi lo và ưu tư rời khỏi nó, và nó cất tiếng hát vì thích thú, ứng khẩu những câu thơ này,

“Vận Mệnh đã thương xót linh hồn ta, *
Và nay tỏ lòng khoan thứ cho những đọa đày của ta,
Ban cho mọi món quà mà tim ta mong muốn, *
Và đẩy xa khỏi ta điều ta sợ thấy:
Quả thật, ta sẽ tha thứ cho nàng mọi tội lỗi *
Nàng đã phạm trong những ngày đã qua, và nàng phạm nhiều thay:
Phải, bất công của nàng, nàng đã tỏ trong việc này, *
Nàng làm bạc những lọn tóc từng đen biết bao:
Nhưng nay với chính con sói này, không có lối thoát nào, *
Nó hoàn toàn chắc về cái chết và định mệnh.
Rồi toàn bộ vườn nho sẽ nằm dưới quyền ta, *
Ta sẽ không chịu kẻ chung phần nào là tên ngu quá đỗi.”

Rồi con cáo nhìn xuống khe và, thấy con sói đang khóc trong ăn năn và buồn cho mình, nó cũng khóc theo; bấy giờ con sói ngẩng đầu lên hỏi nó: “Ngươi khóc vì thương ta sao, hỡi Cha của Pháo đài nhỏ[FN#152]?” Con cáo đáp: “Không, nhân danh Đấng đã ném ngươi xuống hố này! Ta khóc vì đời trước của ngươi quá dài và vì tiếc rằng ngươi đã không rơi xuống hố trước ngày này; vì nếu ngươi làm vậy trước khi ta gặp gỡ ngươi, ta đã được nghỉ ngơi và hưởng yên ổn: nhưng ngươi được chừa lại cho đến khi kỳ hạn được chia của ngươi và thời điểm đã định của ngươi hoàn tất.” Rồi con sói nói với nó như đùa: “Hỡi kẻ làm ác, hãy đi đến chỗ mẹ ta và kể cho bà biết điều đã xảy đến với ta; biết đâu bà có thể nghĩ ra mưu nào để thả ta ra.” Con cáo đáp: “Quả thật ngươi đã bị đưa đến hủy diệt bởi lòng tham quá mức và sự háu ăn vượt bậc của ngươi, vì ngươi đã rơi xuống một cái hố mà ngươi sẽ không bao giờ thoát ra. Ngươi không biết tục ngữ thường nói sao, hỡi con sói không trí: ‘Kẻ nào không nghĩ xem sự việc sẽ kết thúc ra sao, Định Mệnh sẽ chẳng bao giờ làm bạn với hắn và hắn sẽ không an toàn khỏi hiểm nguy.’” Sói nói: “Ôi Reynard, ngươi từng tỏ lòng quý mến ta, ham muốn tình bạn của ta và sợ sức mạnh lớn lao của ta. Đừng ghét ta một cách đầy hận thù vì điều ta đã làm với ngươi; vì kẻ có quyền mà biết tha, Allah sẽ ban thưởng cho hắn; đúng như thi nhân nói,

‘Hãy gieo hạt giống tử tế nơi chốn ít thích hợp nhất; *
Nó sẽ không lãng phí ở bất cứ đâu ngươi gieo:
Vì lòng tốt dù bị chôn vùi lâu, song chẳng ai *
Sẽ gặt vụ mùa ngoài kẻ gieo đã khiến nó mọc.’”

Con cáo đáp: “Hỡi kẻ ngu muội nhất trong loài thú săn mồi và đần độn nhất trong bầy thú hoang rong ruổi đồng hoang! Ngươi đã quên thói kiêu ngạo, xấc xược và bạo ngược của mình, quên việc ngươi bất kể bổn phận bạn đồng hành tốt và từ chối nghe lời khuyên theo điều thi nhân nói sao?

‘Chớ làm hại láng giềng, dẫu ngươi có quyền lực; *
Kẻ làm hại luôn gặt vụ mùa báo oán:
Mắt ngươi sẽ ngủ, trong khi kẻ bị hại vẫn thức *
Mà nguyền rủa ngươi; còn mắt Allah chẳng bao giờ ngủ.’”

Sói đáp: “Ôi Abu ’l-Hosayn, chớ trách móc ta về những tội lỗi đã qua; vì sự tha thứ được trông chờ nơi kẻ hào hiệp, và làm việc lành là kho báu chân thật nhất. Thi nhân nói hay biết bao,

‘Hãy mau làm việc thiện khi ngươi còn nhiều quyền lực, *
Vì chẳng phải mùa nào ngươi cũng có quyền lực ấy.’”

Và nó không ngừng hạ mình trước con cáo và nói: “Biết đâu ngươi có thể làm điều gì để cứu ta khỏi hủy diệt.” Con cáo đáp: “Hỡi sói kia, ngươi ngu muội, bị lừa, là tên lừa lọc xảo trá! Đừng hy vọng được giải thoát, vì đây chẳng qua là phần thưởng công bằng cho cách cư xử nhơ bẩn của ngươi và sự báo trả xứng đáng của nó.” Rồi nó há rộng mõm cười và lặp lại hai câu thơ này,

“Đừng lừa ta nữa, *
Ngươi sẽ không đạt ý mình!
Ngươi tìm điều không thể; *
Ngươi đã gieo, nay hãy gặt Ác!”

Con sói nói: “Hỡi con dịu dàng nhất trong loài thú tham ăn, ta vẫn muốn tin ngươi quá trung tín để bỏ ta lại trong hố này.” Rồi nó khóc lóc và than phiền, nước mắt tuôn từ mắt, đọc hai câu thơ này,

“Ôi kẻ mà ân huệ đã vượt ngoài đếm kể, *
Mà quà tặng nhiều hơn điều có thể kể ra!
Chưa từng có tai họa nào từ thời gian giáng xuống ta *
Mà ta không thấy tay ngươi sẵn lòng giúp đỡ.”

“Hỡi kẻ thù ngốc nghếch,” con cáo nói, “ngươi đã bị hạ xuống nhục nhã, phủ phục, hèn hạ và khuất phục như thế nào, sau xấc xược, kiêu hãnh, bạo ngược và ngạo mạn! Quả thật ta chỉ kết giao với ngươi vì sợ cơn cuồng nộ của ngươi và nịnh ngươi mà không hề hy vọng được ngươi đối xử tử tế: nhưng nay sự run sợ đã đến với ngươi và báo oán đã bắt kịp ngươi.” Và nó lặp lại hai câu thơ này,

“Ôi ngươi, kẻ tìm cách lừa sự vô tội, *
Ngươi đã mắc vào bẫy của những ý định nhơ hèn:
Nay hãy uống chén tai họa nhục nhã nhất, *
Và bị cắt khỏi bầy sói khác, hỡi đồ đê tiện!”

Con sói đáp: “Hỡi kẻ khoan dung, đừng nói bằng lưỡi của kẻ thù cũng đừng nhìn bằng mắt của chúng; mà hãy làm trọn giao ước bầu bạn với ta, trước khi thời gian dùng thuốc cứu chữa không còn. Hãy đứng dậy và chuẩn bị kiếm cho ta một sợi dây, buộc một đầu vào cây; rồi thả đầu kia xuống cho ta, để ta có thể nắm lấy nó, biết đâu thoát khỏi chỗ ngặt này của ta, và ta sẽ trao cho ngươi mọi của cải cùng phần thưởng mà tay ta sở hữu.” Con cáo nói: “Ngươi vẫn cứ trò chuyện về điều sẽ không đem lại tự do cho ngươi. Đừng hy vọng việc này, vì ngươi sẽ không bao giờ, không bao giờ nhận được từ ta thứ gì để thả ngươi ra tự do; mà hãy nhớ lại những việc ác trong quá khứ của ngươi, những mưu chước và phản trắc ngươi từng tưởng tượng chống lại ta, và hãy nghĩ xem ngươi gần với việc bị ném đá đến chết đến mức nào. Vì hãy biết rằng linh hồn ngươi sắp rời khỏi thế gian, thôi ở trong nó và ra đi khỏi nó; vậy ngươi sẽ vội đến hủy diệt, và chỗ ở mà ngươi sẽ ở thật xấu xa!”[FN#153] Con sói đáp: “Ôi Cha của Pháo đài nhỏ, hãy mau trở lại với tình thân và đừng khăng khăng trong mối thù cay độc này. Hãy biết rằng kẻ nào cứu một linh hồn khỏi diệt vong thì như thể đã làm nó sống lại và làm nó nguyên vẹn; và kẻ nào cứu một linh hồn được sống thì như thể đã cứu toàn thể nhân loại.[FN#154] Chớ theo sự ngang ngược, vì bậc hiền trí cấm điều ấy: và thật là ngang ngược rõ ràng nhất khi bỏ ta trong hố này, uống cạn cơn hấp hối của cái chết và bị buộc phải nhìn tận mắt định mệnh của mình, trong khi việc giải thoát ta khỏi khốn cảnh nằm trong quyền năng của ngươi. Vậy hãy làm hết sức để thả ta ra và đối đãi nhân từ với ta.” Con cáo đáp: “Hỡi kẻ hèn hạ và man rợ, ta so ngươi, vì vẻ đẹp của những lời tuyên bố và cách diễn đạt của ngươi, cùng sự nhơ bẩn trong ý định và mưu đồ của ngươi, với Chim ưng và Gà gô.” Con sói hỏi: “Thế nào?”; và con cáo bắt đầu kể

THE BIRDS AND BEASTS AND THE CARPENTER[FN#130]#22

Truyện Chim ưng[FN#155] và Gà gô.[FN#156]

Một thuở nọ, ta vào một vườn nho để ăn nho trong đó; và trong khi làm vậy, kìa, ta thấy một con chim ưng bổ xuống một con gà gô và chộp lấy nó; nhưng con gà gô thoát khỏi kẻ bắt mình, vào tổ và ẩn mình trong đó. Chim ưng theo sát và gọi nó, nói: “Ôi kẻ ngu độn, ta thấy ngươi đói lả trong đồng hoang và động lòng thương ngươi; vậy ta nhặt cho ngươi ít hạt và bắt lấy ngươi để ngươi có thể ăn; nhưng ngươi đã chạy trốn ta; và ta chẳng biết nguyên do ngươi bỏ chạy, trừ phi là để khinh thường ta. Vậy hãy ra đây, nhận lấy hạt ta đã mang cho ngươi ăn, cầu cho nó làm ngươi nhiều điều lành và hợp với sức khỏe của ngươi.” Khi con gà gô nghe những lời này, nó tin và bước ra với chim ưng; bấy giờ chim ưng cắm vuốt vào nó và bắt lấy nó. Gà gô kêu lên: “Đây là thứ ngươi nói với ta rằng ngươi đã mang từ đồng hoang về cho ta, và bảo ta ăn, nói rằng: ‘Cầu cho nó làm ngươi nhiều điều lành và hợp với sức khỏe của ngươi’ đó sao? Ngươi đã nói dối ta, và cầu Allah khiến phần thịt ta mà ngươi ăn trở thành độc dược giết chết trong diều ngươi!” Vậy khi chim ưng ăn xong gà gô, lông nó rụng hết, sức nó kiệt và nó chết ngay tại chỗ. “Vậy hãy biết, hỡi sói!” (con cáo tiếp), “rằng kẻ đào hố cho huynh đệ mình chẳng bao lâu chính hắn sẽ rơi vào đó, và trước hết ngươi đã lừa ta theo lối bất xứng.” Con sói nói: “Hãy tha cho ta bài diễn từ này, đừng ép ta nghe ngạn ngữ và chuyện kể nữa, cũng đừng nhắc ta về lối xấu trước kia, vì cảnh đáng thương mà ta buộc phải chịu đã đủ cho ta rồi, khi thấy mình rơi vào một nơi mà ngay cả kẻ thù cũng phải thương ta, huống chi là một người bạn chân thật. Tốt hơn hãy tìm mưu nào giải thoát ta và nhờ đó làm vị cứu tinh của ta. Nếu việc này gây cho ngươi phiền khổ, hãy nhớ rằng người bạn chân thật sẽ gánh việc nhọc nhằn nhất vì người bạn chân thật của mình và sẽ liều mạng để cứu bạn khỏi điều ác; quả thật người ta đã nói: ‘Một người bạn trung thành tốt hơn một huynh đệ thật sự.’ Vậy nếu ngươi động thân để cứu ta và ta được cứu, chắc chắn ta sẽ gom cho ngươi một kho đủ làm lương phòng khi thiếu thốn dù khắc nghiệt đến đâu; và quả thật ta sẽ dạy ngươi những mưu hiếm để mở bất cứ vườn nho phong phú nào ngươi thích và tước sạch những cây trĩu quả.” Con cáo cười đáp: “Những điều bậc học giả nói về kẻ đầy dẫy ngu dốt như ngươi thật tuyệt diệu làm sao!” Sói hỏi: “Các bậc hiền nhân nói gì?” Và cáo đáp: “Họ đã nhận xét rằng thân xác thô kệch thì trí óc cũng thô kệch, xa trí hiểu mà gần ngu dốt. Còn lời ngươi nói, hỡi kẻ đần độn, tên ngu xảo quyệt kia! rằng một người bạn chân thật nên nhận việc nhọc nhằn vì người bạn chân thật của mình, thì đúng như ngươi nói; nhưng hãy nói cho ta, từ sự ngu dốt và nghèo nàn trí tuệ của ngươi, làm sao ta có thể là bạn chân thật của ngươi, xét đến sự phản trắc của ngươi? Ngươi kể ta là bạn chân thật của ngươi sao? Không, ta là kẻ thù của ngươi, kẻ vui trong nỗi khốn của ngươi; và nếu ngươi có thể tin điều ấy, lời này đối với ngươi còn đau hơn bị giết bởi mũi tên. Còn lời hứa của ngươi rằng sẽ cung cấp cho ta một kho phòng khi thiếu thốn dù khắc nghiệt đến đâu và dạy ta mưu mẹo để cướp bất cứ vườn nho phong phú nào ta thích, phá những cây trĩu quả, thì cớ sao, hỡi kẻ phản bội đầy mưu trá, ngươi không biết một mưu nào để cứu chính mình khỏi hủy diệt? Ngươi xa việc làm lợi cho mình biết bao, và ta xa việc nhận lời khuyên của ngươi biết bao! Nếu ngươi có mưu mẹo nào, hãy tự xoay xở cho mình để cứu ngươi khỏi hiểm họa, mà ta cầu Allah khiến lối thoát của ngươi khỏi nó thật xa vời! Vậy hãy xem, hỡi kẻ ngu, liệu ngươi có mưu nào chăng; và bằng nó hãy cứu mình khỏi chết trước khi phung phí lời dạy cho láng giềng. Nhưng ngươi giống như một người mắc bệnh nọ, đến với người khác mắc cùng bệnh ấy và nói với hắn: ‘Ta có chữa ngươi khỏi bệnh được chăng?’ Người bệnh đáp: ‘Sao ngươi không bắt đầu bằng chữa cho chính mình?’ Vậy hắn bỏ người ấy và đi đường mình. Còn ngươi, hỡi con sói ngu dốt, cũng giống như vậy; vậy hãy ở yên nơi ngươi đang ở và hãy vững lòng dưới điều đã xảy đến với ngươi!” Khi con sói nghe những gì con cáo nói, nó biết rằng từ cáo nó chẳng còn hy vọng ân huệ nào; vậy nó khóc cho chính mình, nói: “Quả thật ta đã lơ là lợi ích của mình; nhưng nếu Allah cứu ta khỏi tai họa này, chắc chắn ta sẽ ăn năn vì thói kiêu ngạo của ta đối với những kẻ yếu hơn mình, sẽ mặc áo len[FN#157] và lên núi, ca tụng Allah Toàn Năng và sợ hình phạt của Ngài. Ta sẽ rút khỏi bầu bạn của các thú hoang khác và chắc chắn sẽ nuôi ăn những chiến sĩ nghèo vì Đức Tin.” Rồi nó khóc và than, cho đến khi trái tim con cáo mềm lại khi nghe những lời khiêm nhường và lời thú nhận ăn năn của nó về thói xấc xược cùng ngạo mạn đã qua. Vậy cáo động lòng thương nó, vui vẻ nhảy lên và, đi đến mép chỗ vỡ, ngồi xổm trên hai chân sau rồi thả đuôi xuống hố; bấy giờ con sói đứng dậy, đưa vuốt ra kéo đuôi cáo, khiến cáo rơi xuống hố cùng nó. Rồi con sói nói: “Hỡi cáo ít lòng thương, vì sao ngươi vui mừng trước nỗi khốn của ta, ngươi vốn là bạn đồng hành và ở dưới quyền ta? Nay ngươi đã rơi vào hố cùng ta và báo ứng đã mau chóng bắt kịp ngươi. Quả thật các bậc hiền nhân đã nói: ‘Nếu một trong các ngươi trách huynh đệ mình bú vú chó cái, thì chính hắn cũng sẽ bú nó.’ Và thi nhân nói hay biết bao,

‘Khi Vận Mệnh đè nặng lên một vài người trong chúng ta, *
Và khiến lạc đà quỳ xuống bên người khác,[FN#158]
Hãy nói với những kẻ vui mừng trước tai ương của chúng ta: —Hãy tỉnh dậy! *
Kẻ vui mừng ấy rồi sẽ chịu như chúng ta đã chịu!’

Và chết có bạn là điều tốt nhất;[FN#159] vì vậy chắc chắn và nhất định ta sẽ mau chóng giết ngươi trước khi ngươi thấy ta bị giết.” Con cáo tự nhủ: “Chao ôi! Chao ôi! Ta đã rơi vào bẫy cùng tên bạo chúa này, và tình cảnh của ta đòi phải dùng mưu mẹo cùng xảo trí; vì quả thật có câu rằng đàn bà chế trang sức cho ngày phô bày, và tục ngữ nói: ‘Ta chẳng giữ ngươi lại, ôi giọt lệ của ta, ngoài cho lúc khốn cùng đến gần.’ Nếu ta không mau chóng dùng mưu vây lấy con thú quyền thế này, ta mất mạng không còn lối cứu; và thi nhân nói hay biết bao,

‘Hãy chơi cuộc chơi bằng mưu, vì ngươi sinh ra trong một Thời *
Mà con cái của nó là sư tử nằm trong rừng;
Và hãy mở dòng nước[FN#160] xảo trá của ngươi *
Để cối xay sinh tồn nghiền hạt của ngươi;
Và hãy hái trái, hoặc nếu ngoài tầm với, *
Thì nhét đầy diều ngươi bằng cỏ trên đồng.’”

Rồi con cáo nói với con sói: “Chớ vội giết ta, vì đó không phải cách trả công cho ta và ngươi sẽ hối hận, hỡi thú hoang quả cảm, chúa tể của sức mạnh và uy lực vượt bậc! Nếu ngươi cho trì hoãn và cân nhắc điều ta sẽ nói, ngươi sẽ biết ý định ta đề ra; còn nếu ngươi vội giết ta, điều ấy chẳng lợi gì cho ngươi và cả hai chúng ta sẽ chết ngay tại nơi này.” Sói đáp: “Hỡi tên xảo trá lắm mưu, điều gì khiến ngươi hy vọng làm được sự giải thoát của ta và của ngươi, mà ngươi xin ta ban cho ngươi trì hoãn? Hãy nói và trình với ta ý định của ngươi.” Cáo đáp: “Còn ý định ta đề ra, đó là một điều xứng đáng để ngươi thưởng ta hậu hĩ vì nó; vì khi ta nghe những lời hứa của ngươi, những thú nhận của ngươi về việc ác đã qua và hối tiếc vì đã không ăn năn và làm điều thiện sớm hơn; và khi ta nghe ngươi thề rằng, nếu ngươi thoát khỏi chỗ ngặt này, sẽ bỏ việc hại bạn đồng loại và kẻ khác, sẽ thề bỏ ăn nho và mọi thứ trái cây, hiến mình cho khiêm nhường, cắt vuốt và bẻ nanh chó, mặc áo len và dâng mình làm lễ vật cho Allah Toàn Năng, thì quả thật ta động lòng thương ngươi, vì lời chân thật là lời tốt nhất. Và dẫu trước đó ta nóng lòng muốn ngươi bị hủy diệt, khi nghe ngươi ăn năn và thề sửa đổi nếu Allah đoái thương cứu ngươi, ta thấy mình bị ràng buộc phải giải thoát ngươi khỏi cảnh hiện tại. Vậy ta thả đuôi xuống để ngươi nắm lấy nó mà được cứu. Thế nhưng ngươi vẫn không bỏ thói bạo lực quen thuộc và tính tàn bạo; cũng không tìm cách tự cứu mình bằng phương tiện đẹp đẽ, mà lại kéo ta một cái khiến ta tưởng hồn lìa khỏi xác, để ngươi và ta cùng rơi vào một chốn khốn cùng và chết chóc. Và nay chỉ có một điều có thể cứu chúng ta, nếu ngươi nhận nó từ ta, cả hai ta sẽ thoát; sau đó ngươi phải làm trọn những lời thề đã thề, và ta sẽ là bạn thật sự của ngươi.” Sói hỏi: “Điều ngươi đề nghị ta nhận là gì?” Cáo đáp: “Đó là ngươi đứng thẳng hết chiều cao cho đến khi ta gần ngang mặt đất. Rồi ta sẽ nhảy lên và đến được mặt đất; và khi đã ra khỏi hố, ta sẽ mang cho ngươi thứ ngươi có thể nắm lấy, nhờ đó ngươi sẽ thoát ra.” Sói đáp: “Ta không tin lời ngươi, vì các bậc hiền triết đã nói: ‘Kẻ nào đặt tin cậy nơi chỗ có thù ghét là lầm lạc’; và ‘Kẻ nào tin kẻ không đáng tin là kẻ bị lừa; kẻ nào thử lại kẻ đã từng được thử sẽ gặt hối hận và ngày tháng hắn sẽ trôi hoài; kẻ nào không phân biệt được trường hợp này với trường hợp kia, trao cho mỗi việc phần xứng của nó, mà đặt mọi trọng lượng về một phía, vận may của hắn sẽ ít và khốn khổ của hắn sẽ nhiều.’ Thi nhân nói hay biết bao,

‘Hãy nghĩ xấu và chẳng gì ngoài xấu; *
Vì nghi ngờ là kỹ năng tốt nhất của người đời:
Chẳng gì ném người vào nơi hiểm nghèo *
Ngoài ý nghĩ tốt và (tệ hơn) thiện chí!’

Và lời của một người khác,

‘Hãy chắc rằng tất cả đều là kẻ ác và như thế ở yên an toàn; *
Ai sống tỉnh thức sẽ gặp ít Tai Ương:
Gặp kẻ thù bằng nụ cười và trán mịn đẹp, *
Còn trong tim hãy dựng một đạo quân sẵn cho trận chiến!’

Và lời của người khác nữa,[FN#161]

‘Kẻ ngươi tin nhất là kẻ thù tệ nhất của ngươi; *
Hãy coi chừng tất cả và cẩn thận với ai ngươi đi cùng:
Nghĩ tốt về Vận Mệnh là dấu hiệu yếu đuối; *
Vậy hãy tin điều xấu của nàng và cân nhắc các Tai Ương của nàng!’”

Con cáo nói: “Quả thật nghi kỵ và nghĩ xấu về người khác không phải trong mọi trường hợp đều đáng khen; không, tin cậy và tín nhiệm là đặc điểm của bản tính cao quý, và kết quả của chúng là thoát khỏi áp lực của sợ hãi. Nay ngươi cần, hỡi sói kia, nghĩ ra một mưu để tự giải thoát khỏi cảnh này, và sự thoát nạn của chúng ta tốt hơn cho cả hai so với cái chết; vậy hãy bỏ sự nghi ngờ và oán hận của ngươi; vì nếu ngươi tin ta, một trong hai điều sẽ xảy ra: hoặc ta sẽ mang cho ngươi thứ gì đó để nắm lấy và thoát khỏi cảnh này, hoặc ta sẽ bỏ mặc ngươi với định mệnh. Nhưng điều này không thể xảy ra, vì ta không an toàn khỏi rơi vào một chỗ ngặt giống như chỗ ngươi đang ở, mà quả thật đó sẽ là hình phạt thích đáng cho sự phản trắc. Quả thật ngạn ngữ nói: ‘Trung tín thì đẹp, thất tín thì xấu.’[FN#162] Vì vậy ngươi nên tin ta, bởi ta không phải không biết những may rủi của thế gian; và đừng trì hoãn việc nghĩ mưu giải thoát chúng ta, vì tình cảnh đã quá gấp, không cho phép nói thêm.” Sói đáp: “Dẫu ta thiếu niềm tin vào lòng trung tín của ngươi, quả thật ta biết điều trong tâm trí ngươi và rằng ngươi đã động lòng muốn cứu ta khi ngươi nghe lời ăn năn của ta, và ta tự nhủ: ‘Nếu điều hắn khẳng định là thật, hắn sẽ sửa chữa điều xấu hắn đã làm; còn nếu giả, thì việc báo trả hắn thuộc về Đức Chúa.’ Vậy, nghe đây, ta đã chấp nhận đề nghị của ngươi; và nếu ngươi phản bội ta, cầu hành vi phản bội của ngươi là nguyên nhân hủy diệt ngươi!” Rồi con sói đứng thẳng tắp trong hố và, đặt con cáo lên vai, nâng nó lên ngang mặt đất, bấy giờ Reynard nhảy một cú khỏi lưng sói và đáp xuống mặt đất. Khi thấy mình đã ra khỏi khe an toàn, cáo ngã xuống bất tỉnh, và con sói nói với nó: “Ôi bạn của ta! đừng bỏ quên tình cảnh của ta và đừng chậm trễ cứu ta.” Con cáo cười một tràng ha hả lớn và đáp: “Ôi kẻ bị lừa, chẳng gì ném ta vào tay ngươi ngoài việc ta cười nhạo ngươi và chế giễu ngươi; vì quả thật khi ta nghe ngươi tuyên xưng ăn năn, vui vẻ và hân hoan chiếm lấy ta, ta nhảy nhót, vui đùa và múa, đến nỗi đuôi ta buông thấp xuống hố, rồi ngươi chộp lấy nó kéo ta xuống với ngươi. Và kết cục là Allah Toàn Năng đã cứu ta khỏi quyền lực của ngươi. Vậy vì sao ta phải là gì khác ngoài một kẻ trợ giúp trong sự hủy diệt của ngươi, khi ngươi thuộc đạo quân của Satan? Hôm qua ta mơ rằng ta nhảy múa trong đám cưới của ngươi, rồi kể giấc mơ cho một người giải mộng, người ấy nói với ta: ‘Quả thật ngươi sẽ rơi vào hiểm nguy chết chóc sát gần và sẽ thoát khỏi đó.’ Vậy nay ta biết rằng việc ta rơi vào tay ngươi và việc ta thoát ra chính là sự ứng nghiệm của giấc mơ; còn ngươi, hỡi kẻ ngu độn, biết ta là kẻ thù của ngươi; vậy làm sao ngươi, vì ngu dốt và thiếu trí hiểu, lại nuôi khát vọng được giải thoát bởi tay ta, sau tất cả những lời khắc nghiệt ngươi đã nghe từ ta; và cớ sao ta phải cố cứu ngươi khi các bậc hiền trí đã nói: ‘Trong cái chết của kẻ ác là sự nghỉ ngơi cho nhân loại và sự thanh tẩy cho mặt đất’? Nhưng, nếu không phải ta sợ rằng giữ lòng trung tín với ngươi sẽ khiến ta chịu nhiều khốn khổ hơn những đau đớn đi theo sự phản trắc, ta đã làm hết sức để cứu ngươi.” Khi con sói nghe điều này, nó cắn chân trước vì hối hận.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi con sói nghe lời con cáo, nó cắn chân trước vì hối hận. Rồi nó nói với cáo những lời đẹp, nhưng điều ấy chẳng ích gì, và nó hết đường xoay xở không biết phải làm gì; vậy nó nói với cáo bằng giọng mềm và thấp: “Quả thật giống cáo các ngươi là những kẻ dễ chịu nhất về lời lưỡi và tinh vi nhất trong bông đùa, còn đây chỉ là một trò đùa của ngươi; nhưng không phải lúc nào cũng thích hợp để vui đùa và bỡn cợt.” Con cáo đáp: “Hỡi kẻ dốt nát, quả thật bông đùa có giới hạn mà kẻ đùa không được vượt qua; và đừng nghĩ rằng Allah sẽ một lần nữa trao ta vào tay ngươi sau khi Ngài đã một lần cứu ta khỏi tay ngươi.” Sói nói: “Ngươi nên lo liệu việc thả ta ra, bởi tình huynh đệ và bầu bạn tốt đẹp giữa chúng ta; và nếu ngươi thả ta ra, chắc chắn ta sẽ đền đáp ngươi hậu hĩ.” Cáo nói: “Người khôn nói: ‘Đừng nhận kẻ ngu ác làm huynh đệ, vì hắn sẽ làm ngươi nhục thay vì làm ngươi vẻ vang; cũng đừng nhận kẻ nói dối làm huynh đệ, vì nếu ngươi làm điều tốt, hắn sẽ che giấu nó; còn nếu ngươi làm điều xấu, hắn sẽ tiết lộ nó.’ Và nữa, các bậc hiền triết đã nói: ‘Mọi thứ đều có thể cứu được, ngoại trừ cái chết: tất cả đều có thể ngăn, trừ Định Mệnh.’ Còn phần thưởng ngươi tuyên bố là ta đáng nhận từ ngươi, trong chuyện này ta ví ngươi với con rắn trốn khỏi người dụ rắn.[FN#163] Một người thấy nó sợ hãi và nói với nó: ‘Điều gì xảy đến với ngươi, hỡi rắn?’ Nó đáp: ‘Ta đang trốn người dụ rắn, vì hắn muốn bẫy ta; nếu ngươi cứu ta và giấu ta bên ngươi, ta sẽ đền đáp ngươi hậu hĩ và làm cho ngươi mọi điều tử tế.’ Vậy người ấy nhận nó, bị thúc đẩy bởi lòng thèm phần thưởng và nóng lòng tìm ân huệ nơi Trời, rồi đặt nó trong túi áo trước ngực. Bấy giờ khi người dụ rắn đã đi qua và lên đường, con rắn không còn lý do gì để sợ, người ấy nói với nó: ‘Phần thưởng ngươi đã hứa với ta đâu? Kìa, ta đã cứu ngươi khỏi điều ngươi sợ và tìm cách trốn.’ Nó đáp: ‘Hãy nói cho ta biết ta nên cắm nanh vào chi nào hoặc chỗ nào của ngươi, vì ngươi biết chúng ta không vượt quá phần thưởng ấy.’ Nói vậy, nó cắn người ấy một nhát khiến ông chết. Và ta ví ngươi, hỡi kẻ đần, với con rắn trong cách nó đối xử với người ấy. Ngươi chưa nghe thi nhân nói sao?

‘Đừng tin người khi ngươi đã khơi dậy tỳ khí *
Và cơn giận của hắn, cũng đừng lầm tưởng rằng nó sẽ nguội:
Rắn độc trơn mịn khi chạm vào và trườn *
Duyên dáng, song nó giấu nọc chết chóc nhất.’”

Con sói nói: “Hỡi kẻ dẻo miệng và đẹp mặt, chớ phớt lờ tình cảnh của ta và nỗi sợ của người đời đối với ta; ngươi biết rõ ta tấn công nơi tường cao kiên cố và nhổ bật dây nho từ gốc. Vì thế hãy làm như ta truyền, và đứng trước ta như nô lệ đứng trước chúa của mình.” Cáo nói: “Hỡi kẻ ngu đần tìm điều hư không, ta kinh ngạc trước sự ngu xuẩn và mặt dày như đồng của ngươi, khi ngươi bảo ta phụng sự ngươi và đứng trước ngươi như thể ta là nô lệ được mua bằng bạc của ngươi; nhưng chẳng bao lâu ngươi sẽ thấy điều dành sẵn cho mình, theo lối bị đá nứt sọ và bị đánh văng những nanh chó phản trắc.” Nói vậy, con cáo trèo lên một ngọn đồi nhìn xuống vườn nho, đứng đó gọi lớn các thợ làm nho; nó không ngừng gọi cho đến khi đánh thức họ, và khi thấy nó, tất cả họ vội vã đến gần. Nó giữ nguyên chỗ cho đến khi họ đến sát nó và gần cái hố có con sói; rồi nó quay đầu bỏ chạy. Vậy dân chúng nhìn xuống khe và, thấy con sói, bắt đầu ném đá lớn vào nó; họ không ngừng đánh nó bằng đá và gậy, đâm nó bằng giáo, cho đến khi giết chết nó rồi bỏ đi. Bấy giờ con cáo trở lại chỗ khe ấy và, đứng trên nơi kẻ thù của mình bị giết, thấy con sói đã chết: vậy nó lắc đầu vì quá đỗi vui mừng và bắt đầu đọc những vần thơ này,

“Định Mệnh đã giật hồn Sói khỏi chốn thế gian; *
Xa phúc lạc thay linh hồn đã tiêu vong của nó!
Abu Sirhan![FN#164] ngươi đã cay nghiệt tìm cái chết của ta biết bao; *
Ngươi, hôm nay bị thiêu trong lửa sầu kinh khủng:
Ngươi đã rơi vào hố, nơi tất cả những ai rơi xuống *
Đều bị luồng hơi Tử Thần thổi xuống giữa người chết.”

Từ đó về sau, con cáo kể trên sống một mình trong vườn nho cho đến giờ chết, an toàn và không sợ điều hại nào. Và đó là những cuộc phiêu lưu của con sói và con cáo. Nhưng người đời cũng kể một

THE BIRDS AND BEASTS AND THE CARPENTER[FN#130]#23

TRUYỆN CON CHUỘT VÀ CON MANGUT[FN#165]

Một con chuột và một con mangut thuở nọ cùng sống trong nhà của một người nông dân rất nghèo; và khi một người bạn của ông ngã bệnh, thầy thuốc kê cho ông vừng đã bóc vỏ. Vậy người nông phu xin một đồng bạn ít vừng để bóc vỏ, dùng làm thuốc chữa cho người bệnh; và khi được cho một đấu, ông mang về nhà cho vợ mình và bảo bà sửa soạn. Vậy bà ngâm nó, bóc vỏ rồi trải ra phơi khô. Bấy giờ khi con mangut thấy hạt ấy, nó đi đến và bắt đầu tha về hang mình, nó nhọc nhằn suốt ngày cho đến khi tha đi phần lớn. Lát sau, vợ người nông dân bước vào, thấy nhiều hạt đã mất, bèn đứng một lúc kinh ngạc; sau đó bà ngồi xuống canh để tìm ra kẻ xâm nhập là ai và bắt hắn đền cho mất mát của bà. Một lúc sau, con mangut bò ra để tha hạt đi như thói quen, nhưng thoáng thấy người đàn bà ngồi đó, nó biết bà đang rình mình và tự nhủ: “Quả thật, việc này e kết thúc đáng trách; và ta rất sợ người đàn bà này đang canh ta, mà Vận Mệnh không làm bạn với kẻ không chú ý đến hậu quả và kết cục: vậy không còn cách nào khác ngoài việc ta làm một việc đẹp, nhờ đó ta có thể tỏ rõ sự vô tội của mình và rửa sạch mọi việc xấu ta đã làm.” Nói vậy, nó bắt đầu lấy vừng ra khỏi hang và tha ra ngoài, đặt lại vào chỗ còn lại. Người đàn bà đứng bên, thấy con mangut làm như vậy, bèn tự nhủ: “Quả thật đây không phải nguyên nhân mất mát của chúng ta, vì nó mang vừng trở lại từ hang của kẻ đã trộm và trả về chỗ cũ; và quả thật nó đã làm cho chúng ta một việc tốt khi khôi phục vừng cho chúng ta, mà phần thưởng của những kẻ làm điều tốt cho ta là ta cũng làm điều tốt tương tự cho họ. Rõ ràng không phải nó đã trộm hạt; nhưng ta sẽ không ngừng canh cho đến khi kẻ ấy rơi vào tay ta và ta tìm ra ai là tên trộm.” Con mangut đoán được điều trong lòng bà, bèn đến với con chuột và nói: “Ôi chị của ta, chẳng có điều tốt nơi kẻ không giữ nghĩa láng giềng và không tỏ sự bền lòng trong tình bạn.” Con chuột đáp: “Đúng vậy, ôi bạn của ta, và ta vui thích nơi nàng cùng tình láng giềng của nàng; nhưng động cơ của lời này là gì?” Con mangut nói: “Chủ nhà đã mang vừng về và đã ăn no nó, ông cùng gia đình mình, rồi còn để lại nhiều; mọi sinh vật đều đã ăn nó, và nếu nàng lấy phần của nàng, nàng xứng đáng với nó hơn bất cứ ai khác.” Điều này làm con chuột thích thú, nó rít lên vì vui, nhảy múa, vẫy tai và đuôi, rồi lòng tham hạt đã lừa nó; vậy nó lập tức đứng dậy, ra khỏi nhà mình, thấy vừng đã bóc vỏ và khô, sáng trắng lên, còn người đàn bà đang ngồi canh giữ. Con chuột, không nghĩ đến hậu quả của việc này (vì người đàn bà đã tự trang bị một cây gậy), và không thể kìm mình, chạy đến chỗ vừng và bắt đầu lật đảo rồi ăn; bấy giờ người đàn bà đánh nó bằng cây gậy ấy và chẻ đầu nó: vậy nguyên nhân hủy diệt của nó là lòng tham và sự không để ý đến hậu quả. Rồi Sultan nói: “Ôi Shahrazad, thề bởi Allah! đây là một dụ ngôn tốt đẹp! Hãy nói cho ta, nàng có câu chuyện nào liên quan đến vẻ đẹp của tình bạn chân thật và việc giữ nghĩa của nó trong lúc khốn cùng, cùng việc cứu khỏi hủy diệt chăng?” Nàng đáp:—Có, chuyện đến tai thiếp rằng người ta kể một truyện về

CON MÈO[FN#166] VÀ CON QUẠ

Thuở nọ, một con quạ và một con mèo sống trong tình huynh đệ; và một ngày kia khi chúng ở cùng nhau dưới một gốc cây, kìa, chúng thoáng thấy một con báo đang tiến về phía mình, và chúng không nhận ra nó đến gần cho đến khi nó đã sát bên. Con quạ lập tức bay lên ngọn cây; nhưng con mèo ở lại bối rối và nói với quạ: “Ôi bạn ta, ngươi có mưu nào cứu ta chăng, vì mọi hy vọng của ta đặt nơi ngươi?” Quạ đáp: “Quả thật, trong lúc cần, huynh đệ phải nghĩ ra mưu khi hiểm nguy bắt kịp họ, và thi nhân nói hay biết bao,

Bạn lúc cần là kẻ, mãi chân thành, *
Vì phúc của người mà tự làm mình khốn:
Kẻ khi Vận Mệnh khiến ta sầu vì chia cách *
Hiến chính mình để đoàn viên lại được nối.’”

Bấy giờ gần cây ấy có các mục đồng cùng lũ chó của họ; vậy con quạ bay về phía họ, vỗ cánh xuống mặt đất, kêu quang quác và la lớn. Hơn nữa nó đến gần một con chó, đập cánh vào mặt nó rồi bay lên một quãng ngắn, trong khi con chó chạy theo nó, tưởng bắt được nó. Lát sau, một mục đồng ngẩng đầu lên và thấy con chim bay gần mặt đất, lúc đáp xuống lúc lại bay lên; vậy ông theo nó, còn con quạ không ngừng bay vừa đủ cao để cứu mình và dụ lũ chó; vậy mà vẫn mồi chúng đuổi theo với mục đích xé nó thành mảnh. Nhưng hễ chúng đến gần nó, nó lại bay lên một chút; và cứ thế cuối cùng nó đưa chúng đến gốc cây, dưới đó có con báo. Và khi lũ chó thấy báo, chúng xông vào nó, còn nó quay đầu bỏ chạy. Bấy giờ con báo vốn định ăn con mèo, kẻ đã được cứu nhờ mưu của bạn mình là con quạ. Câu chuyện này, tâu đức vua, cho thấy tình bạn của Huynh đệ Tinh khiết[FN#167] giải thoát và cứu người khỏi khó khăn cùng khỏi rơi vào hiểm nguy chết chóc. Và người ta cũng kể một chuyện về

CON CÁO VÀ CON QUẠ

Một con Cáo thuở nọ sống trong hang của một ngọn núi kia; và mỗi khi một con cáo con sinh ra cho nó rồi lớn khỏe, nó sẽ ăn con non ấy, vì nó đã chết vì đói, nếu thay vì làm như vậy nó để cáo con sống và nuôi nó bên mình, bảo tồn và chăm chút dòng giống của mình. Thế nhưng việc này thật đau đớn cho nó. Bấy giờ trên đỉnh cùng ngọn núi ấy, một con quạ đã làm tổ, và con cáo tự nhủ: “Ta có ý lập tình bạn với con quạ này và làm nó thành bạn đồng hành, để nó có thể giúp ta kiếm bánh hằng ngày; vì trong những việc ấy nó có thể làm điều ta không thể.” Vậy nó đến gần nhà con quạ và, khi vào trong tầm nghe được lời nói, nó chào quạ và nói: “Ôi láng giềng của ta, quả thật một tín đồ chân chính có hai quyền trên người láng giềng cũng là tín đồ chân chính của mình, quyền láng giềng và quyền Al-Islam, đức tin chung của chúng ta; và hãy biết, ôi bạn ta, rằng ngươi là láng giềng của ta, và ngươi có một quyền trên ta mà ta phải gìn giữ, nhất là vì ta đã làm láng giềng của ngươi lâu ngày. Hơn nữa, trong ngực ta được gieo sẵn một kho tình yêu dành cho ngươi, khiến ta nói lời đẹp với ngươi và buộc ta cầu xin tình huynh đệ của ngươi. Ngươi đáp thế nào?” Con quạ đáp: “Quả thật, lời chân thật nhất là lời tốt nhất; và có lẽ ngươi nói bằng lưỡi điều không ở trong tim; vì vậy ta sợ e tình huynh đệ của ngươi chỉ ở lưỡi, bên ngoài, còn thù hận của ngươi ở trong tim, bên trong; bởi ngươi là Kẻ Ăn còn ta là Kẻ Bị Ăn, và đi riêng thì hợp với chúng ta hơn tình bạn cùng bầu bạn. Vậy điều gì khiến ngươi tìm điều ngươi không thể đạt và mong điều không thể thực hiện, khi thấy ta thuộc loài chim còn ngươi thuộc loài thú? Quả thật tình huynh đệ[FN#168] ngươi đề nghị này không thể lập, cũng chẳng phải lẽ khi lập nó.” Cáo đáp: “Quả thật kẻ nào biết nơi cư ngụ của những điều tuyệt hảo thì chọn lựa tốt hơn trong những gì hắn chọn từ đó, để có lẽ hắn làm lợi cho huynh đệ mình; và quả thật ta muốn ở gần ngươi, và đã cầu thân với ngươi, để chúng ta có thể giúp nhau đạt những mục đích riêng; thành công chắc chắn sẽ theo tình thân của chúng ta. Ta có nhiều chuyện về vẻ tốt đẹp của tình bạn chân thật, ta sẽ kể cho ngươi nếu ngươi muốn nghe.” Quạ đáp: “Ngươi được phép cho ta nghe lời truyền đạt của ngươi; vậy hãy kể chuyện của ngươi, kể nó cho ta để ta nghe và cân nhắc nó, rồi nhờ đó phán xét ý định của ngươi.” Cáo đáp: “Vậy hãy nghe, ôi bạn ta, chuyện được kể về một con bọ chét và một con chuột, vốn chứng thực điều ta đã nói với ngươi.” Quạ hỏi: “Thế nào?” và cáo đáp:—Người ta kể câu chuyện này về

Con Bọ chét và Con Chuột

Thuở nọ, một con chuột sống trong nhà của một thương nhân có nhiều hàng hóa và những kho tiền lớn. Một đêm, một con bọ chét trú trong tấm thảm-giường của người thương nhân và, thấy thân ông mềm mại, lại đang khát nên hút máu ông. Người thương nhân thức dậy vì đau nhói của vết cắn, ngồi dậy gọi các nữ nô và người hầu. Vậy họ vội đến bên ông và, xắn tay áo, bắt đầu tìm bọ chét; nhưng ngay khi kẻ hút máu biết việc tìm kiếm, nó quay đầu chạy trốn và đến nhà con chuột, rồi vào đó. Khi chuột thấy nó, nàng nói với nó: “Điều gì đưa ngươi vào với ta, ngươi vốn không thuộc bản tính hay giống loài của ta, và ngươi không thể chắc chắn được an toàn khỏi bạo lực hay khỏi bị đuổi đi bằng sự thô lỗ và cư xử tệ?” Bọ chét đáp: “Quả thật, ta trú trong chỗ ở của nàng để cứu mình khỏi bị giết; ta đến với nàng tìm sự che chở của nàng và không hề thèm muốn nhà nàng; cũng sẽ không có điều hại nào xảy đến với nàng từ ta khiến nàng phải rời nhà mình. Không, ta hy vọng rất sớm sẽ đền đáp ân huệ của nàng đối với ta bằng mọi điều tốt, và khi ấy nàng sẽ thấy và khen ngợi kết quả lời ta.” Và khi con chuột nghe lời của bọ chét, - Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi mốt

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi con chuột nghe lời của bọ chét, nàng nói: “Nếu tình cảnh đúng như ngươi kể và mô tả, vậy hãy yên lòng ở đây; vì chẳng có gì xảy đến với ngươi ngoài cơn mưa của bình an và an toàn; cũng chẳng có gì đến với ngươi ngoài điều làm ngươi vui và không làm ngươi phiền, cũng không làm ta phiền. Ta sẽ rộng ban tình cảm của mình cho ngươi không chút keo kiệt; và ngươi đừng hối tiếc vì mất máu người thương nhân, cũng đừng than vì kế sinh nhai của ngươi từ ông ấy, mà hãy bằng lòng với sinh kế ngươi có thể kiếm được; vì quả thật điều ấy an toàn hơn cho ngươi. Và ta đã nghe, ôi bọ chét, rằng một trong các thi nhân châm ngôn nói như sau trong những vần thơ này,

Ta đã sống bằng lòng trong cô độc của mình *
Với bất cứ gì xảy đến, và sống đời an ổn,
Bằng một ngụm nước và một miếng bánh, *
Muối thô và áo choàng len rách:
Allah có thể, nếu Ngài muốn, ban cho ta đời sống dễ dàng nhất, *
Nhưng điều gì làm Ngài hài lòng thì chính ta cũng hài lòng.’”

Bấy giờ khi bọ chét nghe những lời này của con chuột, nó đáp: “Ta nghe lời răn của nàng và phó mình vâng theo nàng, ta không có quyền chống lại nàng, cho đến khi đời sống được hoàn tất trong ý định chính trực này.” Chuột đáp: “Ý định tinh khiết đủ cho tình cảm chân thành.” Vậy mối dây tình yêu nảy sinh và được thắt giữa đôi chúng, và sau đó, bọ chét thường đến giường người thương nhân ban đêm mà không vượt quá trong việc ăn uống, rồi ban ngày trú trong hang chuột. Bấy giờ một đêm nọ, người thương nhân mang về nhà một kho lớn dinar và bắt đầu lật giở chúng. Khi chuột nghe tiếng leng keng của tiền, nàng thò đầu ra khỏi hang và chăm chú nhìn nó, cho đến khi người thương nhân đặt nó dưới gối và đi ngủ; khi ấy nàng nói với bọ chét: “Ngươi không thấy cơ hội được dâng ra và vận may lớn lao sao? Ngươi có mưu nào đưa chúng ta đến điều chúng ta muốn, những đồng dinar kia?” Bọ chét nói: “Quả thật, không tốt khi một người cố gắng vì điều gì, trừ phi hắn có khả năng đạt ý mình; bởi nếu thiếu khả năng với nó, hắn sẽ rơi vào điều hắn nên tránh và không đạt được mong muốn vì sự yếu đuối của mình, dù hắn dùng hết quyền năng mưu trí, như con chim sẻ nhặt hạt rồi rơi vào lưới và bị người bắt chim bắt lấy. Nàng không có sức lấy các đồng dinar và chuyển chúng ra khỏi nhà này, ta cũng không có đủ sức để làm việc ấy; ngược lại, ta không thể mang nổi một đồng ducat nào trong số đó; vậy nàng có việc gì với chúng?” Chuột nói: “Ta đã làm cho nhà mình bảy mươi cửa mở, từ đó ta có thể đi ra theo ý muốn, và ta đã dành riêng một nơi mạnh và an toàn cho những vật quý; nếu ngươi có thể bày cách đưa người thương nhân ra khỏi nhà, ta không nghi ngờ thành công, nếu Định Mệnh trợ giúp ta.” Bọ chét đáp: “Ta sẽ đảm nhận việc đưa ông ta ra khỏi nhà cho nàng”; rồi, đến giường người thương nhân, cắn ông một nhát đáng sợ, như ông chưa từng cảm thấy trước kia, sau đó trốn đến nơi an toàn, nơi nó không sợ người đàn ông. Vậy người thương nhân thức dậy và tìm bọ chét, nhưng không thấy nó, bèn nằm xuống lại trên phía bên kia. Rồi bọ chét cắn ông lần thứ hai, đau hơn trước. Vậy ông mất kiên nhẫn, rời khỏi giường, đi ra ngoài và nằm xuống trên băng ghế trước cửa rồi ngủ ở đó, không thức dậy cho đến sáng. Trong khi ấy con chuột ra ngoài và bắt đầu mang các đồng dinar vào hang mình, cho đến khi không để lại một đồng nào; và khi ngày rạng, người thương nhân bắt đầu nghi ngờ người nhà và tưởng tượng đủ điều. Và (con cáo tiếp) hãy biết, ôi con quạ khôn ngoan và từng trải với đôi mắt sáng suốt, rằng ta kể điều này cho ngươi chỉ với ý định để ngươi gặt phần đền đáp lòng tốt của ngươi đối với ta, như con chuột đã gặt phần thưởng lòng tốt của nàng đối với bọ chét; vì hãy xem nó đã trả ơn và đáp lại nàng bằng sự đền đáp tốt đẹp nhất như thế nào.” Quạ nói: “Việc tỏ lòng nhân từ hay không tỏ nó nằm ở người làm ơn; và chúng ta không có bổn phận đối đãi tử tế với kẻ tìm một mối liên kết kéo theo sự chia lìa khỏi thân tộc và họ hàng. Nếu ta ban ân cho ngươi, kẻ là thù của ta theo giống loài, ta là nguyên nhân cắt mình khỏi thế gian; còn ngươi, ôi cáo, đầy mưu mẹo và thủ đoạn. Nay những kẻ có đặc tính là xảo quyệt và mưu trí thì không được tin theo lời thề; và kẻ không được tin theo lời thề thì trong hắn không có đức tin tốt. Tin tức gần đây đã đến với ta về cách ngươi đối xử phản trắc với một bạn đồng hành của ngươi, vốn là một con sói; và cách ngươi lừa hắn cho đến khi dẫn hắn vào hủy diệt bằng sự phản trắc và mưu kế của ngươi; ngươi đã làm điều này sau khi hắn thuộc cùng giống với ngươi và ngươi đã giao du với hắn lâu ngày: vậy mà ngươi không tha hắn; và nếu ngươi có thể xử với đồng loại mình như thế, làm sao ta có thể tin vào sự thật của ngươi, và ngươi sẽ đối xử thế nào với kẻ thù thuộc giống khác với giống ngươi? Ta không thể so sánh ngươi và ta với gì ngoài chim cắt saker và các loài chim.” Cáo hỏi: “Thế nào?” Quạ đáp: người ta kể câu chuyện này về

Chim Cắt Saker[FN#169] và Các Loài Chim.

Thuở nọ có một con chim cắt saker là bạo chúa tàn nhẫn”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi hai

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng con quạ tiếp: “Người ta kể rằng thuở nọ có một con chim cắt saker là bạo chúa tàn nhẫn trong những ngày tuổi trẻ, đến nỗi các loài ăn thịt trên không và những kẻ ăn xác trên đất đều sợ nó, không ai an toàn khỏi sự phá hoại của nó; và nhiều thay những may rủi từ thói bạo ngược và bạo lực của nó, vì con chim cắt saker này luôn có thói quen áp bức và gây hại cho mọi loài chim khác. Khi năm tháng trôi qua trên nó, nó trở nên yếu đuối và sức lực suy tàn, nên thường bị đói; nhưng sự xảo quyệt của nó lại mạnh hơn cùng với sự suy yếu của sức lực, và nó tăng gấp đôi trong cố gắng, quyết định hiện diện tại hội lớn của loài chim, để có thể ăn những mẩu thừa và thức ăn bỏ lại của chúng; theo cách ấy nó nuôi mình bằng gian trá thay vì nuôi mình bằng hung hãn và sức mạnh. Còn ngươi, ôi cáo, cũng giống như vậy: nếu sức ngươi suy, mưu mẹo của ngươi không suy; và ta không nghi ngờ rằng việc ngươi tìm bầu bạn với ta là một trò gian để kiếm thức ăn; nhưng ta không thuộc hạng rơi vào tay ngươi và đặt nắm tay mình vào nắm tay ngươi;[FN#170] bởi Allah đã đoái ban sức mạnh cho đôi cánh ta, sự cẩn trọng cho trí ta và mắt sáng sắc cho đôi mắt ta; và ta biết rằng kẻ nào bắt chước kẻ mạnh hơn mình thì tự làm mình mỏi mệt và có lẽ đi đến diệt vong. Vì vậy ta lo cho ngươi, e nếu ngươi bắt chước kẻ mạnh hơn mình, ngươi sẽ gặp điều đã xảy đến với con chim sẻ.” Cáo hỏi: “Điều gì đã xảy đến với con chim sẻ? Nhân danh Allah trên ngươi, hãy kể cho ta chuyện của nó.” Và con quạ bắt đầu kể chuyện về

Con Chim Sẻ và Đại Bàng

Ta nghe rằng một con chim sẻ thuở nọ đang chập chờn bay trên một chuồng cừu, khi nó nhìn kỹ nơi ấy và kìa, nó thấy một con đại bàng lớn sà xuống một con cừu non mới cai sữa, cắp nó đi trong móng vuốt rồi bay đi. Bấy giờ chim sẻ vỗ cánh và nói: “Ta sẽ làm đúng như kẻ này đã làm”; và nó trở nên kiêu hãnh trong tự phụ của mình, bắt chước kẻ lớn hơn nó. Vậy nó lập tức bay xuống và đậu trên lưng một con cừu đực béo có lớp lông dày đã bết lại vì nó nằm trong phân và nước tiểu của mình cho đến khi như nỉ len. Ngay khi chim sẻ vồ xuống lưng cừu, nó vỗ cánh để bay đi, nhưng chân nó vướng vào lông, và dù cố sức đến đâu, nó cũng không thể tự giải thoát. Trong khi tất cả việc này diễn ra, người chăn cừu đang nhìn, vì đã thấy điều xảy ra trước với đại bàng và sau đó với chim sẻ; vậy ông tức giận tiến đến chỗ con chim bé nhỏ và bắt nó. Rồi ông nhổ lông cánh của nó và, buộc chân nó bằng một sợi dây, mang nó về cho con mình và ném cho chúng. “Đây là gì?” một đứa hỏi; ông đáp: “Đây là kẻ bắt chước một kẻ lớn hơn mình và gặp tai họa.” “Nay ngươi, ôi cáo, cũng giống như vậy, và ta muốn ngươi coi chừng việc bắt chước kẻ lớn hơn mình, kẻo ngươi tiêu vong. Đây là tất cả những gì ta phải nói với ngươi; vậy hãy rời khỏi ta trong bình an!” Khi con cáo tuyệt vọng về tình bạn của con quạ, nó quay đi, rên rỉ vì buồn và nghiến răng vào nhau trong nỗi thất vọng; còn con quạ, nghe tiếng khóc và thấy nỗi sầu cùng nỗi u uất sâu xa của nó, nói với nó: “Ôi cáo, đau buồn và khổ não nào khiến ngươi nghiến nanh?” Cáo đáp: “Ta nghiến nanh vì thấy ngươi là tên đểu còn lớn hơn chính ta”; nói vậy, nó đi thẳng về nhà mình và không ngừng đi cho đến khi tới nơi ở. Sultan nói: “Ôi Shahrazad, những chuyện này của nàng thật tuyệt hảo và thật đáng thích biết bao! Nàng còn những chuyện giáo hóa như thế nữa chăng?” Nàng đáp:—Người ta kể truyền thuyết này về

THE BIRDS AND BEASTS AND THE CARPENTER[FN#130]#24

CON NHÍM VÀ ĐÔI BỒ CÂU RỪNG

Một con nhím thuở nọ chọn nơi ở bên cạnh một cây chà là, trên đó có một con bồ câu rừng cùng vợ nó đậu ngủ, chúng đã làm tổ ở đó và sống một đời an nhàn vui thú. Vậy nhím tự nhủ: “Đôi bồ câu này ăn trái cây chà là còn ta không có cách nào đến được nó; nhưng nhất định ta phải tìm một lối nào đó để lừa chúng.” Nói vậy, nó đào một cái hang dưới chân cây chà là và ở đó, nó cùng vợ nó; hơn nữa, nó xây một nơi cầu nguyện bên cạnh hang, vào đó ẩn tu và làm ra vẻ mộ đạo, giáo hóa, cùng từ bỏ thế gian. Con bồ câu trống thấy nó cầu nguyện và thờ phụng, trái tim mềm lại với nó vì sự sùng kính quá đỗi; nên bồ câu nói với nó: “Ngươi đã sống như thế này bao nhiêu năm rồi?” Nhím đáp: “Trong ba mươi năm qua.” “Thức ăn của ngươi là gì?” “Những gì rơi xuống từ cây chà là.” “Và y phục của ngươi là gì?” “Gai nhọn! và ta được lợi từ sự thô ráp của chúng.” “Và vì sao ngươi chọn nơi này thay vì nơi khác?” “Ta chọn nó và ưa nó hơn mọi nơi khác để ta có thể dẫn kẻ lầm đường vào chính đạo và dạy dỗ kẻ ngu dốt!” Bồ câu rừng nói: “Ta từng tưởng tình cảnh của ngươi khác thế này, nhưng nay ta khao khát điều ở nơi ngươi.” Nhím nói: “Ta sợ e việc làm của ngươi trái với lời ngươi nói và ngươi giống như người cày ruộng kia, khi mùa gieo hạt đến, đã lơ là không gieo, nói rằng: ‘Quả thật ta sợ ngày tháng không đưa ta đến điều ta mong, và nếu vội gieo thì ta chỉ làm hao phí của cải mình!’ Khi mùa gặt đến và hắn thấy người đời thu hoạch mùa màng, hắn hối hận vì điều đã mất bởi sự chậm trễ của mình và chết vì buồn bực cùng phẫn uất.” Bồ câu rừng hỏi: “Vậy ta phải làm gì để được giải thoát khỏi xiềng xích thế gian và tự cắt mình khỏi mọi sự, trừ việc phụng sự Đức Chúa của ta?” Nhím đáp: “Hãy chuyên tâm chuẩn bị cho đời sau và bằng lòng với chút ít lương thực.” Bồ câu nói: “Ta làm sao làm được điều này, ta vốn là chim và không thể đi xa khỏi cây chà là nơi có bánh ăn hằng ngày của mình? Và dù ta có thể làm vậy, ta cũng không biết nơi nào khác có thể cư ngụ.” Nhím nói: “Ngươi có thể rung cho rơi xuống từ trái cây chà là đủ cho ngươi và vợ ngươi làm lương thực một năm; rồi hai ngươi hãy đến ở trong một tổ dưới thân cây, để có thể cầu nguyện xin được dẫn theo chính đạo, sau đó quay sang số trái ngươi đã rung xuống, chuyển tất cả về nhà và tích trữ nó phòng khi chà là cạn; và khi trái đã hết mà thời chờ đợi kéo dài trên các ngươi, hãy chuyên tâm tuyệt thực.” Bồ câu kêu lên: “Cầu Allah báo đền ngươi bằng điều tốt vì ý định chính trực, nhờ đó ngươi đã nhắc ta về thế giới sắp tới và đã dẫn ta vào chính đạo!” Rồi nó cùng vợ làm việc chăm chỉ rung cho chà là rơi xuống, cho đến khi chẳng còn gì trên cây chà là, trong khi nhím, tìm thấy thứ để ăn, vui mừng và nhét đầy hang mình bằng trái ấy, tích trữ làm kế sinh nhai rồi tự nhủ: “Khi bồ câu và vợ nó cần lương thực của chúng, chúng sẽ tìm nó nơi ta và thèm muốn thứ ta có, dựa vào sự mộ đạo và tiết dục của ta; và, từ những gì chúng đã nghe về lời khuyên cùng lời răn của ta, chúng sẽ đến gần ta. Khi ấy ta sẽ biến chúng thành con mồi và ăn chúng; sau đó nơi này cùng tất cả những gì rơi xuống từ cây chà là sẽ đủ cho ta.” Lát sau, sau khi đã rung trái xuống, bồ câu và vợ nó từ ngọn cây bay xuống, thấy nhím đã chuyển tất cả chà là về chỗ riêng của mình, bèn nói với nó: “Hỡi nhím! ngươi là nhà thuyết giáo mộ đạo và nhiều lời khuyên tốt, chúng ta không tìm thấy dấu vết nào của chà là và không biết còn ăn gì khác.” Nhím đáp: “Có lẽ gió đã cuốn chúng đi; nhưng quay khỏi lương thực để hướng về Đấng Ban Lương thực là cốt tủy của cứu rỗi, và Đấng đã xẻ khóe miệng thì chưa từng để miệng không thức ăn.” Và nó không ngừng lợi dụng cơ hội ấy để giảng dạy chúng theo lối này, làm ra vẻ mộ đạo và lừa chúng bằng những lời đẹp cùng giả trá cho đến khi chúng tin nó, chấp nhận nó, bước vào hang nó và không nghi ngờ sự lừa lọc của nó. Bấy giờ nó nhảy ra cửa, nghiến răng; còn bồ câu rừng, thấy sự phản trắc của nó đã lộ ra, nói với nó: “Đêm nay có gì khác với đêm qua? Ngươi không biết rằng có một Đấng Phù Trợ cho kẻ bị áp bức sao? Hãy coi chừng mưu mẹo và phản trắc, kẻo tai họa xảy đến với ngươi như đã xảy đến với những kẻ lừa đảo âm mưu chống người thương nhân.” Nhím hỏi: “Chuyện ấy là gì?” Bồ câu đáp:—Ta đã nghe kể câu chuyện này về

Người Thương nhân và Hai Kẻ Lừa đảo

Trong một thành gọi là Sindah, thuở nọ có một thương nhân rất giàu, người sửa soạn những kiện hàng lạc đà chở và trang bị cho mình hàng hóa rồi lên đường cùng đoàn hàng đến một thành nọ, định bán chúng ở đó. Bấy giờ ông bị hai kẻ lừa đảo đi theo, chúng đã gom thành kiện những hàng hóa nào chúng kiếm được; và, nói với người thương nhân rằng chúng cũng là thương nhân, chúng đi cùng ông trên đường. Vậy khi dừng tại trạm nghỉ đầu tiên, chúng đồng ý chơi xấu ông và lấy tất cả những gì ông có; nhưng đồng thời, mỗi tên trong lòng lại mưu phản bẩn thỉu với tên kia, tự nhủ: “Nếu ta có thể lừa được bạn đồng hành của mình, thời vận sẽ tốt với ta và ta sẽ có tất cả hàng hóa này cho riêng mình.” Vậy sau khi hoạch định sự phản trắc này, một tên lấy thức ăn và bỏ độc vào đó, mang đến cho bạn hắn; tên kia cũng làm như vậy, và cả hai cùng ăn món có độc rồi cả hai chết. Bấy giờ chúng vốn đã ngồi cùng người thương nhân; vì thế khi chúng rời khỏi ông và vắng mặt lâu, ông tìm tin tức về chúng và thấy cả hai nằm chết; nhờ đó ông biết chúng là những kẻ lừa đảo đã mưu chơi xấu ông, nhưng trò xấu của chúng đã dội ngược lên chính chúng. Vì vậy người thương nhân được bảo toàn và lấy những gì chúng có. Rồi Sultan nói: “Ôi Shahrazad, quả thật nàng đã đánh thức ta về tất cả những điều ta từng lơ là! Vậy hãy tiếp tục giáo hóa ta bằng những ngụ ngôn này.” Nàng nói:—Tâu đức vua, chuyện đến tai thiếp rằng người đời kể câu chuyện này về

TÊN TRỘM VÀ CON KHỈ CỦA HẮN[FN#171]

Một người nọ có một con khỉ, và người ấy là một tên trộm, kẻ chưa từng bước vào bất cứ phố chợ nào của thành nơi hắn ở mà không chuồn đi với lợi lớn. Bấy giờ một ngày nọ xảy ra việc hắn thấy một người rao bán quần áo cũ, và người ấy đi gọi bán chúng trong chợ, nhưng không ai trả giá, và tất cả những ai ông cho xem đều từ chối mua. Lát sau tên trộm có con khỉ thấy người đàn ông với đống áo rách đặt chúng vào một gói và ngồi xuống nghỉ vì mệt; vậy hắn khiến con vượn diễn trò trước mặt ông để bắt mắt ông, và trong khi ông bận nhìn nó, hắn trộm gói đồ của ông. Rồi hắn đem con vượn đi và chuồn tới một nơi vắng, tại đó hắn mở gói ra và, lấy đống áo cũ, gói chúng trong một mảnh vải quý. Hắn mang món này đến một chợ khác và bày bán cùng với thứ bên trong, đặt điều kiện là không được mở ra, rồi dụ người ta bằng mức giá thấp hắn đặt cho nó. Một người nọ thấy gói đồ và thích vẻ đẹp của nó; vậy ông mua gói hàng theo điều kiện ấy và mang về nhà, không nghi ngờ rằng mình đã làm việc khôn ngoan. Khi vợ ông thấy nó, bà hỏi: “Đây là gì?” và ông đáp: “Đây là vải quý, ta đã mua với giá rất thấp, định bán lại và lấy lời.” Bà đáp: “Ôi kẻ bị lừa, liệu vải này có được bán dưới giá trị của nó, nếu không phải vì nó đã bị trộm sao? Chàng không biết rằng kẻ nào mua thứ gì mà không xem xét sẽ rơi vào lầm lỗi và trở nên giống như người thợ dệt sao?” Ông hỏi: “Và chuyện người thợ dệt là gì?”; nàng nói:—Ta đã nghe câu chuyện này về

Người Thợ Dệt Ngu Ngốc

Thuở nọ trong một làng kia có một người thợ dệt làm việc chăm chỉ nhưng không thể kiếm sống trừ bằng lao lực quá độ. Bấy giờ tình cờ một trong những người giàu có của vùng ấy mở tiệc cưới và mời dân chúng đến dự: người thợ dệt cũng có mặt và thấy các khách, những người mặc y phục giàu sang, được đãi những món ăn tinh tế và được chủ nhà trọng vọng vì ông thấy y phục đẹp của họ. Vậy hắn tự nhủ: “Nếu ta đổi nghề này của ta lấy một nghề khác dễ làm hơn, được xem trọng hơn và trả công cao hơn, ta sẽ tích được kho tiền lớn, sẽ mua trang phục lộng lẫy, nhờ đó ta có thể lên bậc và được tôn cao trong mắt người đời, trở nên ngang hàng với những người này.” Lát sau, hắn thấy một kẻ làm trò nhào lộn, có mặt trong bữa tiệc, leo lên đỉnh một bức tường cao vút và gieo mình xuống đất, đáp xuống bằng chân. Bấy giờ người thợ dệt tự nhủ: “Nhất định ta phải làm như kẻ này đã làm, vì chắc chắn ta sẽ không thất bại.” Vậy hắn đứng dậy, trèo lên tường và ném mình xuống, gãy cổ trên mặt đất và chết ngay tức khắc. “Giờ thiếp kể cho chàng chuyện này để chàng nên kiếm sống bằng cách chàng biết và hiểu thấu đáo, kẻo biết đâu lòng tham nhập vào chàng và chàng thèm muốn điều không thuộc tình cảnh của mình.” Chồng của người đàn bà nói: “Không phải người khôn nào cũng được cứu bởi sự khôn ngoan của mình, cũng chẳng phải kẻ ngu nào cũng bị mất bởi sự ngu dại của mình. Ta từng thấy chuyện xảy đến với một người dụ rắn khéo léo, thông thạo cách của loài rắn, bị nanh một con rắn[FN#172] cắn chết, còn những kẻ khác thắng được rắn dù không có tài gì với chúng và chẳng biết cách của chúng.” Và ông làm trái lời vợ, cứ khăng khăng mua hàng trộm dưới giá trị của chúng cho đến khi bị nghi ngờ và vì đó mà tiêu vong: cũng như con chim sẻ tiêu vong trong câu chuyện về

CON CHIM SẺ VÀ CON CÔNG

Thuở nọ có một con chim sẻ, mỗi ngày thường đến thăm một vị vua nọ của loài chim và không ngừng hầu hạ ngài vào buổi sáng, không rời ngài cho đến chiều, là kẻ đầu tiên vào và cuối cùng ra. Một ngày nọ, một đoàn chim tình cờ tụ họp trên một ngọn núi cao, và một con nói với con khác: “Quả thật, chúng ta đã trở nên đông đảo, giữa chúng ta có nhiều khác biệt, và không còn cách nào khác ngoài việc chúng ta phải có một vị vua để xem xét công việc của mình; như vậy tất cả chúng ta sẽ thành một và những khác biệt của chúng ta sẽ biến mất.” Bấy giờ con chim sẻ ấy tiến đến và khuyên chúng chọn con công làm vua (tức là vị vương tử mà nó thường đến thăm). Vậy chúng chọn con công làm vua của mình, và khi đã trở thành chủ quyền của chúng, công ban phát rộng rãi cho chúng và đặt chim sẻ làm thư ký cùng Tể tướng. Bấy giờ chim sẻ thỉnh thoảng thường rời việc phụng sự chuyên cần nơi hiện diện ấy để xem xét những việc chung. Vậy một ngày nọ, nó vắng mặt vào giờ thường lệ, khiến con công hết sức lo lắng; và trong khi sự việc đang như thế, nó trở về, con công nói với nó: “Điều gì đã làm ngươi chậm trễ, ngươi là kẻ gần ta nhất trong mọi tôi tớ và thân yêu nhất trong mọi thuộc hạ của ta?” chim sẻ đáp: “Ta đã thấy một việc khiến ta nghi ngờ và làm ta kinh sợ.” Công hỏi: “Ngươi đã thấy gì?”; chim sẻ đáp: “Ta thấy một người dựng một cái lưới, ngay gần tổ ta, đóng cọc của nó xuống, rải hạt ở giữa và rút ra xa. Ta ngồi xem hắn sẽ làm gì, thì kìa, định mệnh và vận số đưa đến đó một con sếu và vợ nó, chúng rơi vào giữa lưới và bắt đầu kêu lên; bấy giờ người bắt chim đứng dậy và bắt chúng. Điều này làm ta phiền não, và đó là nguyên do ta vắng mặt nơi ngài, tâu đức vua của Thời Đại; nhưng ta sẽ không bao giờ ở lại tổ ấy nữa vì sợ cái lưới.” Công đáp: “Đừng rời nơi ở của ngươi, vì trước định mệnh và phần số, sự lo xa chẳng ích gì cho ngươi.” Và chim sẻ vâng lệnh ngài, nói: “Ta sẽ lập tức tự trang bị cho mình bằng nhẫn nại và kiềm mình không rời đi, vâng theo nhà vua.” Vậy nó không ngừng giữ mình cẩn thận và mang thức ăn cho chủ quyền của mình, người sẽ ăn đủ phần mình rồi sau khi ăn thì uống nước và cho chim sẻ lui. Bấy giờ một ngày nọ khi nó đang xem xét sự việc, kìa! nó thấy hai con chim sẻ đánh nhau trên mặt đất và tự nhủ: “Làm sao ta, là Wazir của nhà vua, lại có thể nhìn thấy chim sẻ đánh nhau trong vùng lân cận của mình? Thề bởi Allah, ta phải hòa giải giữa chúng!” Vậy nó bay xuống để hòa giải chúng; nhưng người bắt chim quăng lưới lên toàn bộ bầy, và chim sẻ tình cờ ở ngay giữa chúng. Rồi người bắt chim đứng dậy bắt nó và trao nó cho bạn mình, nói: “Hãy coi chừng nó, ta chưa từng thấy con nào béo hơn hay đẹp hơn.” Nhưng chim sẻ tự nhủ: “Ta đã rơi vào chính điều ta sợ, và chẳng ai ngoài con công đã truyền cho ta niềm tin giả. Việc ta coi chừng đòn đánh của định mệnh và vận số chẳng ích gì cho ta, vì ngay cả kẻ phòng ngừa cũng chẳng bao giờ chạy khỏi số mệnh. Và thi nhân nói hay biết bao trong thơ này,

“Điều gì không phải thành thì chẳng bao giờ thành; *
Không cách nào! còn điều phải thành thì phải xảy đến;
Phải, nó sẽ xảy đến vào thời điểm đã định, *
Còn Kẻ Ngu Dốt[FN#173] mãi sẽ kêu Than ôi!”

Bấy giờ nhà vua nói: “Ôi Shahrazad, hãy kể cho ta những chuyện khác trong các chuyện này!”; nàng nói: “Thiếp sẽ làm vậy trong đêm tới, nếu được vị vua mà Allah đưa đến vinh dự ban cho sự sống!”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi ba,

Nàng nói:—Thiếp sẽ kể

TRUYỆN ALI BIN BAKKAR VÀ SHAMS AL-NAHAR.

Tâu đức vua uy nghi, chuyện đến tai thiếp rằng vào những ngày xưa và trong những thời cùng đời đã qua từ lâu, dưới thời Khalif của Harun al-Rashid, có một thương nhân đặt tên con trai mình là Abú al-Hasan[FN#174] Ali bin Táhir; người ấy có của cải và ân sủng lớn, trong khi con trai ông đẹp về dáng và mặt, được mọi người yêu chuộng. Chàng thường vào cung điện hoàng gia mà không cần xin phép, vì mọi tần phi và nữ nô của Khalif đều yêu chàng, và chàng thường là bạn rượu với Al-Rashid, ngâm thơ cho ngài, kể cho ngài những chuyện lạ và dí dỏm. Đồng thời chàng bán mua trong chợ thương nhân, và trong cửa hàng của chàng thường có một thanh niên tên là Ali bin Bakkár, thuộc dòng dõi các vua Ba Tư[FN#175], người đẹp về hình dung, cân xứng về vóc dáng và hoàn hảo về thân thể, với đôi má đỏ như hoa hồng và đôi lông mày nối liền; lời nói ngọt ngào, môi cười và ưa vui thú cùng hoan lạc. Bấy giờ một ngày nọ, khi hai người ngồi trò chuyện và cười đùa, kìa, có mười thiếu nữ như trăng đi đến, mỗi người đều trọn vẹn trong sắc đẹp, nét đáng yêu, vẻ thanh nhã và duyên dáng; giữa họ có một thiếu nữ cưỡi con la cái với yên gấm và bàn đạp vàng. Nàng mặc một tấm màn ngoài bằng vải mịn, và eo nàng thắt một dải lụa thêu vàng; nàng đúng như thi nhân nói,

“Mịn như lụa là da nàng, và lụa thắt quanh eo; *
Giọng ngọt ngào; lời không quá nhiều cũng chẳng quá ít:
Hai mắt, Allah phán ‘Hãy thành,’ và chúng thành; *
Rồi tác động như rượu lên những trái tim chúng khiến hối tiếc:
Ôi tình yêu ta cảm! hãy lớn hơn mỗi đêm: *
Ôi niềm an ủi! Ngày Phán Xét hãy đem cuộc gặp của chúng ta.”

Và khi đoàn tùy tùng đến cửa hàng của Abu al-Hasan, nàng xuống khỏi con la, ngồi xuống tấm ván phía trước,[FN#176] chào chàng, và chàng đáp lại lời salam của nàng. Khi Ali bin Bakkar thấy nàng, nàng cướp lấy trí hiểu của chàng và chàng đứng dậy định ra đi; nhưng nàng nói với chàng: “Hãy ngồi yên chỗ của chàng. Chúng tôi đến với chàng mà chàng lại bỏ đi: việc này không đẹp!” Chàng đáp: “Ôi phu nhân của tôi, thề bởi Allah, tôi chạy trốn khỏi điều tôi thấy; vì lưỡi của tình cảnh nói rằng,

‘Nàng là mặt trời vươn cao trên bầu trời; *
Vậy hãy làm tim ngươi dịu bằng phương thuốc Nhẫn Nại ban:
Ngươi sẽ không bay tới được chiều cao trời xanh của nàng; *
Nàng cũng chẳng thể từ chiều cao trời xanh hạ xuống.’”

Khi nàng nghe vậy, nàng mỉm cười và hỏi Abu al-Hasan: “Tên của chàng thanh niên này là gì?”; chàng đáp: “Chàng là người lạ”; nàng hỏi: “Chàng là người xứ nào?”; người thương nhân đáp: “Chàng là hậu duệ của các vua Ba Tư; tên chàng là Ali con trai của Bakkar, và người lạ xứng đáng được tôn trọng.” Nàng nói: “Khi thị nữ của ta đến với chàng, chàng hãy lập tức đến với chúng tôi và mang chàng ấy theo, để chúng tôi khoản đãi chàng trong nơi ở của chúng tôi, kẻo chàng trách chúng tôi và nói: ‘Người Baghdad không có lòng hiếu khách’; vì keo kiệt là lỗi xấu nhất một người có thể có. Chàng nghe điều ta nói với chàng, và nếu chàng trái lời ta, chàng sẽ chuốc lấy sự phật ý của ta và ta sẽ không bao giờ trở lại thăm chàng hay chào chàng nữa.” Abu al-Hasan nói: “Trên đầu và mắt tôi: cầu Allah gìn giữ tôi khỏi sự phật ý của nàng, hỡi phu nhân xinh đẹp!” Rồi nàng đứng dậy và đi đường mình. Tình cảnh của nàng là như thế; còn về Ali bin Bakkar, chàng vẫn ở trong trạng thái bàng hoàng. Bấy giờ sau một giờ, thị nữ đến với Abu al-Hasan và nói với chàng: “Quả thật phu nhân của tôi, Shams al-Nahár, sủng phi của Chủ nhân các tín đồ, Harun al-Rashid, truyền gọi chàng đến với nàng, chàng và bạn chàng, chúa công Ali bin Bakkar của tôi.” Vậy chàng đứng dậy, đem Ali đi cùng, theo cô gái đến cung điện của Khalif, nơi nàng đưa họ vào một phòng và cho họ ngồi xuống. Họ trò chuyện cùng nhau một lúc, thì kìa, các mâm thức ăn được đặt trước mặt họ, và họ ăn rồi rửa tay. Sau đó nàng đem rượu cho họ, họ uống sâu và vui vẻ; rồi nàng bảo họ đứng dậy và đưa họ vào một phòng khác, vòm nâng trên bốn cột, được trang bị theo lối đẹp đẽ nhất bằng đủ loại đồ đạc, và được trang hoàng như một trong các đình của Thiên Đường. Họ kinh ngạc trước những vật quý hiếm mình thấy; và khi họ đang thưởng lãm những kỳ quan ấy, bất chợt mười nữ nô, như những vầng trăng, lượn lờ nghiêng ngả trong niềm kiêu hãnh của sắc đẹp, làm chói mắt và khiến hồn phách bối rối; họ xếp thành hai hàng như thể là những Tân nương mắt đen của Thiên Đường. Và sau một lúc, mười thiếu nữ khác bước vào, trong tay cầm đàn lute và nhiều nhạc cụ vui chơi cùng âm nhạc khác nhau; và những người này, sau khi chào hai vị khách, ngồi xuống và bắt đầu lên dây đàn. Rồi họ đứng dậy và, đứng trước hai người, đàn hát và ngâm thơ: quả thật mỗi người trong họ là một sự quyến rũ đối với các tôi tớ của Đức Chúa. Trong khi họ đang bận rộn như vậy, mười thiếu nữ khác giống họ bước vào, những thiếu nữ ngực cao và cùng một tuổi, mắt đen, má như hoa hồng, lông mày liền và ánh nhìn lơi lả; là một sự mê hoặc thực sự với mọi tín đồ và là niềm khoái lạc với tất cả những ai nhìn họ; mặc đủ loại lụa màu, với đồ trang sức khiến trí hiểu của con người kinh ngạc. Họ đứng ở cửa, và sau họ lại đến mười thiếu nữ khác còn đẹp hơn họ, mặc trang phục lộng lẫy đến mức không lưỡi nào nói hết; họ cũng đứng bên lối cửa. Rồi một đoàn hai mươi thiếu nữ bước vào, và giữa họ là vị phu nhân mang tên Shams al-Nahar, như mặt trăng giữa các vì sao, lượn lờ từ bên này sang bên kia, với dáng đi quyến rũ và niềm kiêu hãnh của sắc đẹp. Và nàng được che đến giữa thân bằng sự dày dặn xa hoa của mái tóc, mặc một áo choàng xanh thiên thanh và một khăn choàng lụa thêu vàng cùng những viên ngọc quý; eo nàng thắt một đai nạm đủ loại đá quý. Nàng không ngừng tiến lên với dáng lượn lờ duyên dáng và tình tứ, cho đến khi nàng đến chiếc trường kỷ đặt ở đầu trên của phòng và ngồi xuống trên đó. Nhưng khi Ali bin Bakkar thấy nàng, chàng ngâm những vần thơ này,

TALE OF ALI BIN BAKKAR AND OF SHAMS AL-NAHAR.#25

“Nguồn mọi tai ương của ta, quả thật, chỉ mình nàng, *
Của nỗi yêu-khát khao dài lâu và tiếng rên cùng lời than của ta;
Gần nàng, ta thấy linh hồn mình trong cơn tan chảy, *
Vì yêu nàng và vì xương ta hao mòn.”

Và khi dứt lời thơ, chàng nói với Abu al-Hasan: “Nếu chàng đối xử tử tế hơn với ta, hẳn chàng đã báo trước cho ta những điều này trước khi ta đến đây, để ta có thể định lòng và lấy nhẫn nại nâng đỡ điều đã xảy đến với mình.” Rồi chàng khóc, rên rỉ và than phiền. Abu al-Hasan đáp: “Ôi huynh đệ của ta, ta chẳng hề muốn gì cho chàng ngoài điều tốt; nhưng ta sợ nói với chàng việc này, e một cơn xuất thần như thế xảy đến với chàng đến mức ngăn chàng gặp nàng, và thành vật vấp giữa chàng và nàng. Nhưng hãy vui lòng và giữ mắt mát lành, trong sáng;[FN#177] vì nàng nghiêng về chàng và định ban ân cho chàng.” Ali bin Bakkar hỏi: “Tên của thiếu nữ này là gì?” Abu al-Hasan đáp: “Nàng được gọi là Shams al-Nahar, một trong những sủng phi của Chủ nhân các tín đồ, Harun al-Rashid, và đây là cung điện của Khalif.” Rồi Shams al-Nahar ngồi ngắm vẻ quyến rũ của Ali bin Bakkar, còn chàng ngắm vẻ quyến rũ của nàng, cho đến khi cả hai chìm đắm trong tình yêu dành cho nhau. Lát sau nàng truyền cho tất cả các thiếu nữ ngồi xuống, mỗi người theo hàng và chỗ của mình, và tất cả ngồi trên một trường kỷ trước một trong các cửa sổ; nàng bảo họ hát; bấy giờ một người trong họ cầm đàn lute lên và bắt đầu ca,

“Hãy đưa lời ta hai lần * Mang đáp lời rõ về tức thì!
Với chàng, ôi Vương tử của Sắc * -đẹp[FN#178] ta dâng lời than:
Chúa công của ta, quý như máu tim * Và báu vật quý nhất của Đời!
Hãy ban ta một nụ hôn làm quà * Hoặc cho mượn, nếu chàng tính vậy:
Và nếu chàng thèm nhiều hơn * Hãy lấy tất cả những gì làm chàng thỏa.[FN#179]
Chàng khoác cho ta áo bệnh * Ta chúc chàng bằng y phục
sức khỏe.”

Tiếng hát của nàng làm Ali bin Bakkar say mê, và chàng nói với nàng: “Hãy hát cho ta thêm những vần như thế.” Vậy nàng gảy dây và bắt đầu xướng những dòng này,

“Bởi sức nặng của chia lìa, ôi người yêu dấu, *
Chàng khiến mi mắt này chạy cuộc đọa đày:
Ôi niềm vui của mắt ta và khát vọng thân yêu, *
Đích của ước mong ta, tôn giáo của ta!
Hãy thương chàng trai có đôi mắt chìm trong lệ *
Của kẻ yêu đã hóa cuồng và sạch sành sanh tiêu tán.”

Khi nàng dứt những vần thơ, Shams al-Nahar nói với một thiếu nữ khác: “Hãy cho chúng ta nghe điều gì từ nàng!” Vậy nàng gảy một khúc sống động và bắt đầu những câu thơ đôi này,

“Ánh nhìn chàng làm ta say, không phải rượu chàng; *
Duyên dáng bước đi của chàng làm giấc ngủ hổ thẹn trước mắt này:
Chẳng chén nào làm ta mê, mà là đầu tóc quăn trên đỉnh; *
Quà tặng của chàng thắng ta, không phải quà tặng của dây nho:
Những lọn tóc uốn của chàng tháo sợi kiên nhẫn của ta: *
Vẻ đẹp khoác áo của chàng cướp sạch mọi trí khôn của ta.”

Khi Shams Al-Nahar nghe lời ngâm này từ thiếu nữ, nàng thở dài nặng nề và bài ca làm nàng thích thú. Rồi nàng bảo một thiếu nữ khác hát; vậy nàng ấy cầm đàn lute và bắt đầu xướng,

“Gương mặt ganh với Sol thắp đèn trên trời; *
Suối nguồn tươi đẹp của tuổi xuân bắt đầu dâng;
Râu mai quăn của chàng viết văn thư tình ái, *
Và trong mỗi lọn quăn giấu những huyền nhiệm:
Sắc Đẹp kêu: ‘Khi ta gặp chàng trai này, ta biết *
Chính khung cửi của Allah dệt nên áo lộng lẫy ấy.’”

Khi nàng dứt bài hát, Ali bin Bakkar nói với nữ nô gần mình nhất: “Hãy hát cho chúng ta chút gì, hỡi thiếu nữ.” Vậy nàng cầm đàn lute và bắt đầu hát,

“Giờ hẹn của chúng ta quá ngắn *
Cho trò làm duyên e lệ dài lâu này:
Đến bao lâu còn ‘Không, không!’ và ‘Đợi, đợi?’ *
Đây không phải quý phái xưa!
Và nay Thời Gian hạ cố cho mượn khoái lạc *
Hãy lợi dụng cơ hội.”

Khi nàng dứt, Ali bin Bakkar theo sau bài hát nàng bằng dòng lệ chảy; và khi Shams al-Nahar thấy chàng khóc, rên rỉ và than thở, nàng bốc cháy vì khát khao tình ái và ham muốn; đam mê và cơn xuất thần thiêu đốt nàng. Vậy nàng đứng dậy khỏi sofa và đi đến cửa hốc phòng, nơi Ali gặp nàng; họ ôm nhau, tay vòng quanh cổ, rồi ngã xuống ngất lịm ngay ngưỡng cửa; bấy giờ các thiếu nữ đến bên họ, đưa họ vào hốc phòng và rảy nước hoa hồng lên cả hai. Khi họ hồi tỉnh, họ không thấy Abu al-Hasan, người đã ẩn mình bên cạnh một trường kỷ, và thiếu nữ nói: “Abu al-Hasan đâu?” Vậy chàng hiện ra trước nàng từ bên cạnh trường kỷ, và nàng chào chàng, nói: “Ta cầu Allah ban cho ta phương tiện đền đáp chàng, hỡi người tử tế nhất trong nam nhân!” Rồi nàng quay sang Ali bin Bakkar và nói với chàng: “Ôi chúa công của thiếp, đam mê đã không đến mức tột cùng này với chàng mà thiếp lại không cảm thấy điều tương tự; nhưng chúng ta chẳng còn gì làm ngoài kiên nhẫn chịu đựng tai họa đã giáng xuống chúng ta.” Chàng đáp: “Thề bởi Allah, ôi phu nhân của ta, sự đoàn tụ với nàng không thể làm ta thỏa, cũng không phải việc ngắm nàng có thể làm dịu ngọn lửa nàng đã thắp, và tình yêu dành cho nàng đã làm chủ trái tim ta sẽ chẳng rời ta trừ khi đời ta rời khỏi ta.” Nói vậy, chàng khóc, và nước mắt chảy xuống má như những hạt châu xâu thành chuỗi; khi Shams al-Nahar thấy chàng khóc, nàng khóc vì chàng khóc. Nhưng Abu al-Hasan kêu lên: “Thề bởi Allah, ta kinh ngạc trước tình cảnh của hai người và bối rối trước trạng thái của hai người; quả thật, việc của hai người lạ lùng và cơ hội của hai người khiến người ta choáng váng. Sao! khóc lóc khi hai người vẫn còn ở cùng nhau: vậy sẽ ra sao khi hai người chia tay và cách xa nhau?” Rồi chàng tiếp: “Quả thật đây không phải thủy triều của khóc và than, mà là mùa của gặp gỡ và vui chơi; vậy hãy vui mừng, hãy lấy khoái lạc của hai người và đừng đổ lệ nữa!” Rồi Shams al-Nahar ra dấu cho một nữ nô, nàng ấy đứng dậy và lát sau trở lại cùng các hầu gái mang một chiếc bàn, trên đó các đĩa bạc đầy đủ món ngon giàu có. Họ đặt bàn trước đôi ấy và Shams al-Nahar bắt đầu ăn[FN#181] và đặt từng miếng ngon vào miệng Ali bin Bakkar; họ không ngừng làm như vậy cho đến khi thỏa, khi ấy bàn được dọn đi và họ rửa tay. Rồi các nữ hầu mang lư hương với đủ loại hương liệu, trầm lô hội và long diên hương cùng các hương pha trộn; những bình rảy đầy nước hoa hồng cũng được đem tới, và họ được xông hương cùng ướp thơm. Sau đó các nô lệ đặt ra những bình vàng chạm khắc, chứa đủ loại sherbet, ngoài ra còn có trái cây tươi và khô, những gì trái tim có thể thèm và mắt vui thích; cuối cùng một người mang đến một bình carnelion đầy rượu cũ. Rồi Shams al-Nahar chọn ra mười hầu gái phục vụ họ và mười nữ ca công; nàng cho những người còn lại lui về phòng của họ, rồi truyền một vài người trong số còn lại gảy đàn lute. Họ làm như nàng truyền, và một người bắt đầu hát,

“Linh hồn ta thuộc về chàng, người mỉm cười đáp lời chào của ta, *
Trong ngực làm sống lại những hy vọng đã không còn:
Bàn tay Tình Yêu đưa bí mật ta ra ánh sáng, *
Và lưỡi người kiểm duyệt tố điều nằm dưới sườn ta:[FN#182]
Những giọt lệ của ta mãi chen giữa ta và chàng, *
Như thể giọt lệ ta muốn chảy ra để tỏ tình yêu.”

Khi nàng hát xong, Shams al-Nahar đứng dậy và, rót đầy một ly, uống cạn, rồi lại đội vương miện cho nó và trao cho Ali bin Bakkar;—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi tư,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Shams al-Nahar rót đầy một ly và trao cho Ali bin Bakkar; sau đó nàng bảo một thiếu nữ khác hát; và nàng ấy bắt đầu hát những câu thơ đôi này,

“Dòng lệ của ta tuôn chảy ganh đua với rượu ta, *
Đổ ra thứ giống như điều đầy đến miệng chén:[FN#183]
Thề bởi Allah, ta chẳng biết đôi mắt này chảy *
Vì rượu, hay là ta uống bằng lệ.”

Và khi nàng dứt lời ngâm, Ali bin Bakkar uống cạn chén của mình và trả lại cho Shams al-Nahar. Nàng rót đầy lần nữa và đưa cho Abu al-Hasan, chàng nốc cạn. Rồi nàng cầm đàn lute, nói: “Không ai sẽ hát trên chén của ta ngoài chính ta”; vậy nàng siết dây đàn và cất giọng những vần thơ này,

“Nước mắt chảy xuống má chàng thành hai hàng, *
Và trong ngực chàng bốc cao ngọn lửa tình nhân:
Chàng khóc khi gần, vì sợ phải xa; *
Và, dù xa hay gần, giọt lệ chàng vẫn chảy.”

Và lời của một người khác,

“Đời chúng ta dâng cho chàng, ôi chàng rót chén đẹp trang điểm! *
Từ tóc rẽ đến bắp chân; từ đen đến trắng:
Sol chiếu từ tay chàng, và từ môi chàng *
Pleiads, và trăng tròn qua đêm cổ áo chàng,[FN#184]
Quả thật những chén làm đầu chúng ta quay cuồng, *
Chính là đôi mắt chàng chuyền quanh làm mắt nhìn choáng váng:
Không lạ khi tình nhân chào chàng như trăng tròn *
Với họ đang khuyết, còn tự mình mãi sáng thêm:
Chàng là thần linh để giết và làm sống lại sao, *
Truyền lệnh bạn này, cấm đoán người kia?
Allah từ mẫu hình của thân dáng chàng tạo nên Sắc *
-đẹp, và gió Zephyr thơm bởi hồn chàng.
Chàng không thuộc trật tự nhân *
-loại này, mà là thiên thần Trời cho người mượn.”

Khi Ali bin Bakkar, Abu al-Hasan và những người có mặt nghe bài hát của Shams al-Nahar, họ như sắp bay lên vì vui, chơi đùa và cười; nhưng trong khi họ đang hưởng thú như vậy thì kìa! một thiếu nữ đi vào, run rẩy vì sợ, nói: “Ôi phu nhân của thiếp, các hoạn quan của Chủ nhân các tín đồ đang ở cửa, Afíf, Masrúr, Marján[FN#185] và những người khác thiếp không biết.” Khi nghe vậy, họ như sắp chết vì kinh hãi, nhưng Shams al-Nahar cười và nói: “Đừng sợ!” Rồi nàng nói với thiếu nữ: “Hãy cứ đáp lời họ trong khi chúng ta rời khỏi đây.” Và nàng cho đóng các cửa của hốc phòng lại trên Ali và Abu al-Hasan, thả màn che xuống trên lối vào (hai người vẫn ở bên trong); sau đó nàng đóng cửa đại sảnh và đi ra qua cửa nhỏ riêng vào vườn hoa, nơi nàng ngồi xuống trên một trường kỷ nàng có ở đó, rồi cho một trong các thiếu nữ bóp chân nàng.[FN#186] Sau đó nàng cho những nữ nhân còn lại lui về phòng họ và bảo nữ giữ cửa cho những người đang ở cửa vào; bấy giờ Masrur bước vào, hắn cùng đoàn hai mươi người với gươm tuốt trần. Và khi họ chào nàng, nàng hỏi: “Các ngươi đến vì sao?”; họ đáp: “Chủ nhân các tín đồ gửi lời chào đến nàng. Quả thật ngài hoang vắng vì thiếu mặt nàng; ngài cho nàng biết rằng đây với ngài là một ngày vui và niềm hân hoan lớn, ngài muốn niêm ngày của mình và hoàn tất khoái lạc của mình bằng bầu bạn với nàng ngay giờ này. Vậy hãy nói, nàng sẽ đến với ngài hay ngài sẽ đến với nàng?” Nghe vậy nàng đứng dậy và, hôn đất, đáp: “Thiếp nghe và tuân mệnh của Vương tử các Chân tín đồ!” Rồi nàng triệu các nữ hộ vệ của gia hộ mình và các nữ nô khác, những người không mất thời gian trong việc hầu hạ nàng và làm ra vẻ tuân lệnh Khalif. Và mặc dù mọi thứ quanh nơi ấy đều đã sẵn sàng, nàng nói với các hoạn quan: “Hãy đến với Chủ nhân các tín đồ và nói với ngài rằng ta đợi ngài sau một lát, để ta có thể sửa soạn cho ngài một nơi với thảm và các thứ khác.” Vậy họ vội trở về với Khalif, trong khi Shams al-Nahar cởi y phục ngoài, tìm đến người yêu của mình, Ali bin Bakkar, kéo chàng vào ngực nàng và từ biệt chàng, khiến chàng khóc dữ dội và nói: “Ôi phu nhân của ta, cuộc từ biệt này sẽ gây ra sự hủy hoại của chính bản thân ta và sự mất mát của chính linh hồn ta; nhưng ta cầu Allah ban cho ta nhẫn nại để chịu đựng đam mê mà Ngài đã dùng nó giáng họa lên ta!” Nàng đáp: “Thề bởi Allah, chẳng ai sẽ chịu diệt vong ngoài thiếp; vì chàng sẽ đi ra chợ và giao du với những kẻ làm chàng khuây khỏa, đời chàng sẽ bình yên và tình yêu của chàng chắc chắn sẽ ẩn kín; nhưng thiếp sẽ rơi vào phiền não và tristesse, không tìm thấy ai an ủi mình, hơn nữa vì thiếp đã hẹn Khalif, trong đó biết đâu hiểm nguy lớn sẽ xảy đến với thiếp bởi tình yêu dành cho chàng, nỗi khát khao chàng và nỗi buồn vì bị chia lìa khỏi chàng. Vì bằng lưỡi nào thiếp sẽ hát và bằng trái tim nào thiếp sẽ hiện diện trước Khalif? bằng lời nào thiếp sẽ bầu bạn cùng Chủ nhân các tín đồ bên chén rượu của ngài? bằng đôi mắt nào thiếp sẽ nhìn vào một nơi chàng vắng mặt? và bằng vị giác nào thiếp sẽ uống thứ rượu mà chàng không uống?” Abu al-Hasan nói: “Đừng phiền não mà hãy nhẫn nại, và đêm nay đừng lơ là trong việc khoản đãi Chủ nhân các tín đồ, cũng đừng tỏ chút sao nhãng nào với ngài, mà hãy vững lòng.” Bấy giờ đúng lúc này, kìa, một thiếu nữ đến, nói với Shams al-Nahar: “Ôi phu nhân của thiếp, các tiểu đồng của Khalif đã đến.” Vậy nàng vội đứng dậy và nói với thị nữ: “Hãy đưa Abu al-Hasan và bạn chàng, mang họ lên ban công trên[FN#187] trông xuống khu vườn, và để họ ở đó cho đến khi bóng tối buông xuống; khi ấy hãy bày cách đưa họ ra ngoài.” Theo đó cô gái dẫn họ lên ban công và, khóa cửa nhốt cả hai rồi đi đường mình. Khi họ ngồi nhìn xuống khu vườn, kìa! Khalif xuất hiện, được gần một trăm hoạn quan hộ tống, gươm tuốt trần trong tay, và quanh ngài là chừng hai mươi thiếu nữ như trăng, tất cả mặc y phục giàu sang nhất, trên đầu mỗi người là một vương miện nạm châu báu và hồng ngọc; trong khi mỗi người cầm một ngọn đuốc đang cháy. Khalif đi giữa họ, họ vây quanh ngài mọi phía, và Masrur, Afíf cùng Wasíf[FN#188] đi trước ngài, còn ngài mang mình với dáng đi duyên dáng. Vậy Shams al-Nahar và các thiếu nữ của nàng đứng dậy đón ngài và, gặp ngài ở cửa vườn, hôn đất giữa hai tay ngài; họ không ngừng đi trước ngài cho đến khi đưa ngài đến chiếc trường kỷ nơi ngài ngồi xuống, trong khi tất cả các nữ hầu trong vườn và các hoạn quan đứng trước ngài, và có những nữ tỳ cùng tần phi xinh đẹp đến, tay cầm nến cháy, hương liệu, trầm hương và nhạc cụ vui chơi cùng âm nhạc. Rồi Đấng Chủ Quyền truyền các nữ ca công ngồi xuống, mỗi người vào chỗ của mình, và Shams al-Nahar tiến đến, ngồi trên một ghế đẩu bên cạnh trường kỷ của Khalif, bắt đầu trò chuyện với ngài; tất cả việc này xảy ra trong khi Abu al-Hasan và Ali bin Bakkar nhìn và nghe, không bị nhà vua trông thấy. Lát sau Khalif bắt đầu đùa và âu yếm với Shams al-Nahar, cả hai đều hết sức vui vẻ, hân hoan và tươi tắn, khi ngài truyền mở rộng đình trong vườn. Vậy họ mở cửa và cửa sổ, thắp đèn cho đến khi nơi ấy tỏa sáng trong mùa tối như ban ngày. Rồi các hoạn quan chuyển đồ uống rượu đến đó và (Abu al-Hasan nói) “Ta thấy những bình chén uống và vật quý hiếm mà mắt ta chưa từng thấy thứ giống như vậy, bình vàng và bạc cùng đủ loại kim loại quý và đá quý, đến mức không quyền năng miêu tả nào có thể miêu tả, cho đến quả thật ta tưởng mình đang mơ, vì quá kinh ngạc trước điều ta thấy!” Nhưng còn Ali bin Bakkar, từ khoảnh khắc Shams al-Nahar rời khỏi chàng, chàng nằm rải trên đất vì sức nặng của tình yêu và ham muốn; và khi tỉnh lại, chàng bắt đầu nhìn những thứ không có thứ gì giống như chúng ấy và nói với Abu al-Hasan: “Ôi huynh đệ của ta, ta sợ e Khalif nhìn thấy chúng ta hoặc biết được tình cảnh của chúng ta; nhưng phần lớn nỗi sợ của ta là cho chàng. Còn bản thân ta, quả thật ta biết mình sắp mất không còn lối cứu, và nguyên nhân hủy diệt của ta chẳng gì ngoài tình yêu và khát khao, ham muốn cùng rối loạn quá độ, và sự chia lìa khỏi người yêu sau khi đã đoàn tụ với nàng; nhưng ta cầu Allah cứu chúng ta khỏi cảnh hiểm nghèo này.” Và họ không ngừng nhìn từ ban công xuống Khalif đang hưởng thú, cho đến khi tiệc được dọn trước mặt ngài; bấy giờ ngài quay sang một trong các thiếu nữ và nói với nàng: “Ôi Gharám,[FN#189] hãy cho chúng ta nghe vài bài hát mê hoặc của nàng.” Vậy nàng cầm đàn lute, lên dây, rồi bắt đầu hát,

“Nỗi khát khao của một thiếu nữ Bedouin, người thân ở xa, *
Kẻ mong nhớ cây liễu của Hejaz và cây
nguyệt quế,[FN#190]—
Mà nước mắt nàng, khi nàng gặp khách lữ hành, có thể làm nước
cho họ * Và đam mê của nàng, với sức nóng của nó, cũng có thể cấp
lửa trại cho họ,—
Chẳng dữ dội hay nồng cháy hơn nỗi khát khao của ta dành cho tình yêu của ta, *
Người cho rằng ta phạm tội khi yêu chàng
mãi mãi.”[FN#191]

Bấy giờ khi Shams al-Nahar nghe những vần thơ này, nàng trượt khỏi chiếc ghế đẩu mình đang ngồi và ngã xuống đất ngất lịm, trở nên vô thức với thế gian quanh mình; bấy giờ các thiếu nữ đến và nâng nàng dậy. Và khi Ali bin Bakkar thấy vậy từ ban công, chàng cũng trượt xuống bất tỉnh, và Abu al-Hasan nói: “Quả thật Định Mệnh đã chia khát vọng tình yêu đều cho hai người!”[FN#192] Khi chàng nói thì kìa! thiếu nữ đã dẫn họ lên ban công bước vào và nói với chàng: “Ôi Abu al-Hasan, chàng và bạn chàng hãy đứng dậy và xuống đây, vì quả thật thế gian đã trở nên chật hẹp trên chúng ta và thiếp sợ e tình cảnh chúng ta bị phát giác hoặc Khalif biết đến các chàng; trừ phi các chàng xuống ngay, chúng ta là những người chết.” Chàng nói: “Và chàng trai này sẽ xuống cùng ta bằng cách nào, khi chàng chẳng có sức đứng dậy?” Bấy giờ thiếu nữ bắt đầu rảy nước hoa hồng lên Ali bin Bakkar cho đến khi chàng tỉnh lại, khi ấy Abu al-Hasan nâng chàng dậy và thiếu nữ khiến chàng dựa vào nàng. Vậy họ xuống khỏi ban công và đi một lúc cho đến khi thiếu nữ mở một cánh cửa sắt nhỏ, đưa hai người bạn đi qua đó, và họ ra đến một băng ghế bên bờ Tigris. Bấy giờ nữ nô vỗ tay[FN#193] và có một người đàn ông với chiếc thuyền nhỏ đến, nàng nói với hắn: “Hãy đưa hai chàng trai này lên thuyền và chở họ sang bờ đối diện.” Vậy cả hai bước vào thuyền, và khi người ấy chèo đi cùng họ, họ để khu vườn lại phía sau; Ali bin Bakkar ngoái nhìn cung điện của Khalif, đình và khu vườn; rồi từ biệt chúng bằng hai câu thơ này,

“Ta đưa bàn tay yếu này làm lời từ biệt cuối, *
Trong khi bàn tay ấy được dẫn đến lửa thiêu tim:
Ôi đừng để đây là đoạn cuối đoàn viên! Đừng để đây *
Là lương cuối cùng chuẩn bị cho con đường dài!”

Bấy giờ thiếu nữ nói với người chèo thuyền: “Hãy mau chóng với cả hai người.” Vậy hắn khéo léo dùng mái chèo (nữ nô vẫn còn ở cùng họ);—Và Shahrazad nhận ra ngày đang rạng, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi lăm,

TALE OF ALI BIN BAKKAR AND OF SHAMS AL-NAHAR.#26

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người chèo thuyền chèo họ sang bờ bên kia cho đến khi họ tới nơi và lên bờ, bấy giờ nàng từ biệt họ, nói: “Thiếp mong không phải bỏ các chàng, nhưng thiếp không thể đi xa hơn đây.” Rồi nàng quay trở lại, trong khi Ali bin Bakkar nằm phủ phục trên đất trước mặt Abu al-Hasan và không cách nào đứng dậy được, cho đến khi bạn chàng nói với chàng: “Quả thật nơi này không an toàn, và ta sợ e chúng ta mất mạng ngay tại chỗ này, bởi bọn phóng đãng thường lui tới đây, bọn cướp đường và những kẻ vô pháp.” Nghe vậy Ali bin Bakkar đứng dậy và đi được một chút nhưng không thể tiếp tục bước. Bấy giờ Abu al-Hasan có bạn bè trong khu ấy; vậy chàng tìm một người trong số họ, người chàng tin cậy và thuộc hàng thân thiết của chàng, rồi gõ cửa. Người ấy nhanh chóng đi ra và, thấy họ, bèn đón chào và đưa họ vào nhà, nơi ông cho họ ngồi xuống, trò chuyện với họ và hỏi họ từ đâu đến. Abu al-Hasan nói: “Chúng tôi vừa mới ra ngoài, vì bị một người mà tôi có giao dịch bắt buộc, kẻ đang giữ trong tay các dirham của tôi. Và tôi nghe tin hắn định trốn sang xứ lạ với tiền của tôi; nên đêm nay tôi ra đi tìm hắn, đem theo chàng trai này, Ali bin Bakkar, làm bạn đồng hành; nhưng khi chúng tôi đến hy vọng gặp con nợ, hắn lại trốn chúng tôi và chúng tôi chẳng thể nhìn thấy hắn. Vì vậy chúng tôi quay về, tay trắng không một doit, nhưng trở về nhà vào giờ này trong đêm thật khó chịu với chúng tôi; vậy không biết đi đâu, chúng tôi đến với ông, vì biết rõ lòng tốt và sự nhã nhặn quen thuộc của ông.” Chủ nhà đáp: “Các vị được hoan nghênh và mừng đón!” rồi hết lòng tôn trọng họ; vậy hai người ở lại với ông phần còn lại của đêm, và ngay khi ánh ngày rạng lên, họ rời ông và không chút chậm trễ quay đường về thành. Khi họ đến nhà Abu al-Hasan, chàng khẩn nài bạn mình vào trong; vậy họ đi vào và nằm xuống giường, ngủ một lúc. Ngay khi họ thức dậy, Abu al-Hasan truyền các tôi tớ trải nhà bằng thảm quý, tự nhủ: “Nhất định ta phải làm chàng trai này khuây khỏa và khiến chàng phân tâm khỏi nghĩ đến nỗi khổ của mình, vì ta biết tình cảnh của chàng hơn người khác.” Rồi chàng gọi nước cho Ali bin Bakkar, và khi nước được mang tới, chàng đứng dậy khỏi giường, làm lễ tẩy rửa, cầu những lễ cầu nguyện bắt buộc mà chàng đã bỏ sót trong ngày và đêm qua[FN#194]; sau đó chàng ngồi xuống và bắt đầu tự an ủi bằng cách trò chuyện với bạn mình. Khi Abu al-Hasan thấy vậy, chàng quay sang chàng và nói: “Ôi chúa công của ta, hợp với tình cảnh của chàng hơn nếu chàng ở lại với ta đêm nay, để ngực chàng được mở rộng, nỗi khốn vì tình-khát khao đang đè trên chàng được xua tan, và chàng vui vẻ với chúng ta, biết đâu bằng vậy lửa trong tim chàng có thể được dập tắt.” Ali đáp: “Ôi huynh đệ của ta, hãy làm điều chàng thấy là tốt; vì ta không cách nào thoát khỏi tai họa đã giáng xuống mình; vậy hãy làm như chàng muốn.” Theo đó, Abu al-Hasan đứng dậy và truyền tôi tớ gọi một số bạn bè tuyển chọn nhất của chàng, rồi sai gọi các ca công và nhạc công, họ liền đến; trong khi ấy chàng sửa soạn đồ ăn thức uống cho họ; vậy họ ngồi ăn uống và vui chơi suốt phần còn lại của ngày cho đến khi đêm xuống. Rồi họ thắp nến, và chén của tình bạn cùng bầu bạn tốt đẹp chuyền quanh giữa họ, thời gian trôi qua dễ chịu với họ. Lát sau, một nữ ca công cầm đàn lute và bắt đầu hát,

“Ta bị Vận Mệnh bắn trúng, và mũi tên của mắt *
Đánh ta gục xuống, chia lìa khỏi bạn thân yêu nhất:
Thời Gian đã tỏ ra là kẻ thù và nhẫn nại của ta thất bại, *
Vậy mà ta luôn chờ rằng nó sẽ kết thúc như thế.”

Khi Ali bin Bakkar nghe lời nàng, chàng ngã xuống đất trong cơn ngất và không ngừng nằm trong cơn mê cho đến rạng sáng; còn Abu al-Hasan tuyệt vọng về chàng. Nhưng khi bình minh đến, chàng hồi tỉnh và muốn về nhà; bạn chàng cũng không thể ngăn chàng, vì sợ hậu quả của chuyện chàng. Vậy chàng truyền tôi tớ mang một con la cái đến và, đặt Ali lên đó, đưa chàng về nơi ở, chàng cùng một người của mình. Khi chàng đã an toàn ở nhà, Abu al-Hasan cảm tạ Allah vì chàng được cứu khỏi hiểm nguy dữ dội ấy và ngồi với chàng một lúc, an ủi chàng; nhưng Ali không thể kìm mình, bởi sức mạnh của tình yêu và nỗi khát khao. Vậy Abu al-Hasan đứng dậy từ biệt chàng và trở về chỗ của mình.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi sáu,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Abu al-Hasan đứng dậy từ biệt chàng, Ali con trai Bakkar kêu lên: “Ôi huynh đệ của ta, đừng bỏ ta mà không có tin tức.” “Ta nghe và tuân lệnh,” người kia đáp; rồi lập tức ra đi, đến cửa hàng của mình, mở cửa và ngồi đó suốt ngày, mong tin của Shams al-Nahar. Nhưng không có ai đến. Chàng qua đêm trong nhà mình và, khi ngày rạng, chàng đi bộ đến chỗ ở của Ali bin Bakkar, vào trong và thấy chàng nằm ném mình trên giường, bạn bè quanh chàng và thầy thuốc quanh chàng đang kê thuốc này thuốc nọ, các y sĩ bắt mạch cho chàng. Khi chàng thấy Abu al-Hasan bước vào, chàng mỉm cười, và người khách, sau khi chào chàng, hỏi thăm chàng ra sao rồi ngồi với chàng cho đến khi mọi người rút lui, bấy giờ chàng nói với chàng: “Cảnh ngộ này là thế nào?” Ali bin Bakkar nói: “Tin đồn lan ra rằng ta bị bệnh và các bằng hữu của ta nghe được tin ấy; ta chẳng còn sức đứng dậy đi lại để làm kẻ đã loan truyền bệnh tật của ta thành kẻ nói dối, mà cứ tiếp tục nằm rải ra đây như chàng thấy. Vì thế bạn bè ta đến thăm ta; tuy nhiên hãy nói đi, ôi huynh đệ của ta, chàng đã thấy nữ nô ấy hay nghe tin gì về nàng chăng?” Chàng đáp: “Ta chưa thấy nàng, kể từ ngày chúng ta chia tay nàng bên bờ Tigris”; rồi lát sau chàng thêm: “Ôi huynh đệ của ta, hãy coi chừng tai tiếng và bỏ việc khóc lóc này.” Ali đáp: “Ôi huynh đệ của ta, quả thật ta không còn quyền chế ngự chính mình”; rồi chàng thở dài và bắt đầu ngâm,

“Nàng trao cho bàn tay nữ nhi của mình một sức mạnh mà tay ta không có, *
Và với màu nhuộm đỏ trên cổ tay, nàng khiến nhẫn nại của ta thất bại và
bay đi:
Và vì bàn tay nàng, nàng sợ xiết bao những mũi tên mà mắt nàng
phóng ra, * Nên nàng muốn mặc và giữ tay mình trong
giáp vòng bằng mail:[FN#195]
Thầy thuốc trong ngu dốt bắt mạch ta, trong khi ta kêu với ông, *
‘Tim ta mới bệnh, vậy hãy buông tay ta, vốn chẳng có tật gì:’
Nàng nói với hình bóng đêm đẹp đã ban ân cho ta rồi bay mất, *
‘Thề bởi Allah, hãy vẽ chàng, đừng thêm cũng đừng bớt chút nào!’
Giấc Mộng đáp: ‘Ta rời chàng, dẫu chàng chết vì khát,’
Ta kêu, * ‘Hãy tránh xa giếng nước và nói vì sao cứ
khăng khăng thế này.’
Đôi mắt Narcissus của nàng mưa hạt châu lệ, và đóa hồng trên má sáng lên *
Nàng pha sherbet của ta, và cây lote với những hạt mưa đá nàng
cắn.”[FN#196]

Và khi chàng ngâm xong, chàng nói: “Ôi Abu al-Hasan, ta đã bị đánh trúng bởi một tai ương mà ta từng tưởng mình hoàn toàn an toàn khỏi nó, và đối với ta không có sự dễ chịu nào lớn hơn cái chết.” Chàng đáp: “Hãy kiên nhẫn, biết đâu Allah sẽ chữa lành cho chàng!” Rồi chàng ra khỏi chàng và đến cửa hàng của mình mở cửa; chàng chưa ngồi được bao lâu thì bất chợt nữ tỳ đến và chào chàng. Chàng đáp lại lời salam của nàng và nhìn nàng, thấy tim nàng đập thình thịch, nàng đang rất khổ sở và tỏ dấu hiệu đau buồn lớn: vậy chàng nói với nàng: “Nàng được hoan nghênh và mừng đón! Shams al-Nahar thế nào?” Nàng đáp: “Thiếp sẽ nói cho chàng ngay, nhưng trước hết hãy cho thiếp biết Ali bin Bakkar ra sao.” Vậy chàng kể cho nàng tất cả những gì đã qua và tình cảnh của chàng ra sao, khiến nàng buồn, thở dài, than thở và kinh ngạc trước tình trạng của chàng. Rồi nàng nói: “Tình cảnh của phu nhân thiếp còn lạ hơn thế; vì khi các chàng đi khỏi và lên đường về nhà, thiếp quay lại, tim đập dữ dội vì lo cho các chàng và hầu như không tin nổi các chàng đã thoát. Khi vào trong, thiếp thấy nàng nằm phủ phục trong đình, không nói cũng không đáp ai, trong khi Chủ nhân các tín đồ ngồi bên đầu nàng, không biết nàng đau gì và chẳng tìm được ai có thể cho ngài biết chút gì về bệnh của nàng. Nàng không ngừng hôn mê cho đến nửa đêm, khi nàng hồi tỉnh và Vương tử các tín đồ nói với nàng: ‘Điều hại nào đã xảy đến với nàng, ôi Shams al-Nahar, và chuyện gì đã xảy ra với nàng đêm nay?’ Bấy giờ khi nàng nghe lời Khalif, nàng hôn chân ngài và nói: ‘Cầu Allah khiến thiếp làm vật chuộc cho ngài, ôi Vương tử các Chân tín đồ! Quả thật một cơn chua dạ dày đã thắp lửa trong thân thiếp, khiến thiếp mất giác quan vì đau quá độ, và thiếp không còn biết gì về tình trạng của mình.’ Khalif hỏi: ‘Hôm nay nàng đã ăn gì?’; nàng đáp: ‘Thiếp phá chay bằng một thứ thiếp chưa từng nếm trước đây.’ Rồi nàng giả vờ đã hồi phục, gọi lấy chút rượu, uống vào, và xin Đấng Chủ Quyền tiếp tục thú vui của mình. Vậy ngài lại ngồi xuống trên trường kỷ trong đình và buổi ngồi lại tiếp tục, nhưng khi nàng thấy thiếp, nàng hỏi các chàng ra sao. Thiếp kể cho nàng điều thiếp đã làm với cả hai chàng và lặp lại cho nàng những câu thơ mà Ali bin Bakkar đã làm lúc chia tay, khiến nàng khóc thầm, nhưng lát sau lại im lặng. Sau một lúc, Chủ nhân các tín đồ truyền một thiếu nữ hát, và nàng bắt đầu ngâm,

‘Đời chẳng còn vị ngọt với ta từ khi các chàng ra đi; *
Ước Trời ta biết những kẻ bỏ ta ra sao:
Chỉ đáng rằng lệ ta là lệ máu, *
Vì các chàng đang khóc bởi cớ ta vắng mặt.’

Nhưng khi phu nhân của thiếp nghe câu thơ này, nàng ngã ngửa trên sofa trong cơn ngất,”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng nữ nô tiếp tục nói với Abu al-Hasan: “Nhưng khi phu nhân của thiếp nghe câu thơ này, nàng ngã ngửa trên sofa trong cơn ngất, và thiếp nắm tay nàng, rảy nước hoa hồng lên mặt nàng cho đến khi nàng hồi tỉnh, bấy giờ thiếp nói với nàng: ‘Ôi phu nhân của thiếp, xin đừng phơi lộ chính mình và mọi thứ cung điện của nàng chứa đựng. Nhân danh mạng người nàng yêu, hãy nhẫn nại!’ Nàng đáp: ‘Còn điều gì có thể xảy đến với ta tệ hơn cái chết, điều quả thật ta tìm kiếm, vì thề bởi Allah, sự an nghỉ của ta nằm trong đó?’ Trong khi chúng tôi đang nói chuyện như vậy, một thiếu nữ khác hát những lời này của thi nhân,

‘Họ nói, “Biết đâu Nhẫn Nại cho nàng an ổn!” *
Ta đáp, “Từ khi chàng đi, chỗ của Nhẫn Nại ở đâu?
Giao ước chàng lập giữa ta và chàng, là cắt *
Những dây Nhẫn Nại trong lần ôm cuối của chúng ta!”’[FN#197]

Và ngay khi nàng ấy dứt lời thơ, Shams al-Nahar lại ngất đi một lần nữa, việc ấy khi Khalif thấy, ngài vội đến bên nàng và truyền dọn rượu đi, mỗi thiếu nữ trở về phòng mình. Ngài ở lại với nàng phần còn lại của đêm, và khi ngày rạng, ngài sai gọi các nhà giải phẫu cùng thầy thuốc và truyền họ chữa trị cho nàng, không biết bệnh của nàng phát sinh từ tình yêu và khát khao. Thiếp nán lại với nàng cho đến khi thiếp nghĩ nàng đang trên đường hồi phục, và đây là điều đã giữ thiếp khỏi đến với chàng. Nay thiếp đã để nàng lại với một số nữ hầu thân cận, những người vô cùng lo lắng cho nàng, khi nàng truyền thiếp đến với hai chàng, mang tin của Ali bin Bakkar về cho nàng và trở lại với nàng cùng tin tức.” Khi Abu al-Hasan nghe câu chuyện của nàng, chàng kinh ngạc và nói: “Thề bởi Allah, ta đã cho nàng biết toàn bộ tình cảnh của chàng; vậy nay hãy trở về với phu nhân của nàng; và chào nàng thay ta, ân cần khuyên nàng nhẫn nại và nói với nàng: ‘Hãy giữ kín bí mật của nàng!’; rồi nói với nàng rằng ta biết tất cả tình cảnh của nàng, quả thật là nặng nề và cần cách xử trí tinh tế.” Nàng cảm tạ chàng rồi từ biệt chàng, trở về với phu nhân mình. Đó là phần về nàng; còn về Abu al-Hasan, chàng không ngừng ở trong cửa hàng cho đến cuối ngày, khi chàng đứng dậy đóng và khóa nó, rồi tìm đến nhà Ali bin Bakkar và gõ cửa. Một trong các tôi tớ đi ra và cho chàng vào; khi Ali thấy chàng, chàng mỉm cười và tự chúc mình vì chàng đã đến, nói: “Ôi Abu al-Hasan, chàng đã làm ta hoang vắng bởi sự vắng mặt của chàng hôm nay; vì quả thật linh hồn ta đã cầm cố cho chàng trong phần còn lại của thời gian ta.” Người kia đáp: “Hãy bỏ lời này! Nếu sự chữa lành của chàng phải trả bằng tay ta, ta sẽ cắt nó đi trước khi chàng kịp xin ta; và nếu ta có thể chuộc chàng bằng mạng mình, ta đã đặt nó xuống vì chàng rồi. Ngay hôm nay đây, nữ tỳ của Shams al-Nahar đã đến với ta và kể ta nghe rằng điều cản trở nàng đến trước giờ là việc Khalif ở lại với phu nhân nàng; và nàng cho ta biết mọi điều đã xảy đến với nàng.” Rồi chàng tiếp tục lặp lại cho chàng nghe tất cả những gì cô gái đã kể về Shams al-Nahar; nghe vậy Ali bin Bakkar than thở dữ dội, khóc và nói với chàng: “Nhân danh Allah trên chàng, ôi huynh đệ của ta, hãy giúp ta trong tai ương này và dạy ta con đường ta nên theo. Hơn nữa, ta cầu xin ân của chàng ở lại với ta đêm nay, để ta có sự an ủi của bầu bạn chàng.” Abu al-Hasan thuận lời xin này, đáp rằng chàng sẵn lòng qua đêm ở đó; vậy họ trò chuyện cùng nhau cho đến khi buổi tối tối sẫm lại, khi Ali bin Bakkar rên lớn, than thở và khóc nhiều lệ, ngâm những câu thơ đôi này,

“Hình nàng trong đôi mắt này, tên nàng trên môi, *
Tim ta là nhà nàng; sao nàng có thể biến mất?
Ta đau buồn biết bao cho đời sống đang đi đến tận cùng, *
Mà chẳng thấy ân đoàn tụ gần hay xa.”

Và đây là lời của người khác,

“Nàng chẻ mũ trụ dũng khí của ta bằng gươm mắt đánh thật
đau; * Nàng xuyên giáp vòng kiên nhẫn của ta bằng thân dáng
như giáo trúc nhẹ:
Được vá bởi nốt ruồi xạ trên má, trước mắt chúng ta hiển hiện *
Camphor đặt quanh bằng long diên hương, ánh sáng rạng qua
đêm.[FN#198]
Linh hồn nàng sầu não và nàng cắn đá carnelion bằng hạt châu *
Mà sự hợp nhất trong một bể đường mãi tụ lại để ẩn mình:[FN#199]
Nàng thở dài không yên và lấy lòng bàn tay đánh vào tuyết phủ
ngực nàng, * Và để lại một dấu mà ta nhìn và chưa từng thấy
cảnh nào như thế,
Những bút làm từ móng tay san hô của nàng với long diên hương làm mực, *
Đã tàn nhẫn viết năm dòng trên trang pha lê của ngực:
Hỡi các kiếm sĩ trang bị thép đáng tin! ta bảo tất cả hãy coi chừng *
Khi nàng uốn ánh nhìn chết chóc làm mê hoặc hồn phách
xuống các ngươi:
Và hãy giữ mình, hỡi kẻ cầm giáo! khi nàng đến gần *
Để đấu thương bằng thân dáng mảnh run rẩy, giống nhất ngọn giáo
nâu hạt dẻ.”

Và khi Ali bin Bakkar dứt lời thơ, chàng kêu một tiếng lớn và ngã xuống trong cơn mê. Abu al-Hasan tưởng rằng linh hồn chàng đã rời khỏi thân xác, và chàng không ngừng hôn mê cho đến rạng sáng, khi chàng tỉnh lại và trò chuyện với bạn mình, người tiếp tục ngồi với chàng cho đến trước trưa. Rồi chàng rời chàng và đến cửa hàng của mình; chàng vừa mở cửa thì kìa! thiếu nữ đến và đứng bên cạnh chàng. Vừa thấy nàng, nàng ra dấu chào chàng và chàng đáp lại; nàng chuyển đến chàng lời chào của phu nhân mình và hỏi: “Ali bin Bakkar thế nào?” Chàng đáp: “Ôi nữ tỳ của điều tốt, đừng hỏi ta về tình cảnh của chàng hay những gì chàng chịu vì tình-khát khao quá độ; chàng không ngủ ban đêm cũng không nghỉ ban ngày; thức trắng làm chàng hao mòn, ưu tư đã thắng chàng và tình trạng của chàng là một nỗi kinh hoàng với bạn chàng.” Nàng nói: “Phu nhân của thiếp chào chàng và chàng ấy, và nàng đã viết cho chàng ấy một bức thư, vì quả thật nàng ở trong tình cảnh còn tệ hơn chàng; nàng giao chính thư ấy cho thiếp, nói: ‘Đừng trở về trừ khi có thư đáp; và hãy tuân lệnh ta.’ Đây là bức thư, vậy hãy nói, chàng có đi cùng thiếp đến chỗ chàng ấy để chúng ta lấy thư đáp không?” Abu al-Hasan đáp: “Ta nghe và tuân lệnh,” rồi khóa cửa hàng, đem cô gái theo, đi bằng một lối khác với lối chàng đã đến, tới nhà Ali bin Bakkar, nơi chàng để nàng đứng ở cửa rồi bước vào.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Abu al-Hasan đi cùng cô gái đến nhà Ali con trai Bakkar, nơi chàng để nàng đứng ở cửa và bước vào, khiến chàng vô cùng vui mừng. Và Abu al-Hasan nói với chàng: “Nguyên do ta đến là người kia đã sai nữ tỳ của mình đến chàng với một bức thư, chứa lời chào gửi đến chàng và nhắc trong đó rằng nguyên do người ấy không đến với chàng là một việc đã xảy đến. Cô gái hiện đang đứng ngay ngoài cửa: nàng có được phép vào chăng?”; và chàng ra dấu cho chàng rằng đó là nữ nô của Shams al-Nahar. Ali hiểu dấu hiệu của chàng và đáp: “Hãy đưa nàng vào,” và khi chàng thấy nàng, chàng run lên vì vui và ra dấu với nàng: “Chúa công của nàng thế nào?; cầu Allah ban cho người sức khỏe và chữa lành!” “Người vẫn khỏe,” nàng đáp rồi lấy bức thư ra trao cho chàng. Chàng nhận nó, hôn nó, mở ra và đọc; sau đó chàng trao nó cho Abu al-Hasan, người thấy những vần thơ này được viết trong đó,

“Sứ giả này sẽ đưa tin của thiếp đến chàng; *
Hãy nhẫn nại trong khi mắt thiếp chàng không thể thấy:
Chàng bỏ lại một người yêu trong cơn điên của tình yêu, *
Đôi mắt nàng mãi ở trong thức trắng không ngừng:
Thiếp chịu đau đớn nhẫn nại trong những khốn khổ mà không ai *
Trong loài người có thể chữa;—đó là định mệnh của thiếp!
Hãy giữ mắt chàng mát lành; tim thiếp sẽ chẳng bao giờ quên, *
Cũng chẳng có một ngày nào thiếu mộng về chàng.
Hãy nhìn điều đã xảy đến với thân xác hao mòn của chàng, và từ đó *
Suy ra điều thiếp bị buộc phải chịu vì tình yêu!

“Và sau nữa[FN#200]: Không có ngón tay[FN#201] thiếp đã viết cho chàng, và không có lưỡi thiếp đã nói với chàng * để tiếp tục tình cảnh của thiếp, thiếp có một con mắt mà sự mất ngủ không rời khỏi * và một trái tim nơi ý nghĩ sầu khổ không lay chuyển * Với thiếp, như thể thiếp chưa từng biết sức khỏe * cũng chưa từng thôi ở trong buồn đau * cũng chưa từng trải một giờ trong nơi vui thích * mà như thể thiếp được tạo thành từ sầu nhớ, từ nỗi đau của đam mê và buồn bực * Bệnh tật không ngừng làm khốn * và nỗi khát khao của thiếp mãi tăng gấp đôi * ham muốn vẫn lớn lên * và nỗi mong nhớ trong tim thiếp vẫn cháy sáng * Thiếp cầu Allah mau chóng cho chúng ta đoàn tụ * và xua khỏi tâm trí thiếp sự rối loạn * Và thiếp mong chàng ban ân cho thiếp * bằng vài lời của chàng * để thiếp có thể làm tim mình vui trong đau đớn và than phiền * Hơn nữa, thiếp muốn chàng khoác lên một chiếc áo nhẫn nại, cho đến khi Allah đoái ban giải thoát * Và bình an của Ngài ở cùng chàng.”[FN#202] Khi Ali bin Bakkar đọc bức thư này, chàng nói bằng giọng yếu ớt và tiếng nói mảnh mai: “Với bàn tay nào ta sẽ viết và bằng lưỡi nào ta sẽ than van, thở than? Quả thật nàng thêm bệnh vào bệnh của ta và kéo cái chết lên cái chết của ta!” Rồi chàng ngồi dậy, cầm hộp mực và giấy, viết thư đáp sau đây: “Nhân danh Allah, Đấng Từ Bi, Đấng Thương Xót![FN#203] Thư của nàng đã đến với ta, ôi phu nhân của ta, và đã đem sự dịu nhẹ đến cho một hồn phách hao mòn vì đam mê và tình-khát khao, đã đem sự chữa lành đến cho một trái tim bị thương, lở loét vì uể oải và bệnh tật; vì quả thật ta đã trở thành đúng như thi nhân nói,

‘Ngực chật hẹp; mộng tưởng trải rộng; *
Mi mắt không ngủ; thân thể mỏi mòn;
Nhẫn nại bị cắt ngắn; chia lìa dài dằng dặc nhất; *
Lý trí rối loạn và trái tim mà đời sống đã rời!’

Và hãy biết rằng than phiền không ích gì; nhưng nó làm dịu kẻ bị tình-khát khao làm rối loạn và bị chia lìa hủy diệt; và bằng việc lặp lại ‘Đoàn tụ,’ ta giữ mình được an ủi, và lời của thi nhân đã nói thật đẹp biết bao,

‘Nếu trong cảnh tình yêu, niềm vui và sầu khổ không gặp nhau, *
Thì làm sao lời nhắn hay thư viết lại ngọt ngào?’”

TALE OF ALI BIN BAKKAR AND OF SHAMS AL-NAHAR.#27

Khi chàng viết xong bức thư này, chàng trao nó cho Abu al-Hasan, nói: “Hãy đọc nó và đưa nó cho thiếu nữ.” Vậy chàng nhận lấy, đọc, và lời trong đó khuấy động linh hồn chàng, ý nghĩa của nó làm thương tổn gan ruột chàng. Rồi chàng giao nó cho cô gái, và khi nàng nhận lấy, Ali bin Bakkar nói với nàng: “Hãy chào phu nhân của nàng thay ta và cho nàng biết tình yêu cùng nỗi khát khao của ta, và rằng đam mê đã hòa lẫn với thịt xương ta; hãy nói với nàng rằng quả thật ta cần một người đàn bà sẽ giật ta khỏi biển hủy diệt và cứu ta khỏi cảnh lưỡng nan này; vì thật ra Vận Mệnh đang áp bức ta bằng những biến dịch của nàng; và liệu có người trợ giúp nào giải thoát ta khỏi những điều ô uế của nàng chăng?” Rồi chàng khóc, và thiếu nữ khóc vì chàng khóc. Sau đó nàng từ biệt chàng rồi đi ra, còn Abu al-Hasan đi ra cùng nàng và tiễn biệt nàng. Vậy nàng đi đường mình, còn chàng trở về cửa hàng, mở cửa và ngồi xuống đó như thói quen;—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm năm mươi chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Abu al-Hasan từ biệt nữ nô và trở về cửa hàng, mở cửa rồi ngồi xuống đó theo lệ thường; nhưng khi chàng nán lại, chàng thấy tim mình bị đè nặng, ngực mình chật hẹp, và chàng bối rối về tình cảnh của mình. Vậy chàng không thôi u sầu suốt phần còn lại của ngày ấy và đêm ấy; đến sáng hôm sau, chàng tìm đến Ali bin Bakkar, ngồi cùng chàng cho đến khi mọi người rút lui, rồi hỏi chàng ra sao. Ali bắt đầu than phiền vì ham muốn và giãi bày về nỗi khát khao cùng sự rối loạn đã chiếm lấy chàng, rồi lặp lại những lời này của thi nhân.

“Người đời đã than về héo hắt trước thời ta, *
Kẻ sống và người chết đều kinh hoàng vì chia lìa:
Nhưng những cảm giác như thứ xương sườn ta giam giữ *
Ta chưa từng nghe đến, cũng chưa từng thấy qua.”

Và những lời này của một thi nhân khác,

“Vì yêu nàng, ta đã chịu điều mà thuở xưa *
Kays, kẻ được gọi là ‘Người Điên’[FN#204], chưa từng chịu vì nàng đẹp của mình:
Nhưng ta không đuổi theo thú hoang nơi đồng nội và hoang địa *
Như Kays, vì điên cuồng có nhiều hình thái.”

Bấy giờ Abu al-Hasan nói: “Ta chưa từng thấy hay nghe nói về ai giống như chàng trong tình yêu của mình! Khi chàng chịu tất cả cơn xuất thần, bệnh tật và phiền não này vì mê đắm một người đáp lại đam mê của chàng, thì sẽ ra sao nếu người chàng yêu trái ý và khinh miệt, và tình cảnh của chàng bị lộ bởi sự phản trắc của nàng?” “Và Ali con trai Bakkar” (Abu al-Hasan nói) “hài lòng với lời ta, chàng dựa vào đó và cảm tạ ta vì những gì ta đã nói và làm. Ta có một người bạn” (Abu al-Hasan tiếp), “người mà ta đã tiết lộ chuyện của ta và của Ali, và người biết rằng chúng ta thân thiết; nhưng không ai khác ngoài người ấy biết điều giữa chúng ta. Người ấy thường đến với ta và hỏi Ali ra sao; sau một thời gian, người ấy bắt đầu hỏi ta về cô gái; nhưng ta ngăn lại, nói: ‘Nàng mời chàng đến với nàng, và giữa chàng với nàng đã có nhiều điều nhất có thể xảy ra, và đây là kết thúc việc của họ; nhưng ta đã nghĩ ra một kế và một ý muốn trình với ngươi.’” Bạn chàng hỏi: “Và đó là gì?” Abu al-Hasan đáp: “Ta là người nổi tiếng có nhiều giao thiệp giữa nam và nữ, và ta sợ, ôi huynh đệ, e việc của đôi này lộ ra, rồi dẫn đến cái chết của ta, việc tịch thu của cải ta, việc xé rách danh tiếng của ta và của gia đình ta. Vì thế ta đã quyết gom tiền của mình, lập tức sửa soạn và đi đến thành Bassorah, ở lại đó cho đến khi ta thấy việc của họ sẽ ra sao, để không ai biết về ta; vì tình yêu đã làm chủ cả hai, và thư từ qua lại giữa họ. Hiện giờ người trung gian và tâm phúc của họ là một nữ nô, người cho đến nay vẫn giữ kín lời bàn của họ, nhưng ta sợ e lo âu thắng nàng và nàng tiết lộ bí mật của họ cho ai đó, rồi sự việc bị đồn rộng, có thể đưa ta đến nỗi đau lớn và thành nguyên nhân hủy hoại ta; vì ta không có lời biện minh nào để dâng cho những kẻ buộc tội mình.” Bạn chàng đáp: “Ngươi đã cho ta biết một việc nguy hiểm, loại việc mà người khôn ngoan và hiểu biết sẽ rùng mình sợ hãi. Cầu Allah đẩy khỏi ngươi điều ác mà ngươi khiếp sợ đến vậy và cứu ngươi khỏi những hậu quả ngươi lo lắng! Quả thật sự tính liệu của ngươi là đúng.” Vậy Abu al-Hasan trở về chỗ của mình và bắt đầu sắp xếp công việc, chuẩn bị cho chuyến đi; chưa đầy ba ngày, chàng đã làm xong việc và lên đường về phía Bassorah. Ba ngày sau, bạn chàng đến thăm nhưng không thấy chàng, bèn hỏi hàng xóm về chàng; họ đáp: “Chàng đã lên đường đến Bassorah ba ngày trước, vì chàng có giao dịch với các thương nhân ở đó và đi đến đó để thu tiền từ các con nợ; nhưng chàng sẽ sớm trở về.” Người trẻ tuổi bàng hoàng trước tin ấy và không biết nên đi đâu; chàng tự nhủ: “Ước gì ta đã không rời Abu al-Hasan!” Rồi chàng nghĩ ra một kế để có thể đến gần Ali bin Bakkar; vậy chàng đến nơi ở của Ali và nói với một tôi tớ của chàng: “Hãy xin phép chúa công của ngươi cho ta vào chào ngài.” Người hầu bước vào báo với chủ mình, rồi lát sau trở lại, mời người ấy bước vào. Vậy chàng vào trong và thấy Ali bin Bakkar nằm ngửa trên gối, bèn chào chàng. Ali đáp lễ và đón mừng chàng; bấy giờ người trẻ tuổi bắt đầu xin lỗi vì đã xa cách chàng suốt thời gian ấy, rồi thêm: “Ôi chúa công của tôi, giữa Abu al-Hasan và tôi có tình bạn thân thiết, đến nỗi tôi thường phó thác bí mật của mình cho chàng và không thể rời chàng một giờ. Nay tình cờ tôi vắng mặt ba ngày vì một số việc với một nhóm bạn; và khi trở về, đến chỗ chàng, tôi thấy cửa hàng chàng đóng khóa; vậy tôi hỏi hàng xóm về chàng, họ đáp: ‘Chàng đã đi Bassorah.’ Nay tôi biết chàng không có người bạn nào chắc hơn ngài; vậy, thề bởi Allah, xin nói cho tôi biết điều ngài biết về chàng.” Khi Ali bin Bakkar nghe vậy, sắc mặt chàng đổi khác, chàng bối rối và đáp: “Ta chưa hề nghe về việc chàng ra đi cho đến hôm nay, và nếu sự việc đúng như ngươi nói, mệt mỏi đã đến với ta.” Và chàng bắt đầu lặp lại,

“Vì những niềm vui không còn nữa, ta từng khóc, *
Khi bạn hữu và người yêu vẫn đứng bên ta chưa tản mác;
Hôm nay, khi Vận Mệnh chia lìa ta và họ, *
Ta khóc những tình yêu đã mất và tình bạn tan nát.”

Rồi chàng cúi đầu xuống đất suy nghĩ một lúc; lát sau ngẩng lên nhìn một trong các tôi tớ và nói: “Hãy đến nhà Abu al-Hasan và hỏi về chàng xem chàng ở nhà hay đi xa. Nếu họ nói: ‘Chàng đi xa’; hãy hỏi chàng đi đâu.” Người hầu đi ra và sau một lúc trở về, nói với chủ mình: “Khi tôi hỏi về Abu al-Hasan, người nhà của chàng nói với tôi rằng chàng đã đi Bassorah; nhưng tôi thấy một thiếu nữ đứng ở cửa, người ấy biết mặt tôi, dù tôi không biết nàng, và nói với tôi: ‘Ngươi chẳng phải là tôi tớ của Ali bin Bakkar sao?’ Tôi đáp: ‘Đúng vậy’; nàng nói tiếp: ‘Ta mang một lời nhắn cho ngài từ một người thân yêu nhất trong mọi người đối với ngài.’ Vậy nàng đi cùng tôi và hiện đang đứng ở cửa.” Ali bin Bakkar nói: “Hãy đưa nàng vào.” Người hầu đi ra đến chỗ nàng và đưa nàng vào, còn người đàn ông ở cùng Ali nhìn nàng và thấy nàng xinh đẹp. Rồi nàng tiến đến con trai Bakkar và chào chàng.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép,

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi nữ nô bước vào với Ali bin Bakkar, nàng tiến đến bên chàng, chào chàng và nói thầm với chàng; thỉnh thoảng trong cuộc đối thoại, chàng kêu lên bằng một lời thề và thề rằng chàng không hề nói năng hay tiết lộ chuyện ấy. Rồi nàng từ biệt chàng và đi ra. Bấy giờ bạn của Abu al-Hasan là một người thợ kim hoàn,[FN#205] và khi nàng đi rồi, chàng tìm được dịp nói và bảo Ali bin Bakkar: “Hẳn và chắc chắn người trong nhà Khalif có việc gì với ngài hoặc ngài có giao dịch với họ?” Ali hỏi: “Ai nói với ngươi điều này?” Người thợ kim hoàn đáp: “Tôi biết nhờ thiếu nữ kia, nữ nô của Shams al-Nahar; vì ít lâu trước nàng đến với tôi mang một tờ giấy, trong đó viết rằng nàng muốn một chuỗi ngọc; và tôi đã gửi cho nàng một vòng cổ quý giá.” Nhưng khi Ali bin Bakkar nghe vậy, chàng hết sức bối rối, đến nỗi người thợ kim hoàn sợ thấy chàng trút hồn; nhưng sau một lúc chàng hồi phục và nói: “Ôi huynh đệ của ta, ta khẩn cầu ngươi nhân danh Allah hãy nói thật cho ta biết làm sao ngươi biết nàng.” Người ấy đáp: “Xin đừng ép ta câu hỏi này”; Ali đáp: “Quả thật ta sẽ không rời ngươi cho đến khi ngươi nói cho ta toàn bộ sự thật.” Người thợ kim hoàn nói: “Ta sẽ kể cho ngươi tất cả, với điều kiện ngươi đừng nghi ngờ ta, và lời ta không gây cho ngươi chút ngăn trở nào; ta cũng sẽ không giấu ngươi điều gì như bí mật mà sẽ bày tỏ cho ngươi sự thật của việc này, miễn là ngươi cho ta biết tình trạng thật của mình và nguyên do bệnh tật của ngươi.” Rồi chàng kể cho Ali nghe tất cả những gì đã xảy ra từ đầu đến cuối giữa Abu al-Hasan và chính mình, nói thêm: “Ta làm vậy chỉ vì tình bạn dành cho ngươi và vì mong muốn phụng sự ngươi”; và cam đoan với chàng rằng chàng sẽ giữ bí mật và liều mạng cùng của cải để phục vụ chàng. Vậy Ali lần lượt kể cho chàng câu chuyện của mình và thêm: “Thề bởi Allah, ôi huynh đệ của ta, chẳng có gì khiến ta giữ kín tình cảnh của mình với ngươi và với người khác ngoài nỗi sợ rằng người đời sẽ vén những tấm màn che chở khỏi một số người.” Người thợ kim hoàn đáp: “Và ta không mong gặp ngươi ngoài vì tình cảm lớn ta dành cho ngươi và lòng nhiệt thành với ngươi trong mọi tình cảnh, cùng lòng thương xót của ta đối với nỗi đau tim ngươi chịu vì chia lìa. Biết đâu ta có thể là người an ủi ngươi thay bạn ta, Abu al-Hasan, trong suốt thời gian chàng vắng mặt: vậy hãy vui lòng và giữ mắt mát lành, trong sáng.” Bấy giờ Ali cảm tạ chàng và lặp lại những câu thơ đôi này,

“Nếu ta nói: ‘Nhẫn nại, ta chịu được chàng ra đi,’ *
Nước mắt và tiếng thở dài của ta sẽ làm lời ta thành dối;
Làm sao ta giấu được dòng lệ chảy xuống *
Đồng bằng này, má ta, vì bạn quá thân yêu đã bay đi?”

Rồi chàng im lặng một lúc, và lát sau nói với người thợ kim hoàn: “Ngươi biết bí mật mà cô gái thì thầm với ta là gì không?” Chàng đáp: “Tôi không biết, thề bởi Allah, ôi chúa công của tôi!” Ali nói: “Nàng tưởng rằng ta đã chỉ bảo Abu al-Hasan đi Bassorah và rằng ta đã bày kế này để chấm dứt thư từ qua lại và gặp gỡ giữa chúng ta. Ta thề với nàng rằng việc này tuyệt nhiên không phải vậy; nhưng nàng không tin ta và trở về với phu nhân mình, khăng khăng trong những nghi ngờ gây hại của nàng; vì nàng nghiêng về Abu al-Hasan và lắng nghe lời chàng.” Người thợ kim hoàn trẻ đáp: “Ôi huynh đệ của ta, ta đã hiểu được điều ấy từ dáng vẻ của cô gái; nhưng ta sẽ giành cho ngươi điều ngươi muốn, Inshallah!” Ali bin Bakkar đáp: “Ai có thể ở cùng ta trong việc này và ngươi sẽ xử trí với nàng ra sao, khi nàng nhát và bay đi như thú hoang nơi đồng nội?” Người thợ kim hoàn kêu: “Thề bởi Allah, nhất định ta phải làm hết sức để giúp ngươi và bày cách làm quen với nàng mà không bị lộ hay gây hại!” Rồi chàng xin phép ra đi, và Ali bin Bakkar nói: “Ôi huynh đệ của ta, hãy nhớ giữ kín lời bàn của ta”; rồi chàng nhìn người ấy và khóc. Người thợ kim hoàn từ biệt chàng và đi ra.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi mốt,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người thợ kim hoàn từ biệt chàng và đi ra, không biết nên làm gì để giành cho chàng điều chàng mong muốn; và chàng không ngừng bước đi, vừa suy nghĩ quá nhiều về việc ấy, cho đến khi thấy một bức thư nằm trên đường. Chàng nhặt nó lên, nhìn phần đề gửi và dòng ngoài, rồi đọc nó; và kìa, nó viết rằng:—“Từ kẻ ít xứng đáng nhất trong các tình nhân gửi đến người xứng đáng nhất trong các người yêu dấu.” Vậy chàng mở nó ra và thấy những lời này được viết trong đó,

“Một sứ giả từ chàng đến, mang theo hy vọng đoàn viên, *
Nhưng ý nghĩ thắng lấy thiếp rằng bằng cách nào đó, người ấy đã sai với thiếp;
Vậy thiếp chẳng vui; trái lại, nỗi sầu của thiếp còn lớn hơn; *
Biết rằng sứ giả của thiếp đã mất trí khôn và trí hiểu.

“Nhưng sau nữa: Hãy biết, ôi chúa công của thiếp! rằng thiếp không biết nguyên do vì sao việc thư từ giữa chàng và thiếp bị cắt đứt: nhưng, nếu sự tàn nhẫn phát sinh từ phía chàng, thiếp sẽ đáp lại bằng lòng trung tín, và nếu tình yêu của chàng đã ra đi, thiếp vẫn sẽ kiên định với tình yêu dành cho người đã xa, vì thiếp với chàng đúng như thi nhân nói,

‘Hãy kiêu hãnh; thiếp sẽ cúi mình! Hãy bắt nạt; thiếp sẽ chịu! Hãy khinh miệt; thiếp sẽ cầu xin! *
Hãy đi; thiếp sẽ đến! Hãy nói; thiếp sẽ nghe! Hãy truyền; thiếp sẽ tuân!’”

Trong khi chàng đang đọc, kìa! nữ nô đi đến, nhìn phải nhìn trái, và thấy tờ giấy trong tay người thợ kim hoàn, nói với chàng: “Ôi chủ nhân của thiếp, bức thư này là thứ thiếp đánh rơi.” Chàng không đáp, mà bước tiếp, và nàng đi sau chàng, cho đến khi chàng đến nhà mình, bấy giờ chàng bước vào và nàng theo sau, nói: “Ôi chủ nhân của thiếp, xin trả lại thiếp bức thư này, vì nó rơi khỏi thiếp.” Bấy giờ chàng quay sang nàng và nói: “Ôi nữ tỳ của điều tốt, đừng sợ cũng đừng buồn, vì quả thật Allah Đấng Che Chở yêu những ai che chở; nhưng hãy nói thật cho ta biết tình cảnh của nàng, vì ta là người giữ kín lời bàn. Ta khẩn cầu nàng bằng một lời thề, đừng giấu ta điều gì trong chuyện của phu nhân nàng; vì biết đâu Allah sẽ giúp ta thúc đẩy những mong muốn của nàng và làm dễ dàng bởi tay ta điều vốn khó.” Khi nữ nô nghe những lời này, nàng nói: “Ôi chúa công của thiếp, quả thật một bí mật mà chàng là người giữ bí mật thì không mất; cũng chẳng việc nào thành hư vô nếu chàng cố gắng vì nó. Hãy biết rằng tim thiếp nghiêng về chàng và muốn giao phó tin tức của thiếp cho chàng, nhưng xin chàng trao bức thư cho thiếp.” Rồi nàng kể cho chàng toàn bộ câu chuyện, nói thêm: “Allah là chứng nhân cho mọi điều thiếp nói.” Chàng nói: “Nàng đã nói thật, vì ta biết gốc rễ của việc này.” Rồi chàng kể cho nàng nghe chuyện của mình về Ali bin Bakkar và làm sao chàng biết được trạng thái tâm trí của Ali; và thuật lại cho nàng tất cả những gì đã xảy ra từ đầu đến cuối, khiến nàng vui mừng; rồi hai người đồng ý rằng nàng sẽ cầm bức thư và mang nó đến cho Ali, sau đó trở lại báo cho người thợ kim hoàn biết mọi điều đã xảy ra. Vậy chàng trao thư cho nàng, nàng nhận lấy và niêm lại như trước, nói: “Phu nhân của thiếp, Shams al-Nahar, đã trao nó cho thiếp trong tình trạng niêm phong; và khi chàng ấy đã đọc nó và đưa thư đáp cho thiếp, thiếp sẽ mang đến cho chàng.” Rồi nàng từ biệt và tìm đến Ali bin Bakkar, người nàng thấy đang chờ, và trao chàng bức thư. Chàng đọc nó rồi viết một tờ giấy làm thư đáp, trao cho nàng; nàng mang nó đến cho người thợ kim hoàn, người xé vỡ niêm phong[FN#206] và đọc nó, thấy trong đó viết hai câu thơ đôi này,

“Sứ giả, kẻ giữ kín việc giao thông của chúng ta, *
Đã thất bại, và tỏ cơn giận không che giấu;[FN#207]
Hãy chọn một người trung thành hơn từ nhiều bạn hữu của nàng, *
Kẻ tán thành sự thật, chê trách dối trá.

TALE OF ALI BIN BAKKAR AND OF SHAMS AL-NAHAR.#28

“Tiếp nữa: Quả thật, ta chưa bước vào phản trắc * cũng chưa rời bỏ trung tín * ta chưa dùng tàn nhẫn * cũng chưa cắt đứt lòng trung thành * chẳng giao ước nào bị ta phá vỡ * cũng chẳng dây tình nào bị ta chặt đứt * ta chưa lìa bỏ ăn năn * cũng chẳng tìm thấy gì ngoài khốn khổ và hủy hoại sau chia lìa * ta không biết gì về điều nàng quả quyết * cũng chẳng yêu gì ngoài điều nàng yêu * Nhân danh Đấng biết bí mật của những điều ẩn kín mà không ai khám phá * ta không có khát vọng nào ngoài đoàn tụ với người ta yêu * và việc duy nhất của ta là che giấu đam mê * dẫu ta đau bệnh nặng nề. * Đây là lời bày tỏ tình cảnh của ta, và nay xin chào tất cả!” Khi người thợ kim hoàn đọc bức thư này và biết nội dung trong đó, chàng khóc một trận dữ dội, và nữ nô nói với chàng: “Xin đừng rời nơi này cho đến khi thiếp trở lại với chàng; vì chàng ấy nghi thiếp những điều thế này thế nọ, trong đó chàng ấy có thể được lượng thứ; nên ý thiếp là làm sao đưa đến một cuộc gặp giữa chàng và phu nhân thiếp, Shams al-Nahar, bằng bất cứ mưu nào thiếp có thể dùng. Còn hiện giờ, thiếp để nàng nằm phủ phục, chờ thiếp trở lại với thư đáp.” Rồi nàng đi khỏi, còn người thợ kim hoàn qua đêm với tâm trí rối bời. Và khi ngày rạng, chàng cầu lễ bình minh rồi ngồi chờ cô gái đến; và kìa, nàng bước vào với chàng, vui mừng khôn xiết, và chàng hỏi nàng: “Tin tức gì, ôi thiếu nữ?” Nàng đáp: “Sau khi rời chàng, thiếp đến với phu nhân của thiếp và trao cho nàng bức thư do Ali bin Bakkar viết; và khi nàng đọc nó, hiểu nó, nàng bối rối và kinh ngạc; nhưng thiếp nói với nàng: ‘Ôi phu nhân của thiếp, xin đừng sợ việc của người bị hỏng bởi Abu al-Hasan biến mất, vì thiếp đã tìm được một người thay chàng, tốt hơn chàng, đáng giá hơn chàng và là người tốt biết giữ bí mật.’ Rồi thiếp kể cho nàng những gì giữa chàng và Abu al-Hasan, làm sao chàng có được lòng tin của chàng ấy và của Ali bin Bakkar, và làm sao bức thư kia bị đánh rơi rồi lọt vào tay chàng; thiếp cũng cho nàng thấy chúng ta đã sắp đặt sự việc giữa thiếp và chàng ra sao.” Người thợ kim hoàn kinh ngạc xiết bao, khi nàng tiếp: “Và nay phu nhân của thiếp muốn nghe bất cứ điều gì chàng nói, để nàng có thể được lời chàng làm yên tâm về các giao ước giữa chàng và chàng ấy; vậy hãy sửa soạn để đi cùng thiếp đến với nàng ngay lập tức.” Khi người thợ kim hoàn nghe lời nữ nô, chàng thấy việc được đề nghị là nghiêm trọng và là một hiểm nguy lớn phải dám đối mặt, không thể nhẹ dạ đảm nhận hay đột ngột bước vào, nên chàng nói với nàng: “Ôi chị của ta, quả thật ta là người bình thường, không giống Abu al-Hasan; vì chàng ấy có địa vị cao và danh tiếng quen biết, thường lui tới gia hộ của Khalif bởi họ cần hàng hóa của chàng ấy. Còn ta, chàng ấy từng nói chuyện với ta mà trong khi ấy ta run rẩy trước chàng. Vậy nếu phu nhân của nàng muốn nói với ta, cuộc gặp của chúng ta phải ở một nơi khác ngoài cung điện của Khalif và xa khỏi nơi ở của Chủ nhân các tín đồ; vì lẽ thường của ta không cho ta thuận theo điều nàng đề nghị.” Theo lối ấy chàng từ chối đi cùng nàng, còn nàng tiếp tục nói rằng nàng sẽ bảo đảm an toàn cho chàng, thêm: “Hãy vững lòng và đừng sợ điều hại nào!” rồi thúc chàng can đảm cho đến khi chàng thuận theo nàng; tuy vậy, chân chàng khuỵu xuống và run lên, tay chàng rung bần bật, chàng kêu lên: “Allah ngăn ta đi cùng nàng! Quả thật ta không có sức để làm việc này!” Nàng đáp: “Hãy làm tim chàng vững lại; nếu việc đến cung điện của Khalif là khó với chàng và chàng không gom nổi can đảm để đi cùng thiếp, thiếp sẽ khiến nàng đến với chàng; vậy đừng nhúc nhích khỏi chỗ chàng cho đến khi thiếp trở lại với nàng.” Rồi nữ nô đi khỏi và vắng mặt một lúc, nhưng chỉ một lúc ngắn, sau đó nàng trở lại với người thợ kim hoàn và nói với chàng: “Hãy lo sao cho không có ai ở cùng chàng ngoài chính chàng, không nam nô cũng không nữ nô.” Chàng nói: “Ta chỉ có một nữ nô da đen, đã lớn tuổi và hầu hạ ta.”[FN#208] Vậy nàng đứng dậy, khóa cửa giữa nữ nô da đen của chàng và người thợ kim hoàn, rồi sai các nam hầu của chàng ra khỏi nơi ấy; sau đó nàng đi ra, và lát sau trở lại, theo sau là một phu nhân, người vừa vào nhà đã làm nhà tràn ngập hương thơm ngọt của nước hoa nàng. Khi người thợ kim hoàn thấy nàng, chàng bật dậy, đặt cho nàng một trường kỷ và một gối tựa; nàng ngồi xuống, còn chàng ngồi trước mặt nàng. Nàng ở một lúc không nói cho đến khi đã nghỉ, bấy giờ nàng vén màn che khỏi mặt, và trong tưởng tượng của người thợ kim hoàn, như thể mặt trời đã mọc trong nhà chàng. Rồi nàng hỏi nữ nô của mình: “Đây là người mà nàng đã nói với ta chăng?” Nàng đáp: “Vâng”; bấy giờ phu nhân quay sang người thợ kim hoàn và nói với chàng: “Chàng thế nào?” Chàng đáp: “Rất tốt! Tôi cầu Allah gìn giữ nàng và Chủ nhân các tín đồ.” Nàng nói: “Chàng đã khiến chúng ta đến với chàng và trao cho chàng điều chúng ta giữ kín.” Rồi nàng hỏi chàng về gia hộ và gia đình của chàng; chàng bày tỏ với nàng toàn bộ hoàn cảnh và tình trạng của mình, rồi nói với nàng: “Tôi có một căn nhà khác ngoài căn này; và tôi dành riêng nó để tụ họp bạn hữu cùng huynh đệ của mình; ở đó không có ai ngoài nữ nô da đen già mà tôi đã nói với tỳ nữ của nàng.” Nàng hỏi chàng theo cách nào mà chàng lần đầu biết chuyện bắt đầu ra sao, việc của Abu al-Hasan và nguyên do chàng ấy lên đường: theo đó chàng kể cho nàng mọi điều mình biết và việc chàng đã khuyên chuyến đi thế nào. Bấy giờ nàng than khóc vì mất Abu al-Hasan và nói với người thợ kim hoàn: “Hãy biết, hỡi người kia,[FN#209] rằng linh hồn nam nhân thì năng động trong dục vọng của họ và nam nhân vẫn là nam nhân; mà việc không làm được nếu không có lời, cũng chẳng bao giờ đạt kết cục nếu không có cố gắng. Nghỉ ngơi chỉ giành được bằng lao tác.” —Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Shams al-Nahar nói với người thợ kim hoàn như vậy: “Nghỉ ngơi chỉ đạt được bằng lao tác, và thành công chỉ sinh ra nhờ sự giúp đỡ của kẻ hào hiệp. Nay ta đã cho chàng biết việc của chúng ta, và việc phơi bày chúng ta hay che chở chúng ta nằm trong tay chàng; ta không nói thêm, vì lòng hào hiệp của chàng không cần gì. Chàng biết rằng nữ tỳ này của ta giữ kín lời bàn của ta, vì thế nàng chiếm địa vị cao trong ân sủng của ta; và ta đã chọn nàng để xử lý những việc quan trọng của ta. Vậy đừng để ai xứng đáng hơn trong mắt chàng so với nàng, và hãy cho nàng biết việc của chàng; hãy vui lòng, vì nhờ nàng, chàng an toàn khỏi mọi sợ hãi, và không nơi nào đóng trước chàng mà nàng không mở nó cho chàng. Nàng sẽ mang lời nhắn của ta đến Ali bin Bakkar cho chàng, và chàng sẽ là người trung gian của chúng ta.” Nói vậy, nàng đứng dậy, hầu như không thể đứng nổi, rồi đi ra, người thợ kim hoàn đi trước nàng đến cửa nhà nàng; sau đó chàng trở về và lại ngồi xuống chỗ mình, sau khi đã thấy ở nàng sắc đẹp và nghe lời nói của nàng đến mức làm chàng lóa mắt, khiến trí chàng mê đi, và đã chứng kiến ở nàng vẻ duyên cùng lễ độ làm hồn phách chàng bị mê hoặc. Chàng ngồi suy ngẫm về những hoàn hảo của nàng cho đến khi tâm trí trở nên yên tĩnh, bấy giờ chàng gọi thức ăn và ăn vừa đủ để giữ hồn cùng xác với nhau. Rồi chàng thay áo và đi ra; tìm đến nhà chàng trẻ tuổi Ali bin Bakkar, gõ cửa. Các tôi tớ vội vàng cho chàng vào và đi trước chàng cho đến khi đưa chàng đến chỗ chủ mình, người chàng thấy nằm rải trên giường. Bấy giờ khi thấy người thợ kim hoàn, Ali nói với chàng: “Chàng đã nán lâu khỏi ta, và điều ấy chất thêm lo lên lo của ta.” Rồi chàng cho tôi tớ lui và truyền đóng cửa; sau đó chàng nói với người thợ kim hoàn: “Thề bởi Allah, ôi huynh đệ của ta, ta chưa khép mắt từ ngày cuối ta thấy chàng; vì nữ nô đã đến với ta hôm qua với một bức thư niêm phong từ phu nhân nàng, Shams al-Nahar”; rồi chàng tiếp tục kể cho chàng tất cả những gì đã xảy ra với nàng, thêm rằng: “Nhân danh Đức Chúa, quả thật ta bối rối về việc của mình và nhẫn nại rời bỏ ta: vì Abu al-Hasan là người an ủi đã làm ta khuây khỏa, bởi chàng biết nữ nô ấy.” Khi người thợ kim hoàn nghe lời chàng, chàng cười; Ali nói: “Vì sao chàng cười lời ta, chàng, người mà khi đến ta đã tự chúc mừng mình và là người ta trông mong làm lương dự trữ trước những đổi thay của vận mệnh?” Rồi chàng thở dài, khóc và lặp lại những câu thơ đôi này,[FN#210]

“Rất nhiều kẻ cười những giọt lệ thấy ta đổ *
Hẳn sẽ đổ lệ nếu họ chịu điều ta chịu;
Chẳng ai thương xót nỗi khổ của kẻ bị nạn, *
Ngoài kẻ cũng lo âu và đầy tràn khốn khổ:
Đam mê, khát khao, thở dài, suy tưởng, than phiền của ta *
Đều bị dồn cho ta trong lõi sâu của tim ta:
Chàng dựng một nhà ở đó mà chẳng bao giờ rời, *
Vậy mà hiếm hoi những cuộc gặp của chúng ta, không như thuở trước:
Ta chẳng thấy bạn nào để lập vững chàng nơi chỗ ấy; *
Chẳng thân hữu nào ngoài chỉ chàng và—chàng.”

Bấy giờ khi người thợ kim hoàn nghe những dòng này và hiểu ý nghĩa của chúng, chàng cũng khóc, rồi kể cho Ali nghe tất cả những gì đã xảy ra giữa chính mình với nữ nô và phu nhân nàng từ khi chàng rời Ali. Ali bin Bakkar lắng nghe lời chàng, và mỗi lời chàng nghe thì sắc mặt chàng đổi từ trắng sang đỏ, thân thể chàng lúc mạnh hơn lúc yếu đi cho đến khi câu chuyện kết thúc, bấy giờ chàng khóc và nói: “Ôi huynh đệ của ta, trong bất cứ tình cảnh nào, ta cũng là người đã mất: ước gì tận cùng của ta đã gần, để ta được yên khỏi tất cả điều này! Nhưng ta cầu xin ân của chàng, hãy là người trợ giúp và an ủi ta trong mọi việc của ta cho đến khi Allah làm trọn bất cứ điều gì là ý Ngài; và ta sẽ không trái lời chàng một chữ.” Người thợ kim hoàn nói: “Không gì dập tắt lửa của chàng ngoài đoàn tụ với người chàng yêu; và cuộc gặp phải ở nơi khác ngoài chốn hiểm nguy này. Tốt hơn là trong một căn nhà của ta, nơi cô gái và phu nhân của nàng đã gặp ta; chính nàng đã chọn nơi ấy cho mình, với ý định để hai người có thể gặp nhau ở đó và than với nhau về những gì hai người đã chịu từ đau đớn của tình yêu.” Ali bin Bakkar nói: “Ôi ngài tốt lành, hãy làm như chàng muốn và cầu Allah là phần thưởng của chàng!; điều gì chàng cho là đúng thì hãy làm ngay: nhưng đừng chậm trễ trong việc đó, kẻo ta tiêu vong vì nỗi đau này.” “Vậy ta ở lại với chàng (người thợ kim hoàn nói) đêm ấy, trò chuyện cùng chàng cho đến khi sáng sớm rạng,”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi ba,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người thợ kim hoàn tiếp:—“Vậy ta ở lại với chàng đêm ấy, trò chuyện cùng chàng cho đến khi sáng rạng, khi ta cầu lễ bình minh rồi, rời khỏi chàng và trở về nhà mình. Ta vừa ngồi yên thì cô gái đến và chào ta; ta đáp lại lời chào của nàng và kể nàng nghe những gì đã xảy ra giữa ta và Ali bin Bakkar, nàng nói: ‘Hãy biết rằng Khalif đã rời khỏi chúng tôi và không có ai ở nơi chúng tôi, điều ấy an toàn hơn cho chúng ta và tốt hơn.’ Ta đáp: ‘Nàng nói thật; nhưng nó không giống căn nhà kia của ta, vốn vừa hợp hơn vừa chắc chắn hơn cho chúng ta’; nữ nô đáp: ‘Hãy làm như chàng thấy thích hợp. Giờ thiếp sẽ đến với phu nhân của mình và nói với nàng điều chàng nói, cho nàng biết tất cả những gì chàng đã nhắc.’ Vậy nàng đi khỏi, tìm đến phu nhân mình và trình bày kế hoạch trước nàng; lát sau trở lại và nói với ta: ‘Sự việc sẽ theo như chàng nói: vậy hãy sửa soạn nơi ấy cho chúng tôi và chờ chúng tôi.’ Rồi nàng lấy từ túi ngực ra một túi dinar và đưa thông điệp này: ‘Phu nhân của thiếp chào chàng và nói với chàng: “Hãy nhận cái này và dùng nó cung cấp những gì tình cảnh đòi hỏi.”’ Nhưng ta thề rằng ta sẽ không nhận gì từ nó; vậy nàng cầm túi tiền và trở về với phu nhân mình, nói với nàng: ‘Chàng không chịu nhận tiền, mà trao lại cho thiếp.’ Shams al-Nahar đáp: ‘Không sao.’ Ngay khi nữ nô đi khỏi” (người thợ kim hoàn tiếp), “ta đứng dậy và tìm đến căn nhà kia của mình, chuyển đến đó tất cả những gì cần thiết, bằng các thứ bình chén, đồ đạc và thảm quý; ta cũng không quên các bình sứ và chén thủy tinh, vàng cùng bạc; rồi ta sửa soạn đồ ăn thức uống cần cho dịp ấy. Khi thiếu nữ đến và thấy những gì ta đã làm, việc ấy làm nàng hài lòng, nàng bảo ta đi đón Ali bin Bakkar; nhưng ta nói: ‘Không ai sẽ đưa chàng đến ngoài nàng.’ Theo đó, nàng đi đến chỗ chàng và đưa chàng trở lại, ăn mặc hoàn hảo và trông đẹp nhất. Ta gặp chàng, chào chàng, rồi đặt chàng ngồi trên một divan xứng với tình trạng của chàng, đặt trước mặt chàng những bông hoa thơm trong bình sứ và thủy tinh đủ màu.[FN#211] Rồi ta bày một mâm thức ăn nhiều màu, loại mở rộng lồng ngực nhờ vẻ nhìn của chúng, rồi ngồi trò chuyện cùng chàng và làm chàng khuây khỏa, trong khi nữ nô đi khỏi và vắng mặt cho đến sau lễ cầu nguyện mặt trời lặn, khi nàng trở lại cùng Shams al-Nahar, có hai thị nữ đi theo và không ai khác. Ngay khi nàng thấy Ali bin Bakkar và chàng thấy nàng, chàng đứng dậy ôm nàng, còn nàng cũng ôm chàng, cả hai ngã xuống đất trong cơn ngất. Họ nằm vô thức suốt một giờ; rồi khi tỉnh lại, họ bắt đầu cùng nhau than thở về những đau đớn của chia lìa. Bấy giờ họ đến gần nhau và ngồi trò chuyện duyên dáng, mềm mại, dịu dàng; sau đó họ tự ướp thơm đôi chút và bắt đầu cảm tạ ta vì những gì ta đã làm cho họ. Ta nói: ‘Hai người có muốn ăn không?’ Họ đáp: ‘Có.’ Vậy ta đặt trước họ một chút đồ ăn, họ ăn cho đến khi thỏa, rồi rửa tay; sau đó ta dẫn họ đến một phòng ngồi khác và mang rượu đến cho họ. Vậy họ uống và uống sâu, nghiêng về nhau; lát sau Shams al-Nahar nói với ta: ‘Ôi chủ nhân của thiếp, hãy hoàn tất lòng tốt của chàng bằng cách mang cho chúng tôi một đàn lute hay nhạc cụ vui chơi và âm nhạc khác, để mức vui mừng của chúng tôi được đong đầy.’ Ta đáp: ‘Trên đầu và mắt tôi!’ rồi đứng dậy mang đến cho nàng một đàn lute, nàng nhận lấy và lên dây; sau đó đặt nó trong lòng, nàng chạm vào nó bằng một ngón nghề bậc thầy, tức thì khơi dậy buồn đau và đổi sầu thành vui; sau đó nàng hát hai câu thơ đôi này,

‘Mất ngủ của thiếp sẽ tỏ rằng thiếp yêu ở lại trong thức trắng; *
Và gầy mòn của thiếp sẽ chứng rằng bệnh tật là bản chất của thiếp:
Và dòng lệ lũ chảy xuống đôi má mà chúng chỉ làm bỏng; *
Ước gì thiếp biết đoàn tụ sẽ bắt kịp chia lìa!’

Rồi nàng tiếp tục hát những vần thơ chọn lọc nhất và cảm động nhất theo nhiều điệu khác nhau, cho đến khi giác quan chúng ta bị mê hoặc và chính căn phòng nhảy múa vì quá đỗi thích thú cùng kinh ngạc trước tiếng hát ngọt ngào của nàng; chẳng còn suy nghĩ hay lý trí nào trong chúng ta. Khi chúng ta ngồi được một lúc và chén đã chuyền quanh giữa chúng ta, thiếu nữ cầm đàn lute và hát theo một khúc sôi nổi những câu thơ đôi này,

Người yêu ta hứa hẹn cuộc gặp với ta và giữ lời trung tín, *
Một đêm mà ta sẽ kể như nhiều đêm về số và bậc:
Ôi Đêm vui sướng mà Vận Mệnh đoái ban cho đôi tình nhân trung tín, *
Không màng kẻ chê bai ngu ngốc cùng cả bọn hắn!
Người yêu ta nằm đêm với ta và ôm ta bằng tay phải, *
Trong khi ta ôm chàng bằng tay trái, ngất ngây vì cực lạc;
Và ghì chàng vào ngực ta, hút rượu ngọt từ
môi chàng, * Nếm trọn hương vị mật rượu mà người bán mật
đã bán cho ta.’

Trong khi chúng ta chìm như vậy trong biển vui mừng” (người thợ kim hoàn tiếp), “kìa, một cô hầu nhỏ bước vào với chúng ta, run rẩy và nói: ‘Ôi phu nhân của thiếp, hãy xem làm sao người có thể rời đi, vì người ta đã phát hiện các người và đã vây quanh nhà; chúng tôi không biết nguyên do của việc này!’ Khi ta nghe lời nàng, ta giật mình đứng dậy, và kìa! một nữ nô xông vào kêu: ‘Tai họa đã giáng xuống các người.’ Cùng lúc ấy, cửa bị phá tung và mười người che mặt bằng khăn, tay cầm dao cong, gươm đeo bên hông, cùng chừng ấy người phía sau họ xông vào chỗ chúng ta. Khi ta thấy vậy, thế gian trở nên chật hẹp trên ta dù nó rộng lớn, và ta nhìn ra cửa nhưng không thấy lối thoát; vậy ta nhảy từ sân thượng sang nhà một người láng giềng và ẩn mình ở đó. Từ đó ta thấy người ta đã vào nơi ở của ta và đang gây ra một tiếng ồn lớn; ta kết luận rằng Khalif đã nghe phong thanh về chúng ta và sai Trưởng đội Tuần canh đến bắt chúng ta đưa về trước mặt ngài. Vì vậy ta ở lại bối rối và không ngừng ở nguyên chỗ, không có khả năng nào rời khỏi đó cho đến nửa đêm. Lát sau chủ nhà đứng dậy, vì ông đã nghe ta động đậy, và ông hết sức sợ ta; nên ông từ phòng mình đi ra, tay cầm gươm tuốt trần và tiến về phía ta, nói: ‘Ai trong nhà ta đây?’ Ta nói: ‘Ta là láng giềng của ông, người thợ kim hoàn’; ông nhận ra ta và lùi lại. Rồi ông lấy đèn và đến gần ta, nói: ‘Ôi huynh đệ của ta, quả thật điều xảy đến với ngươi đêm nay đối với ta không phải việc nhẹ.’ Ta đáp: ‘Ôi huynh đệ của ta, hãy nói cho ta biết ai đã ở trong nhà ta và vào đó bằng cách phá cửa; vì ta chạy trốn đến ngươi mà không biết chuyện gì xảy ra.’ Ông đáp: ‘Quả thật những tên cướp đã tấn công láng giềng của chúng ta hôm qua, giết người kia và lấy hàng của hắn, đã thấy ngươi cùng ngày ấy mang đồ đạc vào căn nhà này; nên chúng đột nhập vào chỗ ngươi, trộm đồ của ngươi và giết các vị khách của ngươi.’ Rồi chúng ta đứng dậy” (người thợ kim hoàn tiếp), “ta và ông ấy, rồi đến nhà ta, nơi chúng ta thấy trống rỗng, không còn một cái que nào trong đó; vậy ta bối rối trước tình cảnh ấy và tự nhủ: ‘Còn về đồ đạc, ta chẳng bận tâm mất chúng, dẫu ta có mượn một phần vật dụng từ bạn bè và nó đã gặp tai họa; song chẳng có hại gì trong việc ấy, vì họ biết lời biện bạch của ta trong việc tài sản ta bị cướp và chỗ của ta bị vét sạch. Nhưng còn Ali bin Bakkar và sủng phi của Khalif, ta sợ e việc của họ bị đồn ra rộng rãi và điều ấy gây nên cái chết của ta.’ Vậy ta quay sang láng giềng của mình và nói với ông: ‘Ông là huynh đệ và láng giềng của ta, và sẽ che đậy sự trần truồng của ta; vậy ông khuyên ta làm gì?’ Người ấy đáp: ‘Điều ta khuyên ngươi làm là giữ yên và chờ; vì những kẻ đã vào nhà ngươi và lấy đồ của ngươi đã sát hại những người tốt nhất của một đoàn từ cung điện Khalif và đã giết không ít lính canh: các viên chức chính quyền và vệ binh nay đang tìm chúng trên mọi nẻo đường, và biết đâu họ sẽ bắt gặp chúng, nhờ đó điều ngươi mong sẽ đến mà không cần nỗ lực của ngươi.’” Người thợ kim hoàn nghe những lời này thì trở về căn nhà khác của mình, căn nhà nơi chàng cư ngụ,—và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi bốn,

TALE OF ALI BIN BAKKAR AND OF SHAMS AL-NAHAR.#29

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi người thợ kim hoàn nghe những lời này, chàng trở về căn nhà khác nơi chàng cư ngụ và tự nhủ: “Quả thật điều xảy đến với ta chính là điều Abu al-Hasan từng sợ và vì thế chàng trốn đến Bassorah. Còn nay ta đã rơi vào đó.” Lát sau, tin căn nhà vui thú của chàng bị cướp bóc lan ra giữa dân chúng, và họ từ mọi phía mọi nơi kéo đến với chàng, kẻ thì hả hê trước bất hạnh của chàng, người thì bênh vực chàng và chia buồn với nỗi sầu của chàng; trong khi chàng than khóc cho mình trước họ, và vì sầu mà không ăn thịt cũng chẳng uống nước. Khi chàng đang ngồi, hối hận về điều mình đã làm, kìa một tôi tớ của chàng bước vào và nói: “Có một người ở cửa hỏi tìm chủ nhân; và tôi không biết người ấy.” Người thợ kim hoàn đi ra gặp hắn và chào kẻ lạ ấy; người kia thì thầm với chàng: “Tôi có điều muốn nói riêng giữa hai chúng ta.” Bấy giờ chàng đưa hắn vào và hỏi hắn: “Ngươi có gì muốn nói với ta?” Người ấy nói: “Hãy đi cùng tôi đến căn nhà kia của ngài”; người thợ kim hoàn hỏi: “Vậy ngươi biết căn nhà kia của ta sao?” Người kia đáp: “Tôi biết mọi điều về ngài và tôi cũng biết điều nhờ đó Allah sẽ xua tan những sầu đau của ngài.” “Vậy ta tự nhủ” (người thợ kim hoàn tiếp) “‘Ta sẽ đi cùng hắn đến nơi hắn muốn’; rồi đi ra và bước mãi cho đến khi chúng ta đến căn nhà thứ hai của ta; và khi người ấy thấy nó, hắn nói với ta: ‘Nó không có cửa cũng không có người giữ cửa, và chúng ta không thể ngồi trong đó; vậy hãy đi cùng tôi đến một nơi khác.’ Rồi người ấy tiếp tục đi từ chỗ này sang chỗ khác (ta đi cùng hắn) cho đến khi đêm bắt kịp chúng ta. Tuy vậy ta không hề hỏi hắn về việc đang bàn, và chúng ta không ngừng bước đi cho đến khi tới vùng đất trống. Hắn cứ nói: ‘Theo tôi,’ rồi tăng bước thành chạy lúp xúp, trong khi ta chạy theo hắn, tự làm tim mình vững để đi tiếp, cho đến khi chúng ta đến dòng sông, nơi hắn xuống thuyền cùng ta, và người chèo thuyền chèo chúng ta sang bờ bên kia. Rồi hắn rời thuyền và ta rời theo sau hắn: hắn nắm tay ta và dẫn ta đến một con phố mà suốt đời ta chưa từng bước vào, cũng chẳng biết nó thuộc khu nào. Lát sau người ấy dừng trước cửa một ngôi nhà, mở cửa vào và khiến ta vào cùng hắn; sau đó hắn khóa cửa bằng một ổ khóa sắt,[FN#212] và dẫn ta dọc theo tiền sảnh, cho đến khi đưa ta đến trước mặt mười người như thể họ là một và cùng một người; họ là huynh đệ. Chúng ta chào họ” (người thợ kim hoàn tiếp) “và họ đáp lại lời chào của chúng ta, bảo chúng ta ngồi; vậy chúng ta ngồi xuống. Bấy giờ ta gần như chết vì mệt quá độ; nhưng họ mang nước hoa hồng đến và rảy lên mặt ta; sau đó họ cho ta uống một ly sherbet và đặt thức ăn trước mặt ta, một vài người trong họ ăn cùng ta. Ta tự nhủ: ‘Nếu trong thức ăn có điều gì hại, họ hẳn đã không ăn cùng ta.’ Vậy ta ăn, và khi chúng ta rửa tay xong, mỗi người trở lại chỗ của mình. Rồi họ hỏi ta: ‘Ngươi có biết chúng ta không?’ ta đáp: ‘Không! và trong đời ta chưa từng thấy các người; không, ta thậm chí còn không biết kẻ đã đưa ta đến đây.’ Họ nói: ‘Hãy kể tin tức của ngươi và tuyệt đối đừng nói dối.’ Ta đáp: ‘Vậy hãy biết rằng tình cảnh của ta kỳ lạ và việc của ta lạ lùng; nhưng các người có biết gì về ta chăng?’ Họ đáp: ‘Có! chính chúng ta đã lấy đồ đạc của ngươi đêm qua và mang bạn ngươi cùng nàng đang hát cho hắn đi.’ Ta nói: ‘Cầu Allah buông tấm màn của Ngài che các người! Bạn ta và nàng đang hát cho chàng ấy ở đâu?’ Họ chỉ tay về một phía và đáp: ‘Đằng kia, nhưng thề bởi Allah, ôi huynh đệ của chúng ta, bí mật về tình cảnh của họ không ai biết ngoài ngươi, vì từ lúc chúng ta đưa đôi ấy đến đây cho đến hôm nay, chúng ta chưa nhìn họ cũng chưa hỏi họ về tình trạng của họ, bởi thấy họ là những người có địa vị và phẩm giá. Nay chính điều này, và chỉ điều này, đã ngăn chúng ta giết họ: vậy hãy nói cho chúng ta sự thật về tình cảnh của họ, rồi ngươi sẽ được bảo đảm an toàn cho mình và cho họ.’ Khi ta nghe điều này” (người thợ kim hoàn tiếp) “ta gần như chết vì sợ hãi và kinh hoàng, và ta nói với họ: ‘Hãy biết, ôi các huynh đệ của ta, rằng nếu lòng hào hiệp bị thất lạc, nó sẽ không được tìm thấy ngoài nơi các người; và nếu ta có một bí mật mà ta sợ tiết lộ, chẳng lồng ngực nào ngoài của các người sẽ che giấu nó.’ Và ta cứ phóng đại lời ca ngợi họ theo lối này, cho đến khi ta thấy sự thẳng thắn và sẵn sàng nói ra sẽ có lợi cho ta hơn là che giấu sự thật; vậy ta kể cho họ tất cả những gì đã xảy đến với ta cho tới tận cuối câu chuyện. Khi họ nghe vậy, họ nói: ‘Và chàng trai này là Ali con trai Bakkar, còn phu nhân này là Shams al-Nahar?’ Ta đáp: ‘Đúng vậy.’ Bấy giờ điều này làm họ khổ tâm, và họ đứng dậy xin lỗi hai người ấy; rồi họ nói với ta: ‘Trong số đồ chúng ta lấy từ nhà ngươi, một phần đã tiêu dùng, nhưng đây là phần còn lại.’ Nói vậy, họ trả lại cho ta phần lớn đồ đạc, và họ cam kết sẽ đưa chúng về chỗ cũ trong nhà ta, cũng như hoàn trả cho ta phần còn lại ngay khi họ có thể. Tim ta được yên cho đến khi họ chia thành hai nhóm, một nhóm đi cùng ta và nhóm kia chống lại ta; rồi chúng ta rời căn nhà ấy, và tình cảnh của ta là như vậy. Nhưng còn về Ali bin Bakkar và Shams al-Nahar; họ gần như chết vì quá sợ, khi ta đến gần họ, chào họ và hỏi: ‘Điều gì đã xảy ra với cô hầu và hai thị nữ, và họ đã đi đâu?’, họ chỉ đáp: ‘Chúng ta không biết gì về họ.’ Rồi chúng ta bước đi không ngừng cho đến khi tới bờ sông nơi chiếc thuyền nằm đó; và tất cả chúng ta lên thuyền, vì đó chính là chiếc đã đưa ta qua sông ngày hôm trước. Người chèo thuyền chèo chúng ta sang bờ bên kia; nhưng chúng ta vừa lên bờ và ngồi xuống bờ sông nghỉ thì một toán kỵ binh bổ xuống chúng ta như chim ưng, vây chúng ta từ mọi phía mọi nơi; bấy giờ những tên cướp đi cùng chúng ta nhanh chóng bật dậy như kền kền, chiếc thuyền quay lại đón chúng, người chèo thuyền đưa chúng lên rồi đẩy ra giữa dòng, bỏ chúng ta lại trên bờ sông, không thể động đậy cũng không thể đứng yên. Rồi viên kỵ binh trưởng nói với chúng ta: ‘Các ngươi từ đâu đến!’; chúng ta bối rối không biết đáp sao, nhưng ta nói” (người thợ kim hoàn tiếp), “‘Những kẻ ngài thấy đi cùng chúng tôi là bọn vô lại; chúng tôi không biết chúng. Còn chúng tôi, chúng tôi là ca công, và chúng định đưa chúng tôi đi hát cho chúng; chúng tôi không thể thoát khỏi chúng ngoài bằng khéo léo và lời mềm mỏng; nên dịp này chúng thả chúng tôi đi, việc làm của chúng đúng như các ngài đã thấy.’ Nhưng họ nhìn Shams al-Nahar và Ali bin Bakkar rồi nói với ta: ‘Ngươi đã không nói thật; nhưng nếu chuyện ngươi kể là thật, hãy nói cho chúng ta biết các ngươi là ai và từ đâu đến; chỗ của các ngươi là gì và các ngươi ở khu nào.’ Ta không biết đáp họ thế nào, nhưng Shams al-Nahar đứng bật dậy, tiến đến gần viên Chỉ huy kỵ binh và nói riêng với ông; bấy giờ ông xuống ngựa và đặt nàng lên lưng ngựa, nắm dây cương rồi bắt đầu dẫn con vật của mình. Hai người của ông cũng làm như vậy với chàng trẻ tuổi, Ali bin Bakkar, và ta cũng được đối xử như thế. Viên Chỉ huy toán quân không ngừng đưa chúng ta đi, cho đến khi họ tới một phần nào đó của bờ sông, bấy giờ ông cất tiếng bằng một thứ biệt ngữ man rợ[FN#213] và có một số người cùng hai chiếc thuyền đến với chúng ta. Rồi viên Chỉ huy cho chúng ta lên một trong hai chiếc (ông cũng lên cùng chúng ta), trong khi những người còn lại của ông lên chiếc kia, và họ chèo đưa chúng ta đi cho đến khi chúng ta đến cung điện của Khalif, nơi Shams al-Nahar lên bờ. Trong suốt thời gian ấy, chúng ta chịu những cơn hấp hối của cái chết vì quá sợ, và họ không ngừng đi cho đến khi tới một nơi có đường về khu của chúng ta. Tại đây chúng ta lên bờ và bước đi, được vài kỵ binh hộ tống, cho đến khi tới nhà Ali bin Bakkar; và khi chúng ta vào trong, đoàn hộ tống từ biệt chúng ta rồi đi đường mình. Chúng ta ở đó, không thể cử động khỏi chỗ và không biết khác biệt giữa sáng và tối; chúng ta cứ ở trong tình trạng ấy cho đến bình minh ngày hôm sau. Và khi đêm lại xuống, ta tỉnh lại và thấy Ali bin Bakkar, cùng phụ nữ và nam nhân trong gia hộ chàng đang khóc quanh chàng, vì chàng nằm dài không còn cảm giác hay cử động. Một số người trong họ đến với ta, lay ta tỉnh hẳn và nói: ‘Hãy cho chúng ta biết điều gì đã xảy đến với con trai chúng ta, và nói vì sao chàng rơi vào tình cảnh này?’ Ta đáp: ‘Ôi mọi người, hãy nghe ta!’”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi lăm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người thợ kim hoàn đáp họ: “‘Ôi mọi người, hãy nghe lời ta và đừng gây cho ta phiền não và bực bội! mà hãy kiên nhẫn, rồi chàng sẽ tỉnh lại và tự kể cho các người câu chuyện của mình.’ Ta cứng rắn với họ và làm họ sợ một tai tiếng giữa ta và họ, nhưng trong khi chúng ta đang như vậy, kìa, Ali bin Bakkar động đậy trên thảm-giường của chàng, khiến bạn hữu chàng vui mừng và người lạ rút khỏi chàng; nhưng người nhà chàng cấm ta đi. Rồi họ rảy nước hoa hồng lên mặt chàng, và lát sau chàng hồi tỉnh, cảm nhận được không khí; bấy giờ họ hỏi chàng về tình cảnh của chàng, và chàng cố đáp lời họ nhưng lưỡi chàng không thể nói ngay, rồi ra dấu cho họ để ta về nhà. Vậy họ để ta đi, và ta đi ra, hầu như không tin rằng mình đã thoát, rồi trở về nhà mình, được hai người đỡ. Khi người nhà ta thấy ta như vậy, họ đứng dậy, bắt đầu thét lên và vả vào mặt; nhưng ta ra dấu bằng tay bảo họ im lặng, và họ im lặng. Rồi hai người ấy đi đường mình, còn ta ném mình xuống giường, nơi ta nằm phần còn lại của đêm và không thức dậy cho đến trước trưa, khi ta thấy người nhà tụ quanh mình và nói: ‘Tai họa nào đã xảy đến với người, và điều ác nào cùng sự độc hại của nó đã đánh gục người?’ Ta nói: ‘Mang cho ta thứ gì uống.’ Vậy họ mang đồ uống đến cho ta, ta uống bao nhiêu tùy ý rồi nói với họ: ‘Chuyện đã xảy ra thì đã xảy ra.’ Bấy giờ họ rời đi, còn ta gửi lời xin lỗi đến bạn bè mình, và hỏi xem có món hàng nào bị trộm khỏi căn nhà kia của ta đã được trả lại chưa. Họ đáp: ‘Có! một số đã trở lại; bằng chứng là một người đi vào và ném chúng xuống trong lối cửa, mà chúng tôi không thấy hắn.’ Vậy ta tự an ủi và ở lại chỗ mình hai ngày, không thể đứng dậy rời khỏi đó; lát sau ta lấy lại can đảm và đi đến nhà tắm, vì ta đã kiệt sức vì mỏi mệt và tâm trí rối bời vì Ali bin Bakkar và Shams al-Nahar, bởi suốt thời gian này ta không có tin tức gì về họ, cũng không thể đến nhà Ali, cũng không thể, vì sợ mạng mình, nghỉ ngơi trong nhà của chính ta. Và ta ăn năn với Allah Toàn Năng về điều ta đã làm, đồng thời ca ngợi Ngài vì sự an toàn của mình. Lát sau trí tưởng ta gợi ý cho ta đến nơi nọ nơi kia, gặp người đời và tự khuây khỏa; vậy ta đi bộ đến chợ vải và ngồi một lúc với một người bạn của ta ở đó. Khi ta đứng dậy ra đi, ta thấy một người đàn bà đứng đối diện ta; vậy ta nhìn nàng, và kìa! đó là nữ nô của Shams al-Nahar. Khi ta thấy nàng, thế gian tối sầm trong mắt ta và ta vội bước đi. Nàng theo ta, nhưng ta bị kinh hãi nắm lấy và chạy trốn nàng, mỗi khi ta nhìn nàng, cơn run lại đến với ta trong khi nàng đuổi theo ta, nói: ‘Dừng lại, để thiếp nói với chàng chút điều!’ Nhưng ta không để ý đến nàng và không ngừng bước cho đến khi tới một masjid, rồi nàng vào theo ta. Ta cầu hai rak‘ah; sau đó ta quay sang nàng và, thở dài, nói: ‘Nàng muốn gì?’ Nàng hỏi ta ra sao, và ta kể nàng nghe tất cả những gì đã xảy đến với ta và Ali bin Bakkar, rồi cầu nàng cho tin về chính nàng. Nàng đáp: ‘Hãy biết rằng khi thiếp thấy bọn cướp phá cửa chàng và xông vào, thiếp hết sức kinh hoàng, vì thiếp không nghi ngờ rằng chúng là quan quân của Khalif và sẽ bắt thiếp cùng phu nhân thiếp, rồi chúng ta sẽ tiêu vong ngay lập tức: vậy chúng tôi chạy trốn qua mái nhà, thiếp và các thị nữ; và, gieo mình xuống từ một nơi cao, chúng tôi đến chỗ một số người rồi nương náu nơi họ; họ đón nhận chúng tôi và đưa chúng tôi đến cung điện của Khalif, nơi chúng tôi về tới trong tình cảnh đáng thương nhất. Chúng tôi che giấu tình cảnh của mình và ở như trên than lửa cho đến khi đêm xuống, khi thiếp mở cửa sông và, gọi người chèo thuyền đã chở chúng tôi đêm trước, nói với hắn: “Ta không biết phu nhân của ta đã ra sao; vậy hãy đưa ta lên thuyền, để chúng ta đi tìm nàng trên sông: biết đâu ta bắt gặp tin gì về nàng.” Theo đó, hắn đưa thiếp lên thuyền và đi quanh cùng thiếp, không ngừng đi cho đến nửa đêm, khi thiếp thoáng thấy một chiếc thuyền đang đi về phía cửa nước, với một người chèo và một người khác đứng lên, còn một người đàn bà nằm phủ phục giữa hai người họ. Họ chèo tiếp cho đến khi tới bờ, khi ấy người đàn bà lên bờ, thiếp nhìn nàng, và kìa, đó là Shams al-Nahar. Bấy giờ thiếp ra khỏi thuyền và nhập cùng nàng, choáng váng vì vui mừng khi thấy nàng sau khi đã mất hết hy vọng tìm được nàng còn sống.’” —Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi sáu,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng nữ nô tiếp tục kể với người thợ kim hoàn: “‘Thiếp choáng váng vì vui mừng khi thấy nàng, sau khi đã mất hết hy vọng tìm được nàng còn sống. Khi thiếp đến gần nàng, nàng bảo thiếp trao cho người đã đưa nàng đến đó một nghìn đồng vàng; rồi chúng tôi đưa nàng vào, thiếp cùng hai thị nữ, và đặt nàng trên giường; nơi nàng trải qua đêm ấy trong tình trạng rối loạn dữ dội; và khi sáng rạng, thiếp cấm các nữ nhân và hoạn quan vào với nàng, thậm chí đến gần nàng trong suốt ngày ấy; nhưng sang ngày sau, nàng hồi tỉnh và hồi phục đôi chút, thiếp thấy nàng như thể vừa bước ra khỏi mồ. Thiếp rảy nước hoa hồng lên mặt nàng, thay y phục cho nàng và rửa tay chân cho nàng; thiếp không ngừng dỗ dành nàng cho đến khi khiến nàng ăn một chút và uống ít rượu, dù nàng chẳng có lòng nào với việc ấy. Ngay khi nàng đã hít thở không khí trong lành và sức lực bắt đầu trở lại, thiếp bắt đầu trách nàng, nói: “Ôi phu nhân của thiếp, xin hãy suy xét và thương lấy mình; người thấy điều gì đã xảy đến với chúng ta: chắc chắn, quá đủ và còn hơn quá đủ điều ác đã giáng xuống người; vì quả thật người đã gần kề cái chết.” Nàng nói: “Thề bởi Allah, ôi thiếu nữ tốt lành, quả thật cái chết đối với ta còn dễ chịu hơn điều đã xảy đến với ta; vì dường như ta sẽ bị giết và chẳng quyền năng nào có thể cứu ta. Khi bọn cướp đưa chúng ta khỏi nhà người thợ kim hoàn, chúng hỏi ta: ‘Ngươi là ai?’ và nghe ta đáp: ‘Ta là một nữ ca công,’ chúng tin ta. Rồi chúng quay sang Ali bin Bakkar và tra hỏi chàng: ‘Còn ngươi là ai và tình trạng của ngươi là gì?’ chàng đáp: ‘Ta thuộc hạng thường dân.’ Vậy chúng đưa chúng ta đi, và chúng ta không chống cự, đến nơi ở của chúng; chúng ta vội đi cùng chúng vì quá sợ; nhưng khi chúng đã đặt chúng ta xuống cùng chúng trong căn nhà, chúng nhìn kỹ ta, và thấy y phục ta mặc cùng các chuỗi ngọc và trang sức của ta, không tin lời ta kể về mình, rồi nói với ta: ‘Quả thật những chuỗi ngọc này không thuộc về nữ ca công nào; vậy hãy thành thật và nói cho chúng ta sự thật về tình cảnh của ngươi.’ Ta không đáp lại chúng bất cứ lời nào, tự nhủ: ‘Nay chúng sẽ giết ta vì y phục và đồ trang sức của ta’; và ta không nói một lời. Rồi bọn hung đồ quay sang Ali bin Bakkar, hỏi: ‘Còn ngươi, ngươi là ai và từ đâu đến? vì hình dạng ngươi không giống hạng thường dân.’ Nhưng chàng im lặng, còn chúng ta không ngừng giữ kín lời bàn và khóc, cho đến khi Allah làm tim bọn vô lại mềm lại vì thương xót và chúng nói với chúng ta: ‘Ai là chủ căn nhà nơi chúng ta ở?’ Chúng ta đáp: ‘Người kia, người thợ kim hoàn’; bấy giờ một tên trong chúng nói: ‘Ta biết hắn rất rõ và ta biết căn nhà khác nơi hắn sống, và ta sẽ nhận trách nhiệm đưa hắn đến với các ngươi ngay giờ này.’ Rồi chúng đồng ý đặt ta ở một nơi riêng và Ali bin Bakkar ở một nơi riêng, rồi nói với chúng ta: ‘Hai người hãy yên lòng và đừng sợ bí mật của mình bị tiết lộ; các người an toàn khỏi chúng ta.’ Trong khi ấy bạn đồng bọn của chúng đi khỏi rồi trở lại cùng người thợ kim hoàn, người đã cho chúng biết tình cảnh của chúng ta, và chúng ta nhập cùng chàng; sau đó một người trong bọn đem một chiếc thuyền đến, chúng đưa cả ba chúng ta lên đó và, chèo qua sông, đổ chúng ta lên bờ bên kia với nghi thức ít ỏi rồi đi đường chúng. Bấy giờ một đội tuần kỵ đi tới và hỏi chúng ta là ai; vậy ta nói với viên Chỉ huy đội tuần canh và bảo ông: “Ta là Shams al-Nahar, sủng phi của Khalif; ta đã uống rượu mạnh và ra ngoài thăm vài người quen trong các phu nhân của những Wazir, thì bọn vô lại đằng kia bắt gặp ta, tóm lấy ta và đưa ta đến nơi này; nhưng khi chúng thấy các ngài, chúng bỏ chạy nhanh hết sức có thể. Ta gặp những người này đi cùng chúng: vậy hãy hộ tống ta và họ đến một nơi an toàn, rồi ta sẽ đền đáp ngươi như ta có đủ khả năng làm.” Khi viên Chỉ huy đội tuần canh nghe lời ta, ông nhận ra ta và xuống ngựa, đặt ta lên ngựa của ông; hai người của ông cũng làm tương tự với Ali bin Bakkar. Vậy thiếp nói với nàng’ (nữ tỳ tiếp) ‘và trách việc làm của nàng, bảo nàng coi chừng, rồi nói với nàng: “Ôi phu nhân của thiếp, hãy có chút chăm lo cho mạng sống của người!” Nhưng nàng giận lời thiếp và quát vào thiếp; theo đó thiếp rời nàng và đi ra tìm chàng, nhưng không thấy chàng và không dám đến nhà Ali bin Bakkar; nên thiếp đứng canh chờ chàng, để hỏi chàng về chàng ấy và biết việc với chàng ấy thế nào. Và thiếp cầu xin ân của chàng, hãy nhận từ thiếp một ít tiền, vì chắc chàng đã mượn của bạn bè một phần đồ đạc, và vì chúng đã mất, chàng nên bồi hoàn cho người ta.’ Ta đáp: ‘Nghe là tuân lệnh! đi tiếp đi’; và ta đi cùng nàng cho đến khi chúng ta đến gần nhà ta, bấy giờ nàng nói với ta: ‘Hãy đợi ở đây cho đến khi thiếp trở lại với chàng.’”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi bảy,

TALE OF ALI BIN BAKKAR AND OF SHAMS AL-NAHAR.#30

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng sau khi nữ nô nói với người thợ kim hoàn: “‘Hãy đợi ở đây cho đến khi thiếp trở lại với chàng!’ nàng đi khỏi và lát sau trở về cùng tiền, rồi đặt nó” (người thợ kim hoàn tiếp) “vào tay ta, nói: ‘Ôi chủ nhân của thiếp, chúng ta sẽ gặp nhau ở nơi nào?’ Ta nói: ‘Ta sẽ khởi hành và đi đến nhà ta ngay, chịu những việc khó vì nàng và bày cách để nàng có thể vào được với chàng, vì lối vào ấy lúc này thật khó.’ Nàng nói: ‘Hãy cho thiếp biết một chỗ, nơi thiếp sẽ đến với chàng,’ và ta đáp: ‘Ở căn nhà kia của ta; ta sẽ đến đó ngay lập tức, sửa lại cửa nẻo và làm nơi ấy an toàn trở lại, từ nay chúng ta sẽ gặp nhau ở đó.’ Rồi nàng từ biệt ta và đi đường mình, trong khi ta mang tiền về nhà, đếm thấy là năm nghìn dinar. Vậy ta cho người nhà một phần trong đó, và với tất cả những ai đã cho ta mượn vật gì, ta bồi hoàn mất mát của họ; sau đó ta đứng dậy, đem các tôi tớ của ta đi đến căn nhà kia, nơi đồ đạc đã bị trộm; ta đem thợ xây, thợ mộc và thợ nề đến, họ khôi phục nó về trạng thái trước kia. Hơn nữa, ta đặt nữ nô da đen của ta ở đó và quên những tai họa đã xảy đến với ta. Rồi ta ra đi, tìm đến nhà Ali bin Bakkar, và khi tới nơi, các nô bộc của chàng đón ta, nói: ‘Chúa công của chúng tôi gọi tìm ngài đêm ngày, và đã hứa sẽ giải phóng bất cứ ai trong chúng tôi đưa được ngài đến với ngài; vì vậy họ đã lang thang khắp nơi tìm ngài nhưng không biết tìm ngài ở khu nào. Chủ nhân chúng tôi đang dần hồi sức, nhưng lúc thì ngài tỉnh lại, lúc lại tái mê; và mỗi khi tỉnh lại, ngài gọi tên ngài và nói: “Nhất định các ngươi phải đưa chàng đến với ta, dù chỉ trong nháy mắt”; rồi ngài lại chìm xuống cơn mê.’ Theo đó” (người thợ kim hoàn tiếp) “ta đi cùng người nô lệ và vào với Ali bin Bakkar; thấy chàng không thể nói, ta ngồi xuống bên đầu chàng, bấy giờ chàng mở mắt và thấy ta, khóc rồi nói: ‘Hoan nghênh và mừng chàng đến!’ Ta nâng chàng dậy và đặt chàng ngồi, ghì chàng vào ngực ta, chàng nói: ‘Hãy biết, ôi huynh đệ của ta, rằng từ giờ ta lên giường, ta chưa từng ngồi dậy cho đến lúc này: ngợi ca Allah vì ta lại thấy chàng!’ Và ta không ngừng chống đỡ cùng nâng chàng cho đến khi khiến chàng đứng trên đôi chân và bước được vài bước, sau đó ta thay áo cho chàng và chàng uống chút rượu: nhưng chàng làm tất cả điều này để làm vừa lòng ta. Rồi, thấy chàng hồi phục đôi chút, ta kể cho chàng nghe điều đã xảy đến giữa ta với nữ nô (không ai khác nghe ta), và nói với chàng: ‘Hãy vững lòng và can đảm, ta biết điều chàng chịu đựng.’ Chàng mỉm cười và ta thêm: ‘Quả thật chẳng điều gì sẽ xảy đến với chàng ngoài điều làm chàng vui mừng và chữa lành chàng.’ Bấy giờ chàng gọi thức ăn, và khi thức ăn được mang đến, chàng ra dấu cho các tiểu đồng, họ liền rút lui. Rồi chàng nói với ta: ‘Ôi huynh đệ của ta, chàng đã thấy điều gì xảy đến với ta chăng?’; và chàng xin lỗi ta, hỏi ta đã trải qua thế nào suốt thời gian ấy. Ta kể cho chàng mọi điều đã xảy đến với ta, từ đầu đến cuối, khiến chàng kinh ngạc; rồi chàng gọi tôi tớ và nói: ‘Mang cho ta những thứ này thứ kia.’ Họ mang vào những thảm mịn, rèm treo, ngoài ra còn bình chén bằng vàng và bạc, nhiều hơn số ta đã mất, và chàng trao tất cả cho ta; vậy ta sai đem chúng về nhà mình và ở lại với chàng đêm ấy. Khi ngày bắt đầu ngả vàng, chàng nói với ta: ‘Hãy biết rằng, cũng như mọi sự đều có tận cùng, tận cùng của tình yêu hoặc là cái chết hoặc là đạt được điều mong. Ta gần cái chết hơn, ước gì ta đã chết trước khi việc này xảy ra!; và nếu Allah không ban ân cho chúng ta, chúng ta đã bị phát giác và chịu nhục. Nay ta không biết điều gì sẽ cứu ta khỏi chỗ ngặt này, và nếu không vì ta sợ Allah, ta đã vội tự tìm cái chết; vì hãy biết, ôi huynh đệ của ta, rằng ta giống như chim trong lồng, và đời ta chắc chắn đã tiêu vong, bị nghẹt thở bởi những khốn cảnh đã xảy đến với ta; song nó có một kỳ hạn được lập vững và một thời điểm đã định.’ Rồi chàng khóc, rên rỉ và bắt đầu lặp lại,

‘Kẻ tình nhân đã đổ đủ lệ rồi, *
Khi sầu khổ xua hết nhẫn nại khỏi hồn phách hắn:
Chàng đã giấu những bí mật từng nối kết chúng ta, *
Nhưng nay mắt Ngài chia lìa điều Ngài đã nối!’”

Khi chàng dứt những câu thơ, người thợ kim hoàn nói với chàng: “Ôi chúa công của tôi, nay tôi định trở về nhà mình.” Chàng đáp: “Chẳng có hại gì trong việc ấy; hãy đi và trở lại với ta cùng tin tức càng nhanh càng tốt, vì chàng thấy tình cảnh của ta rồi.” “Vậy ta từ biệt chàng” (người thợ kim hoàn tiếp) “và về nhà, ta vừa ngồi xuống thì nữ tỳ đến, nghẹn vì khóc lâu. Ta hỏi: ‘Có chuyện gì?’; nàng đáp: ‘Ôi chúa công của thiếp, hãy biết rằng điều chúng ta lo sợ đã xảy đến với chúng ta; vì khi thiếp rời chàng hôm qua và trở về với phu nhân của mình, thiếp thấy nàng đang nổi giận với một trong hai thị nữ đã ở cùng chúng ta đêm nọ, và nàng truyền đánh cô ta. Cô gái ấy kinh sợ và bỏ chạy; nhưng khi nàng đang rời khỏi nhà, một trong những người giữ cửa và vệ binh cổng gặp nàng, bắt nàng lại và định đưa nàng trở về với phu nhân. Tuy nhiên, nàng đánh rơi vài lời gợi ý, vốn là sự tiết lộ đối với hắn; vậy hắn dỗ dành nàng, khơi cho nàng nói, và nàng lắm lời về chuyện của chúng ta, để hắn biết tất cả những việc chúng ta làm. Việc này đến tai Khalif, người truyền chuyển phu nhân thiếp, Shams al-Nahar, cùng mọi đồ đạc của nàng vào cung điện Khalif; và đặt hai mươi hoạn quan canh giữ nàng. Từ đó đến giờ này ngài chưa thăm nàng cũng chưa cho nàng biết nguyên do hành động của ngài, nhưng thiếp nghi đây là nguyên nhân; bởi thế thiếp sợ cho mạng mình và rất rối lòng, ôi chúa công của thiếp, không biết mình sẽ làm gì, hay sẽ dùng mưu nào để sắp đặt việc của mình và của nàng; vì nàng không có ai bên cạnh được tin cậy hơn hay đáng tin hơn chính thiếp.’”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng nữ nô nói với người thợ kim hoàn như vậy: “‘Và quả thật trong việc bí mật, phu nhân của thiếp không có ai bên cạnh được tin cậy hơn hay đáng tin hơn chính thiếp. Vậy hãy đi, ôi chủ nhân của thiếp, và vội đến với Ali bin Bakkar không chậm trễ; cho chàng biết điều này để chàng có thể phòng bị và canh chừng; và nếu việc bị phát giác, chúng ta sẽ tìm quanh một phương cách nào đó để cứu mạng mình.’ Nghe vậy” (người thợ kim hoàn tiếp), “ta bị nỗi rối loạn dữ dội nắm lấy và thế gian tối sầm trước mắt vì lời của nữ nô; và khi nàng sắp đi, ta nói với nàng: ‘Nàng nghĩ thế nào và phải làm gì?’ Nàng nói: ‘Lời khuyên của thiếp là chàng hãy vội đến với Ali bin Bakkar, nếu chàng quả thật là bạn của chàng ấy và mong cứu chàng ấy; việc của chàng là mang tin này đến cho chàng ấy ngay, không hề dừng hay chậm, chẳng kể xa gần; còn việc của thiếp là đánh hơi tin tức thêm.’ Rồi nàng từ biệt ta và đi khỏi: vậy ta đứng dậy, theo dấu nàng và tìm đến Ali bin Bakkar, thấy chàng đang tự ru ngủ mình bằng những kỳ vọng không thể. Khi chàng thấy ta trở lại với chàng quá sớm, chàng nói: ‘Ta thấy chàng đã trở lại với ta ngay lập tức và còn quá sớm.’ Ta đáp: ‘Hãy kiên nhẫn, và hãy cắt ngắn mối liên hệ điên rồ này, rũ khỏi lòng sự bận tâm mà chàng đang ở trong, vì đã xảy ra điều có thể đưa đến mất mạng và mất của của chàng.’ Nay khi chàng nghe vậy, chàng bối rối và xúc động mạnh; chàng nói với ta: ‘Ôi huynh đệ của ta, hãy kể cho ta điều gì đã xảy ra.’ Ta đáp: ‘Ôi chúa công của ta, hãy biết rằng những việc thế này thế nọ đã xảy ra, và chàng mất không còn lối cứu nếu chàng ở lại trong nhà này cho đến hết ngày.’ Nghe vậy, chàng choáng váng và linh hồn gần như rời khỏi thân; nhưng chàng hồi phục và nói với ta: ‘Ta phải làm gì, ôi huynh đệ của ta, và chàng có lời khuyên nào dâng cho ta?’ Ta đáp: ‘Lời khuyên của ta là chàng hãy lấy những gì có thể trong tài sản của mình và những nô lệ nào chàng tin cậy, rồi cùng chúng ta trốn đến một xứ khác ngoài xứ này, trước khi chính ngày hôm nay kết thúc.’ Và chàng nói: ‘Ta nghe và tuân lệnh.’ Vậy chàng đứng dậy, hoang mang và choáng váng như người lên cơn động kinh, lúc đi lúc ngã, và lấy bất cứ gì lọt vào tay mình. Rồi chàng viện cớ với gia hộ mình và trao cho họ những lời căn dặn cuối, sau đó chất hàng lên ba con lạc đà và cưỡi con vật của mình; ta cũng làm tương tự. Chúng ta bí mật ra đi trong ngụy trang, lên đường và không ngừng đi suốt phần còn lại của ngày ấy và cả đêm, cho đến gần sáng, khi chúng ta dỡ hàng, buộc chân lạc đà rồi nằm xuống ngủ. Nhưng chúng ta kiệt sức vì mỏi mệt và lơ là canh gác, nên bọn cướp ập xuống chúng ta, lột sạch tất cả những gì chúng ta có và giết nô lệ của chúng ta, khi những người ấy định đánh bật chúng đi, bỏ chúng ta lại trần trụi và trong cảnh đáng thương nhất, sau khi chúng đã lấy tiền của chúng ta, bắt súc vật của chúng ta đi và biến mất. Ngay khi chúng đi khỏi, chúng ta đứng dậy và bước tiếp cho đến khi sáng rạng, khi chúng ta đến một làng, đi vào đó và thấy một masjid, bèn nương náu trong đó vì chúng ta trần truồng. Vậy chúng ta ngồi trong một góc suốt ngày ấy và qua đêm kế tiếp không ăn không uống; rồi lúc rạng sáng chúng ta cầu lễ bình minh và lại ngồi xuống. Lát sau, kìa, một người đàn ông bước vào, chào chúng ta, cầu hai rak‘ah, sau đó quay sang chúng ta và nói: ‘Ôi mọi người, các ngươi là người lạ sao?’ Chúng ta đáp: ‘Vâng: bọn cướp đã phục kích chúng tôi và lột sạch chúng tôi, chúng tôi đến thị trấn này nhưng không biết ai ở đây để có thể nương nhờ.’ Ông nói: ‘Các ngươi nói sao? các ngươi có muốn về nhà với ta không?’ Và” (người thợ kim hoàn tiếp) “ta nói với Ali bin Bakkar: ‘Hãy đứng dậy và chúng ta đi cùng người này, chúng ta sẽ thoát khỏi hai điều ác; điều thứ nhất, nỗi sợ rằng có người biết chúng ta bước vào masjid này và nhận ra chúng ta, khiến chúng ta bị nhục; và điều thứ hai, chúng ta là người lạ, không có nơi trú.’ Chàng đáp một cách bất lực: ‘Tùy chàng muốn.’ Rồi người ấy lại nói với chúng ta: ‘Ôi những người nghèo khổ, hãy nghe ta và đi cùng ta đến chỗ của ta,’ và ta đáp: ‘Nghe và tuân lệnh’; bấy giờ ông cởi một phần áo của chính mình, che cho chúng ta, xin lỗi chúng ta và nói lời tử tế với chúng ta. Rồi chúng ta đứng dậy, theo ông đến nhà, và ông gõ cửa, bấy giờ một tiểu nô nhỏ đi ra, mở cửa cho chúng ta. Chủ nhà bước vào và chúng ta theo sau ông;[FN#214] ông gọi lấy một bó áo và vải muslin làm khăn đội đầu, trao cho mỗi chúng ta một bộ áo và một mảnh; vậy chúng ta mặc áo, quấn khăn và ngồi xuống. Lát sau, một thiếu nữ bước vào với một mâm thức ăn, đặt trước chúng ta, nói: ‘Hãy ăn.’ Chúng ta ăn một chút và nàng mang mâm đi; sau đó chúng ta ở cùng chủ nhà cho đến khi đêm xuống, khi Ali bin Bakkar thở dài và nói với ta: ‘Hãy biết, ôi huynh đệ của ta, rằng ta là người đang chết, không còn hy vọng sống, và ta muốn giao phó cho chàng một lời dặn: đó là khi chàng thấy ta chết, hãy đến với mẹ ta[FN#215] và báo cho bà biết ta đã qua đời, bảo bà đến đây để có mặt nhận những chuyến viếng tang và hiện diện lúc rửa xác ta, rồi hãy khuyên bà nhẫn nại chịu mất ta.’ Rồi chàng ngã xuống trong cơn ngất, và khi tỉnh lại, chàng nghe một thiếu nữ hát từ xa và làm thơ khi hát. Bấy giờ chàng chuyên tâm lắng tai nghe nàng và nghe giọng nàng; lúc này chàng vô thức, vắng khỏi thế gian, lúc sau lại tỉnh về với mình; rồi chàng khóc vì sầu và tang thương trước tình yêu đã xảy đến với chàng. Lát sau, chàng nghe thiếu nữ đang hát lặp lại những câu thơ đôi này,

‘Chia Lìa chạy đến chia đôi đôi tình nhân *
Tự do trò chuyện, hòa hợp trọn vẹn, tình bạn thân yêu:
Những Đêm với đổi dời đã cuốn chúng ta xa nhau, *
Ước Trời ta biết liệu chúng ta sẽ gặp lại:
Sau gặp gỡ, chia lìa cay đắng biết bao, *
Cầu người yêu đừng bao giờ chịu nỗi đau cay đắng ấy!
Cái nắm của chết, nghẹt thở của chết, kéo dài một giờ rồi hết, *
Nhưng đọa đày chia lìa mãi còn trong tim:
Giá chúng ta có thể lần ra nhà Chia Lìa đặt ở đâu, *
Chúng ta sẽ khiến Chia Lìa cũng nếm mùi chia lìa!’

Khi Ali con trai Bakkar nghe bài hát của thiếu nữ, chàng nức nở một tiếng và linh hồn rời khỏi thân xác. Ngay khi ta thấy chàng đã chết” (người thợ kim hoàn tiếp), “ta giao xác chàng cho chủ nhà chăm sóc và nói với ông: ‘Hãy biết rằng ta sẽ đến Baghdad để báo cho mẹ và thân tộc của chàng, để họ đến đây và lo việc chôn cất chàng.’ Vậy ta tìm đường về Baghdad và, đi đến nhà mình, thay áo; sau đó ta tìm đến nơi ở của Ali bin Bakkar. Bấy giờ khi tôi tớ của chàng thấy ta, họ đến với ta và hỏi ta về chàng, ta bảo họ xin phép cho ta vào gặp mẹ chàng. Bà cho ta phép; vậy ta bước vào, chào bà và nói: ‘Quả thật Allah điều khiển mạng sống của mọi loài thụ tạo bằng mệnh lệnh của Ngài, và khi Ngài đã định điều gì, không thể thoát khỏi việc nó được hoàn thành; cũng chẳng linh hồn nào rời đi ngoài theo phép của Allah, theo Sách đã khẳng định kỳ hạn đã định.’[FN#216] Qua những lời này, bà đoán con trai mình đã chết và khóc một trận dữ dội, rồi bà nói với ta: ‘Nhân danh Allah trên ngươi! hãy nói cho ta biết, con trai ta đã chết sao?’ Ta không thể đáp lời bà vì nước mắt và sầu khổ quá độ, và khi bà thấy ta như vậy, bà nghẹn vì khóc rồi ngã xuống đất trong cơn ngất. Ngay khi bà tỉnh lại, bà nói với ta: ‘Hãy kể cho ta nó đã ra sao với con trai ta.’ Ta đáp: ‘Cầu Allah đền bù dồi dào cho bà vì mất mát chàng!’ rồi ta kể cho bà tất cả những gì đã xảy đến với chàng từ đầu đến cuối. Sau đó bà hỏi: ‘Nó có giao cho ngươi lời dặn nào không?’; ta đáp: ‘Có,’ và kể cho bà điều chàng đã nói, thêm: ‘Hãy mau thi hành tang lễ của chàng.’ Khi nghe những lời này, bà lại ngất đi; và khi hồi tỉnh, bà chuyên tâm làm theo điều ta đã giao cho bà. Rồi ta trở về nhà mình; và khi ta đi dọc đường, buồn bã ngẫm về những ân tứ đẹp đẽ của tuổi trẻ chàng, kìa, một người đàn bà nắm lấy tay ta;”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm sáu mươi chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người thợ kim hoàn tiếp như sau:—“Một người đàn bà nắm lấy tay ta; và ta nhìn nàng, kìa! đó là nữ nô thường đến từ Shams al-Nahar, và nàng dường như bị sầu khổ làm tan nát. Khi nhận ra nhau, cả hai chúng ta đều khóc, không ngừng khóc cho đến khi đến nhà ta, và ta nói với nàng: ‘Nàng có biết tin về chàng trẻ tuổi, Ali bin Bakkar, không?’ Nàng đáp: ‘Không, thề bởi Allah!’; vậy ta kể cho nàng cách chàng chết và tất cả những gì đã qua, trong khi cả hai chúng ta cùng khóc; sau đó ta nói với nàng: ‘Phu nhân của nàng thế nào?’ Nàng nói: ‘Chủ nhân các tín đồ không chịu nghe một lời nào chống lại nàng; mà vì tình yêu lớn ngài dành cho nàng, ngài nhìn mọi hành động của nàng dưới ánh sáng thuận lợi, và nói với nàng: “Ôi Shams al-Nahar, nàng thân yêu với ta và ta sẽ chịu đựng nàng, sẽ đưa mũi kẻ thù của nàng đến đá mài.” Rồi ngài truyền dọn cho nàng một căn phòng trang hoàng bằng vàng và một phòng ngủ xinh đẹp, nàng ở cùng ngài trong mọi dễ chịu của đời sống và ân sủng cao. Nay xảy ra một ngày nọ, khi ngài ngồi uống rượu theo thói quen, với các sủng phi hiện diện, ngài bảo họ ngồi theo hàng bậc của mình và đặt Shams al-Nahar ngồi bên cạnh ngài. Nhưng nhẫn nại của nàng đã hết và sự rối loạn tăng gấp đôi trên nàng. Rồi ngài truyền một thiếu nữ hát: vậy nàng ấy cầm đàn lute, lên dây, gảy hợp âm và bắt đầu hát những vần này,

‘Một người thèm tình yêu ta và ta trao tất cả điều chàng thèm nơi ta, *
Và lệ trên má phản bội việc ta đã đến chỗ thuận theo thế nào:
Những giọt lệ, dường như, quen thuộc với tình cảnh chúng ta, *
Tiết lộ điều ta giấu, che giấu điều ta đã tiết lộ:
Làm sao ta hy vọng bí mật che kín tình yêu của mình, *
Thứ sức nặng đam mê luôn phơi bày không che phủ:
Cái chết, từ khi ta mất người yêu, đã trở nên ngọt với ta; *
Ước gì ta biết niềm vui của họ ra sao khi ta rời trường đời!

Nay khi Shams al-Nahar nghe những vần này do nữ nô hát, nàng không thể giữ chỗ ngồi; mà ngã xuống trong cơn ngất, bấy giờ Khalif ném chén khỏi tay và kéo nàng đến với ngài, kêu lớn; các thiếu nữ cũng kêu lên, Vương tử các Chân tín đồ lật nàng lại và lay nàng, rồi kìa, nàng đã chết. Khalif đau buồn trước cái chết của nàng bằng nỗi buồn dữ dội và truyền đập vỡ tất cả bình chén, đàn dulcimer[FN#217] và những nhạc cụ vui chơi cùng âm nhạc khác ở trong phòng; rồi mang thi thể nàng vào phòng riêng của ngài, ngài ở với nàng phần còn lại của đêm. Khi ngày rạng, ngài đặt nàng ra và truyền rửa xác, liệm nàng và chôn nàng. Ngài để tang nàng bằng tang thương dữ dội, và không hỏi về tình cảnh của nàng hay điều gì gây nên trạng thái của nàng. Và thiếp cầu xin chàng nhân danh Allah’ (thiếu nữ tiếp) ‘hãy cho thiếp biết ngày đoàn tang của Ali bin Bakkar đến, để thiếp có mặt trong lễ chôn cất chàng.’ Ta nói: ‘Về phần ta, nàng muốn thì có thể tìm ta ở đâu cũng được; nhưng nàng, nàng có thể được tìm ở đâu, và ai có thể đến với nàng nơi nàng ở?’ Nàng đáp: ‘Vào ngày Shams al-Nahar chết, Chủ nhân các tín đồ đã giải phóng tất cả nữ nhân của nàng, thiếp cũng nằm trong số ấy;[FN#218] và thiếp là một trong những người nay đang ở tại mộ, ở nơi như vậy.’ Vậy ta đứng dậy, đi cùng nàng đến nghĩa địa và thành kính viếng mộ Shams al-Nahar; sau đó ta đi đường mình và không ngừng chờ đợi đoàn tang của Ali bin Bakkar đến. Khi đoàn đến, dân Baghdad ra ngoài đón nó và ta ra ngoài cùng họ: và ta thấy thiếu nữ ấy giữa các nữ nhân, nàng là người than khóc lớn nhất trong họ, kêu gào và than vãn bằng một giọng xé ruột gan, làm tim đau nhói. Chưa từng thấy ở Baghdad một lễ tang nào đẹp hơn lễ tang của chàng; và chúng ta không ngừng theo sau thành đám đông cho đến khi tới nghĩa địa và chôn chàng trong lòng thương xót của Allah Toàn Năng; từ lúc ấy đến nay, ta không ngừng viếng mộ Ali con trai Bakkar và Shams al-Nahar. Vậy đó là câu chuyện của họ, và cầu Allah Toàn Năng thương xót họ!”[FN#219] Song câu chuyện của họ (Shahrazad tiếp) vẫn chưa kỳ diệu hơn chuyện của vua Shahriman. Nhà vua hỏi nàng: “Và chuyện của ngài là gì?”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp, về

TRUYỆN KAMAR AL-ZAMAN.

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#31

Rằng vào những thời xa xưa và những đời đã qua từ lâu, có một vị vua tên là Shahrimán,[FN#220] chủ nhân của nhiều quân binh, vệ sĩ và quan chức, ngài trị vì một số đảo nọ, được biết là các đảo Khálidán,[FN#221] nơi biên thùy đất Ba Tư. Nhưng ngài đã cao niên, xương cốt hao mòn, mà chưa được ban phúc có một người con trai, dẫu ngài có bốn vợ, đều là con gái các vua, và sáu mươi tần phi, mỗi người trong số ấy ngài quen nằm cùng một đêm theo lượt.[FN#222] Điều này gặm nhấm tâm trí ngài và khiến ngài bất an, đến nỗi ngài than phiền việc ấy với một trong các Wazir của mình, nói: “Quả thật ta sợ vương quốc của ta sẽ mất khi ta chết, vì ta không có con trai nối nghiệp.” Vị Đại thần đáp: “Ôi đức vua, biết đâu Allah sẽ còn khiến điều gì đó xảy ra; vậy hãy nương tựa vào Đấng Toàn Năng và chuyên cần cầu nguyện. Thần cũng khuyên rằng ngài hãy bày một yến tiệc và mời những người nghèo cùng kẻ túng thiếu đến dự, để họ ăn thức ăn của ngài; rồi hãy cầu xin Đức Chúa đoái ban cho ngài một người con trai; vì biết đâu trong những vị khách của ngài có một linh hồn chính trực mà lời cầu nguyện được chấp nhận; và nhờ đó ngài sẽ đạt điều mình mong.” Vậy nhà vua đứng dậy, làm lễ tẩy rửa nhỏ, và cầu hai rak‘ah,[FN#223] rồi ngài kêu cầu Allah với ý định tinh khiết; sau đó ngài gọi người vợ chính lên giường và nằm với nàng ngay. Nhờ ân của Thượng Đế, nàng thụ thai, và khi đủ tháng, nàng sinh một con trai, như trăng trong đêm rằm. Nhà vua đặt tên cho chàng là Kamar al-Zamán,[FN#224] vui mừng vì chàng bằng niềm vui tột độ và truyền trang hoàng thành phố để vinh danh chàng; vậy họ trang hoàng đường phố bảy ngày, trong khi trống đánh vang và các sứ giả mang tin mừng đi khắp nơi. Rồi các vú nuôi ướt và vú nuôi khô được chuẩn bị cho đứa trẻ, và chàng được nuôi dưỡng trong huy hoàng cùng khoái lạc, cho đến khi chàng đến tuổi mười lăm. Chàng lớn lên với sắc đẹp, vẻ đáng yêu và sự cân xứng vượt trội, và cha chàng yêu chàng tha thiết đến nỗi không thể chịu nổi việc xa chàng ngày hay đêm. Một ngày kia, ngài than phiền với một vị Đại thần của mình về tình yêu quá độ dành cho đứa con duy nhất, nói: “Ôi ngươi là Wazir, quả thật ta sợ cho con trai ta, Kamar al-Zaman, những đổi thay và tai biến xảy đến với con người, và ta muốn cưới vợ cho nó khi ta còn sống.” Wazir đáp: “Ôi đức vua, hãy biết rằng hôn nhân là một trong những hành động đạo đức đáng trọng nhất, và quả thật ngài sẽ làm tốt và đúng nếu cưới vợ cho con trai ngài khi ngài còn sống, trước khi đặt chàng làm Sultan.” Nghe vậy nhà vua phán: “Hãy đưa con trai ta Kamar al-Zaman đến đây”; vậy chàng đến và cúi đầu xuống đất trong khiêm cung trước thân phụ. “Kamar al-Zaman,” vua Shahriman nói, “quả thật ta muốn cưới vợ cho con và vui mừng vì con trong đời ta.” Chàng đáp: “Ôi phụ vương của con, xin biết rằng con không có ham muốn kết hôn, cũng chẳng thấy linh hồn mình nghiêng về đàn bà; vì về mưu chước và sự phản trắc của họ, con đã đọc nhiều sách và nghe nhiều lời, đúng như thi nhân nói,

‘Nay, nếu các người hỏi về đàn bà, ta đáp:—*
Trong việc của họ, ta là bậc thầy thuốc hiếm hoi từng trải!
Khi đầu nam nhân bạc đi và tiền của hắn vơi dần, *
Trong tình cảm của họ, hắn chẳng còn phần nào.’

Và một người khác nói:—

‘Hãy nổi loạn chống đàn bà, rồi ngươi sẽ càng phụng sự Allah hơn; *
Chàng trai trao dây cương cho đàn bà phải mất hết hy vọng
bay cao.
Họ sẽ ngăn hắn khi hắn tìm mưu lạ, Excelsior, *
Dẫu hắn lãng phí một nghìn năm trong nghiên cứu khoa học
và tri thức.’”

Và khi chàng dứt những vần thơ, chàng nói tiếp: “Ôi phụ vương của con, hôn phối là điều con sẽ không bao giờ thuận theo; không, dẫu con phải uống chén tử thần.” Khi Sultan Shahriman nghe những lời này từ con trai mình, ánh sáng hóa thành bóng tối trong mắt ngài và ngài đau buồn vì đó bằng nỗi buồn lớn.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi mốt,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi vua Shahriman nghe những lời này từ con trai mình, ánh sáng hóa thành bóng tối trong mắt ngài và ngài đau buồn vì con trai thiếu vâng phục chỉ dẫn của ngài trong việc hôn nhân; song, vì tình yêu lớn ngài dành cho chàng, ngài không muốn lặp lại ý muốn của mình và không nổi giận với chàng, mà vuốt ve chàng, nói lời đẹp với chàng và tỏ mọi thứ tử tế như vốn có xu hướng khơi dậy tình cảm. Trong suốt thời gian ấy, Kamar al-Zaman mỗi ngày một tăng thêm sắc đẹp, nét đáng yêu và duyên yêu đương; và nhà vua chịu đựng chàng suốt một năm cho đến khi chàng trở nên hoàn hảo trong hùng biện và trí tuệ thanh nhã. Mọi người đều bị quyến rũ bởi vẻ duyên của chàng; và mọi làn gió thổi qua đều mang tin về ân vẻ thanh nhã của chàng; cảnh đẹp của chàng là cám dỗ với kẻ yêu và là khu vườn khoái lạc với kẻ khát khao, vì chàng ngọt lời như mật, ánh sáng trên mặt chàng làm trăng rằm phải thẹn; chàng là mẫu mực của sự cân xứng, vẻ mê hoặc và phong thái quyến người; dáng chàng như cành liễu hay gậy mây, còn má chàng có thể thay thế hoa hồng hay hải quỳ đỏ. Tóm lại, chàng là đỉnh cao của hoàn mỹ, đúng như thi nhân đã nói về chàng,

“Chàng đến và họ kêu: ‘Nay cầu Allah được chúc phúc! *
Hãy ca ngợi Ngài, Đấng đã mặc cho linh hồn ấy áo đẹp dường này!’
Chàng là Vua của Sắc Đẹp nơi những kẻ đẹp tụ hội; *
Tất cả đều là Ryot[FN#225] của chàng, tất cả vâng lệnh chàng:
Sương môi chàng ngọt hơn mật trinh nguyên; *
Răng chàng là những hạt châu ép sát thành hai hàng:
Mọi duyên sắc đều tụ hội nơi một mình chàng, *
Và vẻ đáng yêu của chàng gieo bất an cho con người.
Sắc Đẹp viết trên đôi má ấy cho muôn cõi thấy *
‘Ta chứng rằng chẳng có gì tốt lành ngoài Ngài.’”[FN#226]

Khi năm ấy kết thúc, nhà vua gọi con trai đến và nói: “Ôi con trai ta, con không chịu nghe lời ta sao?” Bấy giờ Kamar al-Zaman ngã xuống vì kính trọng và hổ thẹn trước thân phụ, rồi đáp: “Ôi phụ vương của con, làm sao con lại không nghe lời người, khi Allah truyền cho con vâng lời người và không trái lời người?” Vua Shahriman đáp: “Ôi con trai ta, hãy biết rằng ta muốn cưới vợ cho con và vui mừng vì con khi ta còn sống, rồi đặt con làm vua trên cõi của ta trước khi ta chết.” Khi vị Hoàng tử nghe thân phụ thốt ra những lời này, chàng cúi đầu một lúc, rồi ngẩng lên và nói: “Ôi phụ vương của con, đây là việc con sẽ không bao giờ làm; không, dẫu con phải uống chén tử thần! Con biết chắc rằng Đấng Toàn Năng đã đặt việc vâng lời người thành một bổn phận trong tôn giáo; nhưng, nhân danh Allah trên người! xin đừng ép con trong việc hôn nhân này, cũng đừng tưởng rằng con sẽ kết hôn trong suốt đời mình; bởi con đã đọc sách của người xưa lẫn người nay, và đã biết mọi điều tai hại cùng khốn khổ xảy đến với họ bởi đàn bà và những mưu chước vô tận của họ. Và lời của thi nhân mới tuyệt hảo làm sao,

‘Kẻ nào bị lũ đàn bà dâm đãng bẫy lấy *
Sẽ chẳng bao giờ thấy giải thoát!
Dẫu hắn xây pháo đài nghìn tầng, *
Mà sức mạnh ghê gớm được tăng bởi tấm chì,[FN#227]
Sức của chúng cũng chẳng ích gì; *
Những pháo đài ấy chẳng có cơ may!
Đàn bà luôn hành xử bằng phản trắc *
Với xa và gần trên khắp mặt đất
Bằng những ngón tay nhúng máu Henna *
Và lọn tóc tết khiến cái nhìn hóa cuồng;
Và mi mắt được tô bằng Kohl *
Chúng bắt ta uống chén tai ương khốc liệt.’

Và một người khác nói mới tuyệt hảo làm sao,

‘Đàn bà, dẫu họ tự xưng trinh khiết thế nào, *
Là đồ thải bị diều hâu quăng nơi nào chúng muốn:
Đêm này lời nói và duyên thầm của họ là của ngươi, *
Đêm kia kẻ khác vui với bắp chân và cổ tay:
Giống quán trọ, từ đó sau đêm ngươi đi lúc rạng đông, *
Và một người khác trú vào mà ngươi chẳng hề hay.’”[FN#228]

Nay khi vua Shahriman nghe những lời này của con mình và biết ý nghĩa những câu thơ cùng trích dẫn thi ca của chàng, ngài không đáp, vì tình yêu quá độ dành cho chàng, mà lại tăng gấp đôi ân cần và tử tế với chàng. Ngài lập tức giải tán buổi chầu, và ngay khi buổi họp kết thúc, ngài triệu vị Đại thần của mình, đưa ông ra riêng và nói với ông: “Ôi ngươi là Wazir! hãy nói cho ta biết ta phải xử trí thế nào với con trai ta trong việc hôn nhân.”- -Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng nhà vua triệu vị Đại thần của mình; và, đưa ông ra riêng, nói với ông: “Ôi ngươi là Wazir, hãy nói cho ta biết ta phải làm gì với con trai ta trong việc hôn nhân. Quả thật ta đã hỏi ý ngươi về việc ấy và ngươi khuyên ta cưới vợ cho nó trước khi đặt nó làm vua. Ta đã nói với nó về hôn phối hết lần này đến lần khác mà nó vẫn trái lời ta; vậy ngươi, ôi Wazir, hãy lập tức khuyên ta nên làm gì.” Vị Đại thần đáp: “Ôi đức vua, hãy chờ thêm một năm nữa, và nếu sau đó ngài muốn nói với chàng về việc hôn nhân, thì đừng nói riêng với chàng, mà hãy nói với chàng vào một ngày chầu lớn, khi mọi Emir và Wazir đều hiện diện, cùng toàn thể quân đội đứng trước ngài. Và khi tất cả đã tụ hội đông đảo, bấy giờ hãy sai gọi con trai ngài, Kamar al-Zaman, và triệu chàng; khi chàng đến, hãy nêu với chàng chuyện hôn nhân trước mặt các Wazir, các Đại nhân, quan chức triều chính và các Đội trưởng; vì chắc chắn chàng sẽ hổ thẹn và khiếp sợ trước sự hiện diện của họ, sẽ không dám chống lại ý ngài.” Nay khi vua Shahriman nghe lời của Wazir, ngài vui mừng khôn xiết, thấy trước sự thành công trong kế hoạch, và ban cho ông một áo danh dự lộng lẫy. Rồi ngài kiên nhẫn với con trai mình thêm một năm nữa, trong khi mỗi ngày trôi qua trên chàng, Kamar al-Zaman lại tăng thêm sắc đẹp, nét đáng yêu, vẻ thanh nhã và duyên hoàn hảo, cho đến khi chàng gần hai mươi tuổi. Quả thật Allah đã khoác cho chàng áo choàng tuấn tú và đội cho chàng vương miện hoàn thiện: ánh mắt chàng mê hoặc hơn Hárút và Marút[FN#229], lối đùa của những cái nhìn quyến rũ còn khiến lạc hơn Tághút;[FN#230] đôi má chàng sáng như bình minh hồng đỏ, và hàng mi chàng xông bão như lưỡi sắc bén: sắc trắng của vầng trán chàng giống mặt trăng sáng rỡ, còn sắc đen của lọn tóc chàng như đêm âm u; eo chàng thon hơn tơ nhện[FN#231] và phần sau của chàng đầy đặn hơn hai gò cát, làm tim hóa thành Babel bởi sự mềm mại của chúng; nhưng eo chàng than phiền vì sức nặng của hông và thắt lưng; và vẻ duyên của chàng cướp hồn toàn thể nhân loại, đúng như một thi nhân nói trong những câu thơ đôi này,

“Ta thề bởi tua mi cong của chàng, bởi eo thon của chàng,
Bởi mũi lao mà phép mê hoặc của chàng gắn lông, phóng chết người qua
không trung;
Bởi dáng chàng tròn đầy đúng mực, bởi ánh nhìn sáng và
sắc của chàng
Bởi sắc đen khập khiễng của tóc chàng, và vầng trán trắng sáng
long lanh;
Bởi đôi mày chàng, vốn khước từ để người ngắm chúng
được ngủ,
Khi thì ra lệnh, khi thì cấm đoán, giữ quyền cai trị cao trên ta;
Bởi hoa hồng trên má chàng, mặt chàng tươi như vòng hoa sim
Đôi môi tulip của chàng, và những hạt châu tinh khiết giữ chỗ
răng chàng;
Bởi thân dáng cao quý của chàng, vươn lên đẹp đẽ theo đường cong đều
Đến nơi trên ngực nhô của chàng, hai quả lựu non dường như
trú ngụ
Bởi hông mềm mại chuyển động của chàng, eo thon, làn da như lụa,
Bởi tất cả những gì chàng cướp khỏi Hoàn Mỹ, và giữ xiềng trong hình dáng
mình;
Bởi lưỡi kiên định của chàng, bản tính chân thật và tuyệt hảo,
Bởi địa vị lớn lao, dòng sinh cao quý và huyết thống cao của chàng,
Xạ hương từ người yêu ta lấy trộm hương, kẻ thở xạ hương từ mọi
chi thể
Và mọi làn không khí thở long diên hương chẳng qua là hơi Zephyr
thổi qua chàng.
Mặt trời, ta nghĩ, mặt trời rộng sáng, trước người yêu ta nên cúi thấp
sợ hãi
Như chính người yêu ta vượt xa mảnh vụn nhỏ nhoi của
móng tay mình!”[FN#232]

Vậy vua Shahriman, sau khi chấp nhận lời khuyên của Wazir, chờ thêm một năm và một lễ hội lớn,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi ba,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Shahriman, sau khi chấp nhận lời khuyên của Wazir, chờ thêm một năm và một lễ hội lớn, một ngày chầu lớn khi đại sảnh tiếp kiến đầy các Emir, Wazir, Đại nhân trong triều đại, quan chức triều chính và những Đội trưởng quyền lực cùng sức mạnh. Bấy giờ ngài sai gọi con trai mình Kamar al-Zaman, chàng đến, hôn đất trước mặt ngài ba lần, rồi đứng trước thân phụ với hai tay để sau lưng, tay phải nắm tay trái.[FN#233] Rồi nhà vua nói với chàng: “Hãy biết, ôi con trai ta, rằng ta không sai gọi con trong dịp này và triệu con xuất hiện trước hội đồng này cùng tất cả quan chức triều chính đang chờ mệnh lệnh của chúng ta ở đây, ngoại trừ để ta đặt một mệnh lệnh lên con, trong đó con chớ trái lời ta; và mệnh lệnh của ta là con hãy kết hôn, vì ta có ý cưới cho con con gái của một vị vua và vui mừng vì con trước khi ta chết.” Khi vị Hoàng tử nghe chừng ấy từ thân phụ vương giả của mình, chàng cúi đầu xuống đất một lúc, rồi ngẩng lên nhìn cha, và lúc ấy bị sự ngu dại của tuổi trẻ cùng sự vô tri của thiếu niên thúc đẩy, đáp: “Còn về phần con, con sẽ không bao giờ kết hôn; không, dẫu con phải uống chén tử thần! Còn về người, người tuổi đã lớn mà trí lại nhỏ: chẳng phải người đã hai lần trước ngày hôm nay và trước dịp này hỏi con về việc hôn nhân, và con đã từ chối đồng ý sao? Quả thật người đã lẫn và không xứng cai quản một bầy cừu!” Nói vậy, Kamar al-Zaman buông tay khỏi sau lưng, xắn tay áo lên trên khuỷu trước mặt cha mình, đang trong cơn thịnh nộ; hơn nữa, chàng còn thêm nhiều lời với thân phụ, không biết mình nói gì trong cơn rối loạn tinh thần. Nhà vua bối rối và hổ thẹn, vì việc này xảy ra trước mặt các đại nhân và sĩ quan quân đội đã tụ họp trong một lễ hội cao trọng và một dịp triều chính; nhưng lát sau uy nghi của vương quyền chiếm lấy ngài, và ngài quát vào con trai, khiến chàng run rẩy. Rồi ngài gọi các vệ sĩ đang đứng trước mặt và phán: “Bắt nó!” Vậy họ tiến lên và đặt tay lên chàng, trói chàng lại, đưa chàng đến trước thân phụ; ngài truyền họ trói khuỷu tay chàng ra sau lưng và trong dáng ấy bắt chàng đứng trước sự hiện diện. Và vị Hoàng tử cúi đầu vì sợ hãi và lo ngại, trán cùng mặt chàng đọng đầy và lấp lánh mồ hôi; hổ thẹn và bối rối làm chàng khổ sở dữ dội. Bấy giờ cha chàng mắng nhiếc chàng, sỉ vả chàng và kêu lên: “Khốn cho ngươi, hỡi con của ngoại tình và đứa bú mớm của điều ghê tởm![FN#234] Sao ngươi dám đáp lại ta theo lối này trước các Đội trưởng và binh sĩ của ta? Nhưng cho đến nay chưa ai trừng phạt ngươi,”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi tư,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng vua Shahriman quát vào con trai mình, Kamar al-Zaman: “Sao ngươi dám đáp lại ta theo lối này trước các Đội trưởng và binh sĩ của ta? Nhưng cho đến nay chưa ai trừng phạt ngươi. Ngươi không biết rằng việc ngươi vừa làm, nếu do kẻ thấp hèn nhất trong thần dân của ta làm, cũng đã là một nỗi nhục đối với hắn sao?” Và nhà vua truyền các Mameluke tháo dây trói khuỷu tay cho chàng và giam chàng trong một trong các tháp canh của thành lũy. Vậy họ đưa vị Hoàng tử đi và đẩy chàng vào một tháp cũ, trong đó có một đại sảnh đổ nát và giữa nó là một giếng hoang, sau khi trước hết đã quét dọn nó, lau sạch các phiến đá sàn, đặt trong đó một trường kỷ trên đó họ trải một nệm, một tấm thảm da và một gối tựa; rồi họ đem đến một đèn lồng lớn và một ngọn nến sáp, vì nơi ấy tối, ngay cả ban ngày. Và cuối cùng các Mameluke dẫn Kamar al-Zaman đến đó, đặt một hoạn quan ở cửa. Khi mọi việc ấy xong, vị Hoàng tử ném mình xuống trường kỷ, hồn sầu nặng và tim trĩu nặng; tự trách mình và ăn năn vì cách cư xử tổn hại với cha mình, khi mà ăn năn chẳng ích gì cho chàng, rồi nói: “Allah nguyền rủa hôn nhân, kẻ đủ tuổi kết hôn và đàn bà đã cưới, tất cả đều là lũ phản trắc! Ước gì ta đã nghe lời cha và nhận một người vợ! Nếu ta làm vậy, hẳn đã tốt hơn cho ta so với nhà tù này.” Đó là việc xảy đến với chàng; còn về vua Shahriman, ngài vẫn ngồi trên ngai suốt ngày cho đến khi mặt trời lặn; rồi ngài đưa vị Đại thần ra riêng và nói với ông: “Hãy biết, ôi Wazir, rằng ngươi và chỉ ngươi là nguyên nhân của tất cả những việc đã xảy ra giữa ta và con trai ta bởi lời khuyên ngươi đã vui lòng bày ra; vậy nay ngươi khuyên ta làm gì?” Ông đáp: “Ôi đức vua, hãy để con trai ngài trong ngục thất trong thời gian mười lăm ngày: rồi hãy triệu chàng đến trước ngài và truyền chàng cưới vợ; chắc chắn chàng sẽ không trái lời ngài nữa.” —Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi lăm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng vị Wazir nói với vua Shahriman: “Hãy để con trai ngài trong ngục thất trong thời gian mười lăm ngày; rồi hãy triệu chàng đến trước ngài và truyền chàng cưới vợ; chắc chắn chàng sẽ không trái lời ngài nữa.” Nhà vua chấp nhận ý kiến của Wazir và nằm xuống ngủ đêm ấy, lòng rối bời vì con trai mình; bởi ngài yêu chàng bằng tình yêu tha thiết nhất vì ngài không có con nào khác ngoài chàng; và thói quen mỗi đêm của ngài là không ngủ, trừ sau khi đặt tay dưới cổ con trai. Vậy ngài qua đêm ấy trong phiền não và bất an vì vị Hoàng tử, trở mình từ bên này sang bên kia, như thể ngài bị đặt trên than gỗ Artemisia[FN#235]: vì ngài bị nghi hoặc và sợ hãi thắng lấy, giấc ngủ không thăm ngài suốt đêm dài ấy; mắt ngài tràn lệ và ngài bắt đầu lặp lại, ;

“Khi kẻ gièm pha ngủ yên, đêm của ta dài dặc; *
Một trái tim buồn đến thế trong cảnh chia lìa đã đủ cho ngươi;
Ta nói, khi đêm trong lo âu chậm chạp qua từng khoảnh khắc, *
‘Sao! không trở lại cho ngươi sao, ánh sáng mai tươi đẹp?’”

Và lời của một người khác,

“Khi ta thấy các sao Pleiad thoát khỏi ánh nhìn của chàng *
Và sao Bắc Cực rót cơn ngủ lên chàng;
Và các con gái của Quan Tài[FN#236] đi trong trang phục tang, *
Ta biết rằng bình minh không còn dành cho chàng nữa!”

Đó là tình cảnh của vua Shahriman; nhưng còn về Kamar al-Zaman, khi đêm phủ xuống chàng, hoạn quan đặt đèn lồng trước mặt chàng và thắp ngọn nến sáp, đặt nó vào chân nến; rồi đem cho chàng ít thức ăn. Vị Hoàng tử ăn một chút và không ngừng tự trách mình vì cách đối xử bất xứng với cha mình, tự nhủ: “Ôi linh hồn ta, ngươi không biết rằng con trai Adam là con tin của lưỡi mình, và lưỡi người là thứ ném hắn vào những hiểm nguy chết chóc sao?” Rồi mắt chàng tràn lệ và chàng than khóc điều mình đã làm, từ gan ruột đau đớn và tim nhức nhối, ăn năn bằng sự ăn năn quá độ về điều sai trái mà chàng đã sai trái với cha mình, và lặp lại,

“Tuổi trẻ đẹp sẽ chết vì vấp ngã của lưỡi: *
Vấp ngã của chân không gây hại đời người như thế:
Cái trượt của môi thường chặt phăng đầu, *
Trong khi cái trượt của chân chẳng hại ai lâu dài.”

Nay khi chàng ăn xong, chàng xin thứ để rửa tay, và khi Mameluke đã rửa tay chàng sạch khỏi những tàn dư của thức ăn, chàng đứng dậy, làm lễ tẩy rửa Wuzu và cầu các lễ lúc mặt trời lặn cùng đêm xuống, gộp chúng làm một; sau đó chàng ngồi xuống.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi sáu,

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#32

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Hoàng tử Kamar al-Zaman đã cầu các lễ lúc mặt trời lặn và đêm xuống (gộp chúng làm một), chàng ngồi xuống bên giếng và bắt đầu đọc kinh Koran, chàng lặp lại “Chương Con Bò”, “Nhà Imrán”, và “Y. S.;” “Đấng Từ Bi”, “Chúc phúc thay Đức Vua”, “Độc Nhất” và “Hai Bùa Hộ Mệnh”[FN#237]; rồi chàng kết thúc bằng lời chúc phúc, cầu xin và bằng câu: “Ta tìm nơi nương náu nơi Allah khỏi Satan bị ném đá.”[FN#238] Rồi chàng nằm xuống trên trường kỷ phủ nệm satin từ thành al-Ma'adin, hai mặt như nhau và nhồi lụa thô của Irak; dưới đầu chàng là một gối nhồi lông đà điểu. Và khi sẵn sàng ngủ, chàng cởi áo ngoài, tháo quần túi, nằm xuống trong một áo sơ mi bằng vải mỏng mịn như sáp; chàng đội một khăn đầu bằng vải Marázi[FN#239] xanh thiên thanh; và trong thời điểm ấy, trong dáng ấy, Kamar al-Zaman giống như vầng trăng tròn khi mọc vào đêm thứ mười bốn. Rồi, kéo một tấm phủ lụa qua đầu, chàng ngủ thiếp đi, đèn lồng cháy dưới chân và nến sáp ở trên đầu; chàng không ngừng ngủ suốt một phần ba đầu của đêm, không biết điều gì đang ẩn trong lòng Tương Lai dành cho chàng, và Đấng Toàn Tri đã định điều gì cho chàng. Bấy giờ, như Định Mệnh và Vận Số muốn, cả tháp lẫn đại sảnh đều cũ kỹ và đã bị bỏ hoang nhiều năm; trong đó có một giếng La Mã do một Jinniyah thuộc dòng giống Iblis[FN#240] Kẻ Bị Nguyền Rủa cư ngụ, tên là Maymúnah, con gái Al-Dimiryát, một vua lừng danh của loài Jánn.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng tên của Jinniyah được nói đến là Maymunah, con gái Al-Dimiryat; một vua lừng danh của loài Jann. Và khi Kamar al-Zaman còn ngủ cho đến một phần ba đầu của đêm, Maymunah trồi lên khỏi giếng La Mã và đi về phía trời cao, định nghe trộm cuộc trò chuyện của các thiên thần; nhưng khi nàng tới miệng giếng, nàng thấy một ánh sáng chiếu trong tháp, trái với lệ thường; và vì đã cư ngụ ở đó nhiều năm mà chưa thấy điều gì giống vậy, nàng tự nhủ: “Chưa bao giờ ta chứng kiến điều gì như thế này”; và, hết sức kinh ngạc về việc ấy, nàng quyết rằng ắt phải có nguyên nhân nào đó. Vậy nàng đi về phía ánh sáng và thấy hoạn quan đang ngủ trong cửa; bên trong, nàng thấy một trường kỷ được trải, trên đó là một hình người, với nến sáp cháy ở đầu và đèn lồng ở chân; nàng kinh ngạc khi thấy ánh sáng và lén tiến về phía nó từng chút một. Rồi nàng xếp cánh lại, đứng bên giường và, kéo tấm phủ ra, để lộ gương mặt Kamar al-Zaman. Nàng bất động trọn một giờ trong thán phục và kinh ngạc; vì ánh rạng từ dung nhan chàng vượt cả ánh nến; mặt chàng tỏa sáng như hạt châu; mi mắt chàng lơi lả như mắt linh dương; con ngươi của chàng đen thẳm và rực sáng[FN#241]; má chàng hồng đỏ; lông mày chàng cong như cung và hơi thở chàng tỏa mùi xạ hương, đúng như thi nhân nói về chàng,

“Ta hôn chàng: càng tối thêm những con ngươi ấy,[FN#242] vốn *
Quyến rũ linh hồn ta, và đôi má ửng sắc hồng hơn;
Ôi tim, nếu kẻ gièm pha dám cho rằng có *
Kẻ giống chàng trong các vực sâu, hãy nói: ‘Hãy đem hắn đến đây!’”

Nay khi Maymunah thấy chàng, nàng đọc công thức ngợi ca,[FN#243] và nói: “Chúc phúc thay Allah, Đấng Tạo Hóa tốt nhất!”; vì nàng thuộc loài Jinn chân tín; và nàng đứng một lúc nhìn gương mặt chàng, kêu lên và ghen tị với tuổi trẻ vì sắc đẹp cùng vẻ đáng yêu của chàng. Và nàng tự nhủ: “Thề bởi Allah! Ta sẽ không gây hại cho chàng, cũng không để ai hại chàng; không, ta sẽ chuộc chàng khỏi mọi điều ác, vì gương mặt xinh đẹp này chỉ đáng để người đời chiêm ngưỡng và vì nó mà ca ngợi Đức Chúa. Nhưng làm sao gia đình chàng lại nỡ lòng bỏ chàng ở chốn hoang vắng này, nơi nếu một trong các Márid của chúng ta bắt gặp chàng vào giờ này, chắc chắn hắn sẽ giết chàng.” Rồi Ifritah Maymunah cúi xuống trên chàng và hôn chàng giữa hai mắt, lát sau lại kéo tấm vải phủ lên mặt chàng và che kín; sau đó nàng dang cánh và vút lên không, bay lên cao. Và sau khi bay cao khỏi vòng đại sảnh, nàng không ngừng vỗ cánh xuyên qua không trung và bay lên trời cho đến khi đến gần tầng trời của thế gian này, tầng thấp nhất trong các tầng trời. Và kìa, nàng nghe tiếng cánh vỗ ồn ào xé vòm trời, rồi lần theo âm thanh ấy, khi đến gần, nàng thấy tiếng động phát ra từ một Ifrit tên Dahnash. Vậy nàng sà xuống hắn như chim cắt, và khi hắn nhận ra nàng, biết nàng là Maymunah, con gái vua loài Jinn, hắn sợ nàng và các cơ sườn hắn run lên; hắn khẩn xin nàng khoan dung, nói: “Tôi khẩn cầu nàng bằng Danh Cực Đại và Uy Nghi, và bằng bùa cao quý nhất khắc trên nhẫn ấn của Solomon, xin đối đãi tử tế với tôi và đừng hại tôi!” Khi nàng nghe những lời này, tim nàng nghiêng về hắn và nàng nói: “Quả thật, ngươi khẩn cầu ta, hỡi kẻ bị nguyền rủa, bằng một lời khẩn cầu hùng mạnh. Tuy nhiên, ta sẽ không thả ngươi đi cho đến khi ngươi nói cho ta biết ngươi từ đâu đến vào giờ này.” Hắn đáp: “Ôi Công chúa, hãy biết rằng tôi đến từ tận cùng đất Trung Hoa và từ giữa các đảo, và tôi sẽ kể nàng nghe một điều kỳ diệu tôi đã thấy đêm nay. Nếu nàng thấy lời tôi là thật, xin hãy để tôi đi đường mình và viết cho tôi một văn bằng dưới tay nàng, có thủ ký của nàng, rằng tôi là kẻ được nàng phóng thích, để không đạo quân Jinn nào, dù thuộc tầng trên bay trên trời, hay tầng dưới đi trên đất, hay những kẻ lặn dưới nước, ngăn cản hay cản trở tôi.” Maymunah đáp: “Và ngươi đã thấy gì đêm nay, hỡi kẻ nói dối, hỡi kẻ bị nguyền rủa! Hãy kể cho ta không dối trá, và đừng nghĩ thoát khỏi tay ta bằng lời giả; vì ta thề với ngươi bằng những chữ khắc trên mặt nhẫn ấn của Solomon con trai David (cầu bình an đến với cả hai Người!), nếu lời ngươi không thật, ta sẽ tự tay nhổ lông ngươi, lột da ngươi và bẻ xương ngươi!” Ifrit Dahnash con trai Shamhúrish[FN#244] Kẻ Bay nói: “Tôi chấp nhận, ôi phu nhân của tôi, những điều kiện này.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Dahnash nói với Maymunah như vậy: “Tôi chấp nhận, ôi phu nhân của tôi, những điều kiện này.” Rồi hắn tiếp: “Hãy biết, ôi nữ chủ của tôi, rằng đêm nay tôi đến từ các đảo của Nội Hải thuộc vùng Trung Hoa, là cõi của vua Ghayúr, chúa tể của các Đảo, các Biển và Bảy Cung Điện. Ở đó tôi thấy một con gái của ngài, người mà Allah chưa tạo ai đẹp hơn trong thời nàng: tôi không thể vẽ nàng ra cho nàng, vì lưỡi tôi sẽ bất lực trong việc miêu tả nàng xứng với lời ca ngợi; nhưng tôi sẽ kể cho nàng một phần nào vẻ duyên của nàng như một cách đến gần. Nay tóc nàng giống những đêm chia lìa và phân ly, còn mặt nàng giống những ngày đoàn tụ và khoái lạc; và thi nhân đã nói rất đúng khi vẽ nàng,

‘Một đêm nàng xõa tóc từ đầu, *
Cho thấy bốn đêm gấp lại chạy vào một đêm
Và nàng quay dung nhan về phía trăng, *
Và hai vầng trăng hiện cùng một khoảnh khắc.’

Nàng có mũi như mép lưỡi gươm đánh bóng, má như rượu đỏ tía hay hải quỳ đỏ máu: môi nàng sáng như san hô và carnelian, và nước miệng nàng ngọt hơn rượu lâu năm; vị của nó có thể dập tắt nỗi đau lửa Địa Ngục. Lưỡi nàng chuyển động bằng trí khôn bậc cao và lời đáp sắc sảo sẵn sàng: ngực nàng là cám dỗ với tất cả ai thấy nó (vinh quang thuộc về Đấng đã nắn nó và hoàn tất nó!); nối với đó là hai cánh tay trên mịn màng tròn trịa; đúng như thi nhân Al-Walahán[FN#245] nói về nàng,

‘Nàng có cổ tay mà, nếu vòng không giữ lại, *
Sẽ chảy khỏi tay áo nàng thành mưa bạc.’

Nàng có đôi vú như hai khối cầu ngà, mà từ vẻ sáng của chúng, các vầng trăng mượn ánh sáng; và một bụng nhỏ có những làn sóng nhẹ như một tấm vải dệt hoa bằng thứ lanh Ai Cập mịn nhất do người Copt làm ra, với nếp gấp như những cuộn sách xếp lại, kết thúc nơi một vòng eo thon vượt mọi sức tưởng tượng; đặt trên phần sau như một gò cát gió vun, buộc nàng phải ngồi khi nàng muốn đứng dậy, và đánh thức nàng khi nàng muốn ngủ, đúng như thi nhân nói về nàng và miêu tả nàng,

‘Nàng có cặp hông nối bởi sợi eo, *
Cặp hông bạo ngược trên ta và cả nàng nữa
Chúng làm ý nghĩ ta mê loạn mỗi khi ta nghĩ đến chúng, *
Và đè nặng nàng mỗi khi nàng muốn đứng lên.’[FN#246]

Và phần sau ấy được nâng bởi đùi mịn màng tròn trịa và bởi bắp chân như cột ngọc trai, và tất cả điều này đặt trên hai bàn chân hẹp, mảnh và nhọn như lưỡi giáo,[FN#247] công trình của Đấng Che Chở và Đấng Báo Đền; tôi kinh ngạc làm sao, với sự nhỏ bé của chúng, chúng có thể nâng đỡ những gì ở trên. Nhưng tôi cắt ngắn lời ca ngợi vẻ duyên của nàng, vì sợ mình dài dòng.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm bảy mươi chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Ifrit Dahnash bin Shamhurish nói với Ifritah Maymunah: “Quả thật tôi cắt ngắn lời ca ngợi vì sợ mình dài dòng.” Nay khi Maymunah nghe lời miêu tả nàng Công chúa ấy, sắc đẹp và vẻ đáng yêu của nàng, nàng đứng im lặng trong kinh ngạc; bấy giờ Dahnash tiếp: “Cha của thiếu nữ đẹp này là một vị vua hùng mạnh, một kỵ sĩ dữ dội, đêm ngày chìm trong tranh đấu và chiến trận; người chẳng sợ chết, chẳng ngại kẻ thù thoát đi, vì ngài là bạo chúa quyền lực và kẻ chinh phục không thể cưỡng, chúa tể của quân binh, các đạo quân, lục địa và đảo, thành phố và làng mạc, tên ngài là vua Ghayur, Chúa tể các Đảo, các Biển và Bảy Cung Điện. Nay ngài yêu con gái mình, cô thiếu nữ tôi đã miêu tả với nàng, bằng tình yêu tha thiết nhất, và vì thương yêu nàng, ngài đã chất gom kho báu của mọi vua và dùng chúng xây cho nàng bảy cung điện, mỗi cung theo một kiểu khác; cung thứ nhất bằng pha lê, cung thứ hai bằng cẩm thạch, cung thứ ba bằng thép Trung Hoa, cung thứ tư bằng đá quý và ngọc giá cao, cung thứ năm bằng sứ và mã não nhiều màu cùng mặt nhẫn, cung thứ sáu bằng bạc và cung thứ bảy bằng vàng. Ngài đã lấp đầy bảy cung điện bằng đủ loại đồ đạc xa hoa, thảm và rèm treo lụa quý, bình chén vàng bạc cùng mọi thứ vật dụng mà các vua cần; và ngài truyền con gái mình ở trong từng cung theo lượt trong một mùa nhất định của năm; tên nàng là Công chúa Budur.[FN#248] Nay khi sắc đẹp của nàng được biết đến, tên tuổi và danh tiếng nàng lan rộng trong các nước lân cận, mọi vị vua đều sai người đến với cha nàng để cầu hôn nàng, và ngài hỏi ý nàng về việc ấy, nhưng nàng ghét chính từ hôn phối bằng một lối ghê tởm và nói: ‘Ôi phụ vương của con, con không có ý định kết hôn; không, tuyệt nhiên không; vì con là một phu nhân chủ quyền và một nữ vương tối cao cai trị nam nhân, và con không muốn một người đàn ông sẽ cai trị con.’ Và nàng càng từ chối các lời cầu hôn, sự nóng lòng của các kẻ cầu hôn càng tăng, và mọi Vương tộc của Nội Đảo Trung Hoa đều gửi quà tặng và vật quý hiếm đến cha nàng kèm thư xin cưới nàng. Vậy ngài lại nhiều lần thúc nàng bằng lời khuyên về chuyện thành hôn; nhưng nàng luôn đáp lại ngài bằng từ chối, cho đến cuối cùng nàng quay sang ngài trong giận dữ và kêu: ‘Ôi phụ vương của con, nếu người còn nhắc hôn nhân với con một lần nữa, con sẽ vào phòng mình, cầm một thanh gươm, cắm chuôi xuống đất, đặt mũi vào eo mình; rồi con sẽ đè xuống nó cho đến khi nó xuyên ra từ lưng con, và như vậy giết chết chính mình.’ Nay khi nhà vua nghe những lời này của nàng, ánh sáng hóa thành bóng tối trong mắt ngài và tim ngài cháy vì nàng như bằng ngọn lửa, bởi ngài sợ e nàng sẽ tự giết mình; ngài đầy bối rối về chuyện của nàng và các vua cầu hôn nàng. Vì vậy ngài nói với nàng: ‘Nếu con đã quyết không kết hôn và không còn cách nào khác, hãy thôi việc đi lại ra vào.’ Rồi ngài đặt nàng trong một ngôi nhà, nhốt nàng trong một phòng, chỉ định mười bà già làm giám mẫu canh giữ nàng, và cấm nàng ra ngoài đến Bảy Cung Điện; hơn nữa, ngài làm như thể mình phẫn nộ với nàng và gửi thư cho mọi vị vua, báo cho họ biết rằng nàng đã bị loài Jinn đánh trúng cơn điên; và nay đã một năm từ khi nàng bị cách biệt như vậy.” Rồi Ifrit Dahnash tiếp tục, nói với Ifritah Maymunah: “Còn tôi, ôi phu nhân của tôi, mỗi đêm tôi đến với nàng và lấy đầy phần mình bằng cách nuôi mắt trên gương mặt nàng, rồi hôn nàng giữa hai mắt: tuy vậy, vì tình yêu của tôi dành cho nàng, tôi không làm hại nàng cũng không cưỡi lên nàng, bởi tuổi trẻ nàng đẹp và vẻ duyên nàng vượt trội: mọi người thấy nàng đều tự ghen cho mình vì nàng. Vì vậy tôi khẩn cầu nàng, ôi phu nhân của tôi, hãy quay lại cùng tôi và nhìn sắc đẹp, vẻ đáng yêu, vóc dáng và sự hoàn hảo của tỷ lệ nơi nàng; rồi sau đó, nếu nàng muốn, hãy trừng phạt tôi hay bắt tôi làm nô lệ; và đạt ý nàng, vì việc truyền và cấm thuộc về nàng.” Nói vậy, Ifrit Dahnash cúi đầu về phía đất và rủ cánh xuống; nhưng Maymunah cười trước lời hắn, nhổ vào mặt hắn và đáp: “Cô gái mà ngươi lải nhải ấy là gì ngoài một mảnh sành dùng để lau sau khi tiểu tiện?[FN#249] Faugh! Faugh! Thề bởi Allah, hỡi kẻ bị nguyền rủa, ta tưởng ngươi có chuyện kỳ diệu nào để kể cho ta hay tin lạ nào để báo cho ta. Sẽ ra sao nếu ngươi được thấy người yêu của ta? Quả thật, đêm nay ta đã thấy một chàng trai mà nếu ngươi thấy dù chỉ trong mộng, ngươi sẽ tê liệt vì thán phục và nước dãi sẽ chảy khỏi miệng ngươi.” Ifrit hỏi: “Và chàng trai ấy là ai, là gì?”; nàng đáp: “Hãy biết, ôi Dahnash, rằng đã xảy đến với chàng trai ấy điều giống như ngươi kể đã xảy đến với nữ chủ của ngươi; vì cha chàng đã nhiều lần thúc chàng kết hôn, nhưng chàng từ chối, cho đến cuối cùng thân phụ chàng nổi giận vì bị chống đối và giam chàng trong tháp nơi ta ở: và đêm nay ta trồi lên, thấy chàng.” Dahnash nói: “Ôi phu nhân của tôi, hãy cho tôi thấy chàng trai này, để tôi xem chàng có thật sự đẹp hơn nữ chủ của tôi, Công chúa Budur, hay không; vì tôi không thể tin rằng người giống nàng còn sống trong thời đại này của chúng ta.” Maymunah đáp: “Ngươi nói dối, hỡi kẻ bị nguyền rủa, hỡi kẻ xui xẻo nhất trong các Márid và hèn hạ nhất trong các Satan![FN#250] Ta chắc rằng người giống người yêu của ta không có trong thế gian này.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Ifritah Maymunah nói như vậy với Ifrit Dahnash: “Ta chắc rằng người giống người yêu của ta không có trong thế gian này! Ngươi điên sao mà sánh người yêu của ngươi với người yêu của ta?” Hắn nói: “Nhân danh Allah trên nàng, ôi phu nhân của tôi, hãy quay lại cùng tôi và nhìn nữ chủ của tôi, rồi sau đó tôi sẽ cùng nàng đi nhìn người yêu của nàng.” Nàng đáp: “Nhất định phải như vậy, hỡi kẻ bị nguyền rủa, vì ngươi là quỷ xảo quyệt; nhưng ta sẽ không đi cùng ngươi, cũng không để ngươi đi cùng ta, trừ theo điều kiện của một cuộc cược như thế này. Nếu người yêu mà ngươi yêu và khoe khoang mạnh mẽ kia đẹp hơn người của ta mà ta đã nhắc đến, người ta yêu và khoe khoang, thì món cược sẽ là của ngươi thắng ta; nhưng nếu người yêu của ta đẹp hơn, món cược sẽ là của ta thắng ngươi.” Dahnash Ifrit nói: “Ôi phu nhân của tôi, tôi nhận cuộc cược này của nàng và hài lòng với nó; vậy hãy đi cùng tôi đến các Đảo.” Maymunah nói: “Không! vì nơi ở của người yêu ta gần hơn nơi ở của người yêu ngươi: nó ở ngay dưới chúng ta; vậy hãy xuống cùng ta để xem người yêu của ta, sau đó chúng ta sẽ đi nhìn nữ chủ của ngươi.” “Tôi nghe và tuân lệnh,” Dahnash nói. Vậy họ hạ xuống đất và đáp xuống đại sảnh trong tháp; rồi Maymunah đặt Dahnash bên giường và, đưa tay ra, kéo tấm phủ lụa khỏi mặt Kamar al-Zaman, khi dung nhan chàng lấp lánh, chói sáng, lung linh và tỏa rạng như mặt trời mọc. Nàng nhìn chàng một lát, rồi đột ngột quay sang Dahnash, nói: “Hãy nhìn đi, hỡi kẻ bị nguyền rủa, và đừng là kẻ hèn nhất trong đám điên; ta là một thiếu nữ, vậy mà tim ta đã bị chàng phục kích.” Vậy Dahnash nhìn vị Hoàng tử và chăm chú ngắm chàng thật lâu, rồi lắc đầu, nói với Maymunah: “Thề bởi Allah, ôi phu nhân của tôi, nàng có thể được lượng thứ; nhưng vẫn còn một điều khác cần xét, ấy là trạng thái nữ khác với nam. Bởi quyền năng Allah, người yêu này của nàng trong sắc đẹp, vẻ đáng yêu, duyên dáng và hoàn hảo giống nữ chủ của tôi hơn mọi vật được tạo ra; và như thể cả hai đều được đúc giống nhau trong khuôn vẻ đẹp.” Nay khi Maymunah nghe những lời này, ánh sáng hóa thành bóng tối trong mắt nàng, và nàng giáng cho hắn một cú tát bằng cánh dữ dội trên đầu, gần như kết liễu hắn. Rồi nàng nói với hắn: “Ta khẩn cầu ngươi, bởi ánh sáng của dung nhan vinh quang của chàng, hãy đi ngay, hỡi kẻ bị nguyền rủa, và đưa đến đây nữ chủ của ngươi, kẻ ngươi yêu mê muội và ngu ngốc đến vậy, rồi mau chóng trở lại để chúng ta đặt đôi ấy cạnh nhau và nhìn cả hai khi họ nằm ngủ bên nhau; khi ấy sẽ hiện rõ cho chúng ta ai là người đẹp hơn và xinh đẹp hơn trong hai người. Nếu ngươi không vâng ta ngay khoảnh khắc này, hỡi kẻ bị nguyền rủa, ta sẽ phóng tia lửa của ta vào ngươi bằng lửa của ta và thiêu ngươi; phải, ta sẽ xé ngươi thành mảnh và ném ngươi vào sa mạc, để ngươi thành gương cho kẻ ở nhà và khách lữ hành!” Dahnash nói: “Ôi phu nhân của tôi, tôi sẽ làm theo mệnh lệnh của nàng, vì tôi biết chắc rằng nữ chủ của tôi đẹp hơn và ngọt ngào hơn.” Nói vậy, Ifrit bay đi và Maymunah bay cùng hắn để canh giữ hắn. Họ vắng mặt một lúc và lát sau trở lại, mang theo thiếu nữ, người mặc áo lót bằng lụa Venetian mịn, có viền kép bằng vàng và được thêu viền bằng kiểu thêu tinh xảo nhất, trên đầu hai tay áo thêu những câu thơ đôi này,

“Ba việc ngăn nàng đến thăm chúng ta, trong nỗi sợ *
Kẻ ghen ghét gièm pha đáng hận cùng đám mật thám thuê của hắn:
Ánh sáng rực của vầng trán, tiếng leng keng của trang sức, *
Và hương tinh chất tố giác mỗi khi nàng thử đi:
Dẫu nàng giấu trán bằng mép tay áo, và để *
Trang sức ở nhà, nàng sẽ che giấu hương thơm mình
thế nào?”[FN#251]

Và Dahnash cùng Maymunah không ngừng mang thiếu nữ ấy cho đến khi đưa nàng vào đại sảnh và đặt nàng bên cạnh chàng trai Kamar al-Zaman.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi mốt,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Ifrit Dahnash và Ifritah Maymunah không ngừng mang Công chúa Budur cho đến khi họ hạ xuống và đặt nàng trên trường kỷ bên cạnh Kamar al-Zaman. Rồi họ mở mặt cả hai ra, và họ giống nhau hơn hết thảy người đời, người này với người kia, như thể là song sinh hay một anh em trai và em gái duy nhất; quả thật họ là một cám dỗ với kẻ mộ đạo, đúng như thi nhân Al-Mubín nói về họ,

“Ôi tim! chớ để tình yêu của ngươi bị giam trong một người, *
Kẻo ngươi vì mê đắm hay khinh thường mà tiêu tan:
Hãy yêu mọi người đẹp, và ngươi sẽ tìm thấy nơi họ *
Nếu người này mất, người kia sẽ được cho ngươi.”

Và một người khác nói,

“Mắt ta thấy hai người nằm trên đất; *
Ta đã yêu cả hai, nếu trên đôi mắt này họ nằm!”

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#33

Vậy Dahnash và Maymunah nhìn họ một lúc, rồi hắn nói: “Thề bởi Allah, ôi phu nhân của tôi, thật tốt đẹp! Nữ chủ của tôi chắc chắn đẹp hơn.” Nàng đáp: “Không phải vậy, người yêu của ta đẹp hơn; khốn cho ngươi, ôi Dahnash! Ngươi mù mắt và mù tim sao, đến nỗi không thể rời khỏi mỡ béo? Ngươi muốn che giấu sự thật sao? Ngươi không thấy sắc đẹp, vẻ đáng yêu, vóc dáng thanh tú và sự cân xứng của chàng sao? Xéo cho ngươi, hãy nghe điều ta định nói để ca ngợi người yêu của ta, và nếu ngươi là kẻ yêu chân thật với nàng ngươi yêu, thì hãy làm điều tương tự cho nàng ngươi yêu.” Rồi nàng hôn Kamar al-Zaman hết lần này đến lần khác giữa hai mắt và ứng khẩu bài tụng ca này,

“Việc này là sao? Vì sao kẻ trách cứ lại kiêu căng mắng nhiếc chàng?
Điều gì sẽ an ủi tim ta vì chàng, kẻ chỉ là một cành mảnh mai?

Chàng có mắt do Tự Nhiên điểm Kohl[FN#252], mê hoặc xa gần;
Khỏi tình yêu thuần khiết kiểu Platon[FN#253] dành cho nó, ta nghĩ chẳng ai được thoát!

Những ánh nhìn ấy, hung hiểm như quân Thổ cướp bóc, gây cho tim sự tàn phá
Mà thanh gươm cong sắc nhất nơi đường cong cũng chưa từng gây nên.

Chàng đặt lên ta gánh nặng tình yêu nặng nhất, trong khi ta cảm thấy
Mình yếu đến nỗi dưới sức nặng chiếc áo mỏng ta cũng nghiêng ngả.

Tình ta dành cho chàng, như chàng biết rõ, là thói quen, và ngọn lửa của ta
Là bản tính; với mọi kẻ khác, tất cả tình yêu ta dâng đều giả dối:

Nay nếu tim ta giống tim chàng, ta sẽ chẳng bao giờ nói Không;
Chỉ thân hình hao mòn của ta giống eo chàng mảnh mai duyên dáng:

Xéo thay kẻ trong áo Sắc Đẹp nổi danh vì duyên như trăng,
Và được miệng người đời gọi là kỳ quan của bộ tộc mình!

‘Chàng là hạng người nào’ (những kẻ mắng mỏ và trách cứ hỏi)
‘Mà vì chàng tim nàng khổ sở đến thế?’ Ta chỉ kêu: ‘Hãy miêu tả!’

Ôi trái tim tôi bằng đá của chàng! hãy học nơi dáng mềm chịu của chàng
Và thân hình uốn cong để ban ân cho ta và thuận theo sự đồng ý.

Ôi Hoàng tử Tuyệt Sắc của ta, chàng có một Giám quản tại chỗ[FN#254]
Làm ta phiền muộn, và lại một chàng Hầu phòng có sự sai trái chẳng hề nguôi.

Quả thật kẻ đã nói rằng mọi vẻ đáng yêu
Đều bị nhốt trong Joseph là nói dối: trong duyên sắc của chàng có bao nhiêu Joseph!

Các Genii sợ ta khi ta đứng lên và đối mặt nói thẳng;
Nhưng gặp chàng, trái tim run rẩy của ta tỏ rõ hổ thẹn và kinh hoàng.

Ta mang vẻ ghét bỏ và quay khỏi chàng trong kinh sợ,
Nhưng càng tỏ ghét bỏ, chàng càng đòi thêm tình yêu nơi ta;

Mái tóc đen như huyền ấy! Vầng trán luôn phóng ánh sáng rạng ngời ấy! Đôi mắt ấy nơi trắng chen đen![FN#255] Khung thân yêu dấu, thanh nhã ấy!”

Khi Dahnash nghe thơ mà Maymunah nói để ca ngợi người yêu của nàng, hắn vui mừng tột độ và kinh ngạc quá đỗi.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Ifrit Dahnash nghe thơ mà Maymunah nói để ca ngợi người yêu của nàng, hắn run lên vì quá vui và nói: “Nàng đã ca tụng người yêu của nàng trong khúc hát và quả thật nàng đã làm tốt trong việc ngợi ca kẻ nàng yêu! Và không còn cách nào khác ngoài việc đến lượt tôi cũng phải làm hết sức để làm nổi danh nữ chủ của tôi, và đọc ít câu để vinh danh nàng.” Rồi Ifrit đi đến bên Phu nhân Budur; và hôn nàng giữa hai mắt, nhìn Maymunah rồi nhìn Công chúa yêu dấu của mình và đọc những vần sau, dẫu hắn không có tài thi ca,

“Vì tình yêu dành cho nàng đẹp của ta, họ giận dữ mắng ta; *
Bất công vì ngu dốt, phải, bất công nhất thay!
Ôi hãy rộng ban ân huệ cho kẻ điên vì tình, người mà *
Vị giận của nàng và nỗi chia lìa sẽ giết chết:
Quả thật vì yêu, ta ướt đẫm bằng lệ trách móc, *
Trách đến mức mi mắt ta chảy máu, nàng có thể nói vậy:
Điều ta chịu vì yêu chẳng lạ, điều lạ là *
Có ai còn biết cái “ta” của ta khi nàng vắng mặt:
Đoàn tụ của chúng ta sẽ là bất hợp pháp nếu ta nghi ngờ *
Tình yêu nàng, hay tim nghiêng về nàng Mai nào khác.”

Và lại những lời này:—

“Ta nuôi mắt trên nơi họ ở bên sườn thung lũng, *
Và ta bị giết, còn kẻ giết ta[FN#256] đã thử quay đi:
Ta đã uống rượu sầu, và xuống hai má ta *
Lệ múa theo khúc hát của người dẫn lạc đà:
Vì phúc đoàn tụ ta cố gắng, dẫu chắc rằng, *
Trong Budur và Su'ad mọi hạnh phúc của ta sẽ ở lại:[FN#257]
Ta không biết trong ba thứ, thứ nào khiến ta phải than nhiều nhất, *
Vậy hãy nghe chúng được đếm trước khi ngươi quyết:
Những Kiếm sĩ là mắt nàng, kẻ Cầm thương là dáng *
hình nàng, hay những Lọn tóc giáp vòng che trán nàng.
Nàng nói (và ta hỏi nàng điều gì về những người *
ở trong thành hay cưỡi nơi hoang mạc[FN#258])
Với ta, ‘Thiếp ở trong tim chàng, hãy nhìn đó!’ *
Ta nói, ‘Tim ta ở đâu, ôi ở đâu? ôi ở đâu?’”

Khi Maymunah nghe những dòng này từ Ifrit, nàng nói: “Ngươi đã làm tốt, ôi Dahnash! Nhưng hãy nói, ai trong hai người đẹp hơn?” Hắn đáp: “Nữ chủ Budur của tôi đẹp hơn người yêu của nàng!” Maymunah kêu: “Ngươi nói dối, hỡi kẻ bị nguyền rủa. Không, người yêu của ta đẹp hơn người yêu của ngươi!” Nhưng Dahnash vẫn khăng khăng: “Người của tôi đẹp hơn.” Và họ không ngừng cãi vã, thách thức lời nhau cho đến khi Maymunah quát Dahnash và sắp ra tay dữ dội với hắn, nhưng hắn hạ mình trước nàng và làm mềm lời mình, nói: “Xin đừng để sự thật làm nàng đau buồn, và chúng ta hãy thôi cuộc nói này, vì mọi điều chúng ta nói đều nhằm làm chứng có lợi cho người yêu của mình; đúng hơn, mỗi bên chúng ta hãy rút lời khẳng định và tìm một người sẽ phán xét công bằng giữa chúng ta xem ai trong hai người đẹp hơn; và chúng ta sẽ theo phán quyết của người ấy.” “Ta đồng ý với điều này,” nàng đáp, rồi giậm chân xuống đất, bấy giờ từ đó trồi lên một Ifrit chột một mắt, lưng gù và da ghẻ lở, với hốc mắt rạch dọc ngang trên mặt.[FN#259] Trên đầu hắn có bảy cái sừng, bốn lọn tóc rơi xuống đến gót; tay hắn như chĩa cỏ và chân như cột buồm, móng tay như vuốt sư tử, chân như móng lừa hoang.[FN#260] Khi Ifrit ấy trồi lên khỏi đất và thấy Maymunah, hắn hôn đất trước mặt nàng rồi, đứng chắp tay sau lưng, nói: “Ý muốn của nàng là gì, ôi nữ chủ của tôi, ôi con gái của Đức Vua tôi?”[FN#261] Nàng đáp: “Ôi Kashkash, ta muốn ngươi phán xử giữa ta và tên Dahnash bị nguyền rủa này.” Và nàng cho hắn biết sự việc từ đầu đến cuối, bấy giờ Ifrit Kashkash nhìn mặt chàng trai rồi nhìn mặt cô gái; thấy họ đang nằm ngủ, ôm nhau, mỗi người đặt một tay dưới cổ người kia, giống nhau trong sắc đẹp và vẻ đáng yêu, ngang nhau trong duyên dáng và mỹ lệ. Marid nhìn họ hồi lâu, kinh ngạc trước vẻ đẹp của họ; và sau khi quan sát cẩn thận cả hai, hắn quay sang Maymunah và Dahnash, rồi đọc những câu thơ đôi này.

“Hãy đi, thăm nàng ngươi yêu, và đừng màng
Lời những kẻ gièm pha thốt ra, lũ thô bỉ ghen tị
Chẳng bao giờ có thể thuận cho tình yêu. Ôi! chắc Đấng Từ Bi
Chưa từng tạo điều gì đẹp hơn để ngắm nhìn,
Hơn hai tình nhân yêu nhau trong vòng tay nhau,
Nói đam mê của họ trong một cái ôm lặng câm.
Khi tim đã quay về tim, những kẻ ngu muốn chia lìa họ
Chỉ đánh vô ích vào thép lạnh. Vậy khi ngươi tìm được
Một người thuần khiết, trọn vẹn là của ngươi, hãy nhận trái tim chân thật của nàng,
Và sống chỉ vì nàng. Ôi! ngươi, kẻ trách cứ
Những người trúng tình vì tình yêu của họ, hãy thôi lời nói,
Làm sao ngươi chữa được một tâm trí đã bệnh?”[FN#262]

Rồi hắn lại quay sang Maymunah và Dahnash, nói với họ: “Thề bởi Allah, nếu các người muốn sự thật, ta nói công bằng với các người rằng đôi này ngang nhau về sắc đẹp, vẻ đáng yêu, duyên hoàn hảo và mỹ lệ, cũng chẳng thể phân biệt giữa họ vì họ là nam và nữ. Nhưng ta có một ý khác, đó là chúng ta đánh thức từng người theo lượt, mà người kia không biết, và ai si tình hơn sẽ bị xem là thấp hơn về vẻ đẹp và nét đáng yêu.” Maymunah nói: “Sự tính liệu này đúng,” và Dahnash nói: “Ta đồng ý với điều này.” Rồi Dahnash biến mình thành hình dạng một con bọ chét và cắn Kamar al-Zaman, bấy giờ chàng giật mình tỉnh giấc trong kinh sợ.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi ba,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Dahnash biến mình thành hình dạng một con bọ chét và cắn Kamar al-Zaman, khiến chàng giật mình tỉnh giấc trong kinh sợ, rồi chà chỗ bị cắn là cổ mình và gãi mạnh vì đau nhói. Rồi quay nghiêng sang, chàng thấy nằm bên mình một vật có hơi thở ngọt hơn xạ hương và da mềm hơn kem. Vì điều này chàng hết sức kinh ngạc, chàng ngồi dậy và nhìn thứ nằm cạnh mình; khi thấy đó là một thiếu nữ như viên ngọc châu tròn, hay mặt trời rực sáng, hay một vòm trông từ xa trên một bức tường xây đẹp; vì nàng cao năm thước, dáng như chữ Alif[FN#263], ngực cao và má hồng; đúng như thi nhân nói về nàng,

“Bốn điều chẳng bao giờ hội cùng, trừ phi là *
Để công phá gan ruột ta và làm đổ máu ta:
Trán trắng như ngày và tóc đen như đêm *
Má hồng đỏ và môi tràn đầy nụ cười.”

Và một người khác cũng nói,

“Một vầng Trăng nàng mọc, một cành Liễu nàng lay, *
Thở hương Long diên, và nhìn, một Linh dương:
Dường như nỗi sầu cầu hôn tim ta và thắng lấy *
Và khi nàng bước đi, nó vội vào đó trú ngụ!”

Và khi Kamar al-Zaman thấy Phu nhân Budur, con gái vua Ghayur, cùng sắc đẹp và nét mỹ miều của nàng, nàng đang ngủ, mặc áo lót bằng lụa Venetian, không có quần lót ngoài, trên đầu đội khăn thêu vàng nạm đá quý: tai nàng đeo đôi hoa tai lấp lánh như các chòm sao, quanh cổ là một chuỗi ngọc châu tròn, cỡ độc nhất vô song, vượt khỏi khả năng của bất cứ vị vua nào. Khi thấy vậy, lý trí chàng bối rối và nhiệt tự nhiên bắt đầu khuấy động trong chàng; Allah đánh thức trong chàng ham muốn giao hoan và chàng tự nhủ: “Điều gì Allah muốn, điều ấy sẽ thành, và điều Ngài không muốn sẽ chẳng bao giờ thành!” Nói vậy, chàng đưa tay ra và, xoay nàng lại, cởi cổ áo lót của nàng; rồi hiện lên trước mắt chàng là ngực nàng, với đôi vú như hai khối cầu ngà; bấy giờ khuynh hướng của chàng dành cho nàng tăng gấp đôi và chàng ham muốn nàng bằng ham muốn nồng cháy tột độ. Chàng muốn đánh thức nàng nhưng nàng không tỉnh, vì Dahnash đã làm giấc ngủ của nàng nặng nề; vậy chàng lay nàng và chuyển động nàng, nói: “Ôi người yêu của ta, hãy thức dậy và nhìn ta; ta là Kamar al-Zaman.” Nhưng nàng không tỉnh, cũng chẳng động đầu; bấy giờ chàng cân nhắc tình cảnh của nàng hồi lâu và tự nhủ: “Nếu ta đoán đúng, đây là thiếu nữ mà cha ta muốn cưới cho ta và suốt ba năm qua ta đã từ chối nàng; nhưng Inshallah!—nếu Allah muốn—ngay khi trời sáng, ta sẽ nói với ngài: ‘Hãy cưới nàng cho con, để con hưởng nàng.’”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi tư,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zaman tự nhủ: “Thề bởi Allah, khi ta thấy bình minh, ta sẽ nói với thân phụ: ‘Hãy cưới nàng cho con để con hưởng nàng’; và ta sẽ không để nửa ngày trôi qua trước khi sở hữu nàng và lấy đầy phần mình từ sắc đẹp cùng vẻ đáng yêu của nàng.” Rồi chàng cúi xuống Budur để hôn nàng, khiến Jinniyah Maymunah run lên và xấu hổ, còn Dahnash, Ifrit ấy, thì như sắp bay lên vì vui. Nhưng khi Kamar al-Zaman sắp hôn nàng trên miệng, chàng hổ thẹn trước Allah, quay đầu đi và ngoảnh mặt, nói với tim mình: “Hãy nhẫn nại.” Rồi chàng suy nghĩ một lúc và nói: “Ta sẽ nhẫn nại; biết đâu cha ta, khi ngài nổi giận với ta và đưa ta vào nhà tù này, đã đem thiếu nữ của ta đến và đặt nàng nằm bên cạnh ta để thử ta bằng nàng, và có thể đã căn dặn nàng đừng dễ tỉnh dậy khi ta gọi nàng, rồi có thể đã nói với nàng: ‘Bất cứ điều gì Kamar al-Zaman làm với con, hãy cho ta biết’; hoặc có lẽ thân phụ ta đứng ẩn ở nơi nào đó, từ đó (bản thân không bị thấy) ngài có thể thấy mọi điều ta làm với thiếu nữ này; và ngày mai ngài sẽ mắng ta và kêu: ‘Sao lại thế, ngươi nói, Ta không có ý định kết hôn; vậy mà ngươi đã hôn và ôm thiếu nữ kia?’ Vì vậy ta sẽ giữ mình, kẻo hổ thẹn trước thân phụ; và điều đúng đắn, hợp lẽ phải làm là không chạm vào nàng lúc này, thậm chí không nhìn nàng, ngoại trừ lấy từ nàng thứ gì đó sẽ làm dấu hiệu cho ta và kỷ vật về nàng; để một dấu vết nào đó tồn tại giữa ta và nàng.” Rồi Kamar al-Zaman nâng tay thiếu nữ và lấy từ ngón út của nàng một chiếc nhẫn ấn trị giá khổng lồ, vì mặt nhẫn là một viên ngọc quý, quanh đó khắc những câu thơ đôi này,

“Đừng tưởng rằng ta quên lời hứa của người, *
Dẫu sự lỗi hẹn của người kéo dài;
Hãy rộng lượng, ôi chúa công của ta, nghiêng về phía ta; *
Biết đâu miệng và má người, đôi môi này được hôn:
Thề bởi Allah, ta sẽ chẳng bao giờ rời bỏ người *
Dẫu người vượt qua ranh giới của tình yêu.”

Rồi Kamar al-Zaman lấy chiếc nhẫn ấn khỏi ngón út của Nữ vương Budur và đeo vào tay mình; rồi, quay lưng lại với nàng, đi ngủ.[FN#264] Khi Jinniyah Maymunah thấy vậy, nàng vui mừng và nói với Dahnash cùng Kashkash: “Hai ngươi có thấy người yêu Kamar al-Zaman của ta giữ mình trong sạch trước thiếu nữ này thế nào không? Quả thật, điều này thuộc về sự hoàn hảo của những ân tứ tốt đẹp nơi chàng; vì hai ngươi hãy quan sát xem chàng đã nhìn nàng và nhận ra sắc đẹp cùng vẻ đáng yêu của nàng ra sao, thế mà không ôm nàng, cũng không hôn nàng, không đặt tay lên nàng, mà quay lưng lại và ngủ.” Họ đáp: “Quả đúng như vậy!” Bấy giờ Maymunah biến mình thành một con bọ chét, luồn vào y phục của Budur, người yêu của Dahnash, bò lên bắp chân nàng và đến đùi nàng, rồi tới một chỗ chừng bốn carat[FN#265] dưới rốn nàng, tại đó cắn nàng. Bấy giờ nàng mở mắt và ngồi dậy trên giường, thấy một chàng trai nằm bên cạnh mình, đang thở nặng trong giấc ngủ, đáng yêu nhất trong các loài thụ tạo của Allah Toàn Năng, với đôi mắt làm thẹn những Houri đẹp nhất của Thiên Đường; và miệng như ấn Solomon, mà nước của nó ngọt hơn khi nếm và hiệu nghiệm hơn thuốc giải độc, với môi màu đá san hô, và má như hải quỳ đỏ máu, đúng như một người nói, miêu tả chàng trong những câu thơ đôi này,

“Tâm trí ta rút khỏi Zaynab và Nawár[FN#266] *
Bởi đôi má hồng mang mầm sim;
Ta yêu một nai tơ, một chàng trai mặc áo chẽn, *
Và bỏ tình yêu của nàng Đẹp đeo vòng tay:
Bạn ta nơi sảnh và buồng kín thì khác *
Nàng ta chơi cùng, khi chúng ta kết đôi tại nhà.
Ôi ngươi, kẻ trách ta trốn khỏi Hind và Zaynab, *
Nguyên nhân rõ như bình minh soi sáng không trung!
Ngươi muốn ta thành[FN#267] nô lệ sao, thân phận nô của nô lệ, *
Bị nhốt, bị giam, bị giữ sau song và tường?”

Nay khi Công chúa Budur thấy chàng, nàng bị một cơn xuất thần của đam mê, mong mỏi và tình-khát khao nắm lấy,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi lăm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Công chúa Budur thấy Kamar al-Zaman, nàng lập tức bị một cơn xuất thần của đam mê, mong mỏi và tình-khát khao nắm lấy, và nàng tự nhủ: “Ôi, hổ thẹn thay ta! Đây là một chàng trai lạ và ta không biết chàng. Làm sao chàng lại nằm bên cạnh ta trên cùng một giường?” Rồi nàng nhìn chàng lần thứ hai và, nhận ra sắc đẹp cùng vẻ đáng yêu của chàng, nói: “Thề bởi Allah, quả thật chàng là một chàng trai mỹ lệ, và tim ta[FN#268] gần như bị xé đôi vì khát khao chàng! Nhưng than ôi, ta hổ thẹn với chàng biết bao! Thề bởi Đấng Toàn Năng, nếu ta biết chàng trai này là người đã cầu hôn ta với phụ vương ta, ta đã không từ chối chàng, mà đã làm vợ chàng và hưởng vẻ đáng yêu của chàng!” Rồi nàng nhìn vào mặt chàng và nói: “Ôi chúa công của thiếp và ánh sáng của đôi mắt thiếp, hãy tỉnh khỏi giấc ngủ và hưởng lạc nơi sắc đẹp cùng vẻ duyên của thiếp.” Và nàng lay chàng bằng tay; nhưng Maymunah Jinniyah buông giấc ngủ xuống trên chàng như một tấm màn, và đè nặng lên đầu chàng bằng đôi cánh của mình, khiến Kamar al-Zaman không tỉnh dậy. Rồi Công chúa Budur lay chàng bằng hai tay và nói: “Mạng thiếp dâng lên chàng, hãy nghe thiếp; hãy thức và đứng dậy khỏi giấc ngủ, nhìn hoa thủy tiên cùng lớp tơ non trên đó, và hưởng cảnh eo cùng rốn trần; hãy vò rối thiếp và lăn lộn thiếp từ khoảnh khắc này đến rạng ngày! Nhân danh Allah trên chàng, ôi chúa công của thiếp, hãy ngồi dậy, tựa lưng vào gối và chớ ngủ!” Kamar al-Zaman vẫn không đáp lời nàng, mà chỉ thở nặng trong giấc ngủ. Nàng tiếp: “Than ôi! Than ôi! Chàng thật kiêu ngạo trong sắc đẹp, vẻ mỹ lệ, duyên dáng và những cái nhìn yêu đương của mình! Nhưng nếu chàng đẹp, thì thiếp cũng đẹp; vậy việc chàng làm đây là gì? Họ dạy chàng khinh thường thiếp sao, hay cha thiếp, lão già khốn khổ,[FN#269] đã bắt chàng thề không nói với thiếp đêm nay?” Nhưng Kamar al-Zaman không mở miệng cũng không tỉnh dậy, khiến đam mê của nàng dành cho chàng tăng gấp đôi và Allah thắp lửa tim nàng bằng tình yêu dành cho chàng. Nàng đánh cắp một ánh nhìn của mắt mà phải trả bằng một nghìn tiếng thở dài: tim nàng phập phồng, gan ruột nàng rộn đập, tay chân nàng run rẩy; và nàng nói với Kamar al-Zaman: “Hãy nói với thiếp, ôi chúa công của thiếp! Hãy nói với thiếp, ôi bạn của thiếp! Hãy đáp lời thiếp, ôi người yêu của thiếp, và hãy cho thiếp biết tên chàng, vì quả thật chàng đã cướp mất trí khôn của thiếp!” Trong suốt thời gian ấy, chàng vẫn chìm trong giấc ngủ và không đáp lời nàng một chữ, còn Công chúa Budur thở dài và nói: “Than ôi! Than ôi! Vì sao chàng lại kiêu hãnh và tự mãn đến vậy?” Rồi nàng lay chàng và lật bàn tay chàng lên, thấy chiếc nhẫn ấn của mình trên ngón út chàng, bấy giờ nàng kêu một tiếng lớn, tiếp theo là một tiếng thở dài vì đam mê và nói: “Ôi khốn! Ôi khốn! Thề bởi Allah, chàng là người yêu của thiếp và chàng yêu thiếp! Thế mà chàng có vẻ quay khỏi thiếp vì làm duyên, dù rằng, ôi người thương của thiếp, chàng đã đến với thiếp khi thiếp ngủ và không biết chàng đã làm gì với thiếp, rồi lấy chiếc nhẫn ấn của thiếp; nhưng thiếp sẽ không kéo nó khỏi ngón tay chàng.” Nói vậy, nàng mở ngực áo của chàng, cúi xuống trên chàng và hôn chàng, đưa tay về phía chàng, tìm thứ gì có thể lấy làm dấu hiệu, nhưng không thấy gì. Rồi nàng luồn tay vào ngực chàng và, vì thân thể chàng mịn màng, tay nàng trượt xuống eo, từ đó đến rốn, rồi từ đó đến dương vật của chàng, khiến tim nàng đau nhói, gan ruột run rẩy và dục vọng đè nặng lên nàng, bởi ham muốn của đàn bà dữ dội hơn ham muốn của đàn ông,[FN#270] và nàng hổ thẹn vì sự không biết hổ thẹn của chính mình. Rồi nàng rút chiếc nhẫn ấn của chàng khỏi ngón tay chàng, đeo vào tay mình thay cho chiếc nhẫn chàng đã lấy, và hôn môi trong cùng tay chàng, chẳng để phần nào của chàng không được hôn; sau đó nàng ôm chàng vào ngực, ghì chàng và, đặt một tay dưới cổ chàng, tay kia dưới nách chàng, nép sát vào chàng rồi ngủ thiếp đi bên cạnh chàng.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi sáu,

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#34

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Công chúa Budur ngủ thiếp đi bên cạnh Kamar al-Zaman, sau khi làm điều nàng đã làm, Maymunah nói với Dahnash: “Ngươi có thấy không, hỡi kẻ bị nguyền rủa, người yêu của ta đã cư xử kiêu hãnh và làm duyên biết bao, còn nữ chủ của ngươi đã tỏ mình nóng bỏng và say đắm với người thương của ta đến thế nào? Chẳng còn nghi ngờ gì rằng người yêu của ta đẹp hơn người yêu của ngươi; tuy vậy ta tha cho ngươi.” Rồi nàng viết cho hắn một văn thư phóng thích, quay sang Kashkash và nói: “Hãy đi, giúp Dahnash nâng nữ chủ của hắn lên và giúp hắn mang nàng về chỗ của nàng, vì đêm đang tàn nhanh và chẳng còn lại bao nhiêu.” Kashkash đáp: “Ta nghe và tuân lệnh.” Vậy hai Ifrit tiến đến Công chúa Budur, nâng nàng lên và bay đi cùng nàng; rồi, mang nàng trở lại chỗ của nàng, chúng đặt nàng lên giường, trong khi Maymunah ở lại một mình với Kamar al-Zaman, ngắm chàng khi chàng ngủ, cho đến khi đêm gần cạn hẳn, bấy giờ nàng đi đường mình. Ngay khi sáng rạng, vị Hoàng tử tỉnh khỏi giấc ngủ và quay phải quay trái, nhưng không thấy thiếu nữ bên mình, bèn tự nhủ: “Việc này là sao? Dường như cha ta muốn làm ta nghiêng về hôn nhân với thiếu nữ đã ở cùng ta rồi nay đã lén đưa nàng đi, với ý định khiến ham muốn kết hôn của ta tăng gấp đôi.” Rồi chàng gọi hoạn quan đang ngủ ở cửa, nói: “Khốn cho ngươi, hỡi đồ bị nguyền rủa, đứng dậy ngay!” Vậy hoạn quan đứng dậy, mê mụ vì ngủ, và mang đến cho chàng chậu cùng bình nước, bấy giờ Kamar al-Zaman vào nhà xí và làm việc cần thiết;[FN#271] rồi, bước ra, chàng làm lễ tẩy rửa Wuzu và cầu lễ bình minh, sau đó ngồi lần tràng hạt đọc chín mươi chín danh hiệu của Allah Toàn Năng. Rồi chàng ngẩng lên và, thấy hoạn quan đang đứng hầu mình, nói: “Xéo cho ngươi, ôi Sawáb! Ai đã đến đây và đưa thiếu nữ khỏi bên ta trong khi ta còn ngủ?” Hoạn quan hỏi: “Ôi chúa công của tôi, thiếu nữ nào?” Kamar al-Zaman đáp: “Thiếu nữ đã nằm cùng ta đêm qua.” Hoạn quan giật mình trước lời chàng và nói với chàng: “Thề bởi Allah, chẳng có thiếu nữ nào hay ai khác ở cùng ngài! Làm sao thiếu nữ có thể vào với ngài, khi tôi ngủ ở lối cửa và cửa đã khóa? Thề bởi Allah, ôi chúa công của tôi, chẳng nam hay nữ nào vào với ngài!” Vị Hoàng tử kêu lên: “Ngươi nói dối, hỡi tên nô lệ dịch hạch!: việc bịt mắt ta và từ chối nói cho ta biết điều gì đã xảy đến với thiếu nữ nằm cùng ta đêm qua, không cho ta biết ai đã đưa nàng đi, cũng thuộc năng lực của ngươi sao?” Hoạn quan đáp (và hắn sợ chàng): “Thề bởi Allah, ôi chúa công của tôi, tôi chẳng thấy thiếu nữ hay thiếu lang nào!” Lời hắn chỉ càng làm Kamar al-Zaman giận hơn, chàng nói với hắn: “Hỡi kẻ bị nguyền rủa, cha ta quả thật đã dạy ngươi dối trá! Lại đây.” Vậy hoạn quan tiến đến gần chàng, và vị Hoàng tử nắm cổ áo hắn, quật hắn xuống đất; bấy giờ hắn đánh một tiếng rắm lớn,[FN#272] còn Kamar al-Zaman quỳ lên người hắn, đá hắn và bóp cổ hắn cho đến khi hắn ngất đi. Rồi chàng kéo hắn ra, buộc hắn vào dây giếng, thả hắn xuống như một cái gàu vào giếng và nhúng hắn xuống nước, rồi kéo hắn lên lại thả xuống nữa. Bấy giờ đang tiết đại đông lạnh giá, và Kamar al-Zaman không ngừng nhúng hoạn quan xuống nước, kéo hắn lên, dìm hắn rồi lôi hắn trong khi hắn kêu thét và gọi cứu; vị Hoàng tử cứ nói: “Thề bởi Allah, hỡi kẻ bị nguyền rủa, ta sẽ không kéo ngươi lên khỏi giếng này cho đến khi ngươi kể và cho ta biết đầy đủ chuyện thiếu nữ ấy cùng ai đã đưa nàng đi khi ta ngủ.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zaman nói với hoạn quan: “Thề bởi Allah! ta sẽ không kéo ngươi lên khỏi giếng này cho đến khi ngươi kể cho ta chuyện thiếu nữ ấy và ai đã đưa nàng đi khi ta ngủ.” Hoạn quan đáp, sau khi hắn đã thấy cái chết nhìn thẳng vào mặt mình: “Ôi chúa công của tôi, hãy thả tôi ra, tôi sẽ thuật cho ngài sự thật và toàn bộ câu chuyện.” Vậy Kamar al-Zaman kéo hắn lên khỏi giếng, gần như đã chết vì đau đớn, bởi lạnh, bởi nỗi đau bị nhúng và dìm, bị đánh đập và sợ chết đuối. Hắn run như cây sậy trong bão, răng hắn nghiến chặt như bị chuột rút, áo quần hắn sũng nước, thân thể bẩn thỉu và bị xé rách bởi thành giếng gồ ghề: nói gọn, hắn ở trong cảnh đáng thương. Nay khi Kamar al-Zaman thấy hắn trong cảnh khốn khổ này, chàng lo cho hắn; nhưng ngay khi hoạn quan thấy mình ở trên sàn, hắn nói với chàng: “Ôi chúa công của tôi, xin để tôi đi cởi áo, vắt chúng và phơi dưới nắng cho khô, rồi mặc áo khác; sau đó tôi sẽ lập tức trở lại với ngài và kể cho ngài sự thật của việc này.” Vị Hoàng tử đáp: “Hỡi tên nô lệ đê tiện! nếu ngươi chưa thấy cái chết đối mặt, hẳn ngươi sẽ không bao giờ thú thật sự việc hay nói với ta một lời; nhưng giờ hãy đi và làm theo ý ngươi, rồi trở lại với ta ngay và kể cho ta sự thật.” Bấy giờ hoạn quan đi ra, hầu như không tin mình đã thoát, và không ngừng chạy, vấp ngã rồi đứng dậy trong cơn vội vã, cho đến khi hắn vào với vua Shahriman, thấy ngài đang ngồi nói chuyện với Wazir về tình cảnh của Kamar al-Zaman. Nhà vua đang nói với vị Đại thần: “Đêm qua ta không ngủ, vì lo âu cho con trai ta, Kamar al-Zaman, và quả thật ta sợ e điều hại nào đó xảy đến với nó trong tháp cũ ấy. Việc giam nó có ích gì?” Wazir đáp: “Xin đừng lo cho chàng. Thề bởi Allah, chẳng điều hại nào sẽ xảy đến với chàng! Tuyệt nhiên không! Hãy để chàng trong ngục một tháng cho đến khi tính khí chàng chịu khuất và tinh thần chàng bị bẻ gãy, rồi chàng trở lại với lý trí.” Khi hai người đang nói, kìa, hoạn quan xông đến, trong tình trạng đã kể, lao về phía nhà vua, người bối rối khi thấy hắn; và hắn kêu: “Ôi chúa công Sultan của chúng ta! Quả thật trí khôn của con trai ngài đã bay mất và chàng đã hóa điên, chàng đã đối xử với tôi thế này thế nọ, đến nỗi tôi trở thành như ngài thấy, và chàng cứ nói: ‘Một thiếu nữ đã nằm cùng ta đêm nay và lén trốn đi khi ta ngủ. Nàng đâu?’ Chàng khăng khăng bắt tôi cho chàng biết nàng ở đâu và nói cho chàng biết ai đã đưa nàng đi. Nhưng tôi chẳng thấy cô gái hay chàng trai nào: cửa đã khóa suốt đêm, vì tôi ngủ trước cửa với chìa khóa dưới đầu, và buổi sáng tôi tự tay mở cửa cho chàng.” Khi vua Shahriman nghe điều này, ngài kêu lên: “Ôi, con trai ta!”; và ngài nổi giận dữ dội với Wazir, kẻ đã là nguyên nhân của toàn bộ chuyện này, rồi nói với ông: “Hãy lên đó, mang tin về con trai ta cho ta và xem điều gì đã xảy ra với tâm trí của nó.” Vậy Wazir đứng dậy và, vấp vào vạt áo dài của mình trong nỗi sợ cơn giận của nhà vua, vội đi cùng nô lệ đến tháp. Nay mặt trời đã mọc, và khi vị Đại thần vào với Kamar al-Zaman, ông thấy chàng đang ngồi trên trường kỷ đọc kinh Koran; vậy ông chào chàng, ngồi xuống bên chàng và nói với chàng: “Ôi chúa công của tôi, hoạn quan khốn khổ này mang đến cho chúng tôi những tin làm chúng tôi lo lắng và kinh hãi, đồng thời khiến nhà vua phẫn nộ.” Kamar al-Zaman hỏi: “Và hắn đã kể gì về ta khiến cha ta lo lắng? Thật ra hắn chẳng làm ai lo ngoài ta.” Wazir đáp: “Hắn đến với chúng tôi trong tình trạng ghê tởm và kể với chúng tôi về ngài một điều mà Trời ngăn cấm; tên nô lệ còn thêm một lời dối không nên lặp lại, cầu Allah giữ gìn tuổi trẻ, lý trí lành mạnh và lưỡi hùng biện của ngài, cũng như cấm điều xúc phạm nào phát ra từ ngài!” Vị Hoàng tử nói: “Ôi Wazir, vậy điều gì tên nô lệ dịch hạch này đã nói về ta?” Vị Đại thần đáp: “Hắn nói với chúng tôi rằng trí khôn của ngài đã rời ngài và ngài cứ khăng khăng rằng một thiếu nữ nằm cùng ngài đêm qua, rồi ngài thúc ép hắn nói nàng đã đi đâu và tra tấn hắn vì mục đích ấy.” Nhưng khi Kamar al-Zaman nghe những lời này, chàng nổi giận dữ dội và nói với Wazir: “Quả thật đã rõ với ta rằng chính các ngươi đã dạy hoạn quan làm như hắn đã làm.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Kamar al-Zaman nghe lời Wazir, chàng nổi giận dữ dội và nói với ông: “Quả thật đã rõ với ta rằng chính các ngươi đã dạy hoạn quan làm như hắn đã làm và cấm hắn nói cho ta biết điều gì đã xảy đến với thiếu nữ nằm cùng ta đêm qua. Nhưng ngươi, ôi Wazir, khôn khéo hơn hoạn quan, vậy ngươi hãy nói cho ta không dừng hay chậm, thiếu nữ đã ngủ trên ngực ta đêm qua đi đâu; vì chính các ngươi đã gửi nàng đến và bảo nàng ngủ trong vòng tay ta, rồi chúng ta nằm cùng nhau cho đến rạng; nhưng khi ta tỉnh dậy, ta không thấy nàng. Vậy nay nàng ở đâu?” Wazir nói: “Ôi chúa công Kamar al-Zaman của tôi, cầu danh Allah bao quanh ngài! Thề bởi Đấng Toàn Năng, chúng tôi không gửi ai đến với ngài đêm qua, mà ngài đã nằm một mình, với cửa khóa trên ngài và hoạn quan ngủ phía sau nó, cũng chẳng có thiếu nữ hay ai khác đến với ngài. Hãy lấy lại lý trí, ôi chúa công của tôi, và giữ vững giác quan, đừng để tâm trí bận bịu với những điều phù phiếm.” Kamar al-Zaman, người phẫn nộ trước lời ông, đáp: “Ôi Wazir, thiếu nữ được nói đến là người yêu của ta, nàng đẹp với đôi mắt đen và đôi má hồng, người ta đã ôm trong tay suốt đêm qua.” Vậy vị Đại thần kinh ngạc trước lời chàng và hỏi chàng: “Đêm qua ngài thấy thiếu nữ này bằng chính mắt ngài khi thức hay trong ngủ?” Kamar al-Zaman đáp: “Ôi lão già xui xẻo, ngươi tưởng ta thấy nàng bằng tai ta sao? Quả thật, ta thấy nàng bằng chính mắt ta và khi ta tỉnh thức, ta chạm nàng bằng tay ta, và ta canh bên nàng trọn nửa đêm, nuôi mắt mình bằng sắc đẹp, vẻ đáng yêu, duyên dáng và những cái nhìn quyến rũ của nàng. Nhưng các ngươi đã dạy nàng và căn dặn nàng không nói với ta lời nào; vậy nàng giả vờ ngủ và ta nằm bên cạnh nàng cho đến rạng, khi ta tỉnh dậy và thấy nàng đã đi.” Wazir đáp: “Ôi chúa công Kamar al-Zaman của tôi, có lẽ ngài đã thấy điều này trong giấc ngủ; hẳn đó là ảo ảnh của mộng hoặc sự lừa dối do ăn nhiều loại thức ăn, hoặc một gợi ý từ bọn quỷ bị nguyền rủa.” Vị Hoàng tử kêu lên: “Ôi lão già dịch hạch! ngươi cũng muốn chế nhạo ta và nói với ta rằng đây có lẽ là ảo ảnh của mộng, trong khi tên hoạn quan kia đã thú nhận về thiếu nữ, nói: ‘Tôi sẽ lập tức trở lại với ngài và kể cho ngài tất cả về nàng’ sao?” Với những lời này, chàng bật dậy, lao vào Wazir, nắm lấy râu ông (vốn dài[FN#273]) và, sau khi nắm lấy, chàng xoắn tay trong đó rồi kéo ông khỏi trường kỷ, ném ông xuống sàn. Vị Đại thần tưởng như linh hồn rời khỏi thân xác vì cú giật râu dữ dội; và Kamar al-Zaman không ngừng đá Wazir, đánh mạnh vào ngực và sườn ông, vả bằng bàn tay mở vào gáy ông cho đến khi gần như đánh ông đến chết. Rồi lão già tự nhủ: “Cũng như tên nô lệ hoạn quan đã cứu mạng mình khỏi chàng trai điên này bằng cách nói dối chàng, vậy càng hợp hơn nếu ta cũng làm như thế; nếu không chàng sẽ hủy diệt ta. Vậy giờ phải có lời dối của ta để cứu mình, vì chàng điên không nghi ngờ gì nữa.” Rồi ông quay sang Kamar al-Zaman và nói: “Ôi chúa công của tôi, xin tha cho tôi; vì quả thật cha ngài đã căn dặn tôi che giấu với ngài chuyện thiếu nữ này; nhưng nay tôi yếu, mệt và bị thương vì bị đánh; vì tôi là lão già, thiếu sức mạnh và nền tảng để chịu đòn. Vậy xin ngài hãy nhẫn nại một chút với tôi, tôi sẽ kể cho ngài tất cả và cho ngài biết câu chuyện của thiếu nữ ấy.” Khi vị Hoàng tử nghe vậy, chàng thôi đánh ông và nói: “Sao ngươi không kể cho ta câu chuyện cho đến sau nhục nhã và đòn roi? Nay hãy đứng dậy, lão già xui xẻo kia, và kể cho ta chuyện của nàng.” Wazir nói: “Hãy nói, ngài hỏi về thiếu nữ có gương mặt đẹp và thân hình hoàn hảo chăng?” Kamar al-Zaman nói: “Đúng vậy! Hãy kể cho ta, ôi Wazir, ai đã dẫn nàng đến với ta và đặt nàng bên ta, ai đã đưa nàng khỏi ta trong đêm; rồi cho ta biết ngay nàng đã đi đâu, để chính ta có thể đến với nàng tức khắc. Nếu cha ta làm việc này với ta để thử ta bằng cô gái đẹp ấy, với ý định cho chúng ta kết hôn, ta đồng ý cưới nàng và giải thoát mình khỏi phiền não này; vì ngài đã làm mọi việc này với ta chỉ bởi ta từ chối hôn phối. Nhưng nay ta đồng ý, và ta nói lần nữa, ta đồng ý hôn nhân: vậy hãy nói điều này với cha ta, ôi Wazir, và khuyên ngài cưới thiếu nữ ấy cho ta; vì ta sẽ không có ai khác và tim ta không yêu ai ngoài một mình nàng. Nay hãy đứng dậy ngay và vội đến với cha ta, khuyên ngài mau lo hôn lễ của chúng ta rồi mang câu trả lời của ngài về cho ta trong chính giờ này.” Wazir đáp: “Tốt lắm!” rồi đi ra khỏi chàng, hầu như không tin mình đã thoát khỏi tay chàng. Rồi ông rời tháp, vừa đi vừa vấp trong lúc đi, vì quá sợ hãi và xáo động, ông không ngừng vội vã cho đến khi vào với vua Shahriman.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm tám mươi chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Wazir ra khỏi tháp và không ngừng chạy cho đến khi vào với vua Shahriman, người phán với ông ngay khi thấy ông: “Ôi ngươi là Wazir, kẻ nào đã đưa ngươi đến cảnh đau buồn và điều hại của ai đã đối xử với ngươi theo lối chẳng lành; sao ta thấy ngươi câm lặng bàng hoàng và đến với ta trong vẻ sửng sốt như vậy?” Wazir đáp: “Ôi đức vua! Thần mang đến cho ngài tin tốt.” “Và đó là gì?” Shahriman hỏi, Wazir đáp: “Hãy biết rằng trí khôn của con trai ngài Kamar al-Zaman đã đi sạch và chàng đã hóa điên hoàn toàn.” Nay khi nhà vua nghe những lời này của vị Đại thần, ánh sáng hóa thành bóng tối trong mắt ngài và ngài nói: “Ôi Wazir, hãy làm rõ cho ta tính chất cơn điên của nó.” Wazir đáp: “Ôi chúa công của thần, thần nghe và tuân lệnh.” Rồi ông kể cho ngài rằng những việc thế này thế nọ đã xảy ra và cho ngài biết mọi điều con trai ngài đã làm; bấy giờ nhà vua nói với ông: “Hãy nghe, ôi Wazir, tin tốt mà ta ban cho ngươi để đáp lại tin đẹp đẽ này về cơn điên của con trai ta; ấy sẽ là việc chặt đầu ngươi và tước bỏ ân sủng của ta, hỡi kẻ xui xẻo nhất trong các Wazir và dơ bẩn nhất trong các Emir! vì ta cảm thấy chính ngươi đã gây nên rối loạn của con trai ta bằng lời khuyên độc ác và mưu tính ám muội ngươi đã dâng ta từ đầu đến cuối. Thề bởi Allah, nếu bất cứ điều hại hay cơn điên nào xảy đến với con trai ta, ta chắc chắn sẽ đóng đinh ngươi lên vòm cung điện và bắt ngươi uống chén đắng nhất của cái chết!” Rồi ngài bật dậy và, đem Wazir theo, đi thẳng đến tháp rồi vào đó. Và khi Kamar al-Zaman thấy hai người, chàng vội đứng dậy khỏi trường kỷ nơi chàng ngồi để đón cha mình; hôn tay ngài rồi lùi lại, cúi đầu xuống và đứng trước mặt ngài với hai tay để sau lưng, cứ đứng như vậy trọn một giờ. Rồi chàng ngẩng đầu về phía thân phụ; nước mắt tuôn khỏi mắt và chảy xuống má, rồi chàng bắt đầu lặp lại,

“Xin tha lỗi tội khiến tay chân con run rẩy dưới nó,
Vì nô lệ tìm lòng thương xót nơi chủ nhân mình;
Con đã làm một lỗi, đòi lời thú nhận tự do,
Nó sẽ gọi lòng thương xót và tha thứ ở đâu?”[FN#274]

Khi nhà vua nghe vậy, ngài đứng dậy ôm con trai, hôn chàng giữa hai mắt, cho chàng ngồi bên mình trên trường kỷ; rồi ngài quay sang Wazir và, nhìn ông bằng đôi mắt giận dữ, nói: “Ôi con chó trong đám Wazir, sao ngươi nói về con trai ta những điều thế này thế nọ, khiến tim ta run lên vì nó?” Rồi ngài quay sang vị Hoàng tử và nói: “Ôi con trai ta, hôm nay gọi là ngày gì?” Chàng đáp: “Ôi phụ vương của con, hôm nay là Sabbath, và ngày mai là Ngày Thứ Nhất: rồi đến Ngày Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm và cuối cùng là Thứ Sáu.”[FN#275] Nhà vua kêu lên: “Ôi con trai ta, ôi Kamar al-Zaman, ngợi ca Allah vì đã gìn giữ lý trí của con! Tháng hiện tại trong tiếng Ả Rập của chúng ta gọi là gì?” Kamar al-Zaman đáp: “Zú'l Ka'adah, và sau nó là Zú'l hijjah; rồi đến Muharram, rồi Safar, rồi Rabí'a Đệ Nhất và Rabí'a Đệ Nhị, hai Jamádá, Rajab, Sha'aban, Ramazán và Shawwál.” Trước điều này, nhà vua vui mừng khôn xiết và nhổ vào mặt Wazir, nói: “Ôi lão già độc ác, sao ngươi có thể nói con trai ta điên? Và nay chẳng ai điên ngoài ngươi.” Bấy giờ vị Đại thần lắc đầu và định nói, nhưng lại nghĩ nên chờ một lúc và xem điều gì sẽ xảy ra tiếp. Rồi nhà vua nói với con mình: “Ôi con trai ta, những lời này là gì mà con nói với hoạn quan và Wazir, tuyên bố rằng: ‘Đêm nay ta đã ngủ với một thiếu nữ đẹp?’[FN#276] Thiếu nữ này là ai mà con nói đến?” Rồi Kamar al-Zaman cười trước lời cha mình và đáp: “Ôi phụ vương của con, xin biết rằng con không chịu thêm sự đùa cợt nào nữa; vậy xin đừng thêm cho con một lời giễu hay dù chỉ một chữ về việc này, vì tính khí con đã trở nên ngắn bởi điều các người làm với con. Và hãy biết, ôi phụ vương của con, bằng tri thức chắc chắn, rằng con đồng ý kết hôn, nhưng với điều kiện người gả cho con nàng đã nằm bên con đêm nay; vì con chắc chắn chính người đã gửi nàng đến với con, làm con yêu nàng, rồi sai một thông điệp đến nàng trước bình minh và đưa nàng khỏi bên con.” Nhà vua đáp: “Cầu danh Allah bao quanh con, ôi con trai ta, và cầu trí khôn con được giữ khỏi mất trí!” —Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng vua Shahriman nói với con trai mình Kamar al-Zaman: “Cầu danh Allah bao quanh con, ôi con trai ta, và cầu trí khôn con được giữ khỏi mất trí! Thiếu nữ mà con tưởng ta đã gửi đến cho con đêm qua rồi lại sai người rút nàng khỏi con trước bình minh là chuyện gì? Nhân danh Đức Chúa, ôi con trai ta, ta không biết gì về việc này, và nhân danh Allah trên con, hãy nói cho ta biết liệu đó là ảo ảnh của mộng hay sự lừa dối do thân thể khó ở. Vì quả thật đêm qua con nằm xuống ngủ với tâm trí bận bịu về hôn nhân và rối loạn vì lời bàn về nó (Allah nguyền rủa hôn nhân và giờ ta nói về nó, nguyền rủa kẻ đã khuyên nó!); và không nghi ngờ hay e dè, ta có thể nói rằng vì tâm trí bị khuấy động bởi việc nhắc đến hôn phối, con đã mơ thấy một thiếu nữ xinh đẹp ôm con và tưởng mình thấy nàng khi thức. Nhưng tất cả điều này, ôi con trai ta, chỉ là rối ren của mộng.” Kamar al-Zaman đáp: “Xin bỏ lời này và hãy thề với con bằng Allah, Đấng Tạo Hóa Toàn Thể, Đấng Toàn Tri; Đấng Hạ Nhục các Caesar bạo chúa và Đấng Hủy Diệt các Chosroes, rằng người không biết gì về thiếu nữ ấy hay nơi ở của nàng.” Nhà vua nói: “Bởi Quyền Năng của Allah Toàn Năng, Thượng Đế của Moses và Abraham, ta không biết gì về tất cả việc này và chưa từng nghe đến nó; chắc chắn đó là ảo ảnh của mộng mà con đã thấy trong giấc ngủ.” Rồi vị Hoàng tử đáp với thân phụ: “Con sẽ đưa cho người một bằng chứng tự rõ rằng điều ấy đã xảy đến với con khi con thức.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi mốt,

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#35

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zamar nói với thân phụ mình: “Con sẽ đưa cho người một bằng chứng tự rõ rằng điều này đã xảy đến với con khi con thức. Nay xin để con hỏi người, có bao giờ xảy ra với một người rằng hắn mơ thấy mình đang giao chiến một trận dữ dội, rồi sau đó tỉnh khỏi giấc ngủ và thấy trong tay mình một lưỡi gươm vấy máu chăng?” Nhà vua đáp: “Không, thề bởi Allah, ôi con trai ta, điều này chưa từng xảy ra.” Kamar al-Zaman đáp: “Con sẽ kể cho người điều đã xảy đến với con, và đó là việc này. Con tưởng mình thức khỏi giấc ngủ vào giữa đêm qua và thấy một cô gái nằm bên cạnh mình, thân hình nàng giống thân hình con và dung sắc nàng như dung sắc con. Con ôm nàng, dùng tay xoay nàng lại và lấy nhẫn ấn của nàng, chiếc nhẫn con đeo vào ngón tay mình, còn nàng rút nhẫn của con và đeo vào tay nàng. Rồi con ngủ bên cạnh nàng, nhưng kiềm mình khỏi nàng vì hổ thẹn trước người, cho rằng người đã gửi nàng đến với con, định dùng nàng để thử con và khiến con nghiêng về hôn nhân, đồng thời nghi người đang ẩn ở đâu đó, từ đó người có thể thấy điều con làm với nàng. Và con thậm chí hổ thẹn không hôn nàng trên miệng vì nghĩ đến người, khi suy xét cơn cám dỗ hôn phối này; và khi con thức dậy lúc rạng ngày, con không thấy dấu vết nào của nàng, cũng không thể có tin tức gì về nàng, và đã xảy đến với con điều người biết, với hoạn quan và với Wazir. Vậy làm sao việc này có thể là mộng và ảo ảnh, khi chiếc nhẫn là vật thực? Nếu không vì nhẫn của nàng trên ngón tay con, quả thật con đã cho đó là mộng; nhưng đây là chiếc nhẫn trên ngón út con: xin hãy nhìn nó, ôi đức vua, và xem giá trị của nó.” Nói vậy, chàng trao chiếc nhẫn cho cha mình, người xem xét và lật nó qua lại, rồi nhìn con trai và nói: “Quả thật, trong chiếc nhẫn này có một huyền nhiệm lớn và một bí mật lạ lùng. Điều xảy đến với con đêm qua cùng cô gái quả thật là một hạt cứng khó đập vỡ, và ta không biết kẻ xâm nhập này đã xâm nhập vào chúng ta bằng cách nào. Không ai là nguyên nhân của tất cả sự rối rắm này ngoài Wazir; nhưng, nhân danh Allah trên con, ôi con trai ta, hãy nhẫn nại, biết đâu Đức Chúa sẽ chuyển nỗi sầu này của con thành vui mừng và đem sự giải thoát trọn vẹn đến cho nỗi buồn của con: như một thi nhân đã nói,

‘Biết đâu Vận Mệnh sẽ kéo cương mình, và đem đến *
Cơ may tốt đẹp, vì nàng đổi thay, ghen tuông, hư ảo:
Ta vẫn có thể ve vãn điều ta muốn và đạt ước nguyện, *
Và thấy sau gót lo âu bất công là niềm vui.’

Và nay, ôi con trai ta, vào giờ này ta đã chắc rằng con không điên; nhưng tình cảnh của con là một chuyện lạ mà không ai có thể làm sáng cho con ngoài Đấng Toàn Năng.” Vị Hoàng tử kêu: “Thề bởi Allah, ôi phụ vương của con, xin hãy đối xử tử tế với con và tìm thiếu nữ này, mau đưa nàng đến với con; bằng không con sẽ chết vì sầu, và cái chết của con sẽ chẳng ai hay.” Rồi chàng bộc lộ ngọn lửa nồng nàn của đam mê; quay về phía cha mình và lặp lại hai câu thơ đôi này,

“Nếu lời hứa đích thân đến thăm của nàng hóa không thật, *
Xin hãy hạ cố trong mộng ban cho ta một cuộc gặp:
Họ nói, ‘Làm sao bóng hình[FN#277] hiện ra trước mắt *
Một chàng trai, mà thị giác đã tàn, đã mất?’”

Rồi, sau khi dứt lời thơ, Kamar al-Zaman lại quay sang cha mình, với vẻ phục tùng và tuyệt vọng, nước mắt đổ như lũ, bắt đầu lặp lại những dòng này.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Kamar al-Zaman đã lặp lại với cha mình những vần này, chàng khóc, than phiền và rên rỉ từ một trái tim bị thương; rồi thêm những dòng này,

“Hãy coi chừng ánh liếc kia, vốn có sức mạnh ma thuật; *
Những tinh cầu ấy quay về đâu cũng chặn đường bay của ta:
Cũng đừng bị lừa bởi giọng thấp ngọt ngào, sinh ra *
Một cơn sốt mưng mủ trong tim và hồn phách:
Làn da tơ ấy mềm đến mức, nếu hoa hồng chạm vào nó, *
Nàng sẽ kêu lên và lệ rơi như mưa vì đau và sợ:
Nếu Zephyr dù trong giấc ngủ đi qua đất nàng, *
Đã thơm, nó sẽ chọn ở lại nơi thơm ấy:
Chuỗi cổ nàng đua với tiếng leng keng của thắt lưng; *
Cổ tay nàng khiến mỗi chiếc vòng tay câm lặng vì tức tối:
Khi vòng tay nàng muốn hôn những khuyên nơi tai, *
Trên mắt tình nhân, những huyền nhiệm cao cả sáng xuống:
Ta bị trách vì yêu nàng, mà chẳng xin tha thứ; *
Đôi mắt thiếu nhìn xa chẳng có ích gì:
Cầu Trời lột trần ngươi, kẻ trách cứ ta! ngươi bất công; *
Trước con nai tơ này, mọi mắt đều phải cúi thấp.”[FN#278]

Sau đó chàng nói: “Thề bởi Allah, ôi phụ vương của con, con không thể chịu được phải xa nàng dù chỉ một giờ.” Nhà vua đập tay nọ vào tay kia và kêu lên: “Không có Uy Nghi và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại! Chẳng mưu khéo nào có thể có ích cho chúng ta trong việc này.” Rồi ngài nắm tay con trai và đưa chàng về cung điện, nơi Kamar al-Zaman nằm xuống trên giường uể oải, còn nhà vua ngồi bên đầu chàng, khóc và thương tiếc chàng, không rời chàng, đêm hay ngày, cho đến cuối cùng Wazir bước vào với ngài và nói: “Ôi đức vua của thời đại và thời gian, ngài còn ở kín với con trai ngài và ẩn mình khỏi quân binh của ngài bao lâu nữa? Biết đâu trật tự vương quốc của ngài sẽ rối loạn vì ngài vắng mặt khỏi các Đại nhân và quan chức triều chính. Một người hiểu biết, nếu có nhiều vết thương trên thân mình, trước hết phải chuyên tâm chữa vết nguy hiểm nhất; vậy lời khuyên của thần với ngài là hãy chuyển con trai ngài khỏi nơi này đến thủy đình trong cung điện nhìn xuống biển; và hãy đóng kín mình cùng chàng ở đó, mỗi tuần dành riêng hai ngày, Thứ Năm và Thứ Hai, cho các buổi tiếp kiến triều chính, các cuộc tuần du và duyệt quân. Vào những ngày ấy, hãy để các Emir, Wazir, Thị thần, Phó vương, quan chức cao, Đại nhân trong cõi và phần còn lại của quân binh cùng thần dân vào gặp ngài và trình việc của họ lên ngài; rồi ngài đáp ứng nhu cầu của họ, phán xét giữa họ, cho và nhận với họ, truyền và cấm. Còn phần còn lại trong tuần, ngài sẽ ở cùng con trai ngài, Kamar al-Zaman, và cứ làm như vậy cho đến khi Allah đoái ban sự giải thoát cho hai người. Chớ nghĩ, ôi đức vua, rằng ngài an toàn khỏi những đổi dời của Thời Gian và những đòn của Biến Dịch, vốn đến như khách lữ hành trong đêm; vì người khôn luôn luôn phòng bị, và thi nhân nói hay biết bao,

‘Ngươi đã nghĩ tốt về Thời Gian khi ngày tháng tốt lành, *
Và chẳng sợ những điều ác mà Số Mệnh có thể đem đến:
Những Đêm quá đẹp và yên nghỉ đã lừa ngươi, *
Vì những Đêm yên bình đem đến nỗi khổ nặng nề.
Ôi con cái loài người được Thời Gian kết bạn, *
Hãy coi chừng những trò lừa của Thời Gian, sớm hay muộn!’”[FN#279]

Khi Sultan nghe lời Wazir, ngài thấy chúng đúng và cho lời khuyên của ông là khôn ngoan, và chúng tác động đến ngài, vì ngài sợ e trật tự quốc gia rối loạn; vậy ngài đứng dậy ngay và truyền chuyển con trai mình từ phòng bệnh đến thủy đình trong cung điện nhìn xuống biển. Nay cung điện này được nước vây quanh và tiếp cận bằng một con đường đắp rộng hai mươi cubit. Nó có cửa sổ ở mọi phía nhìn ra quang cảnh đại dương; sàn lát cẩm thạch nhiều màu và trần được sơn bằng những sắc liệu giàu có nhất, điểm hình bằng vàng và lapis-lazuli. Họ trang bị nó cho Kamar al-Zaman bằng đồ bọc lộng lẫy, thảm thêu và thảm trải bằng loại lụa quý nhất; họ phủ tường bằng gấm chọn lọc và treo rèm rải lấp lánh những ngọc giá cao. Ở giữa, họ đặt cho chàng một trường kỷ bằng gỗ bách xù[FN#280] khảm châu và ngọc, và Kamar al-Zaman ngồi xuống trên đó, nhưng sự lo âu và đam mê quá độ dành cho thiếu nữ đã làm hao mòn vẻ duyên của chàng và khiến thân thể chàng tiều tụy; chàng không thể ăn, uống hay ngủ; và chàng giống một người đã mắc bệnh nặng suốt hai mươi năm. Cha chàng ngồi bên đầu chàng, đau buồn vì chàng bằng nỗi buồn sâu nhất, và mỗi Thứ Hai cùng Thứ Năm, ngài cho phép các Wazir, Emir, Thị thần, Phó vương, các Chúa trong cõi, quân binh và phần còn lại của thần dân đến với ngài trong thủy đình ấy. Vậy họ bước vào, làm các phần việc và bổn phận của mình, ở cùng ngài cho đến cuối ngày, rồi đi đường mình, còn nhà vua trở về với con trai trong thủy đình, người mà ngài không rời đêm hay ngày; và ngài cứ làm như vậy trong nhiều ngày đêm. Đó là tình cảnh của Kamar al-Zaman, con trai vua Shahriman; còn về Công chúa Budur, con gái vua Ghayur, Chúa tể các Đảo và Bảy Cung Điện, khi hai Jinn nâng nàng lên và đặt nàng trên giường, nàng ngủ cho đến rạng ngày, khi nàng thức dậy, ngồi thẳng lên, nhìn phải nhìn trái, nhưng không thấy chàng trai đã nằm trong ngực nàng. Vì điều này gan ruột nàng phập phồng, lý trí nàng bay mất và nàng thét một tiếng lớn, đánh thức tất cả nữ nô, vú nuôi và giám mẫu của nàng. Họ kéo đến với nàng; và người đứng đầu trong họ bước tới hỏi: “Điều gì khiến người đau, ôi phu nhân của thiếp?” Công chúa đáp: “Ôi lão bà khốn khổ, người yêu của ta đâu, chàng trai đẹp đã nằm trong ngực ta đêm qua? Hãy nói cho ta biết chàng đã đi đâu.” Nay khi giám mẫu nghe vậy, ánh sáng tối sầm trong mắt bà, bà sợ điều hại từ nàng với nỗi kinh hãi dữ dội, và nói với nàng: “Ôi phu nhân Budur của thiếp, những lời bất xứng này là gì?” Công chúa kêu: “Khốn cho ngươi, mụ già dịch hạch kia! Ta hỏi ngươi lần nữa, người yêu của ta đâu, chàng trai đẹp với gương mặt sáng và thân hình thon thả, đôi mắt huyền đen và lông mày nối liền, người đã nằm với ta đêm qua từ lúc ăn tối cho đến gần rạng ngày?” Bà đáp: “Thề bởi Allah, ôi phu nhân của thiếp, thiếp không thấy chàng trai nào hay ai khác. Thiếp khẩn cầu người, đừng đẩy trò đùa bất xứng này đi quá xa, kẻo tất cả chúng ta mất mạng; vì biết đâu lời đùa này đến tai phụ vương của người, rồi ai sẽ cứu chúng ta khỏi tay ngài?”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi ba,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng giám mẫu nói với Phu nhân Budur bằng những lời này: “Nhân danh Allah trên người, ôi phu nhân của thiếp! xin đừng đẩy trò đùa bất xứng này đi quá xa; vì biết đâu nó đến tai phụ vương của người, rồi ai sẽ cứu chúng ta khỏi tay ngài?” Công chúa đáp: “Quả thật đêm qua có một chàng trai nằm cùng ta, một trong những nam nhân có gương mặt đẹp nhất.” Giám mẫu kêu lên: “Cầu Trời giữ gìn lý trí của người! quả thật đêm qua không ai nằm cùng người.” Bấy giờ Công chúa nhìn bàn tay mình và, thấy nhẫn ấn của Kamar al-Zaman trên ngón tay thay cho nhẫn của mình, nói với bà: “Khốn cho ngươi, đồ bị nguyền rủa! đồ phản trắc! ngươi muốn nói dối ta và bảo rằng không ai nằm cùng ta đêm qua, rồi thề với ta một lời giả nhân danh Đức Chúa sao?” Giám mẫu đáp: “Thề bởi Allah, thiếp không nói dối người và cũng không thề giả.” Rồi Công chúa bị lời bà chọc giận và, rút một thanh gươm có sẵn bên mình, nàng đánh lão bà bằng nó và giết bà;[FN#281] bấy giờ hoạn quan, các nữ hầu và tần phi kêu lên trước nàng, chạy đến chỗ cha nàng và, không dừng hay chậm, cho ngài biết tình cảnh của nàng. Vậy nhà vua đến với nàng và hỏi nàng: “Ôi con gái ta, điều gì khiến con đau?”; nàng đáp: “Ôi phụ vương của con, chàng trai đã nằm cùng con đêm qua đâu?” Rồi lý trí bay khỏi đầu nàng, nàng liếc mắt phải trái và xé áo mình đến tận gấu. Khi cha nàng thấy vậy, ngài bảo các nữ nhân nắm lấy nàng; vậy họ bắt nàng và cùm tay nàng, rồi đặt một dây xích sắt quanh cổ nàng, buộc nàng chặt vào một trong các cửa sổ cung điện và để nàng ở đó.[FN#282] Đến đây là chuyện về Công chúa Budur; còn về cha nàng, vua Ghayur, thế gian trở nên chật hẹp trên ngài khi ngài thấy điều đã xảy đến với con gái, bởi ngài yêu nàng và tình cảnh của nàng không phải ít đau nặng với ngài. Vì vậy ngài triệu các thầy thuốc, nhà chiêm tinh và những người tinh thông viết bùa chú, rồi nói với họ: “Ai chữa lành con gái ta khỏi bệnh nàng mắc, ta sẽ cưới nàng cho hắn và cho hắn một nửa vương quốc của ta; nhưng ai đến với nàng mà không chữa được cho nàng, ta sẽ chặt đầu hắn và treo nó trên cửa cung điện của nàng.” Theo đó, tất cả những ai vào với nàng mà không chữa lành cho nàng, ngài đều chém đầu và treo đầu họ trên các cửa cung điện, cho đến khi vì nàng mà ngài đã chém đầu bốn mươi thầy thuốc và đóng đinh bốn mươi nhà chiêm tinh; bởi thế mọi người đều tránh xa nàng, vì tất cả thầy thuốc đã thất bại trong việc chữa bệnh của nàng; và tình cảnh của nàng là một câu đố với những người khoa học và các bậc tinh thông ký tự huyền bí. Và khi nỗi khát khao cùng đam mê của nàng tăng gấp đôi, tình yêu và rối loạn đè nặng trên nàng, nàng tuôn lệ và lặp lại những câu thơ đôi này,

“Tình yêu say đắm của ta, ôi vầng trăng của ta, dành cho chàng là kẻ thù của ta, *
Và về bầu bạn với chàng, những đêm buộc ý nghĩ ta nghĩ tới:
Trong u tối ta ở cùng lửa bốc dưới sườn ta, *
Ngọn lửa ấy ta đem so với sức nóng Địa Ngục:
Ta bị giày vò bởi sức nặng nề nhất của sầu nhớ và xuất thần; *
Và buổi trưa sáng nhất cũng chẳng thể xua cơn đau khủng khiếp ấy.”

Rồi nàng thở dài và cũng lặp lại những câu này,

“Salam từ ta đến bạn hữu ở mọi nơi; *
Quả thật ta nghiêng về mọi bạn thân yêu:
Salam, nhưng không phải salam nói lời từ biệt; *
Salam định cho các người sự lớn lên của điều tốt:
Ta yêu các người tha thiết, thật vậy, và chẳng kém đất các người, *
Nhưng ta ở xa mọi nhu cầu của mình!”

Và khi Phu nhân Budur thôi lặp lại thơ của mình, nàng khóc cho đến khi mắt đau nhức, má đổi hình đổi sắc, và trong tình trạng này nàng tiếp tục ba năm. Nay nàng có một anh em nuôi, tên là Marzawán,[FN#283], người đang du hành ở những xứ xa và vắng mặt khỏi nàng suốt thời gian ấy. Chàng yêu nàng bằng tình yêu quá độ, vượt cả tình yêu của anh em; vậy khi trở về, chàng vào với mẹ mình và hỏi về em gái mình, Công chúa Budur. Bà đáp: “Ôi con trai ta, em gái con đã bị cơn điên đánh trúng và đã qua ba năm với một dây xích sắt quanh cổ; tất cả thầy thuốc và người khoa học đều thất bại trong việc chữa lành nàng.” Khi Marzawan nghe những lời này, chàng nói: “Nhất định con phải vào với nàng; biết đâu con sẽ phát hiện nàng mắc gì và có thể chữa nàng”; mẹ chàng đáp: “Nhất định con phải thăm nàng, nhưng hãy đợi đến ngày mai, để mẹ bày cách gì đó hợp với tình cảnh của con.” Rồi bà đi bộ đến cung điện của Phu nhân Budur và, đến gặp hoạn quan phụ trách các cửa, tặng hắn một món quà và nói với hắn: “Ta có một con gái, được nuôi lớn cùng phu nhân của ngươi và từ đó ta đã gả nó đi; khi việc xảy đến với Công chúa đã xảy đến, nó trở nên rối lòng và vô cùng lo lắng, và ta mong được ân của ngươi cho con gái ta vào với nàng trong một giờ và nhìn nàng; rồi nó sẽ trở về nơi nó đến, để không ai biết việc ấy.” Hoạn quan nói: “Điều này không thể được trừ ban đêm, sau khi nhà vua đã thăm con mình và đi khỏi; lúc ấy bà hãy đến cùng con gái mình.” Vậy bà hôn tay hoạn quan và, trở về nhà, đợi đến tối ngày hôm sau; và khi đến lúc, bà đứng dậy tìm con trai mình Marzawan, mặc cho chàng y phục nữ; rồi, nắm tay chàng trong tay mình, dẫn chàng về phía cung điện, không ngừng bước cùng chàng cho đến khi gặp hoạn quan sau khi Sultan đã kết thúc chuyến thăm Công chúa. Nay khi hoạn quan thấy bà, hắn đứng dậy đón bà và nói: “Hãy vào, nhưng đừng ở lâu!” Vậy họ đi vào, và khi Marzawan nhìn thấy Phu nhân Budur trong tình trạng đã kể, chàng chào nàng, sau khi mẹ chàng đã cởi bỏ y phục nữ của chàng: rồi chàng lấy từ túi của họ những cuốn sách chàng đã mang theo; và, thắp một ngọn nến sáp, chàng bắt đầu đọc vài câu thần chú. Bấy giờ Công chúa nhìn chàng và nhận ra chàng, nói: “Ôi huynh đệ của ta, chàng đã vắng mặt trong các chuyến du hành và tin tức của chàng đã bị cắt đứt khỏi chúng ta.” Chàng đáp: “Đúng vậy! nhưng Allah đã đưa ta trở về an toàn và lành lặn, nay ta định lại lên đường và chẳng điều gì giữ ta lại ngoài tin ta nghe về nàng; vì thế tim ta cháy vì nàng và ta đến với nàng, biết đâu ta có thể giải thoát nàng khỏi bệnh của nàng.” Nàng đáp: “Ôi huynh đệ của ta, chàng nghĩ ta mắc chứng điên sao?” Chàng đáp: “Đúng.” Nàng nói: “Không phải vậy, thề bởi Allah! đúng như thi nhân nói,

‘Họ nói: “Nàng điên vì người nàng yêu”: ta đáp, *
“Vị ngọt của tình yêu chỉ dành cho kẻ điên!”
Tình yêu chẳng bao giờ khiến Thời Gian kết bạn với bạn mình; *
Chỉ kẻ bị Jinn đánh mới có thể đạt ân ấy:
Hay! phải, ta điên: hãy đem đến kẻ đã làm ta điên *
Và, nếu chàng chữa được điên của ta, hãy thôi trách!’”

Rồi nàng cho Marzawan biết rằng nàng điên vì yêu, và chàng nói: “Hãy kể cho ta về câu chuyện của nàng và điều đã xảy đến với nàng: biết đâu trong tay ta có điều gì đó sẽ là phương tiện giải thoát cho nàng.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi tư,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Marzawar nói với Công chúa Budur như vậy: “Hãy kể cho ta về câu chuyện của nàng và điều đã xảy đến với nàng: biết đâu Allah sẽ gợi cho ta một phương tiện giải thoát cho nàng.” Nàng nói: “Ôi huynh đệ của ta, hãy nghe câu chuyện của ta, ấy là như vầy. Một đêm, ta thức khỏi giấc ngủ, vào một phần ba cuối của đêm[FN#284] và, ngồi dậy, thấy bên mình một chàng trai tuấn tú nhất đời, và lưỡi bất lực trong việc miêu tả chàng, vì chàng như cành liễu hay gậy mây Ấn Độ. Vậy ta nghĩ chính cha ta đã làm như thế để qua đó thử ta, bởi ngài đã hỏi ý ta về hôn phối, khi các vua cầu xin ngài cưới ta làm vợ, và ta đã từ chối. Chính ý nghĩ này khiến ta không đánh thức chàng, vì ta sợ rằng, nếu ta làm điều gì hay ôm chàng, biết đâu chàng sẽ báo cho cha ta về những việc ta làm. Nhưng đến sáng, ta thấy trên ngón tay mình là nhẫn ấn của chàng, thay cho nhẫn của ta mà chàng đã lấy. Và, ôi huynh đệ của ta, tim ta đã bị tình yêu dành cho chàng nắm lấy ngay từ cái nhìn đầu tiên; và, vì sức mạnh của đam mê cùng khát khao, ta chưa từng nếm vị giấc ngủ, cũng chẳng có việc gì ngoài luôn luôn khóc và lặp lại những vần thơ đêm ngày. Và đây, ôi huynh đệ của ta, là câu chuyện của ta và nguyên nhân cơn điên của ta.” Rồi nàng tuôn lệ và lặp lại những câu thơ đôi này,

“Nay Tình Yêu đã trục xuất mọi điều từng sinh khoái lạc; *
Cùng con nai tơ gặm nhấm tim ấy, niềm vui của ta bay mất:
Máu tình nhân là chuyện nhẹ nhất trong các chuyện nhỏ với chàng, *
Kẻ làm hư hao gan ruột của người khốn khổ!
Vì chàng ta ghen với chính cái nhìn và ý nghĩ của mình; *
Tim ta làm thám tử trên ý nghĩ và cái nhìn của ta:
Những hàng mi dài ấy mưa xuống ta những mũi tên của chúng *
Xảo trá, hủy hoại những trái tim nơi nào chúng rơi xuống:
Nay, khi phần đời của ta trong thế gian còn kéo dài, *
Ta sẽ thấy chàng trước khi rời nơi thế gian chăng?
Điều ta chịu vì chàng, ta muốn giấu, nhưng nước mắt *
Phản bội cảm xúc của ta, bất chấp kẻ rình dò.
Khi gần, cuộc đoàn tụ của chúng ta dường như mãi xa; *
Khi xa, ý nghĩ của ta lại luôn gần chàng nhất.”

Và lát sau nàng tiếp: “Vậy hãy xem, ôi huynh đệ của ta, chàng có thể giúp ta thế nào trong nỗi khổ của ta.” Vậy Marzawan cúi đầu xuống đất một lúc, kinh ngạc và không biết làm gì, rồi chàng ngẩng lên và nói với nàng: “Tất cả những gì nàng nói với ta, ta cho là thật, dẫu trường hợp của chàng trai ấy vượt khỏi sự hiểu biết của ta: nhưng ta sẽ đi khắp mọi xứ và tìm kiếm điều có thể chữa lành nàng; biết đâu Allah sẽ định việc chữa lành nàng ở tay ta. Trong khi ấy, hãy nhẫn nại và đừng rối lòng.” Bấy giờ Marzawan từ biệt nàng, cầu cho nàng được bền lòng, rồi rời nàng khi nàng đang lặp lại những câu thơ đôi này,

“Hình ảnh của chàng luôn bầu bạn với hồn phách ta, *
Dẫu chàng xa khỏi mắt kẻ hành hương:
Nhưng ước muốn của tim ta mãi kéo chàng lại gần: *
Tốc độ của chớp là gì so với đường bay nhanh của Ý Nghĩ?
Vậy xin chàng đừng đi, ánh sáng thật sự của đôi mắt ta, *
Đôi mắt khi chàng đi rồi, thiếu hết Kohl của ánh sáng.”

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#36

Rồi Marzawan trở về nhà mẹ mình, nơi chàng qua đêm. Và khi sáng hôm sau rạng, sau khi đã trang bị cho chuyến đi, chàng lên đường và không ngừng đi từ thành này sang thành khác, từ đảo này sang đảo khác suốt một tháng, cho đến khi chàng tới một đô thị tên là Al-Tayrab.[FN#285] Ở đây chàng đi khắp nơi dò hỏi tin tức dân trong thành, để biết đâu có thể gặp được một cách chữa bệnh cho Công chúa, vì trong mọi kinh đô chàng bước vào hay đi ngang qua, đều có tin rằng Nữ vương Budur, con gái vua Ghayur, đã mất trí. Nhưng khi đến thành Al-Tayrab, chàng nghe rằng Kamar al-Zaman, con trai vua Shahriman, đã ngã bệnh và mắc chứng sầu điên. Vậy Marzawan hỏi tên kinh đô của vị Hoàng tử, họ nói với chàng: “Nó ở trên các đảo Khalidan và cách thành chúng tôi trọn một tháng đường biển, nhưng đường bộ thì sáu tháng hành trình.” Vậy chàng xuống biển trên một con tàu hướng về các đảo Khalidan, và tàu đi với gió thuận suốt một tháng, cho đến khi họ nhìn thấy kinh đô; và họ chỉ còn việc cập bờ thì kìa, một cơn gió bão nổi lên, cuốn mất cột buồm và xé toạc vải buồm, khiến buồm rơi xuống biển và con tàu lật úp cùng tất cả người trên tàu,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi lăm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi con tàu lật úp cùng tất cả người trên tàu, mỗi người tìm sự an toàn cho riêng mình; còn về Marzawan, dòng biển đưa chàng đến dưới cung điện của nhà vua, nơi có Kamar al-Zaman. Và bởi sắc lệnh của định mệnh, tình cờ đây là ngày vua Shahriman ban buổi chầu cho các Đại nhân và quan chức cao, ngài đang ngồi, đầu con trai đặt trên đùi, trong khi một hoạn quan quạt đuổi ruồi; vị Hoàng tử đã không nói, cũng không ăn hay uống suốt hai ngày, và chàng đã gầy hơn một con suốt.[FN#286] Nay Wazir đang kính cẩn đứng gần cửa sổ có song trông ra biển và, ngẩng mắt lên, thấy Marzawan bị sóng đánh, đang trút hơi cuối; bấy giờ tim ông động lòng thương xót chàng, nên ông đến gần nhà vua và nghiêng đầu về phía ngài, nói: “Thần cầu xin phép ngài, ôi đức vua, cho thần xuống sân thủy đình và mở cửa nước để thần cứu một người đang đến sát điểm chết đuối trong biển, đưa hắn khỏi nguy hiểm vào nơi giải thoát; biết đâu vì việc này Allah sẽ giải phóng con trai ngài khỏi điều chàng mắc!” Nhà vua đáp: “Ôi ngươi là Wazir, điều đã xảy đến với con trai ta qua ngươi và vì ngươi đã đủ rồi. Biết đâu, nếu ngươi cứu kẻ đang chết đuối này, hắn sẽ biết việc của chúng ta, nhìn thấy con trai ta trong tình trạng này và hả hê trên ta; nhưng ta thề bởi Allah rằng nếu kẻ nửa chết đuối này đến đây và biết tình cảnh chúng ta, nhìn thấy con trai ta rồi đi ra, nói bí mật của chúng ta cho bất cứ ai, ta chắc chắn sẽ chặt đầu ngươi trước đầu hắn; vì ngươi, ôi Đại thần của ta, là nguyên nhân của tất cả những gì đã xảy đến với chúng ta, từ đầu đến cuối. Nay hãy làm như ngươi muốn.” Bấy giờ Wazir bật dậy và, mở cửa hậu riêng thông ra biển, xuống con đường đắp; rồi đi hai mươi bước và tới mé nước, nơi ông thấy Marzawan gần chết. Vậy ông đưa tay ra với chàng và, nắm lấy tóc chàng, kéo chàng lên bờ trong trạng thái vô tri, bụng đầy nước và mắt gần như lồi khỏi đầu. Wazir chờ cho đến khi chàng tỉnh lại, rồi cởi áo ướt của chàng và mặc cho chàng một bộ áo mới, phủ đầu chàng bằng một trong những khăn đội đầu của tôi tớ mình; sau đó ông nói với chàng: “Hãy biết rằng ta đã là phương tiện cứu ngươi khỏi chết đuối: vậy đừng báo đáp ta bằng cách gây ra cái chết của ta và của chính ngươi.” —Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi sáu,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Wazir làm với Marzawan điều ông đã làm, ông nói với chàng như vầy: “Hãy biết rằng ta là nguyên nhân cứu ngươi khỏi chết đuối, vậy đừng báo đáp ta bằng việc gây ra cái chết của ta và của chính ngươi.” Marzawan hỏi: “Và vì sao thế?”; Wazir đáp: “Vào giờ này ngươi sắp đi lên và đi ngang giữa các Emir và Wazir, tất cả đều im lặng, không ai nói, vì Kamar al-Zaman, con trai Sultan.” Nay khi Marzawan nghe tên Kamar al-Zaman, chàng biết đây chính là người mà chàng đã nghe nói đến trong nhiều thành và là người chàng đến tìm, nhưng chàng giả vờ không biết và hỏi Wazir: “Và Kamar al-Zaman là ai?” Vị Đại thần đáp: “Chàng là con trai Sultan Shahriman và chàng bệnh nặng, nằm rũ trên trường kỷ, luôn bồn chồn, không ăn cũng không uống, chẳng ngủ đêm hay ngày; quả thật chàng gần kề cái chết và chúng ta đã mất hy vọng chàng sống, tin chắc rằng chàng đang chết. Hãy coi chừng, đừng nhìn chàng quá lâu, cũng đừng nhìn gì khác ngoài chỗ ngươi đặt chân: bằng không ngươi là kẻ mất mạng, và ta cũng vậy.” Chàng đáp: “Nhân danh Allah trên ông, ôi Wazir, tôi cầu xin ân của ông, hãy cho tôi biết về chàng trai mà ông miêu tả này, nguyên nhân của tình trạng chàng đang ở trong là gì.” Wazir đáp: “Ta không biết gì, ngoài việc ba năm trước, cha chàng đòi chàng kết hôn, nhưng chàng từ chối; vì thế nhà vua nổi giận và giam chàng. Và khi chàng thức dậy vào sáng hôm sau, chàng tưởng rằng trong đêm chàng đã bị đánh thức khỏi giấc ngủ và thấy bên mình một thiếu nữ có vẻ đáng yêu vượt bậc, mà vẻ duyên sắc của nàng lưỡi không bao giờ diễn tả nổi; và chàng khẳng định với chúng ta rằng chàng đã rút nhẫn ấn của nàng khỏi ngón tay nàng, đeo vào ngón tay mình, và nàng cũng làm như vậy; nhưng chúng ta không biết bí mật của toàn bộ việc này. Vậy, thề bởi Allah, ôi con trai ta, khi ngươi đi lên cùng ta vào cung điện, đừng nhìn vị Hoàng tử, mà hãy đi đường ngươi; vì tim của Sultan đang đầy giận dữ với ta.” Vậy Marzawan tự nhủ: “Thề bởi Allah; đây chính là người ta tìm!” Rồi chàng theo Wazir lên cung điện, nơi vị Đại thần ngồi xuống dưới chân vị Hoàng tử; nhưng quả thật Marzawan chẳng thấy gì để làm ngoài việc tiến đến Kamar al-Zaman và đứng trước chàng mà ngắm nhìn. Trước việc này, Wazir chết điếng vì sợ trong da thịt mình, cứ nhìn Marzawan và ra dấu cho chàng đi đường mình; nhưng chàng giả vờ không thấy ông và không thôi nhìn Kamar al-Zaman, cho đến khi chàng tin chắc rằng đó quả thật là người chàng đang tìm,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Marzawan nhìn Kamar al-Zaman và biết rằng đó quả thật là người chàng đang tìm, chàng kêu: “Tôn cao thay Allah, Đấng đã làm hình dáng chàng giống hệt hình dáng nàng, nước da chàng giống nước da nàng và má chàng giống má nàng!” Nghe vậy, Kamar al-Zaman mở mắt và lắng nghe lời chàng nói; và khi Marzawan thấy chàng nghiêng tai nghe, chàng lặp lại những câu thơ đôi này[FN#287],

“Ta thấy chàng đầy khúc hát, lời than và cơn xuất thần riêng của tình yêu;
Vui thú trong việc miêu tả mọi vẻ duyên của nét đáng yêu:

Chàng bị cú đánh của Tình Yêu làm tổn thương hay mũi tên đã bắn trúng chàng?
Không ai ngoài kẻ bị thương mới tỏ những dấu hiệu khốn khổ như vậy!

Này chàng! hãy rót đầy chén rượu và hát cho ta những lời ca ngợi
Độc nhất gửi đến Sulaymá, Al-Rabáb, Tan'oum;[FN#288]

Hãy chuyền quanh mặt trời dây nho[FN#289] vốn lấy bình làm dinh thự;
Phương Đông của nó là chàng rót rượu, còn đây miệng ta mở ra làm phương Tây.

Ta ghen với chính áo quần dám ôm lấy hai bên thân nàng
Khi nàng che thân thể thanh nhã, duyên dáng mỏng manh nhất của mình:

Ta ghen với mọi chén rượu thu thuế từ môi nàng
Khi nàng đặt chén hôn lên nơi hôn ngọt nhất ấy.

Nhưng chớ nghĩ ta bị giết bởi gươm cong lưỡi sắc—
Những vết thương và điều hại ta chịu là từ tên mắt của nàng.

Ta thấy đầu ngón tay nàng, khi gặp lại nàng một lần nữa,
Đỏ sâu bằng nước của cây gỗ nhuộm đỏ;[FN#290]

Và kêu: ‘Lòng bàn tay nàng đã nhuộm khi ta ở xa,
Và đây là cách nàng trả công một kẻ rối loạn vì sầu nhớ!’

Nàng nói (thắp lên trong tim ta một ngọn lửa cháy cao
Nói như người không thể giấu dấu hiệu của tình yêu khát khao),

‘Nhân mạng chàng, đây không phải thuốc nhuộm dùng để nhuộm; vậy xin thôi
Lời trách, cũng đừng khăng khăng buộc tội thiếp giả dối với Tình Yêu!

Nhưng khi vào ngày chia tay, thiếp thấy chàng vội ra đi,
Trong lúc bàn tay, khuỷu tay và cổ tay thiếp để trần;

‘Thiếp đã đổ một dòng lệ đỏ máu và dùng ngón tay gạt đi; vì thế Đầu ngón tay đỏ máu và vẫn đỏ máu đến nay.’

Nếu ta khóc trước khi nàng khóc, làm mồi cho tình-khát khao của mình,
Trước khi ăn năn đến, ta đã cởi linh hồn mình khỏi đau đớn;

Nhưng nàng khóc trước khi ta khóc và ta khóc khi thấy nàng đau,
Và ta nói: ‘Mọi công trạng thuộc về kẻ đi trước;’[FN#291]

Đừng trách ta vì yêu nàng, nay ta thề trên chính bản thể Tình Yêu
Vì nàng, chỉ vì nàng, những đau đớn này giày vò linh hồn ta.

Nàng có mọi tri thức của Lukmán[FN#292] và vẻ đẹp thân yêu của Yúsuf;
Giọng ngọt của ca nhân David và sự trinh khiết của Maryam:

Trong khi ta có mọi tang thương của Jacob và nỗi tù ngục của Jonah,
Cùng khổ nạn của Job và lịch sử Adam xưa:

Song chớ giết nàng, dẫu vì yêu nàng ta chết;
Mà hãy hỏi nàng vì sao máu ta là hợp pháp đối với nàng, hỏi nàng vì sao?”

Khi Marzawan ngâm bài tụng ca này, những lời ấy rơi xuống tim Kamar al-Zaman như mát lành sau cơn sốt và sức khỏe trở lại; chàng thở dài và, xoay lưỡi trong miệng, nói với thân phụ: “Ôi phụ vương của con, xin để chàng trai này đến ngồi bên cạnh con.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zaman nói với thân phụ: “Ôi phụ vương của con, xin cho phép chàng trai này đến ngồi bên cạnh con.” Nay khi nhà vua nghe những lời này từ con trai mình, ngài vui mừng khôn xiết, dù ban đầu tim ngài đã chống lại Marzawan và ngài đã quyết rằng đầu kẻ lạ mặt nhất định phải bị chém; nhưng khi ngài nghe Kamar al-Zaman nói, cơn giận rời khỏi ngài, ngài đứng dậy, kéo Marzawan đến với mình, đặt chàng ngồi cạnh con trai rồi quay sang chàng nói: “Ngợi ca Allah vì sự an toàn của ngươi!” Chàng đáp: “Cầu Allah gìn giữ ngài! và gìn giữ con trai ngài cho ngài!” rồi cầu phúc lành xuống trên nhà vua. Rồi nhà vua hỏi: “Ngươi từ xứ nào đến?”; chàng đáp: “Từ các đảo của Nội Hải, vương quốc của vua Ghayur, Chúa tể các Đảo, các Biển và Bảy Cung Điện.” Vua Shahriman nói: “Biết đâu việc ngươi đến sẽ được chúc phúc cho con trai ta và Allah đoái ban chữa lành điều trong nó.” Marzawan nói: “Inshallah, sẽ chẳng có gì ngoài điều sẽ tốt lành!” Rồi quay sang Kamar al-Zaman, chàng nói vào tai chàng, không để nhà vua và triều đình nghe: “Ôi chúa công của tôi! hãy vui lòng, hãy làm tim chàng vững lại, để mắt chàng mát lành và trong sáng, còn về nàng vì cớ nàng mà chàng như vậy, xin chớ hỏi về tình cảnh nàng vì lợi ích của chính chàng. Nhưng chàng giữ kín bí mật của mình rồi ngã bệnh, trong khi nàng nói ra bí mật của mình và họ bảo nàng đã điên; vì vậy nay nàng đang trong ngục, với dây xích sắt quanh cổ, trong cảnh đáng thương nhất; nhưng, nếu Allah muốn, việc chữa lành cho cả hai người sẽ đến từ tay tôi.” Nay khi Kamar al-Zaman nghe những lời này, sự sống trở lại với chàng, chàng vững lòng và cảm thấy một cơn rộn vui, rồi ra dấu cho cha mình giúp chàng ngồi dậy; nhà vua gần như bay lên vì vui mừng, vội đứng dậy và nâng chàng lên. Lát sau, vì lo sợ cho con mình, ngài phất khăn giải tán[FN#293]; và tất cả Emir cùng Wazir rút lui; rồi ngài đặt hai gối tựa cho con trai dựa vào, sau đó truyền họ ướp thơm cung điện bằng nghệ tây và trang hoàng thành phố, nói với Marzawan: “Thề bởi Allah, ôi con trai ta, quả thật diện mạo ngươi may mắn và được chúc phúc!” Và ngài hết sức trọng đãi chàng, gọi thức ăn, và khi họ mang đến, Marzawan đến bên vị Hoàng tử, nói: “Hãy đứng dậy, ăn cùng ta.” Vậy chàng vâng lời chàng và ăn cùng chàng, trong khi nhà vua cứ cầu phúc lành cho Marzawan và nói: “Việc ngươi đến tốt lành biết bao, ôi con trai ta!” Và khi người cha thấy con trai mình ăn, niềm vui cùng hân hoan của ngài tăng gấp đôi, ngài đi ra nói với mẹ vị Hoàng tử và toàn bộ gia hộ. Rồi ngài truyền khắp cung điện tin mừng về sự hồi phục của vị Hoàng tử, và nhà vua truyền trang hoàng thành phố, ấy là một ngày đại lễ. Marzawan qua đêm ấy với Kamar al-Zaman, và nhà vua cũng ngủ cùng họ trong niềm vui cùng khoái lạc vì con trai đã hồi phục.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ một trăm chín mươi chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng vua Shahriman cũng qua đêm ấy với họ trong niềm vui quá độ vì sự hồi phục của con trai. Và khi sáng hôm sau rạng, nhà vua đã đi khỏi và hai chàng trai còn lại một mình, Kamar al-Zaman kể câu chuyện của mình từ đầu đến cuối cho Marzawan, người nói: “Quả thật ta biết nàng mà chàng đã gặp gỡ; tên nàng là Công chúa Budur và nàng là con gái vua Ghayur.” Rồi chàng thuật lại cho chàng tất cả những gì đã xảy ra với Công chúa từ đầu đến cuối và cho chàng biết tình yêu quá độ nàng dành cho chàng, nói: “Tất cả những gì xảy đến với chàng cùng cha chàng cũng đã xảy đến với nàng cùng cha nàng, và chàng không nghi ngờ gì là người yêu của nàng, cũng như nàng là của chàng; vậy hãy siết chặt quyết tâm và vững lòng, vì ta sẽ đưa chàng đến với nàng, lập tức nối hợp cả hai người và xử trí với hai người đúng như thi nhân nói,

“Dẫu tình yêu của kẻ yêu chống lại hắn, *
Và tỏ ghét bỏ dẫu hắn chăm chút thế nào;
Ta vẫn sẽ xoay xở để thân họ gặp nhau, *
Như trục của một đôi kéo.”

Và chàng không ngừng an ủi, vỗ về và khích lệ Kamar al-Zaman, thúc chàng ăn và uống cho đến khi chàng ăn thức ăn và uống rượu, sự sống trở lại với chàng và chàng được cứu khỏi tình trạng bệnh hoạn; Marzawan làm chàng vui và khuây khỏa bằng lời trò chuyện, khúc hát cùng chuyện kể, và đến lúc tốt lành, chàng thoát khỏi chứng rối loạn và đứng dậy, muốn đi Hammam.[FN#295] Vậy Marzawan nắm tay chàng và cả hai đi đến nhà tắm, nơi họ rửa thân mình và làm mình sạch sẽ.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Kamar al-Zaman, con trai vua Shahriman, đi Hammam, cha chàng vì vui mừng trước việc này đã phóng thích tù nhân, tặng y phục lộng lẫy cho các đại nhân và ban bố nhiều của bố thí cho người nghèo, rồi truyền trang hoàng thành phố bảy ngày. Rồi Marzawan nói với Kamar al-Zaman: “Hãy biết, ôi chúa công của tôi, rằng ta không đến từ Phu nhân Budur ngoài vì mục đích này, và mục tiêu chuyến đi của ta là giải thoát nàng khỏi tình trạng hiện tại; và giờ việc còn lại cho chúng ta chỉ là nghĩ cách làm sao đến được với nàng, vì cha chàng không thể chịu được ý nghĩ phải xa chàng. Vậy lời khuyên của ta là ngày mai chàng hãy xin phép ngài đi săn ngoài đồng. Rồi chàng hãy mang theo một đôi túi yên đầy tiền, cưỡi một con chiến mã nhanh, dắt theo một con ngựa dự phòng, còn ta cũng sẽ làm tương tự, và hãy nói với thân phụ chàng: ‘Con có ý muốn tự khuây khỏa bằng việc săn nơi sa mạc, nhìn vùng đồng trống và ở lại đó một đêm.’ Đừng để tôi tớ nào theo chúng ta, vì ngay khi chúng ta đến vùng đồng trống, chúng ta sẽ đi đường mình.” Kamar al-Zaman vui mừng trước kế này bằng niềm vui lớn và kêu: “Điều ấy tốt.” Rồi chàng làm lưng mình cứng lại và, vào với cha mình, xin phép ngài rồi nói như chàng đã được dạy, và nhà vua đồng ý để chàng ra ngoài săn bắn và phán: “Ôi con trai ta, chúc phúc thay ngày trả con về với sức khỏe! Ta sẽ không trái ý con trong việc này; nhưng đừng ở quá một đêm trong sa mạc và hãy trở về với ta ngày mai; vì con biết đời không tốt lành với ta nếu thiếu con, và quả thật ta khó có thể tin con đã hoàn toàn hồi phục khỏi chứng bệnh con từng mắc,[FN#296] bởi con đối với ta như người mà thi nhân nói về,

‘Dẫu bên ta suốt ngày và đêm có *
Tấm thảm của Solomon và quyền thế của các Chosroes,
Cả hai về giá trị vẫn kém hơn cánh muỗi, *
Nếu đôi mắt này không thể mãi giữ con trong tầm nhìn.’”[FN#297]

Rồi nhà vua trang bị cho con trai Kamar al-Zaman và Marzawan đi du ngoạn, truyền chuẩn bị cho họ bốn con ngựa, cùng một con lạc đà chạy nhanh chở tiền và một con lạc đà chở nước cùng lương ăn; và Kamar al-Zaman cấm bất cứ tùy tùng nào theo chàng. Cha chàng từ biệt chàng, ép chàng vào ngực và hôn chàng, nói: “Ta xin con nhân danh Allah, đừng vắng mặt khỏi ta quá một đêm, trong đó giấc ngủ sẽ bị cấm với ta, vì ta đúng như thi nhân nói,

‘Con hiện diện, ta ở trong Thiên Đường của các thiên đường; *
Chịu cảnh con vắng mặt là Địa Ngục trong các địa ngục của ta:
Linh hồn ta xin cầm cố vì con! Nếu yêu con *
Là tội, tội của ta là dữ tợn nhất trong các dữ tợn.
Ngọn lửa tình có đốt tim con như đốt tim ta, *
Định mệnh đêm ngày ngửi lửa Gehenna chăng?’”

Kamar al-Zaman đáp: “Ôi phụ vương của con, Inshallah, con sẽ chỉ nằm ngoài trời một đêm!” Rồi chàng từ biệt ngài, và chàng cùng Marzawan lên ngựa, dắt theo ngựa dự phòng, con lạc đà chạy nhanh chở tiền và con lạc đà chở nước cùng lương thực, quay mặt về phía vùng đồng trống;—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh một,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zaman và Marzawan ra đi, quay mặt về phía vùng đồng trống; và họ đi từ đầu ngày cho đến khi đêm xuống, bấy giờ họ dừng lại, ăn uống, cho súc vật ăn và nghỉ một lúc; sau đó họ lại lên ngựa và không ngừng hành trình suốt ba ngày, đến ngày thứ tư thì tới một vùng rộng có bụi cây rậm. Họ xuống ngựa trong đó và Marzawan, lấy con lạc đà cùng một trong những con ngựa, giết chúng, cắt thịt và tước xương. Rồi chàng cởi áo sơ mi và quần của Kamar al-Zaman ra, bôi máu ngựa lên chúng, và chàng lấy áo khoác của vị Hoàng tử, xé thành mảnh rồi làm bẩn bằng máu; chàng ném chúng xuống ở ngã ba đường. Rồi họ ăn uống, lên ngựa lại tiến bước; và khi Kamar al-Zaman hỏi vì sao làm việc này, nói: “Điều này là gì, ôi huynh đệ của ta, và nó sẽ có ích gì cho chúng ta?”; Marzawan đáp: “Hãy biết rằng cha chàng, khi chúng ta ở quá đêm thứ hai sau đêm mà ngài cho phép, mà chúng ta vẫn không trở về, ngài sẽ lên ngựa và theo dấu chúng ta cho đến khi ngài tới đây; và khi ngài tình cờ gặp máu này ta đã đổ và thấy áo sơ mi cùng quần của chàng bị rách, dính đầy máu, ngài sẽ tưởng rằng một tai nạn nào đó đã xảy đến với chàng từ bọn cướp hay thú dữ, vậy ngài sẽ từ bỏ hy vọng về chàng và trở về thành mình, và bằng mưu này chúng ta sẽ đạt ước nguyện.” Kamar al-Zaman nói: “Thề bởi Allah, đây quả thật là một mưu hiếm có! Chàng đã làm rất đúng.”[FN#298] Rồi hai người đi tiếp ngày đêm, và trong suốt thời gian ấy Kamar al-Zaman không làm gì ngoài than phiền khi thấy mình cô đơn, chàng không ngừng khóc cho đến khi họ đến gần cuối hành trình, bấy giờ chàng vui mừng và lặp lại những vần này,

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#37

“Chàng muốn đóng vai bạo chúa với người bạn chân thật nhất, kẻ nghĩ đến chàng mỗi
giờ, * Và sau khi tỏ nỗi ham muốn yêu đương lại phản bội bằng thờ ơ chăng?
Ta xin mất mọi ân huệ nếu trong tình yêu ta dối chàng, *
Nếu ta rời bỏ chàng, hãy bỏ ta để làm sự báo đền:
Nhưng ta chưa phạm tội nào đáng chịu sự khắc nghiệt ấy, *
Và nếu ta đã xúc phạm chàng điều gì, ta đem đến lòng ăn năn;
Trong những kỳ quan của Vận Mệnh, một điều là chàng đã bỏ ta, *
Nhưng Vận Mệnh chẳng bao giờ mỏi mệt trong việc phô bày kỳ quan.”

Khi chàng dứt những vần thơ, Marzawan nói với chàng: “Hãy nhìn! kia là các đảo của vua Ghayur”; nghe vậy Kamar al-Zaman vui mừng khôn xiết, cảm tạ chàng vì những gì chàng đã làm, hôn chàng giữa hai mắt và ghì chàng—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Marzawan nói: “Hãy nhìn! kia là các đảo của vua Ghayur”; Kamar al-Zaman vui mừng khôn xiết, cảm tạ chàng vì những gì chàng đã làm, hôn chàng giữa hai mắt và ghì chàng vào ngực. Và sau khi đến các đảo, vào thành, họ tìm chỗ trọ trong một khan, nơi họ nghỉ ba ngày cho hết mệt nhọc của hành trình; sau đó Marzawan đưa Kamar al-Zaman đến nhà tắm và, mặc cho chàng y phục thương nhân, chuẩn bị cho chàng một bảng địa bốc bằng vàng,[FN#299] một bộ dụng cụ chiêm tinh và một astrolabe bằng bạc mạ vàng. Rồi chàng nói với chàng: “Hãy đứng dậy, ôi chúa công của tôi, đến đứng dưới tường cung điện nhà vua và hô lớn: ‘Ta là người Tính Toán sẵn sàng; ta là Thư lại; ta là kẻ biết Người Được Tìm và Người Tìm Kiếm; ta là bậc hoàn tất của Khoa Học; ta là Nhà Chiêm Tinh thành thục trong kinh nghiệm! Vậy đâu là người tìm kiếm?’ Ngay khi nhà vua nghe điều này, ngài sẽ sai người đến đón chàng và đưa chàng vào với con gái ngài, Công chúa Budur, người yêu của chàng; nhưng khi sắp vào với nàng, chàng hãy nói với ngài: ‘Xin ban cho tôi ba ngày trì hoãn, và nếu nàng hồi phục, hãy gả nàng cho tôi; còn nếu không, hãy xử với tôi như ngài đã xử với những kẻ đi trước tôi.’ Chắc chắn ngài sẽ thuận điều này, vậy ngay khi chàng ở một mình với nàng, hãy bày tỏ mình với nàng; và khi nàng thấy chàng, nàng sẽ hồi sức, cơn điên sẽ rời khỏi nàng và nàng sẽ được lành trong một đêm. Rồi hãy cho nàng ăn uống. Cha nàng, vui mừng vì nàng hồi phục, sẽ gả nàng cho chàng và chia vương quốc của ngài với chàng; vì ngài đã tự đặt điều kiện này cho mình, vậy bình an ở cùng chàng.” Nay khi Kamar al-Zaman nghe những lời này, chàng kêu lên: “Cầu ta không bao giờ thiếu ân ích của chàng!”, rồi cầm lấy bộ dụng cụ đã nói, ra khỏi caravanserai trong y phục của hạng người ấy. Chàng đi cho đến khi đứng dưới tường cung điện vua Ghayur, nơi chàng bắt đầu hô lớn rằng: “Ta là Thư ký, ta là người Tính Toán sẵn sàng, ta là kẻ biết Người Được Tìm và Người Tìm Kiếm; ta là kẻ mở Quyển Sách và cộng các Tổng Số;[FN#300] người có thể giải mộng nhờ đó kẻ được tìm sẽ được tìm thấy! Vậy đâu là người tìm kiếm?” Nay khi dân trong thành nghe điều này, họ tụ lại quanh chàng, vì đã lâu họ chưa thấy Thư ký hay Nhà Chiêm Tinh nào, và họ đứng quanh chàng, nhìn chàng, thấy một người đang ở đỉnh cao của sắc đẹp, duyên dáng và vẻ thanh nhã hoàn hảo, rồi kinh ngạc trước vẻ đáng yêu, vóc dáng đẹp và sự cân xứng của chàng. Lát sau, một người trong họ đến nói với chàng: “Nhân danh Allah trên chàng, ôi chàng đẹp và trẻ, với chiếc lưỡi hùng biện! đừng dấn vào cuộc xung đột này; cũng đừng ném bỏ mạng sống của mình trong tham vọng cưới Công chúa Budur. Hãy chỉ đưa mắt nhìn những chiếc đầu treo kia; tất cả chủ nhân của chúng đã mất mạng trong chính cuộc phiêu lưu này.” Song Kamar al-Zaman chẳng để ý đến họ, mà hô lớn hết giọng: “Ta là Thầy thuốc, là Thư lại! Ta là Nhà Chiêm Tinh, là Người Tính Toán!” Và mọi dân trong thành đều cấm chàng khỏi việc này, nhưng chàng tuyệt nhiên chẳng màng đến họ, tự nhủ: “Không ai biết khát vọng ngoài kẻ chịu nó.” Rồi chàng lại bắt đầu hô to nhất có thể, kêu lớn: “Ta là Thư lại, ta là Nhà Chiêm Tinh!”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh ba,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zaman tuyệt nhiên chẳng để ý lời dân trong thành, mà tiếp tục hô lớn: “Ta là Người Tính Toán! Ta là Nhà Chiêm Tinh!” Bấy giờ mọi dân trong thành đều giận chàng và nói với chàng: “Ngươi chẳng là gì ngoài một thằng bé ngu đần, ngớ ngẩn, cứng đầu! Hãy thương lấy tuổi trẻ, năm tháng non mềm, sắc đẹp và vẻ đáng yêu của chính mình.” Nhưng chàng càng kêu lớn hơn: “Ta là Nhà Chiêm Tinh, ta là Người Tính Toán! Có ai tìm kiếm chăng?” Khi chàng đang kêu như vậy và dân chúng đang ngăn cản chàng, kìa, vua Ghayur nghe tiếng chàng và tiếng ồn ào của thần dân, bèn nói với Wazir của mình: “Hãy xuống và đưa Nhà Chiêm Tinh kia đến cho ta.” Vậy Wazir vội xuống và đưa Kamar al-Zaman khỏi giữa đám đông, dẫn chàng lên gặp nhà vua; và khi ở trước sự hiện diện, chàng hôn đất rồi bắt đầu ngâm thơ,

“Tám vinh quang gặp nhau, tất cả, tất cả hợp lại nơi ngài, *
Nhờ đó Vận Mệnh mãi có thể là tôi tớ của ngài:
Tri thức, quyền chủ, duyên dáng, hào hiệp; *
Lời rõ, nghĩa sâu, danh dự, chiến thắng!”

Khi nhà vua nhìn chàng, ngài đặt chàng ngồi bên cạnh và nói với chàng: “Thề bởi Allah, ôi con trai ta, nếu ngươi không phải là nhà chiêm tinh, đừng liều mạng mình cũng đừng thuận điều kiện của ta; vì ta đã tự buộc mình rằng ai vào với con gái ta mà không chữa lành cho nàng khỏi điều đã xảy đến với nàng, ta sẽ chặt đầu hắn; còn ai chữa lành cho nàng, ta sẽ gả nàng cho người ấy. Vậy chớ để sắc đẹp và vẻ đáng yêu của ngươi lừa ngươi: vì thề bởi Allah! và lại thề bởi Allah! Nếu ngươi không chữa được nàng, ta chắc chắn sẽ cắt đầu ngươi.” Và Kamar al-Zaman đáp: “Đó là quyền của ngài; và tôi thuận, vì tôi biết điều này trước khi đến đây.” Rồi vua Ghayur lấy các Kazi làm chứng chống lại chàng và giao chàng cho hoạn quan, nói: “Hãy đưa người này đến Phu nhân Budur.” Vậy hoạn quan nắm tay chàng và dẫn chàng dọc theo hành lang; nhưng Kamar al-Zaman vượt trước hắn và đẩy bước đi trước, trong khi hoạn quan chạy theo sau, nói: “Khốn cho ngươi! Đừng vội lao đến chỗ hủy diệt của chính mình: ta chưa từng thấy nhà chiêm tinh nào nóng lòng đến thế với sự hủy diệt riêng của hắn; nhưng ngươi không biết những tai họa nào đang ở trước mặt.” Bấy giờ Kamar al-Zaman quay mặt khỏi hoạn quan,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh bốn,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi hoạn quan nói với Kamar al-Zaman như vậy: “Hãy nhẫn nại, và đừng vội vàng bất nhã!”; vị Hoàng tử quay mặt đi và bắt đầu lặp lại những câu thơ đôi này,

“Là bậc hiền giả, ta thấy mình hóa kẻ ngu trước duyên nàng; *
Rối trí, ta chẳng biết những lời mình nói:
Nếu ta nói ‘Mặt trời,’ nàng không hề đi khuất *
Khỏi mắt ta, trong khi mặt trời lặn theo ngày:
Nàng đã hoàn tất Sắc Đẹp, mà khi ca ngợi nó *
Kẻ diễn thuyết thất bại, người nói năng lạc lối.”

Rồi hoạn quan đặt Kamar al-Zaman sau bức màn cửa của Công chúa, và vị Hoàng tử nói với hắn: “Trong hai cách, cách nào làm ngươi vui lòng hơn, chữa trị và chữa lành phu nhân của ngươi từ đây, hay vào trong mà chữa nàng phía sau màn?” Hoạn quan kinh ngạc trước lời chàng và đáp: “Nếu ngươi chữa nàng từ đây, đó sẽ là bằng chứng tốt hơn về tài nghệ của ngươi.” Nghe vậy Kamar al-Zaman ngồi xuống sau tấm màn và, lấy ra hộp mực, bút và giấy, viết như sau: “Đây là thư của một người bị đam mê chi phối,* và bị khát khao phục kích * và bị khốn khổ thức trắng giết chết * một người tuyệt vọng sống * và chẳng trông đợi gì ngoài chết * người mà với trái tim tang thương * chẳng người an ủi hay trợ giúp nào chia phần * Một người có đôi mắt không ngủ * chẳng ai cứu khỏi lo âu * ngày của người ấy qua trong lửa * và đêm trong ham muốn đọa đày * thân xác hao mòn vì tiều tụy nhiều * và chẳng sứ giả nào từ người yêu đem cho người ấy niềm an ủi.” Và sau đó chàng viết những câu thơ đôi sau,

“Ta viết với trái tim tận hiến cho ý nghĩ về nàng, *
Và mi mắt bị mài bởi lệ máu đến chảy ra;
Và thân thể, bởi sầu yêu và đau tình, được mặc *
Áo gầy mòn, và hao mòn đến chỉ còn sợi,
Với nàng ta than về đọa đày của Tình Yêu, *
Thứ đã đuổi Nhẫn Nại bất hạnh khỏi chỗ nàng:
Gửi nàng! hãy tỏ ân và đoái ban chút thương xót, *
Vì tay tàn nhẫn của Đam Mê xé nát gan ruột ta.”

Và bên dưới các dòng của mình, chàng viết những câu nhịp nhàng này: “Nỗi đau của tim được dời đi * bằng đoàn tụ với người yêu * và ai bị người yêu làm đau * chỉ Allah mới chữa lành! * Nếu chúng ta hay nàng đã làm điều lừa dối * cầu kẻ lừa dối chịu thất bại! * Chẳng có gì đẹp hơn người tình giữ lòng trung * với người yêu gây cho hắn tổn hại.” Rồi, như lời ký tên, chàng viết: “Từ người rối loạn và tuyệt vọng * kẻ bị tình yêu và khát khao gài bẫy * từ người tình dưới lệnh cấm của đam mê * tù nhân của cơn xuất thần và rối loạn * từ Kamar al-Zaman này * con trai Shahriman * gửi đến người độc nhất vô song * viên ngọc châu tròn của các Houri đẹp * gửi đến Phu nhân Budur * con gái vua Al Ghayur * Hãy biết rằng về đêm ta không ngủ * và ban ngày ta trong khốn khổ * bị thiêu đốt bởi hao mòn và đau đớn tăng thêm * bởi khát khao và tình yêu không vui * đầy tiếng thở dài * với đôi mắt ngập lụt lệ * bị đam mê bắt làm tù nhân * bị Ham Muốn giết chết * với trái tim cháy sém bởi sự chia lìa đôi ta * con nợ của tai họa khát khao, bạn uống chén bệnh tật * Ta là kẻ không ngủ, kẻ chẳng bao giờ khép mắt * nô lệ của tình yêu, người có lệ chảy không bao giờ khô * vì lửa trong tim ta vẫn cháy * và ngọn lửa khát khao của ta chẳng bao giờ ẩn giấu.” Rồi bên lề, Kamar al-Zaman viết vần thơ được ngưỡng mộ này,

“Salam từ những ân vẻ được Chúa ta tích giữ *
Gửi nàng, người giữ tim và hồn ta trong kho!”

Và cả những câu này,

“Xin hãy ban cho ta vài lời từ môi nàng, biết đâu *
Lòng thương ấy sẽ an ủi và làm mát đôi mắt này:
Từ sức nặng của tình ta và nỗi sầu nhớ nàng, *
Ta xem nhẹ điều khiến ta bị khinh, bị nhục:
Cầu Allah giữ gìn một dân tộc có nơi ở xa xôi, *
Và bí mật của họ ta giữ trong điện thờ thiêng nhất:
Nay Vận Mệnh trong lòng tốt đã ân sủng ta *
Bị ném lên bụi ngưỡng cửa của tình yêu này của ta:
Nằm cạnh ta, ta nhìn Budúr, mặt trời của nàng *
Đã làm trăng vận hội của ta tỏa sáng.”

Rồi, sau khi đóng nhẫn ấn của mình lên thư, chàng viết những câu thơ đôi này ở chỗ đề gửi,

“Hãy hỏi thư ta điều bút ta viết trong sầu, *
Và nghe chuyện khốn khổ của ta từ tờ này;
Tay ta đang viết trong khi lệ ta chảy xuống, *
Và hồn khát khao của ta than với giấy:
Lệ ta không thôi lăn trên tờ này, *
Và nếu chúng dừng, ta sẽ khiến giọt máu lăn.”

Và ở cuối, chàng thêm vần thơ khác này,

“Ta đã gửi chiếc nhẫn lấy khỏi ngón tay nàng *
Khi ta và nàng gặp, nay xin hạ cố trả nhẫn ta!”

Rồi Kamar al-Zaman đặt nhẫn của Phu nhân Budur vào trong thư, niêm phong nó và trao cho hoạn quan, người nhận lấy rồi đem vào với phu nhân mình.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh năm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zaman, sau khi đặt nhẫn ấn vào trong thư, trao nó cho hoạn quan, người nhận lấy và đem vào với phu nhân mình; và khi Phu nhân Budur mở nó ra, nàng thấy trong đó chính chiếc nhẫn của mình. Rồi nàng đọc tờ giấy và khi hiểu ý nó, biết rằng nó đến từ người yêu của mình, và rằng chính chàng đang đứng sau tấm màn, lý trí nàng bắt đầu bay đi, ngực nàng nở phồng vì vui và dâng cao; và nàng lặp lại những câu thơ đôi này,

“Lâu, lâu lắm ta đã than khóc sự chia lìa của tình yêu đôi ta, *
Bằng những giọt lệ từ mi ta tuôn xuống như mưa
cháy;
Và thề rằng, nếu ngày tháng đoái thương đoàn tụ đôi ta, *
Môi ta sẽ chẳng bao giờ nói về chia lìa nữa:
Niềm vui đã tràn ngập ta đến nỗi, vì chính sức nặng *
Của điều làm ta vui, ta muốn khóc.
Lệ đã thành thói quen với các ngươi, ôi mắt ta, *
Đến nỗi các ngươi khóc vì vui cũng như vì đau.”[FN#301]

Và sau khi dứt lời thơ, Phu nhân Budur lập tức đứng dậy và, đặt chân vững vào tường, dồn hết sức kéo vào vòng cổ sắt, cho đến khi nàng bẻ nó khỏi cổ và bẻ gãy các dây xích. Rồi bước ra từ sau tấm màn, nàng lao mình vào Kamar al-Zaman và hôn chàng trên miệng, như chim bồ câu mớm mồi cho con non.[FN#302] Và nàng ôm chàng bằng toàn bộ sức mạnh của tình yêu cùng khát khao, nói với chàng: “Ôi chúa công của thiếp, thiếp đang thức hay ngủ, và Đấng Toàn Năng quả thật đã đoái ban cho chúng ta đoàn tụ sau chia lìa sao? Ngợi ca Allah, Đấng đã sửa lại tình yêu của chúng ta, ngay cả sau khi chúng ta tuyệt vọng!” Nay khi hoạn quan thấy nàng trong tình trạng này, hắn chạy đi gặp vua Ghayur và, hôn đất trước mặt ngài, nói: “Ôi chúa công của tôi, hãy biết rằng Nhà Chiêm Tinh này quả thật là Shaykh của mọi nhà chiêm tinh, tất cả họ đều là kẻ ngu so với chàng; vì quả thật chàng đã chữa lành con gái ngài trong khi đứng sau tấm màn và không vào trong với nàng.” Nhà vua nói: “Hãy xem kỹ, tin này có thật không?” Hoạn quan đáp: “Ôi chúa công của tôi, xin đứng dậy đến xem tận mắt nàng đã có sức bẻ gãy xích sắt và đi ra với Nhà Chiêm Tinh, hôn và ôm chàng.” Bấy giờ nhà vua đứng dậy và vào với con gái mình, nàng khi thấy ngài thì vội đứng lên và che đầu,[FN#303] rồi ngâm hai câu thơ đôi này,

“Cành tăm chà răng ta không yêu; vì khi ta nói, *
‘Siwák,’[FN#304] ta nhớ chàng, vì nó nghe như ‘Siwá-ka’.
Cây bạch hoa ta yêu; vì khi ta nói, *
‘Arák’[FN#305] nghe như ta nhìn thấy chàng, ‘Ará-ka.’”

Bấy giờ nhà vua bị niềm vui trước sự hồi phục của nàng cuốn đi đến nỗi ngài cảm thấy như sắp bay lên, và hôn nàng giữa hai mắt, vì ngài yêu nàng bằng tình yêu tha thiết nhất; rồi, quay sang Kamar al-Zaman, ngài hỏi chàng là ai và nói: “Ngươi là người xứ nào?” Vậy vị Hoàng tử nói cho ngài tên và phẩm bậc của mình, cho ngài biết chàng là con trai vua Shahriman, rồi lát sau thuật lại cho ngài toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối; và cho ngài biết điều đã xảy ra giữa chàng và Phu nhân Budur; làm sao chàng đã lấy nhẫn ấn của nàng khỏi ngón tay nàng rồi đeo nó vào tay mình; nghe vậy Ghayur kinh ngạc và nói: “Quả thật câu chuyện của hai người đáng được ghi chép trong sách, và khi hai người đã chết đã qua, đời này qua đời khác được đọc lại.” Rồi ngài lập tức triệu các Kazi và nhân chứng rồi gả Phu nhân Budur cho Hoàng tử Kamar al-Zaman; sau đó ngài truyền trang hoàng thành phố suốt bảy ngày. Vậy họ bày các bàn tiệc với đủ loại thịt, trong khi trống đánh vang, các người rao báo tin mừng, và toàn thể quân binh mặc y phục giàu sang nhất; họ thắp sáng thành phố và tổ chức đại lễ. Rồi Kamar al-Zaman vào với Phu nhân Budur, và nhà vua vui mừng vì nàng hồi phục và vì hôn nhân của nàng; ngài ca ngợi Allah vì Ngài đã khiến nàng yêu một chàng trai đẹp trong dòng con các vua. Vậy họ vén màn nàng và trình cô dâu trước chú rể; cả hai là hình ảnh sống của nhau trong sắc đẹp, vẻ mỹ miều, duyên dáng và sức quyến rũ yêu đương. Rồi Kamar al-Zaman nằm với nàng đêm ấy và đạt ý muốn của mình nơi nàng, trong khi nàng cũng theo cách ấy thỏa ham muốn của mình nơi chàng và hưởng vẻ duyên cùng dáng yêu của chàng; rồi họ ngủ trong vòng tay nhau cho đến sáng. Sáng hôm sau, nhà vua mở tiệc cưới, tụ họp mọi người đến từ các Đảo của Nội Hải và Ngoại Hải, và ngài bày các bàn với món ngon chọn lọc nhất, không ngừng yến tiệc suốt một tháng. Nay khi Kamar al-Zaman đã thỏa ý muốn và đạt ước muốn sâu kín nhất, và khi chàng đã nán lại một thời gian với Công chúa Budur, chàng chợt nhớ đến cha mình, vua Shahriman, và thấy ngài trong mộng, nói: “Ôi con trai ta, con đối xử với ta như vậy sao?” rồi trong mộng, ngài ngâm hai câu thơ đôi này,

“Quả thật để canh vầng trăng tối, nó đã làm ta tàn úa, *
Và để ngắm sao qua đêm dài, nó đã trói buộc ta:
Hãy dịu lại, tim ta! vì biết đâu nó sẽ đoàn tụ với ngươi; *
Và hãy nhẫn nại, hỡi Hồn! với mọi điều ác nó sắp đặt cho ngươi.”

Nay sau khi thấy cha mình trong mộng và nghe lời trách của ngài, Kamar al-Zaman thức dậy vào buổi sáng, buồn rầu và rối trí, bấy giờ Phu nhân Budur hỏi chàng và chàng kể nàng điều mình đã thấy.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh sáu,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Kamar al-Zaman cho Phu nhân Budur biết điều chàng đã thấy trong mộng, nàng và chàng vào với thân phụ nàng và, kể cho ngài điều đã qua, cầu xin phép ngài được đi xa. Ngài ban cho vị Hoàng tử sự cho phép chàng tìm; nhưng Công chúa nói: “Ôi phụ vương của con, con không thể chịu được xa chàng.” Ghayur, cha nàng, nói: “Vậy con hãy đi cùng chàng,” và cho phép nàng vắng mặt trọn một năm, rồi về sau mỗi năm thăm ngài một lần; vậy nàng hôn tay ngài và Kamar al-Zaman cũng làm tương tự. Bấy giờ vua Ghayur bắt đầu trang bị cho con gái mình và chàng rể lên đường, cung cấp cho họ hành trang và đồ dùng cho cuộc hành quân; đưa ra khỏi chuồng ngựa những con ngựa mang dấu sắt riêng của ngài, những con lạc đà chạy nhanh thuần huyết[FN#306] có thể đi mười ngày không nước, và chuẩn bị một kiệu cho con gái, ngoài ra còn chất lương thực lên la và lạc đà; hơn nữa, ngài trao cho họ nô lệ và hoạn quan để hầu hạ họ cùng mọi thứ đồ đi đường; và vào ngày khởi hành, khi vua Ghayur từ biệt Kamar al-Zaman, ngài ban cho chàng mười bộ y phục lộng lẫy bằng vải vàng thêu đá quý, cùng mười ngựa cưỡi và mười lạc đà cái, và một kho tiền;[FN#307] rồi căn dặn chàng yêu thương và trân trọng con gái ngài, Phu nhân Budur. Rồi nhà vua đi cùng họ đến tận giới hạn xa nhất của các đảo của ngài, nơi, bước vào với con gái Budur trong kiệu, ngài hôn nàng và ghì nàng vào ngực mình, khóc và lặp lại,

“Ôi ngươi, kẻ ve vãn Chia Lìa, hãy đi nhẹ! *
Vì ôm yêu thuộc về bạn tình yêu:
Hãy đi êm! Bản tính của Vận Mệnh là giả dối, *
Và chia lìa sẽ kết thúc mọi cuộc gặp của tình yêu.”

Rồi rời con gái mình, ngài đến với chồng nàng, từ biệt chàng và hôn chàng; sau đó ngài chia tay họ và, ra lệnh cho đoàn đi, trở về kinh đô của mình cùng quân binh. Hoàng tử, Công chúa và đoàn tùy tùng đi tiếp không dừng qua ngày thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, rồi không ngừng đi suốt một tháng cho đến khi tới một đồng bằng rộng, đầy đồng cỏ, nơi họ dựng lều; họ ăn uống và nghỉ ngơi, còn Công chúa Budur nằm xuống ngủ. Lát sau, Kamar al-Zaman vào với nàng và thấy nàng nằm ngủ, mặc áo lót bằng lụa màu mơ chín, thứ phô ra tất cả và mọi điều; trên đầu nàng là mũ vải vàng thêu châu và ngọc. Làn gió nâng áo lót của nàng, làm lộ rốn nàng, phô đôi vú nàng và bày ra một bụng trắng hơn tuyết, mỗi lúm trên đó có thể chứa một ounce thuốc mỡ benzoin.[FN#308] Trước cảnh này, tình yêu và khát khao của chàng tăng gấp đôi, và chàng bắt đầu lặp lại,

“Nếu có người hỏi ta khi bị lửa địa ngục thiêu, *
Khi ngọn lửa tim giữ và vây gan ruột ta,
‘Ngươi sẽ chọn thứ nào, hãy nói, thà chọn chúng, *
Hay uống ngụm nước ngọt mát lành?’ Ta sẽ đáp: ‘Chọn chúng!’”

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#38

Rồi chàng đặt tay lên dải buộc quần lót của nàng, kéo nó và nới lỏng ra, vì linh hồn chàng thèm khát nàng, thì chàng thấy một viên ngọc đỏ như gỗ nhuộm, được buộc chặt vào dải ấy. Chàng tháo nó ra, xem xét, và khi thấy trên đó có hai dòng chữ khắc bằng một thứ tự dạng không đọc được, chàng kinh ngạc và tự nhủ: “Nếu mặt ngọc này không phải là vật cực quý đối với nàng, nàng đã chẳng buộc nó vào dải quần, cũng chẳng giấu nó nơi kín đáo và quý báu nhất trên thân mình, để khỏi phải rời xa nó. Ước gì ta biết nàng làm gì với vật này và bí mật nào ẩn trong đó.” Nói vậy, chàng cầm nó và đi ra ngoài lều để xem dưới ánh sáng,— Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi chàng cầm mặt ngọc để xem nó dưới ánh sáng, trong lúc chàng đang giữ nó, kìa, một con chim sà xuống chàng và, giật lấy vật ấy khỏi tay chàng, bay đi rồi đậu xuống đất. Bấy giờ Kamar al-Zaman, vì sợ mất viên ngọc, chạy theo con chim; nhưng nó cứ bay trước chàng, giữ mình vừa ngoài tầm với, và không ngừng kéo chàng đi từ thung lũng này sang thung lũng khác, từ đồi này sang đồi khác, cho đến khi đêm tối sầm và vòm trời đen lại, bấy giờ nó đậu ngủ trên một cây cao. Vậy Kamar al-Zaman dừng dưới cây, bối rối trong suy nghĩ, lả đi vì đói và mệt, cho rằng mình đã mất, muốn quay về nhưng không biết con đường mình đã đến, vì bóng tối đã bắt kịp chàng. Rồi chàng kêu lên: “Không có Uy Nghi và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại!”; rồi nằm xuống dưới gốc cây (nơi con chim đậu) và ngủ cho đến sáng, khi chàng thức dậy và thấy con chim cũng tỉnh dậy rồi bay đi. Chàng đứng lên, đi theo nó, và nó bay từng chút trước mặt chàng, theo đúng nhịp chàng đi; thấy vậy chàng mỉm cười và nói: “Thề bởi Allah, việc lạ lùng thay! Hôm qua, con chim này bay trước ta nhanh bằng hết sức ta có thể chạy, còn hôm nay, biết rằng ta thức dậy mỏi mệt và không thể chạy, nó bay theo nhịp bước của ta. Thề bởi Allah, điều này thật kỳ diệu! Nhưng nhất định ta phải theo con chim này, dù nó dẫn ta đến chết hay đến sống; ta sẽ đi bất cứ nơi nào nó đi, vì dù sao nó sẽ không ở lại trừ trong một xứ có người ở.”[FN#309] Vậy chàng tiếp tục theo con chim, mỗi đêm nó đậu ngủ trên một cây; và chàng không ngừng đuổi theo nó trong thời gian mười ngày, ăn trái của đất và uống nước của đất. Hết thời gian ấy, chàng trông thấy một thành phố có người ở, bấy giờ con chim phóng đi như cái liếc mắt và, bay vào thành, biến mất khỏi Kamar al-Zaman, khiến chàng không biết việc ấy nghĩa là gì hay nó đã đi đâu; vậy chàng kinh ngạc về việc này và kêu lên: “Ngợi ca Allah, Đấng đã đưa ta an toàn đến thành phố này!” Rồi chàng ngồi xuống bên một dòng nước, rửa tay, chân và mặt, nghỉ một lúc; và, nhớ lại đời sống dễ chịu và hoan lạc vừa qua của mình trong cảnh đoàn tụ với người yêu, đối chiếu với tình trạng hiện nay của gian lao, mệt nhọc, khốn khổ, lưu lạc, đói khát và chia lìa, lệ tuôn từ mắt chàng và chàng bắt đầu lặp lại những khúc năm câu này,

“Đau ơi, ta đã giấu việc tay ngươi làm, nhưng nó hiện ra, *
Đổi ngủ thành thức, và thức ở lại cùng ta:
Khi ngươi xua hắt tim ta, ta kêu lớn *
Số Mệnh, giữ tay ngươi lại, thôi siết buộc và thúc đâm:
Trong sầu và nguy, ta luôn thấy hồn mình!

Nếu Chúa Tình Yêu công bằng với ta, *
Giấc ngủ đã chẳng bị buộc trốn khỏi mi mắt ta.
Xin thương, phu nhân của ta, một kẻ vì yêu nàng *
Từ người yêu dấu của bộ tộc mình bị đưa xuống thấp:
Tình Yêu đến và định cho Giàu Sang chết như ăn mày.

Những kẻ chê trách mắng nàng: ta chẳng bao giờ cãi, *
Mà bịt tai và lặng lẽ ra dấu Không với họ:
‘Ngươi yêu một thiếu nữ mảnh mai,’ họ nói; ta nói, *
‘Ta đã chọn nàng và ném hết những người còn lại đi:’
Đủ rồi; khi Số Mệnh giáng xuống, nó làm mù mắt người!”[FN#310]

Và ngay khi chàng dứt lời thơ và đã nghỉ ngơi, chàng đứng dậy, bước đi từng chút một, cho đến khi vào thành.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng ngay khi Kamar al-Zaman dứt lời thơ và đã nghỉ ngơi, chàng đứng dậy, bước vào cổng thành[FN#311] mà không biết mình nên đi về đâu. Chàng băng qua thành từ đầu này đến đầu kia, vào bằng cổng đất liền, và không ngừng đi cho đến khi ra ở cổng biển, vì thành đứng trên bờ biển. Song chàng không gặp một người dân nào của nó. Và sau khi đi ra khỏi cổng đất liền, chàng tiến tới, không ngừng bước cho đến khi thấy mình giữa các vườn cây ăn trái và vườn tược của nơi ấy; rồi, đi qua giữa cây cối, lát sau chàng đến một khu vườn và dừng trước cửa; bấy giờ người giữ vườn đi ra với chàng và chào chàng. Vị Hoàng tử đáp lại lời chào, và người làm vườn đón chàng, nói: “Ngợi ca Allah vì chàng đã thoát an toàn khỏi cư dân của thành này! Mau, hãy vào vườn, trước khi dân trong thành nào thấy chàng.” Bấy giờ Kamar al-Zaman vào khu vườn ấy, lòng kinh ngạc, rồi hỏi người giữ vườn: “Câu chuyện về dân thành này là gì và họ là ai?” Người kia đáp: “Hãy biết rằng dân thành này đều là người Magian: nhưng nhân danh Allah trên chàng, hãy nói cho ta biết chàng đến thành này bằng cách nào và điều gì khiến chàng đến kinh đô của chúng ta.” Theo đó Kamar al-Zaman kể cho người làm vườn tất cả những gì đã xảy đến với mình từ đầu đến cuối, khiến ông kinh ngạc xiết bao và nói: “Hãy biết, ôi con trai ta, rằng các thành của Al-Islam nằm xa chúng ta; giữa chúng ta và họ là bốn tháng đường biển và trọn mười hai tháng đường bộ. Chúng ta có một con tàu mỗi năm dong buồm chở hàng hóa đến xứ Hồi giáo gần nhất, vào các biển của những đảo Ebony rồi từ đó đến các đảo Khalidan, lãnh địa của vua Shahriman.” Bấy giờ Kamar al-Zaman suy nghĩ một lúc và kết luận rằng chàng không thể làm gì tốt hơn là ở lại trong vườn với người làm vườn và trở thành người phụ giúp ông, nhận tiền công là một phần tư sản vật. Vậy chàng nói với ông: “Ông có nhận ta vào hầu việc ông, để giúp ông trong khu vườn này không?” Người làm vườn đáp: “Nghe là thuận”; rồi bắt đầu dạy chàng dẫn nước đến gốc cây. Vậy Kamar al-Zaman ở với ông, tưới cây, cuốc cỏ, mặc một áo ngắn màu xanh dài đến gối. Và chàng khóc những dòng lệ như lũ; vì chàng chẳng có nghỉ ngơi ngày hay đêm, bởi cớ lưu lạc, và chàng không ngừng lặp lại những vần thơ về người yêu của mình, trong số đó có những câu thơ đôi sau,

“Các nàng đã hứa với ta, lẽ nào không giữ lời? *
Các nàng đã nói một lời, lẽ nào việc chẳng được làm?
Ta thức vì đam mê trong khi các nàng chợp mắt và ngủ; *
Kẻ canh thức và kẻ ngủ say đâu cùng đòi quyền ngang nhau:
Chúng ta đã thề giữ tình yêu trong bí mật, *
Nhưng kẻ xen vào đã nói và các nàng liền nói ngay:
Ôi bạn trong đau và sướng, vui và sầu, *
Trong mọi cảnh, nàng, chỉ nàng, đòi hồn phách ta!
Giữa người đời có một người giữ trái tim bị giam của ta; *
Giá chàng chỉ tỏ chút thương xót cho mắt ta thấy.
Không phải mắt nào cũng bị thương đau như mắt ta, *
Không phải tim nào cũng bị khúc sáo tình làm héo như tim ta:
Các nàng đã oan ta khi nói, Tình Yêu luôn oan nghiệt, *
Phải! các nàng đã đúng, biến cố đã chứng rõ điều ấy.
Họ quên kẻ bị tình yêu nô dịch, mà lòng trung tín của hắn, thế gian *
Không cướp nổi, dẫu lửa trong tim bùng cháy:
Nếu kẻ thù của ta trở thành quan tòa của ta, *
Ta sẽ kiện ai để chữa sự tàn hại của hắn?
Nếu ta không cần tình yêu, cũng chẳng tìm tình yêu, *
Chắc chắn tim ta đã không rối loạn vì tình như vậy.”

Đó là tình cảnh của Kamar al-Zaman; còn về vợ chàng, Phu nhân Budur, khi nàng tỉnh dậy, nàng tìm chồng và không thấy chàng: rồi nàng thấy quần lót của mình bị mở, vì dải buộc đã được nới và mặt ngọc đã mất, bấy giờ nàng tự nhủ: “Thề bởi Allah, điều này thật lạ! Chồng ta đâu? Dường như chàng đã lấy bùa hộ mệnh và đi khỏi, không biết bí mật trong đó. Ước gì Trời cho ta biết chàng có thể đã đi về đâu! Nhưng nhất định phải có một việc phi thường nào đó kéo chàng đi, vì chàng không thể chịu nổi rời ta một khoảnh khắc. Allah nguyền rủa viên đá và nguyền rủa giờ của nó!” Rồi nàng suy nghĩ một lúc và tự nhủ: “Nếu ta ra ngoài nói với lũ đầy tớ và để chúng biết chồng ta đã mất tích, chúng sẽ thèm muốn ta: không còn cách nào khác ngoài dùng mưu.” Vậy nàng đứng dậy, mặc một số áo quần của chồng, đi ủng cưỡi ngựa, quấn khăn đội đầu giống chàng, kéo một góc khăn ngang mặt làm mạng che miệng.[FN#312] Rồi, đặt một nữ nô vào kiệu của mình, nàng đi ra khỏi lều và gọi các tiểu đồng, họ đưa chiến mã của Kamar al-Zaman đến cho nàng; nàng lên ngựa và truyền họ chất hàng lên súc vật rồi tiếp tục hành trình. Vậy họ buộc các kiện hàng và khởi hành; nàng giấu mưu của mình, không ai nghi ngờ gì ngoài việc nàng là Kamar al-Zaman, vì mặt và dáng nàng giống chàng; nàng cùng đoàn tùy tùng không ngừng đi, ngày này qua đêm khác, cho đến khi họ thấy một thành phố nhìn xuống Biển Mặn, nơi họ dựng lều bên ngoài tường và dừng lại nghỉ. Công chúa hỏi tên đô thị ấy và được bảo: “Nó gọi là Thành Ebony; vua của nó tên là Armanús, và ngài có một con gái tên là Hayát al-Nufús[FN#313],”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm linh chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Phu nhân Budur dừng lại trong tầm nhìn Thành Ebony để nghỉ ngơi, vua Armanus sai một sứ giả đi tìm hiểu vị vua nào đã dựng trại bên ngoài kinh đô của mình; vậy sứ giả đến các lều, hỏi về vua của họ, và được bảo rằng nàng là con trai một vị vua bị lạc đường khi đang hướng về các đảo Khalidan; bấy giờ hắn trở về với vua Armanus cùng tin ấy; và khi nhà vua nghe tin, ngài lập tức cưỡi ngựa ra cùng các chúa trong xứ mình để chào người lạ vừa đến. Khi ngài đến gần các lều, Phu nhân Budur đi bộ ra gặp ngài, bấy giờ nhà vua xuống ngựa và họ chào nhau. Rồi ngài đưa nàng vào thành và, đưa nàng lên cung điện, truyền bày bàn và mâm thức ăn, đồng thời truyền chuyển đoàn tùy tùng và hành lý của nàng đến nhà khách. Vậy họ ở đó ba ngày; hết thời gian ấy, nhà vua vào với Phu nhân Budur. Nay ngày hôm đó nàng đã đi Hammam và mặt nàng sáng như trăng rằm, là sự cám dỗ với thế gian và sự xé rách tấm màn hổ thẹn của loài người; và Armanus thấy nàng mặc một bộ áo lụa, thêu vàng và ngọc; vậy ngài nói với nàng: “Ôi con trai ta, hãy biết rằng ta là một lão nhân rất già, lại suy yếu, và Allah chẳng ban phúc cho ta có con nào ngoài một con gái, người giống con về sắc đẹp và duyên dáng; nay ta đã trở nên không còn thích hợp để điều hành quốc gia. Nàng là của con, ôi con trai ta; và, nếu vùng đất này của ta làm con hài lòng và con sẵn lòng ở lại, lập nhà nơi đây, ta sẽ gả nàng cho con và trao cho con vương quốc của ta, rồi được an nghỉ.” Khi Công chúa Budur nghe điều này, nàng cúi đầu và trán nàng đổ mồ hôi vì hổ thẹn, nàng tự nhủ: “Ta sẽ làm sao, khi ta là đàn bà? Nếu ta từ chối và rời khỏi ngài, ta không thể an toàn vì biết đâu ngài sai quân đuổi theo giết ta; còn nếu ta thuận, có lẽ ta sẽ bị hổ thẹn. Ta đã mất người yêu Kamar al-Zaman của mình và không biết điều gì đã xảy ra với chàng; ta cũng không thể thoát khỏi cảnh rắc rối này ngoài việc giữ im lặng, thuận theo và ở lại đây cho đến khi Allah đem đến điều phải đến.” Vậy nàng ngẩng đầu và tỏ ý phục tùng vua Armanus, nói: “Nghe và tuân lệnh!”; vì vậy ngài vui mừng và truyền người rao loan báo khắp các đảo Ebony tổ chức đại lễ và trang hoàng nhà cửa. Rồi ngài tập hợp các Thị thần và Nabob, Emir và Wazir, quan chức triều chính và các Kazi của thành; và, chính thức thoái vị khỏi ngôi Sultan, ngài ban nó cho Budur và khoác cho nàng mọi lễ phục của vương quyền. Các Emir và Đại nhân vào với nàng và tỏ lòng thần phục, không chút nghi ngờ nàng là một chàng trai, và tất cả những ai nhìn nàng đều đái ướt quần túi vì sắc đẹp và vẻ đáng yêu quá độ của nàng. Rồi, sau khi Phu nhân Budur được lập làm Sultan và trống đã đánh để loan báo sự kiện mừng vui, nàng được long trọng đặt lên ngai, vua Armanus bắt đầu trang bị cho con gái mình Hayat al-Nufus để thành hôn, và trong vài ngày, họ đưa Phu nhân Budur vào với nàng, khi ấy họ dường như là hai vầng trăng mọc cùng một lúc hay hai mặt trời giao hội. Vậy họ vào phòng tân hôn, cửa được đóng, rèm được buông xuống quanh họ, sau khi các thị nữ đã thắp nến sáp và trải thảm-giường cho họ. Khi Budur thấy mình ở một mình với Công chúa Hayat al-Nufus, nàng nhớ đến người yêu Kamar al-Zaman và sầu khổ đè nặng lên nàng. Vậy nàng khóc vì chàng vắng mặt và vì cảnh xa lạ, rồi bắt đầu lặp lại,

“Ôi các người đã trốn đi và để tim ta nằm thấp trong đau, *
Chẳng còn hơi sống nào được thấy trong thân xác này của ta:
Ta có một con mắt luôn than phiền vì thức trắng, nhưng kìa! *
Lệ chiếm lấy nó; ước gì thức trắng làm đôi mắt này thỏa:
Sau khi các người lên đường, tình nhân ở lại sau; *
Hãy hỏi hắn những đau đớn nào sự vắng mặt các người có thể sắp đặt!
Nếu không nhờ dòng lũ lệ mi mắt ta mưa đổ, *
Lửa của ta đã bốc cao và nung vôi mọi miền đất.
Ta than với Allah về những người yêu đã mất mãi mãi, *
Những người vì sầu và đau của ta sẽ không còn sầu đau nữa:
Ta chưa từng làm sai với họ ngoài việc nuôi tình yêu quá độ: *
Nhưng Tình Yêu chia chúng ta, những kẻ yêu nhau, thành phúc và bị nguyền.”

Và khi nàng dứt lời lặp lại, Phu nhân Budur ngồi xuống bên Công chúa Hayat al-Nufus và hôn nàng trên miệng; sau đó đột ngột đứng dậy, làm lễ tẩy rửa nhỏ và chuyên tâm vào việc cầu nguyện; nàng không rời cầu nguyện cho đến khi Hayat al-Nufus ngủ thiếp đi, bấy giờ nàng lẻn vào giường và nằm quay lưng với nàng cho đến sáng. Và khi ngày rạng, nhà vua và hoàng hậu vào với con gái mình và hỏi nàng ra sao. Bấy giờ nàng kể cho họ điều nàng đã thấy, và lặp lại với họ những vần nàng đã nghe. Đến đây là chuyện về Hayat al-Nufus và cha nàng; còn về Nữ vương Budur, nàng đi ra và ngồi trên ngai vương, và tất cả Emir, Đội trưởng cùng quan chức triều chính đến với nàng, chúc mừng nàng về vương quyền, hôn đất trước mặt nàng và cầu phúc lành xuống trên nàng. Nàng đón họ bằng gương mặt tươi cười, khoác cho họ áo danh dự, tăng thái ấp của các quan chức cao và ban rộng cho quân binh; bởi thế toàn dân yêu nàng và dâng lời cầu nguyện cho triều đại của nàng bền lâu, không nghi ngờ gì ngoài việc nàng là nam nhân. Nàng không ngừng ngồi suốt ngày trong đại sảnh tiếp kiến, truyền lệnh và cấm lệnh; phân xử công lý, thả tù nhân và miễn các khoản thuế quan, cho đến khi đêm xuống, bấy giờ nàng rút về căn phòng đã chuẩn bị cho mình. Ở đây nàng thấy Hayat al-Nufus đang ngồi, nên nàng ngồi xuống bên cạnh, vỗ lưng nàng, dỗ dành, âu yếm nàng và hôn nàng giữa hai mắt, rồi bắt đầu ngâm thơ bằng những câu thơ đôi này,

“Bí mật nào ta giữ, những giọt lệ này đã kể, *
Và thân xác hao mòn của ta phải phơi bày tình yêu ta:
Dẫu ta giấu nỗi sầu, cảnh ta trong ngày chia lìa *
Đã bán bí mật ta cho mọi mắt ghen tị:
Ôi các người đã nhổ trại, các người bỏ lại sau *
Hồn ta mỏi mệt và tim ta lạnh buốt:
Trong lõi tim ta, các người cư ngụ, và nay đôi mắt này *
Lăn giọt máu cùng những giọt lệ từng lăn:
Kẻ vắng mặt, ta sẽ chuộc bằng linh hồn mình; *
Tất cả có thể thấy nỗi khát khao ta dành cho cảnh gặp họ:
Ta có một con mắt mà con ngươi,[FN#314] vì yêu chàng, *
Đã từ chối giấc ngủ, cũng chẳng kiểm soát được lệ mình.
Kẻ thù bảo ta kiên nhẫn chịu mất chàng, *
Cầu tai ta đừng bao giờ nhận lòng thương hắn ban!
Ta đã dùng mưu với lời họ nghĩ về ta, và đạt được ước muốn *
Về những niềm vui muôn vẻ của Kamar al-Zaman:
Chàng gom mọi ân tứ hoàn hảo như chưa ai trước đó, *
Chẳng vua xưa nào khoe nổi quyền uy và sức mạnh ấy:
Thấy ân tứ của chàng, chúng ta quên sự rộng ban *
Của Bin Zá'idah[FN#315], và Mu'áwiyah tâm hồn dịu nhất:[FN#316]
Nếu thơ không yếu và thời gian không quá ngắn, *
Ta đã dùng hết mọi vần để ca ngợi chàng.”

Rồi Nữ vương Budur đứng dậy, lau nước mắt và, làm lễ tẩy rửa nhỏ,[FN#317], chuyên tâm cầu nguyện: nàng không thôi cầu nguyện cho đến khi cơn buồn ngủ thắng Phu nhân Hayat al-Nufus và nàng ngủ, bấy giờ Phu nhân Budur đến nằm cạnh nàng cho đến sáng. Lúc rạng ngày, nàng đứng dậy và cầu lễ bình minh; rồi lát sau ngồi trên ngai vương và qua ngày trong việc ra lệnh, đổi lệnh, ban luật và thi hành công lý. Đó là việc xảy ra với nàng; còn về vua Armanus, ngài vào với con gái mình và hỏi nàng ra sao; vậy nàng kể cho ngài tất cả những gì đã xảy đến với nàng và lặp lại với ngài những vần mà Nữ vương Budur đã ngâm, thêm: “Ôi phụ vương của con, con chưa từng thấy ai dồi dào lý trí lành mạnh và khiêm cung hơn chồng con, chỉ trừ việc chàng chẳng làm gì ngoài khóc và thở dài.” Ngài đáp: “Ôi con gái ta, hãy kiên nhẫn với chàng thêm đêm thứ ba này, và nếu chàng không vào với con và phá bỏ trinh tiết của con, chúng ta sẽ biết phải xử trí thế nào với chàng, truất chàng khỏi ngai và trục xuất chàng khỏi xứ.” Và theo lối này, ngài thỏa thuận với con gái mình về đường lối mình sẽ làm.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi vua Armanus đã thỏa thuận với con gái mình theo lối này và đã quyết định đường lối mình sẽ làm, đêm xuống, Nữ vương Budur đứng dậy khỏi ngai vương quốc mình và tìm đến cung điện, bước vào căn phòng đã chuẩn bị cho nàng. Ở đó nàng thấy nến sáp đã thắp và Công chúa Hayat al-Nufus đang ngồi chờ nàng; bấy giờ nàng nhớ đến chồng mình và những gì đã xảy đến với cả hai trong sầu khổ và chia lìa chỉ trong một quãng ngắn; nàng khóc, thở dài và rên rỉ hết tiếng rên này đến tiếng rên khác, rồi bắt đầu ứng khẩu những câu thơ đôi này,

“Tin về tình yêu ta tràn khắp đất, ta thề, *
Như mặt trời trên hoang địa Ghazá[FN#318] mưa xuống nóng và chói:
Chuyện chàng nói ra nhưng nghĩa nó khó nói; *
Vì vậy nỗi lo và ưu phiền ta không ngừng lớn:
Ta ghét nàng Nhẫn Nại đẹp từ khi ta yêu chàng; *
Có bao giờ ngươi thấy kẻ yêu ghét chịu đựng vì yêu?
Một ánh liếc gieo bệnh yêu đã gieo cho ta cái chết, *
Những ánh liếc là vật chết chóc nhất với khổ hình hiếm lạ:
Chàng rũ lọn tóc yêu xuống và để lộ cằm mình, *
Nhờ đó ta thấy vẻ đẹp tối và sáng của chàng:
Nỗi lo, phương thuốc của ta đều trong tay chàng; và chính chàng *
Kẻ gây đau thương ấy có thể sửa lại nỗi sầu của chúng:
Thắt lưng chàng hóa điên vì độ mềm của eo chàng; *
Hông chàng, vì ghen, không chịu đứng lên:
Vầng trán đội vương miện lọn tóc của chàng là đêm âm u; *
Hãy vén nó, và kìa! Bình Minh sáng hiện ánh sáng rực nhất.”

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#39

Khi nàng dứt lời ngâm thơ, nàng định đứng dậy cầu nguyện, nhưng kìa! Hayat al-Nufus nắm lấy vạt áo nàng và bám vào nàng, nói: “Ôi chúa công của thiếp, chàng không hổ thẹn trước cha thiếp sao, sau tất cả ân sủng của ngài, mà lại lơ là thiếp vào một lúc như thế này?” Khi Nữ vương Budur nghe lời nàng, nàng ngồi xuống ngay tại chỗ và nói: “Ôi người yêu dấu của ta, điều nàng nói là gì?” Nàng đáp: “Điều thiếp nói là thiếp chưa từng thấy ai kiêu hãnh về chính mình như chàng. Có phải mọi người đẹp đều khinh bạc như thế chăng? Thiếp nói điều này không phải để khiến chàng nghiêng về thiếp; thiếp nói chỉ vì sợ cho chàng trước vua Armanus; bởi ngài đã định rằng, nếu chính đêm nay chàng không vào với thiếp và phá trinh tiết của thiếp, thì ngày mai ngài sẽ tước vương quyền của chàng và trục xuất chàng khỏi vương quốc của ngài; mà biết đâu cơn giận quá độ của ngài còn dẫn ngài đến việc giết chàng. Nhưng thiếp, ôi chúa công của thiếp, thương xót chàng và báo trước cho chàng rõ; còn xét liệu là quyền của chàng.”[FN#319] Nay khi Nữ vương Budur nghe nàng nói những lời này, nàng cúi đầu xuống đất một lúc trong bối rối dữ dội và tự nhủ: “Nếu ta từ chối, ta mất mạng; còn nếu ta tuân theo, ta hổ thẹn. Nhưng nay ta là Nữ vương của toàn bộ các đảo Ebony và chúng ở dưới quyền ta, ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại Kamar al-Zaman của ta ngoài nơi này; vì không có đường nào cho chàng về quê hương ngoài qua các đảo Ebony. Quả thật ta không biết phải làm gì trong tình cảnh hiện nay, nhưng ta phó thác việc của mình cho Allah, Đấng sắp đặt mọi sự theo điều tốt đẹp nhất, vì ta không phải nam nhân để đứng dậy và mở cô gái đồng trinh này.” Rồi Nữ vương Budur nói với Hayat al-Nufus: “Ôi người yêu dấu của ta, việc ta lơ là nàng và kiêng nàng là bất chấp chính ta.” Và nàng kể cho nàng ấy nghe toàn bộ câu chuyện của mình từ đầu đến cuối, rồi phô thân mình cho nàng ấy thấy, nói: “Ta khẩn cầu nàng nhân danh Allah hãy giữ kín lời bàn của ta, vì ta che giấu tình cảnh của mình chỉ để Allah có thể tái hợp ta với người yêu của ta, Kamar al-Zaman, rồi sau đó điều gì đến hãy đến.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười một,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Phu nhân Budur cho Hayat al-Nufus biết chuyện đời mình và bảo nàng ấy giữ bí mật, Công chúa nghe nàng với sự kinh ngạc tột độ, động lòng thương và cầu Allah tái hợp nàng với người yêu, nói: “Đừng sợ gì cả, ôi chị em của thiếp; mà hãy nhẫn nại cho đến khi Allah khiến điều phải xảy đến xảy ra:” và nàng bắt đầu lặp lại,

“Không ai ngoài người có phẩm giá giữ được bí mật;
Với người xứng đáng, bí mật được giấu sâu;
Như trong một căn phòng, bí mật nằm với ta,
Cửa đã niêm, khóa đã sập và chìa đã mất.”[FN#320]

Và khi Hayat al-Nufus dứt những vần thơ, nàng nói: “Ôi chị em của thiếp, quả thật lồng ngực của người cao quý và dũng cảm là mồ chôn của bí mật; và thiếp sẽ không tiết lộ bí mật của chị.” Rồi họ đùa giỡn, ôm nhau, hôn nhau và ngủ cho đến gần lúc Mu'ezzin gọi cầu lễ bình minh, khi Hayat al-Nufus đứng dậy, lấy một con bồ câu non,[FN#321] cắt cổ nó trên áo lót của mình và bôi máu nó lên người. Rồi nàng cởi quần lót ra và kêu lớn, bấy giờ người nhà nàng vội đến với nàng và cất những tiếng reo vui cùng tiếng kêu mừng rỡ thường lệ. Lát sau mẹ nàng vào với nàng, hỏi nàng ra sao, bận bịu quanh nàng và ở với nàng cho đến chiều; trong khi Phu nhân Budur đứng dậy lúc bình minh, đến nhà tắm và, sau khi tắm rửa mình tinh sạch, đi đến đại sảnh tiếp kiến, nơi nàng ngồi xuống trên ngai và phân xử công lý giữa dân chúng. Nay khi vua Armanus nghe những tiếng kêu mừng vui vang dội, ngài hỏi có chuyện gì và được báo về việc hôn nhân của con gái ngài đã hoàn tất; nghe vậy ngài vui mừng và ngực ngài nở phồng vì hân hoan, rồi ngài làm một tiệc cưới lớn mà cuộc vui kéo dài rất lâu. Đó là tình cảnh của họ: còn về vua Shahriman thì sự việc theo lối này. Sau khi con trai ngài đi săn cùng Marzawan, như đã kể trước, ngài kiên nhẫn nán lại chờ họ trở về lúc đêm xuống; nhưng khi con trai ngài không xuất hiện, ngài qua một đêm không ngủ và những giờ tối tăm kéo dài lê thê trên ngài; sự bồn chồn của ngài quá độ, nỗi kích động lớn dần trên ngài và ngài tưởng buổi sáng sẽ chẳng bao giờ rạng. Và khi ngày rạng, ngài ngồi chờ con trai và đợi đến giữa trưa, nhưng chàng không đến; bấy giờ tim ngài báo trước chia lìa và bốc lửa vì sợ cho Kamar al-Zaman; ngài kêu: “Than ôi! con trai ta!” rồi khóc cho đến khi áo quần đẫm lệ, và lặp lại với trái tim đập dồn,

“Ta từng không ngừng chống lại môn đồ của Tình Yêu, *
Cho đến khi bị định phải nếm đắng và ngọt của Tình Yêu:
Ta uống cạn chén khắc nghiệt của nó đến tận cặn, *
Tự hạ mình dưới chân nô lệ và người tự do của nó:
Vận Mệnh đã thề chia lìa tình yêu của chúng ta; *
Nàng giữ lời thật đúng làm sao, ta biết rõ!”

Và khi ngài dứt vần thơ, ngài lau lệ và truyền quân binh chuẩn bị hành quân, sửa soạn cho một cuộc viễn chinh dài. Vậy tất cả lên ngựa và xuất phát, do Sultan dẫn đầu, tim ngài cháy vì sầu và bốc lửa vì lo âu cho con trai Kamar al-Zaman; họ tiến bằng những chặng hành quân gấp. Nay nhà vua chia quân thành sáu đội, cánh phải và cánh trái, tiền quân và hậu quân;[FN#322] rồi truyền họ hẹn gặp vào ngày mai ở ngã tư đường. Theo đó họ tách ra và lùng sục khắp vùng đất suốt phần còn lại của ngày ấy cho đến đêm, rồi họ hành quân suốt đêm, và vào trưa ngày hôm sau, họ hợp lại tại nơi bốn đường gặp nhau. Nhưng họ không biết Hoàng tử đã đi theo đường nào, cho đến khi họ thấy dấu hiệu của áo quần bị xé và trông thấy những mảnh thịt vụn, thấy máu còn rải trên đường, và họ ghi nhận từng mảnh áo quần cùng mảnh thịt bị xé rách vương vãi khắp mọi phía. Nay khi vua Shahriman thấy điều này, ngài kêu từ lõi tim một tiếng lớn, nói: “Than ôi, con trai ta!”; rồi đánh vào mặt mình, giật râu và xé áo, không nghi ngờ gì rằng con trai mình đã chết. Rồi ngài buông mình vào khóc than quá độ, và quân binh cũng khóc vì tiếng khóc của ngài, tất cả đều tin chắc rằng Hoàng tử Kamar al-Zaman đã chết. Họ ném bụi lên đầu, và đêm bắt gặp họ đang đổ lệ và than khóc cho đến khi họ gần như chết. Rồi nhà vua với trái tim cháy lửa và những tiếng thở dài bốc cháy, nói những câu thơ đôi này,

“Chớ trách kẻ than khóc vì đang than nỗi khổ; *
Khát khao đã đủ để tỏ mọi điều đau:
Hắn khóc vì sức nặng của sầu và đau, *
Và những điều này là bằng chứng tốt nhất với ngươi về lửa yêu của hắn:
Hạnh phúc thay![FN#323] người mà bệnh tình yêu thề rằng *
Mí mắt hắn sẽ chẳng bao giờ thôi chảy lệ yêu:
Hắn khóc mất vầng Trăng đẹp nhất, tròn đầy nhất, *
Chiếu trên mọi bạn đồng hàng bằng ánh rạng vinh quang:
Nhưng cái chết đã cho uống chén đầy tràn, ngày *
Chàng rời xứ sinh ra, vui lòng ra đi:
Chàng bỏ nhà mình và từ chúng ta đi vào sầu; *
Cũng chẳng thể nói lời từ biệt với huynh đệ mình:
Phải, mất chàng làm ta bị thương bởi đau đớn chia lìa, *
Và phân ly khiến ta chịu bao nhiêu cơn quặn:
Khi đi, chàng từ biệt mắt chúng ta trong lúc chàng đi; *
Khi Chúa của chàng đoái ban Thiên Đường cho chàng.”

Và khi vua Shahriman dứt những vần thơ, ngài trở về kinh đô cùng quân binh,— Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi vua Shahriman dứt những vần thơ, ngài trở về kinh đô cùng quân binh, cho rằng con trai đã mất, nghĩ rằng thú dữ hay bọn cướp đã tấn công chàng và xé chàng thành mảnh; rồi ra lệnh loan báo rằng tất cả trong các đảo Khalidan phải mặc áo đen để tang chàng. Hơn nữa, ngài xây một thủy đình để tưởng nhớ chàng, đặt tên là Nhà Than Khóc; và vào Thứ Hai cùng Thứ Năm, ngài chuyên tâm vào việc quốc gia và sắp đặt công việc của quân binh cùng thần dân; còn phần còn lại trong tuần, ngài thường trải qua trong Nhà Than Khóc, để tang con trai và than khóc chàng bằng những vần ai điếu,[FN#324] trong đó có những câu sau:—

“Ngày phúc của ta là ngày con hiện ra; *
Ngày họa của ta là ngày con ra đi:[FN#325]
Dẫu suốt đêm ta run rẩy vì sợ chết; *
Đoàn tụ cùng con là niềm phúc thân yêu nhất trong mọi phúc.”

Và ngài lại nói,

“Linh hồn ta xin hiến tế cho một người, mà cuộc ra đi *
Làm tim chịu khổ đau dữ dội và đáng sợ:
Hãy để niềm vui hoàn tất kỳ góa bụa của nàng,[FN#326] vì ta *
Đã ly dị niềm vui bằng lời ly dị nói ba lần.”[FN#327]

Đó là tình cảnh của vua Shahriman; còn về Nữ vương Budur, con gái vua Ghayur, nàng ở lại trị vì các đảo Ebony, trong khi dân chúng chỉ vào nàng bằng ngón tay và nói: “Kia là con rể của vua Armanus.” Và mỗi đêm nàng nằm với Hayat al-Nufus, than với nàng ấy về tình trạng hoang vắng của mình và nỗi khát khao chồng nàng, Kamar al-Zaman; khóc lóc và miêu tả cho nàng ấy sắc đẹp cùng vẻ đáng yêu của chàng, khát khao được hưởng chàng dù chỉ trong một giấc mộng: Và đôi lúc nàng lặp lại,

“Allah biết rõ rằng từ khi ta chia lìa chàng, *
Ta khóc đến phải vay lệ bằng lãi nặng:
‘Nhẫn nại!’ kẻ trách ta kêu, ‘chẳng bao lâu sẽ thấy an lòng!’ *
Ta nói: ‘Hãy nói, kẻ trách, nhà của Nhẫn Nại ở đâu?’”

Đó là việc xảy ra với Nữ vương Budur; còn về Kamar al-Zaman, chàng ở với người làm vườn trong khu vườn không phải thời gian ngắn, khóc đêm ngày và lặp lại những vần thơ than tiếc thời gian hưởng thụ và vui thú đã qua; trong khi người làm vườn luôn an ủi chàng và bảo đảm với chàng rằng con tàu sẽ dong buồm về đất của người Hồi giáo vào cuối năm. Và chàng tiếp tục trong tình trạng này cho đến một ngày nọ chàng thấy dân chúng tụ tập đông đảo và kinh ngạc về điều ấy; nhưng người làm vườn vào với chàng và nói: “Ôi con trai ta, hãy thôi làm việc ngày hôm nay và đừng dẫn nước đến cây; vì đây là một ngày lễ, trong đó người ta thăm viếng nhau. Vậy hãy nghỉ ngơi và chỉ giữ mắt trông khu vườn, trong khi ta đi xem xét con tàu cho con; vì chỉ còn một thời gian ngắn nữa là ta gửi con về đất người Hồi giáo.” Nói vậy, ông đi khỏi vườn, để Kamar al-Zaman một mình; chàng rơi vào suy ngẫm về tình cảnh của mình cho đến khi tim gần vỡ và lệ tuôn khỏi mắt. Vậy chàng khóc bằng tiếng khóc quá độ cho đến khi ngất đi, và khi hồi tỉnh, chàng đứng dậy, đi quanh vườn, nghiền ngẫm điều Thời Gian đã làm với mình và than khóc cảnh lưu lạc cùng chia lìa kéo dài khỏi những người chàng yêu. Khi chàng chìm đắm như vậy trong suy nghĩ u sầu, chân chàng vấp và chàng ngã sấp, trán đập vào rễ cây nhô ra; cú va làm rách trán và máu chàng chảy xuống, hòa cùng nước mắt. Rồi chàng đứng dậy và, lau máu, hong khô lệ, buộc trán bằng một mảnh giẻ; sau đó tiếp tục đi quanh vườn, bị mộng tưởng buồn bã chiếm lấy. Lát sau, chàng nhìn lên một cây và thấy hai con chim đang cãi nhau trên đó, và một con vươn lên, dùng mỏ đánh vào cổ con kia, cắt lìa đầu nó khỏi thân, rồi bay đi cùng chiếc đầu, trong khi con chim bị giết rơi xuống đất trước mặt Kamar al-Zaman. Khi nó nằm đó, kìa, hai con chim lớn sà xuống nó, đáp xuống, một con ở đầu và một con ở đuôi, cả hai rủ cánh và cúi mỏ trên nó, vươn cổ về phía nó mà khóc. Kamar al-Zaman cũng khóc khi thấy những con chim than khóc bạn mình như vậy, và nhớ đến vợ cùng cha mình, và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười ba,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zaman khóc và than cảnh chia lìa khỏi vợ cùng thân phụ, khi chàng nhìn thấy hai con chim kia khóc trên bạn chúng. Rồi chàng nhìn đôi chim và thấy chúng đào một ngôi mộ, chôn con chim bị giết vào đó; sau đó chúng bay xa lên vòm trời và biến mất một lúc; nhưng lát sau chúng trở lại cùng con chim sát nhân, rồi đáp xuống trên mộ kẻ bị giết, giẫm đạp lên kẻ giết cho đến khi giết chết nó. Rồi chúng xé bụng nó, lôi ruột nó ra, đổ máu lên mộ con chim bị giết[FN#328]: hơn nữa, chúng lột da nó, xé thịt nó thành mảnh và, kéo phần ruột còn lại ra, rải chúng chỗ này chỗ nọ. Suốt lúc ấy Kamar al-Zaman kinh ngạc nhìn chúng; nhưng lát sau, tình cờ nhìn vào nơi hai con chim đã giết con thứ ba, chàng thấy ở đó có thứ gì đó lấp lánh. Vậy chàng đến gần nó và nhận ra đó là diều của con chim chết. Bấy giờ chàng cầm lấy, mở ra và tìm thấy lá bùa vốn là nguyên nhân chia lìa chàng khỏi vợ mình. Nhưng khi thấy nó và nhận ra nó, chàng ngã xuống đất ngất đi vì vui; và khi hồi tỉnh, chàng nói: “Ngợi ca Allah! Đây là vị nếm trước điều tốt và điềm báo đoàn tụ với người yêu của ta.” Rồi chàng xem xét viên ngọc và đưa nó qua mắt mình[FN#329]; sau đó chàng buộc nó vào cẳng tay, vui mừng trong điều lành sắp đến, và đi quanh cho đến khi đêm xuống, chờ người làm vườn trở lại; và khi ông không về, chàng nằm xuống ngủ ở chỗ quen thuộc. Lúc rạng ngày, chàng đứng dậy làm việc và, thắt lưng bằng một sợi dây xơ cọ, cầm rìu cùng giỏ, đi xuống dọc khu vườn, cho đến khi đến một cây carob và chém rìu vào rễ nó. Cú chém vang lên và dội lại; vậy chàng gạt đất khỏi chỗ đó, phát hiện một cửa sập và nâng nó lên.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười bốn,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Kamar al-Zaman nâng cửa sập lên, chàng thấy một cầu thang xoắn, chàng đi xuống và tới một hầm cổ từ thời Ad và Thamúd,[FN#330] được đục trong đá. Quanh hầm có nhiều bình đồng lớn bằng vò dầu lớn, chàng thấy chúng đầy vàng đỏ lấp lánh: bấy giờ chàng tự nhủ: “Quả thật sầu đã đi và an ủi đã đến!” Rồi chàng lên khỏi hầm ngầm trở lại khu vườn và, đặt cửa sập về như trước, bận bịu dẫn nước đến cây cho đến cuối ngày, khi người làm vườn trở lại và nói với chàng: “Ôi con trai ta, hãy vui mừng trước tin tốt lành về sự trở về quê hương nhanh chóng: các thương nhân đã sẵn sàng trang bị cho chuyến đi và trong ba ngày nữa con tàu sẽ dong buồm đến Thành Ebony, vốn là thành đầu tiên của các thành người Hồi giáo, và sau khi đến đó, con phải đi đường bộ sáu tháng hành trình cho đến khi con đến các đảo Khalidan, lãnh địa của vua Shahriman.” Nghe vậy Kamar al-Zaman vui mừng và bắt đầu lặp lại,

“Đừng rời người mà thói quen là không rời các người; *
Cũng đừng bằng những lời mỉa mai tàn nhẫn làm kẻ vô tội chết nhục:
Một kẻ khác chia lìa lâu như vậy hẳn đã rút tim khỏi các người, *
Và đã đổi hết tình trạng mình,—nhưng ta thì không.”

Rồi chàng hôn tay người làm vườn và nói: “Ôi cha của con, cũng như người đã đem đến cho con tin mừng, con cũng có tin tốt lành lớn cho người,” rồi kể cho ông nghe việc mình phát hiện hầm; nghe vậy người làm vườn vui mừng và nói: “Ôi con trai ta, tám mươi năm ta cư ngụ trong khu vườn này mà chưa từng gặp được thứ gì, trong khi con, kẻ chưa ở với ta một năm, đã phát hiện vật này; vì vậy đó là quà Trời ban cho con, nó sẽ chấm dứt những nỗi khổ của con và giúp con tái hợp với người nhà cùng gặp gỡ người con yêu.” Kamar al-Zaman nói: “Không còn cách nào khác ngoài việc nó phải chia giữa con và người.” Rồi chàng đưa ông đến căn phòng dưới đất và cho ông xem vàng, vốn ở trong hai mươi bình: chàng lấy mười bình và người làm vườn mười bình, lão nhân nói với chàng: “Ôi con trai ta, hãy tự đổ đầy các bình da[FN#331] bằng ô liu chim sẻ[FN#332] mọc trong khu vườn này, vì chúng không được tìm thấy ngoài xứ chúng ta; và thương nhân mang chúng đến mọi miền. Hãy đặt vàng trong các bình da và rải ô liu lên trên: rồi nút chúng lại, phủ kín chúng và đem chúng theo con trên tàu.” Vậy Kamar al-Zaman đứng dậy không dừng hay chậm, lấy năm mươi bình da và chứa trong mỗi bình một phần vàng, rồi đóng từng bình lại sau khi đặt một lớp ô liu trên vàng; và dưới đáy một trong các bình, chàng đặt lá bùa. Rồi chàng ngồi nói chuyện với người làm vườn, tin chắc về cuộc tái hợp chóng vánh với người nhà mình, tự nhủ: “Khi ta đến các đảo Ebony, từ đó ta sẽ đi về xứ của cha ta và hỏi tìm người yêu Budur của ta. Ước gì Trời cho ta biết liệu nàng đã trở về xứ của mình hay tiếp tục đi đến xứ của cha ta, hoặc liệu tai nạn nào đã xảy đến với nàng trên đường.” Và chàng bắt đầu ngâm thơ,

“Tình yêu trong ngực ta, họ thắp lên rồi đi xa, *
Và xa là xứ nơi người yêu ta bị giam:
Xa thay trại và những người cắm trại trong đó; *
Xa thay lều-điện của nàng, nơi ta chẳng bao giờ dựng lều.
Nhẫn Nại rời ta thật xa khi họ trốn khỏi ta; *
Giấc ngủ rời mắt ta, chịu đựng đã tiêu hao:
Họ ra đi và cùng họ rời khỏi mọi niềm vui của ta, *
Đi cùng họ, còn ta chẳng tìm thấy bình an đã đi:
Họ khiến đôi mắt này lăn xuống dòng lệ tình như lũ, *
Và thiếu họ, đôi mắt này đẫm nước mắt.
Khi vị nếm của ta quay lại, ta muốn thấy họ lần nữa, *
Khi sầu nhớ và mong đợi chỉ tăng thêm,
Trong lõi tim ta, ta vẽ lại hình ảnh họ, *
Với tình yêu và khát khao được nhìn vẻ duyên của họ.”

Rồi, trong khi chờ hết kỳ hạn ngày tháng, chàng kể cho người làm vườn chuyện những con chim và điều đã xảy ra giữa chúng; người nghe kinh ngạc; rồi cả hai nằm xuống ngủ cho đến sáng. Người làm vườn thức dậy bị bệnh và cứ như vậy hai ngày; nhưng đến ngày thứ ba, bệnh của ông tăng nặng, cho đến khi người ta tuyệt vọng về mạng sống của ông và Kamar al-Zaman đau buồn dữ dội vì ông. Trong khi ấy, kìa, thuyền trưởng và thủy thủ đoàn đến hỏi về người làm vườn; và khi Kamar al-Zaman nói với họ rằng ông bị bệnh, họ hỏi: “Chàng trai có ý đi cùng chúng ta đến các đảo Ebony đâu?” Vị Hoàng tử đáp: “Hắn là tôi tớ của các người và hắn đang đứng trước các người!” rồi bảo họ mang các bình da ô liu đến tàu; vậy họ chuyển chúng đi, nói: “Hãy mau lên, ngươi, vì gió thuận”; chàng đáp: “Ta nghe và tuân lệnh.” Rồi chàng mang lương thực của mình lên tàu và, trở lại để từ biệt người làm vườn, thấy ông đang trong cơn hấp hối; vậy chàng ngồi xuống bên đầu ông và khép mắt ông lại, rồi linh hồn ông rời khỏi thân xác; bấy giờ chàng liệm ông và phó ông vào đất dưới lòng thương xót của Allah Toàn Năng. Rồi chàng đi về phía con tàu, nhưng thấy nó đã nhổ neo và dong buồm; nó không ngừng xé biển cho đến khi biến mất khỏi mắt chàng. Vậy chàng trở lại nơi mình đã đến, tim nặng trĩu và đầu quay cuồng; chàng không muốn nói với một linh hồn nào cũng chẳng trả lời ai; và khi tới khu vườn rồi ngồi xuống trong ưu phiền cùng lo âu, chàng ném bụi lên đầu và đánh vào má mình. —Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười lăm,

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#40

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi con tàu lao theo hải trình, Kamar al-Zaman trở lại khu vườn trong ưu phiền và lo lắng; nhưng lát sau chàng thuê lại nơi ấy của chủ đất và thuê một người giúp mình tưới cây. Hơn nữa, chàng sửa cửa sập, rồi xuống căn phòng dưới đất và đem phần vàng còn lại lên mặt cỏ, cất nó vào năm mươi bình da khác, chàng phủ đầy bằng một lớp ô liu. Rồi chàng hỏi về con tàu và người ta bảo chàng rằng nó chỉ dong buồm mỗi năm một lần, khiến nỗi rối loạn trong tâm trí chàng tăng gấp đôi; chàng khóc dữ dội vì điều đã xảy đến với mình, trên hết là vì mất lá bùa của Công chúa Budur, và trải qua đêm ngày khóc lóc, lặp lại những vần thơ. Đó là tình cảnh của chàng; còn về con tàu, nó đi với gió thuận cho đến khi tới các đảo Ebony. Nay bởi sắc lệnh của định mệnh, Nữ vương Budur đang ngồi bên một cửa sổ song nhìn xuống biển và thấy chiếc thuyền lớn thả neo trên bờ. Trước cảnh này, tim nàng đập rộn lên và nàng lên ngựa cùng các Thị thần và Nabob, cưỡi xuống bờ, dừng lại cạnh con tàu, trong khi thủy thủ dỡ hàng và mang các kiện đến kho; sau đó nàng gọi thuyền trưởng đến trước mặt mình và hỏi hắn có gì theo cùng. Hắn đáp: “Ôi đức vua, trong con tàu này tôi có dược liệu thơm, mỹ phẩm, bột thuốc chữa bệnh, thuốc mỡ, cao dán, kim loại quý, vải vóc giàu sang và thảm da Yemen, nhiều đến mức la hay lạc đà cũng không chở nổi, cùng đủ loại hương liệu và gia vị, nước hoa, xạ hương cầy, long diên hương, long não, trầm Sumatra, me[FN#333] và cả ô liu chim sẻ, thứ hiếm tìm thấy ở xứ này.” Khi nàng nghe nói đến ô liu chim sẻ, tim nàng thèm chúng, và nàng nói với chủ tàu: “Ngươi có bao nhiêu ô liu?” Hắn đáp: “Năm mươi bình đầy, nhưng chủ của chúng không đi cùng chúng tôi, vậy đức vua cứ lấy những gì ngài muốn trong đó.” Nàng nói: “Đem chúng lên bờ để ta xem.” Bấy giờ hắn gọi thủy thủ, họ mang đến cho nàng năm mươi bình; nàng mở một bình và, nhìn ô liu, nói với thuyền trưởng: “Ta sẽ lấy cả năm mươi bình và trả các ngươi giá trị của chúng, bất kể bao nhiêu.” Hắn đáp: “Thề bởi Allah, ôi chúa công của tôi, chúng chẳng có giá trị gì ở xứ chúng tôi; hơn nữa người gửi chúng bị bỏ lại sau chúng tôi, và hắn là một người nghèo.” Nàng hỏi: “Vậy chúng đáng bao nhiêu ở đây?” hắn đáp: “Một nghìn dirham.” Nàng nói: “Ta sẽ lấy chúng với một nghìn,” rồi truyền mang năm mươi bình ấy vào cung điện. Khi đêm xuống, nàng gọi lấy một bình ô liu và mở nó, trong phòng không có ai ngoài nàng và Công chúa Hayat al-Nufus. Rồi đặt một đĩa trước mặt, nàng đổ đồ trong vò vào đó, bấy giờ cùng với ô liu rơi vào đĩa một đống vàng đỏ; nàng nói với Phu nhân Hayat al-Nufus: “Đây chẳng là gì ngoài vàng!” Vậy nàng sai đem các bình còn lại đến và thấy tất cả đều đầy kim loại quý, còn ô liu chỉ vừa đủ đầy một vò. Hơn nữa, nàng tìm trong đống vàng và thấy trong đó lá bùa, nàng cầm lấy, xem xét và kìa, đó chính là vật Kamar al-Zaman đã lấy khỏi dải buộc quần lót của nàng. Bấy giờ nàng kêu lên vì vui và ngã xuống trong cơn ngất;—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười sáu,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi vua Budur thấy lá bùa, nàng kêu lên vì vui và ngã xuống trong cơn ngất; và khi hồi tỉnh, nàng tự nhủ: “Quả thật lá bùa này là nguyên nhân chia lìa ta khỏi người yêu Kamar al-Zaman; nhưng nay nó là điềm lành.” Rồi nàng cho Hayat al-Nufus xem và nói với nàng ấy: “Đây từng là nguyên nhân chia lìa, và nay, nếu Allah muốn, nó sẽ là nguyên nhân đoàn tụ.” Ngay khi ngày rạng, nàng ngồi trên ngai vương và sai gọi chủ tàu, người vào trước sự hiện diện và hôn đất trước mặt nàng. Nàng hỏi: “Ngươi bỏ lại chủ của những ô liu này ở đâu?” Hắn đáp: “Ôi đức vua của thời đại, chúng tôi bỏ hắn lại trong đất của người Magian, và hắn là một người làm vườn ở đó.” Nàng đáp: “Nếu ngươi không đưa hắn đến với ta, ngươi không biết điều hại nào đang chờ ngươi và con tàu của ngươi đâu.” Rồi nàng truyền họ niêm phong kho hàng của các thương nhân và nói với họ: “Quả thật chủ của những ô liu này đã vay của ta và ta có một món nợ đòi nơi hắn; nếu các ngươi không đưa hắn đến với ta, ta chắc chắn sẽ giết tất cả các ngươi và tịch thu hàng hóa của các ngươi.” Vậy họ đến với thuyền trưởng và hứa trả tiền thuê tàu nếu hắn chịu đi và trở lại lần thứ hai, nói: “Hãy giải thoát chúng ta khỏi bạo chúa ngang ngược này.” Theo đó, thuyền trưởng lên tàu và dong buồm, Allah định cho hắn một chuyến đi thuận lợi, cho đến khi hắn đến đảo của người Magian và, lên bờ vào ban đêm, đi tới khu vườn. Bấy giờ đêm kéo dài trên Kamar al-Zaman, chàng ngồi nghĩ đến người yêu của mình, than khóc điều đã xảy đến với mình và ngâm thơ,

“Một đêm mà sao từ chối chạy đường mình, *
Một đêm trong những đêm dường như chẳng bao giờ mòn hết:
Dài như Ngày Phục Sinh, dài lê thê[FN#334] *
Với kẻ thức canh và đợi chờ bình minh.”

Nay đúng lúc này, thuyền trưởng gõ cửa vườn, và Kamar al-Zaman mở cửa đi ra với hắn, bấy giờ thủy thủ đoàn bắt chàng và đưa chàng xuống tàu rồi lập tức dong buồm; họ không ngừng đi biển ngày đêm, trong khi Kamar al-Zaman không biết vì sao họ đối xử với mình như thế; nhưng khi chàng hỏi họ, họ đáp: “Ngươi đã phạm tội chống lại Chúa tể các đảo Ebony, con rể của vua Armanus, và ngươi đã trộm tiền của ngài, đồ khốn khổ kia!” Chàng nói: “Thề bởi Allah! Ta chưa từng vào xứ ấy, cũng không biết nó ở đâu!” Tuy nhiên, họ vẫn đem chàng đi, cho đến khi tới các đảo Ebony và lên bờ, đưa chàng lên với Phu nhân Budur, người nhận ra chàng ngay khi nhìn thấy và nói: “Hãy để hắn lại với các hoạn quan, để họ đưa hắn đến nhà tắm.” Rồi nàng giải lệnh phong tỏa cho các thương nhân và ban cho thuyền trưởng một áo danh dự trị giá mười nghìn đồng vàng; sau khi trở về cung điện, đêm ấy nàng vào với Công chúa Hayat al-Nufus và kể cho nàng nghe điều đã qua, nói: “Nàng hãy giữ kín lời bàn của ta cho đến khi ta hoàn thành ý định, và làm một việc sẽ được ghi chép, sẽ được các vua và thường dân đọc lại sau khi chúng ta đã chết đã qua.” Và khi nàng truyền họ đưa Kamar al-Zaman đến nhà tắm, họ làm vậy và mặc cho chàng một y phục vương giả, đến nỗi khi chàng bước ra, chàng giống như một cành liễu hay một ngôi sao làm hổ thẹn đại quang và tiểu quang[FN#335] cùng ánh rạng của chúng, và sự sống cùng linh hồn trở lại với thân chàng. Rồi chàng tìm đến cung điện và vào với Công chúa Budur; khi nàng thấy chàng, nàng dạy lòng mình nhẫn nại cho đến khi hoàn thành ý định; và nàng ban cho chàng Mameluke cùng hoạn quan, lạc đà và la. Hơn nữa, nàng trao cho chàng một kho tiền và không ngừng thăng chàng từ phẩm vị này lên phẩm vị khác, cho đến khi lập chàng làm Đại Thủ Khố, giao cho chàng trông coi mọi kho tàng của quốc gia; nàng cho chàng hưởng ân sủng thân cận và báo cho các Emir biết phẩm bậc cùng địa vị của chàng. Và tất cả đều yêu chàng, vì Nữ vương Budur ngày qua ngày không ngừng tăng bổng lộc cho chàng. Còn về Kamar al-Zaman, chàng bối rối về nguyên do nàng tôn vinh mình như vậy; và chàng ban quà cùng tiền thưởng từ sự dồi dào của của cải; chàng chuyên tâm hầu việc vua Armanus; đến nỗi nhà vua, mọi Emir và dân chúng, lớn cũng như nhỏ, đều kính yêu chàng và thường thề bởi mạng sống của chàng. Tuy nhiên, chàng luôn kinh ngạc trước sự tôn trọng và ân sủng Nữ vương Budur tỏ với mình và tự nhủ: “Thề bởi Allah, nhất định phải có một nguyên nhân cho tình cảm này! Biết đâu vị vua này ưu ái ta bằng những ân sủng quá độ như vậy chỉ vì một mục đích xấu nào đó, do đó không còn cách nào khác ngoài việc ta xin phép ngài rời khỏi vương quốc.” Vậy chàng vào với Nữ vương Budur và nói với nàng: “Ôi đức vua, ngài đã vùi lấp tôi dưới ân sủng, nhưng mức độ ơn lành của ngài sẽ được hoàn tất nếu ngài lấy lại từ tôi tất cả những gì ngài đã vui lòng ban cho tôi, và cho phép tôi ra đi.” Nàng mỉm cười và hỏi: “Điều gì khiến ngươi muốn ra đi và lao vào những hiểm nguy mới, khi ngươi đang hưởng ân sủng cao nhất và thịnh vượng lớn nhất?” Kamar al-Zaman đáp: “Ôi đức vua, quả thật ân sủng này, nếu không có nguyên do cho nó, đúng là kỳ quan trong các kỳ quan, nhất là ngài đã nâng tôi lên những phẩm vị phù hợp với người có tuổi và kinh nghiệm, dẫu tôi như một đứa trẻ.” Và Nữ vương Budur đáp: “Nguyên do là ta yêu ngươi vì vẻ đáng yêu quá độ và sắc đẹp vượt bậc của ngươi; và nếu ngươi chỉ cần ban cho ta điều ta muốn nơi thân thể ngươi, ta sẽ còn nâng ngươi cao hơn trong danh dự, ân sủng và ban thưởng; ta sẽ lập ngươi làm Wazir, dù tuổi ngươi còn non, cũng như dân chúng đã lập ta làm Sultan trên họ trong khi ta không lớn tuổi hơn ngươi; vì ngày nay chẳng có gì lạ khi trẻ nhỏ nắm ngôi đầu, và thề bởi Allah, người đã nói lời này quả là kẻ có tài,

‘Dường như thời của chúng ta thuộc bộ tộc Lot, *
Và vì tình yêu mà thèm nâng cao kẻ trẻ tuổi.’”[FN#336]

Khi Kamar al-Zaman nghe những lời này, chàng hổ thẹn và má đỏ bừng đến như bốc lửa; chàng nói: “Ta không cần những ân sủng dẫn đến việc phạm tội này; ta sẽ sống nghèo về của cải nhưng giàu về đức hạnh và danh dự.” Nàng nói: “Ta không bị lừa bởi những điều cố kỵ của ngươi, vốn nảy ra từ vẻ đoan trang giả và thói làm duyên; và cầu Allah chúc phúc người đã nói,

‘Ta nói với chàng về giao hợp, nhưng chàng nói với ta, *
“Sự khăng khăng dài lâu phiền nhiễu này còn bao lâu?”
Nhưng khi ta cho chàng thấy một đồng vàng, chàng kêu, *
“Ai có thể trốn khỏi Đấng Chủ Tể Toàn Năng?”’

Nay khi Kamar al-Zaman nghe những lời này và hiểu những vần thơ cùng ý nghĩa của chúng, chàng nói: “Ôi đức vua, ta không có thói quen làm những việc này, cũng không có sức chịu những gánh nặng nề mà người lớn tuổi hơn ta còn tỏ ra bất lực; vậy tuổi non của ta sẽ ra sao?” Nhưng nàng mỉm cười trước lời chàng và đáp lại: “Quả thật, chuyện hết sức kỳ lạ là sai lầm sinh ra từ sự rối loạn của trí hiểu con người!! Vì ngươi là một cậu trai, sao lại sợ tội hay làm những việc bị cấm, khi ngươi chưa đến tuổi chịu trách nhiệm theo giáo luật; mà lỗi của trẻ con thì không chịu phạt cũng chẳng chịu trách? Quả thật, ngươi đã tự buộc mình vào một lối ngụy biện chỉ để tranh cãi, và bổn phận của ngươi là cúi đầu trước một đề nghị hưởng thụ, vậy từ nay hãy thôi chối từ và e thẹn, vì mệnh lệnh của Allah là sắc chỉ đã định trước:[FN#337] quả thật ta còn có lý do hơn ngươi để sợ sa ngã và bị tội dẫn lầm; và người được linh hứng tốt đẹp đã nói,

‘Gai của ta lớn và kẻ nhỏ bé nói, *
“Hãy mạnh dạn đâm vào gan ruột bằng cú đánh như sư tử!”
Rồi ta, “Đó là tội!”; còn hắn, “Với ta chẳng phải tội!” *
Vậy ta lập tức có hắn bằng một cú đâm giả.’”[FN#338]

Khi Kamar al-Zaman nghe những lời này, ánh sáng hóa thành bóng tối trong mắt chàng và chàng nói: “Ôi đức vua, trong gia hộ của ngài có những nữ nhân đẹp và nữ nô, mà thời đại này không có người giống họ: những người ấy vẫn chưa đủ cho ngài sao, mà cần đến ta? Hãy làm ý ngài với họ và để ta đi!” Nàng đáp: “Ngươi nói thật, nhưng với họ, người yêu ngươi không thể tự chữa khỏi khổ hình và hạ cơn sốt của mình; vì khi khẩu vị và khuynh hướng đã bị thói xấu làm hư, chúng nghe và vâng điều khác với lời khuyên lành. Vậy hãy thôi tranh luận và nghe điều thi nhân nói,

‘Ngươi chẳng thấy chợ với trái cây bày thành hàng sao? *
Những người này chuộng sung, còn những người kia chuộng sung dâu[FN#339]!’

Và điều một người khác nói,

‘Nhiều nàng có vòng chân câm lặng lại có thắt lưng leng keng, *
Và người này đủ mọi mãn nguyện trong khi người kia vì thiếu mà than:
Ngươi bảo ta làm kẻ ngu và rời chàng vì vẻ duyên nàng ấy; *
Allah ngăn ta bỏ Đức Tin, quay thành Kẻ Vô đạo!
Không, bởi quyền của râu mai chàng chế nhạo mọi lọn tóc nàng, *
Chẳng đàn bà hay thiếu nữ[FN#340] nào bùa được tim ta khỏi chàng.’

Và lại một người khác,

‘Ôi Đoàn Tụ của sắc đẹp! tình yêu dành cho chàng là tín điều của ta, *
Lựa chọn tự do của Đức Tin và cũng là ước muốn tốt nhất của ta:
Vì chàng ta đã khước từ đàn bà; vậy ngày nay *
Hãy để mọi người xem ta là tu sĩ cạo đầu.’[FN#341]

Và lại một người khác,

‘Chớ đặt kẻ chưa râu ngang cô gái, cũng đừng nghe *
Kẻ rình dò nói với ngươi “Đó là việc sai!”
Rất khác là cô gái mà người ta hôn chân *
Và con linh dương mà mặt đất phải hôn chân.’

Và lại một người khác,

‘Một cậu trai hai lần mười là xứng cho một vị vua!’

Và lại một người khác,

‘Dương vật nhẵn và tròn được làm ra để khớp nhất với hậu môn, * Nếu nó được làm vì âm hộ, hẳn nó đã mang hình như rìu!’

Và lại một người khác nói,

‘Linh hồn ta xin hiến tế cho chàng! Ta đã chọn chàng ra *
Người chẳng hành kinh cũng chẳng đẻ trứng:
Nếu ta giao hoan với đàn bà, ta sẽ sinh *
Lũ nhóc cho đến khi thế gian rộng lớn trở nên chật hẹp với chúng ta.’

Và lại một người khác,

‘Nàng nói (bị thương đau ở giác quan bén nhạy nhất *
Vì nàng đã dâng thứ không hợp ý),
“Nếu chàng không đâm như đàn ông nên làm với vợ mình, *
Đừng trách khi sừng mọc lên trên trán chàng!
Gậy của chàng có vẻ làm bằng sáp, đã trở nên mềm oặt, *
Và ta càng nắm nó, con vật ấy càng mềm!”’

Và lại một người khác,

‘Nàng nói (vì ta không nằm với nàng), *
“Ôi kẻ ngu theo ngu, ôi kẻ ngu đến tận lõi:
Nếu chàng từ chối âm hộ ta làm Kiblah[FN#342] cho góc của chàng, *
Chúng ta sẽ xem điều gì làm chàng vui hơn.”’[FN#343]

Và lại một người khác,

‘Nàng dâng cho ta một âm hộ mềm mại *
Ta nói: “Ta sẽ không giao hoan với nàng!”
Nàng lùi lại, nói: “Khỏi Đức Tin *
Kẻ quay đi là kẻ bị sắc lệnh Trời xoay chuyển![FN#344]
Và khinh suất qua đường trước mặt, trong một ngày, *
Là sự khăng khăng đã lỗi thời!”
Rồi nàng xoay mình và cặp mông sáng *
Như khối bạc nàng phô cho ta!
Ta kêu: “Làm hay lắm, ôi nữ chủ của ta! *
Ta chẳng còn đau vì nàng nữa;
Ôi nàng, trong mọi thứ Allah mở ra,[FN#345] *
Đã cho ta thấy chiến thắng đẹp nhất!”’

Và lại một người khác,

‘Đàn ông cầu tha thứ sẽ giơ tay lên; *
Đàn bà cầu tha thứ bằng chân giơ cao:
Khốn thay cho việc ngoan đạo, đầy cầu nguyện ấy! *
Đức Chúa sẽ nâng nó lên để nằm trong vực sâu.’”[FN#346]

Khi Kamar al-Zaman nghe nàng trích những bài thơ này, và chắc chắn rằng không có cách nào thoát khỏi việc thuận theo điều nàng muốn, chàng nói: “Ôi đức vua của thời đại, nếu ngài nhất định phải có chuyện này, hãy lập giao ước với ta rằng ngài sẽ làm việc ấy với ta chỉ một lần, dẫu nó không đủ để sửa khẩu vị hư đốn của ngài, và rằng ngài sẽ không bao giờ lại đòi hỏi việc này nơi ta cho đến tận cùng thời gian; để có lẽ Allah thanh tẩy ta khỏi tội.” Nàng đáp: “Ta hứa với ngươi điều này, hy vọng Allah do ân sủng của Ngài sẽ dịu lòng với chúng ta và xóa bỏ tội trọng của chúng ta; vì đai tha thứ của trời quả thật không chật đến nỗi không thể bao quanh chúng ta, xá tội cho chúng ta khỏi sự quá độ của những tội ghê gớm, và đưa chúng ta từ bóng tối sai lầm ra ánh sáng cứu rỗi; và quả thật thi nhân nói tuyệt hảo thay,

‘Dân chúng ngờ đôi ta một điều ác; *
Và tim cùng hồn họ đều hướng về ý nghĩ này:
Đến đây, người thương! ta hãy minh chứng và giải thoát hồn họ *
Những kẻ đã oan chúng ta; một trận tốt lành rồi—ăn năn!’”[FN#347]

Bấy giờ nàng lập với chàng một thỏa thuận và một giao ước, thề lời thề trọng bởi Đấng Tự Hữu, rằng việc này sẽ xảy ra giữa họ chỉ một lần và không bao giờ nữa trong mọi thời, và rằng ham muốn dành cho chàng đang đẩy nàng đến chết và hư vong. Vậy chàng đứng lên cùng nàng, theo điều kiện ấy, và đi với nàng đến phòng riêng của nàng, để nàng dập tắt ngọn lửa dục của mình, nói: “Không có Uy Nghi, và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại! Đây là sắc lệnh định sẵn của Đấng Toàn Năng, Đấng Toàn Trí!”; và chàng cởi quần túi, hổ thẹn và bối rối, nước mắt chảy khỏi mắt vì sợ hãi quá độ. Trước điều đó nàng mỉm cười và, khiến chàng leo lên trường kỷ cùng nàng, nói với chàng: “Sau đêm này, chàng sẽ chẳng thấy điều gì làm chàng phật ý nữa.” Rồi nàng quay sang chàng, hôn và ôm ghì chàng, bắp chân uốn trên bắp chân, và nói với chàng: “Hãy đặt tay chàng giữa đùi ta, nơi quen thuộc; biết đâu nó sẽ đứng dậy cầu nguyện sau khi phủ phục.” Chàng khóc và kêu: “Ta không giỏi bất cứ việc nào trong chuyện này,” nhưng nàng nói: “Bởi mạng ta, nếu chàng làm như ta bảo, việc ấy sẽ có lợi cho chàng!” Vậy chàng đưa tay ra, gan ruột bốc lửa vì bối rối, và thấy đùi nàng mát hơn kem, mềm hơn lụa. Việc chạm vào chúng làm chàng thích thú và chàng di chuyển tay chỗ này chỗ nọ, cho đến khi nó đến một vòm chứa đầy ân tứ tốt đẹp, chuyển động và đổi thay, rồi tự nhủ: “Có lẽ vị vua này là lưỡng tính,[FN#348] chẳng hẳn đàn ông cũng chẳng hẳn đàn bà”; vậy chàng nói với nàng: “Ôi đức vua, ta không tìm thấy ngài có dụng cụ giống dụng cụ của đàn ông; vậy điều gì đã khiến ngài làm việc này?” Rồi Nữ vương Budur cười lớn đến nỗi ngã ngửa,[FN#349] và nói: “Ôi người thương của thiếp, chàng quên nhanh làm sao những đêm chúng ta đã nằm cùng nhau!” Rồi nàng tỏ mình cho chàng biết, và chàng nhận ra nàng là vợ mình, Phu nhân Budur, con gái vua al-Ghayur, Chúa tể các Đảo và các Biển. Vậy chàng ôm nàng và nàng ôm chàng, chàng hôn nàng và nàng hôn chàng; rồi họ nằm xuống trên giường hoan lạc mê đắm, lặp lại lời thi nhân,

“Khi dáng mềm uốn của chàng mời chàng sát vào vòng ôm của ta *
Vòng ôm kẹp chàng khắp quanh như tua cuốn của dây nho
Và đổ một dòng mềm mại lên sự cứng cỏi của tim chàng, *
Chàng thuận theo, dẫu lúc đầu chàng định từ chối;
Và sợ e mắt kẻ chê trách rọi lên dáng chàng, *
Chàng đến trong áo giáp dè chừng để làm hỏng mưu hắn:
Eo chàng than vì đôi má sau đè nặng trên chân chàng *
Như gánh hàng nặng trên lạc đà non nằm xuống;
Đeo thanh gươm cong là ánh liếc của chàng, dường như khát máu, *
Và mặc giáp lưới là những lọn tóc sẫm phô ánh rạng
sáng nhất,
Hương chàng đưa tin vui rằng bước chân đang đến gần, *
Và như chim được tháo khỏi lồng, ta bay thẳng đến chàng:
Ta trải má mình trên lối chàng đi, dưới giày sandal của chàng, *
Và kìa! stibium[FN#350] của bụi nơi ấy chữa lành mọi vết thương
nơi mắt ta.
Bằng một vòng ôm, ta lại buộc lá cờ tình yêu của chúng ta[FN#351] *
Và tháo nút khoái lạc của ta từng bị trói trong xiềng
ác nghiệt:
Rồi ta truyền làm đại lễ, và lập tức kéo vào thành bầy *
Những niềm vui tinh khiết chẳng biết tuổi bạc[FN#352] hay điều gì
của đau và sầu:
Trăng tròn điểm các sao là đôi môi và răng châu *
Nhảy múa thật vui trên mặt rượu sủi bọt:
Vậy trong hốc cầu nguyện của niềm vui họ, ta phó mình cho điều *
Sẽ khiến kẻ ăn năn hèn mọn nhất trong tội nhân cũng phẫn nộ.
Ta thề bởi mọi dấu hiệu[FN#353] của những vinh quang trên mặt chàng *
Ta sẽ chẳng bao giờ quên Chương mang tên Al-Ikhlas.”[FN#354]

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#41

Rồi Nữ vương Budur kể cho Kamar al-Zaman nghe tất cả những gì đã xảy đến với nàng từ đầu đến cuối, và chàng cũng làm như vậy; sau đó chàng bắt đầu trách nàng, nói: “Điều gì khiến nàng đối xử với ta như nàng đã làm đêm nay?” Nàng đáp: “Xin tha cho thiếp! vì thiếp làm việc này như một trò đùa, để lạc thú và niềm vui được tăng thêm.” Và khi bình minh rạng, ngày hiện lên với ánh rạng và chiếu sáng, nàng sai người đến với vua Armanus, thân phụ của Phu nhân Hayat al-Nufus, cho ngài biết sự thật của việc này và rằng nàng là vợ của Kamar al-Zaman. Hơn nữa, nàng kể cho ngài chuyện của họ và nguyên nhân chia lìa của họ, cũng như con gái ngài vẫn còn là trinh nữ, tinh khiết như khi nàng được sinh ra. Ngài kinh ngạc trước câu chuyện của họ bằng nỗi kinh ngạc tột độ và truyền phải ghi chép nó bằng chữ vàng. Rồi ngài quay sang Kamar al-Zaman và nói: “Ôi con trai của vua, ngươi có ý trở thành con rể của ta bằng cách cưới con gái ta chăng?” Chàng đáp: “Tôi phải hỏi ý Nữ vương Budur, vì nàng có quyền đối với tôi bởi những ân huệ không giới hạn.” Và khi chàng hỏi ý nàng, nàng nói: “Sự xét liệu của chàng là đúng; hãy cưới nàng ấy và thiếp sẽ là tỳ nữ của nàng; vì thiếp mắc nợ nàng ấy bởi lòng tốt, ân sủng, những việc thiện và muôn vàn nghĩa vụ, nhất là khi chúng ta đang ở nơi của nàng và đức vua, cha nàng, đã phủ chúng ta dưới ân huệ.”[FN#355] Nay khi chàng thấy nàng nghiêng về việc này và không ghen với Hayat al-Nufus, chàng đồng ý với nàng về việc ấy.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Kamar al-Zaman đồng ý với vợ mình, Nữ vương Budur, về việc ấy và nói với vua Armanus điều nàng đã nói; nghe vậy ngài vui mừng lớn. Rồi ngài đi ra, ngồi trên ghế triều chính, triệu tập mọi Wazir, Emir, Thị thần và Đại nhân, kể cho họ nghe toàn bộ câu chuyện về Kamar al-Zaman và vợ chàng, Nữ vương Budur, từ đầu đến cuối; và cho họ biết ý muốn của ngài là gả con gái mình Hayat al-Nufus cho vị Hoàng tử và lập chàng làm vua thay cho Nữ vương Budur. Bấy giờ tất cả đều nói: “Vì chàng là chồng của Nữ vương Budur, người đã là vua của chúng tôi cho đến nay, trong khi chúng tôi tưởng nàng là con rể của vua Armanus, tất cả chúng tôi đều bằng lòng có chàng làm Sultan trên chúng tôi; và chúng tôi sẽ là tôi tớ của chàng, cũng sẽ không lệch khỏi lòng trung thành với chàng.” Vậy Armanus vui mừng vì điều này và, triệu các Kazi cùng nhân chứng và các quan chức triều chính đứng đầu, truyền lập khế ước hôn nhân giữa Kamar al-Zaman và con gái ngài, Công chúa Hayat al-Nufus. Rồi ngài tổ chức đại lễ, mở các tiệc cưới xa hoa và ban những áo danh dự quý giá cho tất cả Emir cùng Đội trưởng của quân đội; hơn nữa ngài phân phát bố thí cho người nghèo và kẻ túng thiếu, rồi phóng thích mọi tù nhân. Cả thế gian vui mừng trước việc Kamar al-Zaman lên ngai, chúc phúc cho chàng và cầu cho chàng bền vững trong vinh quang và thịnh vượng, danh vọng và hạnh phúc; và ngay khi chàng trở thành vua, chàng miễn thuế quan và thả mọi người còn ở trong ngục. Như vậy chàng ở lại lâu dài, đối xử xứng đáng với thần dân của mình; và chàng sống với hai người vợ trong bình an, hạnh phúc, bền lòng và mãn nguyện, mỗi đêm nằm với một người theo lượt. Chàng không ngừng sống theo lối ấy trong nhiều năm, vì quả thật mọi gian nan và hoạn nạn của chàng đã bị xóa sạch khỏi chàng, và chàng quên cha mình, vua Shahriman, cùng cảnh vinh dự và ân sủng trước kia bên ngài. Sau một thời gian, Allah Toàn Năng ban phúc cho chàng có hai con trai, như hai vầng trăng sáng, qua hai người vợ; người lớn tên là Hoàng tử Amjad,[FN#356] do Nữ vương Budur sinh, và người nhỏ tên là Hoàng tử As'ad, do Nữ vương Hayat al-Nufus sinh; người này đẹp hơn anh mình. Họ được nuôi dưỡng trong huy hoàng và tình thương dịu dàng, trong phong thái kính cẩn và sự rèn dạy hoàn hảo; họ được dạy bút pháp, khoa học, nghệ thuật trị nước và cưỡi ngựa, cho đến khi đạt đến những thành tựu tột cùng và giới hạn cao nhất của sắc đẹp cùng vẻ đáng yêu; cả nam lẫn nữ đều bị vẻ duyên của họ làm say đắm. Họ lớn lên bên nhau cho đến khi đạt tuổi mười bảy, ăn uống cùng nhau và ngủ trong một giường, không bao giờ rời nhau ở bất cứ lúc nào hay thời điểm nào; bởi thế mọi người đều ghen tị với họ. Nay khi họ đến tuổi nam nhi và được phú cho mọi hoàn hảo, cha họ thường, mỗi khi đi xa, cho họ ngồi thay mình theo lượt trong đại sảnh xét xử; và mỗi người thi hành công lý giữa dân chúng mỗi ngày một lượt. Nhưng đã xảy ra, bởi số mệnh xác quyết và phần số đã định, rằng tình yêu dành cho As'ad (con trai của Nữ vương Hayat al-Nufus) nổi lên trong tim Nữ vương Budur, và tình ái dành cho Amjad (con trai của Nữ vương Budur) nổi lên trong tim Nữ vương Hayat al-Nufus.[FN#357] Vì vậy mỗi người đàn bà thường vui đùa và chơi với con trai của người vợ kia, hôn chàng và ghì chàng vào ngực, trong khi mỗi bà mẹ đều nghĩ rằng hành vi của người kia chỉ phát sinh từ tình mẫu tử. Theo lối ấy, đam mê chiếm quyền trên tim hai người đàn bà và họ yêu điên cuồng hai chàng trai, đến nỗi khi con trai của người kia vào với một trong hai người, nàng sẽ ép chàng vào ngực mình và mong chàng không bao giờ rời khỏi nàng; cho đến cuối cùng, khi sự chờ đợi trở nên dài lê thê đối với họ và họ không tìm thấy đường đến hưởng lạc, họ từ chối ăn uống và trục xuất niềm an ủi của giấc ngủ. Lát sau, nhà vua đi cưỡi ngựa săn bắn, truyền hai con trai ngồi thi hành công lý thay mình, mỗi người một ngày theo lượt như thói quen của họ.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng nhà vua ra đi vui chơi và săn bắn, truyền hai con trai ngồi thi hành công lý thay mình, mỗi người một ngày theo lượt, như thói quen của họ. Nay Hoàng tử Amjad ngồi xét xử ngày đầu, truyền và cấm, bổ nhiệm và phế truất, ban cho và từ chối; và Nữ vương Hayat al-Nufus, mẹ của As'ad, viết cho chàng một lá thư cầu xin ân sủng của chàng, bày tỏ với chàng đam mê và sự tận hiến của nàng; nói chung là cởi bỏ mặt nạ và cho chàng biết rằng nàng khao khát hưởng chàng. Vậy nàng lấy một cuộn giấy và trên đó viết những câu nhịp nhàng này: “Từ người bị tình yêu làm loạn trí * kẻ đau buồn và xa lạ * người có khổ hình kéo dài vì khát khao chàng! * Nếu thiếp kể với chàng mức độ lo âu của thiếp * và điều sầu khổ thiếp mang * đam mê xé rách tim thiếp * cùng tất cả những gì thiếp chịu vì khóc than và không yên * và sự xé nát của lồng ngực sầu muộn * nỗi buồn không ngừng của thiếp * và tai ương không cứu chữa của thiếp * cùng mọi khổ đau của thiếp vì chia lìa chàng * và nỗi buồn cùng lửa tình yêu * không lá thư nào có thể chứa nổi; cũng không phép tính nào bao trùm được * Quả thật đất và trời đều chật hẹp trên thiếp; và thiếp không có hy vọng cũng không tin cậy gì ngoài điều thiếp chờ từ chàng * Thiếp đã đến gần cái chết * và thiếp chịu những kinh hoàng của tan rã * Trên thiếp cháy bỏng dữ dội * với đau đớn chia lìa và vô vàn xa lạ * Nếu thiếp trình bày những khát khao mỗi lúc một chiếm lấy thiếp nhiều hơn * không cuộn giấy nào đủ để chứa kho ấy * và bởi đau đớn cùng sầu nhớ quá độ, thiếp đã làm những dòng sau:--

Nếu ta ở lại với sức nóng thiêu tim, *
Bất an và những cơn xuất thần gặp trong hồn ta,
Sẽ chẳng còn lại gì của mực và bút sậy *
Cũng chẳng còn chút giấy nào; không, dù chỉ một tờ.

Rồi Nữ vương Hayat al-Nufus gói lá thư trong một mảnh lụa đắt giá ướp xạ hương và long diên hương; rồi gấp nó lại bằng những dây buộc tóc lụa của mình[FN#358], mà giá trị nuốt trọn cả kho báu, đặt nó trong một khăn tay và trao cho hoạn quan, truyền hắn mang đến Hoàng tử Amjad.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm mười chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng nàng trao thư của mình cho hoạn quan đang hầu và truyền hắn mang đến Hoàng tử Amjad. Và hoạn quan ấy đi ra, không biết tương lai giấu gì cho hắn (vì Đấng Toàn Tri sắp đặt các biến cố đúng như Ngài muốn); rồi vào với vị Hoàng tử, hôn đất trước tay chàng và trao cho chàng lá thư. Khi nhận khăn tay, chàng mở nó ra, đọc thư và nhận ra ý chính của nó, chàng biết rằng vợ của cha mình về bản chất là kẻ ngoại tình và trong tim là kẻ phản trắc với chồng nàng, vua Kamar al-Zaman. Vậy chàng nổi giận dữ dội và chửi rủa đàn bà cùng việc làm của họ, nói: “Allah nguyền rủa đàn bà, lũ phản trắc, thiếu sót về lý trí và tôn giáo!”[FN#359] Rồi chàng rút gươm và nói với hoạn quan: “Xéo cho ngươi, tên nô lệ độc ác! Ngươi mang thông điệp phản trung cho vợ của chúa ngươi sao? Thề bởi Allah, chẳng có gì tốt trong ngươi, hỡi kẻ đen cả màu da lẫn trái tim, hỡi kẻ dơ bẩn cả gương mặt lẫn sự tạo hình của Tự Nhiên!” Vậy chàng đánh vào cổ hắn và cắt đầu khỏi thân; rồi, gấp khăn tay lại cùng đồ bên trong, chàng nhét vào túi ngực và vào với mẹ mình, kể cho nàng điều đã qua, vừa chửi rủa vừa trách móc nàng, nói: “Mỗi người trong các người còn đê tiện hơn người kia; và thề bởi Allah, Đấng Vĩ Đại và Vinh Quang, nếu không vì ta sợ vô lễ vượt quá quyền của cha ta, Kamar al-Zaman, và huynh đệ ta, Hoàng tử As'ad, ta chắc chắn sẽ vào với nàng ấy và cắt đầu nàng, như ta đã cắt đầu hoạn quan của nàng!” Rồi chàng rời mẹ mình trong cơn giận lớn; và khi tin tức về điều chàng đã làm với hoạn quan của nàng đến tai Nữ vương Hayat al-Nufus, nàng chửi mắng chàng[FN#360], nguyền rủa chàng và mưu phản chống lại chàng. Chàng qua đêm ấy, bệnh vì giận, phẫn nộ và lo âu; chẳng tìm thấy khoái lạc trong ăn, uống hay ngủ. Và khi sáng hôm sau rạng, Hoàng tử As'ad ra đi đến lượt mình để cai trị dân chúng thay cha, trong khi mẹ chàng, Hayat al-Nufus, thức dậy trong tình trạng yếu lả vì điều nàng đã nghe từ Hoàng tử Amjad về việc hoạn quan của nàng bị giết. Vậy Hoàng tử As'ad ngồi trong phòng tiếp kiến ngày ấy, xét xử và thi hành công lý, bổ nhiệm và phế truất, truyền và cấm, cho và ban. Chàng không ngừng như vậy cho đến gần giờ cầu lễ buổi chiều, khi Nữ vương Budur sai gọi một lão bà xảo quyệt và, bày tỏ với bà điều trong tim mình, viết một lá thư cho Hoàng tử As'ad, than phiền về tình ái và ham muốn quá độ của nàng dành cho chàng trong những dòng nhịp nhàng này: “Từ nàng chết mòn vì đam mê và lạc mất trong tình yêu * gửi đến chàng, người sinh ra đẹp nhất trong bản tính và văn hóa * gửi đến chàng, người tự mãn với vẻ đáng yêu của mình * và vênh vang trong duyên yêu đương * người quay mặt khỏi những kẻ tìm hưởng chàng * và từ chối ban ân cho kẻ tự hạ và thấp hèn * người tàn nhẫn và mang tâm thế khinh bạc * từ người yêu tuyệt vọng điều tốt * gửi Hoàng tử As'ad * được phú sắc đẹp vượt bậc * và tự hào về duyên dáng hơn người * có gương mặt sáng như trăng * và vầng trán trắng như hoa * cùng ánh sáng lộng lẫy chói ngời * Đây là thư của ta gửi đến người mà tình yêu làm thân ta tan chảy * và xé da cùng xương ta! * Hãy biết rằng nhẫn nại của ta đã hoàn toàn thất bại * và ta bối rối trong cảnh mình * khát khao và bồn chồn làm ta mỏi mệt * còn giấc ngủ và nhẫn nại tự chối bỏ ta * nhưng tang thương và thức trắng bám chặt lấy ta * ham muốn và đam mê giày vò ta * và cực độ của uể oải cùng bệnh tật đã phủ lấy ta * Song mạng ta có thể làm vật chuộc cho chàng * dẫu khoái ý của chàng là giết nàng yêu chàng * và cầu Allah kéo dài đời chàng * và giữ chàng khỏi mọi yếu nhược!” Và sau những dòng nhịp nhàng này, nàng viết những câu thơ đôi sau,

“Số Mệnh đã truyền ta trở thành bạn đôi của chàng, *
Ôi chàng sáng như trăng tròn khi trong sáng nhất!
Chàng ôm trọn mọi sắc đẹp, mọi hùng biện; *
Rực rỡ hơn bất cứ điều gì trong cõi thế gian này:
Ta bằng lòng để chàng là kẻ đọa đày ta: *
Biết đâu chàng bố thí cho ta bằng một ánh liếc đáng yêu!
Hạnh phúc thay cái chết của nàng chết vì tình yêu chàng! *
Chẳng có điều tốt nơi nàng không thấy chàng sáng rõ!”

Và cả những câu thơ đôi sau,

“Gửi đến chàng, As'ad! ta than những đau đớn của đam mê; *
Hãy thương xót nô lệ của tình yêu, bị cháy bởi đau rực lửa:
Ta hỏi, bao lâu nữa bàn tay Tình Yêu sẽ đùa giỡn với ta, *
Bằng khát khao, đau buồn, mất ngủ, tai họa và khốn nạn?
Lúc thì ta than về biển trong tim, lúc thì về lửa *
Trong gan ruột, ôi tình cảnh lạ, ước mong yêu dấu, niềm vui đẹp nhất của ta!
Ôi kẻ trách, thôi trách đi và hãy tự tìm cách trốn *
Khỏi tình yêu, thứ khiến đôi mắt này mưa thành suối lệ.
Bao lần ta kêu vì vắng mặt và ham muốn, Ôi sầu! *
Nhưng mọi tiếng kêu của ta chẳng đem lại cho ta chút lợi nào:
Sự nghiệt ngã của chàng đã gieo cho ta bệnh quá sức chịu đựng, *
Chàng là thầy thuốc duy nhất của ta, xin chữa ta nếu chàng đoái thương!
Ôi kẻ quở trách, đừng thận trọng quở trách ta, vì ta e *
Tình Yêu dịch hạch kia cũng sẽ giáng một trận lên ngươi.”

Rồi Nữ vương Budur ướp giấy thư bằng xạ hương thơm ngát dồi dào và, cuộn nó trong dây buộc tóc bằng lụa Irak của mình, có các vật treo bằng ngọc lục bảo dài, khảm châu và đá quý, trao nó cho lão bà, truyền bà mang đến Hoàng tử As'ad.[FN#361] Bà làm vậy để làm vui lòng nàng, và vào với vị Hoàng tử, thẳng đường không dừng, thấy chàng trong phòng riêng và trao thư cho chàng nơi kín đáo; sau đó bà đứng chờ khoảng một giờ để lấy lời đáp. Khi As'ad đọc tờ giấy và biết ý nó, chàng gói nó lại trong những dải băng và đặt vào túi ngực: rồi (vì chàng giận quá mọi mức giận) chàng nguyền rủa đàn bà giả dối, bật dậy, rút gươm, đánh vào cổ mụ già dâm dật và cắt đầu mụ. Bấy giờ chàng vào với mẹ mình, Nữ vương Hayat al-Nufus, người chàng thấy đang nằm trên giường trong tình trạng yếu lả, vì điều đã xảy đến với nàng cùng Hoàng tử Amjad, rồi chàng chửi mắng và nguyền rủa nàng; sau đó chàng rời nàng và gặp huynh đệ mình, kể cho chàng nghe tất cả những gì đã xảy đến với chàng cùng Nữ vương Budur, thêm: “Thề bởi Allah, ôi huynh đệ của ta, nếu không vì ta hổ thẹn trước chàng, ta đã lập tức vào với nàng và chém đầu nàng khỏi vai!” Hoàng tử Amjad đáp: “Thề bởi Allah, ôi huynh đệ của ta, hôm qua khi ta đang ngồi trên ghế xét xử, điều giống như đã xảy đến với chàng hôm nay cũng xảy đến với ta cùng mẹ chàng, người gửi ta một lá thư có ý tương tự.” Và chàng kể cho chàng nghe tất cả những gì đã qua, thêm: “Thề bởi Allah, ôi huynh đệ của ta, không gì ngoài sự kính trọng dành cho chàng đã ngăn ta vào với nàng và xử với nàng như ta đã xử với hoạn quan!” Họ qua phần còn lại của đêm trò chuyện và nguyền rủa giống đàn bà, rồi đồng ý giữ kín chuyện ấy, kẻo cha họ nghe được và giết hai người đàn bà. Tuy vậy họ không ngừng chịu phiền não và thấy trước hoạn nạn. Và khi sáng hôm sau rạng, nhà vua trở về cùng đoàn tùy tùng từ cuộc săn, ngồi một lúc trên ghế triều chính; sau đó ngài sai các Emir đi lo việc của họ rồi lên cung điện, nơi ngài thấy hai người vợ của mình nằm trên giường và cả hai đều cực kỳ bệnh yếu. Nay họ đã lập mưu chống lại hai con trai và đồng thuận lấy mạng họ, vì họ đã phơi mình trước mặt hai chàng và sợ phải ở dưới lòng thương xót cùng sự nhẫn nhịn của họ. Khi Kamar al-Zaman thấy họ như vậy, ngài nói với họ: “Điều gì khiến hai nàng đau?” Bấy giờ họ đứng dậy với ngài và hôn tay ngài, đáp, bóp méo sự việc và nói: “Hãy biết, ôi đức vua, rằng hai con trai của ngài, những kẻ đã được nuôi dưỡng trong ân huệ của ngài, đã phản bội ngài và làm nhục ngài nơi thân thể các vợ của ngài.” Nay khi ngài nghe điều này, ánh sáng hóa thành bóng tối trong mắt ngài, và ngài giận dữ đến nỗi lý trí bay mất: rồi ngài nói với họ: “Hãy giải rõ việc này cho ta.” Nữ vương Budur đáp: “Ôi đức vua của thời đại, hãy biết rằng nhiều ngày qua, con trai ngài As'ad đã liên tục có thói gửi cho thiếp thư và thông điệp, cầu xin thiếp dâm đãng và ngoại tình, trong khi thiếp vẫn cấm chàng khỏi việc này, nhưng chàng không chịu bị cấm; và khi ngài ra đi săn, chàng xông vào thiếp, say rượu và trong tay cầm gươm trần, rồi đánh hoạn quan của thiếp, giết hắn. Sau đó chàng leo lên ngực thiếp, vẫn cầm gươm, và thiếp sợ nếu chống lời chàng, chàng sẽ giết thiếp, như chàng đã giết hoạn quan của thiếp; vì vậy chàng lấy ý muốn độc ác của mình nơi thiếp bằng vũ lực. Và nay nếu ngài không đòi công lý cho thiếp trên chàng, ôi đức vua, thiếp sẽ tự tay giết mình, vì thiếp không cần đời sống trên thế gian sau việc dơ bẩn này.” Và Nữ vương Hayat al-Nufus, nghẹn vì nước mắt, kể với ngài về Hoàng tử Amjad một câu chuyện giống chuyện của người vợ kia.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi,

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#42

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Nữ vương Hayat al-Nufus kể cho chồng nàng, vua Kamar al-Zaman, một câu chuyện giống như chuyện của người chị em trong hôn phối của nàng, Budur, và nàng nói: “Điều tương tự đã xảy đến với thiếp cùng con trai ngài Amjad”; sau đó nàng bắt đầu khóc lóc và than vãn, nói: “Nếu ngài không đòi công lý cho thiếp trên chàng, thiếp sẽ nói với cha thiếp, vua Armanus.” Rồi cả hai người đàn bà khóc dữ dội trước mặt vua Kamar al-Zaman, người, khi thấy lệ của họ và nghe lời họ, kết luận rằng câu chuyện của họ là thật; và, nổi giận quá mọi mức giận, ngài đi ra, định xông vào hai con trai mình và giết họ. Trên đường, ngài gặp nhạc phụ, vua Armanus, người nghe tin ngài trở về từ cuộc săn, đã đến chào ngài ngay giờ ấy; và thấy ngài cầm gươm trần trong tay, máu nhỏ từ lỗ mũi vì giận quá độ, bèn hỏi điều gì khiến ngài như vậy. Vậy Kamar al-Zaman kể cho ngài tất cả những gì hai con trai mình, Amjad và As'ad, đã làm và thêm: “Và nay con đang vào với chúng để giết chúng theo lối dơ bẩn nhất và biến chúng thành tấm gương nhục nhã nhất.” Vua Armanus nói (và quả thật ngài cũng giận họ): “Con làm đúng, ôi con trai ta, và cầu Allah chẳng ban phúc cho chúng cũng như bất cứ con trai nào làm việc như thế chống lại danh dự của cha mình. Nhưng, ôi con trai ta, người nói câu cổ ngữ có nói: ‘Ai không nhìn đến kết cục thì chẳng có Vận Mệnh làm bạn.’ Trong mọi trường hợp, chúng là con trai của con, và không hợp lẽ để con tự tay giết chúng, kẻo con phải uống cơn hấp hối của chúng,[FN#362] rồi chẳng bao lâu lại hối hận vì đã giết chúng khi sự hối hận chẳng ích gì cho con. Đúng hơn, hãy sai chúng đi cùng một trong các Mameluke của con vào sa mạc và để hắn giết chúng ở đó, khuất mắt con; vì như ngạn ngữ nói: ‘Khuất mắt bạn ta thì tốt hơn và dễ chịu hơn.’”[FN#363] Và khi Kamar al-Zaman nghe lời nhạc phụ, ngài biết chúng là đúng; vậy ngài tra gươm vào vỏ, quay lại và ngồi xuống trên ngai vương quốc mình. Ở đó, ngài triệu người giữ kho của mình, một lão nhân rất già, thông thạo việc đời và những đổi dời của vận số, rồi nói với ông: “Hãy vào với hai con trai ta, Amjad và As'ad; trói tay chúng ra sau lưng bằng dây chắc, đặt chúng vào hai chiếc rương và chất lên một con la. Rồi ngươi hãy cưỡi ngựa, mang chúng vào giữa sa mạc, nơi đó giết cả hai và đổ đầy hai lọ bằng máu của chúng rồi mau đem về cho ta.” Người giữ kho đáp: “Thần nghe và tuân lệnh,” rồi vội vàng đứng dậy, lập tức đi tìm hai Hoàng tử; và trên đường, ông gặp họ đang đi ra khỏi tiền sảnh cung điện, vì họ đã mặc y phục đẹp nhất và giàu sang nhất của mình; họ đang trên đường đến chào thân phụ và chúc mừng ngài trở về an toàn từ cuộc đi săn. Nay khi ông thấy họ, ông đặt tay lên họ, nói: “Ôi các con trai của ta, hãy biết rằng ta chỉ là một nô lệ được lệnh, và cha các con đã đặt một mệnh lệnh lên ta; các con có vâng mệnh lệnh của ngài chăng?” Họ nói: “Vâng”; bấy giờ ông đến gần họ và, sau khi trói khuỷu tay họ, đặt họ vào các rương mà ông chất lên lưng một con la ông đã lấy từ thành. Ông không ngừng mang họ ra vùng đồng trống cho đến gần trưa, khi ông dừng lại ở một nơi hoang và vắng; xuống khỏi ngựa cái của mình, hạ hai chiếc rương khỏi lưng la. Rồi ông mở chúng và đưa Amjad cùng As'ad ra; khi nhìn họ, ông khóc dữ dội vì sắc đẹp và vẻ đáng yêu của họ; rồi rút gươm, ông nói với họ: “Thề bởi Allah, ôi các chúa công của ta, quả thật thật khó cho ta phải đối xử ác nghiệt với các ngài; nhưng ta được miễn trách trong việc này, vì chỉ là một nô lệ được lệnh, bởi cha các ngài, vua Kamar al-Zaman, đã truyền ta chém đầu các ngài.” Họ đáp: “Ôi Emir, hãy làm theo lệnh đức vua, vì chúng tôi chịu bằng nhẫn nại điều mà Allah (vinh dự, quyền năng và vinh quang thuộc về Ngài!) đã định cho chúng tôi; và ngươi được miễn khỏi máu chúng tôi.” Rồi họ ôm nhau và từ biệt nhau, và As'ad nói với người giữ kho: “Nhân danh Allah trên bác, ôi chú, xin cho con khỏi nhìn cảnh huynh đệ con hấp hối và đừng bắt con uống nỗi đau đớn của chàng, mà hãy giết con trước, vì như thế sẽ dễ chịu hơn cho con.” Và Amjad cũng nói như vậy, khẩn khoản người giữ kho giết mình trước As'ad, rằng: “Huynh đệ ta trẻ hơn ta; vậy đừng bắt ta nếm nỗi đau đớn của chàng.” Và cả hai đều khóc những giọt lệ đắng, trong khi người giữ kho khóc vì họ khóc;—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi mốt,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người giữ kho khóc vì họ khóc; rồi hai huynh đệ ôm nhau và từ biệt nhau, người này nói với người kia: “Tất cả điều này đến từ ác tâm của những kẻ phản trắc ấy, mẹ ta và mẹ chàng; và đây là phần thưởng cho sự nhẫn nhịn của ta đối với mẹ chàng và sự nhẫn nhịn của chàng đối với mẹ ta! Nhưng không có Quyền Năng và không có Uy Nghi nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại! Quả thật, chúng ta thuộc về Allah và sẽ trở về với Ngài.”[FN#364] Và As'ad ôm huynh đệ mình, nức nở và lặp lại những câu thơ đôi này,

“Ôi Đấng mà những kẻ buồn run rẩy trong sợ hãi than thở cùng Ngài! *
Ôi Đấng luôn sẵn sàng nâng đỡ bất cứ điều gì xảy đến!
Chỗ nương duy nhất của con là gõ cửa Ngài, *
Con sẽ gõ cửa ai nếu Ngài không đoái mở?
Ôi Đấng mà ân sủng được tích giữ trong một lời, Hãy Có![FN#365] *
Xin ban ân cho con, con khẩn cầu, trong Ngài chứa mọi điều lành.”

Nay khi Amjad nghe tiếng khóc của huynh đệ mình, chàng cũng khóc và ép chàng vào ngực, lặp lại hai câu thơ đôi này,

“Ôi Đấng mà ơn lành ban cho con chẳng chỉ một lần! *
Đấng có tặng vật và ân sủng không đếm được, không giới hạn!
Chẳng đòn nào trong mọi đòn của Số Mệnh từng giáng xuống con, *
Mà con không thấy Ngài nắm lấy tay con.”

Rồi Amjad nói với người giữ kho: “Ta khẩn cầu ngươi bởi Đấng Duy Nhất, Toàn Năng, Chúa của Lòng Thương, Đấng Ban Ân! hãy giết ta trước huynh đệ As'ad của ta, để có lẽ ngọn lửa trong lõi tim ta được dập tắt và trong đời này không cháy nữa.” Nhưng As'ad khóc và kêu: “Không phải vậy: ta sẽ chết trước”; bấy giờ Amjad nói: “Tốt nhất là ta ôm chàng và chàng ôm ta, để lưỡi gươm rơi xuống chúng ta và giết cả hai bằng một nhát.” Bấy giờ họ ôm nhau, mặt đối mặt và bám chặt lấy nhau, trong khi người giữ kho buộc cả hai lại và trói chặt họ bằng dây, vừa làm vừa khóc. Rồi ông rút lưỡi gươm và nói với họ: “Thề bởi Allah, ôi các chúa công của ta, quả thật thật khó cho ta phải giết các ngài! Nhưng các ngài có ước muốn cuối nào để ta thực hiện, hay lời phó thác nào để ta làm theo, hay thông điệp nào để ta chuyển không?” Amjad đáp: “Chúng ta không có ước muốn nào; và lời phó thác duy nhất của ta với ngươi là ngươi hãy đặt huynh đệ ta ở dưới và ta ở trên chàng, để nhát chém rơi xuống ta trước, và khi ngươi đã giết chúng ta rồi trở về với đức vua, nếu ngài hỏi ngươi: ‘Ngươi đã nghe gì từ chúng trước khi chúng chết?’; thì ngươi hãy đáp: ‘Quả thật hai con trai của ngài chào ngài và nói với ngài: Người không biết chúng con vô tội hay có tội, vậy mà đã giết chúng con và chưa xác minh tội của chúng con cũng chưa xét kỹ việc của chúng con.’ Rồi ngươi hãy lặp lại với ngài hai câu thơ đôi này,

‘Đàn bà là Satan được tạo ra cho nỗi khổ của đàn ông; *
Ta chạy đến Allah tránh sự tàn hại quỷ quái của họ:
Nguồn của mọi tai họa đã xảy đến với giống loài chúng ta, *
Trong việc đời và cả trong việc Đức Tin.’”

Amjad tiếp: “Chúng ta không mong gì nơi ngươi ngoài việc ngươi lặp lại với thân phụ chúng ta hai câu thơ đôi này.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Amjad thêm, nói với người giữ kho: “Chúng ta không mong gì nơi ngươi ngoài việc ngươi lặp lại với thân phụ chúng ta hai câu thơ đôi mà ngươi vừa nghe; và ta khẩn cầu ngươi nhân danh Allah hãy nhẫn nại với chúng ta, trong khi ta đọc cho huynh đệ ta đôi câu thơ khác này.” Rồi chàng khóc dữ dội và bắt đầu,

“Các vua đã đi trước chúng ta đã phô ra *
Rất nhiều ví dụ để nhìn:
Lớn và nhỏ, cao và thấp, *
Bao nhiêu người đã bước cùng con đường này!”

Nay khi người giữ kho nghe những lời này từ Amjad, ông khóc cho đến khi râu ướt đẫm, trong khi mắt As'ad tràn lệ, và đến lượt chàng lặp lại những câu thơ đôi này,

“Số Mệnh làm ta kinh sợ khi sự việc đã qua và đi mất; *
Khóc chẳng chỉ vì dáng hình hay gương mặt:[FN#366]
Những Đêm có tội gì?[FN#367] Cầu Allah xóa tội chúng ta, *
Và cầu những Đêm bị một tay khác làm tiêu tan!
Trước đây, con trai Zubayr[FN#368] đã nếm lòng ghét hiểm độc của chúng, *
Người chạy tìm nơi nương náu đến Ngôi Nhà và Hòn Đá:
Ước gì khi Khárijah bị giết thay cho Amru[FN#369] *
Họ đã chuộc Ali bằng tất cả người họ có.”

Rồi, với đôi má nhuộm bởi lệ chảy ròng, chàng cũng ngâm những vần này,

“Quả thật Đêm và Ngày mang tính cách *
Của phản bội giả trá và như kẻ gian, chúng dối lừa;
Mùi khói sa mạc[FN#370] nhắc răng chúng lấp lánh; *
Mọi đen tối khủng khiếp là Kohl của mắt chúng:
Tội của ta đối với thế gian mà ta ghê tởm *
Là tội của gươm khi những kẻ cầm gươm vội giao chiến.”

Rồi tiếng nức nở của chàng lớn hơn và chàng nói,

“Ôi ngươi, kẻ ve vãn một Thế Gian[FN#371] chẳng xứng, hãy biết *
Nó là nhà của điều ác, nó là lưới của Diệt Vong:
Một ngôi nhà nơi kẻ cười hôm nay sẽ khóc *
Ngày mai: vậy hãy diệt đi, nhà khói và phiền não!
Vô tận là những cuộc tranh chiến và đột kích của nó, và nô lệ của nó *
Chẳng bao giờ được chuộc, trong khi những hiểm nguy vô tận vây quanh.
Bao kẻ đã tự hào trong vẻ lộng lẫy và kiêu hãnh của nó, *
Cho đến khi kiêu hãnh và lộng lẫy quên hết mọi giới hạn,
Rồi nàng cho thấy mặt sau của khiên, bắt họ uống[FN#372] *
Một chén đầy, và đòi trọn món nợ báo thù của nàng.
Vì hãy biết những đòn của nàng rơi nhanh và chắc, dẫu *
Nàng nấn ná lâu và làm chậm dòng Số Mệnh:
Vậy hãy nhìn kỹ ngày tháng của ngươi kẻo đời trôi qua *
Trong vô ích, và ngươi gặp nhiều hơn điều ngươi đã gặp;
Hãy cắt mọi xiềng của yêu đời và ham muốn *
Và cứu linh hồn ngươi, vươn lên những bí mật cao hơn.”

Nay khi As'ad dứt những vần thơ này, chàng ghì huynh đệ Amjad trong tay mình, cho đến khi đôi người thành một thân thể, và người giữ kho, rút gươm, sắp chém họ, thì kìa, chiến mã của ông hoảng sợ trước gió của bàn tay ông giơ cao và, bứt dây buộc, chạy vào sa mạc. Nay con ngựa ấy trị giá một nghìn đồng vàng, trên lưng nó có một yên lộng lẫy đáng nhiều tiền; vậy người giữ kho ném gươm xuống và chạy theo con vật của mình.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi ba,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi ngựa của ông chạy mất, người giữ kho chạy theo nó trong nỗi lo lớn, và không ngừng chạy để bắt con vật bỏ chạy cho đến khi nó vào một bụi rậm. Ông theo nó trong khi nó lao qua khu rừng, dùng móng đập đất cho đến khi tung lên một đám bụi cao ngất trong không trung; nó khịt mũi, phì hơi, hí vang, càng lúc càng hung dữ và cuồng nộ. Nay tình cờ trong bụi rậm này có một con sư tử có sức mạnh khủng khiếp; xấu xí đáng sợ, với đôi mắt lấp lánh ánh sáng: cái nhìn của nó dữ tợn và dáng vẻ nó gieo kinh hãi vào hồn người. Lát sau, người giữ kho quay lại và thấy sư tử đang tiến về phía mình; nhưng chẳng tìm được đường thoát, cũng không có gươm bên mình. Vậy ông tự nhủ: “Không có Uy Nghi và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại! Cảnh khốn này đến với ta không vì nguyên do nào khác ngoài Amjad và As'ad; và quả thật chuyến đi này bất hạnh ngay từ đầu!” Trong khi ấy, hai Hoàng tử bị sức nóng đè nặng khổ sở và khát đến cực độ, lưỡi họ thè ra và họ kêu cứu, nhưng không ai đến giải cứu họ, và họ nói: “Ước gì Trời cho chúng ta đã bị giết và yên nghỉ khỏi nỗi đau này! Nhưng chúng ta không biết ngựa đã chạy đi đâu, đến nỗi người giữ kho đã đi và bỏ chúng ta bị trói như thế này. Giá ông ấy chỉ quay lại và giết chúng ta, thì dễ chịu hơn cho chúng ta so với khổ hình phải chịu này.” As'ad nói: “Ôi huynh đệ của ta, hãy nhẫn nại, và sự giải thoát của Allah (cầu Ngài được tôn cao và siêu thăng!) chắc chắn sẽ đến với chúng ta; vì con ngựa không chạy vụt đi ngoài ân sủng của Ngài đối với chúng ta, và chẳng gì làm chúng ta khổ ngoài cơn khát này.” Nghe vậy, chàng duỗi người, lắc mình và ráng sức sang phải rồi trái, cho đến khi làm đứt dây trói tay; rồi chàng đứng dậy, cởi trói cho huynh đệ mình và nhặt gươm của Emir, nói: “Thề bởi Allah, chúng ta sẽ không rời khỏi đây cho đến khi xem xét ông ấy và biết điều gì đã xảy ra với ông ấy.” Rồi họ lần theo dấu vết cho đến khi nó dẫn họ đến bụi rậm và họ nói với nhau: “Chắc chắn ngựa và người giữ kho chưa ra khỏi khu rừng này.” As'ad nói: “Chàng hãy ở đây, trong khi ta vào bụi rậm và tìm kiếm”; Amjad đáp: “Ta sẽ không để chàng vào một mình: chúng ta cũng sẽ không vào đó trừ cùng nhau; vậy nếu thoát, chúng ta thoát cùng nhau, và nếu chết, chúng ta chết cùng nhau.” Theo đó cả hai vào trong và thấy sư tử đã nhảy lên người giữ kho, người nằm như một con chim sẻ trong móng nó, kêu cầu Allah trợ giúp và đưa tay ra hiệu lên Trời. Nay khi Amjad thấy vậy, chàng cầm gươm và, lao vào sư tử, chém nó giữa hai mắt, khiến nó chết nằm trên đất. Emir bật dậy, kinh ngạc trước sự thoát nạn này và, thấy Amjad cùng As'ad, con trai của chủ mình, đang đứng đó, liền gieo mình xuống chân họ và kêu lên: “Thề bởi Allah, ôi các chúa công của ta, nếu ta giết các ngài thì thật là điều oan trái không thể chịu nổi. Cầu người sẽ giết các ngài đừng bao giờ tồn tại! Quả thật, bằng chính mạng sống của mình, ta sẽ chuộc các ngài.”—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi bốn,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng người giữ kho nói với Amjad và As'ad: “Bằng mạng sống của mình, ta sẽ chuộc cả hai ngài!” Rồi ông vội đứng dậy và lập tức ôm họ, hỏi họ đã cởi trói và đến đó bằng cách nào; bấy giờ họ kể cho ông rằng dây trói của một người trong họ đã lỏng ra, và chàng đã cởi trói cho người kia, trong đó họ được trợ giúp bởi sự trong sạch của ý định mình, và họ đã theo dấu vết của ông cho đến khi gặp ông. Vậy ông cảm tạ họ vì việc làm ấy rồi đi cùng họ ra khỏi bụi rậm; và khi họ ở trong vùng đồng trống, họ nói với ông: “Ôi chú, hãy làm lệnh của cha chúng tôi.” Ông đáp: “Allah cấm ta đến gần các ngài với điều hại! Nhưng hãy biết rằng ta định lấy áo quần của các ngài và mặc cho các ngài áo của ta; rồi ta sẽ đổ đầy hai lọ bằng máu sư tử và trở về với đức vua, nói với ngài rằng ta đã giết các ngài. Còn về hai ngài, hãy ra đi vào các xứ, vì đất của Allah rộng; và hãy biết, ôi các chúa công của ta, rằng việc chia tay các ngài làm ta đau đớn.” Nghe vậy, tất cả đều khóc; rồi hai thiếu niên cởi áo quần mình ra và người giữ kho mặc cho họ áo của ông. Hơn nữa, ông gói hai bộ áo của họ thành hai gói và, đổ đầy hai lọ bằng máu sư tử, đặt các gói trước mình trên lưng ngựa. Lát sau ông từ biệt họ và, đi đường về thành, không ngừng đi cho đến khi vào với vua Kamar al-Zaman và hôn đất trước tay ngài. Nhà vua thấy mặt ông đổi sắc và rối bời (điều đó phát sinh từ cuộc phiêu lưu của ông với con sư tử), tưởng rằng vì việc giết hai con trai, bèn vui mừng và nói với ông: “Ngươi đã làm việc ấy chưa?” Người giữ kho đáp: “Rồi, ôi chúa công của chúng thần,” và đưa ngài hai gói áo quần cùng hai lọ đầy máu. Nhà vua hỏi: “Ngươi đã quan sát điều gì nơi chúng; và chúng có phó thác gì cho ngươi không?” Người giữ kho đáp: “Thần thấy họ nhẫn nại và thuận phục điều giáng xuống họ, và họ nói với thần: ‘Quả thật cha chúng tôi được miễn trách; hãy mang lời chào của chúng tôi đến ngài và nói với ngài: Người được miễn khỏi việc giết chúng con. Nhưng chúng con phó thác ngươi lặp lại với ngài những câu thơ đôi này,

‘Quả thật đàn bà là quỷ được tạo ra cho chúng ta. Chúng ta tìm nơi nương náu nơi Allah khỏi mưu mẹo của quỷ. Họ là nguồn của mọi tai họa đã xuất hiện giữa loài người trong các việc thế gian và tôn giáo.’”[FN#373]

Khi nhà vua nghe những lời này của người giữ kho, ngài cúi đầu xuống đất một lúc lâu và biết lời của hai con trai mình có nghĩa rằng họ đã bị giết oan. Rồi ngài nghĩ đến sự phản trắc của đàn bà và các tai họa do họ gây ra; ngài cầm hai gói, mở chúng ra và bắt đầu lật xem áo quần của hai con trai mình mà khóc,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi lăm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi vua Kamar al-Zaman mở hai gói và bắt đầu lật xem áo quần của hai con trai mình mà khóc, tình cờ ngài thấy trong túi áo của con trai As'ad một lá thư do tay vợ mình viết, kèm theo dây buộc tóc của nàng; vậy ngài mở ra, đọc nó, hiểu nội dung và biết vị Hoàng tử đã bị kết tội giả trá và oan trái. Rồi ngài lục gói y phục của Amjad và thấy trong túi chàng một lá thư bằng nét chữ của Nữ vương Hayat al-Nufus, cũng kèm dây buộc tóc của nàng; vậy ngài mở ra, đọc nó và biết rằng Amjad cũng bị oan; bấy giờ ngài đập tay vào tay và kêu lên: “Không có Uy Nghi và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại! Ta đã giết các con trai ta một cách bất công.” Và ngài đánh vào mặt mình, kêu lớn: “Than ôi, các con trai ta! Than ôi, nỗi sầu dài của ta!” Rồi ngài truyền họ xây hai ngôi mộ trong một nhà, ngài đặt tên là “Nhà Than Khóc”, và cho khắc tên hai con trai lên đó; ngài gieo mình lên mộ Amjad, khóc lóc, rên rỉ và than vãn, rồi ứng khẩu những câu thơ đôi này,

“Ôi vầng trăng mãi mãi lặn dưới cõi đất này, *
Mà vì mất chàng, các vì sao điểm trời than khóc!
Ôi cành mềm, đã gãy, chẳng bao giờ bằng uốn và lay *
Mê hoặc mắt kẻ ngắm nhìn say đắm nữa;
Đôi mắt này, vì ghen, ta đã cướp khỏi chàng, *
Và chúng sẽ chẳng thấy lại cảnh chàng cho đến đời sau:
Ta chìm trong biển lệ vì mất ngủ, *
Bởi vậy, quả thật ta nằm ở nơi Sáhirah.”[FN#374]

Rồi ngài gieo mình lên mộ As'ad, rên rỉ, khóc lóc, than vãn và ngâm thơ bằng những câu đôi này,

“Quả thật ta đã mong chia phần bất hạnh cùng con, *
Nhưng Allah muốn khác hơn ý muốn của ta:
Nỗi sầu của ta làm đen mọi khoảng giữa mắt ta và không gian, *
Nhưng lại làm trắng mọi màu đen khỏi mắt ta:[FN#375]
Những giọt lệ mà đôi mắt này khóc chẳng bao giờ cạn, *
Và dòng lở loét trong gan ruột chẳng bao giờ khô:
Thật đau đớn dữ dội cho ta khi thấy con ở nơi[FN#376] *
Mà nô lệ với vua chúa một lần nằm ngang hàng.”

Và tiếng khóc cùng than vãn của ngài tăng gấp đôi; sau khi đã dứt những lời than và những vần thơ, ngài bỏ bạn bè cùng thân tín, từ chối các nữ nhân và gia đình mình, tự cắt mình khỏi thế gian trong Nhà Than Khóc, nơi ngài trải qua thời gian khóc thương hai con trai. Đó là tình cảnh của ngài; còn về Amjad và As'ad, họ đi vào sa mạc, ăn quả của đất và uống phần nước mưa còn lại suốt một tháng, cho đến khi hành trình đưa họ tới một ngọn núi đá lửa đen[FN#377] mà không ai biết tận cùng phía xa của nó; và tại đây con đường rẽ đôi, một lối nằm dọc giữa sườn núi, lối kia dẫn lên đỉnh. Họ lấy lối nghiêng lên đỉnh và không thôi theo nó năm ngày, nhưng chẳng thấy điểm cuối của nó và bị mỏi mệt áp đảo, vì không quen đi bộ trên núi hay nơi nào khác.[FN#378] Cuối cùng, tuyệt vọng không đến được cuối đường, họ quay bước lại và, lấy lối kia dẫn qua giữa sườn núi,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi sáu,

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#43

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng hai Hoàng tử Amjad và As'ad quay lại khỏi lối dẫn lên đầu núi, lấy con đường chạy dọc giữa sườn, và bước đi suốt cả ngày ấy cho đến khi đêm xuống, bấy giờ As'ad, mệt mỏi vì đi quá nhiều, nói với Amjad: “Ôi huynh đệ của ta, ta không thể đi xa hơn nữa, vì ta yếu sức quá đỗi.” Amjad đáp: “Ôi huynh đệ của ta, hãy vững lòng! Có lẽ Allah sẽ gửi đến cho chúng ta sự giải thoát.” Vậy họ đi tiếp một phần đêm, cho đến khi bóng tối khép lại quanh họ, bấy giờ As'ad mệt vượt mọi mức mệt và kêu lên: “Ôi huynh đệ của ta, ta đã kiệt sức và cạn lực vì đi bộ,” rồi gieo mình xuống đất và khóc. Amjad bồng chàng trong tay và đi tiếp cùng chàng, thỉnh thoảng ngồi xuống nghỉ cho đến rạng ngày, khi họ tới đỉnh núi và thấy ở đó một dòng nước chảy, bên cạnh là một cây lựu và một hốc cầu nguyện.[FN#379] Họ hầu như không tin nổi mắt mình khi thấy vậy; nhưng, ngồi xuống bên suối ấy, họ uống nước và ăn trái của cây lựu kia; sau đó họ nằm trên đất và ngủ đến khi mặt trời mọc, bấy giờ họ rửa ráy và tắm trong suối, rồi ăn lựu, lại ngủ cho đến giờ cầu lễ giữa xế. Sau đó họ nghĩ tiếp tục hành trình, nhưng As'ad không thể bước đi, vì cả hai chân chàng đều sưng phồng. Vậy họ ở lại đó ba ngày cho đến khi được nghỉ ngơi, rồi lại lên đường, đi qua núi ngày đêm, bị cơn khát giày vò và gần như chết, cho đến khi họ trông thấy một thành phố lấp lánh từ xa; thấy vậy họ vui mừng và hướng về đó. Khi đến gần, họ tạ ơn Allah (cầu Danh Ngài được tôn cao!) và Amjad nói với As'ad: “Ôi huynh đệ của ta, hãy ngồi đây, trong khi ta đi đến thành kia xem nó là gì, của ai, và chúng ta đang ở đâu trong thế giới rộng của Allah, để chúng ta biết mình đã băng qua những xứ nào khi vượt ngọn núi này, mà nếu chúng ta men theo chân nó thì trọn một năm cũng không tới được thành này. Vậy ngợi ca Allah vì sự an toàn!” As'ad đáp: “Thề bởi Allah, ôi huynh đệ của ta, không ai xuống thành ấy ngoài chính ta, và cầu ta làm vật chuộc cho chàng! Nếu chàng để ta một mình, dù chỉ một giờ, ta sẽ tưởng tượng ra nghìn điều và chìm trong dòng thác lo âu vì chàng, vì ta không chịu nổi sự vắng mặt của chàng.” Amjad đáp: “Vậy hãy đi và đừng nấn ná.” Thế là As'ad lấy vài đồng vàng, để huynh đệ chờ mình, rồi xuống núi và không ngừng đi cho đến khi vào thành. Khi chàng luồn qua các phố, chàng gặp một lão nhân đã suy vì tuổi tác, râu chảy xuống ngực và chẻ làm hai nhánh;[FN#380] ông cầm gậy chống trong tay và mặc áo quần giàu sang, trên đầu quấn một khăn lớn màu đỏ. Khi As'ad thấy ông, chàng kinh ngạc trước y phục và dáng vẻ của ông; tuy vậy, chàng tiến đến, chào ông và nói: “Đường ra chợ ở đâu, ôi chủ nhân của tôi?” Nghe những lời này, Shaykh mỉm cười vào mặt chàng và đáp: “Ôi con trai ta, ta tưởng chừng con là người lạ?” As'ad đáp: “Vâng, con là người lạ.” —Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng vị Shaykh gặp As'ad mỉm cười vào mặt chàng và nói với chàng: “Ôi con trai ta, ta tưởng chừng con là người lạ?” và As'ad đáp: “Vâng, con là người lạ.” Rồi lão nhân nói tiếp: “Quả thật, con làm xứ chúng ta vui mừng vì sự hiện diện của con, ôi con trai ta, và làm xứ của chính con hoang vắng vì sự vắng mặt của con. Con muốn gì ở chợ?” As'ad nói: “Ôi bác, con có một huynh đệ, cùng con đến từ một xứ xa và cùng con đi suốt ba tháng; khi chúng con trông thấy thành này, con để chàng, người là huynh trưởng của con, trên núi và đến đây, định mua lương thực và các thứ khác, rồi mang về cho chàng, để chúng con ăn.” Lão nhân nói: “Hãy vui trong mọi điều lành, ôi con trai ta, và hãy biết rằng hôm nay ta mở một tiệc cưới, ta đã mời nhiều khách, và đã chuẩn bị rất nhiều món ăn, thứ tốt nhất và ngon lành nhất mà tim có thể mong. Vậy nếu con chịu đến nhà ta cùng ta, ta sẽ cho con miễn phí mọi thứ con thiếu, không hỏi con giá cả hay gì khác. Hơn nữa, ta sẽ dạy con đường lối của thành này; và ngợi ca Allah, ôi con trai ta, vì chính ta, chứ không ai khác, đã gặp được con.” As'ad đáp: “Tùy ý bác, hãy làm theo điều bác muốn, nhưng xin mau lên, vì quả thật huynh đệ con đang đợi con và trọn tim chàng ở cùng con.” Lão nhân nắm tay As'ad và đưa chàng đến một ngõ hẹp, mỉm cười vào mặt chàng và nói: “Vinh quang thuộc về Đấng đã cứu con khỏi dân của thành này!” Ông không ngừng bước cho đến khi vào một ngôi nhà rộng, trong đó có một đại sảnh, và kìa, ở giữa sảnh là bốn mươi lão nhân, tuổi đã rất cao, tụ lại với nhau và kết thành một vòng tròn duy nhất khi họ ngồi quanh một ngọn lửa đang cháy, mà họ đang thờ phụng và phủ phục trước nó.[FN#381] Khi As'ad thấy vậy, chàng bối rối, lông tóc trên thân dựng đứng, dù chàng không biết họ là gì; và Shaykh nói với họ: “Ôi các Trưởng lão của Lửa, ngày này được chúc phúc biết bao!” Rồi ông gọi lớn, nói: “Này, Ghazbán!” Bấy giờ một nô lệ da đen cao lớn bước ra với ông, vẻ ngoài đáng sợ, mặt mày dữ tợn và mũi tẹt như vượn; khi lão nhân ra dấu cho hắn, hắn bẻ hai tay As'ad ra sau lưng và trói chúng; sau đó Shaykh nói với hắn: “Đưa hắn xuống hầm dưới đất và bỏ hắn ở đó, rồi nói với nữ nô của ta tên ấy tên nọ: ‘Hãy tra tấn hắn đêm ngày, và cho hắn một bánh mì để ăn buổi sáng và buổi tối, đợi đến thời điểm chuyến đi đến Biển Xanh và Núi Lửa, nơi chúng ta sẽ giết hắn làm vật tế.’” Vậy tên da đen mang chàng ra bằng một cửa khác và, nâng một tấm ván trong sàn, để lộ một cầu thang hai mươi bậc dẫn xuống một căn phòng[FN#382] dưới đất, hắn cùng chàng đi xuống đó và, đặt chân chàng vào xiềng sắt, giao chàng cho nữ nô rồi đi khỏi. Trong khi ấy, các lão nhân nói với nhau: “Khi ngày Lễ Hội của Lửa đến, chúng ta sẽ hiến tế hắn trên núi, làm lễ vật cầu hòa để làm vui Lửa.” Lát sau, nữ tỳ đi xuống chỗ chàng và đánh chàng một trận đau đớn, cho đến khi những dòng máu chảy từ hai bên sườn chàng và chàng ngất đi; sau đó nàng đặt bên đầu chàng một bánh mì dẹt và một bình nước lợ, rồi đi khỏi, bỏ chàng lại. Giữa đêm, chàng hồi tỉnh và thấy mình bị trói, bị đánh và đau nhức vì đòn; vậy chàng khóc những giọt lệ đắng; nhớ lại tình trạng trước kia của mình trong vinh dự và thịnh vượng, quyền chủ và vương quyền, cũng như cảnh chia lìa khỏi thân phụ và bị lưu đày khỏi quê hương.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép,

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi tám,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi As'ad thấy mình bị trói, bị đánh và đau nhức vì đòn, chàng nhớ lại tình trạng khi xưa của vinh dự, thịnh vượng, vương quyền và quyền chủ, rồi khóc, rên lớn và ngâm những câu thơ đôi này,

“Hãy đứng bên chốn hoang tàn và hỏi về chúng ta; *
Đừng tưởng chúng ta cư ngụ ở đó như tình trạng xưa của chúng ta:
Thế Gian, kẻ chia lìa ấy, đã chia lìa chúng ta; *
Nhưng vận số của chúng ta vẫn chẳng xoa dịu những tim đầy thù hận:
Bằng roi, một nữ nô bị nguyền rủa quất chúng ta, *
Và ngực nàng đầy ứ nỗi căm ghét cay độc với chúng ta:
Có lẽ Allah sẽ đoái thương nối lại đời chúng ta, *
Trừng trị kẻ thù của chúng ta và chấm dứt cảnh ngặt của chúng ta.”

Và khi As'ad đã nói xong lời thơ, chàng đưa tay về phía đầu mình và thấy ở đó mẩu bánh cùng chiếc bình đầy nước lợ; chàng ăn một miếng nhỏ, vừa đủ giữ mạng trong thân, và uống một chút nước, nhưng chẳng thể ngủ cho đến sáng vì từng đàn rệp[FN#383] và chấy rận. Ngay khi trời sáng, nữ nô đi xuống với chàng và thay áo quần cho chàng, vốn sũng máu và dính vào người chàng, đến nỗi da chàng bong ra theo áo; vì vậy chàng thét lớn và kêu: “Than ôi!” rồi nói: “Ôi Allah của con, nếu đây là ý muốn của Ngài, xin hãy tăng nó lên trên con! Ôi Đức Chúa, quả thật Ngài không hề lãng quên kẻ áp bức con; vậy xin Ngài báo thù hắn cho con!” Và chàng rên rỉ, lặp lại những vần sau,

“Nhẫn chịu, ôi Allah! trước số mệnh Ngài *
Con cúi đầu, đủ cho con điều Ngài đoái định:
Nhẫn chịu để mang ý muốn của Ngài, ôi Đức Chúa của con, *
Nhẫn chịu cháy trên than của cây Ghazá:
Họ làm oan con, thăm con bằng đau và hại; *
Biết đâu ân Ngài sẽ giải phóng con khỏi họ:
Lạy Đức Chúa, xa thay khỏi Ngài việc dung tha kẻ làm oan *
Ôi Đức Chúa của Số Mệnh, hy vọng của con ở nơi Ngài!”

Và điều một người khác nói,

“Chớ nghĩ đến tình trạng thế gian, *
Hãy để mọi sự theo dòng Số Mệnh;
Vì thường một điều khiến ngươi bực bội *
Sẽ kết thành mãn nguyện;
Và thường điều chật hẹp sẽ mở rộng, *
Còn điều rộng sẽ hóa chật.
Allah sẽ làm điều ý muốn Ngài muốn, *
Vậy ngươi chớ nài ép!
Nhưng hãy vui với cảnh điều lành đang đến *
Sẽ khiến quên khổ và ghét đã qua.”

Và khi chàng dứt lời thơ, nữ nô giáng đòn xuống chàng cho đến khi chàng lại ngất đi; rồi, ném cho chàng một mảnh bánh và một bình nước mặn, nàng đi khỏi, bỏ chàng lại buồn bã và cô độc, bị xiềng trong xích sắt, máu chảy thành dòng từ hai bên sườn, xa cách những người chàng yêu. Vậy chàng khóc và nhớ đến huynh đệ cùng những vinh dự mình từng hưởng.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm hai mươi chín,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng As'ad nhớ đến huynh đệ mình và những vinh dự mình từng hưởng; vậy chàng khóc, rên rỉ, than phiền và tuôn lệ như lũ, ứng khẩu những câu thơ đôi này,

“Nhẹ tay thôi, ôi Số Mệnh! Còn bao lâu nữa cảnh oan, điều hại này, *
Cướp khỏi ta tình huynh đệ mỗi sớm mỗi chiều?
Chẳng phải nay đã đến lúc ngươi xem độ dài này là đủ *
Những nỗi khổ rồi sao, ôi Trái Tim Đá, hãy tỏ lòng thương?
Ngươi đã làm oan bạn bè ta khi khiến mỗi kẻ thù *
Chế nhạo và hả hê trên ta vì những điều oan trái, bạo ngược của ngươi:
Tim kẻ thù ta được an ủi bởi những gì hắn thấy *
Nơi ta, cảnh lưu lạc và khốn khổ cô đơn:
Chẳng đủ cho ngươi sao những điều sầu đã giáng lên đầu ta, *
Bạn bè mất mãi, mắt héo và sắc xanh xao?
Mà còn phải ném ta vào ngục chật hẹp đến chẳng có gì *
Ngoài tay để cắn, cùng bàn tay bị cắn làm bạn;
Và lệ đổ xuống như bão, như quà tặng tốt đẹp của mây, *
Cùng cơn khát khát khao mà lửa chẳng biết no.
Những nhớ mong ăn năn, nức nở và tiếng thở dài không dứt, *
Than trách, hồi tưởng và cơn xuất thần của chính đau đớn:
Ta chịu ham muốn dữ dội và u sầu sâu thẳm, *
Và phải ở lại làm mồi cho điên loạn không cùng:
Ta không tìm được một bạn nào nhìn bằng mắt xót thương, *
Và tìm đến hiện diện bên ta để làm dịu khổ ta:
Hãy nói, có tri kỷ nào sống với tình yêu đáng tin *
Sẽ rên vì bệnh ta, chứng không ngủ của ta?
Ta có thể than với ai, và biết đâu người ấy *
Sẽ thương đôi mắt chẳng bao giờ thấy cảnh ngủ?
Bọ chét và rệp hút máu ta, như kẻ uống *
Rượu từ bàn tay dâng của trinh nữ đẹp:
Giữa chấy rận, thân thể ta luôn nhắc ta *
Về của cải đứa mồ côi trong vuốt Kazi gian ác:
Nhà ta là một huyệt mộ đo ba cubit, *
Nơi ta qua sớm và chiều trong thống khổ xiềng xích:
Rượu của ta là lệ, tiếng xiềng lách cách thay cho âm nhạc, *
Lo âu là món trái cây tráng miệng của ta và sầu khổ là giường ta.”

Và khi chàng đã ngâm lời thơ và nói lời văn, chàng lại rên rỉ, than phiền và nhớ mình đã từng là gì, và đã bị chia lìa khỏi huynh đệ ra sao. Đến đây là chuyện về chàng; còn về huynh đệ chàng, Amjad, chàng chờ As'ad cho đến giữa ngày mà chàng vẫn không trở lại; bấy giờ gan ruột Amjad phập phồng, những cơn đau chia lìa đè nặng trên chàng và chàng tuôn lệ dồi dào,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm ba mươi,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Amjad chờ huynh đệ As'ad đến giữa ngày mà chàng không trở lại, gan ruột Amjad phập phồng; những cơn đau chia lìa đè nặng trên chàng và chàng tuôn lệ dồi dào, kêu lên: “Than ôi, huynh đệ của ta! Than ôi, bạn ta! Than ôi, nỗi sầu của ta! Ta đã sợ biết bao rằng chúng ta sẽ bị chia lìa!” Rồi chàng xuống khỏi đỉnh núi, nước mắt chảy trên má; và, vào thành, chàng không ngừng đi cho đến khi tới chợ. Chàng hỏi dân chúng tên nơi này và về cư dân của nó, họ nói: “Nơi này gọi là Thành của người Magian, và dân nó phần lớn thờ Lửa thay cho Đức Vua Toàn Năng.” Rồi chàng hỏi về Thành Ebony, và họ đáp: “Quả thật đến đó một năm đường bộ và sáu tháng đường biển: trước kia nó được cai trị bởi một vua tên Armanus; nhưng ngài đã nhận làm con rể và lập làm vua thay mình một Hoàng tử tên Kamar al-Zaman, nổi danh vì công lý và hào phóng, công bằng và nhân từ.” Khi Amjad nghe kể về cha mình, chàng rên rỉ, khóc lóc, than vãn và không biết đi đâu. Tuy nhiên, chàng mua chút thức ăn và mang đến một nơi vắng vẻ, nơi chàng ngồi xuống định ăn; nhưng, nhớ đến huynh đệ mình, chàng rơi lệ và chỉ nuốt một miếng để giữ hơi thở và thân thể ở cùng nhau, mà cũng là trái ý mình. Rồi chàng đứng dậy và đi quanh thành, tìm tin về huynh đệ mình, cho đến khi thấy một người thợ may Hồi giáo đang ngồi trong cửa tiệm; vậy chàng ngồi xuống bên ông và kể cho ông nghe câu chuyện của mình; bấy giờ người thợ may nói: “Nếu chàng đã rơi vào tay người Magian, ngươi khó lòng gặp lại chàng: tuy vậy, có lẽ Allah sẽ tái hợp hai ngươi. Nhưng ngươi, ôi huynh đệ của ta,” ông tiếp, “ngươi có chịu trú tại nhà ta không?” Amjad đáp: “Có”; và người thợ may vui mừng vì điều này. Vậy chàng ở với ông nhiều ngày, trong khi người thợ may an ủi chàng, khuyên chàng nhẫn nại và dạy chàng nghề may, cho đến khi chàng trở nên thành thạo nghề ấy. Nay một ngày nọ, chàng đi ra bờ biển và giặt áo quần; sau đó chàng vào nhà tắm và mặc áo sạch; rồi chàng dạo quanh thành, để khuây khỏa với các cảnh của nó, và lát sau trên đường có một người đàn bà đẹp đẽ và đáng yêu vượt bậc gặp chàng, không ai sánh về duyên dáng và mỹ lệ. Khi nàng thấy chàng, nàng nâng mạng che mặt và ra hiệu cho chàng bằng cách động lông mày cùng mắt mình với những liếc nhìn dụ dỗ, rồi ngâm những câu thơ đôi này,

“Ta cụp mắt khi thấy chàng trên đường *
Như thể, ôi chàng eo thon! bị tia nóng của mặt trời đánh ngã:
Chàng là người đẹp nhất trong mọi người đẹp từng hiện ra, *
Hôm nay đẹp hơn người đẹp của hôm qua:[FN#384]
Nếu Sắc Đẹp bị chia ra, một phần năm của nó *
Sẽ ở lại với Joseph, hay một phần của phần năm;
Phần còn lại sẽ bay đến chàng, của riêng chàng; *
Cầu mọi linh hồn làm vật hiến tế cho chàng!”

Khi Amjad nghe những lời này của nàng, chúng làm tim chàng vui, tim chàng nghiêng về nàng, gan ruột chàng khát khao nàng và tay Tình Yêu đùa giỡn với chàng; vậy chàng thở dài đáp lại nàng và nói những câu thơ đôi này,

“Trên đóa hồng nơi má là gai của mũi thương;[FN#385] *
Ai dám hái nó, dám làm vụ liều nhất?
Chớ vươn tay về phía nó, vì suốt đêm dài *
Những mũi thương ấy gây thương tích bởi chúng ta đã cướp một ánh nhìn!
Hãy nói với nàng, kẻ vừa bạo ngược vừa cám dỗ *
(dẫu công lý có thể làm quyền cám dỗ của nàng thêm mạnh):—
Mặt nàng sẽ thêm lỗi lầm nếu được che kín; *
Nhưng khi không che, ta thấy lính canh của nó có cơ may tốt nhất!
Mắt không thể nhìn gương mặt trần của Mặt Trời; *
Nhưng có thể nhìn, khi mây sương làm mờ dung nhan chàng:
Tổ mật được ong mật giữ;[FN#386] *
Hãy hỏi lính canh bộ tộc, sự cảnh giác của họ cần gì?
Nếu họ muốn giết ta, hãy để họ chấm dứt cơn giận *
Hằn học của họ, và tự do cho ta tiến tới:
Họ chẳng giết người hơn, dù cả đoàn xông tới, *
Bằng ánh liếc xông pha của nàng mang nốt ruồi.”

Và khi nghe những dòng này từ Amjad, nàng thở dài những tiếng thở dài sâu nhất và, lại ra hiệu cho chàng, lặp lại những câu thơ đôi này,

“Chính chàng đã bước trên đường e thẹn, chẳng phải ta: *
Hãy ban ân cho ta, vì thời khắc đang đến gần:
Ôi chàng làm sáng bình minh bằng ánh trán, *
Và bằng lọn tóc trán buông xõa làm đêm bay lên trời!
Vẻ thần tượng của chàng đã khiến ta thành nô lệ của chàng, *
Cám dỗ như chàng đã cám dỗ ta trong những ngày qua:
Thật đúng là gan ta rán chín trong tình yêu nóng nhất: *
Ai thờ lửa làm Thượng Đế thì phải chịu lửa:
Chàng bán một kẻ như ta với giá vô giá trị; *
Nếu chàng phải bán, hãy đòi giá cao nơi kẻ mua.”

Khi Amjad nghe những lời này của nàng, chàng nói với nàng: “Nàng sẽ đến chỗ trọ của ta hay ta sẽ đi cùng nàng đến chỗ nàng?” Vậy nàng cúi đầu hổ thẹn xuống đất và lặp lại lời của Đấng mà Danh Ngài được tôn cao: “Nam nhân sẽ có quyền ưu thắng trên nữ nhân, bởi những ưu thế trong đó Allah đã khiến người này vượt hơn người kia.”[FN#387] Nghe vậy, Amjad hiểu lời gợi ý.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm ba mươi mốt,

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#44

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Amjad hiểu lời gợi ý của người đàn bà và biết rằng nàng muốn đi theo chàng đến nơi chàng sẽ đến; chàng thấy mình buộc phải tìm một chỗ để tiếp nàng, nhưng lại hổ thẹn không dám đưa nàng về nhà chủ trọ của mình, người thợ may. Vậy chàng bước đi và nàng bước theo sau, cả hai không ngừng đi từ phố này sang phố khác, từ nơi này sang nơi khác, cho đến khi nàng mệt và nói với chàng: “Ôi chúa công của thiếp, nhà chàng ở đâu?” Chàng đáp: “Ở trước mặt chúng ta một quãng ngắn.” Rồi chàng rẽ sang một ngõ nhỏ đẹp đẽ, người thiếu phụ đi theo sau, và chàng bước tiếp đến tận cuối ngõ, khi chàng thấy đó là ngõ cụt và kêu lên: “Không có Uy Nghi và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại!” Rồi ngẩng mắt lên, chàng thấy ở đầu trên của ngõ có một cánh cửa lớn với hai ghế đá; nhưng nó đã khóa. Vậy Amjad ngồi xuống một trong hai ghế, còn nàng ngồi ghế kia; và nàng nói với chàng: “Ôi chúa công của thiếp, vì sao chàng chờ?” Chàng cúi đầu nhìn xuống đất một lúc, rồi ngẩng lên đáp: “Ta đang chờ Mameluke của ta, kẻ giữ chìa khóa; vì ta đã bảo hắn chuẩn bị cho ta thức ăn, thức uống và hoa, để bày biện tiệc rượu đợi ta trở về từ nhà tắm.” Nhưng chàng tự nhủ: “Biết đâu thời gian sẽ trở nên dài lê thê đối với nàng và nàng sẽ đi lo việc của mình, bỏ ta ở đây, khi ấy ta sẽ đi đường ta.” Tuy nhiên, ngay khi nàng mỏi mệt vì chờ lâu, nàng nói: “Ôi chúa công của thiếp, Mameluke của chàng chậm trễ; còn chúng ta thì ngồi ngoài phố.” Rồi nàng đứng dậy, nhặt một hòn đá và đi đến ổ khóa. Amjad nói: “Đừng vội, hãy nhẫn nại cho đến khi tôi tớ đến.” Song nàng không nghe chàng, mà dùng đá đập then gỗ và bẻ nó làm đôi, bấy giờ cửa mở ra. Chàng nói: “Điều gì nhập vào nàng mà làm việc này?” Nàng đáp: “Phì, phì, chúa công của thiếp! có gì quan trọng đâu? Chẳng phải nhà này là nhà của chàng và nơi của chàng sao?” Chàng nói: “Không cần phải bẻ then.” Rồi thiếu nữ bước vào, khiến Amjad bối rối, chẳng biết phải làm gì vì sợ người trong nhà; nhưng nàng nói với chàng: “Sao chàng không vào, ôi ánh sáng mắt thiếp và lõi tim thiếp?” Chàng đáp: “Ta nghe và tuân lệnh; nhưng tôi tớ của ta nấn ná quá lâu và ta không biết hắn đã làm việc gì trong những điều ta bảo hắn và đặc biệt dặn dò hắn hay chưa.” Bấy giờ chàng bước vào, sợ hãi dữ dội người trong nhà, và thấy mình ở trong một đại sảnh đẹp đẽ với bốn hốc nền cao, mỗi hốc đối mặt nhau, chứa các phòng nhỏ và ghế cao, tất cả đều trải vải lụa và gấm; ở giữa là một vòi phun nước kiểu dáng đắt giá, trên mép đặt một mâm thức ăn có đậy, với khăn bàn da treo lên và các đĩa khảm ngọc, đầy trái cây và hoa thơm ngát. Gần đó là những bình chén uống rượu và một giá nến có một ngọn nến sáp; nơi ấy đầy những thứ vải quý, sắp hàng các rương và ghế thấp, và trên mỗi ghế là một gói áo quần, trên đó có một túi tiền đầy vàng bạc. Sàn lát cẩm thạch và ngôi nhà trong mọi phần đều làm chứng cho sự giàu có của chủ nó. Khi Amjad thấy tất cả điều này, chàng bối rối trước tình cảnh mình và tự nhủ: “Ta là kẻ mất mạng! Quả thật chúng ta thuộc về Allah và sẽ trở về với Allah!” Còn về thiếu nữ, khi nàng trông thấy nơi ấy, nàng vui mừng thật sự, một niềm vui không gì có thể vượt, và nói với chàng: “Thề bởi Allah, ôi chúa công của thiếp, tôi tớ của chàng đã không thiếu bổn phận; vì hãy xem, hắn đã quét dọn nơi này, nấu thức ăn và bày trái cây; quả thật thiếp đến vào thời điểm tốt nhất.” Nhưng chàng chẳng để ý nàng, vì tim chàng bị nỗi sợ người trong nhà chiếm lấy; và nàng nói: “Ôi, chúa công của thiếp, ôi tim của thiếp! Điều gì khiến chàng đứng như vậy?” Rồi nàng thở dài và hôn chàng một cái vang như tiếng vỡ hạt óc chó, nói: “Ôi chúa công của thiếp, nếu chàng đã hẹn với ai khác ngoài thiếp, thiếp sẽ thắt lưng hầu hạ nàng ấy và chàng.” Amjad cười bằng một trái tim đầy căm giận và phẫn nộ, bước tới và ngồi xuống, thở hổn hển, tự nhủ: “Than ôi, cái chết xấu số và định mệnh của ta khi chủ nơi này trở về!” Rồi nàng ngồi bên chàng, bắt đầu đùa giỡn và cười, trong khi Amjad ngồi lo âu và cau mày, nghĩ nghìn mối và tự nói với mình: “Chắc chắn chủ ngôi nhà không thể không đến, và khi ấy ta sẽ nói gì với hắn? Hẳn hắn phải giết ta, và mạng ta sẽ mất một cách ngu ngốc như vậy.” Lát sau nàng đứng dậy và, xắn tay áo, lấy một mâm thức ăn, trải khăn lên đó, rồi đặt trước mặt Amjad và bắt đầu ăn, nói: “Ăn đi, ôi chúa công của thiếp.” Vậy chàng tiến tới và ăn; nhưng thức ăn không làm chàng thấy ngon; trái lại, chàng không ngừng nhìn về phía cửa, cho đến khi thiếu nữ ăn no, bấy giờ nàng dọn mâm thức ăn đi và, bày món tráng miệng, bắt đầu ăn trái cây khô. Rồi nàng đem bộ đồ uống rượu đến và mở vò, rót đầy một chén, trao cho Amjad, chàng nhận lấy từ tay nàng, tự nhủ: “Than ôi, than ôi! khổ thay, khi chủ nhà đến và thấy ta!”; và chàng cứ ghim mắt vào ngưỡng cửa, ngay cả khi chén còn trong tay. Khi chàng đang trong tình trạng ấy, kìa! chủ nhà bước vào, hắn là một nô lệ da trắng, một trong những nhân vật đứng đầu thành, giữ chức Chủ Mã[FN#388] của nhà vua. Hắn đã sắp đặt đại sảnh này cho những cuộc vui của mình, để có thể vui thú trong đó và riêng tư với người hắn muốn, và ngày ấy hắn đã mời một thiếu niên hắn yêu, đồng thời chuẩn bị tiệc này cho chàng. Nay tên của nô lệ ấy là Bahádur,[FN#389] và hắn rộng tay, hào phóng, ban phát lớn lao, ưa bố thí và làm việc thiện.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm ba mươi hai,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Bahadur, Chủ Mã và chủ ngôi nhà, đến cửa đại sảnh và thấy nó mở, hắn bước vào chậm rãi, nhẹ nhàng, rồi nhìn vào, đầu đưa tới và cổ vươn ra, thấy Amjad và cô gái đang ngồi trước đĩa trái cây, vò rượu ở trước mặt họ. Nay đúng lúc ấy Amjad đang cầm chén trong tay và mặt quay về phía cửa; khi ánh nhìn chàng gặp mắt Bahadur, sắc mặt chàng chuyển vàng nhợt và các cơ bên sườn run rẩy; thấy chàng rối trí như vậy, Bahadur đặt ngón tay lên môi ra hiệu cho chàng, như muốn nói: “Hãy im lặng và đến đây với ta.” Bấy giờ chàng đặt chén xuống và đứng dậy, còn thiếu nữ kêu: “Đi đâu vậy?” Chàng lắc đầu và ra hiệu cho nàng rằng chàng muốn đi tiểu, rồi đi chân trần ra hành lang. Nay khi thấy Bahadur, chàng biết hắn là chủ ngôi nhà; vậy chàng vội đến với hắn và, hôn tay hắn, nói: “Nhân danh Allah trên ngài, ôi chúa công của tôi, trước khi ngài làm hại tôi, xin hãy nghe điều tôi phải nói.” Rồi chàng kể cho hắn biết mình là ai từ đầu đến cuối, cho hắn biết điều gì khiến chàng rời quê hương và cảnh vương giả, và rằng chàng không tự ý vào nhà hắn, mà chính cô gái đã bẻ then khóa và làm tất cả việc này.[FN#390] Khi Bahadur nghe chuyện chàng và biết chàng là con trai của một vị vua, hắn cảm thương chàng và, động lòng trắc ẩn, nói: “Hãy nghe ta, ôi Amjad, và làm điều ta bảo, ta sẽ bảo đảm an toàn cho ngươi khỏi điều ngươi sợ; nhưng nếu ngươi trái ta, ta sẽ giết ngươi.” Amjad đáp: “Xin truyền lệnh cho tôi như ngài muốn: tôi sẽ không trái ngài trong bất cứ điều gì; không, chẳng bao giờ, vì tôi là kẻ được ân huệ của ngài phóng thích.” Bahadur nói tiếp: “Vậy hãy lập tức trở vào đại sảnh, ngồi xuống chỗ của ngươi và cứ bình tâm, thoải mái; lát nữa ta sẽ vào với ngươi, và khi ngươi thấy ta (hãy nhớ tên ta là Bahadur), ngươi hãy chửi bới ta và mắng nhiếc ta, nói: ‘Điều gì khiến ngươi nấn ná đến muộn như vậy?’ Và đừng nhận bất cứ lời bào chữa nào của ta; không những vậy, hãy đứng dậy đánh ta; nếu ngươi nương tay với ta, ta sẽ lấy mạng ngươi. Nay hãy vào đi, vui chơi đi, và bất cứ thứ gì ngươi cần nơi ta lúc này, ta sẽ lập tức đem đến cho ngươi; đêm nay ngươi hãy dùng theo ý muốn, và sáng mai hãy đi đường ngươi. Ta làm điều này vì tôn trọng cảnh tha hương của ngươi, vì ta yêu người lạ và tự thấy mình buộc phải làm bổn phận với hắn.” Vậy Amjad hôn tay hắn và, trở vào đại sảnh với gương mặt lại khoác sắc trắng đỏ tự nhiên, lập tức nói với thiếu nữ: “Ôi nữ chủ của ta, sự hiện diện của nàng đã làm nơi này của nàng và của chúng ta vui rạng; quả thật đêm của chúng ta là đêm được chúc phúc.” Cô gái nói: “Quả thật thiếp thấy nơi chàng một đổi thay kỳ lạ, rằng nay chàng đón thiếp ân cần đến thế!” Amjad đáp: “Thề bởi Allah, ôi phu nhân của ta, ta tưởng tôi tớ Bahadur đã trộm của ta vài chuỗi ngọc, mỗi chuỗi trị giá mười nghìn dinar; nhưng khi vừa rồi ta ra ngoài vì lo việc này, ta tìm chúng và thấy chúng ở nguyên chỗ. Ta không biết vì sao tên nô lệ nấn ná lâu như thế, và nhất định ta phải phạt hắn vì việc này.” Nàng hài lòng với lời đáp của chàng, rồi họ đùa vui, uống rượu và hưởng lạc, không ngừng như vậy cho đến gần hoàng hôn, khi Bahadur vào với họ, đã thay áo quần, thắt lưng và mang giày kiểu Mameluke. Hắn chào và hôn đất; rồi chắp tay sau lưng, đứng cúi đầu, như kẻ thú nhận lỗi. Vậy Amjad nhìn hắn bằng đôi mắt giận dữ và hỏi: “Vì sao ngươi nấn ná đến tận bây giờ, hỡi tên nô lệ dịch hạch nhất?” Bahadur đáp: “Ôi chúa công của tôi, tôi bận giặt áo quần và không biết ngài ở đây; vì giờ hẹn của chúng ta là đêm xuống chứ không phải ban ngày.” Nhưng Amjad quát hắn, nói: “Ngươi nói dối, hỡi tên nô lệ đê tiện nhất! Thề bởi Allah, ta nhất định phải đánh ngươi.” Vậy chàng đứng dậy, ném Bahadur nằm sấp xuống đất, lấy một cây gậy và đánh nhẹ hắn; nhưng thiếu nữ bật dậy và, giật cây gậy khỏi tay chàng, giáng xuống Bahadur mạnh đến nỗi, vì đau đớn tột độ, nước mắt chảy khỏi mắt hắn, hắn nghiến răng và kêu cứu; trong khi Amjad kêu với cô gái: “Đừng”; còn nàng kêu: “Hãy để thiếp thỏa cơn giận trên hắn!” cho đến cuối cùng chàng giật cây gậy khỏi tay nàng và đẩy nàng ra. Vậy Bahadur đứng dậy, lau nước mắt khỏi má, trong lúc đó hầu hạ họ, rồi quét sảnh và thắp đèn; nhưng mỗi khi hắn vào ra, phu nhân ấy đều mắng nhiếc và nguyền rủa hắn, cho đến khi Amjad giận nàng và nói: “Vì Allah Toàn Năng, hãy để Mameluke của ta yên; hắn không quen việc này.” Rồi họ ngồi, không ngừng ăn uống (và Bahadur hầu hạ họ) cho đến nửa đêm, khi hắn mệt vì phục dịch và bị đánh, bèn ngủ thiếp đi giữa đại sảnh, ngáy và phì phò; bấy giờ thiếu nữ, đã say rượu, nói với Amjad: “Đứng dậy, lấy thanh gươm treo đằng kia và chặt cho thiếp đầu tên nô lệ này; nếu chàng không làm, thiếp sẽ là cái chết của chàng!” Amjad hỏi: “Điều gì nhập vào nàng mà muốn giết nô lệ của ta?” Nàng đáp: “Niềm vui của chúng ta sẽ không trọn vẹn nếu hắn không chết. Nếu chàng không giết hắn, thiếp sẽ tự làm.” Amjad nói: “Vì quyền của Allah trên nàng, đừng làm việc này!” Nàng nói: “Nhất định phải làm”; rồi lấy thanh gươm xuống, rút ra và tiến về phía Bahadur để giết hắn; nhưng Amjad tự nhủ: “Người này đã đối xử với chúng ta nhã nhặn, che chở chúng ta, làm điều tốt cho chúng ta và tự biến mình thành nô lệ của ta: lẽ nào chúng ta báo đáp hắn bằng việc giết hắn? Chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra!” Rồi chàng nói với người đàn bà: “Nếu Mameluke của ta phải bị giết, tốt hơn ta giết hắn chứ không phải nàng.” Nói vậy, chàng lấy thanh gươm từ tay nàng và, giơ tay lên, chém vào cổ nàng, khiến đầu nàng bay khỏi thân. Nó rơi xuống Bahadur, làm hắn thức dậy, ngồi lên và mở mắt, khi hắn thấy Amjad đứng bên cạnh mình, trong tay là thanh gươm nhuộm máu, còn thiếu nữ nằm chết. Hắn hỏi điều gì đã xảy ra, và Amjad kể cho hắn mọi điều nàng đã nói, thêm: “Chẳng điều gì làm nàng vừa ý ngoài việc nàng phải giết ngươi; và đây là phần thưởng của nàng.” Rồi Bahadur đứng dậy và, hôn tay vị Hoàng tử, nói với chàng: “Ước gì Trời cho ngài đã tha nàng! nhưng nay không còn cách nào ngoài việc tống khứ nàng không dừng hay chậm, trước khi ngày rạng.” Rồi hắn thắt lưng, lấy thi thể, gói nó trong một áo choàng Abá, đặt nó vào một giỏ lớn bằng lá cọ, rồi vác lên vai, nói: “Ngài là người lạ ở đây và chẳng biết ai: vậy hãy ngồi tại nơi này và chờ tôi trở về cho đến rạng ngày. Nếu tôi trở lại với ngài, chắc chắn tôi sẽ làm cho ngài việc tốt lớn lao và dùng hết sức để có tin về huynh đệ của ngài; nhưng nếu đến mặt trời mọc mà tôi không trở lại, hãy biết rằng mọi chuyện đã xong với tôi; bình an ở cùng ngài, và ngôi nhà cùng mọi thứ trong đó, vải vóc và tiền bạc, là của ngài.” Rồi hắn rời khỏi đại sảnh, mang cái giỏ; và, luồn qua các phố, hắn đi về phía biển mặn, định ném nó xuống đó: nhưng khi đến gần bờ, hắn quay lại và thấy Cảnh sát trưởng cùng thuộc hạ đã dàn quanh mình; và, khi nhận ra hắn, họ kinh ngạc rồi mở giỏ, trong đó họ thấy người đàn bà bị giết. Vậy họ bắt hắn và đặt hắn trong xiềng suốt đêm ấy cho đến sáng, khi họ mang hắn cùng cái giỏ, y như thế, đến nhà vua và báo cáo sự việc. Nhà vua nổi giận dữ dội khi nhìn thấy kẻ bị giết và nói với Bahadur: “Khốn cho ngươi! Ngươi luôn làm như vậy; ngươi giết người, ném họ xuống biển rồi lấy của cải của họ. Trước chuyện này, ngươi đã phạm bao nhiêu vụ giết người rồi?” Bấy giờ Bahadur cúi đầu.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm ba mươi ba,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Bahadur cúi đầu xuống đất trước mặt nhà vua, người quát hắn, nói: “Khốn cho ngươi! Ai đã giết cô gái này?” Hắn đáp: “Ôi chúa công của tôi! Tôi đã giết nàng, và không có Uy Nghi và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại!”[FN#391] Vậy nhà vua trong cơn giận truyền treo cổ hắn; đao phủ đưa hắn đi xuống theo lệnh nhà vua, và Cảnh sát trưởng đi cùng hắn với một người rao, người kêu gọi toàn dân chứng kiến cuộc hành quyết Bahadur, Chủ Mã của nhà vua; và theo lối ấy họ dẫn hắn diễu qua các đường lớn và các phố chợ. Đó là việc xảy ra với Bahadur; còn về Amjad, chàng chờ chủ nhà trở về cho đến khi ngày rạng và mặt trời mọc, và khi thấy hắn không đến, chàng kêu lên: “Không có Uy Nghi và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại! Ước gì ta biết điều gì đã xảy ra với hắn?” Và khi chàng đang ngồi trầm tư, kìa, chàng nghe người rao tuyên án Bahadur và gọi dân chúng đến xem cảnh treo cổ hắn vào giữa trưa; nghe vậy chàng khóc và kêu: “Quả thật, chúng ta thuộc về Allah và sẽ trở về với Ngài! Hắn định hy sinh mình một cách oan uổng vì ta, trong khi chính ta mới là kẻ giết nàng. Thề bởi Allah, điều này sẽ không bao giờ xảy ra!” Rồi chàng rời khỏi đại sảnh và, đóng cửa sau lưng, vội luồn qua các phố cho đến khi đuổi kịp Bahadur, bấy giờ chàng đứng trước Cảnh sát trưởng và nói với ông: “Ôi chúa công của tôi, đừng giết Bahadur, vì hắn vô tội. Thề bởi Allah, không ai giết nàng ngoài tôi.” Nay khi Cảnh sát trưởng nghe những lời này, ông bắt cả hai và, đưa họ đến trước nhà vua, cho ngài biết điều Amjad đã nói; bấy giờ ngài nhìn vị Hoàng tử và hỏi chàng: “Ngươi đã giết thiếu nữ ấy sao?” Chàng đáp: “Vâng,” và nhà vua nói: “Hãy kể cho ta vì sao ngươi giết nàng, và nói sự thật.” Amjad đáp: “Ôi đức vua, quả thật đó là một biến cố kỳ lạ và một việc diệu kỳ đã xảy đến với tôi: nếu nó được khắc bằng kim lên khóe mắt, nó sẽ làm lời cảnh tỉnh cho kẻ muốn được cảnh tỉnh!” Rồi chàng kể cho ngài toàn bộ câu chuyện của mình và cho ngài biết tất cả những gì đã xảy đến với chàng và huynh đệ chàng, từ đầu đến cuối; nghe vậy nhà vua vô cùng sửng sốt và kinh ngạc, nói với chàng: “Hãy biết rằng nay ta thấy ngươi đáng được miễn trách; nhưng hãy nghe, ôi thiếu niên! Ngươi có muốn làm Wazír của ta không?” “Nghe và tuân lệnh,” Amjad đáp; bấy giờ nhà vua ban y phục danh dự lộng lẫy cho chàng và Bahadur, trao cho chàng một ngôi nhà đẹp, cùng hoạn quan, quan chức và mọi thứ cần thiết, định cho chàng bổng lộc và phụ cấp, rồi truyền chàng tìm kiếm huynh đệ As'ad của mình. Vậy Amjad ngồi vào ghế Wazirate, cai quản và thực thi công lý, phong chức và phế chức, lấy và ban. Hơn nữa, chàng sai một người rao đi tìm huynh đệ mình khắp thành, và trong nhiều ngày cho loan báo ở các đường lớn cùng các phố chợ, nhưng không nghe được tin gì về As'ad cũng chẳng gặp được dấu vết nào của chàng. Đó là tình cảnh của chàng; còn về huynh đệ chàng, bọn Magi không ngừng tra tấn As'ad đêm ngày, chiều sáng suốt một năm tròn, cho đến khi lễ hội của chúng đến gần, bấy giờ lão nhân Bahram[FN#392] chuẩn bị cho chuyến hải hành và sắm sửa một con tàu cho mình.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm ba mươi bốn,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Bahram, người Magian, sau khi sắm sửa một con tàu cho chuyến đi, bắt As'ad và đặt chàng vào một chiếc rương rồi khóa lại, cho người chuyển nó lên tàu. Nay tình cờ, đúng vào lúc nó được đưa lên tàu, Amjad đang đứng để khuây khỏa bằng cách nhìn biển; và khi chàng thấy người ta mang đồ đạc và chất lên tàu, tim chàng đập rộn, chàng gọi các tiểu đồng đem thú cưỡi đến cho mình. Rồi, cưỡi ngựa cùng một đoàn quan chức, chàng xuống bờ biển và dừng trước con tàu của người Magian, truyền thuộc hạ lên tàu và khám xét. Họ làm theo lệnh chàng, lên tàu và lục soát khắp mọi nơi, nhưng không thấy gì; vậy họ trở về và nói lại với Amjad, người lại lên ngựa và cưỡi về. Nhưng chàng thấy tâm trí bất an; và khi về đến nơi mình ở và vào cung điện, chàng liếc mắt lên tường và thấy viết trên đó hai dòng, là những câu thơ đôi này,

“Hỡi bạn ta! nếu các người bị đày khỏi mắt ta, *
Từ tim và trí ta, các người chẳng bao giờ lang thang đi mất:
Nhưng các người đã bỏ ta trong nỗi khổ của ta, và cướp *
Yên nghỉ khỏi mi mắt ta, trong khi các người đang ngủ.”

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#45

Và khi thấy những dòng ấy, Amjad nghĩ đến huynh đệ mình và khóc. Đó là tình cảnh của chàng; còn về Bahram, người Magian, hắn xuống tàu và hò hét, quát tháo thủy thủ đoàn mau mau giương buồm. Vậy họ xổ buồm ra và khởi hành, không ngừng đi suốt nhiều ngày đêm; và cứ cách một ngày, Bahram lại đưa As'ad ra, cho chàng một mẩu bánh và bắt chàng uống một ngụm nước, cho đến khi họ đến gần Núi Lửa. Rồi một cơn gió bão nổi lên trên họ và biển dâng chống họ, đến nỗi con tàu bị đẩy khỏi đường đi, cho đến khi nó đi sai hướng và lọt vào vùng nước lạ; cuối cùng họ trông thấy một thành phố xây trên bờ, với một lâu đài có cửa sổ nhìn ra biển lớn. Nay người cai trị thành này là một Nữ vương tên Marjánah, và thuyền trưởng nói với Bahram: “Ôi chúa công của tôi, chúng ta đã lạc khỏi đường đi và đến đảo của Nữ vương Marjanah, người là một tín đồ Hồi giáo sùng đạo; nếu bà biết chúng ta là người Magian, bà sẽ lấy tàu của chúng ta và giết chúng ta đến người cuối cùng. Tuy vậy, chúng ta nhất định phải ghé vào đây để nghỉ và sửa soạn lại.” Bahram nói: “Sự xét liệu của ngươi là đúng, và điều gì ngươi thấy hợp, ta sẽ làm điều đó!” Chủ tàu nói: “Nếu Nữ vương triệu chúng ta và hỏi chúng ta, ta sẽ đáp bà ra sao?”; Bahram đáp: “Hãy mặc cho người Hồi giáo đang ở cùng chúng ta y phục Mameluke và đưa hắn lên bờ cùng chúng ta, để khi Nữ vương thấy hắn, bà sẽ tưởng và nói: ‘Đây là một nô lệ.’ Còn ta sẽ nói với bà rằng ta là người buôn nô lệ[FN#393], mua bán nô lệ da trắng, và rằng trước đây ta có nhiều người cùng đi nhưng đã bán hết, chỉ giữ lại người này để ghi sổ sách cho ta, vì hắn biết đọc và viết.” Và thuyền trưởng nói: “Mưu này hẳn dùng được.” Lát sau họ tới thành, hạ buồm và thả neo; con tàu nằm yên, thì kìa, Nữ vương Marjanah đi xuống chỗ họ, có thị vệ hầu theo, và, dừng trước con tàu, gọi lớn thuyền trưởng, hắn lên bờ và hôn đất trước mặt bà. Bà hỏi: “Hàng chở trên tàu này của ngươi là gì và ngươi có ai cùng đi?” Hắn đáp: “Ôi Nữ vương của Thời Đại, tôi có cùng đi một thương nhân buôn nô lệ.” Bà nói: “Đưa hắn đến đây với ta”; bấy giờ Bahram lên bờ đến chỗ bà, As'ad mặc y phục nô lệ đi sau hắn, và hôn đất trước mặt bà. Bà hỏi: “Tình trạng của ngươi là gì?”; hắn đáp: “Tôi là người buôn hàng người.” Rồi bà nhìn As'ad và, tưởng chàng là một Mameluke, hỏi chàng: “Tên ngươi là gì, ôi thiếu niên?” Chàng đáp: “Bà hỏi tên hiện nay hay tên trước kia của tôi?” “Vậy ngươi có hai tên sao?” bà hỏi, và chàng đáp (quả thật giọng chàng nghẹn vì lệ): “Vâng; tên tôi trước kia là Al-As'ad, kẻ hạnh phúc nhất, nhưng nay là Al-Mu'tarr—Kẻ Khốn Khổ Nhất.” Tim bà nghiêng về chàng và bà nói: “Ngươi có biết viết chăng?” Chàng đáp: “Có,” và bà đưa cho chàng hộp mực, bút sậy cùng giấy, nói với chàng: “Hãy viết chút gì để ta xem.” Vậy chàng viết hai câu thơ đôi này,

“Kẻ nô lệ có thể làm gì khi bị Số Mệnh truy đuổi, *
Ôi Đấng Phán Xét công minh nhất! dẫu hắn ở tình trạng nào?[FN#394]
Kẻ mà Allah ném xuống vực sâu, tay bị trói, rồi phán: *
Hãy coi chừng kẻo nước làm ướt thân ngươi?”[FN#395]

Nay khi bà đọc những dòng này, bà động lòng thương chàng và nói với Bahram: “Hãy bán nô lệ này cho ta.” Hắn đáp: “Ôi phu nhân của tôi, tôi không thể bán hắn, vì tôi đã rời bỏ hết những người còn lại và chẳng còn ai với tôi ngoài hắn.” Nữ vương nói: “Ta nhất định phải có hắn từ ngươi, hoặc bằng mua bán hoặc bằng đường tặng cho.” Nhưng Bahram nói: “Tôi sẽ không bán hắn cũng không tặng hắn.” Nghe vậy bà nổi giận và, nắm tay As'ad, đưa chàng lên lâu đài rồi sai nhắn đến Bahram rằng: “Nếu ngươi không giương buồm rời khỏi thành của ta ngay đêm nay, ta sẽ tịch thu toàn bộ hàng hóa của ngươi và phá tan tàu của ngươi.” Nay khi thông điệp đến với người Magian, hắn đau buồn dữ dội và kêu: “Quả thật chuyến đi này chẳng có cách nào đáng khen cả.” Rồi hắn đứng dậy, chuẩn bị, lấy mọi thứ mình cần và chờ đêm đến để tiếp tục chuyến đi, nói với các thủy thủ: “Hãy chuẩn bị đồ đạc của các ngươi và đổ đầy túi nước, để chúng ta dong buồm vào cuối đêm.” Vậy thủy thủ lo việc của họ và chờ bóng tối đến. Đó là tình cảnh của họ; còn về Nữ vương Marjanah, khi bà đã đưa As'ad vào lâu đài, bà mở các cửa sổ nhìn ra biển và truyền các tỳ nữ mang thức ăn đến. Họ đặt thức ăn trước mặt As'ad và bà, cả hai cùng ăn, sau đó Nữ vương gọi rượu.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm ba mươi lăm,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi Nữ vương Marjanah truyền các tỳ nữ mang rượu đến và họ đặt nó trước mặt bà, bà bắt đầu uống cùng As'ad. Nay Allah (cầu Ngài được tôn cao và siêu thăng!) đổ đầy tim bà bằng tình yêu dành cho vị Hoàng tử, và bà cứ rót đầy chén của chàng rồi trao cho chàng, cho đến khi lý trí chàng bay mất; lát sau chàng đứng dậy và rời đại sảnh để đáp lời gọi của thân thể. Khi đi khỏi sảnh, chàng thấy một cánh cửa mở, bèn đi qua đó và bước tiếp cho đến khi bước chân đưa chàng tới một khu vườn rộng đầy đủ loại trái cây và hoa; rồi, ngồi xuống dưới một cây, chàng làm việc cần thiết. Sau đó chàng đứng dậy, đi đến một vòi phun nước trong vườn, làm lễ tẩy rửa nhỏ và rửa tay cùng mặt; xong xuôi chàng định đứng lên đi khỏi, nhưng không khí đánh vào chàng và chàng ngã ngửa lại, áo quần xổ mở, rồi ngủ, và đêm phủ lên chàng như vậy. Đến đây là chuyện về chàng; còn về Bahram, khi đêm đã đến, hắn kêu lớn với thủy thủ đoàn: “Giương buồm và để chúng ta đi!”; họ đáp: “Chúng tôi nghe và tuân lệnh, nhưng hãy đợi chúng tôi đổ đầy túi nước, rồi chúng tôi sẽ giương buồm.” Vậy họ lên bờ với túi nước của mình và đi quanh lâu đài, nhưng chẳng thấy gì ngoài tường vườn: bấy giờ họ trèo qua vào khu vườn và theo dấu chân, dấu ấy dẫn họ đến vòi phun nước; và tại đó họ thấy As'ad đang nằm ngửa. Họ nhận ra chàng và vui mừng khi tìm thấy chàng; rồi, sau khi đổ đầy túi nước, họ mang chàng đi, lại trèo tường cùng chàng và vội vã đưa chàng về cho Bahram, nói với hắn: “Hãy nghe tin mừng rằng ngươi đã đạt điều ngươi muốn; hãy làm tim ngươi vui, đánh trống và thổi sáo; vì tù nhân của ngươi, người mà Nữ vương Marjanah đã cưỡng lấy khỏi ngươi, chúng tôi đã tìm thấy và mang về cho ngươi”; rồi họ ném As'ad xuống trước mặt hắn. Khi Bahram thấy chàng, tim hắn nhảy lên vì vui và ngực hắn nở phồng vì hân hoan. Rồi hắn ban thưởng rộng cho các thủy thủ và truyền họ giương buồm gấp. Vậy họ lập tức dong buồm, định đến Núi Lửa, và không dừng đường đi cho đến sáng. Đó là việc xảy ra với họ; còn về Nữ vương Marjanah, bà ở lại một lúc sau khi As'ad đi xuống khỏi chỗ bà, chờ chàng trở lại nhưng uổng công, vì chàng không đến; bấy giờ bà đứng dậy tìm chàng, song chẳng thấy dấu vết nào của chàng. Rồi bà truyền các nữ nhân thắp đuốc và tìm chàng, trong khi chính bà đi ra và, thấy cửa vườn mở, biết rằng chàng đã đi vào đó. Vậy bà ra vườn và thấy giày sandal của chàng nằm bên vòi phun, liền lục soát mọi phần nơi ấy, nhưng không gặp dấu hiệu nào của chàng; và bà vẫn không thôi tìm kiếm cho đến sáng. Rồi bà hỏi về con tàu và người ta bảo bà: “Con tàu đã giương buồm vào canh đầu đêm”; vì vậy bà biết họ đã đem As'ad theo họ, và điều này làm bà đau buồn, bà giận dữ dữ dội. Bà truyền lập tức trang bị mười con tàu lớn và, chuẩn bị giao chiến, lên một trong mười tàu cùng các Mameluke, nữ nô và quân sĩ của mình, tất cả đều được trang bị và vũ trang lộng lẫy để ra trận. Họ căng buồm và bà nói với các thuyền trưởng: “Nếu các ngươi đuổi kịp tàu của người Magian, các ngươi sẽ được ta ban y phục danh dự và tiền thưởng rộng; nhưng nếu các ngươi không làm được, ta sẽ giết các ngươi đến người cuối cùng.” Nghe vậy nỗi sợ và niềm hy vọng lớn làm thủy thủ đoàn phấn chấn, và họ dong buồm suốt ngày ấy, đêm ấy, ngày thứ hai và ngày thứ ba, cho đến ngày thứ tư họ trông thấy con tàu của Bahram, người Magian, và trước khi chiều xuống, hạm đội của Nữ vương đã vây quanh nó từ mọi phía, đúng lúc Bahram vừa đưa As'ad ra khỏi rương và đang đánh đập, tra tấn chàng, trong khi vị Hoàng tử kêu cứu và cầu giải thoát, nhưng chẳng tìm thấy người giúp hay kẻ cứu; còn những trận đòn bastinado đau đớn hành hạ chàng dữ dội. Nay khi đang bận việc như vậy, Bahram tình cờ ngẩng lên và thấy mình bị các tàu của Nữ vương bao quanh, như lòng trắng mắt bao quanh lòng đen, hắn coi như mình đã mất mạng, rên lên và nói: “Khốn cho ngươi, ôi As'ad! Tất cả chuyện này đều do đầu ngươi.” Rồi nắm tay chàng, hắn bảo người của mình ném chàng xuống biển và kêu: “Thề bởi Allah, ta sẽ giết ngươi trước khi chính ta chết!” Vậy họ khiêng chàng bằng tay chân và ném chàng xuống biển, chàng chìm; nhưng Allah (cầu Ngài được tôn cao và siêu thăng!) muốn mạng chàng được cứu và số mệnh chàng được hoãn lại; vậy Ngài khiến chàng chìm rồi nổi lên, chàng quẫy bằng tay và chân, cho đến khi Đấng Toàn Năng ban cho chàng giải thoát và gửi đến cứu rỗi; sóng đưa chàng xa khỏi tàu của người Magian và ném chàng lên bờ. Chàng lên bờ, hầu như không tin mình thoát nạn, và khi đã ở trên đất liền lần nữa, chàng cởi áo quần, vắt chúng và trải ra cho khô; trong khi ấy chàng ngồi trần truồng và khóc cho tình cảnh mình, than vãn các tai họa, những hiểm nguy chết chóc, cảnh tù đày và lưu lạc. Và lát sau chàng lặp lại hai câu thơ đôi này,

“Allah ơi, nhẫn nại của con đã cạn: con không còn chỗ che; *
Ngực con chật hẹp và dây con đã đứt sạch;
Kẻ nô lệ khốn cùng trong cảnh này sẽ than với ai *
Ngoài Đức Chúa của mình? Ôi Ngài, Chúa của các chúa!”

Rồi, sau khi dứt lời thơ, chàng đứng dậy mặc áo quần, nhưng không biết đi về đâu hay đến từ đâu; vậy chàng ăn cỏ cây của đất và trái trên cây, uống nước suối, rồi đi đêm ngày cho đến khi trông thấy một thành phố; bấy giờ chàng vui mừng và bước nhanh hơn; nhưng khi chàng tới đó,—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm ba mươi sáu,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng khi chàng tới thành phố, bóng chiều khép lại quanh chàng và các cổng đã đóng. Nay bởi các sắc lệnh của Số Mệnh và phần số của người, đây chính là thành nơi chàng từng bị giam và là thành mà huynh đệ chàng Amjad làm Đại thần cho vua. Khi As'ad thấy cổng đã khóa, chàng quay lại, tìm đến nghĩa địa, nơi thấy một ngôi mộ không có cửa; chàng vào đó, nằm xuống và ngủ, mặt che bằng tay áo dài.[FN#396] Trong khi ấy, Nữ vương Marjanah, đuổi kịp tàu của Bahram, hỏi hắn về As'ad. Nay người Magian, khi Nữ vương Marjanah bắt kịp hắn bằng các con tàu của bà, đã dùng mưu mẹo và tà thuật lừa bà; thề với bà rằng chàng không ở với hắn và hắn không biết gì về chàng. Bà lục soát con tàu, nhưng không tìm thấy dấu vết nào của người bạn mình, vậy bà bắt Bahram và, đưa hắn trở lại lâu đài của mình, định xử tử hắn, nhưng hắn dùng tất cả hàng hóa và tàu của mình để chuộc mạng khỏi bà; và bà thả hắn cùng người của hắn. Họ rời khỏi bà, hầu như không tin mình đã được giải thoát, và đi mười ngày đường cho đến khi đến thành của chính mình, thấy cổng đã đóng vì đang là chiều tối. Vậy họ đi đến nghĩa địa, định nằm qua đêm ở đó, và, đi quanh các mộ, đúng như Số Mệnh và Vận Mệnh muốn, họ thấy công trình nơi As'ad đang nằm mở toang; vì vậy Bahram kinh ngạc và nói: “Ta phải nhìn vào ngôi mộ này.” Rồi hắn bước vào và thấy As'ad nằm trong một góc, ngủ say, đầu che bằng tay áo; vậy hắn nâng đầu chàng lên, nhìn vào mặt chàng, nhận ra chàng là người mà vì hắn, hắn đã mất hàng hóa và tàu, rồi kêu: “Sao! ngươi còn sống ư?” Rồi hắn trói chàng và bịt miệng chàng không nói thêm lời nào, mang chàng về nhà mình, nơi hắn đóng xiềng nặng vào chân chàng và hạ chàng xuống hầm ngục dưới đất đã nói trước, vốn chuẩn bị để tra tấn người Hồi giáo, rồi bảo con gái mình tên là Bostán,[FN#397] tra tấn chàng đêm ngày, cho đến năm sau, khi họ lại đến Núi Lửa và ở đó dâng chàng làm vật hiến tế. Rồi hắn đánh chàng dữ dội và khóa cửa hầm ngục trên chàng, trao chìa khóa cho con gái mình. Một lúc sau, Bostan mở cửa và đi xuống để đánh chàng, nhưng khi thấy chàng là một thiếu niên mỹ lệ và gương mặt ngọt ngào với đôi mày cong cùng đôi mắt đen bởi Kohl của tự nhiên,[FN#398] nàng rơi vào tình yêu với chàng và hỏi chàng: “Tên chàng là gì?” Chàng đáp: “Tên ta là As'ad,” nghe vậy nàng kêu: “Cầu chàng quả thật được hạnh phúc như tên của chàng,[FN#399] và cầu ngày tháng của chàng hạnh phúc! Chàng không đáng chịu tra tấn và đòn roi, và ta thấy chàng đã bị đối xử oan hại.” Rồi nàng an ủi chàng bằng những lời tử tế và cởi trói cho chàng. Sau đó nàng hỏi chàng về tôn giáo Al-Islam và chàng nói với nàng rằng đó là Đức Tin chân thật và chính đạo, rằng chúa chúng ta Mohammed đã chứng tỏ mình bằng những phép lạ vượt trội[FN#400] và các dấu hiệu hiển minh, còn thờ lửa thì có hại và chẳng lợi ích; và chàng tiếp tục giảng cho nàng giáo lý Al-Islam cho đến khi nàng được thuyết phục và tình yêu Đức Tin Chân Thật đi vào tim nàng. Rồi, vì Allah Toàn Năng đã hòa vào bản thể nàng một tình cảm trìu mến dành cho As'ad, nàng tuyên đọc Hai Lời Chứng[FN#401] của Đức Tin và trở thành người thuộc dân hạnh phúc. Sau đó, nàng mang thịt và thức uống đến cho chàng, trò chuyện với chàng và họ cầu nguyện cùng nhau: hơn nữa, nàng làm các món gà hầm cho chàng và cho chàng ăn bằng chúng, cho đến khi chàng lấy lại sức, bệnh rời khỏi chàng và chàng được phục hồi sức khỏe xưa. Những điều như vậy xảy đến với chàng cùng con gái của Bahram, người Magian; và chuyện xảy ra là một ngày nọ nàng rời chàng, đứng ở cửa nhà thì kìa, nàng nghe người rao kêu lớn rằng: “Ai có trong tay một chàng trai đẹp, dung mạo thế này thế nọ, và đưa chàng ra, sẽ được mọi thứ tiền bạc mình cầu; nhưng nếu ai có chàng mà chối, người ấy sẽ bị treo cổ trên chính cửa nhà mình, tài sản bị cướp sạch và máu hắn đổ vô ích.” Nay As'ad đã kể cho Bostan bint Bahram toàn bộ chuyện đời mình: vậy khi nàng nghe người rao, nàng biết chàng chính là người đang bị tìm và, đi xuống chỗ chàng, báo cho chàng tin ấy. Rồi chàng đi ra và tìm đến dinh thự của Wazir, người mà khi As'ad thấy thì kêu lên: “Thề bởi Allah, vị Đại thần này là huynh đệ Amjad của ta!” Rồi chàng đi lên (và thiếu nữ bước sau chàng) đến Cung điện, nơi chàng lại thấy huynh đệ mình, rồi gieo mình lên chàng; bấy giờ Amjad cũng nhận ra chàng và ngã vào cổ chàng, họ ôm nhau, trong khi các Mameluke của Wazir xuống ngựa và đứng quanh họ. Họ nằm một lúc bất tỉnh, và khi tỉnh lại, Amjad đưa huynh đệ mình đến Sultan, thuật lại cho ngài toàn bộ câu chuyện, và Sultan truyền chàng tịch thu nhà của Bahram.—Và Shahrazad nhận ra ánh bình minh, bèn ngừng lời kể được phép.

Khi đêm đã sang đêm thứ hai trăm ba mươi bảy,

Nàng nói: Tâu đức vua cát tường, chuyện đến tai thiếp rằng Sultan truyền Amjad tịch thu nhà của Bahram và treo cổ chủ nó. Vậy Amjad phái đến đó vì mục đích ấy một toán người, họ cướp sạch ngôi nhà, bắt Bahram và đưa con gái hắn đến với Wazir, người tiếp nhận nàng với mọi danh dự, vì As'ad đã kể cho huynh đệ mình những khổ hình chàng đã chịu và lòng tốt nàng đã làm cho chàng. Bấy giờ đến lượt Amjad kể cho As'ad tất cả những gì đã xảy ra giữa chàng và thiếu nữ kia; làm sao chàng thoát khỏi bị treo cổ và trở thành Wazir; và họ than với nhau về nỗi đau đớn đã chịu vì chia lìa. Rồi Sultan triệu Bahram và truyền chém đầu hắn; nhưng hắn nói: “Ôi đức vua hùng mạnh nhất, ngài quả thật đã quyết xử tử tôi sao?” Nhà vua đáp: “Đúng, trừ khi ngươi tự cứu mình bằng cách trở thành người Hồi giáo.” Bahram nói: “Ôi đức vua, xin nhẫn nại với tôi một lát!” Rồi hắn cúi đầu xuống đất và lát sau lại ngẩng lên, tuyên xưng Đức Tin và theo Al-Islam dưới tay Sultan. Tất cả đều vui mừng trước sự cải đạo của hắn, và Amjad cùng As'ad kể cho hắn mọi điều đã xảy đến với họ, khiến hắn kinh ngạc và nói: “Ôi các chúa công của tôi, hãy chuẩn bị cho chuyến đi, tôi sẽ lên đường cùng các ngài và đưa các ngài trở về triều đình của cha các ngài bằng một con tàu.” Nghe vậy họ vui mừng và khóc dữ dội, nhưng hắn nói: “Ôi các chúa công của tôi, đừng khóc vì cuộc ra đi của các ngài, vì nó sẽ tái hợp các ngài với những người các ngài yêu, đúng như Ni'amah và Naomi.” Họ hỏi: “Và điều gì đã xảy đến với Ni'amah và Naomi?” Bahram đáp: “Người ta kể,” (nhưng chỉ Allah là Đấng Toàn Tri) câu chuyện sau về

Hết Tập 3

Nghìn Lẻ Một Đêm, Tập 3
Chú thích

[FN#1] Hiện tượng “dựng lông” này, mà ta có thuật ngữ thi vị là “nổi da gà,” thường được nhắc đến trong văn học Ấn Độ cũng như Ả Rập.

[FN#2] Chúng ta đã nghe điều này ở Anh thường xuyên biết bao!

[FN#3] Như một chất cầm máu. Cảnh trong văn bản thường được diễn lại ở Ai Cập, nơi một lối sát hại nam giới được nữ giới ưa dùng là đánh và làm bầm dập tinh hoàn. Người Fellah hết sức khéo léo trong việc nghĩ ra các phương pháp giết người. Trong nhiều năm, người ta tìm thấy những thi thể không mang dấu vết bạo lực bên ngoài, và chỉ sự tò mò kiểu Frank mới phát hiện rằng nòng một khẩu súng lục đã được luồn lên hậu môn và vũ khí được bắn bên trong. Những vụ giết người thuộc loại này được biết đến trong lịch sử Anh; nhưng chưa bao giờ trở thành thực hành phổ biến.

[FN#4] Ả Rập. “Zakar,” cái biểu thị nam tính. Ở cuối truyện ta biết rằng nàng cũng thiến hắn; do đó hắn là một “Sandal,” một kẻ bị cạo sạch.

[FN#5] Xem tập i. tr. 104. {xem Tập 1, Chú thích 188}

[FN#6] Sự trong sạch và mãnh liệt của tình yêu nàng đã đạt tới một điều gì đó thuộc mạch tiên tri.

[FN#7] Lane làm hỏng tên Ba Tư này thành Sháh Zemán (i. 568).

[FN#8] tức là thế gian, bao gồm các ý niệm về Số Mệnh, Thời Gian,
Cơ Hội.

[FN#9] Ả Rập. “Bárid,” ngu xuẩn, phiền nhiễu, đáng khinh; như trong tục ngữ

Hai thứ còn lạnh hơn băng lạnh:—
Một lão già trẻ, một chàng trẻ già.

Một “mặt lạnh” = một kẻ ngu: “Cầu Allah làm mặt ngươi lạnh!” = cầu nó phô sự thiếu thốn và khốn khổ. “Thề bởi Allah, một lời lạnh!” = một bài công kích ngu xuẩn hoặc lăng mạ (Pilgrimage, ii. 22).

[FN#10] Dạng phổ biến là, “thường tai yêu trước mắt.”

[FN#11] Không phải lần đầu hoàng gia chơi trò tinh quái này, và có lẽ cũng không phải lần cuối.

[FN#12] tức là Phu nhân Dunya.

[FN#13] Những kho này là các phòng nhỏ xây rất chắc ở tầng trệt, nơi việc trộm cắp gần như không thể.

[FN#14] Nghĩa đen “sự tán thành,” “phúc lành”; cũng là Thiên thần giữ Cổng Thiên Đường và đã cho phép một trong các Ghilmán (hay Wuldán), những thiếu niên có vẻ đẹp siêu nhiên hầu hạ người có Đức Tin, lang thang ra ngoài vào thế gian độc ác này.

[FN#15] Ở châu Âu đây sẽ là số nhiều uy nghi, chỉ Vương quyền mới dùng. Trong tiếng Ả Rập, nó không có ý nghĩa như thế, và ngay cả các tầng lớp thấp cũng dùng cho chính mình; tuy nó thường có một chút ý “ta và ngươi.”

[FN#16] Con người là “chiết xuất từ thứ nước đáng khinh” (Koran xxxii. 7) ex spermate genital), điều ông Rodwell dịch là “từ mầm sự sống,” “từ thứ nước tồi.”

[FN#17] tức là được sinh bởi tinh dịch nam giới trong ánh sáng cứu rỗi
(Núr al-hudá).

[FN#18] Những cuộn da vảy trắng (như long não) và cáu bẩn bong ra dưới găng của người tắm, nhờ phép màu của Sắc Đẹp, trở thành xạ hương nâu. Người kỳ cọ hay người xoa bóp ở Ai Cập gọi là “Mukayyis” (thông tục “Mukayyisáti”) hay “người bao,” từ “Kís” của hắn, một găng tay dạng túi bằng vải len thô. Với “Johnny Raws” hắn không bao giờ quên cho xem những cuộn nhỏ bong khỏi thân thể để chứng minh với họ họ bẩn đến thế nào, nhưng chất liệu phần lớn là da chết bên ngoài

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#46

[FN#19] Câu thường dùng trong những dịp như vậy (bao giờ cũng có một “mộng cá” bắt buộc cho khít) là: “Cầu Allah ban lợi cho ngươi!”

[FN#20] tức là chúng ta bị buộc phải yêu riêng chàng mà thôi, và không màng đến việc đặt cho chàng một đối thủ (ám chỉ những lời kinh Koran lên án “Shirk,” hay việc gán cho Allah một bạn đồng đẳng, tôn giáo của đa thể, chủ nghĩa tổng thần chứ không phải đa thần): hãy xem, chàng bước đi lảo đảo dưới sức nặng của phần sau, uốn éo chúng trong khi chúng tròn như các tầng trời xoay chuyển.

[FN#21] Jannat al-Na'ím (Vườn Hoan Lạc); tầng thứ năm trong bảy Thiên Đường làm bằng kim cương trắng; các khu vườn và tính số nhiều được mượn từ Talmud. Nhân tiện, Thiên Đường của Mohammed không phải là một thất bại lớn hơn của Dante. Chỉ sự ngu dốt hay trò gian đạo đức mới khẳng định nó hoàn toàn nhục dục; và một câu kinh thôi cũng đủ bác bỏ: “Lời cầu của họ trong đó sẽ là ‘Ngợi ca Ngài, ôi Allah!’ và lời chào của họ trong đó sẽ là ‘Bình an!’ và cuối lời cầu của họ sẽ là, ‘Ngợi ca Thượng Đế, Chúa của mọi loài thọ tạo’” (Koran x. 10-11). Xem thêm lvi. 24-26. Nó cũng sẽ là một tình trạng trí tuệ, trong đó tri thức sẽ được tăng thêm rất nhiều (lxxxviii viii. 17-20). Hơn nữa, người Hồi giáo, hợp logic hơn nhiều so với tín đồ Ki-tô, nhận vào Thiên Đường cả những loài gọi là “động vật thấp.”

[FN#22] Sed vitam faciunt balnea, vine, Venus! Hammam đối với người phương Đông vừa là xa xỉ vừa là nhu yếu; đàn ông ngồi ở đó hàng giờ, nói chuyện chủ yếu về tiền bạc và bản lĩnh của họ với phái đẹp; còn đàn bà thì qua nửa ngày trong đó, than phiền về sự quá ham tình của chồng họ và đối chiếu với sự ác cảm trinh khiết, khiêm nhường của chính họ đối với cuộc giao hợp lạc đà.

[FN#23] Frigidarium hay phòng lạnh, vì sự mát mẻ làm người Ả Rập thích thú.

[FN#24] Calidarium hay phòng nóng của nhà tắm.

[FN#25] Thiên thần làm kẻ giữ cửa Địa Ngục; người khác nói vị này đặc biệt chủ trì những khổ hình của kẻ bị nguyền rủa (Koran xliii. 78).

[FN#26] Kẻ giữ cửa Thiên Đường đã nhắc ở trên, người, như Guebre Zamiyád, trông nom các trai gái trên trời, và thường bị các thi nhân buộc tội là để họ sổng ra.

[FN#27] Lane (i. 616), nói “của rượu, sữa, sherbet, hay bất cứ đồ uống nào khác.” Ở đây là rượu, một thói quen nổi tiếng trong thơ Ba Tư, đặc biệt bởi Hafiz, nhưng rất trái khẩu vị dạ dày châu Âu. Ta thấy Mu allakah của Imr al-Keys nhắc đến “ngụm sáng của chúng ta.” Nott (Hafiz) nói một “chén rượu vui vẻ vào buổi sáng là một thú hưởng được những người Ba Tư xa hoa hơn ưa chuộng. Và không hiếm giữa người phương Đông, khi chào bạn bè, họ nói: ‘Cầu ngụm uống buổi sáng của ngài được vừa ý!’” Ngày nay thói quen này chỉ còn giới hạn nơi những kẻ trác táng thường trực.

[FN#28] Koran xii. 31. Những lời do các bạn nữ và kẻ gièm pha của Zulaykhá nói, khi nàng mời họ đến xem Sắc Đẹp Joseph.

[FN#29] Một công thức để xua sự mê hoặc. Koran, chương cxiii. 1. “Falak” nghĩa là “xẻ ra,” do đó là sự bừng phá của ánh sáng khỏi bóng tối, một “trường hợp kỳ diệu của quyền năng Thần Linh.”

[FN#30] Lối chọc ghẹo tế nhị thường thấy.

[FN#31] Những lá thư như vậy thường được viết trên một tờ giấy đủ khổ (“mẩu ghi chú” bị xem nhẹ ở phương Đông) và gấp lại cho đến khi bề rộng còn khoảng một inch. Các mép được dán keo; mực, rất giống mực Tàu của chúng ta, được bôi bằng ngón tay lên nhẫn ấn; chỗ cần đóng ấn được làm hơi ướt bằng lưỡi và ấn được đóng ngang đường nối để giữ kín. Tôi đã đưa một mẫu thư tình nguyên bản thuộc loại này trong “Scinde, or the Unhappy Valley,” chương iv.

[FN#32] Ả Rập. “Salb” cũng có thể nghĩa là treo cổ, nhưng từ thường dùng cho việc sau trong The Nights là “shanak.” Đóng đinh, bị Constantine mê tín bãi bỏ, được thi hành như một hình phạt dành cho nô lệ cho đến tận thời Mohammed Ali Pasha Đại đế; tội nhân bị đóng đinh và trói vào patibulum hay thanh ngang, không có suppedaneum hay chỗ kê chân nào, rồi để chịu những khổ hình từ ruồi và nắng, khát và đói. Họ thường sống ba ngày rồi chết vì vết thương hoại tử và sự kiệt quệ thần kinh do chuột rút và co giật gây ra. Trong nhiều trường hợp xác chết bị bỏ lại cho diều và quạ ăn; điều này thêm nỗi kinh hoàng vào cái chết. Người Hồi giáo ít bận tâm đến việc treo cổ đơn thuần. Bất cứ khi nào một hành vi tàn bạo cuồng tín cần bị trừng phạt, tội nhân nên bị treo trong da heo, thân xác bị đốt và tro công khai ném vào một hố phân chung.

[FN#33] Ả Rập “Shaytán,” kẻ xấc xược hay phản nghịch, là một từ chửi rủa thông
thường. Từ này thuộc Koran, và như thường lệ được mượn từ
người Do Thái. “Satan” xuất hiện bốn lần trong Cựu Ước, trong đó hai lần ở
Job, nơi, tuy vậy, hắn là một thiên thần cấp dưới.

[FN#34] Ả Rập. “Alak” từ Koran xxii. 5. “Hỡi loài người… hãy xét rằng trước hết Ta tạo các ngươi từ bụi (Adam); sau đó từ hạt giống (Rodwell dịch là ‘những mầm ẩm của sự sống’); sau đó từ một chút máu đông lại (hay những cục máu).” Nó chỉ toàn thể loài người ngoại trừ Adam, Eve và Isa. Cũng chương xcvi. 2, như đã nói, có lẽ là câu được sáng tác đầu tiên ở Meccah. Ông Rodwell (v. 10) dịch “Servant of God” điều lẽ ra phải là “Slave of Allah,” ám chỉ tên nguyên thủy của Mohammed là Abdullah. Xem bạn uyên bác của tôi Aloys Sprenger, Leben, v.v., i.155.

[FN#35] Người Hindu cũng phóng đại tương tự: “Chàng sẵn sàng nhảy ra khỏi da mình vì sung sướng” (Katha, v.v., tr. 443).

[FN#36] Một ngôi sao ở đuôi Đại Hùng, một trong “Banát al-Na'ash,” hay một ngôi sao gần ngôi thứ hai. Công dụng chính của nó là làm nền đối lập cho Sohayl (Canopus) sáng rực, như trong đoạn mở đầu Layla-Majnún của Jámí:—

Với ai Ngài ẩn, ngày là đêm tối tăm:
Với ai Ngài hiện, Sohá sáng như Sohayl.

Xem thêm al-Hariri (xxxii. và xxxvi.). Câu nói “Ta chỉ cho nàng Soha và nàng chỉ cho ta mặt trăng” (A. P. i. 547) phát sinh như sau. Trong Thời Vô Minh, một nữ chiến binh đẹp đã thách bất cứ nam nhân nào lấy được trinh tiết của nàng; và một Ibn al-Ghazz nọ thắng cuộc bằng cách vật lộn với nàng cho đến khi nàng gần như vô tri. Rồi hắn hỏi nàng: “Thị lực của nàng ra sao: nàng có thấy Soha không?” và nàng, trong bối rối, chỉ mặt trăng và nói: “Nó đó!”

[FN#37] Mặt trăng là giống đực (lupus) và mặt trời là giống cái.

[FN#38] “Năm Shaykh” hẳn ám chỉ số Thánh nhân ấy, tên của họ còn đáng ngờ; thật vô ích khi đưa ra phỏng đoán. Lane và “Sheykh” của ông (i. 617) đã thử và thất bại.

[FN#39] Vẻ đẹp của thiên nhiên dường như luôn kích thích cơn đói ở
người phương Đông, đặc biệt người Thổ, như tin tốt ở người Anh.

[FN#40] Ba Tư. “Lájuward”: Ả Rập. “Lázuward”; có lẽ là nguồn gốc từ “azure” của chúng ta, qua tiếng Romaic và tiếng Ý azzurro; và, rõ hơn nữa, của lapis lazuli, điều ấy thì đừng tìm trong các Từ điển.

[FN#41] Ả Rập. “Maurid.” các giếng sa mạc nơi đoàn lữ hành uống nước: cũng là đường đến các giếng nước.

[FN#42] Avicenna lừng danh, người Do Thái gọi là Aben Sina. Các nhà Ả Rập học châu Âu thời đầu, dường như đã học tiếng Ả Rập qua tiếng Hebrew, mượn sự làm hỏng của họ, và nó giữ vị trí lâu dài ở Nam Âu.

[FN#43] Theo người Hindu có mười giai đoạn của bệnh tình yêu: (1) Tình yêu của mắt; (2) Sự hút của Manas hay tâm trí; (3) Sự sinh ra ham muốn; (4) Mất ngủ; (5) Mất thịt; (6) Dửng dưng với các đối tượng giác quan; (7) Mất hổ thẹn, (8) Rối loạn ý nghĩ, (9) Mất ý thức; và (10) Chết.

[FN#44] Trong thành ngữ của chúng ta, dáng đi này của “quý bà Ả Rập” sẽ gọi là lạch bạch: tôi chưa từng thấy nó ở châu Âu ngoại trừ giữa các tầng lớp buôn bán ở Trieste, nơi họ có kiểu “lắc lư” riêng.

[FN#45] Theo lối nói của chúng ta là sáu cửa.

[FN#46] Họ kiêng khoái lạc cao nhất, vì định kết hôn.

[FN#47] Ả Rập. “Jihád,” nghĩa đen là chiến đấu chống lại một điều gì; theo Koran, chiến đấu chống kẻ vô đạo, những kẻ không tin Al-Islam (chương Ix. 1). Nhưng các “Mujáhidún” tiến hành cuộc chiến như vậy bị cấm hành xử xâm lược (ii. 186). Ở đây là một cuộc chiến để cứu con trai.

[FN#48] Quý bà đề nghị các biện pháp cực đoan là nét đặc trưng: người Ai Cập cho rằng, và cũng khá có lý, phụ nữ của họ đa tình hơn nam giới.

[FN#49] “Ôi Camphor,” một lối nói ngược đã được lưu ý trước đây. Dân thường cũng nói “Yá Taljí” = Ôi kẻ tuyết trắng (quả cầu tuyết của chúng ta), còn lịch sự hơn là “Ya Abú Sumrah!” = Ôi cha của màu nâu.

[FN#50] tức là những thứ khớp vào lỗ ở ngưỡng và lanh-tô, rồi làm bản lề. Các bản lề này đã gây ra nhiều tranh luận về cách chúng được lắp, chẳng hạn trong hang động không có lanh-tô hay ngưỡng có thể chuyển động. Nhưng người ta có thể quan sát rằng các mấu trên dài hơn mấu dưới và cánh cửa không bao giờ khít sát ở trên, vì vậy bằng cách nhấc nó lên, các chốt dưới được rút khỏi lỗ. Đây là dạng cổ nhất và là dạng duy nhất người Cổ đại biết. Trong tiếng Ai Cập, bản lề gọi là Akab = gót chân, do đó có tục ngữ Wakaf' al-báb alá 'akabin; cửa đứng trên gót của nó; tức là mọi thứ ở đúng chỗ.

[FN#51] Do đó có những lời xưng hô với Thần Linh: Yá Sátir và Yá Sattár—Ngài che phủ tội lỗi của các Tôi tớ Ngài! nói chẳng hạn khi một phụ nữ ngã khỏi lưng lừa, v.v.

[FN#52] Một sự đề phòng cần thiết, vì tên đao phủ chắc chắn sẽ mất chính đầu mình nếu quá vội.

[FN#53] Đoạn này cũng đã được dịch là “và làm chàng vui bằng điều hắn nói” (Lane i, 600).

[FN#54] Ả Rập. “Hurr” = cao quý, độc lập (đối lập với 'Abd = nô dịch) thường được dùng để diễn tả animć nobilitas như trong Acts xvii. 11; nơi người Beran “cao quý hơn” người Thessalonica. Công chúa muốn nói rằng Hoàng tử sẽ không nằm với nàng trước hôn nhân.

[FN#55] Từ Ba Tư nay đã được tự nhiên hóa thành Anglo-Egypeian.

[FN#56] Ả Rập. “khassat hu” = loại bỏ tinh hoàn của hắn, thiến hắn.

[FN#57] Ở đây kết thúc truyện ghép Taj al-Muluk cùng Aziz cộng
Azizah, và chúng ta trở lại với lịch sử các con trai vua Omar.

[FN#58] “Zibl,” dân gian phát âm Zabal, nghĩa là “phân.” Khan là “Thủ lĩnh,” như đã lưu ý; “Zabbál,” mà Torrens dịch sát là “kẻ kéo phân,” là người cho Hammam ăn bois-de-vache, v.v.

[FN#59] tức là người chiến đấu trong Jihád hay “Thánh chiến”: nó tương đương với “hiệp sĩ tốt” của chúng ta.

[FN#60] Ả Rập. “Malik.” Azud al Daulah, một Sultan hay nhiếp chính dưới Caliph Abbaside Al-Tá'i li 'llah (trị vì A.H. 363-381), là người đầu tiên lấy danh hiệu “Malik.” Trong thơ, từ sau vẫn được viết Malík.

[FN#61] Một thị trấn nhỏ trên sông Euphrates, trong “awwal Shám,” hay biên giới Syria.

[FN#62] tức là người con sẽ lo việc ấy.

[FN#63] Một nét thương cảm Ả Rập đặc trưng, dịu dàng và chân thật.

[FN#64] Ả Rập. “Mawarid” từ “ward” = tìm đến ao hay hố nước (như những hố của “Gakdúl”) để uống, đối lập với “Sadr” = trở về sau khi đã uống ở đó. Do đó “Sádir” (phân từ chủ động) được ưu tiên hơn “Wárid” trong Al-Hariri (Ass. of the Badawi).

[FN#65] Một trong các suối của Thiên Đường (Koran, chương Ixxvi.): từ này nghĩa đen là “nước chảy xuống cổ họng một cách dễ chịu.” Cùng chương ấy nhắc đến “Zanjabíl,” hay suối Gừng, điều đối với tâm trí Kẻ Vô đạo gợi ra một cách khó chịu “ginger pop.”

[FN#66] Ả Rập. “Takhíl” = trang điểm bằng Kohl.

[FN#67] Các ám chỉ xa xôi và mờ tối như trong thơ Scandinavia. Ông Payne (ii. 314) dịch “Naml” là “lưới.” Tôi hiểu con kiến (đàn kiến) bò lên má, một lối ví von thường gặp cho râu non. Những người yêu ở trong Lazá (địa ngục) của ghen tuông v.v., song lại cảm thấy ở trong Na'ím (thiên đường) của tình yêu và mặc áo xanh, sắc của hy vọng, mỗi người mong mình là kẻ được ưu ái.

[FN#68] Ả Rập. “Ukhuwán,” thuật ngữ cổ điển. Có hai loại cúc camomille, trắng (Bábúnaj) và vàng (Kaysún), tuy vậy đây là tên Syria và thực vật được gọi khác nhau ở gần như mỗi Tỉnh của Ả Rập.

[FN#69] Trong đời du mục, việc chia tay của người yêu xảy ra thường xuyên đến nỗi nó trở thành đề tài cố định trong thơ, và thường, như ở đây, người yêu than thở về chia lìa khi hắn chưa bị chia lìa. Nhưng điểm nặng nằm ở từ “Wasl,” có thể nghĩa là đoàn tụ, gặp gỡ, tái hợp hay giao hợp. Vì Ka'ab ibn Zuhayr mở đầu bài thơ nổi tiếng của mình bằng “Su'ád đã ra đi,” 900 kẻ bắt chước (theo Al-Siyuti) đã nhận Násib hay lời xưng với người yêu, và Su'ad trở thành biểu thị cho một tình nương tàn nhẫn, thất thường.

[FN#70] Như có thể trông đợi từ một dân tộc nuôi lạc đà, thuật đốt trực tiếp, vốn chỉ có thể gây phản kích thích, là một phương thuốc dân gian được ưa chuộng; và Hadis hay lời tiên tri nói là “Akhir al-dawá (hay al-tibb) al-Kayy” = đốt là tận cùng của y thuật-chữa bệnh; và “Lửa và bệnh không thể cùng ở.” Phần lớn Badawi mang trên thân những dấu vết ghê rợn của cách trị liệu anh hùng này, mà sự lạm dụng không hiếm khi gây hoại thư. Hadis (Burckhardt, Proverbs, No. 30) cũng có nghĩa “nếu không gì khác hiệu quả, hãy dùng biện pháp dữ dội.”

[FN#71] Người Tây Ban Nha có cùng thành ngữ: “Đàn ông là lửa và đàn bà là bùi nhùi.”

[FN#72] Ả Rập. “Báshik” từ Ba Tư “Báshah” (accipiter Nisus), một loài chim ưng nhỏ hung dữ mà tôi đã mô tả trong “Falconry in the Valley of the Indus” (tr. 14, v.v.).

[FN#73] Nghĩa đen “Than (hợp) cho chảo rán.”

[FN#74] Ả Rập. “Libdah,” dấu hiệu của người nghèo hay kẻ hành khất tôn giáo. Hắn được gọi là “Yá Abu libdah!” (Ôi cha của mũ nỉ!)

[FN#75] Trong thời tang, phụ nữ Hồi giáo không dùng nước hoa hay thuốc nhuộm, như Henna được ám chỉ ở đây trong đôi chân và bàn chân hồng của chim bồ câu.

[FN#76] Koran, chương ii. 23. Ý tưởng này được lặp lại trong khoảng bốn mươi
đoạn Koran.

[FN#77] Một tên phụ nữ, thường xuất hiện. “Các con gái của Sa'ada” là ngựa vằn, được gọi như vậy vì “chúng giống phụ nữ về vẻ đẹp và sự nhanh nhẹn duyên dáng.”

[FN#78] Ả Rập. “Tiryák” từ Gr. một thuốc chống vết cắn độc. Nó được phối chế chủ yếu từ mật đường, và thứ của Baghdad cùng Irák từ lâu được xem là tối thượng. Tương đương châu Âu, “Venice treacle,” (Theriaca Andromachi) là một thuốc liếm chứa nhiều thành phần. Badawin ăn để chống độc ba củ tỏi trong bơ đã lọc suốt bốn mươi ngày. (Pilgrimage iii 77 )

[FN#79] Cervantes có thể đã đọc chuyện này chăng? Ở Algiers ông rất dễ đã nghe nó được những người kể chuyện ngâm lại. Kanmakan là Hiệp sĩ Ả Rập điển hình, dịu dàng và dũng cảm như Don Quixote; Sabbáh là Grazioso, một “Beduin” Sancho Panza. Trong “Romance of Antar” ta có một tương phản tương tự với Ocab, người nói: “Quả thật ta không phải chiến binh: thanh gươm trong lòng bàn tay ta chỉ đuổi bồ nông;” và, “bất cứ khi nào ngài giết một satrap, tôi sẽ cướp hắn.”

[FN#80] tức là Người Đẹp, con trai của Người Cầm Thương, con trai của Sư Tử,
hay Anh Hùng.

[FN#81] Ả Rập. “Ushári.” Purchas xưa (vi., i. 9) nói có ba loại lạc đà (1) Huguin (=Hejin) vóc cao và có thể chở 1.000 lbs. (2) Bechete (=Bukhti), loài Bactria hai bướu đã nhắc trước, và (3) Raguahill (Rahíl), những con lạc đà chạy nhỏ không thích hợp chở nặng nhưng có thể vượt một trăm dặm trong một ngày. “Vua Timbukhtu” (không phải “giếng của Bukhtu,” dân gian là Timbuctoo) có lạc đà đến được Segelmesse (Sijalmas) hay Darha, chín trăm dặm trong tối đa tám ngày. Lyon cho Maherry (cũng gọi El-Heirie = Mahri) chạy nước kiệu chín dặm một giờ trong thời gian dài. Các du khách khác ở Bắc Phi ghi nhận Sabayee (Saba'i = kẻ đi cỏ bảy ngày) là có thể vượt sáu trăm ba mươi dặm (hay ba mươi lăm trạm đoàn lữ hành = mỗi trạm mười tám dặm) trong năm đến bảy ngày. Một trong những con lạc đà chạy trong “hamlah” hay đoàn lữ hành của ông Ensor (Journey through Nubia and Darfoor—một cuốn sách duyên dáng) đi một nghìn một trăm mười dặm trong hai mươi bảy ngày. Ông ghi rằng thú của ông khỏe hơn khi có nước mỗi năm đến bảy ngày, nhưng vào mùa lạnh có thể không uống trong mười sáu ngày. Tôi thấy ở Al-Hijaz vào cuối tháng Tám rằng lạc đà khổ sở nhiều sau chín mươi giờ không uống (Pilgrimage iii. 14). Nhưng đây là loại “Júdi,” thú lông mịn, đối lập với “Khawár” (Khowás của Chesney, tr. 333), loại lông thô, nặng nề, chậm chạp, không chịu được nóng lớn.

[FN#82] tức là Vận Mệnh đã muốn như vậy (nói giảm).

[FN#83] “Minaret” là giống cái nên thường được so sánh với một thiếu nữ đẹp. Tháp minaret thật sự cổ nhất được cho là xây ở Damascus bởi Caliph Ommiade (số X) Al-Walid A.H. 86-96 (=705-715). Theo Ainsworth (ii. 113), cái thứ hai ở Kuch Hisar thuộc Chaldea.

[FN#84] Không ai trong người Badawi thuần túy biết bơi, vì lý do tốt nhất: thiếu nước.

[FN#85] Loại Badawi thấp hèn hơn không bao giờ đáng tin: hắn là kẻ phản bội bẩm sinh, và xem chơi đẹp là ngu dại hay hèn nhát. Chẳng lời thề hay lòng tốt nào ràng buộc được hắn: hắn kết hợp sự tàn độc của mèo với tính hoang dã của sói. Bao nhiêu người Anh đã mất mạng vì không biết những chân lý sơ đẳng này! Giống ấy không thay đổi từ thời Mandeville (A.D. 1322), người viết rằng “người Ả Rập, gọi là Bedouin và Ascopards (?), hết sức gian ác và dơ bẩn, có bản tính đáng nguyền rủa.” Thời ông, họ “chỉ mang một khiên và một thương, không có vũ khí khác:” nay, bất hạnh cho du khách, họ có súng hỏa mai và phần lớn bộ tộc có thể chế tạo một thứ vì lịch sự mà gọi là thuốc súng.

[FN#86] Như vậy theo tập tục Ả Rập họ trở thành bạn bè.

[FN#87] Thuật ngữ cổ điển của chúng ta cho một con ngựa Ả Rập quý phái.

[FN#88] Trong tiếng Ả Rập. “Khayl” là = ngựa; Husan, ngựa giống; Hudúd, ngựa giống để phối; Faras, ngựa cái (nhưng đôi khi dùng như ngựa nói chung và nghĩa là “thứ xé qua mặt đất”), Jiyád là chiến mã (cao quý); Kadísh, ngựa còm (ti tiện); Mohr là ngựa non đực và Mohrah, ngựa non cái. Có hàng chục tên khác nhưng những tên này đủ cho trò chuyện.

[FN#89] Al-Katúl, kẻ giết; Al-Majnún, kẻ điên; cả hai là lời khen cao trong lối đảo ngược.

[FN#90] Đây là một kỳ công rất đáng kính, sẽ đem lại cho người làm cả danh tiếng lẫn lợi ích.

[FN#91] Đây là mô tả chân thật và sống động về trộm ngựa trong Sa mạc: Antar và Burckhardt sẽ xác nhận từng lời. Một con ngựa giống Ả Rập quý được cho là chiến đấu vì người cưỡi và đánh thức người ấy vào ban đêm nếu nó thấy dấu hiệu nguy hiểm. Chủ thường ngủ dưới bụng con vật, loài giữ mắt và tai cảnh giác đến bình minh.

[FN#92] Ả Rập. “Yaum al tanádi,” tức là Ngày Phục Sinh.

[FN#93] Ả Rập. “Bilád al-Súdan” = Đất của người Da Đen, xứ người da đen, nơi nô lệ đến từ đó, một từ nay quen thuộc một cách tai họa với tai người Anh. Tuy nhiên, có hai vùng cùng tên, vùng phía Đông ở Thượng Nile và vùng phía Tây chứa Thung lũng Niger, và mỗi vùng đều xem mình là Sudan. Và độc giả không được lẫn lộn Berber của Thượng Nile, người Berderino làm tôi tớ ở Hạ Ai Cập, với Berber của Barbary: nhóm trước nói một ngôn ngữ châu Phi; nhóm sau một ngôn ngữ “Semitic” (Ả Rập).

[FN#94] “Him” thay cho “her.”

[FN#95] Ả Rập. “Sáibah,” một lạc đà cái được miễn lao dịch theo một số điều kiện giữa người Ả Rập ngoại giáo; về điều này xem Sale (Prel. Disc. sect. v.).

[FN#96] Ả Rập. “Marba'.” Vào đầu xuân, các bộ tộc Badawi rời Rasm hay nơi ở mùa đông (tiếng Thổ-Ba Tư “Kishlák”) trong sa mạc, nơi mưa đông cung cấp cho họ, và đi đến Yaylák, hay chỗ ở mùa hè, nơi họ tìm thấy cỏ và nước. Như vậy đại bộ tộc Ruwala xuất hiện đều đặn hằng năm trên các sườn đông của Anti-Libanus (Unexplored Syria, i. 117), và do đó có những “cuộc chia tay” thường xuyên.

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#47

[FN#97] Việc “xưng danh vang dội” này và khoe khoang về bộ tộc mình (và chính mình) trước trận chiến cũng tự nhiên như tiếng hô xung trận: cả hai đều nhằm làm kẻ thù kinh sợ và thường đã thành công. Mọi độc giả cổ điển đều biết tập tục trước có từ những thời đại sớm nhất. Nó vẫn còn thông dụng ở Ả Rập trong những trận chiến bộ tộc dữ dội, cuộc quyết đấu trên quy mô huy hoàng thường kết thúc bằng việc một nửa chiến binh của mỗi bên bị đặt hors-de-combat. Một mẫu khá đẹp của việc “xưng danh vang dội” là bài Thơ Treo của Amrú với lời tụng ca phóng đại bộ tộc Taghlab (tr. 64, “Arabian Poetry for English Readers,” v.v., của W. A. Clouston, Glasgow: in riêng MDCCCLXXXI.; và chép lại từ bản dịch của Sir William Jones).

[FN#98] Người “Thổ” sớm xuất hiện giữa các Caliph Abbaside. Mohammed được gán cho lời tiên tri về họ dưới danh hiệu Banú Kantúrah, người sau là một nữ nô của Abraham. Imam Al-Shafi'i (A.H. 195=A.D. 810) được nói là đã tiên báo quyền cai trị của họ ở Ai Cập, nơi một người Ottoman bảo vệ ông chống lại một đứa chăn lừa. (Chi tiết xem Pilgrimage i. 216 ) Caliph Al-Mu'atasim bi'llah (A.D. 833-842) có hơn 10.000 nô lệ Thổ và là người đầu tiên giao cho họ chức vụ cao; vì thế thần dân Ả Rập của ông viết về ông:—

Một tên Thổ khốn nạn là điều tim ngươi thèm muốn;
Và với chúng ngươi tỏ mình là mẹ và cha.

Người kế vị ông, Al-Wásik (Vathek, kẻ có đôi mắt kinh khủng), là người đầu tiên bổ nhiệm một người Thổ làm Sultan hay nhiếp chính của mình. Sau triều đại ông, họ trở thành vệ binh praetorian và dẫn tới sự sụp đổ của Abbaside.

[FN#99] Câu nói Ba Tư là “Đến đầu tiên trong tiệc và đến cuối cùng trong trận.”

[FN#100] tức là một kẻ cám dỗ, một kẻ quyến rũ.

[FN#101] Ả Rập. “Wayl-ak” ở đây có lẽ được dùng theo nghĩa của
“Wayh-ak,” một cách diễn tả mối quan tâm trìu mến.

[FN#102] Firdausi, Homer của Ba Tư, cũng ưa lối phóng đại huy hoàng như vậy. Sự giẫm đạp của người và ngựa làm dấy lên bụi đến nỗi nó lấy một tầng (trong bảy tầng) khỏi đất và thêm vào (bảy tầng của) Trời. “Đốm trắng” trên trán con ngựa giống (Ả Rập. “Ghurrah”) là ánh trắng của buổi sớm.

[FN#103] Một dấu hiệu nổi tiếng của sự kích động nơi ngựa dòng máu Ả Rập, khi đuôi trông như một chùm lông phủ phần mông sau.

[FN#104] tức là Hoàng tử Kanmakan.

[FN#105] “Phẩm chất của lòng khoan dung” thuộc về người Ả Rập cao quý, trong khi kẻ thấp hèn và Badawi thì oán độc và phục thù như lạc đà.

[FN#106] Ả Rập. “Khanjar,” chất độc được cho vào các rãnh và hốc của dao găm.

[FN#107] Ba Tư. “Bang”, Ấn Độ “Bhang”, Maroc “Fasúkh” và Nam Phi “Dakhá.” (Pilgrimage i. 64.) Tôi nghe kể về một “cuộc truy hoan Hashish” ở London kết thúc bằng việc một nửa những người thử nghiệm nằm trên sofa suốt một tuần. Thuốc này hữu ích cho thợ đốt lò, vì có đặc tính kỳ lạ là khiến người ta mất cảm giác với nóng. Người phương Đông cũng dùng nó cho “Imsák,” kéo dài giao hợp, điều tôi sẽ nói ngay sau đây.

[FN#108] Ả Rập. “Hashsháshín;” từ đó De Sacy suy ra “Assassin.” Một hiệu ứng đáng chú ý của chế phẩm Hashish là kích thích trí tưởng tượng một cách cuồng loạn, một loại delirium imaginans sive phantasticum.

[FN#109] Nghĩa là “Làm hay lắm!” Mashallah (Má sháa 'llah) là một câu cảm thán có nhiều cách dùng, đặc biệt được ưa khi khen người hay thú vì sợ những lời nịnh có thể gây mắt dữ.

[FN#110] Ả Rập. “Kabkáb” thông tục “Kubkáb.” Chúng cao từ ba đến mười inch, và những ai dùng lần đầu trong Hammam trơn trượt phải cẩn thận.

[FN#111] Ả Rập. “Majlis” = thế ngồi. Các tư thế giao hợp, xét về dân tộc học vừa kỳ lạ vừa thú vị, là những đề tài quá rộng đến nỗi cần một quyển sách hơn là một chú thích. Thông tin đầy đủ có thể tìm thấy trong Ananga-ranga, hay Sân Khấu của Kẻ Vô Thân, một luận khảo bằng thơ Sanskrit, thường được biết dưới tên Koka Pandit theo tác giả giả định, một Wazir của đại Rajah Bhoj, hay theo người khác, của Maharajah xứ Kanoj. Dưới nhan đề Lizzat al-Nisá (Các Khoái Lạc —hay sự hưởng—của Phụ Nữ), nó đã được dịch sang mọi ngôn ngữ của phương Đông Hồi giáo, từ Hindustani đến Ả Rập. Nó chia tư thế thành năm nhóm lớn: (1) người nữ nằm ngửa, có mười một phân loại; (2) nằm nghiêng, phải hoặc trái, với ba kiểu; (3) ngồi, có mười kiểu, (4) đứng, với ba phân loại, và (5) nằm sấp, với hai kiểu. Tổng số hai mươi chín này, cộng ba dạng “Purusháyit,” khi người nam nằm ngửa (xem vị Tu viện trưởng trong Boccaccio i. 4), thành ba mươi hai, gần với quarante façons của người Pháp. Các tư thế Upavishta, majlis, hay tư thế ngồi, khi một hoặc cả hai “ngồi xổm” hơi giống chim, dường như hoàn toàn bất khả đối với người châu Âu, vốn thiếu độ dẻo của chi thể người phương Đông. Mục đích của họ trong giao hợp là tránh căng cơ, điều sẽ rút ngắn thời gian hưởng lạc. Trong văn bản, người nữ nằm ngửa và người nam ngồi xổm giữa hai chân nàng: đây là kiểu được ưa từ Maroc đến Trung Hoa. Một bản dịch sát nghĩa của Ananga-ranga xuất hiện năm 1873 dưới tên Káma-Shástra; or the Hindoo Art of Love (Ars Amoris Indica); nhưng chỉ in sáu bản. Nó được phát hành lại (in nhưng không xuất bản) năm 1885. Những ai tò mò về các việc như thế sẽ tham khảo Index Librorum Prohibitorum (London, in riêng, 1879) của Pisanus Fraxi (H. S. Ashbee).

[FN#112] tức là Le Roi Crotte.

[FN#113] Đây dường như là một ám chỉ chơi chữ đến Baghdad, trong
tiếng Ba Tư có nghĩa là Khu vườn (bágh) của Công lý (dád). Xem
“Biographical Notices of Persian Poets” của Sir Gore Ouseley,
London, Oriental Translation Fund, 1846

[FN#114] Kardoukhoi (Carduchi) của Xenophon; cũng gọi (Strabo xv.) “Kárdakís, từ một từ Ba Tư chỉ nam tính,” tức sẽ là “Kardak” = người làm (việc anh dũng). Họ cũng đặt tên Montes Gordći cho Ararat nguyên thủy của Xisisthrus—Con Tàu của Noah. Người Kurd thuộc chủng Ba Tư, nói một ngôn ngữ Iran cổ và man dã, và thường thuộc phái Shi'ah. Họ là phường cướp bẩm sinh, kẻ cướp đường, kẻ trộm gia súc; song họ đã lan rộng khắp Syria và Ai Cập và đã sinh ra một số người hiển hách, chứng là Sultan Saláh al-Din (Saladin) Đại đế. Họ nhận họ hàng với người Anh ở phương Đông, vì cả hai giống dân luôn cư trú trên phần đất cao nhất có thể tìm thấy.

[FN#115] Những toán bất quy này không thuộc bộ tộc nào là bọn cướp nguy hiểm nhất ở Ả Rập, đặc biệt trên biên giới phía bắc. Burckhardt, người từng chịu khổ vì chúng, kể dài về sự phản trắc và sự hoàn toàn vắng bóng “pundonor” Ả Rập, phẩm tính được cho là đặc trưng cho bọn trộm Ả Rập.

[FN#116] Một hình thức nói giảm để tránh nhắc đến cuộc hôn nhân loạn luân.

[FN#117] Dạng Ả Rập của “Kinchin lay” của chúng ta.

[FN#118] Đây là dấu hiệu của lều Shaykh.

[FN#119] Những câu hỏi này, ở châu Âu là bất nhã, lại là thông lệ khắp Ả Rập, như chúng từng là ở Hoa Kỳ thế hệ trước.

[FN#120] Ả Rập. “Khizáb,” một thứ hồ vôi sống và muội đèn nhào với dầu lanh, làm Henna chuyển thành màu ô liu sẫm. Nó xấu kinh khủng đối với đôi mắt chưa quen và được xem là rất đẹp ở Ai Cập.

[FN#121] tức là Thượng Đế của cõi Empyrean.

[FN#122] Một cú đánh xứng với bộ tộc Sa'alabah mà hắn thuộc về.

[FN#123] tức là “ân ích”; cũng là tên Mu'ezzin, hay người gọi cầu lễ, của Mohammed, được chôn bên ngoài cổng Jábiah của Damascus. Do đó, giữa người Hồi giáo, người Abyssinia được ưa làm người gọi trong masjid vào thời kỳ đầu của Al-Islam. Ai Cập chọn người mù vì họ đông và rẻ; hơn nữa họ không thể ghi nhận những gì diễn ra trên các sân thượng liền kề, nơi phụ nữ và trẻ con thích trải những giờ mát mở đầu và kết thúc ngày. Người ta kể chuyện về những nam nhân giả mù nhiều năm để giữ việc làm. Trong các thành phố Hồi giáo, khách lạ phải cẩn trọng khi xuất hiện ở cửa sổ hay trên hành lang tháp minaret: dân chúng ghét bị nhìn từ trên xuống, và tiếng đạn rít là lời cảnh báo hãy biến đi. (Pilgrimage iii. 185.)

[FN#124] Bản năng của chàng có lẽ đã bảo chàng rằng đối thủ này là kẻ thấp kém, nhưng những lời sỉ nhục như vậy là thường gặp khi “xưng danh vang dội.”

[FN#125] Ả Rập. “Dare' ” hay “Dira',” một áo giáp lưới ngắn, một áo giáp vòng, đôi khi mặc thành đôi. Trong các chiến dịch “Sudan” khốn khổ, báo chí Anh bày tỏ nhiều kinh ngạc ngây thơ khi nghe về những chiến binh vũ trang cap-à-pie trong bộ giáp này như hiệp sĩ trung cổ. Họ không biết rằng mỗi bộ tộc lớn đều giữ lại, có thể từ thời Thập tự chinh, một số áo giáp lưới, thậm chí đến hàng trăm. Tôi chỉ nghe về một du khách Anh duy nhất cho Wilkinson ở Pall Mall làm một áo giáp lưới, bắt chước Napoleon III ở điểm này. Và (theo nhà thơ-ngân hàng Rogers) Công tước Wellington. Bộ của Napoleon được nói là làm bằng dây platinum, tác phẩm của một người Ba Lan đã nhận tiền và một lệnh rời Paris. Sir Robert Clifton quá cố (người ta nói) thử giá trị của nó bằng súng Colt sau khi đặt nó lên một mẫu áo hay mannequin của mình. Dễ làm những áo giáp lưới này chống tên hay chống gươm, thậm chí chống đạn nếu dùng thuốc súng Ả Rập: nhưng trước một viên đạn súng trường hiện đại, chúng còn tệ hơn vô dụng vì các mảnh vỡ sẽ bị đưa vào vết thương. Viên trung sĩ Anh nói đúng rằng y thà ra trận trong áo sơ-mi: và y thậm chí có thể cởi cả nó để có lợi hơn và trở về tập tục nguyên thủy của con người—gymnomachy.

[FN#126] Ả Rập. “Jamal” (Badawin phát âm “Gamal” như tiếng Hebrew) là từ chung cho “Camel” qua Gr. : “Ibl” cũng là loài lạc đà nhưng không thông dụng bằng. “Hajín” là lạc đà chạy (ở Ai Cập, “Dalúl” ở Ả Rập), không phải lạc đà một bướu của nhà động vật học (C. dromedarius) đối lập với loại hai bướu (C. Bactrianus), mà là lạc đà chạy, tức lạc đà cưỡi. Giống cái là Nákah vì như la, con cái được ưa hơn. “Bakr” (đực) và “Bakrah” (cái) là lạc đà non. Ngoài những tên chung còn có vô số tên riêng. Ông Censor thật kỳ lạ khi viết (tr.40) “con đực (của lạc đà) là con vật an toàn hơn nhiều để chọn;” và tập tục của Ease phổ quát bác bỏ khẳng định của ông. Ông McCoan (“Egypt as it is”) nói với độc giả rằng lạc đà Ai Cập có hai bướu; thực ra, ông mô tả lạc đà như nó không phải.

[FN#127] Vì vậy, trong Romance of Dalhamah (Zát al-Himmah, nữ anh hùng), anh hùng Al-Gundubah (“người-một-châu-chấu”) chém đầu tên sát nhân nô lệ của mẹ mình và kêu: “Ta đã trả thù máu mình trên tên nô lệ phản trắc này” (Lane, M. E. chaps. xx iii.)

[FN#128] Việc tụ họp tất cả các nhân vật trên sân khấu trước khi màn hạ này rất nghệ thuật và khó tin.

[FN#129] Lẽ ra chàng phải đọc lời cầu bình minh.

[FN#130] Ở đây bắt đầu thứ mà tôi cho là chất liệu cổ nhất trong The Nights, các ngụ ngôn hay truyện loài vật đúng nghĩa; nhưng tôi dành các nhận xét thêm cho Terminal Essay. Lane đã rất đáng phản đối khi ném truyện này và một số truyện theo sau vào một chú thích (tập ii., tr. 53-69).

[FN#131] Trong truyện loài vật nói chung, khi con người xuất hiện, hắn hiện ra ở thế bất lợi.

[FN#132] “stone bow” của Shakespeare, không phải “cross-bow” của Lane (ii. 53).

[FN#133] Roi thúc vẫn được gã chăn lừa Ai Cập đểu giả dùng là một chiếc đinh nhọn ở đầu gậy; và đáng được các hội bảo vệ động vật đặc biệt chú ý.

[FN#134] “Quả thật tiếng vô ơn nhất trong mọi tiếng hẳn là tiếng của lừa” (Koran xxxi. 18); và do đó có “tiếng hí của địa ngục” (Koran Ixvii.7). Dân thường vẫn tin rằng lừa hí khi thấy Quỷ. “Con vật cuối cùng vào Tàu cùng Noah là Lừa, đuôi nó bị Iblis bám vào. Ở ngưỡng cửa, lừa có vẻ bối rối và không thể vào thêm, khi Noah nói với nó:—‘Xấu hổ cho mày! vào đi.’ Nhưng vì lừa vẫn còn bối rối và không tiến, Noah kêu:—‘Vào đi, dẫu Quỷ ở cùng mày!’; vậy lừa vào và Iblis vào cùng nó. Bấy giờ Noah hỏi:—‘Ôi kẻ thù của Allah, ai đưa ngươi vào Tàu?’ và Iblis đáp:—‘Chính ngươi, vì ngươi đã nói với lừa, vào đi dẫu Quỷ ở cùng mày!’” (Kitáb al-Unwán fi Makáid al-Niswán được Lane trích ii. 54).

[FN#135] Ả Rập. “Rihl,” một yên gỗ nhồi rơm và chiếu. Ở châu Âu lừa có thể than rằng kết cục sau cùng của nó là xúc xích. Ở Anh người ta nói không ai thấy lừa chết: tôi đã thấy hàng tá và, bất hạnh thay, cả con của chính tôi.

[FN#136] Độc giả Anh sẽ không quên con ngựa cái già của Sterne. Ngay cả Al-Hariri, ông hoàng của các nhà tu từ Ả Rập, cũng không khinh khi dùng “pepedit,” hiệu quả được đặt thay cho nguyên nhân—nỗi kinh sợ. Nhưng ông Preston (tr. 285) và những người lịch sự dịch bằng “chạy trốn vội vã” câu tiếng Ả Rập “đánh rắm vì sợ.”

[FN#137] Đây là một trong các dấu hiệu may mắn và làm tăng giá trị con vật. Có khoảng năm mươi dấu như vậy, một số (như xoáy lông ở ngực biểu thị người cưỡi là kẻ bị cắm sừng) xấu điềm đến nỗi con vật có thể được mua gần như chẳng mất gì. Dĩ nhiên người ta rất chú ý đến màu sắc, tốt nhất là màu nâu hồng sẫm giàu sắc (“đỏ” của người Ả Rập) với điểm đen, hay xám lốm đốm bọ chét (gọi là Azrak = xanh lam hay Akhzar = xanh lục), thứ trắng dần theo tuổi. Xấu nhất là màu vàng xám, màu kem, lang đốm và đen, màu sau rất hiếm. Tuy vậy, theo Mishkát al-Masábih (Lane 2, 54) Mohammed nói: “Ngựa tốt nhất là ngựa đen (nâu sẫm?) có đốm trắng (Ả Rập. “Ghurrah”) và môi trên trắng; kế đến, đen có đốm trắng và ba chân trắng (xấu, vì móng trắng giòn): kế đến, nâu hồng có đốm trắng và chân trước cùng chân sau trắng.” Người cũng nói, “Thịnh vượng ở cùng ngựa màu hạt dẻ”; và khen một con hạt dẻ có trán và chân trắng; nhưng Người chê “Shikál,” loài có tất trắng (Ả Rập. “Muhajjil”) trên các móng xen kẽ (ví dụ chân sau phải và chân trước trái). Độc giả tò mò sẽ tham khảo “Bedouin Tribes of the Euphrates, with some Account of the Arabs and their Horses” (1879) của Lady Anne Blunt; nhưng phải nhớ rằng sách ấy bàn về các bộ tộc biên giới. Thiếu tá Upton quá cố cũng để lại một cuốn “Gleanings from the Desert of Arabia” (1881); nhưng đó là một sản phẩm kỳ diệu, chẳng hạn suy ra Khayl (ngựa nói chung) từ Kohl hay antimony (tr. 275). Tôi không thể tưởng tượng Biên tập viên đang mơ gì. Tôi đã đưa một số chi tiết về ngựa Ả Rập, đặc biệt ở Al-Yaman, giữa Zú Mohammed, Zú Husayn và Banu Yam trong Pilgrimage iii. 270. Tận thời Marco Polo, họ còn cung cấp cho thị trường Ấn Độ qua Aden; nhưng “Con mắt của Al-Yaman” đã hoàn toàn mất thói quen xuất khẩu ngựa.

[FN#138] Cựa sắt dạng xẻng, là hình thức cựa duy nhất.

[FN#139] Dùng cho lạc đà chạy: lạc đà chở hàng được buộc dây dắt.

[FN#140] Ả Rập. “Harwalah,” pas gymnastique được thực hiện khi đi vòng quanh Ka'abah (Pilgrimage iii. 208).

[FN#141] “Đêm này” sẽ là “đêm qua” của chúng ta: tôi nhắc lại, người Ả Rập nói “đêm và ngày,” không phải “ngày và đêm.”

[FN#142] Niềm tin bình dân là số mệnh con người được viết trên sọ, các đường khớp sọ là chữ viết.

[FN#143] Koran ii. 191.

[FN#144] Ả Rập. “Tasbíh” = nói “Subhán' Allah.” Nó cũng nghĩa là chuỗi hạt (Ai Cập. Sebhah thay cho Subhah), một dây 99 hạt chia bởi một hạt dài hơn thành các bộ ba, và được những kẻ muốn tỏ ra ngoan đạo mân mê nhiều. Kẻ sùng đạo chuyên nghiệp mang một dây bóng gỗ cỡ trứng bồ câu.

[FN#145] Chim bồ câu thường được cho nói: “Wahhidú Rabba-kumu ''llazi khalaka-kum, yaghfiru lakum zamba-kum” = “Hãy tuyên nhận Nhất Tính của Đức Chúa các ngươi, Đấng đã tạo các ngươi; nhờ vậy Ngài sẽ tha tội các ngươi!” Như có thể trông đợi, “ngôn ngữ” này được giải thích khác nhau. Mê tín về bồ câu có trong mọi tôn giáo và tôi đã ghi nhận (Pilgrimage iii, 218) cách thần Hindu của Hủy Diệt-Tái Sinh, Ngôi thứ ba trong Bộ Ba của họ, Shiva và Phối ngẫu của ngài (hay Năng lực chủ động), được cho là từng cư ngụ ở Meccah dưới các danh hiệu Kapoteshwara (Thần-bồ-câu) và Kapoteshí (Nữ-thần-bồ-câu).

[FN#146] Tôi đã thấy nỗi kinh hãi tuyệt đối này đối với phụ nữ giữa các
Tu sĩ của các Tu viện Coptic.

[FN#147] Sau Ngày Phán Xét, khi hành động của con người được ghi lại, sẽ tiếp theo là ngày báo phục lẫn nhau và mọi thọ tạo (kể cả thú vật) sẽ trả thù nhau.

[FN#148] Những Bạn Đồng Hành trong Hang, nổi tiếng trong thời Trung Cổ của Ki-tô giáo (Gibbon chaps. xxxiii.), là một tín điều với người Hồi giáo, là một phần chủ đề của chương xviii., Surah Koran gọi là Hang. Những truyện kiểu Rip Van Winkle này bắt đầu với Endymion quá nổi tiếng giữa các nhà Cổ điển và Epimenides xứ Crete, người ngủ năm mươi bảy năm; và chúng kéo dài tới thời hiện đại như La Belle au Bois dormant. Bảy Người Ngủ là bấy nhiêu thiếu niên ở Ephesus (sáu cố vấn vương giả và một mục đồng, tên họ được nêu theo thẩm quyền của Ali); và, cùng với con chó của họ, họ chạy trốn những cuộc bách hại của Dakianús (Hoàng đế Decius) đến một hang gần Tarsús ở Natolia, nơi họ ngủ suốt nhiều thế kỷ. Caliph Mu'awiyah khi đi ngang hang đã sai vài người thám hiểm vào đó, tất cả bị một luồng gió cháy giết chết. Số người ngủ vẫn bất định, theo Koran (ibid. v. 21) là ba, năm hoặc bảy, và giấc ngủ của họ kéo dài hoặc ba trăm hoặc ba trăm lẻ chín năm. Con chó (ibid. v. 17) ngủ ở cửa hang với chân duỗi ra và, theo thuyết phổ biến, được gọi là “Katmir” hay “Kitmir;” nhưng Al-Rakím (v. 8) cũng được một số người áp dụng cho nó. Người khác cho đây là tên thung lũng hay núi, còn người khác là của một phiến đá hay bảng chì, trên đó tên họ được khắc bởi người đồng xứ, những người đã xây một nhà nguyện tại chỗ ấy (v. 20). Những người khác nữa làm Người của Al-Rakím khác với Người trong Hang, và tin (cùng Bayzáwi) rằng họ là ba thiếu niên bị đá lở nhốt trong một hang nhỏ. Mỗi người cầu xin giúp đỡ nhờ công đức của một việc lành: khi người thứ nhất khẩn cầu Allah, núi nứt ra cho đến khi ánh sáng hiện; ở lời cầu thứ hai, nó tách ra để họ thấy nhau, và sau lời thứ ba nó mở hẳn. Dù thế nào, Kitmir là một trong bảy con vật được ưu ái: những con khác là Hudhud (chim đầu rìu) của Solomon (Koran xxii. 20); lạc đà cái của Sálih (chaps. Ixxxvii.); con bò của Moses đã đặt tên cho Surah thứ hai; con cá của Jonah; con rắn của Eve, và con công của Thiên Đường. Về các mặc khải Koran liên quan đến Hang, xem Thomas Chenery quá cố (tr. 414 The Assemblies of Al-Hariri: Williams and Norgate, 1870), người mượn từ sử gia Tabari.

[FN#149] Những dòng này đã xuất hiện trong Đêm cxlvi.: tôi trích ông
Payne để thay đổi.

[FN#150] Sói (đúng với tự nhiên) là kẻ ác không có nét cứu chuộc; cáo trong dân gian Ả Rập là người xảo quyệt có thể làm điều tốt khi có dịp. Ở đây con sau được gọi là “Sa'alab,” điều mà tôi đã ghi nhận có thể nghĩa là chó rừng; nhưng về sau “Cha của một Pháo đài nhỏ” đặc biệt chỉ cáo. Herodotus nhắc đến Canis Aureus sống bầy đàn khi ông mô tả sói Ai Cập là “không lớn hơn cáo bao nhiêu” (ii. 67). Canon Rawlinson, trong bản dịch bất hạnh của mình, không nhận ra người Halicarnassus muốn nói chó rừng và lầm lẫn về linh cẩu.

[FN#151] “Leila” hay “Leyla” cổ hơn: đó là một tên thông dụng và ở đây áp dụng cho phụ nữ nói chung. Gốc rõ ràng là “layl” = nox, với, có lẽ, ý tưởng “Nàng đi trong vẻ đẹp như đêm.”

[FN#152] Ả Rập. Abu 'l-Hosayn; hang của nó là pháo đài của nó (Unexplored
Syria, ii. 18).

[FN#153] Một cụm từ Koran thường xuất hiện.

[FN#154] Koran v. 35.

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#48

[FN#155] Ả Rập. “Bází,” Ba Tư. “Báz” (ở đây Richardson sai, s.v.); một thuật ngữ ở một mức nào đó mang tính tổng loại, nhưng đặc biệt dùng cho giống chim ưng Peregrine cao quý (F. Peregrinator), con trống nhỏ của nó là Sháhín (hay “Chim Vương Giả”). Đôi khi nó được áp dụng cho goshawk (Astur palumbarius), song danh xưng đúng của loài này là Shah-báz (Ưng-vua). Peregrine trải dài từ Himalaya đến Cape Comorin, và những con tốt nhất đến từ các vùng lạnh hơn: ở Iceland tôi thấy loài chim trắng lộng lẫy đôi khi bị bẫy để gửi sang Ấn Độ. Ở Ai Cập, “Bazi” được áp dụng cho diều hay ó buzzard, còn “Hidyah” (một loài diều) cho chim ưng (Burckhardt's Prov. 159, 581 và 602). Burckhardt dịch “Hidáyah,” dạng hỏng của Ai Cập, là “một loài chim ưng xám tro thuộc giống nhỏ phổ biến khắp Ai Cập và Syria.”

[FN#156] Ả Rập. “Hijl,” loài chim này không được quý lắm ở Ấn Độ vì nó kiếm ăn trên đường. Về Shinnár (caccabis) hay loài gà gô tuyệt đẹp của Midian, lớn bằng chim trĩ, xem “Midian Revisted” ii. 18.

[FN#157] Ả Rập. “Súf;” do đó “Súfi,” = (theo từ nguyên) người mặc áo len, một tín đồ khổ hạnh, một Santon; từ = khôn ngoan; từ = tinh khiết, hoặc từ Safá = hắn đã tinh khiết. Đây không phải nơi để đi vào một đề tài như “Tasawwuf,” hay Sufyism; phản ứng kỳ lạ ấy chống lại chủ nghĩa hiện thực và duy vật Hồi giáo khô khan, sự phát triển bao la ấy của thuyết siêu nghiệm gnostic và Tân-Plato, vốn chỉ thấy mới nảy mầm trong các tín điều Do Thái và Ki-tô. Thơ của Omar-i-Khayyám, nay đã quen thuộc với độc giả Anh, là một mẫu khá đẹp; và người học sẽ tham khảo chương cuối của Dabistan “Về tôn giáo của người Sufiah.” Sufi Hồi giáo đầu tiên là Abu Háshim xứ Kufah, mất A.H. 150=767, và Tu viện Sufi đầu tiên gọi là “Takiyah” (Pilgrimage i. 124) được Saladin Đại đế sáng lập ở Ai Cập.

[FN#158] tức là khi nàng hạ trại cùng một người được sủng ái trong đêm.

[FN#159] Tục ngữ Ba Tư là “Marg-i-amboh jashni dáred”—chết trong đám đông thì tốt như một bữa tiệc.

[FN#160] Ả Rập. “Kanát”, dòng nước ngầm gọi ở Ba Tư là “Kyáriz.” Lane (ii. 66) dịch nó là “vung quanh ngọn giáo (Kanát cũng là một cây thương bằng sậy) của mưu mẹo,” do đó biến câu thơ thành điều vô nghĩa hạng nhất. Al-Hariri dùng từ này trong Ass. of the Banu Haram, nơi “Kanát” có thể là một ống hay tre đặt dưới đất.

[FN#161] Từ Al-Tughrái, tác giả của Lámiyat al-Ajam, “Khúc ca của Kẻ Ngoại Xứ”; một Kasidah (Ode) gieo vần bằng Lám (chữ “l” là ráwi hay dây buộc). Người học sẽ tìm thấy một bản dịch mới của ông J. W. Redhouse và bản cũ của Dr. Carlyle (No. liii.) trong “Arabian Poetry” của ông Clouston. Muyid al-Din al-Hasan Abu Ismail, sinh tại Ispahan, mất tại Baghdad A.H. 182, lấy họ từ Tughrá, mật hiệu hay nét hoa mỹ (trên “Bismillah” trong các văn kiện vương giả và chính thức) chứa tên vị quân vương. Có một “Lamiyat al-Arab” cổ hơn, một bài thơ chữ L tiền Hồi giáo của “thi nhân-kẻ cướp” Shanfara, người mà ông W. G. Palgrave đã viết một bài rất cảm nhận trong “Essays on Eastern Questions,” ghi nhận lòng tự cậy bất khuất và chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối của một tâm trí thách thức thời đại mình và tất cả quanh mình. Al-Hariri trích từ cả hai.

[FN#162] Những lời của Azizah bất hạnh, tập ii., tr. 323.

[FN#163] Ả Rập. “Háwí” = một người làm trò ảo thuật với rắn: hắn phần lớn là Gypsy. “Phần thưởng” mà người đàn ông trông đợi là kho báu vàng mà con rắn bị phù chú được cho là canh giữ. Ý tưởng này cổ như Rồng trong Vườn Hesperides— và còn cổ hơn.

[FN#164] “Cha của việc ra ngoài (kiếm mồi) vào buổi sáng”; vì bình minh được gọi là Zanab Sirhán, tiếng Ba Tư Dum-i-gurg = đuôi sói, tức là nét quét đầu tiên của ánh sáng; Ánh sáng Hoàng đạo hiện vào buổi sớm. Sirhán là biệt danh của sói—Gaunt Grim hay Gaffer Grim, Isengrin hay Eisengrinus của Đức (dữ tợn băng giá hay dữ tợn sắt), vợ hắn là Hersent, như Richent hay Hermeline là bà Cáo. Trong tiếng Pháp ta có lopez, luppe, leu, chẳng hạn

Venant ŕ la queue, leu, leu,

tức là đi thành hàng một. Do đó có các tên D'Urfé và Saint-Loup. Trong tiếng Scandinavia, chị cả của tiếng Đức, Ulf, và trong tiếng Đức (nơi người Do Thái bị buộc nhận tên này) Wolff, từ đó có “Guelph.” Người Ả Rập còn biết nó là “cha của cừu cái non,” hình tượng hoán dụ gọi là “Kunyat bi 'l-Zidd” (lucus a non lucendo), một phụ danh hay biệt danh được đặt theo lối đối nghịch và là một mẫu khác của “lối nói đảo ngược.”

[FN#165] Ả Rập. “Bint' Arús” = con gái của chàng rể, Hindustani Mungus (thông tục Mongoose); một loài gặm nhấm giống chồn rất quen thuộc, thường được nuôi thuần trong nhà để dọn sạch sâu bọ. Người ta cho rằng nó biết thuốc giải nọc rắn, như chồn ăn cửu lý hương trước trận chiến (Pliny x. 84; xx. 13). Ở Ai Cập hiện đại, loài viverra này gọi là “Kitt (hay Katt) Far'aun” = mèo của Pharaoh: cũng vậy, Percnopter trở thành gà mái của Pharaoh và vị Vua bất hạnh (?) đã đặt tên cho vô số thứ, sống và chết. Nó được thờ phụng và ướp xác ở các vùng của Ai Cập cổ đại, chẳng hạn Heracleopolis, vì sự thù ghét rắn và vì nó được cho là tiêu diệt cá sấu, một kỳ công mà Ćlian và những người khác đã chất đầy bằng truyện hoang đường. Nó cũng có sự ghét bỏ rõ rệt đối với mèo. Ichneumon làm thú nuôi trở nên quá thuần và không rời chủ: khi nổi giận nó tiết ra một mùi hôi khó chịu. Tôi đã mang về cho Vườn Bách Thú một mẫu vật Trung Phi có vằn đẹp. Burckhardt (Prov. 455) trích một dòng:—

Rakas' Ibn Irsin wa zamzama l-Nimsu,
(Ibn Irs múa trong khi Nims hát)

và giải thích Nims là ichneumon, còn Ibn Irs là một “loài chồn nhỏ hay ferret, rất phổ biến ở Ai Cập: nó vào nhà, ăn thịt, tính hiền dù không được thuần hóa, và đầy những trò nhảy nhót đùa vui.”

[FN#166] Ả Rập. “Sinnaur” (cũng nghĩa là một hoàng tử). Tên thường dùng là Kitt, phát âm Katt hay Gatt; và Ibn Dorayd phát âm nó như một từ ngoại lai (Syriac?). Do đó, bất chấp Freitag, Catus (mà Isidore suy ra từ catare, tìm kiếm) = gatto, chat, cat, một con vật mà các nhà Cổ điển châu Âu không biết, họ dùng mustela hay putorius vulgaris và các loài viverrć khác nhau. Người Ai Cập, nuôi mèo để diệt sâu bọ, đặc biệt là rắn, gọi nó là Mau, Mai, Miao (tượng thanh): hậu duệ này của Felis maniculata bắt nguồn từ Nubia; và từ các hố xác ướp cùng Herodotus, ta biết nó cùng loài với mèo của chúng ta. Những chân dung đầu tiên của mèo có trên các di tích “Beni Hasan,” B.C. 2500. Tôi đã mạo muội suy ra từ “Puss” quen thuộc từ Ả Rập. “Biss (giống cái: Bissah”), một họ hàng của Pasht (Diana), nữ thần mặt mèo của Bubastis (Pi-Pasht), nay là Zagázig. Sau cùng, “tabby (vằn)-cat” bắt nguồn từ khu Attábi (của Hoàng tử Attab) ở Baghdad, nơi lụa gợn nước được chế tạo. Thường người ta gán nó cho Tibbie, Tibalt, Tybalt, Thibert hay Tybert (cũng là đao phủ), các dạng khác nhau của Theobald trong Beast Epic cổ; đối lập với Gilbert, con mèo gib, hoặc là mèo đực, hoặc là mèo bị gibbed (thiến).

[FN#167] Ả Rập. “Ikhwán al-Safá,” một thuật ngữ phổ biến chỉ những người bạn đức hạnh yêu nhau hoàn toàn trong mọi sự tinh khiết: nó cũng có ý nghĩa huyền bí. Một số người dịch là “Huynh đệ của Chân Thành,” và cho rằng hội huynh đệ này là Freemason Hồi giáo, một tưởng tượng thuần túy (xem Mesnevi của ông Redhouse, Trubner 1881). Có một cuốn sách Hindustani nổi tiếng mang tên này, do Giáo sư Forbes in bằng chữ Ba Tư và được Platts cùng Eastwick dịch.

[FN#168] Giữa nam giới phương Đông có những hình thức đặc biệt để “kết nghĩa huynh đệ.” “Munhbolá-bhái” (huynh đệ được đặt tên bằng miệng) của Ấn Độ rất quen thuộc. Tính “ưa kết hợp” mãnh liệt của các giống dân này khiến sự cô lập trở nên khủng khiếp đối với họ, và sự không được bảo vệ trong một trạng thái xã hội hoang dã có những nỗi kinh hoàng riêng. Do đó có nguồn gốc của Đẳng cấp, về điều này xem Pilgrimage (i. 52). Tuy nhiên, người Hồi giáo không thể thực hành nghi thức Phi châu là uống vài giọt máu của nhau. Nhân tiện, điều này cũng từng được ưa ở châu Âu, như ta thấy trong Gesta Romanoru, Tale lxvii., về các hiệp sĩ khôn ngoan và ngu dại đã “rút máu (để uống) từ cánh tay phải.”

[FN#169] F. Sacer ở Ấn Độ gọi là “Laghar” và con trống nhỏ là “Jaghar.” Ông T.E. Jordan (catalogue of Indian Birds, 1839) nói nó hiếm; nhưng tôi thấy ngược lại. Theo ông R. Thompson, nó được thả săn diều và linh dương: ở Sind, nó được dùng với diệc đêm (nyctardea nycticorax), floriken hay Hobara (Otis aurita), cút, gà gô, curlew và đôi khi thỏ rừng: nó cho trò săn tuyệt hảo với quạ nhưng cần được bảo vệ. Các tay thể thao Ấn Độ, như chúng ta, chia chim ưng thành hai bậc: “Siyáh-chasm,” hay chim mắt đen, cánh dài và cao quý; “Gulábi-chasm” hay mắt vàng (như goshawk), cánh tròn và thấp kém.

[FN#170] tức là đặt mình dưới lòng thương của ngươi.

[FN#171] Tôi đã nhận xét (Pilgrimage iii.307) rằng tất cả các tên phổ biến chỉ vượn trong tiếng Ả Rập và Ba Tư, Sa'adán, Maymún, Shádi, v.v., đều biểu thị điềm lành—có lẽ được dùng nói giảm cho “họ hàng nghèo” của chúng ta.

[FN#172] Rắn không “chích” cũng không “cắn”; nó đâm bằng răng độc như một cú dao găm chúc xuống. Những răng nanh này luôn được những kẻ làm trò rút ra, nhưng chúng mọc lại và do đó nhiều mạng đã mất. Cách dân gian để nhổ crochets là một tay nắm chắc con rắn sau cổ, tay kia trêu nó bằng cách đưa ra rồi rút lại một mảnh giẻ đỏ. Cuối cùng con vật được để cho đâm vào đó và một cú giật mạnh xé bật cả hai răng mắt, như dân quê từng làm bằng cách sập cửa. Rồi đầu nó được giữ chúc xuống và nọc chảy khỏi túi dưới dạng vài giọt chất lỏng hơi vàng, thứ mà, như các nhà ảo thuật biết, có thể uống mà không nguy hiểm. Bệnh nhân trông lả và choáng, nhưng hồi phục sau vài giờ và cảm thấy như chẳng có gì xảy ra. Ở Ấn Độ tôi từng học vài buổi với một người dụ rắn, nhưng sớm bỏ việc thực hành vì quá nguy hiểm.

[FN#173] Ả Rập. “Akh al-Jahálah” = huynh đệ của ngu dốt, một Ignorantin; một người “thật sự và đúng là” ngu dốt; đó là giá trị của “Akh” trong những cụm như “huynh đệ của nghèo khổ,” hay “của tinh khiết.”

[FN#174] Lane (ii. 1) viết “Abu-l-Hasan;” Payne (iii. 49) “Aboulhusn,” vốn sẽ nghĩa là “Cha của Sắc Đẹp (Husn)” và không phải tên Hồi giáo. Hasan (đẹp) và dạng thu nhỏ Husayn, những tên nay rất thông dụng, được nói là không được người Ả Rập biết, dẫu Hassán từng là tên của một vua Tobba trước thời Mohammed, người đặt tên như vậy cho hai cháu nội duy nhất của mình. Ở Anglo-India chúng đã thành “Hobson and Jobson.” Bản Bresl. Edit. (ii. 305) đặt nhan đề truyện này là “Truyện Abu 'l Hasan người Attár (dược sư và người làm hương) cùng Ali ibn Bakkár và điều xảy đến với họ cùng tỳ nữ (=járiyah) Shams al-Nahár.”

[FN#175] tức là một hậu duệ, không phải một Hoàng tử.

[FN#176] Cửa hàng Ả Rập là một dạng hốc trong tường và người mua ngồi trên mép ngoài của nó (Pilgrimage i. 99).

[FN#177] Bằng một hình ảnh tương tự, tắc kè hoa được gọi là Abú Kurrat = Cha của sự mát mẻ; vì nó được nói là có con mắt “lạnh” nhất trong mọi loài vật và vô cảm với nóng và ánh sáng, bởi nó luôn nhìn mặt trời.

[FN#178] Việc chia các từ trong bán câu thơ này là nét đặc trưng của một số truyện; nên tôi giữ lại, dẫu nó không tránh khỏi gợi ra:—

I left Matilda at the U- niversity of Gottingen.

[FN#179] Những lời đề nghị ngây thơ này trong truyện phương Đông phần lớn đến từ kẻ quyến rũ thật sự—Eve. Châu Âu và đặc biệt là Anh vẫn nói mãi những điều vô lý về đề tài này. Một người từng trải có thể “quyến rũ” một cô gái hoàn toàn vô tội (nghĩa là một cô gái ngu dốt). Nhưng “quyến rũ” một phụ nữ đã có chồng! Thật là một trò hề!

[FN#180] Lại giống đực thay cho giống cái: các dòng đầy những lối chơi chữ, thông tục gọi là puns, như thơ Sanskrit.

[FN#181] Nữ anh hùng phương Đông bao giờ cũng có khẩu vị tốt và ăn khỏe. Người phương Đông có lý trí sẽ khinh bỉ vô cùng nàng Parisienne bệnh hoạn mà láng giềng của chúng ta thích thú, và người mà tôi muốn gửi vào Bệnh viện.

[FN#182] tức là các tình địch của nàng đã phát hiện bí mật trong tim nàng.

[FN#183] tức là máu đỏ như rượu.

[FN#184] Chén rượu (như mặt trời) sáng trong tay nàng; răng nàng sáng như Pleiads và mặt nàng mọc như vầng trăng từ bóng tối của cổ áo.

[FN#185] Giống đực của Marjánah (Morgiana), “nhành san hô cái”; và cũng như từ này, là một tên thường đặt cho người da đen. Ta đã thấy màu trắng áp dụng cho một người da đen theo lối hoán dụ, và màu đỏ cũng được nối với da đen theo lối đùa. Một câu thơ Ba Tư nói:

“Nếu kẻ đen mặc đỏ, ngay cả lừa cũng cười toe.”

[FN#186] Gợi rằng nàng đã ngủ.

[FN#187] Ả Rập. “Raushan,” một cửa sổ nhô ra và có lưới: từ này gốc Ba Tư: như Raushaná (vẻ rực rỡ) = Roxana. Với tôi, dường như cái tên đẹp này càng đẹp hơn khi được hiểu.

[FN#188] Từ này nghĩa là bất cứ người hầu nào, nhưng ở đây trở thành danh từ riêng. “Wasífah” thường = một tỳ thiếp.

[FN#189] tức là háo hức, ham muốn, khát khao yêu.

[FN#190] Ả Rập. “Rind,” có thể nghĩa là liễu (phương Đông), nguyệt quế hay gỗ trầm: Al-Asma'i phủ nhận nó từng có nghĩa là sim.

[FN#191] Những dòng này xuất hiện trong Đêm cxiv.: để thay đổi, tôi đưa bản dịch (với sự cho phép) của ông Payne (iii. 59).

[FN#192] Chỉ tục ngữ “Al-Khauf maksúm” = sợ hãi (hèn nhát) được chia đều: tức là nếu ta sợ ngươi, ngươi sợ ta.

[FN#193] Các ngón tay phải được đánh vào lòng bàn tay trái.

[FN#194] Có những quy tắc phức tạp cho việc “gộp” các buổi cầu lễ; nhưng đây khó là nơi dành cho một đề tài được bàn trong mọi luận thuyết tôn giáo. (Pilgrimage iii. 239.)

[FN#195] Hai bàn tay được nhuộm Henna và có lẽ cả chàm thành sọc, giống các hàng vòng của giáp xích. Xem minh họa của Lane (Mod. Egypt, chaps. i.).

[FN#196] Nàng làm nước hoa hồng từ đôi má cho thức uống của ta và nàng cắn bằng răng như hạt mưa đá vào đôi môi như quả sen, hay táo tàu: Ả Rập. “Unnab” hay “Nabk,” quả mận của Sidr hay Zizyphus lotus.

[FN#197] Nghĩa là để Nhẫn Nại chạy đi như lạc đà không buộc dây.

[FN#198] tức là gương mặt đẹp của nàng chiếu sáng qua mái tóc đen. “Long não” là thứ được các thi nhân Ả Rập ưa chuộng: người Ba Tư ghét nó vì trong tâm trí họ nó gắn với cái chết, do được dùng để tẩy uế xác. Ta đọc trong Burckhardt (Prov. 464) “Hát mà không có siller thì như xác chết không có Hanút”—đây là một hỗn hợp long não và nước hoa hồng rảy lên mặt người chết trước khi liệm. Tương tự, người Ba Tư tránh nói đến cà phê, vì họ uống nó trong tang lễ và dùng trà vào những lúc khác.

[FN#199] tức là nàng giận và cắn đôi môi carnelian bằng răng châu.

[FN#200] Ả Rập. “Wa ba'ad;” công thức theo sau “Bismillah”—Nhân danh Allah. Người Pháp dịch là or sus, v.v. Tôi đã lưu ý truyền thuyết rằng nó được dùng đầu tiên bởi Koss hùng biện, Giám mục Najran.

[FN#201] tức là tâm trí nàng rối loạn đến nỗi nàng không thể chịu trách nhiệm cho điều mình viết.

[FN#202] Bản Bul. Edit. (i. 329) và Mac. Edit. (i. 780) trao cho Shams al-Nahar phần lớn câu trả lời của Ali, như được cho thấy bởi Calc. Edit. (230 et seq.) và Bresl. Edit. (ii. 366 et seq.) Lane nhắc đến điều này (ii. 74) nhưng theo lối qua loa thường lệ, không đưa tham chiếu trang cho Calc. hay Bresl.; vì vậy những người muốn kiểm chứng văn bản có thể phải chịu sự khó chịu của việc lục tìm nó.

[FN#203] Ả Rập. “Bi'smi 'lláhi' r-Rahmáni'r-Rahím.” Công thức khai phúc này được Al-Islam mượn không phải từ người Do Thái mà từ người Guebre “Ba nám-i-Yezdán bakhsháishgar-i-dádár!” (nhân danh Yezdan-Thượng Đế—Đấng Toàn Hào Phóng, Toàn Công Chính!). Người Do Thái có “Nhân danh Thượng Đế Vĩ Đại”; và người Ki-tô giáo, “Nhân danh Cha, v.v.” Cái gọi là Sir John Mandeville mở đầu sách của mình: Nhân danh Thượng Đế, Vinh Quang và Toàn Năng. Câu này tạo thành câu đầu tiên của Koran và đứng đầu mọi chương ngoại trừ chương thứ chín, một ngoại lệ mà vì nó các lý do bí ẩn được đưa ra. Do đó ngay cả ngày nay nó mở đầu mọi sách, thư và văn bản nói chung; và bỏ nó đi sẽ là dấu hiệu của Bất tín (tức không-Hồi giáo). Khác biệt giữa “Rahmán” và “Rahím” là từ trước biểu hiện một phẩm chất ngẫu nhiên (thương xót), từ sau một phẩm chất hằng thường (từ bi). Vì vậy Sale dịch rất chưa hoàn hảo là “Nhân danh Thượng Đế từ bi nhất”; các nhà Latin tốt hơn, “In nomine Dei misericordis, clementissimi” (Gottwaldt trong Hamza Ispahanensis); ông Badger tốt hơn nhiều, “In the name of God, the Pitiful, the Compassionate”—lỗi duy nhất là không giữ âm điệu tương ứng: còn Maracci hay nhất, “In nomine Dei miseratoris misericordis.”

[FN#204] Ả Rập. Majnún (tức là người bị một Jinni ám), mẫu tình nhân nổi tiếng của Layla, một nhân vật hư cấu, về người này xem D'Herbelot (s. v. Megnoun). Nàng được Abu Mohammed Nizam al-Din xứ Ganjah (mất A.H. 597=1200), thường được biết là Nizámi, thi nhân cay nghiệt và khắc khổ, ca tụng; ông viết:—

Phúc lợi của thế gian này là phần thưởng của lừa!
Ước gì Nizami thuộc giống lừa.

Chuỗi truyện ở phương Đông bắt đầu theo niên đại với Yúsuf và Zulaykhá (vợ Potiphar) do Jámi (sinh A.H. 817=1414) hát; kế theo niên đại là Khusraw và Shirin (cũng bởi Nizami); Farhad và Shirin; còn Layla và Majnun (thiếu nữ đen như Đêm và người đàn ông Điên) là cuối cùng. Chúng ta buộc phải so sánh các tình nhân với “Romeo and Juliet,” vì không có trường hợp tương ứng trong thời hiện đại: cổ điển châu Âu cung cấp cả một đám, như Hero và Leander, Theagenes và Charicleia, v.v. v.v.

[FN#205] Người thợ kim hoàn trong truyện phương Đông, từ Maroc đến Calcutta, gần như bao giờ cũng là một tên đểu: ở đây ta có một ngoại lệ.

[FN#206] Điều này không được hiểu là sáp niêm hiện đại, thứ tuy vậy có niên đại cổ. Người Ai Cập (Herod. ii. 38) dùng “đất niêm” ( ) có lẽ là đất sét, in bằng nhẫn ấn ( ); người Hy Lạp dùng bùn-sét ( ); và người La Mã trước dùng cretula rồi đến sáp (Beckmann). Châu Âu trung cổ có sáp ong pha với nhựa thông Venice và nhuộm bằng chu sa hay vật liệu tương tự. Sáp niêm hiện đại, đặc trưng của nó là shell-lac, được người Hà Lan đưa từ Ấn Độ sang châu Âu; và những con dấu sớm nhất có từ khoảng A.D. 1560. Họ gọi nó là Ziegel-lak, từ đó có Siegel-lack của Đức, người Pháp thích cire-ŕ-cacheter hơn, phân biệt với cire-ŕ-sceller, vật liệu mềm hơn. Việc dùng sáp niêm ở Ấn Độ có từ thời xưa và chất liệu ấy, dẫu thô và xấu, vẫn được người Anglo-Indian ưa chuộng vì nó chịu nóng, trong khi loại tốt nhất của Anh mềm ra như hắc ín.

[FN#207] Rõ ràng chỉ Abu al-Hasan bỏ trốn, không phải nàng she-Mercury.

[FN#208] Một nam nhân chưa vợ không được phép sống trong một khu đáng kính của thành Hồi giáo trừ khi hắn dùng biện pháp phòng ngừa như vậy. Lane (Mod. Egypt. passim) nói nhiều về điểm này; và người bạn tuyệt hảo của tôi, Giáo sư Spitta quá cố ở Cairo, thấy thành kiến bản xứ rất phiền toái.

[FN#209] Ả Rập. “Yá fulán” = Ôi người nào đó (fulano trong tiếng Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha), một cách xưng hô hơi khinh miệt.

[FN#210] Ông Payne nhận xét, “Những câu thơ này dường như liên quan đến
Aboulhusn, nhưng có thể chúng nhằm chỉ
Shemsennehar.” (iii. 80.)

[FN#211] Ả Rập và Ba Tư “Bulúr” (thông tục billaur) giữ truyền thống đáng kính của sông Belus. Trong Al-Hariri (Ass. of Halwán) nó nghĩa là pha lê và không cần đề nghị dịch nó là onyx hay đồng nhất nó với tiếng Hy Lạp , beryl.

[FN#212] Cửa thường được đóng bằng một then gỗ.

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#49

[FN#213] Ả Rập. “Ritánah,” từ “Ratan,” nói bất cứ thứ tiếng nào không phải
Ả Rập, ám chỉ lính đánh thuê ngoại quốc, có lẽ là
người Thổ. Về sau tiếng Thổ được gọi là Muwalla', một con ngựa lang,
do sự pha trộn các ngôn ngữ của nó.

[FN#214] Đây là quy tắc; để phòng guet-apens.

[FN#215] Ả Rập. “Wálidati,” dùng khi nói với người không thuộc gia đình thay cho cách thân mật “Ummi” = mẹ tôi. Cũng vậy, cha là Wálid = người sinh thành.

[FN#216] Đây là một trong nhiều công thức nói giảm cho những dịp như vậy: chúng thường bắt đầu “Cầu đầu ngươi sống,” v.v.

[FN#217] Ả Rập. “Kánún,” một nhạc cụ không khác mấy với đàn zither Áo; nó được minh họa trong Lane (ii. 77).

[FN#218] Việc này thường được làm, công đức của hành động được chuyển cho linh hồn người đã khuất.

[FN#219] Hai người yêu ấy là những kẻ tử vì tình; và những cuộc tình của họ, đối với tâm trí phương Tây có vẻ phóng đại, có nhiều tương đồng ở phương Đông. Câu chuyện là một việc tình yêu tuyệt vọng; chỉ có một bài học đạo đức (nếu cần có) tức là: một điều tốt cũng có thể quá nhiều. Nó được kể rất súc tích trong Bul. Edit. tập i.; và đầy đủ hơn trong Mac. Edit., có chỗ được trợ giúp bởi Bresl. (ii. 320) và Calc. (ii. 230). ## [FN#220] Lane sai lầm (tập ii. 78) khi sửa tên này thành “Sháh Zemán”; tên ấy là hư cấu và được chủ ý làm kiểu Ba Tư cổ, theo “trọng lượng” của Kahramán. Bul. Edit. in nhầm thành “Shahramán.”

[FN#221] “Topothesia” này xứng với thời Shakespeare. “Khálidán” hiển nhiên là dạng hỏng của “Khálidatáni” (thay cho Khálidát), Vĩnh Cửu, như Ibn Wardi gọi các đảo Fortunate, hay Canaries, vốn mắc nợ các nhà cổ điển châu Âu cả hai tên hiện đại của chúng. Lịch sử hiện nay của chúng bắt đầu từ A.D. 1385, trừ khi ta chấp nhận truyền thuyết Dieppe-Rouen của Labat, điều sẽ đặt sự khám phá vào A.D. 1326. Riêng tôi hoàn toàn tin vào quyền ưu tiên trên Bờ Tây Phi của những hậu duệ hào hiệp của người Northmen.

[FN#222] Luật Hồi giáo cho phép bốn vợ, và vì lý do này. Nếu ngươi cưới một vợ, nàng tự xem mình ngang hàng với ngươi, đáp lời ngươi và “làm bộ làm tịch”; hai người thì luôn cãi nhau và biến nhà thành địa ngục; ba người thì “không thành bạn đồng hành” và hai trong số họ luôn kết hợp chống lại người dễ thương nhất để làm giờ khắc của nàng cay đắng. Bốn người là bạn đồng hành, họ có thể cãi nhau rồi “làm lành” với nhau, và người chồng hưởng sự yên ổn tương đối. Nhưng người Hồi giáo bị luật của mình buộc phải đối xử ngang bằng với cả bốn, mỗi người phải có áo quần, cơ ngơi và đêm của mình, như các chị em vợ. Con số ấy lấy từ người Do Thái (Arbah Turim Ev. Hazaer, i.) “các bậc hiền triết đã đưa ra lời khuyên tốt rằng một người đàn ông không nên cưới hơn bốn vợ.” Người châu Âu, biết rằng phụ nữ Hồi giáo bị khép kín và xuất hiện nơi công cộng trong mạng che, bắt đầu bằng việc tin họ chỉ là món đồ xa xỉ, và chỉ sau thời gian cư trú lâu dài họ mới phát hiện ra rằng không nơi nào giới ấy có nhiều tự do và quyền lực thực sự như ở phương Đông Hồi giáo. Họ có thể sở hữu tài sản và di chúc nó đi mà không cần chồng cho phép: họ có thể vắng nhà một tháng mà chồng không có quyền than phiền; và họ dự phần vào mọi cuộc bàn luận của chồng vì những lý do tốt nhất: một người đàn ông chỉ có thể dựa vào vợ con mình, vì bị bao quanh bởi những đối thủ hy vọng vươn lên nhờ sự sụp đổ của hắn. Về các vấn đề chính trị, phụ nữ Circassia ở Constantinople thực sự cai trị Sultanate, và ở đó soignez la femme! là bài học đầu tiên để tiến thân trong thế giới quan trường.

[FN#223] Lời cầu hai rak‘ah này thường có trong đêm tân hôn; và trong mọi lúc khi mong có con.

[FN#224] Dạng cổ hơn Camaralzaman = “Trăng của thời đại.” Kamar là mặt trăng giữa ngày thứ ba và thứ hai mươi sáu: Hilál trong phần còn lại của tháng: Badr (số nhiều Budúr, từ đó có tên Công chúa) là trăng tròn.

[FN#225] Ả Rập “Ra'áyá,” số nhiều của “Ra'íyat,” Ryot Anglo-Indian của chúng ta, nghĩa đen là một thần dân, một thuộc dân; nghĩa thứ hai là một nông dân, một Fellah.

[FN#226] Một lối nhại táo bạo khác của “lời chứng” Hồi giáo về một Thượng Đế duy nhất, và về Mohammed Đấng Sứ đồ.

[FN#227] Cho thấy từ rất lâu trước đây các pháo đài đã được bọc bằng tấm kim loại, thứ mà chúng ta chỉ mới áp dụng cho tàu chiến trong những năm gần đây.

[FN#228] Sự so sánh này đúng một cách ghê tởm—ở phương Đông.

[FN#229] Hai thiên thần sa ngã đã dạy loài người nghệ thuật ma thuật. Họ được nhắc đến trong Koran (chương ii.), và các nhà chú giải đã thêu dệt rộng rãi trên văn bản đơn giản ấy. Theo dân gian, họ được cho là bị treo bằng chân trong một giếng ở lãnh thổ Babel, do đó có những ám chỉ thường xuyên đến “pháp thuật Babylon” trong các trước tác Hồi giáo; và những ai muốn học tà thuật tại bản doanh được cho là đi đến đó. Họ là đối ứng của Jamnes và Mambres Ai Cập, tức Jannes và Jambres của Thánh Paul (2 Tim. iii. 8).

[FN#230] Một ngẫu tượng hay các ngẫu tượng của người Ả Rập (Allat và Ozza) trước Mohammed (Koran chương ii. 256). Theo từ nguyên, từ này nghĩa là “lầm lạc” và phần tận cùng có vẻ Hebraic hơn là Ả Rập.

[FN#231] Ả Rập. “Khayt hamayán” (những sợi lang thang của hư ảo), hay
Mukhát al-Shaytan (nước mũi của Satan), = “gossamer” của chúng ta = mùa hè của
Thượng Đế (Mutter Gottes Sommer) hay áo cymar của Thượng Đế (?).

[FN#232] Những dòng này xuất hiện trong Đêm xvii.; nên tôi mượn từ
Torrens (tr. 163) để thay đổi.

[FN#233] Một tư thế khuất phục đặc biệt; tương phản mạnh với thái độ về sau Hoàng tử Charming đảm nhận.

[FN#234] Chỉ là một từ chửi rủa thô tục, không phản ánh gì về cha hay mẹ: tôi đã nghe một người mẹ gọi chính con trai mình là “đứa con ngoại tình.”

[FN#235] Ả Rập. “Ghazá,” cây Artemisia (Euphorbia ?) đã lưu ý trước. Nếu từ này là lỗi in thay cho Ghadá, nó nghĩa là một loại Euphorbia, cùng với Arák (cây bạch hoa dại) và cọ Daum (Crucifera thebiaca), là một trong ba loài cây mọc thường thấy của sa mạc Ả Rập (Pilgrimage iii. 22).

[FN#236] Ả Rập. “Banát al-Na'ash,” thường dịch là các con gái của quan tài, ba ngôi sao tượng trưng cho các con ngựa trong một trong hai chòm Gấu, “Charles' Wain,” hay Ursa Minor, xe được giả định là một quan tài. “Banát” cũng có thể là con trai, số nhiều của Ibn, vì từ này chỉ các vật vô tri. Do đó Job (ix. 9 và xxxviii. 32) nhắc đến U. Major như “Ash” hay “Aysh” trong lời, “Ngươi có thể dẫn quan tài cùng các con trai của nó chăng?” (bị dịch sai là “Arcturus cùng các con trai của nó”) Trong văn bản, các dòng ấy bí hiểm, nhưng dường như chỉ một cuộc chia lìa bởi cái chết.

[FN#237] Các chương là: 2, 3, 36, 55, 67 và hai chương cuối (“Rạng Đông” cxiii. và “Loài Người” cxiv.), được gọi là Al-Mu'izzatáni (thông tục Al-Mu'izzatayn), “Hai Lời Tìm Nơi Nương Náu hay Phòng Ngừa,” vì chúng ngăn bùa chú. Tôi đã dịch hai chương sau như sau:—

“Hãy nói:—Ta tìm nơi nương náu nơi Chúa của Rạng Đông *
khỏi điều dữ của những gì Ngài đã tạo *
khỏi điều dữ của trăng khi hiện nguyệt thực *
và khỏi điều dữ của phù thủy thổi lên các nút dây *
và khỏi điều dữ của kẻ ghen khi hắn ghen.”

“Hãy nói:—Ta tìm nơi nương náu nơi Chúa của loài người *
Đấng chủ tể của loài người *
Thượng Đế của loài người *
khỏi Kẻ Cám Dỗ, Quỷ Ma *
kẻ cám dỗ bằng tiếng thì thầm trong ngực loài người *
và khỏi các Jinni cùng người (ác).”

[FN#238] Các bài đọc là Náfilah, hay công đức phụ thêm, chỉ cần hai chương ngắn; còn việc tìm nơi nương náu là vì chàng ngủ trong một phế tích, một nơi nổi tiếng ở phương Đông có Ghul cũng như ở phương Tây có ma.

[FN#239] Lane (ii. 222) trước đọc “Múroozee” và liên hệ nó với bộ tộc Murúz gần Herat; sau đó ông (iii. 748) sửa thành “Marwazee,” thuộc vải của Marw (Margiana), nơi nay nổi tiếng vì “Mervousness.” Như người Rayy (Rhages) trở thành Rází (chẳng hạn Ibn Fáris al-Razí), thì người Marw là Marázi, không phải Murúzi hay Márwazi. “Mikna' ” là một mạng che tạo thành một loại “máy hô hấp,” bảo vệ khỏi ruồi ban ngày và khỏi muỗi, sương và gió lùa ban đêm. Người phương Đông quá khôn để ngủ với thân thể được chăn đệm giữ ấm còn đầu để trần hứng mọi luồng gió. Ông bà của chúng ta đã làm đúng khi đội bonnets-de-nuit, dù họ có vẻ buồn cười đến đâu.

[FN#240] Iblis, nghĩa là Kẻ Tuyệt Vọng, trong Koran (chương xviii. 48) được gọi là “Một trong các genii (Jinnis), kẻ đã rời khỏi mệnh lệnh của Chúa mình.” Ông Rodwell (in loco) ghi rằng các Satan và Jinnis trong Koran (ii. 32, v.v.) đại diện cho nguyên lý ác và tìm thấy sự pha trộn của các Satan và quỷ Semitic với “Genii từ thần thoại Ba Tư (Babylonian ?) và Ấn Độ (Ai Cập ?).”

[FN#241] Dĩ nhiên nàng không thể thấy mắt chàng khi chúng nhắm; đây cũng không phải chỉ là sự thiếu nhất quán phương Đông. Người viết muốn nói, “nếu nàng thấy chúng, chúng hẳn sẽ cho thấy,” v.v.

[FN#242] Đôi mắt được cho là trở nên sẫm hơn dưới ảnh hưởng của rượu và đam mê tình dục.

[FN#243] Để tránh mắt dữ.

[FN#244] Như Dahnash, đây là một tên riêng tưởng tượng, chỉ hợp với một Jinni. Theo quy tắc, các danh xưng của “genii” Hồi giáo kết thúc bằng -ús (oos), như Tarnús, Huliyánus; của Do Thái bằng -nas, như Jattunas; của Tarsá (những kẻ “sợ hãi,” tức Ki-tô hữu) bằng -dús, như Sidús, và của Hindu bằng -tús, như Naktús (người vào phục vụ Đấng Tiên tri Shays, hay Seth, và được cải đạo sang Đức Tin). Vua của các Genii là Malik Katshán, cư ngụ trên Núi Kaf; phía tây của ông sống con rể ông, Abd al-Rahman, với 33.000 gia nhân: những tên này được Đấng Sứ đồ Mohammed ban. “Baktanús” là chúa của ba đội Jinn Hồi giáo lang thang, tổng cộng có mười hai đoàn và trải từ Sind đến châu Âu. Các Jinn, Div, Peri (“tiên”) và các sinh vật tiền-Adam khác được cai trị bởi bảy mươi hai Sultan, tất cả đều được biết là Sulayman, và vị cuối cùng, như tôi đã nói, là Ján bin Ján. Thiên thần Háris được sai từ Trời xuống để trừng phạt ông, nhưng trong niềm kiêu hãnh của chiến thắng, ông cũng nổi loạn cùng những kẻ theo ông, các Jinn, trong khi các Peri đứng ngoài. Khi ông từ chối phủ phục trước Adam, ông và các thủ lĩnh của ông bị giam cầm vĩnh viễn, nhưng các Jinn khác được phép lang thang trên đất như một sự bảo đảm cho sự vâng phục của con người. Văn bản đưa ra ba hạng: kẻ bay, kẻ đi và kẻ lặn.

[FN#245] tức là rối trí (vì tình yêu); Lakab, hay tên thi ca, dường như của một thi nhân Tây Ban Nha.

[FN#246] Không gì “phản cảm” với người phương Đông hơn hông gầy và đôi má sau phẳng nơi phụ nữ, và họ có lý khi nhấn mạnh sự khác biệt đặc trưng của hình thể nam và nữ. Các nhà điêu khắc và họa sĩ hiện đại của chúng ta, việc nghiên cứu khỏa thân của họ thường hết sức qua loa, nhiều lần làm tôi chướng mắt bằng sự thu nhỏ gầy nhẳng, giống chó săn của thân hình, khiến nó trở thành vượn hơn là người.

[FN#247] Bàn chân nhỏ nhắn thanh tú được người phương Đông cũng như phương Tây ưa thích. Ovid (A.A.) không xấu hổ “ad teneros Oscula (không phải basia hay suavia) ferre pedes.” Ariosto kết thúc nhân vật uy nghi bằng

Il breve, asciutto, e ritondetto piece,
(Bàn chân ngắn, gọn, tròn khuôn).

Và khắp thế gian nó là một dấu hiệu của “huyết thống,” tức khí chất thần kinh tinh tế.

[FN#248] tức là “trăng tròn”: người Pháp đã làm hỏng nó thành
“Badoure”; chúng ta thành “Badoura,” còn tệ hơn.

[FN#249] Như đã nói, chỉ một giọt nước tiểu cũng khiến áo quần ô uế theo nghi lễ, do đó phải dùng một hòn đá hay một nắm đất theo lối torche-cul. Người Hồi giáo cẩn trọng, khi ngồi xổm tiểu tiện, sẽ chọc đất trước mặt bằng đầu gậy hay dù, để làm tơi đất và ngăn nước tiểu bắn lên.

[FN#250] Người Ki-tô giáo thường không biết rằng Satan có một người vợ tên Awwá (“Hawwá” là Eve Hồi giáo) và, như Adam có ba con trai, Kẻ Cám Dỗ có chín đứa, tức Zu 'l-baysun cai trị chợ búa. Wassin thắng thế trong thời loạn. Awan cố vấn cho vua chúa; Haffan bảo trợ bọn uống rượu; Marrah của nhạc công và vũ công; Masbut của kẻ truyền tin (và báo chí ?); Dulhán thường lui tới nơi thờ phụng và can thiệp vào lòng sùng đạo. Dasim, chúa của dinh thự và bàn ăn, ngăn tín đồ nói “Bismillah” và “Inshallah,” như được truyền trong Koran (xviii. 23), và Lakís, chúa của những kẻ thờ Lửa (Herklots, chap. xxix. sect. 4).

[FN#251] Những hương thơm mạnh, như xạ hương (thứ chúng ta, người châu Âu, ghét và nghi ngờ), luôn được nhấn mạnh trong thơ phương Đông, và sở thích của Mohammed đối với chúng rất nổi tiếng. Hơn nữa, người trẻ và đẹp được cho là (toàn đủ lý) tỏa ra một hương tự nhiên được so với hương của những kẻ được phúc trong Thiên Đường. Do đó trong Mu'allakah của Imr al-Keys:—

Tỏa mùi xạ hương khi họ đứng dậy đi chơi, *
Như hơi thở Zephyr mang vị đinh hương.

Chó và các động vật mũi tinh khác làm rõ rằng mỗi người đều có mùi riêng của mình, thay đổi theo tuổi và sức khỏe. Do đó động vật thường nhận ra sự đến gần của cái chết.

[FN#252] Ả Rập. “Kahlá.” Điều này đã được giải thích. Mohammed được nói là sinh ra với “đôi mắt kẻ Kohl.”

[FN#253] Hawá al-'uzrí, đã lưu ý trước (Đêm cxiv.).

[FN#254] Những dòng này, với Názir (mắt hay quản gia), Hájib (Người coi Phòng hay Thị thần) và Joseph, cũng được lặp lại từ Đêm cxiv. Về Nazir xem Al-Hariri (Nos. xiii. và xxii.)

[FN#255] Ám chỉ thường lệ đến Húr (Houris) từ “Hangar,” sắc trắng và đen của mắt sáng lên trong tương phản. Các Magi Ba Tư cũng đặt trong Thiên Đường của họ (Bihisht hay Minu) “Huran,” hay các tiên nữ mắt đen, dưới sự coi sóc của thiên thần Zamiyád.

[FN#256] Trong bán câu đầu, “bi-shitt 'it wády” (bên bờ wady): trong bán câu thứ hai, “wa shatta 'l wády” (“và kẻ giết ta”—tức wády phân từ chủ động của wady, giết—“đã bước đi xa”).

[FN#257] Song nghĩa đến từ các tên riêng Budúr và Su'ád (Beatrice), cũng có nghĩa là “những trăng tròn cát tường (hay được chúc phúc).”

[FN#258] Ả Rập. “Házir” (cũng Ahl al-hazer, dân thị trấn) và Bádi, một Badawi, cũng gọi là “Ahl al-Wabar,” người của lông lạc đà (lều) và A'aráb (du mục) đối lập với Arab (Ả Rập định cư hay không). Họ vẫn tự hào cùng Ibn Abbas, anh em họ của Mohammed, rằng họ có khăn tay (không phải khăn turban) làm vương miện, lều làm nhà, vòng dây làm tường, gươm làm khăn quàng và thơ làm sổ sách hay luật viết.

[FN#259] Đây là một đặc tính của bộ tộc Jinn khi mang hình dạng ghê tởm. Nó cũng thấy trong Rakshasa Hindu.

[FN#260] Nhân tiện, những thứ ấy nhỏ và có dáng rất đẹp. Con vật rất khéo dùng chúng, như tôi biết qua kinh nghiệm khi cố “Rareyfy” một con ở Bayrut.

[FN#261] Nàng là con gái của Al-Dimiryát, Vua của các Jinn.
Ông W. F. Kirby đã lấy ông làm đề tài cho một bài thơ đẹp.

[FN#262] Những dòng này đã xuất hiện trong Đêm xxii. Tôi đưa
bản của Torrens (tr. 223) để thay đổi.

[FN#263] Ả Rập. “Kámat Alfiyyah,” như một Alif, chữ đầu của bảng chữ cái Ả Rập, Aleph của Hebrew. Người Ả Rập, như tôi đã nói, lấy hình lá cờ hay lá nước và đi rất xa khỏi nguyên bản Ai Cập (ta biết từ Plutarch rằng abecedarium tượng hình bắt đầu bằng “a”), thứ được các kẻ bắt chước khác chọn, tức đầu bò, và trong dạng chữ thảo, đặc biệt Phoenician, trở thành một cái ách. Trong chữ số, “Alif” chỉ một hoặc một nghìn. Nó thừa hưởng danh dự truyền thống của Alpha (đối lập với Omega) và trong sách, thư cùng văn bản nói chung, nó được đặt như một monogram trên “Bismillah,” một lời chứng thêm cho Nhất Tính. (Xem tập i. tr. 1.) Trong Ki-tô giáo trung cổ, chỗ danh dự này do thập giá chiếm giữ: không nơi nào ngoài các xứ hoang dã nhất còn giữ nó, nhưng từ vựng của chúng ta vẫn giữ Criss' (Christ-)cross Row, cho horn-book, do bảng chữ cái cũ và chín chữ số được bố trí theo hình thập giá Latin. Do đó Tickell (“The Horn-book”):

——Kẻ phàm sẽ chẳng bao giờ biết
Nhiều hơn điều chứa trong Chris'-cross Row xưa.

[FN#264] Chàng trai trẻ hẳn là một con quỷ của sự trinh khiết.

[FN#265] Ả Rập. “Kirát” từ tức là hạt đậu, hạt của Abrus precatorius, về trọng lượng = hai đến ba grain (Anh); và về chiều dài = một bề ngang ngón tay ở đây; 24 là tổng số. Hệ thống Hồi giáo hiển nhiên mượn từ “as” và “uncia” của La Mã.

[FN#266] Tên của phụ nữ.

[FN#267] Ả Rập. “Amsa” (nghĩa đen là hắn qua buổi chiều), như “asbaha” (hắn dậy vào buổi sáng), “Azhá” (hắn qua buổi trước trưa) và “bata” (hắn qua đêm), được dùng thành ngữ theo nghĩa “ở trong một trạng thái nào, tiếp tục” mà không chỉ rõ thời điểm hay mùa.

[FN#268] Nghĩa đen “gan của ta”; nội tạng này, không phải trái tim, được xem là chỗ ngự của đam mê, một ý tưởng có từ những ngày cổ nhất. Theocritus nói về Hercules, “Trong gan chàng, Tình Yêu đã đặt một vết thương” (Idyl. xiii.). Trong Anthologia: “Thôi, Tình Yêu, đừng làm bị thương gan và tim ta” (lib. vii.). Horace cũng vậy (Odes, i. 2); Jecur Latin của ông và “Jigar” Ba Tư hiển nhiên là họ hàng. Ý tưởng này phổ biến lâu dài và ta thấy trong Shakespeare:—

Than ôi, vậy Tình Yêu có thể gọi là khẩu vị,
Không phải chuyển động của gan mà của vòm miệng.

[FN#269] Một nét tự nhiên kỳ diệu, tình yêu lấn át tình thân; cùng nét ấy sẽ xuất hiện nơi người yêu và cả hai minh họa câu nói Ý sâu sắc, “Amor discende, non ascende.” Nó càng đi xuống thì càng mạnh, như tình của ông bà đối với cháu và ngược lại.

[FN#270] Giáo điều này của toàn phương Đông vừa là sự thật vừa không phải sự thật. Như một khái quát khẳng định rằng đam mê phụ nữ lớn gấp mười lần đàn ông (Pilgrimage, ii. 282), nó không phải sự thật. Thế gian cho thấy trong khi phụ nữ có nhiều bản năng yêu con hơn, đàn ông có nhiều tính ham tình hơn; nếu không, người sau đã không cầu hôn và sẽ chăm búp bê cùng trẻ nhỏ. Tuy nhiên là sự thật ở các vùng đất thấp, như Mazanderan Ba Tư so với Cao nguyên; Malabar Ấn Độ so với đất Marátha; California đối lập với Utah, và đặc biệt Ai Cập tương phản với Ả Rập. Trong những khí hậu nóng ẩm này, nhu cầu tình dục và sức sinh sản của nữ giới vượt rất xa nam giới; và vì thế sự phóng đãng đạo đức hẳn sẽ là hiện tượng dị thường, nếu không bị ngăn bởi sự cô lập, gươm sabre và súng lục. Ở những xứ núi lạnh-khô hay nóng-khô, điều ngược lại xảy ra; do đó đa thê thịnh hành ở đó, trong khi các xứ thấp cần đa phu dưới một trong hai hình thức, hợp pháp hay bất hợp pháp (tức mại dâm). Tôi đã bàn điểm kỳ lạ này về “đạo đức địa lý” (vì mọi đạo đức, như lương tâm, đều vừa địa lý vừa niên đại), một đề tài rất thú vị đối với nhà lập pháp, người học đạo đức học và nhà nhân học, trong “The City of the Saints.” Nhưng những chân lý lạ và khó chịu tiến triển chậm, đặc biệt ở Anh.

[FN#271] Việc bài tiết buổi sáng này được xem ở phương Đông là sine quâ non của sức khỏe; và các cựu Anglo-Indian đều nhất trí trong ý kiến của họ về “bard fajar” (như họ phát âm sai sự thanh lọc bình minh). Người bản xứ Ấn Độ, Hindú (ngoại giáo) và Hindí (Hồi giáo), khác với người châu Âu, tự tập thói quen bài tiết hai lần một ngày, chiều cũng như sáng. Điều này có lẽ phần nào giải thích sự dịu dàng và nữ tính của họ; vì:—

C'est la constipation qui rend l'homme rigoureux.

Người Anh, kể từ cuộc xâm nhập đầu tiên của dịch tả vào tháng Mười, 1831, là một giống khác với ông bà táo bón của họ, những người không thể ăn tối mà không có “viên thuốc sau bữa tối.” Lạ thay, thuốc thụt gần như không được dân Hindostan biết đến, dù người Tây Phi man dã dùng nó hằng ngày để “rửa bụng,” như người Bonney nói. Và, như Sonnini ghi, việc đề xuất quá trình này ở Ai Cập dưới thời các Bey có thể đã khiến một thầy thuốc Frank mất mạng.

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#50

[FN#272] Tác giả Ai Cập không thể kìm mình khỏi thứ polissonnerie đặc trưng này; và mỗi khi đọc nó lên bao giờ cũng kéo theo một tràng cười vang. Ngay cả những tác giả nghiêm túc như Al-Hariri, như tôi đã ghi nhận, cũng không khinh thường điều khiếm nhã.

[FN#273] “Râu dài mà trí ngắn,” là một câu nói khắp phương Đông, nơi Kausaj (= người có râu thưa, ngắn) được xem là xảo quyệt và nhiều trò. Có một chuyện Joe Miller đáng kính về một thầy học muốn đốt sém bộ râu dài của mình cho ngắn, bèn đốt sạch cả râu lẫn mặt:—điều này khiến ông nhớ đến câu nói ấy. Một bộ râu rậm được định nghĩa là bộ râu che kín hoàn toàn da; và trong lễ tẩy rửa, nó phải được chải bằng ngón tay cho đến khi nước chạm tới chân râu. Sunnat, hay thực hành của Đấng Tiên tri, là để râu không dài hơn một bàn tay cộng hai bề ngang ngón tay. Trong tiếng Ba Tư, “Kúseh” (râu thưa) là một từ sỉ nhục, đối lập với “Khush-rísh,” người có râu đẹp. Râu người Iran có lẽ đẹp nhất thế gian, thường dài đến thắt lưng; nhưng nó gây vô vàn phiền toái, chẳng hạn khi đi đường phải có một túi đựng. Râu người Ả Rập thường gồm hai chùm ở hai bên cằm và những sợi lơ thơ trên má; đây là một điều nhục nhã nặng nề, nhất là với các Shaykh và bậc trưởng lão, những người không chỉ xem râu là một trong các đặc tính của nam nhân, mà còn gắn cho phần phụ ấy một tầm quan trọng tôn giáo. Do đó mới thấy sự nghiêm trọng trong hành vi của Kamar al-Zaman. Lễ hội Ba Tư vào xuân phân gọi là Kusehnishín (Ngồi-râu-thưa). Một lão già một mắt diễu qua các phố trên lưng lừa, một tay cầm con quạ, tay kia cầm roi và quạt, tự làm mát, quất người đứng xem và kêu nóng! nóng! (garmá! garmá!). Về các chi tiết khác xem Richardson (Dissertation, tr. Iii.). Đây là Giorno delle Vecchie của Ý, thứ Năm giữa Mùa Chay, ngày 12 tháng Ba (1885), mừng cái chết của Mùa Đông và sự ra đời của Mùa Xuân.

[FN#274] Tôi trích Torrens (tr. 400) vì những dòng này đã xuất hiện trong
Đêm xxxviii.

[FN#275] Người Hồi giáo chỉ có hai tên cho các ngày trong tuần, thứ Sáu,
Al-Jum'ah hay ngày tụ họp, và Al-Sabt, ngày Sabbath, tức
thứ Bảy. Những ngày khác được biết bằng số theo lối Quaker
của chúng ta, cũng là cách dùng của Bồ Đào Nha và Scandinavia.

[FN#276] Đêm qua của chúng ta.

[FN#277] Ả Rập. “Tayf” = bóng ma, cách gần nhất với “ghost” của chúng ta, tàn tích kỳ dị của Thuyết vật linh cắm sâu trong Ki-tô giáo; phantasma, bóng âm (không phải linh hồn) của người chết. Do đó Niebuhr chính xác tuyên bố, “những hiện hình (tức của kẻ đã khuất) không được biết đến ở Ả Rập.” Nhà có ma ở đó là nơi ở của các Ghul, Jinn và một đoàn sinh vật siêu nhiên; nhưng không phải của ma đúng nghĩa; và một người có thể sống nhiều năm ở Ả Rập trước khi từng nghe nói đến “Tayf.” Với người Hindu thì khác (Pilgrimage iii. 144). Tuy vậy bóng ma, nỗi sợ người chết và cái chết được hiện thân, là điều chung, ở mức độ nhiều hay ít, với mọi dân tộc; và, như Thần linh học hiện đại chứng minh, bóng ma ấy vẫn chưa bị an táng.

[FN#278] Ông Payne (iii. 133) bỏ những dòng ŕpropos de rein và đọc rất giống “thơ vô nghĩa.” Tôi giữ chúng lại chỉ vì chúng có trong văn bản.

[FN#279] Hai câu thơ đôi đầu là bài tứ tuyệt (hay bát tuyệt) trong
Đêm xxxv.

[FN#280] Ả Rập. “Ar'ar,” Hebrew “Aroer,” mà Luther và A.
V. dịch là “heath.” Tên Aramaic hiện đại là “Lizzáb”
(Unexplored Syria. i. 68).

[FN#281] Trong bản cũ và Bresl. Edit. (iii. 220),
Công chúa đánh “Kahramánah,” nhưng không giết nàng.

[FN#282] Đây vẫn là cách trị người điên phổ biến ở phương Đông.

[FN#283] Ba Tư. “Marz-bán” = Người giữ Biên thùy, Margrave. Anh em nuôi ở phương Đông được quý như, và thường quý hơn, thân tộc ruột thịt.

[FN#284] Người hiện đại tin nhất vào giấc mộng lúc bình minh.
—Quirinus

Post mediam noctem visus, quum somnia vera.
(Horace Sat. i. 10, 33,)

[FN#285] Bresl. Edit. (iii. 223) và Galland có “Torf:”
Lane (ii. 115) “El-Tarf.”

[FN#286] Ả Rập. “Maghzal;” một so sánh được ưa hơn là với tăm xỉa răng. Cả hai đều được Nizami và Al-Hariri, những tác giả Ả Rập “tao nhã” nhất, dùng.

[FN#287] Những dòng này tạo thành một Kasídah, Ode hay Elegy = các câu đôi có vần, số lượng hơn mười ba: nếu ngắn hơn, nó gọi là “Ghazal.” Tôi không thấy cần giữ nguyên độc vận.

[FN#288] Sulaymá là dạng thu nhỏ của Salmá = bất cứ phụ nữ đẹp nào; Rabáb = đàn viol, phần lớn một dây; Tan'oum = nàng mềm mại và dịu dàng. Những tên hư cấu này dành cho các ngọn lửa xưa của chàng.

[FN#289] tức là rượu. Câu song hành này hết sức kỳ tưởng và những lối ý nhị khó mà nảy ra với một

[FN#290] Ả Rập. “Andam,” một thuật ngữ áp dụng cho gỗ Brazil (cũng gọi là “Bakkam”) và “máu rồng,” nhưng theo tôi không phải cho tragacanth, “gai dê,” vốn không nhuộm màu. Andam thường được nhắc đến trong The Nights.

[FN#291] Công trạng vượt trội của người đầu tiên (nhà thám hiểm, v.v.) là một lieu commun với người Ả Rập. Vì thế Al-Hariri trong Lời tựa trích người đi trước mình:—

Công bằng thay, cái giá của lời khen ta trả;
Lời khen thuộc về kẻ dẫn đường.

[FN#292] Có hai Lukman, sẽ nói thêm ở một trang sau.

[FN#293] Hành động biểu tượng này được nhắc đi nhắc lại trong The
Nights.

[FN#294] Ả Rập. “Shakhs” = một người, nguyên nghĩa là một đốm tối. Cũng vậy “Sawád” = màu đen, trong Al-Hariri nghĩa là một nhóm người làm mặt đất tối đi bằng bóng của họ.

[FN#295] Lần tắm đầu sau bệnh, như tôi đã nói, gọi là
“Ghusl al-Sihhah,”—Sự Tắm Rửa của Sức Khỏe.

[FN#296] Các từ “malady” và “disease” phần lớn được tránh trong những đối thoại này như những từ xấu điềm có thể đem lại tái phát.

[FN#297] Tấm thảm lụa xanh của Solomon, chở ông và toàn bộ quân đội của ông qua không trung, là một truyền thuyết Talmud nói chung được chấp nhận trong Al-Islam dù không được Koran ủng hộ, chương xxvii. Khi “cánh muỗi” được nhắc đến, đó là ám chỉ Nimrod, người vì khoe khoang rằng mình là chúa tể của tất cả, bị hành hạ suốt bốn trăm năm bởi một con muỗi do Allah sai vào tai hay lỗ mũi hắn.

[FN#298] Sự thiếu đạo đức và tình con tuyệt đối nơi chàng trai trinh khiết được cho là do bạo lực của đam mê, và chàng sẽ được tha thứ vì chàng “yêu nhiều.”

[FN#299] Tôi đã ghi nhận quá trình địa bốc trong “History of Sindh” của tôi (chương vii.). Nó được gọi là “Zarb al-Ram!” (đánh cát, tiếng Pháp nói “frapper le sable”) vì hình thức thô sơ nhất là tạo các chấm ngẫu nhiên trên mặt đất, thường thành bốn dòng, dòng này trên dòng kia: chúng được đếm và, nếu số chẵn, lấy hai ( ** ); nếu số lẻ, lấy một ( * ); và như vậy bốn dòng sẽ tạo thành một sơ đồ, chẳng hạn * * * * * * Điều này được lặp lại ba lần, sinh ra cùng số hình; rồi tổ hợp được tìm trong một bảng giải thích, hoặc nếu người thực hành là chuyên gia, hắn phán ngay tại chỗ. The Nights nói đến một “Takht Raml” hay tấm bảng, giống bảng đá của học trò, trên đó các chấm được chấm bằng mực thay vì điểm trên cát. Người hiện đại dùng một “Kura'h,” hay con xúc xắc thuôn dài, trên các mặt có đánh dấu chấm lẻ và chẵn; và các con xúc xắc này được gieo bằng tay để tạo thành hình. Như một cách làm phức tạp, Địa bốc được trộn với chiêm tinh và khi ấy nó trở thành một dạng ariolation cực kỳ phức tạp và một ngành học vô tận. “Napoleon's Book of Fate,” một chap-book xuất hiện vài năm trước, là Địa bốc trong hình thái đơn giản và ngu dốt nhất. Về dạng thô sơ châu Phi, xem Mission to Dahome của tôi, i. 332, và về dạng của Darfour, xem tr. 360-69 trong Voyage của Shaykh Mohammed đã trích trước.

[FN#300] Các dịch giả hiểu điều này là viết khế ước hôn nhân; tôi hiểu theo nghĩa tổng quát hơn.

[FN#301] Những dòng này được lặp lại từ Đêm Ixxv.: với sự cho phép của ông Payne, tôi đưa bản dịch của ông (iii. 153) để thay đổi.

[FN#302] So sánh này đặc trưng kiểu Ả Rập.

[FN#303] Không phải “mặt” nàng: đầu, và đặc biệt phía sau đầu, luôn phải được che, ngay cả trước mặt cha.

[FN#304] Ả Rập. “Siwák” = tăm xỉa răng; “Siwá-ka” = nghĩa đen là khác với chàng.

[FN#305] Ả Rập. “Arák” = tăm từ cây bạch hoa dại; “Ará-ka” nghĩa đen = ta thấy chàng. Capparis spinosa là cây mọc phổ biến trong sa mạc và những que dài khoảng một gang tay (thường gọi là Miswák), được bán nhiều ở Meccah sau khi nhúng vào nước Zemzem. Ở Ấn Độ nhiều loại gỗ khác được dùng, cây chà là, Salvadora, Achyrantes, phyllanthus, v.v. Giữa người Ả Rập, hiệu quả đặc biệt đi kèm tăm làm từ ô liu, “cây mọc lên từ Núi Sinai” (Koran xxiii. 20); và Mohammed không dùng loại nào khác, vì nó ngăn sâu răng và làm thơm miệng. Do đó Koran, chương xcv. 1. “Miswák” được cầm với đầu chưa dùng nằm giữa ngón áp út và ngón út, hai ngón kia nắm phần giữa và ngón cái ép vào lưng que gần môi. Những vật này đã được bán từ lâu tại Medical Hall gần “Egyptian Hall,” Piccadilly. Chúng tốt hơn bàn chải răng không sạch của chúng ta vì mỗi chiếc răng có sự cọ riêng của nó, không phải một lượt quét chung; đồng thời thao tác dài hơn và phiền hơn. Ở nhiều vùng châu Phi cũng như châu Á, nhiều nam nhân đi lại với que tăm treo bằng dây trên cổ.

[FN#306] “Mehari,” mà người Algerine-French nói đến, là những con lạc đà chạy được bộ tộc Mahrah ở Al-Yaman nuôi, hậu duệ của Mahrat ibn Haydan. Chúng được phủ bởi những con lạc đà hoang nhỏ (?) gọi là Al-Húsh, thấy giữa Oman và Al-Shihr: những người khác giải thích từ này nghĩa là “ngựa giống của các Jinn” và gọi những con vật man dã, siêu nhiên ấy là “Najáib al-Mahriyah,” quý tộc của Mahrah.

[FN#307] Ả Rập. “Khaznah” = một nghìn túi tiền; nay khoảng Ł5000. Nó chỉ một số tiền lớn, như “Badrah,” một túi chứa 10.000 dirham bạc (Al-Hariri), hoặc 80.000 (Burckhardt Prov. 380); trong khi “Nisáb” là một số tiền vừa phải, nói chung 20 dinar vàng = 200 dirham bạc.

[FN#308] Như The Nights cho thấy, người Ả Rập ngưỡng mộ dáng mảnh; nhưng hông và đôi má sau phải phát triển cao, còn bụng đầy đặn hơn là gầy. Lý do hiển nhiên. Người Ba Tư, vốn phóng đại mọi thứ, nói chẳng hạn (Husayn Váiz trong Anvár-i-Suhayli):—

Vẽ hông và eo nàng thế nào? Ai từng thấy
Một ngọn núi (Koh) đung đưa trên một cọng rơm (káh)?

Trong Antar, Abla yêu dấu của chàng là một cây liễu tamarisk (T. Orientalis). Những người khác so sánh với cây chà là (Solomon), cây Cypress (Ba Tư, đặc biệt Hafiz và Firdausi) và Arák hay Capparis dại (Ả Rập).

[FN#309] Ubi aves ibi angel). Mọi du khách châu Phi đều biết rằng vài con chim bay quanh bụi rậm, và vài cây cọ đung đưa trong gió, biểu thị gần đó có làng hay trại (nơi thiên thần hiếm hoi). Nguyên nhân không phải tình bạn nào với con người, mà vì thức ăn, động vật và thực vật, phong phú hơn. Do đó hải âu Albatross, gà của Mother Carey (Mater Cara, Đức Trinh Nữ), và bồ câu Cape theo tàu.

[FN#310] Khổ thơ gọi là Al-Mukhammas = cinquains; các tứ tuyệt và “bob,” hay “burden,” luôn giữ cùng phụ âm vận. Nó kết thúc bằng một lieu commun Koran của đạo đức Hồi giáo.

[FN#311] Các thành cảng Hồi giáo thường có (hoặc từng có) chỉ hai cổng. Bayrut, Tyre, Sidon và vô số nơi khác đều như vậy; sự phát triển faubourg của thời hiện đại đã làm chúng lỗi thời. Cổng vào rất giống các lối vào lâu đài Norman cổ— chẳng hạn Arques. (Pilgrimage i. 185.)

[FN#312] Ả Rập. “Lisám”; đã giải thích trước.

[FN#313] tức là Sự Sống của các Linh Hồn (người, v.v.).

[FN#314] Ả Rập. “Insánu-há” = người đàn ông của nàng (tức của chúng): tức là con ngươi của mắt: tiếng Assyria Ishon, dạng nhỏ của Ish = Người; thứ người Hebrew gọi là “Bábat” hay “Bit” (con gái), người Ả Rập “Bubu (hay Hadakat) al-Aye”; người Ba Tư “Mardumak-i-chashm” (người tí hon của mắt); người Hy Lạp và Latin pupa, pupula, pupilla. Tôi đã ghi nhận điều này trong Lyricks of Camoens (tr. 449).

[FN#315] Ma'an bin Zá'idah, một binh sĩ và chính khách của thế kỷ thứ tám.

[FN#316] Sự hiền hòa của Caliph Mu'áwiyah, người sáng lập Ommiades, thành tục ngữ giữa người Ả Rập, rất giống “sự nhu mì” của Moses, vị ban Luật, điều mà các nhà chú giải dường như nghĩ đã bị nhét vào Numbers xii. 3.

[FN#317] Cho thấy hôn nhân chưa được hoàn tất, điều sẽ đòi “Ghusl,” hay tẩy rửa toàn thân, tại nhà hoặc trong Hammam.

[FN#318] Tôi đã ghi nhận loài cây sa mạc đáng chú ý này.

[FN#319] “Tình thế” thật đáng khen, khi giải pháp có vẻ quá khó và thảm họa cận kề.

[FN#320] Bài tứ tuyệt này xuất hiện trong Đêm ix.: tôi đã mượn từ
Torrens (tr. 79) để thay đổi.

[FN#321] Niềm tin rằng máu bồ câu non giống dịch huyết trinh tiết là phổ biến; nhưng máu giống máu người nhất là của heo, loài ở những điểm khác cũng rất người. Thời nay, người Ả Rập và Hindu hiếm khi chịu đưa khăn trải giường tân hôn ra kiểm tra như người Israel và Ba Tư thực hành. Cô dâu mang lên giường một khăn trắng để thấm máu và sáng hôm sau các vết máu được trưng trong Harem. Ở Darfour việc này do chú rể làm. “Prima Venus debet esse cruenta,” người phương Đông nói rất đúng, và họ không tin tín điều dễ dãi của chúng ta vốn cho phép màng trinh biến mất bởi bất cứ tai nạn nào ngoài một tai nạn duy nhất.

[FN#322] Không có nghĩa hai phân đội trung tâm do
nhà vua và Wazir của ngài chỉ huy.

[FN#323] Ironicč.

[FN#324] Ả Rập. “Rasy” = ca ngợi trong bài điếu tang.

[FN#325] Ả Rập. “Manáyá,” số nhiều của “Maniyat” = cái chết. Ông R. S. Poole (the Academy, ngày 26 tháng Tư, 1879) trách ông Payne vì đã lẫn “Muniyat” (ham muốn) với “Maniyat” (cái chết), nhưng cả hai được viết giống nhau trừ khi dùng dấu nguyên âm.

[FN#326] Ả Rập. “Iddat,” ám chỉ những tháng độc thân mà, theo luật Hồi giáo, một phụ nữ bị ly dị phải trải qua trước khi có thể tái hôn.

[FN#327] Ả Rập. “Talák bi'l-Salásah” = ly dị ba lần, không thể rút lại; người ly dị cũng không thể cưới lại cùng người đàn bà ấy cho đến sau khi nàng đã hoàn hôn với một người chồng khác. Đề tài này sẽ liên tục trở lại.

[FN#328] Một ám chỉ đến tập tục của người Ả Rập ngoại giáo trong những ngày ngu dốt của Dị giáo. Máu hay não, linh hồn hay nhân vị của người bị sát hại tạo thành một con chim gọi là Sady hay Hámah (không phải Humá hay Humái, thường dịch là “phnix”) bay ra từ đầu, nơi bốn trong năm giác quan ngự trị, và ám mộ hắn, liên tục kêu “Uskúni!” = Cho ta uống (máu của kẻ giết)! và chỉ biến mất khi món nợ máu được trả. Mohammed cấm niềm tin ấy. Giữa người Slav phương Nam, chim cu được cho là chị em gái của một người bị giết, mãi kêu gọi báo thù.

[FN#329] Để nhận phúc lành và tỏ rằng chàng quý nó đến đâu.

[FN#330] Các bộ tộc nổi tiếng của người Ả Rập tiền sử, hưng thịnh trước thời Abraham: xem Koran (chương xxvi. et passim). Họ sẽ được nhắc đi nhắc lại trong The Nights và các chú thích.

[FN#331] Ả Rập. “Amtár”; số nhiều của “Matr,” một bình lớn bằng da hay gỗ đựng nước, v.v.

[FN#332] Ả Rập. “Asáfírí,” gọi vậy vì chúng thu hút chim sẻ (asáfír), loài chim rất thích quả chín nhiều dầu. Trong Romance of “Antar,” lạc đà Asáfír là những con thú bay nhanh như chim. Độc giả không được lẫn ô liu trong văn bản với những quả mọng cứng chưa chín (“những quả mận nhỏ ngâm trong nước cũ”) xuất hiện trên bàn ăn Anh, cũng đừng ngạc nhiên rằng bánh mì và ô liu là beef-steak và khoai tây của nhiều dân tộc Địa Trung Hải. Đó là một chế độ ăn tuyệt hảo, quả nhiều dầu cung cấp carbon cần thiết,

[FN#333] Ả Rập. “Tamer al-Hindi” = “chà là Ấn Độ,” từ đó có từ “Tamarind” của chúng ta. Một thứ sherbet làm từ vỏ quả, hơi nhuận tràng, được uống nhiều trong những ngày nóng lớn; và quả khô, làm thành bánh nhỏ tròn, được bán trong các bazaar. Du khách được khuyên không ngủ dưới bóng me, vốn mang tiếng gây sốt rét và sốt. Ở Sind tôi từng cười nhạo “sự vô nghĩa của dân bản xứ,” qua đêm dưới một “cây chà là Ấn Độ” và tỉnh dậy với một mẫu sốt rét đẹp đẽ, kéo dài một tuần.

[FN#334] Người Hồi giáo không đồng ý về độ dài của Ngày Tận Thế, khi mọi vật thọ tạo, được các thiên thần sắp hàng, chờ phán xét cuối cùng; các thời hạn khác nhau được nêu là 40 năm, 70, 300 và 50.000. Tuy vậy chính cuộc xét xử sẽ không kéo dài hơn thời gian vắt sữa một con cừu cái, hay “khoảng giữa hai lần vắt sữa một lạc đà cái.” Đây là kéo Trời xuống Đất với chứng cứ rõ ràng; nhưng rốt cuộc, Thiên Đường của mọi tín ngưỡng, kể cả “Spiritualism,” sự phát triển mới nhất, chỉ là một cõi đất ít nhiều được vinh hóa, cũng như Thần Linh là nhân tính ít nhiều được hoàn thiện.

[FN#335] Ả Rập. “Al-Kamaráni,” nghĩa đen “hai vầng trăng.” Tu từ Ả Rập thích nó hơn “Shamsáni,” hay “hai mặt trời,” vì nhẹ hơn (akhaff), dễ phát âm hơn. Vậy nên, mặc dù Omar kém xứng đáng hơn Abu-Bakr, hai người vẫn được gọi là “Al-Omaráni,” trong lời bình dân là Omarayn.

[FN#336] Ám chỉ các thiên thần hiện ra với người Sodom dưới hình dạng những thiếu niên đẹp đẽ (Koran xi.).

[FN#337] Koran xxxiii. 38.

[FN#338] “Niktu-hu taklidan,” tức là không phải việc thật (với phụ nữ). Nó cũng có thể nghĩa là “bởi sự xúi giục của hắn đối với ta.” Toàn bộ cảnh này được viết bằng hình thức tồi tệ nhất của lối tục tĩu Ba Tư-Ai Cập, và tạo thành một nghiên cứu nhân học kỳ lạ. “Trò đùa đen” của người vợ chân thật và đoan chính thật không thể bắt chước.

[FN#339] Ả Rập. “Jamíz” (ở Ai Cập “Jammayz”) = quả của cây sung sycomore thật (F. Sycomorus), một cây lộng lẫy sinh ra quả sung nhỏ vô vị, được các tầng lớp nghèo ở Ai Cập và khỉ ăn. “Tín” hay quả sung thật ở đây là phần phụ nữ; “mulberry-fig,” hậu môn. Martial (i. 65) phân biệt như sau:—

Dicemus ficus, quas scimus in arbore nasci,
Dicemus ficos, Caeciliane, tuos.

Và tiếng Ý hiện đại giữ một khác biệt giữa fico và fica.

[FN#340] Ả Rập. “Ghániyat Azárá” (số nhiều của Azrá = trinh nữ): từ trước đúng ra là một phụ nữ khinh đồ trang sức và dựa vào “vẻ đẹp không tô điểm” (tức trên giường).

[FN#341] “Nihil usitatius apud monachos, cardinales, sacrificulos,” Johannes de la Casa Beneventius Episcopus nói, được Burton trích trong Anat. of Mel. lib. iii. Sect. 2; và bài mộ chí nổi tiếng về tu sĩ Dòng Tên,

Ci-git un Jesuite:
Passant, serre les fesses et passe vite!

[FN#342] Ả Rập. “Kiblah” = nơi hướng mặt khi cầu nguyện, Meccah đối với người Hồi giáo, Jerusalem đối với người Do Thái và Ki-tô hữu thời đầu. Xem Pilgrimage (ii. 321) về sự đổi hướng của người Hồi giáo từ Jerusalem sang Meccah và ibid. (ii. 213) về cách hướng ấy được chỉ ra.

TALE OF KAMAR AL-ZAMAN.#51

[FN#343] Koran nói (chương ii.): “Vợ các ngươi là ruộng cày của các ngươi: vậy hãy đi vào ruộng cày của các ngươi theo bất cứ cách nào các ngươi muốn.” Thông thường câu này được hiểu là nghĩa trong bất cứ tư thế nào, đứng hay ngồi, nằm, từ sau hay từ trước. Tuy vậy có một câu nói bình dân về người đàn ông bị người đàn bà cưỡi (thông tục là St. George, ở Pháp là le Postillon); “Đáng nguyền rủa thay kẻ biến đàn bà thành Trời và chính mình thành đất!” Một số người cho rằng đoạn Koran này được mặc khải để bác bỏ người Do Thái, những kẻ giả vờ rằng nếu một người đàn ông nằm với vợ mình từ phía sau, hắn sẽ sinh ra một đứa con thông minh hơn. Những người khác lại hiểu nó là nói về lối giao hoan nghịch thường, điều ấy thật phi lý: mọi nhà lập pháp cổ đại đều dựng bộ luật của mình nhằm tăng của cải thật sự của dân chúng—dân số—và trừng phạt nghiêm khắc mọi cách thức, như thủ dâm, cản trở nó. Người Ba Tư lợi dụng lòng ghét của phụ nữ đối với sự dùng sai như vậy khi họ muốn buộc một người vợ đòi ly dị và do đó mất quyền đòi Mahr (hồi môn); họ biến họ thành catamite cho đến khi, sau chừng một tháng, họ mất hết nhẫn nại và rời khỏi nhà.

[FN#344] Koran lit 9: “Kẻ sẽ bị quay khỏi Đức Tin (hay Chân Lý) là kẻ sẽ bị quay khỏi bởi sắc lệnh Thần Linh;” trong văn bản ám chỉ lối giao hoan nghịch thường mà người yêu nàng đòi hỏi.

[FN#345] Ả Rập. “Futúh” nghĩa là những mở ra, và cũng là chiến thắng, ân ích. Người tình chúc mừng nàng vì đã hành xác mình để làm vui lòng hắn.

[FN#346] “Và việc công chính sẽ được nâng cao”: (Koran xxxv. 11) dùng theo nghĩa mỉa mai.

[FN#347] Một prolepsis của Tommy Moore:—

Mẹ em nói, Venus bé nhỏ của ta,
Có điều gì không hẳn đúng giữa đôi ta,
Và em có lỗi cũng nhiều như ta,
Nay, thề trên linh hồn ta, Venus bé nhỏ,
Ta thề sẽ không đúng giữa đôi ta,
Nếu để mẹ em nói một lời dối trá.

Nhưng người Ả Rập đạo đức hơn ông Little, vì hắn định ăn năn.

[FN#348] Ả Rập. “Khunsa,” mềm dẻo hay nhão, từ Khans = cong vào trong, tức là miệng của túi nước trước khi uống. Như Mukhannas, nó cũng được dùng cho một người đàn ông ẻo lả, một kẻ kê gian thụ động và thậm chí cho hoạn quan. Người phương Đông vẫn tin vào điều người phương Tây biết là bất khả: những con người có bộ phận và tỷ lệ của cả hai giới phát triển ngang nhau và có khả năng sinh sản; và Al-Islam còn đặt những quy tắc riêng cho họ (Pilgrimage iii. 237). Chúng ta xem họ là lớp quái thai thứ tư (song trùng) của Buffon, về căn bản thuộc giới này hay giới kia, và chỉ liên hệ với giới đối lập bằng một vài đặc điểm. Người Hy Lạp xưa, theo lối của họ, mơ một giấc mộng thi ca đẹp đẽ về một sinh vật người hợp nhất những vẻ đẹp trái ngược của đàn ông và đàn bà. Tính lưỡng đôi của cơ quan sinh sản dường như là một truyền thống Ai Cập cổ, ít nhất ta thấy nó trong Genesis (i. 27), nơi hình ảnh của Thần Linh được tạo ra nam và nữ, trước khi người nam được nắn từ bụi đất (ii. 7). Truyền thống cổ ấy tìm đường đến Ấn Độ (nếu người Hindu không mượn ý tưởng này từ người Hy Lạp); và một trong các dạng của Mahadeva, ngôi thứ ba trong bộ ba của họ, mang danh “Ardhanárí” = Nửa-đàn-bà, điều đã gợi cho họ vài bức họa quyến rũ. Người châu Âu, thấy ngực trái rõ rệt là nữ tính, đã buông những suy đoán ngớ ngẩn về “Amazon.”

[FN#349] Đây chỉ là một cụm từ tương đương “cười đến chết” của chúng ta: nữ vương đang nằm ngửa. Và vì người phương Đông ngồi trên thảm, việc họ ngã ngửa rất khác cùng động tác ấy khi rơi khỏi ghế.

[FN#350] Ả Rập. “Ismid,” bột kẻ mắt đã lưu ý trước.

[FN#351] Khi Caliph (chẳng hạn Al-Tá'i li'llah) buộc một lá cờ vào một ngọn giáo và trao nó cho một quan chức, bằng việc ấy ngài bổ nhiệm người ấy làm Sultan hay Phó vương.

[FN#352] Ả Rập. “Sháib al-ingház” = nghĩa đen, một bộ râu bạc lắc đầu tỏ ý không tán thành.

[FN#353] Ả Rập. “Ayát” = Hebrew “Ototh,” các dấu hiệu, điều kỳ diệu hay
các câu Koran.

[FN#354] Chương “Al-Ikhlás,” tức là thanh lọc (bản thân khỏi mọi đức tin ngoài Nhất Tính), là số cxii. và diễn như sau:—

Hãy nói, Ngài là Thượng Đế Duy Nhất!
Thượng Đế vĩnh hằng,
Ngài không sinh, cũng không được sinh,
Và chẳng có gì tương tự Ngài.

Nó được xem có giá trị bằng một phần ba Koran, và được dùng hằng ngày trong cầu nguyện. Ông Rodwell đặt nó là chương thứ mười.

[FN#355] Phu nhân Budur tỏ ra có dòng máu cao quý khi không phản đối bạn mình trở thành Zarrat (chị em vợ) của nàng. Từ này được dân gian suy ra từ “Zarar” = sự tổn hại; và ở Ai Cập phát âm thông tục là “Durrah,” nghe như Durrah = một con vẹt (xem sai lầm của Burckhardt trong Prov. 314). Tục ngữ bản xứ nói, “Ayshat al-durrah murrah,” chị em vợ có đời sống cay đắng. Chúng ta không có từ tương đương tiếng Anh; vì vậy tôi dịch tùy lúc là co-wife, co-consort, sister-wife hay sister in wedlock.

[FN#356] Lane giữ mạo từ “El-Amjad” và “El-As'ad;” điều này cần thiết chẳng khác gì nói “the John” hay “the James,” bởi các ngôn ngữ Tân-Latin có “il Giovanni” hay “il Giacomo.” Tuy nhiên trong vấn đề mạo từ này, không thể đặt ra một quy tắc phổ quát: trong một số trường hợp phải giữ nó và chỉ thực hành ngôn ngữ mới dạy được cách dùng. Chẳng hạn, nó luôn có trong Al-Bahrayn và al-Yaman; nhưng không nhất thiết như vậy với Irak và Najd.

[FN#357] Khó nói vì sao đoạn xấu xí này được đưa vào.
Nó chỉ là một nốt sai trong một khúc nhạc vốn khá đẹp.

[FN#358] Ý nghĩa của hành động này sẽ xuất hiện ngay sau đây.

[FN#359] Một “Hadís.”

[FN#360] Ả Rập. “Sabb” = dùng ngôn ngữ chửi rủa thấp hèn nhất, chủ yếu liên quan đến các nữ thân nhân và bộ phận sinh sản của họ.

[FN#361] Độc giả sẽ lưu ý trong phần kể về hai Nữ vương tính song song trong lối văn Ả Rập, gợi nhớ đến lối của các thi nhân Hebrew. Các dây lụa đen được bện vào những lọn tóc dài (một “idiot-fringe” được để phủ trán), vì người phụ nữ bị nguyền rủa “nối tóc mình với tóc của người khác” (đặc biệt là tóc người). Gửi các dải buộc là dấu hiệu của sự quy phục âu yếm; và trong những trường hợp cực đoan, chính tóc được gửi đi.

[FN#362] tức là chịu nỗi đau tương tự khi chứng kiến cảnh ấy, một cụm từ thường xuất hiện.

[FN#363] tức là khi mắt không thấy, tim không sầu.

[FN#364] tức là chúng ta sẽ trở về với Ngài, một câu lặp lại trong hầu hết các chương dài hơn của Koran.

[FN#365] Ả Rập. “Kun,” Lời sáng tạo (nhân tiện, điều này chứng minh Koran là một Logos không được tạo ra); toàn câu là “Kun fa kána” = Hãy Có! và nó đã thành. Nguồn gốc hiển nhiên là, “Và Thượng Đế phán, Hãy có ánh sáng: và đã có ánh sáng” (Gen. i. 3); một dòng vĩ đại trong sự giản dị của nó và hiển nhiên được mượn từ người Ai Cập, cũng như Yahveh (Jehovah) từ “Ankh” = Đấng sống (Brugsch Hist. ii. 34).

[FN#366] tức là không chỉ vì thân thể và gương mặt, mà còn vì đời sống và thứ gọi là “linh hồn.”

[FN#367] Ả Rập. “Layáli” = nghĩa đen, các đêm, như tôi đã nói, thường được áp dụng cho trọn hai mươi bốn giờ. Ở đây nó được dùng theo nghĩa “vận may” hay “số mệnh”; như “ngày” và “ngày đêm.”

[FN#368] Abdullah ibn al-Zubayr, cháu gọi Ayishah bằng cô, người đã xây lại Ka'abah vào A.H. 64 (A.D. 683), nổi dậy (A.D. 680) chống Yezid và được tuyên xưng Caliph tại Meccah. Về sau ông bị giết (A.D. 692) bởi Hajjáj lừng danh hay khét tiếng, tướng của Abd al-Malik bin Marwan, Ommiade thứ năm, mang biệt hiệu “Mồ hôi của đá” (kẻ keo kiệt) và “Cha của Ruồi,” vì hơi thở hôi của hắn. Xem Pilgrimage, v.v. của tôi (iii. 192-194), nơi giải thích các ám chỉ đến Ka'abah và Hòn Đá Đen thiêng.

[FN#369] Những dòng này là một phần của bài bi ca về sự sụp đổ của một triều đại Hồi giáo ở Tây Ban Nha, được Ibn Abdun al-Andalúsi sáng tác vào thế kỷ mười hai. Ám chỉ đến âm mưu nổi tiếng của phái Khárijite (những kẻ ly phái đầu tiên trong Hồi giáo) nhằm giết Ali, Mu'awiyah và Amru (viết như vậy nhưng phát âm “Amr”) al-As, để giảm các xung đột nội bộ trong Al-Islam. Ali bị giết bằng một nhát gươm bởi Ibn Muljam, một cái tên mãi đáng nguyền rủa giữa người Ba Tư; Mu'awiyah thoát với một vết thương và Kharijah, Cảnh sát trưởng tại Fustat hay Cairo cũ, bị giết nhầm thay cho Amru. Sau việc này, các cuộc chiến giáo phái bắt đầu.

[FN#370] Ả Rập. “Saráb” = (Koran, chương xxiv.) hơi khói của Sa mạc, đã giải thích trước. Trong Al-Hariri nó được gọi là “Lama,” ánh sáng, vầng hiện. Thế gian được so với ảo ảnh, con mắt được tô vẽ và thanh gươm gãy trong tay người đấu gươm.

[FN#371] Ả Rập. “Dunyá,” với phép điệp âm thường gặp “dániyah” (= Ba Tư “dún”), trong văn xuôi cũng như thơ, nghĩa là các sự vật hay vận mệnh của đời này, đối lập với “Akhirah” = đời sau.

[FN#372] Ả Rập. “Walgh,” một cách diễn đạt mạnh, nguyên nghĩa là chó liếm uống; ở đây và nơi khác là “uống ừng ực, saufen.”

[FN#373] Những dòng này lặp lại từ Đêm ccxxi. Tôi đưa bản của Lane (ii. 162) để đối chiếu và—cảnh báo.

[FN#374] “Sáhirah” là nơi linh hồn con người sẽ được tụ họp vào Ngày Phán Xét: một số hiểu nó là Địa Ngục Sa'ír (số iv.) dành cho người Sabian hay nói chung cho Quỷ.

[FN#375] Mắt chàng phai màu như mắt Jacob, sau khi khóc thương Joseph, “trở nên trắng vì sầu” (Koran, chương xxi.). Đó là một so sánh quen thuộc.

[FN#376] Ngôi mộ.

[FN#377] Ả Rập. “Sawwán” (dân gian phát âm Suwán) = “Syenite” từ Syrene; nói chung áp dụng cho đá lửa, granite hay bất cứ đá cứng nào.

[FN#378] Một cách hành xử chỉ hợp với kẻ trộm và người cùng khổ: “Alpinism” khi ấy chưa được biết. “Ngươi đến từ núi” (al-Jabal) nghĩa là “Ngươi là một kẻ nhà quê cục mịch”; và “Ta sẽ ngồi trên núi” = trở thành ẩn sĩ hay pháp sư. (Pilgrimage i. 106.)

[FN#379] Tương ứng với các nhà nguyện ven đường ở các nước Công giáo. Hình thức Hồi giáo sẽ là hoặc một bức tường có hốc cầu nguyện (Mibráb) hướng về phía Meccah, hoặc một căn phòng nhỏ có vòm. Những tiểu nguyện đường này thường thấy gần suối, dòng nước hay cụm cây, nơi lữ khách có thể hạ trại. Tôi đã mô tả một nơi ở Sind (“Scinde or the Unhappy Valley” i. 79), và đã ghi nhận rằng việc viết nguệch ngoạc trên tường ở phương Đông còn phổ biến hơn ở phương Tây; chứng là các di tích Ai Cập cổ bị người Hy Lạp và La Mã viết đầy. Ngay cả bàn chân của Nhân sư cũng phủ đầy graffiti như thế; và các dòng ở Ipsambul hay Abu Símbal đã thành kho báu cho các nhà văn khắc học.

[FN#380] Trong truyện, điều này đặc trưng cho một người Ba Tư; và anh hùng Rustam bao giờ cũng được vẽ như vậy.

[FN#381] Người Parsi, đại diện của các Guebre xưa, quay về phía mặt trời và lửa như Kiblah hay hướng cầu nguyện của họ; tất cả đều phủ nhận rằng họ thờ nó. Nhưng, như trong trường hợp tượng thánh, trong khi người có học cầu nguyện trước chúng để được gây dựng (Labia), kẻ ngu dốt lại tôn thờ chúng (Dulia); và sẽ phân biệt rất ít giữa “sự tôn kính của một tôi tớ” và “sự tôn kính của một nô lệ.” Tế người hoàn toàn trái với tập tục Guebre, dù không trái với Hindu; dẫu lòng hận và trả thù có thể thúc đẩy một vụ giết người thỉnh thoảng.

[FN#382] Những oubliette này thường thấy trong nhà cổ phương Đông cũng như trong Lâu đài trung cổ châu Âu, và nhiều khách lạ đã chết trong chúng. Chúng thường được giấu kỹ đến nỗi ngay cả cư dân hiện đại cũng không biết chúng tồn tại.

[FN#383] Ả Rập. “Bakk”; do đó có “bug” của chúng ta, mà nguồn gốc (như của “cat”, “dog” và “hog”) dường như không được các từ điển biết đến, luôn trừ từ điển của M. Littré.

[FN#384] tức là sắc đẹp của ngươi luôn tăng thêm.

[FN#385] Như thường lệ, ám chỉ lông mi, chẳng hạn

Một mũi tên lông mi từ cung lông mày.

[FN#386] Lane (ii. 168) đọc:—“Người nữ keo kiệt được bảo vệ bởi sự keo kiệt của nàng;” một sự đổi “Nahílah” (tổ ong) thành “Bakhílah” (mụ keo kiệt).

[FN#387] Koran iv. 38. Các ưu thế là sức mạnh thân thể, trí hiểu và đặc quyền cao cả của Thánh chiến. Đến chừng ấy, và chỉ đến chừng ấy, phụ nữ giữa người Hồi giáo là “nhỏ hơn”

[FN#388] Ả Rập. “Amir Yákhúr,” một dạng hỏng của “Akhor” = chuồng ngựa
(Ba Tư).

[FN#389] Một tên nô dịch trong tiếng Ba Tư, nghĩa là “người dũng cảm,” và là một tước hiệu danh dự tại Triều đình Delhi khi đặt sau tên. Nhiều sĩ quan Anh đã tự khiến mình lố bịch (tôi cũng nằm trong số đó) bằng cách khắc nó trên nhẫn ấn của họ, chẳng hạn Brown Sáhib Bahádur. Viết từ ấy là “Behadir” hay “Bahádir” là chấp nhận dạng hỏng tồi tệ của Thổ.

[FN#390] “Jerry Sneak” hẳn sẽ là bình luận của độc giả Anh; nhưng ở phương Đông mọi tội đều đổ lên đàn bà.

[FN#391] Ở đây công thức ấy nghĩa là “Ta lấy làm tiếc về việc đó, nhưng ta không thể làm khác.”

[FN#392] Một tên cao quý của các Vua Ba Tư (nghĩa là hành tinh
Mars), bị châu Âu làm hỏng thành Varanes.

[FN#393] Ả Rập. “Jalláb,” một trong ba muharramát hay điều bị cấm, Hárik al-hajar (kẻ đốt đá), Káti' al-shajar (kẻ chặt cây, không liên quan đến Hawarden N. B.) và Báyi' al-bashar (kẻ bán người, thông tục Jalláb). Hai loại trước làm việc, như Carbonari Ý, ở những nơi hoang mạc, nơi họ có cơ hội đặc biệt cho tội ác. (Pilgrimage iii. 140.) Không điều nào trong những việc này được thực hành trong Hành hương trên đất thánh Al-Hijaz—không kể Jeddah.

[FN#394] Các câu thơ chứa giáo lý của phái Murjiy, phái gắn tầm quan trọng vô hạn cho đức tin và rất ít hoặc không chút nào cho việc làm. Sale (sect. viii.) suy ra “Morgians” của ông từ “Jabrians” (Jabari), đối thủ trực tiếp của “Kadarians” (Kadari), phủ nhận tự do ý chí và tự do hành động của con người, và quy mọi hành vi của hắn hoàn toàn cho Allah. Lane (ii. 243) đưa câu trả lời chính thống cho câu hỏi dị giáo:—

Nước không thể làm ướt hắn nếu Allah muốn giữ kẻ thuộc về Ngài; *
Người chẳng cần lo dù bị trói tay ném xuống biển:
Nhưng nếu Chúa của hắn định rằng hắn chết đuối trong biển; *
Hắn sẽ chết đuối dù hắn ở trong đồng hoang và rừng rú.

Đó là cuộc tranh cãi cũ giữa Tiền định và Tự do Ý chí, điều không thể giải quyết trừ khi giả định một Luật không có Nhà Lập Luật.

[FN#395] Tục ngữ của chúng ta nói: Hãy cho một người may mắn rồi ném hắn xuống biển.

[FN#396] Như một quy tắc, tôi nhắc lại, người phương Đông che đầu và mặt khi ngủ, đặc biệt ngoài trời và dưới ánh trăng. Người châu Âu thấy thói quen này khó, và chỉ có thể học được nhờ tập lâu.

[FN#397] Ba Tư = một vườn hoa. Trong Galland, Bahram có hai con gái, Bostama và Cavam a. Trong Bres. Edit., con gái là “Bostan” và nữ nô là “Kawám.”

[FN#398] Ả Rập. “Kahíl” = đôi mắt trông như được làm sẫm bằng antimony: do đó có tên của giống ngựa Ả Rập cao quý “Kuhaylat” (Al-Ajuz, v.v.).

[FN#399] “As'ad” = may mắn hơn (hay may mắn nhất).

[FN#400] Đây là niềm tin bình dân, dù Mohammed trong Koran (chương xiii. 8) đã tuyên bố rõ rằng mình không có quyền năng ấy: “Ngươi chỉ được giao làm người rao giảng chứ không phải kẻ làm phép lạ.” “Dấu hiệu” (Ả Rập. Ayát) ở đây cũng có thể nghĩa là các câu của Koran, điều mà Đấng Sứ đồ của Allah xem là các phép lạ thường trực của mình. Người khinh các miracula thông thường, vốn ở phương Đông xảy ra hằng ngày và được xem là dễ dàng với bất cứ thánh nhân nào. Hume không tin vào phép lạ vì ông chưa bao giờ thấy một phép lạ. Nếu ông từng du hành phương Đông, ông hẳn đã thấy (và nghe kể về) nhiều đến nỗi sự hoài nghi của ông (rằng lời chứng sai có nhiều khả năng hơn phép lạ đúng) sẽ được đặt trên nền vững hơn. Một trong các điều kỳ lạ của thời đại chúng ta là trong khi hai phần ba Ki-tô giới (người Công giáo và người Hy Lạp “Chính thống”) tin vào “phép lạ” xảy ra không chỉ thời xưa mà cả trong hiện tại, thì một phần ba có ảnh hưởng và trí tuệ (Tin Lành) lại tuyệt đối “phủ nhận sự kiện.”

[FN#401] Ả Rập. “Al-Shahádatáni”; làm chứng cho Nhất Tính và
Sứ đồ tính.

PRE#52

Hết Sách điện tử Project Gutenberg của The Book of the Thousand Nights and a Night, Tập 3, của Richard F. Burton

*** HẾT SÁCH ĐIỆN TỬ PROJECT GUTENBERG NÀY: THE BOOK OF THE THOUSAND NIGHTS AND A NIGHT ***

***** Tập tin này nên được đặt tên là 3437-h.htm hoặc 3437-h.zip *****
Tập tin này cùng mọi tập tin liên quan ở các định dạng khác nhau sẽ được tìm thấy tại:
        http://www.gutenberg.org/3/4/3/3437/

Bản etext này do J.C. Byers thực hiện. Những người hiệu đính là: J.C. Byers,
Norm Wolcott, Dianne Doefler và Charles Wilson.

Các ấn bản cập nhật sẽ thay thế ấn bản trước--các ấn bản cũ sẽ
được đổi tên.

Việc tạo ra các tác phẩm từ những ấn bản in không được luật bản quyền Hoa Kỳ
bảo hộ có nghĩa là không ai sở hữu bản quyền Hoa Kỳ đối với những tác phẩm này,
vì vậy Quỹ (và cả bạn!) có thể sao chép và phân phối chúng tại Hoa Kỳ mà không
cần xin phép và không phải trả tiền
bản quyền. Các quy định đặc biệt, được nêu trong phần Điều khoản Sử dụng Chung
của giấy phép này, áp dụng cho việc sao chép và phân phối các tác phẩm điện tử
Project Gutenberg-tm nhằm bảo vệ khái niệm và nhãn hiệu
PROJECT GUTENBERG-tm. Project Gutenberg là một nhãn hiệu đã đăng ký,
và không được sử dụng nếu bạn tính phí đối với các eBook, trừ khi bạn nhận được
sự cho phép cụ thể. Nếu bạn không thu bất cứ khoản nào cho các bản sao của
eBook này, việc tuân thủ các quy định rất dễ dàng. Bạn có thể sử dụng eBook này
cho gần như bất cứ mục đích nào như tạo tác phẩm phái sinh, báo cáo,
trình diễn và nghiên cứu. Chúng có thể được sửa đổi, in ra và trao tặng
--bạn thực tế có thể làm BẤT CỨ ĐIỀU GÌ tại Hoa Kỳ với các eBook
không được luật bản quyền Hoa Kỳ bảo hộ. Việc tái phân phối chịu sự chi phối
của giấy phép nhãn hiệu, đặc biệt là tái phân phối thương mại.

BẮT ĐẦU: GIẤY PHÉP ĐẦY ĐỦ

GIẤY PHÉP PROJECT GUTENBERG ĐẦY ĐỦ
XIN ĐỌC ĐIỀU NÀY TRƯỚC KHI BẠN PHÂN PHỐI HOẶC SỬ DỤNG TÁC PHẨM NÀY

Để bảo vệ sứ mệnh Project Gutenberg-tm là thúc đẩy việc phân phối miễn phí
các tác phẩm điện tử, bằng cách sử dụng hoặc phân phối tác phẩm này
(hoặc bất cứ tác phẩm nào khác có liên hệ dưới bất cứ hình thức nào với cụm từ
“Project Gutenberg”), bạn đồng ý tuân thủ mọi điều khoản của Giấy phép
Project Gutenberg-tm Đầy đủ có trong tập tin này hoặc trực tuyến tại
www.gutenberg.org/license.

Mục 1. Điều khoản Sử dụng Chung và Tái phân phối các tác phẩm điện tử
Project Gutenberg-tm

1.A. Bằng việc đọc hoặc sử dụng bất cứ phần nào của tác phẩm điện tử
Project Gutenberg-tm này, bạn cho biết rằng bạn đã đọc, hiểu, đồng ý với
và chấp nhận mọi điều khoản của giấy phép này và thỏa thuận sở hữu trí tuệ
(nhãn hiệu/bản quyền). Nếu bạn không đồng ý tuân thủ mọi điều khoản của
thỏa thuận này, bạn phải ngừng sử dụng và trả lại hoặc tiêu hủy mọi bản sao
của các tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm đang thuộc sở hữu của bạn.
Nếu bạn đã trả phí để nhận một bản sao hoặc quyền truy cập vào một tác phẩm
điện tử Project Gutenberg-tm và bạn không đồng ý bị ràng buộc bởi các điều khoản
của thỏa thuận này, bạn có thể nhận hoàn tiền từ người hoặc tổ chức mà bạn đã
trả phí như được quy định trong đoạn 1.E.8.

1.B. “Project Gutenberg” là một nhãn hiệu đã đăng ký. Nó chỉ có thể được
sử dụng trên hoặc gắn liền dưới bất cứ hình thức nào với một tác phẩm điện tử
bởi những người đồng ý bị ràng buộc bởi các điều khoản của thỏa thuận này.
Có một vài điều bạn có thể làm với hầu hết các tác phẩm điện tử
Project Gutenberg-tm ngay cả khi không tuân thủ đầy đủ các điều khoản của
thỏa thuận này. Xem đoạn 1.C bên dưới. Có rất nhiều điều bạn có thể làm với
các tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm nếu bạn tuân theo các điều khoản của
thỏa thuận này và giúp gìn giữ quyền truy cập miễn phí trong tương lai vào các
tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm. Xem đoạn 1.E bên dưới.

1.C. Project Gutenberg Literary Archive Foundation (“Quỹ”
hoặc PGLAF), sở hữu bản quyền biên tập đối với bộ sưu tập
các tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm. Gần như toàn bộ các tác phẩm riêng lẻ
trong bộ sưu tập đều thuộc phạm vi công cộng tại Hoa Kỳ. Nếu một tác phẩm riêng lẻ
không được luật bản quyền Hoa Kỳ bảo hộ và bạn đang ở Hoa Kỳ, chúng tôi không
tuyên bố quyền ngăn cản bạn sao chép, phân phối, trình diễn, hiển thị hoặc tạo
tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm đó miễn là mọi tham chiếu đến
Project Gutenberg được gỡ bỏ. Dĩ nhiên, chúng tôi hy vọng rằng bạn sẽ ủng hộ
sứ mệnh Project Gutenberg-tm là thúc đẩy quyền truy cập miễn phí vào các tác phẩm
điện tử bằng cách tự do chia sẻ các tác phẩm Project Gutenberg-tm phù hợp với
các điều khoản của thỏa thuận này để giữ tên Project Gutenberg-tm gắn liền với
tác phẩm. Bạn có thể dễ dàng tuân thủ các điều khoản của thỏa thuận này bằng cách
giữ tác phẩm này ở cùng định dạng với Giấy phép Project Gutenberg-tm đầy đủ
đính kèm khi bạn chia sẻ nó miễn phí với người khác.

1.D. Luật bản quyền của nơi bạn cư trú cũng chi phối những gì bạn có thể làm
với tác phẩm này. Luật bản quyền ở hầu hết các quốc gia luôn trong tình trạng
thay đổi. Nếu bạn ở ngoài Hoa Kỳ, hãy kiểm tra luật của quốc gia bạn bên cạnh
các điều khoản của thỏa thuận này trước khi tải xuống, sao chép, hiển thị,
trình diễn, phân phối hoặc tạo tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm này hoặc
bất cứ tác phẩm Project Gutenberg-tm nào khác. Quỹ không đưa ra bất cứ tuyên bố
nào liên quan đến tình trạng bản quyền của bất cứ tác phẩm nào tại bất cứ quốc gia
nào ngoài Hoa Kỳ.

1.E. Trừ khi bạn đã gỡ bỏ mọi tham chiếu đến Project Gutenberg:

1.E.1. Câu sau đây, với các liên kết hoạt động đến, hoặc cách truy cập tức thời
khác tới, Giấy phép Project Gutenberg-tm đầy đủ phải xuất hiện nổi bật mỗi khi
bất cứ bản sao nào của một tác phẩm Project Gutenberg-tm (bất cứ tác phẩm nào
trên đó có cụm từ “Project Gutenberg”, hoặc có liên hệ với cụm từ
“Project Gutenberg”) được truy cập, hiển thị, trình diễn, xem, sao chép hoặc
phân phối:

  eBook này dành cho bất cứ ai ở bất cứ nơi nào tại Hoa Kỳ và
  hầu hết các nơi khác trên thế giới sử dụng miễn phí và hầu như không có
  bất kỳ hạn chế nào. Bạn có thể sao chép, tặng lại hoặc tái sử dụng nó
  theo các điều khoản của Giấy phép Project Gutenberg kèm theo eBook này
  hoặc trực tuyến tại www.gutenberg.org. Nếu bạn không ở
  Hoa Kỳ, bạn sẽ phải kiểm tra luật của quốc gia nơi bạn
  cư trú trước khi sử dụng ebook này.

1.E.2. Nếu một tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm riêng lẻ được
tạo từ các văn bản không được luật bản quyền Hoa Kỳ bảo hộ (không
chứa thông báo cho biết rằng nó được đăng với sự cho phép của chủ sở hữu
bản quyền), tác phẩm có thể được sao chép và phân phối cho bất cứ ai tại
Hoa Kỳ mà không phải trả bất cứ khoản phí hay lệ phí nào. Nếu bạn đang
tái phân phối hoặc cung cấp quyền truy cập vào một tác phẩm có cụm từ
“Project Gutenberg” gắn liền hoặc xuất hiện trên tác phẩm, bạn phải tuân thủ
hoặc các yêu cầu của các đoạn 1.E.1 đến 1.E.7 hoặc
nhận sự cho phép sử dụng tác phẩm và nhãn hiệu Project Gutenberg-tm như được
quy định trong các đoạn 1.E.8 hoặc 1.E.9.

1.E.3. Nếu một tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm riêng lẻ được đăng
với sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền, việc bạn sử dụng và phân phối
phải tuân thủ cả các đoạn 1.E.1 đến 1.E.7 và mọi điều khoản bổ sung
do chủ sở hữu bản quyền áp đặt. Các điều khoản bổ sung sẽ được liên kết
với Giấy phép Project Gutenberg-tm đối với mọi tác phẩm được đăng với
sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền, tìm thấy ở phần đầu của tác phẩm này.

1.E.4. Không được hủy liên kết, tách rời hoặc gỡ bỏ toàn bộ các điều khoản
Giấy phép Project Gutenberg-tm khỏi tác phẩm này, hoặc bất cứ tập tin nào chứa
một phần của tác phẩm này hay bất cứ tác phẩm nào khác có liên hệ với
Project Gutenberg-tm.

1.E.5. Không được sao chép, hiển thị, trình diễn, phân phối hoặc tái phân phối
tác phẩm điện tử này, hoặc bất cứ phần nào của tác phẩm điện tử này, nếu không
hiển thị nổi bật câu được nêu trong đoạn 1.E.1 với các liên kết hoạt động hoặc
quyền truy cập tức thời tới toàn bộ các điều khoản của Giấy phép
Project Gutenberg-tm.

1.E.6. Bạn có thể chuyển đổi và phân phối tác phẩm này dưới bất cứ dạng nhị phân,
nén, đánh dấu, không độc quyền hoặc độc quyền nào, bao gồm mọi dạng xử lý văn bản
hoặc siêu văn bản. Tuy nhiên, nếu bạn cung cấp quyền truy cập hoặc phân phối
các bản sao của một tác phẩm Project Gutenberg-tm ở định dạng khác với
“Plain Vanilla ASCII” hoặc định dạng khác được dùng trong phiên bản chính thức
đăng trên trang web chính thức Project Gutenberg-tm
(www.gutenberg.org), bạn phải, không tính thêm chi phí, phí hay lệ phí nào
cho người dùng, cung cấp một bản sao, một phương tiện để xuất một bản sao, hoặc
một phương tiện để nhận một bản sao khi được yêu cầu, của tác phẩm dưới dạng
“Plain Vanilla ASCII” gốc hoặc dạng khác. Mọi định dạng thay thế phải bao gồm
Giấy phép Project Gutenberg-tm đầy đủ như được quy định trong đoạn 1.E.1.

1.E.7. Không được thu phí để truy cập, xem, hiển thị,
trình diễn, sao chép hoặc phân phối bất cứ tác phẩm Project Gutenberg-tm nào
trừ khi bạn tuân thủ đoạn 1.E.8 hoặc 1.E.9.

1.E.8. Bạn có thể thu một khoản phí hợp lý đối với các bản sao hoặc việc cung cấp
quyền truy cập hoặc phân phối các tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm
với điều kiện rằng

* Bạn trả phí bản quyền 20% trên tổng lợi nhuận mà bạn thu được từ
  việc sử dụng các tác phẩm Project Gutenberg-tm, được tính theo phương pháp
  bạn vốn dùng để tính các khoản thuế áp dụng của mình. Khoản phí này thuộc về
  chủ sở hữu nhãn hiệu Project Gutenberg-tm, nhưng người ấy đã
  đồng ý hiến tặng tiền bản quyền theo đoạn này cho
  Project Gutenberg Literary Archive Foundation. Các khoản thanh toán bản quyền
  phải được trả trong vòng 60 ngày sau mỗi ngày bạn chuẩn bị (hoặc bị pháp luật
  yêu cầu chuẩn bị) các tờ khai thuế định kỳ của mình. Các khoản thanh toán
  bản quyền phải được đánh dấu rõ ràng như vậy và gửi tới
  Project Gutenberg Literary Archive Foundation tại địa chỉ được nêu trong
  Mục 4, “Thông tin về các khoản quyên góp cho
  Project Gutenberg Literary Archive Foundation.”

* Bạn cung cấp hoàn tiền đầy đủ cho bất cứ khoản tiền nào do người dùng trả
  nếu người ấy thông báo cho bạn bằng văn bản (hoặc qua e-mail) trong vòng
  30 ngày kể từ khi nhận rằng người ấy không đồng ý với các điều khoản của
  Giấy phép Project Gutenberg-tm đầy đủ. Bạn phải yêu cầu người dùng ấy trả lại
  hoặc tiêu hủy mọi bản sao của các tác phẩm đang sở hữu trên phương tiện vật lý
  và chấm dứt mọi việc sử dụng và mọi quyền truy cập vào các bản sao khác của
  các tác phẩm Project Gutenberg-tm.

* Bạn cung cấp, theo đoạn 1.F.3, hoàn tiền đầy đủ đối với
  bất cứ khoản tiền nào đã trả cho một tác phẩm hoặc một bản sao thay thế, nếu
  một lỗi trong tác phẩm điện tử được phát hiện và báo cho bạn trong vòng
  90 ngày kể từ khi nhận tác phẩm.

* Bạn tuân thủ mọi điều khoản khác của thỏa thuận này về việc phân phối miễn phí
  các tác phẩm Project Gutenberg-tm.

1.E.9. Nếu bạn muốn thu phí hoặc phân phối một tác phẩm điện tử
Project Gutenberg-tm hoặc một nhóm tác phẩm theo những điều khoản khác với
những điều khoản được nêu trong thỏa thuận này, bạn phải nhận sự cho phép bằng
văn bản từ cả Project Gutenberg Literary Archive Foundation và The
Project Gutenberg Trademark LLC, chủ sở hữu nhãn hiệu Project Gutenberg-tm.
Liên hệ Quỹ như được nêu trong Mục 3 bên dưới.

1.F.

1.F.1. Các tình nguyện viên và nhân viên Project Gutenberg bỏ nhiều công sức
để xác định, nghiên cứu bản quyền, chép lại và hiệu đính
các tác phẩm không được luật bản quyền Hoa Kỳ bảo hộ khi tạo nên bộ sưu tập
Project Gutenberg-tm. Bất chấp những nỗ lực này, các tác phẩm điện tử
Project Gutenberg-tm, và phương tiện mà trên đó chúng có thể được lưu trữ,
có thể chứa “Khiếm khuyết,” chẳng hạn, nhưng không giới hạn ở, dữ liệu
không đầy đủ, không chính xác hoặc bị hỏng, lỗi chép lại, sự vi phạm bản quyền
hoặc quyền sở hữu trí tuệ khác, đĩa hoặc phương tiện khác bị lỗi hoặc hư hỏng,
virus máy tính, hoặc mã máy tính gây hư hại hoặc không thể được thiết bị của bạn
đọc.

1.F.2. BẢO ĐẢM GIỚI HẠN, TUYÊN BỐ MIỄN TRỪ THIỆT HẠI - Ngoại trừ “Quyền
Thay thế hoặc Hoàn tiền” được mô tả trong đoạn 1.F.3,
Project Gutenberg Literary Archive Foundation, chủ sở hữu nhãn hiệu
Project Gutenberg-tm, và bất cứ bên nào khác phân phối một tác phẩm điện tử
Project Gutenberg-tm theo thỏa thuận này, đều từ chối mọi trách nhiệm đối với
bạn về các thiệt hại, chi phí và phí tổn, bao gồm phí pháp lý. BẠN ĐỒNG Ý RẰNG
BẠN KHÔNG CÓ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC NÀO ĐỐI VỚI SƠ SUẤT, TRÁCH NHIỆM NGHIÊM NGẶT,
VI PHẠM BẢO ĐẢM HOẶC VI PHẠM HỢP ĐỒNG NGOẠI TRỪ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐƯỢC QUY ĐỊNH
TRONG ĐOẠN 1.F.3. BẠN ĐỒNG Ý RẰNG QUỸ, CHỦ SỞ HỮU NHÃN HIỆU VÀ BẤT CỨ NHÀ PHÂN
PHỐI NÀO THEO THỎA THUẬN NÀY SẼ KHÔNG CHỊU TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI BẠN VỀ CÁC THIỆT
HẠI THỰC TẾ, TRỰC TIẾP, GIÁN TIẾP, HỆ QUẢ, TRỪNG PHẠT HOẶC PHỤ PHÁT NGAY CẢ KHI
BẠN THÔNG BÁO VỀ KHẢ NĂNG XẢY RA THIỆT HẠI ĐÓ.

1.F.3. QUYỀN THAY THẾ HOẶC HOÀN TIỀN GIỚI HẠN - Nếu bạn phát hiện một
khiếm khuyết trong tác phẩm điện tử này trong vòng 90 ngày kể từ khi nhận,
bạn có thể nhận hoàn lại số tiền (nếu có) bạn đã trả cho nó bằng cách gửi
giải thích bằng văn bản cho người đã cung cấp tác phẩm cho bạn. Nếu bạn
nhận tác phẩm trên một phương tiện vật lý, bạn phải trả lại phương tiện ấy
cùng với giải thích bằng văn bản của mình. Người hoặc tổ chức đã cung cấp cho
bạn tác phẩm bị lỗi có thể chọn cung cấp một bản sao thay thế thay cho hoàn tiền.
Nếu bạn nhận tác phẩm bằng phương thức điện tử, người hoặc tổ chức cung cấp nó
cho bạn có thể chọn cho bạn cơ hội thứ hai để nhận tác phẩm bằng phương thức
điện tử thay cho hoàn tiền. Nếu bản sao thứ hai cũng bị lỗi, bạn có thể yêu cầu
hoàn tiền bằng văn bản mà không có thêm cơ hội nào để sửa vấn đề.

1.F.4. Ngoại trừ quyền thay thế hoặc hoàn tiền giới hạn được nêu trong
đoạn 1.F.3, tác phẩm này được cung cấp cho bạn “NGUYÊN TRẠNG”, KHÔNG CÓ
BẢO ĐẢM NÀO KHÁC DƯỚI BẤT CỨ HÌNH THỨC NÀO, DÙ RÕ RÀNG HAY NGỤ Ý, BAO GỒM NHƯNG
KHÔNG GIỚI HẠN Ở CÁC BẢO ĐẢM VỀ TÍNH THƯƠNG MẠI HOẶC SỰ PHÙ HỢP CHO BẤT CỨ
MỤC ĐÍCH NÀO.

1.F.5. Một số bang không cho phép tuyên bố miễn trừ một số bảo đảm ngụ ý nhất định
hoặc việc loại trừ hay giới hạn một số loại thiệt hại nhất định. Nếu bất cứ
tuyên bố miễn trừ hoặc giới hạn nào được nêu trong thỏa thuận này vi phạm
luật của bang áp dụng cho thỏa thuận này, thỏa thuận sẽ được diễn giải để tạo
ra tuyên bố miễn trừ hoặc giới hạn tối đa được luật bang áp dụng cho phép.
Tính vô hiệu hoặc không thể thi hành của bất cứ điều khoản nào trong thỏa thuận
này sẽ không làm vô hiệu các điều khoản còn lại.

1.F.6. BỒI HOÀN - Bạn đồng ý bồi hoàn và giữ cho Quỹ, chủ sở hữu nhãn hiệu,
bất cứ đại lý hoặc nhân viên nào của Quỹ, bất cứ ai cung cấp các bản sao của
các tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm theo thỏa thuận này, và bất cứ
tình nguyện viên nào liên quan đến việc sản xuất, quảng bá và phân phối
các tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm, không bị tổn hại trước mọi trách nhiệm,
chi phí và phí tổn, bao gồm phí pháp lý, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp từ
bất cứ việc nào sau đây mà bạn làm hoặc gây ra: (a) phân phối tác phẩm này
hoặc bất cứ tác phẩm Project Gutenberg-tm nào, (b) thay đổi, sửa đổi, hoặc
bổ sung hay xóa bỏ đối với bất cứ tác phẩm Project Gutenberg-tm nào, và
(c) bất cứ Khiếm khuyết nào do bạn gây ra.

Mục 2. Thông tin về Sứ mệnh của Project Gutenberg-tm

Project Gutenberg-tm đồng nghĩa với việc phân phối miễn phí
các tác phẩm điện tử ở những định dạng có thể đọc được bởi nhiều loại
máy tính nhất, bao gồm máy tính lỗi thời, cũ, trung niên và mới. Nó tồn tại
nhờ nỗ lực của hàng trăm tình nguyện viên và các khoản quyên góp
từ mọi tầng lớp trong đời sống.

Các tình nguyện viên và sự hỗ trợ tài chính để cung cấp cho tình nguyện viên
sự trợ giúp họ cần là thiết yếu để đạt các mục tiêu của Project Gutenberg-tm
và bảo đảm rằng bộ sưu tập Project Gutenberg-tm sẽ
tiếp tục được cung cấp miễn phí cho các thế hệ mai sau. Năm 2001,
Project Gutenberg Literary Archive Foundation được thành lập nhằm cung cấp
một tương lai an toàn và lâu dài cho Project Gutenberg-tm và các thế hệ
tương lai. Để biết thêm về Project Gutenberg Literary Archive Foundation
và cách nỗ lực cũng như quyên góp của bạn có thể giúp đỡ, xem
Mục 3 và 4 và trang thông tin của Quỹ tại
www.gutenberg.org

Mục 3. Thông tin về Project Gutenberg Literary Archive Foundation

Project Gutenberg Literary Archive Foundation là một tổ chức giáo dục
phi lợi nhuận 501(c)(3), được tổ chức theo luật của
bang Mississippi và được Sở Thuế vụ Liên bang cấp tình trạng miễn thuế.
EIN của Quỹ hay số nhận dạng thuế liên bang là 64-6221541. Các khoản đóng góp
cho Project Gutenberg Literary Archive Foundation được khấu trừ thuế trong
phạm vi đầy đủ được luật liên bang Hoa Kỳ và luật bang của bạn cho phép.

Văn phòng chính của Quỹ đặt tại Fairbanks, Alaska, với địa chỉ
thư tín: PO Box 750175, Fairbanks, AK 99775, nhưng
các tình nguyện viên và nhân viên của Quỹ phân tán ở nhiều
địa điểm. Văn phòng kinh doanh của Quỹ đặt tại 809 North 1500 West, Salt
Lake City, UT 84116, (801) 596-1887. Các liên kết liên hệ qua email và thông tin
liên hệ cập nhật có thể được tìm thấy tại trang web của Quỹ và
trang chính thức tại www.gutenberg.org/contact

Để biết thêm thông tin liên hệ:

    Dr. Gregory B. Newby
    Giám đốc Điều hành kiêm Giám đốc
    gbnewby@pglaf.org

Mục 4. Thông tin về các khoản Quyên góp cho Project Gutenberg
Literary Archive Foundation

Project Gutenberg-tm phụ thuộc vào và không thể tồn tại nếu thiếu sự ủng hộ
và quyên góp rộng rãi của công chúng để thực hiện sứ mệnh của mình là
gia tăng số lượng tác phẩm thuộc phạm vi công cộng và tác phẩm được cấp phép
có thể được phân phối miễn phí dưới dạng máy đọc được, truy cập được bằng
nhiều loại thiết bị nhất, bao gồm thiết bị lỗi thời. Nhiều khoản quyên góp nhỏ
($1 đến $5,000) đặc biệt quan trọng để duy trì tình trạng miễn thuế với IRS.

Quỹ cam kết tuân thủ các luật điều chỉnh
các tổ chức từ thiện và quyên góp từ thiện tại tất cả 50 bang của
Hoa Kỳ. Các yêu cầu tuân thủ không đồng nhất và cần một
nỗ lực đáng kể, nhiều giấy tờ và nhiều lệ phí để đáp ứng và theo kịp
các yêu cầu này. Chúng tôi không kêu gọi quyên góp tại các địa điểm
nơi chúng tôi chưa nhận được xác nhận bằng văn bản về việc tuân thủ. Để GỬI
QUYÊN GÓP hoặc xác định tình trạng tuân thủ đối với bất cứ bang cụ thể nào,
hãy truy cập www.gutenberg.org/donate

Dù chúng tôi không thể và không kêu gọi đóng góp từ các bang nơi chúng tôi
chưa đáp ứng các yêu cầu kêu gọi, chúng tôi không biết có lệnh cấm nào đối với
việc nhận các khoản quyên góp không được kêu gọi từ những nhà tài trợ tại các
bang ấy, những người chủ động đến với chúng tôi để đề nghị quyên góp.

Các khoản quyên góp quốc tế được hoan nghênh biết ơn, nhưng chúng tôi không thể
đưa ra bất cứ tuyên bố nào liên quan đến cách xử lý thuế đối với các khoản
quyên góp nhận được từ ngoài Hoa Kỳ. Riêng luật Hoa Kỳ đã nhấn chìm đội ngũ
nhỏ bé của chúng tôi.

Xin kiểm tra các trang Web Project Gutenberg để biết các phương thức và địa chỉ
quyên góp hiện hành. Các khoản quyên góp được nhận bằng nhiều cách khác nhau,
bao gồm séc, thanh toán trực tuyến và quyên góp bằng thẻ tín dụng. Để quyên góp,
xin truy cập: www.gutenberg.org/donate

Mục 5. Thông tin Chung về các tác phẩm điện tử Project Gutenberg-tm.

Giáo sư Michael S. Hart là người khởi xướng khái niệm
Project Gutenberg-tm về một thư viện các tác phẩm điện tử có thể được
tự do chia sẻ với bất cứ ai. Trong bốn mươi năm, ông đã sản xuất và
phân phối các eBook Project Gutenberg-tm chỉ với một mạng lưới hỗ trợ
tình nguyện lỏng lẻo.

Các eBook Project Gutenberg-tm thường được tạo từ nhiều ấn bản in,
tất cả đều được xác nhận là không được bản quyền bảo hộ tại Hoa Kỳ,
trừ khi có kèm thông báo bản quyền. Vì vậy, chúng tôi không nhất thiết
giữ eBook phù hợp với bất cứ ấn bản giấy cụ thể nào.

Hầu hết mọi người bắt đầu tại trang Web của chúng tôi, nơi có công cụ tìm kiếm
PG chính: www.gutenberg.org

Trang Web này bao gồm thông tin về Project Gutenberg-tm,
bao gồm cách quyên góp cho Project Gutenberg Literary
Archive Foundation, cách giúp sản xuất các eBook mới của chúng tôi, và cách
đăng ký nhận bản tin email của chúng tôi để nghe tin về các eBook mới.