TẬP HAI
Ấn hành tư riêng bởi The Burton Club
Kính gửi ông John Payne, Esq.
Thưa Ngài thân mến,
Xin cho phép tôi được công khai bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với công trình lớn lao của Ngài, “The Book of the Thousand Nights and One Night”; và xin dâng lên Ngài lời cảm tạ chân thành vì đã vinh danh tôi bằng lời đề tặng trong bản dịch uyên bác và đáng khâm phục ấy.
Mãi mãi chân thành của Ngài,
Richard F. Burton.
Queen's College, Oxford,
Ngày 1 tháng Tám, 1885.
Mục lục Tập Hai
Cuốn Sách Của
NGÀN ĐÊM VÀ MỘT ĐÊM
Shahrazad kể rằng [FN#1]:—Tâu đức vua cát tường, bậc trí tuệ thấu suốt mọi điều, chuyện truyền đến thần rằng trong số các vua xứ Bassorah[FN#2], có một vị vua yêu thương kẻ nghèo khó túng thiếu, nâng niu thần dân, và ban phát của cải cho hết thảy những ai tin nơi Mohammed (cầu Allah ban phúc lành và gìn giữ Người!), và ngài đúng như một thi nhân từng tả,
“Một đức vua, khi đạo quân thù tràn đến, * Đón chúng bằng mũi giáo xông pha và nhát gươm vung múa;
Ngài viết tên mình trên lồng ngực chúng bằng những dòng đỏ mảnh, * Và khiến kỵ binh tan tác trong nỗi kinh hoàng cuồng loạn.”[FN#3]
Tên ngài là vua Mohammed bin Sulayman al-Zayni, và ngài có hai vị tể tướng, một người gọi là Al-Mu'ín, con trai Sáwí, người kia là Al-Fazl, con trai Khákán. Bấy giờ Al-Fazl là người hào hiệp nhất trong dân chúng thời ấy, đời sống ngay chính, đến nỗi mọi trái tim đều hợp lại trong lòng yêu mến ông, và những bậc hiền trí kéo đến tìm ông để xin lời khuyên; còn thần dân thường cầu nguyện cho ông được trường thọ, bởi ông là sự gom tụ của những phẩm chất tốt đẹp nhất, khuyến khích điều thiện và điều đáng yêu, ngăn ngừa điều ác cùng sự phá hoại. Nhưng tể tướng Mu'ín bin Sáwí thì trái lại, ghét người đời[FN#4] và chẳng yêu điều thiện, chỉ là một khối hợp thành của những sự xấu xa; đúng như lời người ta nói về hắn,
“Hãy nương theo bậc quý nhân, con của quý nhân! Ấy vẫn là phép thử của Tự nhiên * Rằng người cao quý sinh từ dòng cao quý sẽ vượt trội trong việc cao quý:
Và hãy tránh kẻ đê tiện trong hồn, sinh trưởng đê hèn, vì đó là luật đời, * Việc hèn hạ đến từ những kẻ hèn hạ cả máu mủ lẫn giống nòi.”
Và dân chúng yêu mến, thiết tha yêu mến Al-Fazl bin Khákán bao nhiêu, thì họ ghét bỏ, căm ghét đến tận cùng kẻ đê tiện và keo kiệt Mu'ín bin Sáwí bấy nhiêu. Một ngày kia, bởi định mệnh của Đấng Định Đoạt, vua Mohammed bin Sulayman al-Zayni đang ngự trên ngai, chung quanh là các quan chức triều đình, bèn cho gọi tể tướng Al-Fazl đến và phán với ông, “Ta muốn có một nữ nô đẹp vượt bậc, hoàn mỹ về nhan sắc, tinh xảo về vóc dáng cân xứng, và được phú cho mọi tài năng đáng ngợi khen.” Các triều thần thưa, “Một cô gái như thế không thể mua dưới mười nghìn đồng vàng”; tức thì Sultan gọi quan coi kho bạc đến và phán, “Hãy mang mười nghìn dinar đến nhà Al-Fazl bin Khákán.” Quan coi kho bạc làm theo lệnh vua; còn vị tể tướng ra đi, sau khi nhận chiếu chỉ hoàng gia phải đến chợ bán nô mỗi ngày và giao việc nói trên cho các tay môi giới. Hơn nữa, nhà vua ban lệnh rằng các cô gái trị giá trên một nghìn đồng vàng thì không được mua hay bán nếu trước hết chưa đem trình cho tể tướng xem. Vì vậy chẳng có tay môi giới nào mua một nữ nô trước khi nàng được đưa qua trước mặt vị tể tướng; nhưng chẳng ai vừa ý ông, cho tới một hôm, một người buôn nô đến nhà và thấy ông đang lên ngựa, định vào cung. Hắn bèn nắm lấy bàn đạp của ông mà nói,
“Ôi ngài, người ban hương thơm cho vương quyền, * Ngài là tể tướng chẳng bao giờ thiếu ân sủng!
Lòng Hào Phóng đã chết, ngài khiến sống lại cho người đời; * Xin ân huệ của Allah chẳng bao giờ rời nỗ lực cao vời ấy!”
Rồi hắn nói, “Thưa chúa công, vật phẩm tuyệt trần mà vì nó mệnh lệnh ân hậu đã ban ra, rốt cuộc đã tìm thấy; [FN#5]” và tể tướng nói, “Hãy đưa nàng đến đây cho ta!” Vậy hắn đi khỏi, rồi lát sau trở lại, đem theo một thiếu nữ vận xiêm y cực kỳ lộng lẫy, một trinh nữ vóc dáng thẳng như ngọn giáo, cao năm bộ; bầu ngực mới nhú, đôi mắt to đen như vẽ bằng Kohl, môi ướt mọng ngọt hơn mật nước hay thứ sherbet người ta nhấp uống, một thiếu nữ trinh nguyên má mịn mặt duyên, lưng thon điểm cùng hông đầy nở nang; hình dung quyến rũ hơn cành non lay động trên ngọn cây cao nhất; và giọng nói mềm mại dịu dàng hơn làn gió mai, đúng như một trong những người từng tả nàng đã nói,
“Lạ thay vẻ quyến rũ tô điểm đôi mày nàng như đĩa trăng Luna sáng ngời; * Ôi hương vị ngọt hơn cả Robb[FN#6] ngọt nhất hay nho khô từ dây nho.
Tầng Empyrean giữ một ngai cho nàng trong cảnh cao sang rực rỡ, * Vì trí tuệ, sự khôn ngoan, dáng vóc như cành liễu và đường cong duyên dáng:
Nàng phô nơi Thiên Đường của gương mặt[FN#7] bảy vì sao chồng lớp, * Canh giữ đôi má nàng như vệ tinh chống lại mưu đồ kẻ rình xem:
Nếu người nào liếc trộm hay đánh cắp một cái nhìn xa về phía nàng, * Tim hắn sẽ bị thiêu bởi những tia sét quỷ ma bắn ra từ đôi mắt xuyên thấu ấy.”
Khi tể tướng trông thấy nàng, nàng khiến ông kinh ngạc bởi lòng thán phục quá chừng, nên ông quay sang người môi giới, hết sức hài lòng, và hỏi, “Giá cô gái này là bao nhiêu?”; hắn đáp, “Giá thị trường của nàng là mười nghìn dinar, nhưng chủ nàng thề rằng món tiền ấy còn chưa đủ bù phí những con gà nàng đã ăn, rượu nàng đã uống, và áo danh dự ban cho thầy dạy của nàng: bởi nàng đã học thư pháp, cú pháp và từ nguyên; các bản chú giải kinh Koran; nguyên lý luật pháp và tôn giáo; quy tắc y học, lịch pháp và nghệ thuật chơi nhạc cụ.”[FN#8] Tể tướng nói, “Đưa chủ nàng đến cho ta.” Vậy người môi giới lập tức đưa hắn đến, và kìa, hắn là một người Ba Tư mà tháng ngày chỉ còn để lại cho hắn chừng ấy; bởi hắn trọc trụi và đóng vảy như kền kền, như bức tường run rẩy sắp sụp. Thời gian đã vùi dập hắn bằng những đòn đau dữ dội, song hắn vẫn chưa muốn rời bỏ cõi đời này; đúng như thi nhân nói,
“Thời gian đã đập tan cả hình hài ta, * Ôi! thời gian đã đập tan ta xiết bao.
Thời gian với uy quyền chúa tể có thể thuần phục * Sức mạnh nam nhi và khí lực tự do.
Thuở thanh xuân ta, chẳng ai * Đi đường nhanh nhẹn và mau lẹ hơn:
Nay thời gian còn đó mà sức ta đã mất, * Tuổi trẻ đã qua, và tốc độ cũng tàn.[FN#9]”
Tể tướng hỏi hắn, “Ngươi có bằng lòng bán nữ nô này cho Sultan với giá mười nghìn dinar chăng?”; người Ba Tư đáp, “Nhân danh Allah, dẫu tôi dâng nàng cho đức vua không lấy một đồng, ấy cũng chỉ là bổn phận của tôi.”[FN#10] Vậy vị tể tướng truyền đem tiền đến, và nhìn chúng được cân đủ cho người Ba Tư, kẻ đứng lên trước mặt ông và nói, “Nhờ phép chúa công tể tướng của chúng ta, tôi có đôi lời muốn thưa”; và tể tướng đáp, “Hãy nói ra hết những gì ngươi có!” Người buôn nô tiếp, “Theo ý tôi, ngài không nên đưa cô gái vào trình vua trong ngày hôm nay; bởi nàng vừa mới đi đường xa tới; sự đổi khí hậu[FN#11] đã ảnh hưởng đến nàng, và những nhọc nhằn vất vả đã làm nàng tiều tụy. Xin hãy để nàng yên trong cung thất của ngài chừng mười ngày, để nàng phục hồi dung sắc và trở lại như xưa. Rồi hãy sai nàng đến Hammam, mặc cho nàng những y phục lộng lẫy nhất và đưa nàng lên chầu Sultan: điều ấy sẽ có lợi hơn cho ngài.” Tể tướng suy ngẫm lời người Ba Tư và thấy khôn ngoan; vì vậy ông đưa nàng về dinh, bố trí cho nàng phòng riêng, và mỗi ngày cho nàng mọi thứ nàng muốn về thức ăn, thức uống và những thứ khác. Theo cách ấy nàng lưu lại một thời gian. Bấy giờ tể tướng Al-Fazl có một người con trai như vầng trăng tròn khi rực rỡ nhất, gương mặt tỏa sáng, đôi má hồng tươi, và một nốt ruồi như chấm long diên hương trên nơi lông tơ mịn mọc; như thi nhân đã nói về chàng, và nói rất đúng rằng,
“Một vầng trăng làm ngươi héo tàn[FN#12] nếu dám nhìn ngắm; * Một cành cây ôm lấy ngươi trong nếp lượn đưa của nó:
Những lọn tóc của người Zanj[FN#13] và ánh vàng lấp lánh trong mái tóc; * Dáng đi ngọt ngào và hình vóc như ngọn giáo để chiếm lấy và giữ gìn:
Ôi! trái tim cứng cỏi với vòng eo mềm mại mảnh mai nhất, * Sao chẳng biến điều ác ấy thành phúc lành này?[FN#14]
Nếu sự mềm mại của vóc dáng ngươi đặt vào trái tim ngươi, * Người yêu ngươi sẽ chẳng bao giờ thấy ngươi nghiệt ngã lạnh lùng:
Ôi kẻ buộc tội kia! hãy biện hộ cho tình yêu của ta, * Chớ trách nếu những cơn đau tình ái giáng xuống ta bao nỗi khổ không lời!
Ta không mang lỗi: ấy đều do tim ta và mắt ta; * Vậy hãy thôi trách móc, để ta khát khao và mòn mỏi.”
Bấy giờ chàng thanh niên tuấn tú không hay biết gì về chuyện người thiếu nữ; còn cha chàng đã căn dặn nàng rất nghiêm, rằng, “Hãy biết, hỡi con gái ta, rằng ta đã mua nàng làm bạn gối chăn cho đức vua của chúng ta, Mohammed bin Sulayman al-Zayni; và ta có một đứa con trai là quỷ Satan đối với gái đẹp, nó không để một thiếu nữ nào trong vùng lân cận mà không đoạt mất trinh tiết; vậy nàng hãy đề phòng nó và coi chừng đừng để nó thấy mặt hay nghe giọng nàng.” Cô gái đáp, “Xin nghe và tuân lệnh”; rồi ông rời nàng mà đi. Vài ngày sau đó, bởi sắc lệnh của Định Mệnh, nàng vào phòng tắm trong nhà, nơi vài nữ nô tắm rửa cho nàng; sau đó nàng khoác lên mình xiêm y xa hoa; và nhờ thế vẻ đẹp cùng duyên dáng của nàng tăng gấp bội. Rồi nàng vào gặp phu nhân của tể tướng và hôn tay bà; bà chủ nói với nàng, “Naiman! Mong điều ấy làm lợi cho con,[FN#15] hỡi Anis al-Jalis![FN#16] Phòng tắm của chúng ta chẳng đẹp hay sao?” Nàng đáp, “Thưa phu nhân của con, nơi ấy không thiếu gì ngoài sự hiện diện ân hậu của người.” Nghe vậy phu nhân nói với các nữ nô của mình, “Hãy cùng ta đến Hammam, vì đã mấy ngày rồi chúng ta chưa đến đó”; họ đáp, “Nghe là vâng!” rồi đứng dậy và tất cả đi theo bà. Bấy giờ bà đã đặt hai nữ nô nhỏ canh cửa căn phòng riêng nơi có Anis al-Jalis, và dặn họ, “Chớ để ai vào gặp cô gái.” Lát sau, khi thiếu nữ xinh đẹp đang ngồi nghỉ trong phòng mình, đột nhiên con trai tể tướng, tên là Nur al-Din Ali,[FN#17] bước vào và hỏi mẹ cùng các nữ nhân của bà đâu; hai nữ nô nhỏ đáp, “Họ đang ở Hammam.” Nhưng thiếu nữ Anis al-Jalis ở bên trong đã nghe giọng của Nur al-Din Ali và tự nhủ, “Ôi ước gì Trời cho ta thấy chàng thanh niên mà tể tướng đã cảnh báo, nói rằng chàng chưa để một trinh nữ nào trong vùng lân cận mà không đoạt lấy trinh tiết; nhân danh Allah, ta thật khao khát được nhìn thấy chàng!” Vậy nàng bật dậy, trên người còn sự tươi mới của lần tắm, bước ra cửa, nhìn Nur al-Din Ali và thấy một chàng trai như trăng tròn, cái nhìn ấy để lại cho nàng nghìn tiếng thở dài. Chàng thanh niên cũng liếc nhìn nàng, và ánh mắt ấy khiến chàng thừa hưởng nghìn ý nghĩ âu lo; và cả hai đều sa vào chiếc bẫy sẵn sàng của Tình Yêu. Rồi chàng bước tới hai nữ nô nhỏ và quát lớn; tức thì cả hai chạy trốn trước mặt chàng, rồi đứng xa mà nhìn xem chàng sẽ làm gì. Và kìa, chàng đi đến cửa phòng thiếu nữ, mở ra, bước vào và hỏi nàng, “Nàng có phải là người cha ta mua cho ta chăng?” nàng đáp, “Vâng.” Thế là chàng trai, lúc ấy nồng hơi rượu, tiến đến ôm nàng; rồi chàng nâng chân nàng vòng quanh eo mình, còn nàng quấn tay quanh cổ chàng, đáp lại bằng những nụ hôn, tiếng rì rầm khoái lạc và những trò ân ái. Kế đó chàng mút lưỡi nàng và nàng mút lưỡi chàng, cuối cùng chàng cởi dây quần váy của nàng và phá vỡ trinh tiết nàng. Khi hai nữ nô nhỏ thấy cậu chủ trẻ của họ vào với thiếu nữ Anis al-Jalis, họ kêu lên và thét lớn; nên vừa khi chàng trai đã thỏa ý xấu xa của mình với nàng, chàng đứng dậy và chạy trốn, sợ hậu quả việc làm sai trái. Khi phu nhân tể tướng nghe tiếng kêu của các nữ nô, bà bật dậy và ra khỏi phòng tắm, mồ hôi đổ trên mặt, nói, “Tiếng ồn ào bất nhã gì trong nhà thế này[FN#18]?” Rồi bà đến chỗ hai nữ nô nhỏ và hỏi họ rằng, “Đồ đáng trách! Có chuyện gì?”; cả hai đáp, “Quả thật chúa công Nur al-Din của chúng ta đã vào và đánh chúng con, nên chúng con chạy trốn; rồi ngài đến chỗ Anis al-Jalis, quàng tay ôm nàng và chúng con không biết sau đó ngài đã làm gì; nhưng khi chúng con kêu lên gọi phu nhân thì ngài chạy mất.” Nghe vậy phu nhân đến gặp Anis al-Jalis và nói với nàng, “Tin tức thế nào?” Nàng đáp, “Thưa phu nhân, khi con đang ngồi đây thì kìa! một chàng thanh niên đẹp trai bước vào và nói với con:—Nàng có phải là người cha ta mua cho ta chăng?; và con đáp Vâng; bởi, nhân danh Allah, thưa phu nhân của con, con đã tin lời ngài ấy là thật; rồi tức khắc ngài ấy bước vào ôm lấy con.” Phu nhân hỏi, “Nó chẳng làm gì khác với con ngoài điều ấy sao?” và nàng đáp, “Quả thật chàng có làm! Nhưng chàng chỉ làm ba lần thôi.” “Nó chẳng để con yên mà không làm nhục con!” phu nhân tể tướng kêu lên, rồi sa vào khóc lóc và đấm vào mặt, cùng với cô gái và tất cả các tỳ nữ, vì sợ cha của Nur al-Din sẽ giết chàng.[FN#19] Trong lúc họ đang như vậy, tể tướng bước vào và hỏi chuyện gì đã xảy ra; vợ ông nói với ông, “Hãy thề rằng bất cứ điều gì thiếp nói, chàng sẽ nghe theo.” Ông đáp, “Ta sẽ nghe.” Vậy bà kể lại cho ông điều con trai ông đã làm, khiến ông hết sức lo lắng, xé áo mình, đánh vào mặt đến nỗi mũi chảy máu, và bứt râu từng nắm. Vợ ông nói, “Đừng tự giết mình, thiếp sẽ lấy tiền riêng đưa chàng mười nghìn dinar, đúng giá của nàng.” Nhưng ông ngẩng đầu lên và kêu, “Khốn cho nàng! Ta không cần tiền mua nàng: điều ta sợ là mất cả mạng lẫn tiền.” “Thưa chúa công, sao lại thế?” “Nàng chẳng biết kẻ thù của chúng ta Al Mu'ín bin Sáwí đang đứng kia hay sao, kẻ mà ngay khi nghe chuyện này sẽ lên gặp Sultan”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ ba mươi lăm đến,
Nàng tiếp tục, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng nói với vợ, “Nàng chẳng biết kẻ thù của chúng ta Al-Mu'ín bin Sáwí đang đứng kia hay sao, kẻ mà ngay khi nghe chuyện này sẽ lên gặp Sultan và thưa với ngài, ‘Tể tướng của ngài, người mà ngài muốn tin là yêu kính ngài, đã lấy từ ngài mười nghìn ducat và dùng số ấy mua một nữ nô mà trên đời chẳng ai từng thấy ai giống nàng; nhưng khi hắn thấy nàng, nàng làm hắn vừa ý, và hắn nói với con trai mình, ‘Hãy lấy nàng: con xứng với nàng hơn Sultan.’ Vậy con hắn lấy nàng và phá mất trinh tiết nàng, nay nàng đang ở trong nhà hắn.’ Nhà vua sẽ phán, ‘Ngươi nói dối!’; hắn sẽ đáp, ‘Nếu ngài cho phép, thần sẽ bất ngờ ập vào nhà hắn và đem nàng đến cho ngài.’ Nhà vua sẽ bảo đảm cho hắn việc ấy, và hắn sẽ tràn xuống ngôi nhà, bắt cô gái và dâng nàng lên Sultan, người sẽ hỏi nàng, và nàng sẽ không thể phủ nhận chuyện đã qua. Rồi kẻ thù của ta sẽ thưa, ‘Thưa chúa công, ngài biết rằng thần luôn dâng cho ngài lời khuyên tốt nhất; nhưng thần chẳng được ân sủng trong mắt ngài.’ Khi ấy Sultan sẽ đem ta làm gương răn, ta sẽ thành trò cho mọi người nhìn ngắm, và mạng ta sẽ mất.” Vợ ông nói, “Xin đừng để ai biết chuyện đã xảy ra kín đáo này, và hãy phó thác việc của chàng cho Allah, tin cậy Người cứu chàng khỏi cơn eo hẹp ấy; bởi Đấng biết tương lai sẽ lo liệu cho tương lai.” Nói rồi bà đem cho tể tướng một chén rượu, trái tim ông lắng dịu, và ông thôi giận dữ sợ hãi. Chuyện về ông tới đây; còn về con trai ông là Nur al-Din Ali, vì sợ hậu quả của tội lỗi mình, chàng ở suốt ngày trong vườn hoa và chỉ trở về vào ban đêm trong phòng mẹ để ngủ; rồi trước bình minh lại dậy quay về các khu vườn. Chàng cứ làm như vậy trọn hai tháng không để cha mình thấy mặt, cho tới cuối cùng mẹ chàng nói với cha chàng, “Thưa chúa công, chẳng lẽ chúng ta mất cả con trai lẫn cô gái sao? Nếu sự việc cứ kéo dài như thế này, nó sẽ bỏ trốn khỏi chúng ta.” Ông hỏi, “Vậy phải làm gì?” bà đáp, “Đêm nay chàng hãy thức canh; khi nó về, hãy bắt lấy nó và dọa nó: thiếp sẽ cứu nó khỏi tay chàng, còn chàng hãy làm hòa với nó và gả cô gái cho nó làm vợ, vì nàng yêu nó như nó yêu nàng. Và thiếp sẽ trả chàng giá tiền nàng.” Vậy đêm ấy vị tể tướng ngồi đợi, và khi con trai ông trở về, ông bắt lấy chàng, ném xuống đất, quỳ trên ngực chàng và làm như sắp cắt cổ chàng; nhưng mẹ chàng chạy đến cứu chàng trai và hỏi chồng, “Chàng định làm gì với nó?” Ông đáp, “Ta sẽ xẻ cuống họng nó.” Người con nói với cha, “Vậy cái chết của con là chuyện nhẹ đối với cha sao?”; mắt cha chàng trào lệ, bởi tình phụ tử lay động ông, và ông đáp, “Hỡi con trai ta, với con thì sự mất mát của của cải và mạng sống ta cũng nhẹ nhàng biết bao!” Nur al-Din nói, “Thưa cha, hãy nghe điều thi nhân đã nói,
‘Xin hãy tha thứ cho con! Con đã phạm tội với cha, nhưng bậc hiền trí * Chẳng bao giờ khước từ ân huệ đối với kẻ có tội:
Kẻ thù của cha cũng có thể cầu xin tha thứ khi hắn nằm * Ở nơi thấp nhất, còn cha giữ vị thế cao nhất!’”
Nghe vậy tể tướng đứng dậy khỏi ngực con trai, nói, “Ta tha thứ cho con!”; bởi lòng ông hướng về chàng; còn chàng trai hôn tay cha mình, và ông nói, “Hỡi con trai ta, nếu ta chắc rằng con sẽ đối xử công bằng với Anis al-Jalis, ta sẽ trao nàng cho con.” “Thưa cha, con phải đối xử công bằng với nàng thế nào?” “Ta dặn con, hỡi con trai ta, chớ lấy vợ khác hay tỳ thiếp khác để chia sẻ cùng nàng, cũng chớ bán nàng.” “Thưa cha! Con thề với cha rằng quả thật con sẽ không bất công với nàng theo cả hai cách ấy.” Sau khi thề như vậy, Nur al-Din vào với thiếu nữ và ở cùng nàng trọn một năm, trong khi Allah Toàn năng khiến nhà vua quên mất chuyện về cô gái; còn Al-Mu'ín, dù sự việc lọt đến tai hắn, cũng không dám tiết lộ vì đối thủ của hắn đang được Sultan hết sức sủng ái. Cuối năm ấy, một ngày kia Al-Fazl đến phòng tắm công cộng; và khi ông bước ra, người vẫn còn đẫm mồ hôi, gió thổi vào ông[FN#20] khiến ông nhiễm lạnh, rồi chuyển thành cơn sốt; sau đó ông nằm liệt giường. Bệnh của ông ngày một nặng, sự bứt rứt kéo dài trên ông, và yếu đuối trói ông như xiềng xích; nên ông gọi lớn, “Đưa con trai ta đến đây”; và khi Nur al-Din Ali đến, ông nói với chàng, “Hỡi con trai ta, hãy biết rằng phần số và phương tiện của con người đều đã được phân chia và định sẵn; và kết cuộc của ngày tháng thì mọi người đều phải chịu; và mỗi linh hồn uống cạn chén tử vong là nhu cầu của tự nhiên.” Rồi ông ngâm những câu này,
“Ta chết cái chết của ta, nhưng chỉ có Người là vĩ đại, Đấng không chết! * Và ta biết rõ, chẳng bao lâu ta sẽ chết, vì cái chết là phần số dành cho ta:
Chẳng có vị vua nào chết đi mà còn giữ vương quốc trong tay, * Bởi Vương quyền, Vương quốc thuộc về Đấng không chết.”
Rồi ông nói tiếp, “Hỡi con trai ta, ta chẳng để lại lời dặn nào cho con ngoài việc con hãy kính sợ Allah, hãy xét đến hậu quả các hành vi của mình và ghi nhớ những điều ta đã căn dặn về Anis al-Jalis.” Nur al-Din nói, “Thưa cha! Ai sánh được với cha? Quả thật cha nổi tiếng vì những việc lành, và các giáo sĩ cầu nguyện cho cha trên bục giảng!” Al-Fazl đáp, “Hỡi con trai ta, ta hy vọng Allah Toàn năng sẽ ban cho ta sự tiếp nhận!” Rồi ông đọc Hai Lời Chứng[FN#21], hay những lời tuyên xưng Đức Tin, và được ghi tên vào hàng những người có phúc. Dinh phủ đầy tiếng khóc than, tin ông qua đời đến tai nhà vua, và dân trong thành khóc thương, cả những người đang cầu nguyện, những phụ nữ đang lo việc nhà, và các trẻ em trường học cũng rơi lệ vì Bin-Khákán. Rồi con trai ông, Nur al-Din Ali, đứng lên chuẩn bị tang lễ cho ông, các Emir, tể tướng, đại quan triều đình và danh nhân trong thành đều có mặt, trong số ấy có tể tướng al-Mu'ín bin Sáwí. Và khi quan tài được đưa ra khỏi nhà, một người trong đám tang bắt đầu ngâm những câu này,
“Ngày thứ năm ta rời bỏ mọi bằng hữu mãi mãi, * Và họ đặt ta nằm, tắm rửa ta trên phiến đá ngoài cửa nhà:[FN#22]
Họ cởi khỏi ta những áo quần ta vẫn quen mặc, * Và mặc cho ta những áo quần mà trước đó ta chưa từng mặc bao giờ.
Trên cổ bốn người, họ khiêng ta và mang ta rời nhà * Đến nhà nguyện; và có người cầu nguyện cho kẻ trên cổ họ khiêng:
Họ cầu cho ta một lời cầu chẳng hề có phủ phục;[FN#23] * Họ cầu cho ta, những người từng ngợi ca ta và xưa kia là bạn ta;
Và họ đặt ta trong một ngôi nhà có trần vòm che phủ, * Và Thời gian sẽ chẳng còn nữa trước khi nó mở cửa cho ta.”
Khi họ đã xúc đất phủ lên ông và đám đông tản đi, Nur al-Din trở về nhà, than khóc bằng những tiếng nức nở và dòng lệ; và cái lưỡi của hoàn cảnh lặp lại những đôi câu này,
“Ngày thứ năm lúc chiều tà, họ rời xa ta: * Ta từ biệt họ khi cuộc ra đi khiến biệt ly thành số phận của ta:
Nhưng linh hồn ta, khi họ ra đi, cũng đi cùng họ, nên ta kêu, * ‘Ôi hãy trở lại!’ nhưng nàng đáp, ‘Than ôi! trở lại thì không
Về với một khung hình trống rỗng hoang phế, thiếu máu và sự sống, * Một khung thân chẳng còn gì ngoài xương cốt lách cách và mục rữa:
Mắt ta mù chẳng thể thấy, bị dòng lệ tuôn làm tắt lịm! * Tai ta điếc và mất cảm giác: chúng chẳng còn quyền năng để nghe!’”
Chàng ở một thời gian dài, đau buồn vì cha, cho tới một ngày kia, khi chàng đang ngồi ở nhà, có tiếng gõ cửa; chàng bèn vội đứng dậy, mở cửa cho một người vào, là một trong những bạn thân của cha chàng và từng là bạn rượu của vị tể tướng. Vị khách hôn tay Nur al-Din và nói với chàng, “Thưa chúa công, người để lại một kẻ như ngài thì chưa chết; và Đấng Đứng Đầu của người xưa và người nay[FN#24] cũng đã đi theo đường này. Thưa chúa công Ali, xin hãy khuây khỏa và thôi sầu muộn.” Nghe vậy Nur al-Din đứng dậy, đi đến phòng tiếp khách, chuyển đến đó mọi thứ mình cần. Rồi chàng tụ họp bạn bè và lại nhận nữ tỳ của mình; đồng thời gom quanh mình mười người con trai của các thương nhân, bắt đầu ăn thịt uống rượu, mở hết tiệc này đến tiệc khác, phung phí quà tặng cùng ân huệ của mình. Một ngày kia, viên quản gia đến với chàng và nói, “Thưa chúa công Nur al-Din, ngài chưa từng nghe câu nói: Kẻ tiêu mà chẳng tính, sẽ đến nghèo mà chẳng hay sao?” Và ông đọc lại điều thi nhân đã viết,
“Ta trông nom tiền của mình và giữ nó cẩn thận, * Vì ta biết rất rõ nó là khiên và gươm của ta:
Nếu ta phung phí dirham cho những kẻ thù địch nhất,[FN#25] * Ta sẽ đổi vận may của mình lấy vận rủi do chính ta mắc bẫy:
Vậy ta sẽ ăn nó, uống nó và vui hưởng của cải ta; * Và ta chẳng chịu tiêu đồng xu của mình cho kẻ khác:
Ta sẽ giữ chặt túi tiền trước bất cứ ai; * Và ta chưa từng thấy kẻ keo kiệt trong thóc hạt là bạn chân thật:
Từ chối hắn còn tốt hơn đi đến nói:—Hãy cho vay, * Và món vay sẽ trở lại tay ngươi gấp năm lần!
Rồi hắn quay mặt sang bên và lảng đi, * Còn ta đứng như con chó thất vọng, mất hết khí phách.
Ôi, số phận đáng thương của kẻ chẳng có đồng vàng nào, * Dẫu tài trí và đức hạnh hắn sáng như mặt trời!
“Thưa chủ nhân,” viên quản gia nói tiếp, “sự chi tiêu phung phí và những món quà tráng lệ này làm hao mòn của cải.” Khi Nur al-Din Ali nghe những lời ấy, chàng nhìn đầy tớ của mình và kêu lên, “Trong mọi điều ngươi đã nói, ta sẽ chẳng để tâm lấy một lời, bởi ta đã nghe câu nói của thi nhân rằng,
‘Nếu lòng bàn tay ta đầy của cải mà ta chẳng ban phát của cải, * Thì tay ta hãy bại liệt và chân ta đừng bao giờ đứng dậy nữa!
Hãy chỉ cho ta kẻ keo kiệt nào nhờ keo kiệt mà vươn lên địa vị cao, * Hay người hào phóng nào bị lòng hào phóng giết chết vì tặng quà.’”
Và chàng nói tiếp, “Hãy biết, hỡi quản gia, ý ta là chừng nào ngươi còn đủ tiền cho bữa sáng của ta, ngươi chớ làm phiền ta bằng chuyện lo nghĩ đến bữa tối.” Nghe vậy viên quản gia hỏi, “Phải như thế sao?”; và chàng đáp, “Phải như thế.” Vậy người trung thực ấy lui đi, còn Nur al-Din Ali dốc mình vào sự xa hoa; và nếu một người bạn chén của chàng tình cờ nói, “Vật này xinh đẹp thật”; chàng sẽ đáp, “Ấy là quà tặng cho ngươi!”; hoặc nếu người khác nói, “Thưa chúa công, căn nhà ấy đẹp quá”; chàng sẽ đáp, “Hãy lấy đi: nó là của ngươi!” Theo lối phóng túng ấy chàng tiếp tục sống trọn một năm, đãi bạn bè một bữa tiệc buổi sáng, một bữa tiệc buổi chiều và một bữa tiệc lúc nửa đêm, cho tới một ngày kia, khi cả nhóm đang ngồi với nhau, thiếu nữ Anis al-Jalis ngâm những câu này,
“Ngươi nghĩ tốt về Thời gian khi ngày tháng êm xuôi, * Và chẳng sợ Định Mệnh có thể giáng xuống ngươi tai ương nào:
Những đêm quá đẹp và yên nghỉ đã lừa dối ngươi, * Bởi những đêm bình an mang đến nỗi khốn khổ nặng nề.”
Khi nàng dứt lời thơ, kìa có ai đó gõ cửa. Vậy Nur al-Din đứng lên mở cửa, và một người bạn rượu của chàng lặng lẽ theo sau mà chàng không hay. Tới cửa, chàng thấy viên quản gia và hỏi ông, “Có chuyện gì?”; ông đáp, “Thưa chúa công, điều tôi lo sợ cho ngài đã xảy đến!” “Làm sao vậy?” “Xin biết rằng trong tay tôi chẳng còn lại thứ gì đáng giá một dirham, dù ít hay nhiều. Đây là các Daftar và sổ sách kế toán của tôi, ghi cả thu nhập lẫn chi tiêu, cùng các sổ kê tài sản gốc của ngài.” Khi Nur al-Din nghe những lời này, chàng cúi đầu và nói, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah!” Khi người đã lén đi theo để dò xét chàng nghe lời viên quản gia, hắn trở lại với bạn bè và báo cho họ rằng, “Các người hãy cẩn thận xem mình làm gì: Nur al-Din đã trắng tay”; và khi chàng chủ trẻ trở lại với khách, vẻ bực bội lộ trên mặt chàng. Bấy giờ một người thân cận đứng dậy; nhìn chủ tiệc, nói với chàng, “Thưa chúa công, có lẽ ngài cho phép tôi lui về?” Chàng hỏi, “Sao hôm nay lại lui sớm vậy?” người kia đáp, “Vợ tôi đang sinh nở, tôi không thể vắng mặt: quả thật tôi phải trở về xem nàng ra sao.” Vậy chàng cho phép hắn, tức thì một người khác đứng dậy và nói, “Thưa chúa công Nur al-Din, bây giờ tôi muốn đến nhà anh tôi, vì hôm nay anh ấy làm lễ cắt bao quy đầu cho con trai.”[FN#26] Tóm lại, từng người một đều xin phép lui về với cớ này hay cớ khác, cho tới khi cả mười người ra đi, để Nur al-Din lại một mình. Rồi chàng gọi nữ nô của mình và nói với nàng, “Hỡi Anis al-Jalis, nàng đã thấy tình cảnh của ta chưa?” Và chàng kể cho nàng điều viên quản gia đã nói. Bấy giờ nàng đáp, “Thưa chúa công, đã nhiều đêm thiếp định nói với chàng về chuyện này, nhưng thiếp nghe chàng ngâm,
‘Khi Thế gian chất ân huệ lên ngươi, hãy chuyển tiếp * Ân huệ của ngươi cho bạn bè trước khi tay nàng dừng lại:
Sự rộng rãi chẳng bao giờ để nàng ở lại khi nàng muốn đến, * Cũng chẳng có keo kiệt nào giữ nàng khỏi quay đi!’
Khi thiếp nghe những câu thơ ấy, thiếp im lặng và chẳng muốn đổi với chàng một lời.” Nur al-Din nói, “Hỡi Anis al-Jalis, nàng biết rằng ta chẳng phung phí của cải mình vào đâu ngoài bạn bè, nhất là mười kẻ này, những kẻ giờ đã bỏ ta thành người khốn cùng, và ta nghĩ họ sẽ không bỏ rơi, ruồng rẫy ta mà chẳng giúp đỡ.” Nàng đáp, “Nhân danh Allah, họ sẽ chẳng giúp gì được cho chàng đâu.” Chàng nói, “Ta sẽ đứng dậy ngay và đi đến họ, gõ cửa từng nhà; biết đâu ta sẽ lấy được từ họ chút gì để buôn bán, rồi bỏ thú vui cùng chơi bời.” Vậy chàng đứng dậy không chậm trễ, đi đến con phố nơi cả mười người bạn của chàng đều sống. Chàng đến cánh cửa gần nhất và gõ; tức thì một nữ tỳ bước ra hỏi, “Ngươi là ai?”; chàng đáp, “Hãy nói với chủ ngươi rằng Nur al-Din Ali đang đứng ngoài cửa và bảo ông ấy, ‘Nô bộc của ngài hôn tay ngài và chờ đợi lòng rộng lượng của ngài.’” Cô gái vào trong và nói với chủ mình, chủ nàng quát nàng, “Quay ra nói, ‘Chủ tôi không có nhà.’” Vậy nàng trở ra với Nur al-Din và nói với chàng, “Thưa chúa công, chủ tôi đi vắng.” Nghe vậy chàng quay đi và tự nhủ, “Nếu kẻ này là đồ chó đẻ vô lại và chối mặt, kẻ khác có thể không chứng tỏ mình là vô lại chó đẻ như thế.” Rồi chàng đến cánh cửa kế tiếp và gửi vào một lời nhắn tương tự cho chủ nhà, kẻ ấy cũng chối mặt như người đầu tiên; bấy giờ chàng bắt đầu ngâm,
“Người đã ra đi, kẻ mà khi ngươi đến cổng hắn, * Từng nuôi cái bụng đói lả của ngươi bằng món luộc và món quay.”
Khi ngâm xong, chàng nói, “Nhân danh Allah, chẳng còn cách nào khác ngoài việc ta phải thử hết bọn họ: biết đâu trong số ấy có một người sẽ thay được tất cả những kẻ còn lại.” Vậy chàng đi một vòng đủ mười người, nhưng chẳng một ai mở cửa cho chàng, hoặc lộ mặt, hoặc thậm chí bẻ cho chàng một mẩu bánh; bấy giờ chàng ngâm,
“Kẻ ở trong giàu sang giống như một cây, * Và khi nó kết trái, người đời sẽ chạy đến quả của nó:
Nhưng khi cây trơ trụi hết những quả từng mang, * Họ bỏ nó chịu bụi bặm và nắng thiêu.
Diệt vong cho hết thảy người đời thời này! Ta thấy * Mười tên vô lại mới có một người ngay chính.”
Rồi chàng trở về với nữ nô của mình, nỗi sầu của chàng càng thêm nặng, và nàng nói với chàng, “Thưa chúa công, thiếp chẳng đã nói với chàng rằng chẳng ai sẽ giúp chàng chút gì sao?” Chàng đáp, “Nhân danh Allah, không một kẻ nào chịu cho ta thấy mặt hay nhận ra ta!” Nàng nói, “Thưa chúa công, hãy bán dần vài món đồ đạc và vật dụng trong nhà, như nồi niêu xoong chảo; rồi tiêu số tiền thu được cho đến khi Allah Toàn năng chu cấp.” Vậy chàng bán tất cả những gì trong nhà, cho tới khi chẳng còn lại gì, lúc ấy chàng quay sang Anis al-Jalis và hỏi nàng, “Bây giờ chúng ta phải làm gì?”; nàng đáp, “Thưa chúa công, lời khuyên của thiếp là chàng hãy lập tức đứng dậy và đưa thiếp xuống chợ để bán thiếp. Chàng biết cha chàng đã mua thiếp với giá mười nghìn dinar: biết đâu Allah mở cho chàng một con đường để được cùng số tiền ấy, và nếu ý Người muốn đưa chúng ta gặp lại nhau một lần nữa, chúng ta sẽ gặp lại.” Chàng kêu lên, “Hỡi Anis al-Jalis, nhân danh Allah, đối với ta chia lìa nàng dù chỉ một giờ cũng không phải chuyện nhẹ!” Nàng đáp, “Nhân danh Allah, thưa chúa công, với thiếp điều ấy cũng chẳng dễ dàng, nhưng Cái Cần có luật riêng của nó, như thi nhân đã nói,
‘Nhu cầu đẩy con người vào những nẻo đường quanh co, * Và những lối đi đáng ngờ cả hướng lẫn đích:
Không ai giao phó sức nặng mình cho một sợi dây[FN#27], * Trừ khi có nguyên nhân gọi đến trường hợp cần dây.’”
Nghe vậy chàng đứng dậy và đưa nàng đi,[FN#28] trong khi lệ lăn trên má chàng như mưa; và chàng ngâm bằng cái lưỡi của hoàn cảnh những câu này,
“Hãy dừng lại! ban cho ta một cái nhìn chia biệt trước khi ta chia lìa, * Để tiếp sức cho tim ta chịu nổi cuộc phân ly này:
Nhưng nếu cuộc chia lìa này gây cho nàng đau đớn và tai ương, * Hãy để ta chết vì yêu và tha cho nàng nỗi đau!”
Rồi chàng đưa nàng xuống chợ, giao nàng cho người môi giới và nói với hắn, “Hỡi Hájj Hasan,[FN#29] ta xin ngươi ghi nhớ giá trị của người mà ngươi phải rao bán.” Người môi giới nói, “Thưa chúa công Nur al-Din, những điều căn bản vẫn còn được nhớ”;[FN#30] rồi nói thêm, “Đây chẳng phải là Anis al-Jalis mà cha ngài đã mua của tôi với giá mười nghìn dinar sao?” Nur al-Din đáp, “Phải.” Nghe vậy người môi giới đi một vòng đến các thương nhân, nhưng thấy họ chưa tụ họp đủ. Vậy hắn chờ cho đến khi những người còn lại đã đến và chợ đông nghịt nữ nô thuộc mọi giống dân: Thổ, Frank và Circassia; Abyssinia, Nubia và Takrúrí;[FN#31] Tartar, Georgia và những người khác; bấy giờ hắn bước tới, đứng lên và rao lớn, “Hỡi các thương nhân! Hỡi những người có tiền! mọi vật tròn không phải đều là quả óc chó, và mọi vật dài không phải đều là chuối; mọi thứ đỏ không phải đều là thịt, mọi thứ trắng không phải đều là mỡ, và mọi vật nâu không phải đều là chà là![FN#32] Hỡi các thương nhân, ta có ở đây viên ngọc kết hợp vô giá: ta phải rao nàng ở mức nào?” Một thương nhân nói, “Hãy rao nàng ở bốn nghìn năm trăm dinar.” Người môi giới mở giá bán ở số tiền vừa nêu, và khi hắn còn đang rao, kìa! tể tướng Al-Mu'ín bin Sáwí đi qua chợ, thấy Nur al-Din Ali đứng đợi một bên, bèn tự nhủ, “Sao con trai Khákán[FN#33] lại đứng lảng vảng ở đây? Con chim treo cổ này còn lại thứ gì để mua nữ nô chăng?” Rồi hắn nhìn quanh và, thấy người môi giới đang rao trong chợ với toàn bộ thương nhân vây quanh, hắn tự nhủ, “Ta chắc rằng nó trắng tay và đã đem thiếu nữ Anis al-Jalis tới đây để bán”; rồi nói thêm, “Ôi chuyện này làm mát mẻ và dễ chịu lòng ta biết bao!” Sau đó hắn gọi người rao, kẻ ấy đi tới và hôn đất trước mặt hắn; hắn nói với kẻ ấy, “Ta muốn nữ nô mà ngươi đang rao bán này.” Người môi giới không dám trái ý hắn, nên đáp, “Thưa chúa công, Bismillah! nhân danh Allah, xin cứ như vậy”; rồi dắt thiếu nữ tới và cho hắn xem. Nàng khiến hắn hết sức vừa ý, hắn hỏi, “Hỡi Hasan, người ta đã trả giá bao nhiêu cho cô gái này?” và hắn đáp, “Bốn nghìn năm trăm dinar để mở giá bán.” Al-Mu'ín nói, “Bốn nghìn năm trăm là giá của TA.” Khi các thương nhân nghe vậy, họ rút lui và không dám trả thêm một dirham nào, vì biết rõ sự bạo ngược, hung tàn và phản trắc của tể tướng. Vậy Al-Mu'ín nhìn người môi giới và nói với hắn, “Sao còn đứng yên? Hãy đi và thay ta đề nghị bốn nghìn dinar, còn năm trăm sẽ là của ngươi.” Nghe vậy người môi giới đến chỗ Nur al-Din và nói, “Thưa chúa công, nữ nô của ngài sắp bị bán như không!” Chàng hỏi, “Sao lại thế?” Người môi giới đáp, “Chúng ta đã mở giá nàng ở bốn nghìn năm trăm dinar; thì bạo chúa kia, Al-Mu'ín bin Sáwí, đi qua chợ và khi thấy thiếu nữ, nàng làm hắn vừa ý, nên hắn bảo tôi, ‘Hãy rao ta là người mua với giá bốn nghìn dinar, còn ngươi sẽ có năm trăm cho mình.’ Tôi không nghi ngờ gì rằng hắn biết thiếu nữ là của ngài, và nếu hắn trả ngay cho ngài giá của nàng thì còn tốt; nhưng tôi biết sự bất công và bạo tàn của hắn; hắn sẽ đưa ngài một tờ lệnh viết gửi cho một trong các đại lý của hắn, rồi sai người theo sau ngài nói với họ, ‘Đừng trả hắn gì cả.’ Thế là mỗi lần ngài đến đòi tiền, họ sẽ nói, ‘Chúng tôi sẽ trả ngài ngay!’ và họ sẽ lần lữa với ngài hết ngày này qua ngày khác, còn ngài thì tự trọng; cho tới cuối cùng, khi họ mệt vì ngài cứ đòi mãi, họ sẽ nói, ‘Cho chúng tôi xem tờ séc.’ Rồi ngay khi họ nắm được nó, họ sẽ xé nát, và vậy ngài sẽ mất giá tiền cô gái.” Khi Nur al-Din nghe điều ấy, chàng nhìn người môi giới và hỏi hắn, “Vậy việc này phải xoay xở thế nào?”; hắn đáp, “Tôi sẽ hiến ngài một kế, nếu ngài theo thì nó sẽ đem lại cho ngài sự thỏa mãn trọn vẹn.” Nur al-Din hỏi, “Đó là gì?” Người môi giới nói, “Lát nữa ngài hãy đến chỗ tôi khi tôi đang đứng giữa chợ, và, nắm lấy cô gái từ tay tôi, hãy tát nàng thật mạnh rồi nói với nàng, ‘Đồ hư hỏng kia, ta đã giữ lời thề và đưa ngươi xuống chợ bán nô, bởi ta đã thề rằng ta sẽ mang ngươi từ nhà ra chợ, và khiến các môi giới rao ngươi để bán.’ Nếu ngài làm như vậy, có lẽ mưu ấy sẽ đánh lừa tể tướng và dân chúng, và họ sẽ tin rằng ngài đưa nàng ra chợ không phải để bán, mà chỉ để giải lời thề của mình.” Chàng đáp, “Ấy là cách tốt nhất.” Rồi người môi giới rời chàng, trở lại giữa chợ, nắm tay thiếu nữ, ra dấu cho tể tướng và nói, “Thưa chúa công, đây là chủ của nàng.” Nghe vậy Nur al-Din Ali bước tới và, giật cô gái khỏi tay người môi giới, tát nàng thật mạnh rồi nói với nàng, “Xấu hổ thay cho ngươi, hỡi đồ hư hỏng! Ta đã đưa ngươi đến chợ để giải lời thề của ta; giờ hãy về nhà và đừng trái ý ta nữa như thói quen của ngươi. Khốn cho ngươi! Ta cần giá tiền của ngươi đến nỗi phải bán ngươi sao? Đồ đạc trong nhà ta bán đi cũng được gấp nhiều lần giá trị của ngươi!” Khi Al-Mu'ín thấy vậy, hắn nói với Nur al-Din, “Khốn cho ngươi! Ngươi còn thứ gì để bán hay mua sao?” Và hắn định ra tay bạo lực với chàng, nhưng các thương nhân chen vào giữa (vì tất cả đều yêu mến Nur al-Din), và chàng thanh niên nói với họ, “Ta ở trong tay các vị đây, và các vị đều biết sự bạo ngược của hắn.” Tể tướng kêu lên, “Nhân danh Allah, nếu không vì các ngươi, ta đã giết nó rồi!” Rồi tất cả đưa mắt ra hiệu đầy ý nghĩa cho Nur al-Din, như muốn nói, “Hãy trả thù hắn; chẳng ai trong chúng ta sẽ chen vào giữa ngươi và hắn.” Tức thì Nur al-Din, vốn gan dạ trong lòng như vạm vỡ trong thân, tiến tới tể tướng và, kéo hắn qua đằng trước yên ngựa, ném hắn xuống đất. Bấy giờ ở nơi ấy có một hố bùn làm gạch,[FN#34] hắn rơi vào giữa hố, và Nur al-Din cứ đấm đá, thoi quyền vào hắn; một cú đánh trúng thẳng vào răng hắn, và râu hắn nhuộm máu. Lại có mười tên nô lệ vũ trang đi cùng vị tể tướng; thấy chủ mình bị đối xử theo cách ấy, chúng đặt tay lên chuôi kiếm và định tuốt gươm, xông vào Nur al-Din để chém chàng; nhưng các thương nhân và người đứng xem nói với chúng, “Đây là một tể tướng, còn kia là con trai của một tể tướng; có lẽ một ngày nào đó họ sẽ làm hòa với nhau, khi ấy các ngươi sẽ mất ân sủng của cả hai. Hoặc có khi một đòn nào đó giáng xuống chủ các ngươi, và tất cả các ngươi sẽ chết bằng cái chết hèn hạ nhất; vậy tốt hơn là các ngươi đừng can dự.” Vì vậy chúng đứng tránh xa, và khi Nur al-Din đã đánh tể tướng xong, chàng dắt nữ tỳ của mình trở về nhà. Al-Mu'ín cũng lập tức đi đường của hắn, áo quần hắn nhuộm ba màu, đen vì bùn, đỏ vì máu và xám tro vì đất sét làm gạch. Khi thấy mình trong tình trạng ấy, hắn buộc một mảnh chiếu[FN#35] quanh cổ, cầm trong tay hai bó cỏ Halfah thô[FN#36], đi lên cung điện, đứng dưới cửa sổ Sultan và kêu lớn, “Ôi đức vua của thời đại, thần là người bị áp bức! Thần bị hà hiếp thảm hại!” Vậy họ đưa hắn đến trước mặt nhà vua, ngài nhìn hắn; và kìa, đó là vị tể tướng đứng đầu; tức thì ngài phán, “Hỡi tể tướng, ai đã làm điều này với ngươi?” Al-Mu'ín khóc lóc, nức nở và ngâm những câu này,
“Há Thế gian áp bức thần khi ngài còn trong đó? * Trước mặt sư tử, há bầy sói được nuốt chửng con mồi?
Há mọi kẻ khô khát đều uống nơi bể chứa của ngài, còn thần * Dưới mây mưa lại khát trận mưa mát lành?”
“Thưa chúa công,” hắn kêu lên, “điều tương tự sẽ xảy đến với bất cứ ai yêu kính và phụng sự ngài tận lòng.” Sultan phán, “Hãy nói mau, và kể cho ta biết chuyện này đã xảy ra thế nào, ai đã làm việc ấy với một người mà danh dự là một phần danh dự của ta.” Tể tướng thưa, “Xin chúa công biết rằng hôm nay thần ra chợ bán nô để mua cho mình một nữ tỳ nấu bếp, thì thấy ở đó một thiếu nữ mà suốt đời thần chưa từng thấy ai đẹp hơn; và thần định mua nàng cho chúa công Sultan của chúng ta; vậy thần hỏi người môi giới về nàng và về chủ nàng, hắn đáp, “Nàng thuộc về Ali, con trai của Al-Fazl bin Khákán. Trước đây ít lâu chúa công Sultan của chúng ta đã ban cho cha hắn mười nghìn dinar để mua cho ngài một nữ nô xinh đẹp, và ông ta đã mua thiếu nữ này, người đã làm ông ta vừa ý; vì vậy ông ta tiếc không muốn dâng nàng cho chúa công Sultan của chúng ta, mà trao nàng cho con trai mình. Khi cha chết, người con bán hết mọi thứ hắn có, nào nhà cửa, vườn tược, đồ đạc trong nhà, rồi phung phí số tiền ấy cho đến khi trắng tay. Bấy giờ hắn đem cô gái ra chợ để bán nàng, giao nàng cho người môi giới rao bán, còn các thương nhân thì trả giá mỗi lúc một cao, cho tới khi giá lên đến bốn nghìn dinar; lúc ấy thần tự nhủ, ‘Ta sẽ mua thiếu nữ này cho chúa công Sultan của chúng ta, người đã trả tiền để có nàng.’ Vậy thần nói với Nur al-Din, ‘Hỡi con trai ta, hãy bán nàng cho ta với giá bốn nghìn dinar.’ Khi nghe lời thần, hắn nhìn thần và kêu, ‘Ôi lão già xui xẻo, ta sẽ bán nàng cho một người Do Thái hay một Nazarene, nhưng ta sẽ không bán nàng cho ngươi!’ Thần nói, ‘Ta không mua nàng cho mình, ta mua nàng cho chúa công và ân nhân của chúng ta là Sultan.’ Nghe lời thần, hắn nổi cơn thịnh nộ; rồi kéo thần xuống khỏi ngựa (mà thần là một ông già rất cao tuổi), đánh thần không chút thương xót bằng nắm đấm và tát thần bằng lòng bàn tay cho tới khi hắn để thần thành ra như ngài thấy, và tất cả chuyện này xảy đến với thần chỉ vì thần định mua thiếu nữ ấy cho ngài!” Rồi tể tướng ném mình xuống đất và nằm đó khóc lóc run rẩy. Khi Sultan thấy tình trạng của hắn và nghe câu chuyện của hắn, mạch giận nổi lên giữa hai mắt ngài[FN#37], và ngài quay sang đội cận vệ đang đứng trước mặt, bốn mươi nô lệ da trắng, những kẻ chuyên chém bằng gươm, rồi phán với họ, “Hãy lập tức xuống ngôi nhà do con trai Khákán dựng nên, cướp phá và san bằng nó, rồi đem con trai hắn là Nur al-Din cùng thiếu nữ ấy về cho ta; hãy kéo cả hai úp mặt xuống đất, hai tay bị trói quặt sau lưng.” Họ đáp, “Nghe là vâng”; rồi tự vũ trang và lên đường đến nhà Nur al-Din Ali. Bấy giờ bên cạnh Sultan có một vị thị thần tên là Alam[FN#38] al-Din Sanjar, trước kia từng là Mameluke của Al-Fazl; nhưng ông đã tiến thân trên đời, và Sultan đã nâng ông lên làm một trong các thị thần của ngài. Khi nghe lệnh vua và thấy những kẻ thù sửa soạn đi giết con trai của chủ cũ mình, lòng ông đau đớn; vì vậy ông rời khỏi trước mặt Sultan, lên thú cưỡi, phóng đến nhà Nur al-Din và gõ cửa. Nur al-Din bước ra, nhận ra ông và định chào ông: nhưng ông nói, “Thưa chủ nhân, đây không phải lúc chào hỏi hay khoản đãi. Hãy nghe điều thi nhân đã nói,
‘Hãy chạy, chạy giữ mạng mình nếu tai ương đuổi kịp!
Hãy để ngôi nhà ngươi nói lên cái chết của ngươi khi người dựng nó bỏ đi!
Vì một xứ khác ngoài xứ này, huynh đệ ơi, ngươi còn có thể tới,
Nhưng mạng sống của ngươi thì trong cõi đời này ngươi chẳng bao giờ tìm được mạng khác.’”[FN#39]
Nur al-Din hỏi, “Hỡi Alam al-Din, tin tức ra sao?” ông đáp, “Hãy đứng dậy mau và chạy giữ mạng, ngươi cùng thiếu nữ; vì Al-Mu'ín đã giăng bẫy cho cả hai ngươi; và nếu các ngươi rơi vào tay hắn, hắn sẽ giết các ngươi. Sultan đã phái bốn mươi tay gươm đến bắt ngươi, và ta khuyên ngươi hãy trốn trước khi tai họa kịp hại ngươi.” Rồi Sanjar thò tay vào túi, thấy trong đó có bốn mươi đồng vàng, bèn lấy ra trao cho Nur al-Din và nói, “Thưa chúa công, xin nhận lấy số này mà đi đường. Nếu tôi có nhiều hơn, tôi đã đưa cho ngài, nhưng lúc này không phải lúc bắt bẻ.” Nghe vậy Nur al-Din vào gặp thiếu nữ và kể cho nàng chuyện đã xảy ra, khiến nàng vặn xoắn đôi tay. Rồi họ lập tức rời khỏi thành, và Allah trải trên họ tấm màn che chở của Người, nên họ tới được bờ sông, nơi họ thấy một chiếc thuyền sẵn sàng ra biển. Thuyền trưởng đứng giữa thuyền và rao, “Ai còn việc gì phải làm, dù là chuẩn bị lương thực hay từ biệt người nhà; hoặc ai quên thứ cần thiết nào, hãy làm ngay và trở lại, vì chúng ta sắp nhổ neo”; và tất cả đều nói, “Chẳng còn việc gì chúng tôi phải làm nữa, thưa thuyền trưởng!”, ông bèn hô với thủy thủ đoàn, “Nào các ngươi! tháo dây cáp và nhổ cọc neo lên!”[FN#40] Nur al-Din hỏi, “Đi đâu vậy, thưa thuyền trưởng?” và ông đáp, “Đến Nhà Bình An, Baghdad,”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ ba mươi sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi thuyền trưởng đáp, “Đến Nhà Bình An, Baghdad,” Nur al-Din Ali và thiếu nữ bước lên thuyền, rồi họ cho tàu rời bến và giương buồm, con thuyền lao đi như chim tung cánh; đúng như một người trong họ đã nói, và nói rất hay,
“Hãy ngắm con thuyền cao, nó sẽ làm vui mắt ngươi, * Trong vội vã trốn chạy, nó vượt cả ngọn gió;
Như khi một con chim, dang rộng đôi cánh, * Rời khỏi trời xanh để đậu xuống biển khơi.”
Vậy con thuyền căng sức lướt nhanh nhất, và gió đối với nó là thuận lành nhất. Chuyện về họ tới đây; còn về bọn Mameluke, chúng đi đến dinh thự của Nur al-Din và, phá tung cửa, bước vào lục soát khắp nơi, nhưng chẳng tìm thấy dấu vết nào của chàng và thiếu nữ; vì vậy chúng phá hủy ngôi nhà, rồi trở về tâu lại việc đã làm với Sultan; nghe vậy ngài phán, “Hãy tìm kiếm cả hai, bất cứ nơi nào chúng có thể ở”; và chúng đáp, “Nghe là vâng.” Tể tướng Al-Mu'ín cũng đã về nhà sau khi Sultan ban cho hắn một áo vinh dự, và làm lòng hắn yên lại bằng lời phán, “Chẳng ai sẽ trả thù máu cho ngươi ngoài ta”; hắn chúc tụng nhà vua và cầu nguyện cho ngài trường thọ cùng thịnh vượng. Rồi Sultan truyền rao khắp thành, “Hãy nghe đây, hỡi toàn thể thần dân! Ý muốn của chúa công Sultan chúng ta là ai bắt gặp Nur al-Din Ali, con trai Al-Fazl bin Khákán, và đem hắn đến cho Sultan, sẽ được nhận một áo vinh dự và một nghìn đồng vàng; còn kẻ nào che giấu hắn, hoặc biết nơi hắn ở mà không báo, thì đáng chịu mọi đau đớn và hình phạt sẽ giáng xuống hắn.” Vậy tất cả bắt đầu tìm kiếm Nur al-Din Ali, nhưng họ chẳng tìm được dấu tích hay tin tức nào về chàng. Trong khi ấy, chàng cùng nữ tỳ của mình xuôi thuyền với gió thổi thẳng phía sau, cho tới khi họ đến Baghdad bình an, và thuyền trưởng nói với họ, “Đây là Baghdad, và đây là thành nơi người ta có thể tìm được an toàn: Đông với sương giá đã quay đi, và Xuân đã đến phô bày những đóa hồng; hoa bừng sáng, cây nở rộ và suối chảy trôi.” Vậy Nur al-Din lên bờ, chàng cùng nữ tỳ, và trao cho thuyền trưởng năm dinar, rồi đi bộ một quãng ngắn cho đến khi những sắc lệnh của Định Mệnh đưa họ vào giữa các khu vườn, và họ đến một nơi đã được quét dọn, rảy nước, có ghế dài đặt dọc các bức tường và những vò treo đầy nước.[FN#41] Phía trên là một giàn bằng sậy và mía che bóng suốt chiều dài lối đi, và ở đầu trên có một cổng vườn, nhưng cổng ấy khóa kín. Nur al-Din nói với thiếu nữ, “Nhân danh Allah, nơi này thật dễ chịu!”; nàng đáp, “Thưa chúa công, hãy ngồi với thiếp một lát trên chiếc ghế dài này và để chúng ta nghỉ ngơi.” Vậy họ bước lên và ngồi xuống ghế, sau đó rửa mặt và tay; làn gió thổi mát trên họ, họ chìm vào giấc ngủ, và vinh quang thuộc về Đấng chẳng bao giờ ngủ! Bấy giờ khu vườn này có tên là Vườn Hoan Hỷ[FN#42], trong đó có một vọng lâu gọi là Cung Điện Khoái Lạc và Đình Các Tranh Ảnh, toàn bộ thuộc về Khalif Harun al-Rashid, người vẫn thường, khi lồng ngực bị nỗi lo làm chật hẹp, lui tới khu vườn và cung điện ấy để ngồi. Cung điện có tám mươi cửa sổ mắt cáo và tám mươi ngọn đèn treo quanh một giá nến lớn bằng vàng, có gắn nến sáp; và khi Khalif bước vào, ngài thường truyền các tỳ nữ mở tung các song cửa, thắp sáng các phòng; rồi ngài sai Ishak bin Ibrahim, bạn chén, cùng các nữ nô ca hát cho tới khi lồng ngực ngài được mở rộng và mọi phiền muộn được xoa dịu. Bấy giờ người giữ vườn, Shaykh Ibrahim, là một ông già rất cao tuổi, và thỉnh thoảng ông thấy, mỗi khi ra ngoài có việc, người ta đến vui chơi quanh cổng vườn với những cô gái đẹp của họ; điều ấy khiến ông giận dữ vô cùng.[FN#43] Nhưng ông nhẫn nhịn cho đến một ngày Khalif đến khu vườn của mình; và ông than phiền chuyện này với Harun al-Rashid, ngài phán, “Bất cứ ai ngươi bắt gặp quanh cửa vườn, hãy xử với hắn tùy ý ngươi.” Bấy giờ hôm ấy người làm vườn tình cờ ra ngoài vì một việc nào đó, khi trở về thấy hai người này đang ngủ ở cổng, cùng phủ một chiếc áo choàng; ông bèn nói, “Nhân danh Allah, hay lắm! Hai kẻ này không biết rằng Khalif đã cho phép ta giết bất cứ ai ta bắt được ở cửa; nhưng ta sẽ quất đôi này một trận đích đáng, để về sau chẳng ai dám đến gần cổng nữa.” Vậy ông chặt một tàu lá chà là xanh[FN#44], đi tới họ, giơ tay lên đến mức lộ cả phần trắng dưới nách, sắp đánh xuống, thì ông chợt nghĩ lại và nói, “Hỡi Ibrahim, ngươi sẽ đánh họ mà chưa biết cảnh ngộ của họ sao? Có lẽ họ là khách lạ hay Con Đường[FN#45], và những sắc lệnh của Định Mệnh đã ném họ đến đây. Ta sẽ vén mặt họ ra và nhìn xem.” Vậy ông nhấc chiếc áo choàng khỏi đầu họ và nói, “Họ là một đôi đẹp đẽ; thật không thích hợp nếu ta đánh họ.” Rồi ông lại che mặt họ, đi đến chân Nur al-Din, bắt đầu xoa bóp và nắn chân chàng,[FN#46] tức thì chàng trai mở mắt, thấy một ông già có dáng vẻ nghiêm trang đáng kính đang xoa chân mình, chàng hổ thẹn, rụt chân lại và ngồi dậy. Rồi chàng cầm tay Shaykh Ibrahim và hôn tay ông. Ông già hỏi, “Hỡi con trai ta, ngươi từ đâu đến?”; chàng đáp, “Thưa chúa công, hai chúng con là khách lạ,” và nước mắt ứa ra từ mắt chàng. Shaykh Ibrahim nói, “Hỡi con trai ta, hãy biết rằng Đấng Tiên tri (cầu Allah ban phúc lành và gìn giữ Người!) đã dạy phải tôn trọng khách lạ”; rồi nói thêm, “Hỡi con trai ta, chẳng lẽ ngươi không đứng dậy, vào vườn, khuây khỏa bằng cách ngắm nhìn nó và làm lòng mình vui lên sao?” Nur al-Din nói, “Thưa chúa công, khu vườn này thuộc về ai?”; ông kia đáp, “Hỡi con trai ta, ta thừa kế nó từ người nhà mình.” Bấy giờ mục đích của ông khi nói như vậy là để họ yên tâm và khiến họ bước vào vườn. Vậy Nur al-Din cảm tạ ông rồi đứng dậy, chàng cùng thiếu nữ, và theo ông vào vườn; và kìa! đó là một khu vườn, mà là khu vườn biết bao! Cổng vòm như một đại sảnh, trên tường và mái, dây nho bò lan với những chùm nho đủ màu; đỏ như hồng ngọc và đen như gỗ mun; phía sau là một lùm cây kết bằng cành đan, sinh những quả đơn và quả kép, chim nhỏ trên cành cất tiếng hót du dương, chim họa mi nghìn giọng réo vang điệu hót muôn vẻ của nó; chim cu gáy lấp đầy nơi ấy bằng tiếng gù; chim sáo đen huýt như người[FN#47] và chim bồ câu cổ khoang rên rỉ như kẻ uống rượu lâm cơn sầu thảm. Cây cối mọc hoàn mỹ mọi giống ăn được và kết đủ loại quả phân đôi thành từng cặp; nào mơ long não, mơ hạnh nhân và thứ mơ gọi là “Khorasani”; mận, như gương mặt người đẹp, mịn màng và tươi sáng; anh đào khiến răng sáng trong nhờ phép khéo của mình, và sung ba màu, xanh, tía và trắng. Ở đó cũng nở hoa violet như lưu huỳnh bốc cháy ban đêm; cam với nụ như san hô hồng và hoa cúc trắng; hoa hồng mà sắc đỏ khiến đôi má đẹp nhất phải đỏ mặt vì tức tối; cùng sim, hoa cẩm chướng, oải hương và hải quỳ đỏ như máu mang tên Nu'uman. Lá cây đều đính lệ do mây trang điểm; cúc cam cười, phô hàm răng biết cắn, và Narcissus với đôi mắt negro[FN#48] nhìn chằm chằm vào Rose; thanh yên sáng ngời với quả phồng tròn, còn chanh như những quả cầu vàng; mặt đất trải thảm hoa nhuộm vô vàn sắc màu; bởi Xuân đã đến, làm nơi ấy rạng lên niềm vui và khoái lạc; những dòng suối ngân vang, hòa cùng tiếng chim ca hân hoan, trong khi làn gió xào xạc vừa nổi lên làm khí trời trở nên ôn hòa tuyệt diệu. Shaykh Ibrahim đưa họ lên đình, và họ ngắm vẻ đẹp của nó, cùng những ngọn đèn đã nói ở các cửa sổ mắt cáo; Nur al-Din nhớ lại những cuộc yến tiệc thuở trước của mình, bèn kêu, “Nhân danh Allah, đây là một nơi dễ chịu; nó đã dập tắt trong ta nỗi đau khổ từng cháy như lửa của gỗ Ghaza.”[FN#49] Rồi họ ngồi xuống và Shaykh Ibrahim dọn thức ăn ra trước mặt; họ ăn đến no và rửa tay: sau đó Nur al-Din bước lên một trong các cửa sổ mắt cáo, gọi nữ tỳ của mình đến, rồi bắt đầu ngắm những cây trĩu đủ loại quả. Lát sau chàng quay sang người giữ vườn và nói với ông, “Hỡi Shaykh Ibrahim, ông có thức uống nào ở đây không, vì người ta vẫn thường uống sau khi ăn?” Shaykh đem cho chàng nước ngọt, mát và dễ chịu, nhưng chàng nói, “Đây không phải thứ đồ uống ta muốn.” “Có lẽ ngươi muốn rượu?” “Quả thật vậy, hỡi Shaykh!” “Ta xin Allah che chở khỏi nó: đã mười ba năm rồi ta không làm việc ấy, vì Đấng Tiên tri (Abhak[FN#50]) đã nguyền rủa người uống nó, ép nó, bán nó và mang nó!” “Hãy nghe ta nói hai lời.” “Nói đi.” “Nếu con lừa đáng nguyền rủa kia[FN#51] đang đứng đó bị nguyền rủa, thì có phần nào lời nguyền của nó rơi xuống ông chăng?” “Tuyệt nhiên không!” “Vậy hãy cầm đồng dinar này và hai dirham này, cưỡi con lừa kia, rồi dừng lại xa quán rượu; gọi người đầu tiên ông thấy đang mua rượu và nói với hắn, ‘Hãy lấy hai dirham này cho mình, và dùng đồng dinar này mua cho ta ít rượu rồi đặt nó lên lưng lừa.’ Như thế ông chẳng phải người ép, chẳng phải người mua, cũng chẳng phải người mang; và không phần nào của lời nguyền sẽ rơi xuống ông.” Nghe vậy Shaykh Ibrahim bật cười và nói, “Nhân danh Allah, hỡi con trai ta, ta chưa từng thấy ai mưu trí hơn ngươi, cũng chưa từng nghe lời nào ngọt ngào hơn lời ngươi.” Vậy ông làm theo điều Nur al-Din dặn, còn chàng cảm tạ ông và nói, “Hai chúng con giờ đây nương nhờ nơi ông, và chỉ phải lẽ rằng ông chiều theo mong muốn của chúng con; vậy hãy đem đến đây cho chúng con thứ chúng con cần.” Ông đáp, “Hỡi con trai ta, kho đồ uống của ta ở trước mặt ngươi đây” (và đó là kho trữ dành cho Chủ nhân của các tín đồ); “vậy hãy vào trong, lấy bất cứ gì ngươi muốn, vì trong ấy có dư hơn điều ngươi cần.” Bấy giờ Nur al-Din vào phòng chứa và thấy trong đó những bình chén bằng vàng, bạc và pha lê khảm đủ loại châu ngọc, chàng kinh ngạc và vui sướng trước những gì mình thấy. Rồi chàng lấy ra những thứ cần dùng, bày lên và rót rượu vào các bình lớn cùng bình thủy tinh, trong khi Shaykh Ibrahim đem đến hoa quả, hoa tươi và các loài thảo mộc thơm. Sau đó ông già lui ra và ngồi cách họ một quãng, còn họ uống và vui đùa, cho tới khi rượu chế ngự họ, khiến má họ đỏ hồng, mắt họ lả lơi như mắt linh dương; tóc họ rối buông và vẻ rạng rỡ của họ càng thêm đẹp. Bấy giờ Shaykh Ibrahim tự nhủ, “Ta làm sao mà phải ngồi xa họ? Vì sao ta không ngồi cùng họ? Đến bao giờ ta mới lại được ở chung với đôi người giống như hai vầng trăng này?” Vậy ông bước tới và ngồi xuống mép bục, còn Nur al-Din nói với ông, “Thưa chúa công, lấy mạng con mà thề, xin hãy đến gần chúng con hơn!” Ông đến và ngồi bên họ, khi ấy Nur al-Din rót đầy một chén, nhìn về phía Shaykh và nói với ông, “Hãy uống, để ông thử hương vị của nó!” Ông đáp, “Ta xin Allah che chở khỏi nó! vì mười ba năm nay ta chưa làm một việc như vậy.” Nur al-Din giả vờ quên ông đang ở đó, uống cạn chén rồi ném mình xuống đất như thể rượu đã đánh gục chàng; tức thì Anis al-Jalis liếc nhìn chàng và nói, “Hỡi Shaykh Ibrahim, xem người chồng này của thiếp đối xử với thiếp thế nào”; ông đáp, “Thưa phu nhân, chàng bị làm sao?” Nàng kêu, “Chàng luôn đối với thiếp như thế này, uống một lúc rồi ngủ thiếp đi, bỏ thiếp một mình không ai bầu bạn bên chén, cũng chẳng có ai để thiếp hát cho nghe khi bát rượu xoay vòng.” Shaykh nói (và vẻ cứng nhắc của ông dịu xuống, vì linh hồn ông nghiêng về phía nàng), “Nhân danh Allah, thế này không ổn!” Rồi nàng rót đầy một chén, nhìn về phía ông và nói, “Lấy mạng thiếp mà thề, ông phải cầm lấy và uống nó, chớ từ chối chữa trái tim đau yếu của thiếp!” Vậy ông đưa tay cầm lấy, uống cạn, và nàng rót chén thứ hai, đặt lên giá nến rồi nói, “Thưa chủ nhân của thiếp, vẫn còn chén này dành cho ông.” Ông kêu, “Nhân danh Allah, ta không thể uống nó; điều ta đã uống đủ cho ta rồi”; nhưng nàng đáp, “Nhân danh Allah, không còn cách nào khác.” Vậy ông cầm chén và uống; rồi nàng rót cho ông chén thứ ba, ông cầm lấy và sắp uống thì kìa, Nur al-Din lăn mình một vòng và ngồi bật dậy,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ ba mươi bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Nur al-Din ngồi bật dậy và nói, “Kìa, Shaykh Ibrahim, chuyện gì thế này? Chẳng phải mới lúc nãy ta đã nài ép ông mà ông từ chối, nói rằng, ‘Ta ư! đã mười ba năm rồi ta chưa từng làm việc như thế!’ sao?” Shaykh nói, “Nhân danh Allah,” (và quả thật ông hổ thẹn), “đây không phải tội của ta, nàng đã ép ta làm vậy.” Nur al-Din cười, và họ lại ngồi xuống uống rượu vui say, nhưng thiếu nữ quay sang chủ mình và thì thầm, “Thưa chúa công, hãy uống và đừng thúc ép ông ấy, để thiếp cho chàng thấy chút trò vui với ông ta.” Rồi nàng bắt đầu rót đầy chén của chủ mình và chàng rót chén của nàng, họ cứ làm như vậy hết lần này đến lần khác, cho tới cuối cùng Shaykh Ibrahim nhìn họ và nói, “Đây là kiểu bằng hữu tốt lành gì vậy? Allah nguyền rủa kẻ phàm ăn chỉ giữ chén cho riêng mình! Sao ngươi không cho ta uống, hỡi người anh em? Đây là phép tắc gì thế, hỡi kẻ được ban phúc?” Nghe vậy hai người cười đến ngã ngửa; rồi họ uống và cho ông uống, và không ngừng cuộc rượu chè cho tới khi một phần ba đêm đã qua. Bấy giờ thiếu nữ nói, “Hỡi Shaykh Ibrahim, nếu ông cho phép, thiếp sẽ đứng dậy thắp một ngọn nến trong số này.” Ông đáp, “Cứ làm, nhưng chỉ thắp một ngọn thôi.” Vậy nàng bật dậy và, bắt đầu bằng một cây nến, thắp cả tám mươi cây rồi lại ngồi xuống. Lát sau Nur al-Din nói, “Hỡi Shaykh Ibrahim, trong lòng ông ta được bao nhiêu ân tình? Ta không được thắp một ngọn đèn trong số này sao?” Ông đáp, “Thắp một ngọn, và đến lượt ngươi thì đừng quấy rầy ta nữa!” Vậy chàng đứng lên và thắp hết ngọn đèn này đến ngọn đèn khác, cho tới khi chàng thắp sáng cả tám mươi ngọn, và cung điện như nhảy múa trong ánh rực rỡ. Shaykh nói (mà quả thật cơn say đã chế ngự ông), “Hai ngươi táo bạo hơn ta.” Rồi ông đứng dậy, mở hết mọi cửa sổ mắt cáo và lại ngồi xuống; họ bắt đầu uống rượu và ngâm thơ cho tới khi nơi ấy vang lên tiếng vui đùa ồn ã. Bấy giờ Allah, Đấng Định Đoạt mọi sự và đặt nguyên nhân cho mọi kết quả, đã an bài rằng đúng lúc ấy Khalif đang ngồi dưới ánh trăng tại một cửa sổ trong cung điện của mình nhìn ra sông Tigris. Ngài thấy ánh lửa của các ngọn đèn và nến sáp phản chiếu trên sông, bèn ngước mắt lên và nhận ra ánh sáng ấy đến từ Cung Điện trong Vườn, đang rực cháy ánh huy hoàng. Vậy ngài kêu, “Đưa Ja'afar người Barmaki đến đây cho ta!”; lời cuối vừa thốt ra thì tể tướng đã hiện diện trước mặt Chủ nhân của các tín đồ, người quát hắn, “Hỡi con chó làm tể tướng kia, ngươi đã đoạt thành Baghdad này khỏi tay ta mà không nói với ta một lời sao?” Ja'afar hỏi, “Những lời ấy là lời gì?” Khalif đáp, “Nếu thành Baghdad không bị đoạt khỏi tay ta, thì Cung Điện Tranh Ảnh đã chẳng được thắp sáng bằng đèn và nến, các cửa sổ của nó cũng chẳng bị mở tung. Khốn cho ngươi! ai dám làm một việc như thế nếu không phải ngôi Khalifat đã bị đoạt khỏi tay ta?” Ja'afar nói (và quả thật cơ sườn của ông run lên khi nói), “Ai thưa với ngài rằng Cung Điện Tranh Ảnh được thắp sáng và các cửa sổ mở tung?” Khalif đáp, “Đến đây mà xem.” Rồi Ja'afar đến gần Khalif và, nhìn về phía khu vườn, thấy cung điện bừng sáng, ánh chiếu xuyên qua bóng tối đêm; và nghĩ rằng có lẽ điều này đã được người giữ vườn cho phép vì lý do riêng nào đó, ông muốn kiếm cớ cho ông ta; nên ông thưa, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, tuần trước Shaykh Ibrahim có nói với thần, ‘Thưa chúa công Ja'afar, tôi rất muốn làm lễ cắt bao quy đầu cho các con trai mình trong đời của Chủ nhân của các tín đồ và đời của ngài.’ Thần hỏi, ‘Ông muốn gì?’; ông ta đáp, ‘Xin ngài lấy cho tôi phép của Khalif để tổ chức lễ hội trong Cung Điện trong Vườn.’ Vậy thần nói với ông ta, ‘Hãy đi làm lễ cắt bao quy đầu cho chúng, còn ta sẽ gặp Khalif và thưa với ngài.’ Nghe vậy ông ta đi, và thần quên báo cho ngài biết.” Khalif nói, “Hỡi Ja'afar, ngươi đã phạm hai lỗi với ta; thứ nhất là ngươi không báo lại cho ta, thứ hai là ngươi không cho ông ta điều ông ta tìm kiếm; vì ông ta đến nói với ngươi chuyện này chỉ như cái cớ để xin chút tiền nhỏ giúp ông ta chi phí, mà ngươi chẳng cho ông ta gì cũng chẳng nói với ta.” Ja'afar thưa, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, thần đã quên.” Khalif nói, “Nay nhân quyền của tổ tiên ta và lăng mộ các bậc tiền nhân của ta, ta sẽ không trải qua phần còn lại của đêm nay ở đâu khác ngoài cùng với ông ta; vì thật sự ông ta là một người mộ đạo, thường lui tới các bậc trưởng lão của Đức Tin, các Fakir và những kẻ hành khất tôn giáo khác, và khoản đãi họ; chắc hẳn họ đang tụ hội, và có thể lời cầu nguyện của một người trong họ sẽ làm điều lành cho cả chúng ta trong đời này và đời sau. Hơn nữa, sự hiện diện của ta có thể có ích, và ít nhất cũng làm Shaykh Ibrahim vui lòng.” Ja'afar thưa, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, phần lớn đêm đã qua, và giờ này họ sẽ đang giải tán.” Khalif nói, “Không hề gì: ta nhất thiết phải đến với họ.” Vậy Ja'afar im lặng, bối rối và chẳng biết phải làm gì. Rồi Khalif đứng dậy, đem theo Ja'afar và Masrur, hoạn quan cầm gươm, cả ba cải trang thành thương nhân, rời cung thành, len qua các phố cho tới khi họ đến khu vườn. Khalif đi đến cổng, thấy nó mở toang, ngạc nhiên và nói, “Hãy xem, hỡi Ja'afar, Shaykh Ibrahim đã để cổng mở vào giờ này, trái với thói quen của ông ta!” Họ bước vào và đi tiếp cho tới khi đến dưới đình, khi ấy Khalif nói, “Hỡi Ja'afar, ta muốn nhìn trộm họ trước khi lộ diện, để xem họ đang làm gì và thấy được các trưởng lão; vì đến giờ ta chưa nghe được âm thanh nào từ họ, thậm chí cũng chẳng có một Fakir nào gọi tên Allah.”[FN#52] Rồi ngài nhìn quanh và, thấy một cây óc chó cao, nói với Ja'afar, “Ta sẽ trèo lên cây này, vì cành của nó gần các cửa sổ mắt cáo, như thế nhìn vào họ.” Nghe vậy ngài leo lên cây, không ngừng trèo từ cành này sang cành khác, cho tới khi tới một nhánh nằm đúng đối diện một trong các cửa sổ; tại đây ngài ngồi xuống và nhìn vào trong cung điện. Ngài thấy một thiếu nữ và một chàng trai như thể họ là hai vầng trăng (vinh quang thay Đấng đã tạo ra và nắn hình họ!), và bên họ là Shaykh Ibrahim đang ngồi, chén trong tay, nói, “Ôi công chúa của những người đẹp, uống mà không có nhạc thì chẳng đáng gì; quả thật ta từng nghe một thi nhân nói,
‘Hãy chuyền quanh với lớn và nhỏ, bát rượu và chén rượu, * Cầm lấy bất kỳ thứ nào được vầng trăng kia[FN#53] đội ánh sáng lên đầu:
Chớ uống mà thiếu âm nhạc, vì ta thường thấy, * Ngựa uống ngon hơn theo tiếng huýt sáo!’”
Khi Khalif thấy cảnh ấy, mạch giận nổi lên giữa hai mắt ngài, ngài trèo xuống và nói với tể tướng, “Hỡi Ja'afar, ta chưa từng thấy người mộ đạo nào trong tình trạng như thế; vậy ngươi hãy leo lên cây này và nhìn họ, kẻo ân phúc của những người được ban phúc lại mất khỏi ngươi.” Ja'afar nghe lời Chủ nhân của các tín đồ và bị chúng làm cho rối trí, bèn leo lên ngọn cây và nhìn vào, thấy Nur al-Din cùng thiếu nữ, và Shaykh Ibrahim cầm trong tay một bát rượu đầy tràn. Trước cảnh ấy, ông chắc mình sẽ chết, rồi trèo xuống, đứng trước Chủ nhân của các tín đồ, người nói với ông, “Hỡi Ja'afar, ngợi ca Allah, Đấng đã khiến chúng ta thuộc về những kẻ tuân giữ các quy định bề ngoài của Thánh Luật và đã tránh cho chúng ta khỏi tội cải trang theo cách của bọn đạo đức giả!”[FN#54] Nhưng Ja'afar không thốt được một lời vì quá bối rối; vậy Khalif nhìn ông và nói, “Ta lấy làm lạ họ đến đây bằng cách nào, và ai đã cho họ vào đình của ta! Nhưng đôi mắt ta chưa từng thấy gì giống vẻ đẹp của chàng trai và thiếu nữ này!” Ja'afar đáp, “Ngài nói đúng, thưa Chúa công Sultan của chúng ta!” (và ông hy vọng làm nguôi lòng Khalif Harun al-Rashid). Rồi Khalif nói, “Hỡi Ja'afar, hai ta hãy cùng leo lên nhánh cây đối diện cửa sổ, để chúng ta tự tiêu khiển bằng cách nhìn họ.” Vậy hai người trèo lên cây và, nhìn vào trong, nghe Shaykh Ibrahim nói, “Thưa phu nhân, ta đã vứt bỏ hết mọi vẻ nghiêm trang của mình vì uống rượu, nhưng nó chẳng ngọt ngào trừ khi kết hợp với những âm thanh mềm mại của dây đàn lute.” Anis al-Jalis đáp, “Nhân danh Allah, hỡi Shaykh Ibrahim, giá chúng ta chỉ có một nhạc cụ nào đó thì niềm vui của chúng ta đã trọn vẹn.” Nghe vậy ông đứng dậy, Khalif nói với Ja'afar, “Ta tự hỏi ông ta sắp làm gì!” và Ja'afar đáp, “Thần không biết.” Shaykh biến mất rồi lát sau lại xuất hiện, mang theo một cây đàn lute; Khalif chú ý đến nó và nhận ra đó là đàn của Abu Ishak, bạn chén.[FN#55] Khalif nói, “Nhân danh Allah, nếu thiếu nữ này hát dở, ta sẽ đóng đinh tất cả các ngươi lên thập tự; nhưng nếu nàng hát hay, ta sẽ tha cho họ và chỉ treo cổ ngươi thôi.” Ja'afar nói, “Ôi Allah, xin khiến nàng hát thật tệ!” Khalif hỏi, “Vì sao vậy?” ông đáp, “Nếu ngài đóng đinh tất cả chúng thần cùng nhau, chúng thần sẽ có bạn có bè.” Khalif bật cười trước lời ấy. Lát sau thiếu nữ cầm đàn lute và, sau khi xem đàn rồi lên dây, nàng chơi một khúc khiến mọi trái tim khát khao nàng; rồi nàng hát những câu này,
“Ôi những ai có thể giúp ta, một kẻ yêu đương khốn khổ, * Kẻ bị nỗi nhớ thiêu đốt, chẳng thể được nghỉ ngơi phục hồi!
Dù mọi điều các người đã làm, ta đều đáng chịu, * Ta vẫn nương nhờ nơi các người, vậy chớ hả hê trước ta:
Đúng, ta yếu đuối, thấp hèn và nhơ nhuốc, * Nhưng ta sẽ chịu ý muốn các người và bất cứ gì các người giáng lên ta:
Cái chết của ta trong tay các người đem lại vinh quang gì? * Ta chỉ sợ tội lỗi của các người, thứ đã tước mất đời ta!”
Khalif nói, “Nhân danh Allah, hay lắm! Hỡi Ja'afar, cả đời ta chưa từng nghe giọng nào mê hồn như thế.” Ja'afar nói, “Vậy có lẽ cơn giận của Khalif đã qua,” và ngài đáp, “Phải, nó đã qua.” Nghe vậy họ trèo xuống khỏi cây, và Khalif nói với Ja'afar, “Ta muốn vào trong, ngồi với họ và nghe thiếu nữ hát trước mặt ta.” Ja'afar đáp, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, nếu ngài vào với họ, họ sẽ kinh hãi ghê gớm, và Shaykh Ibrahim chắc chắn sẽ chết vì sợ.” Nhưng Khalif đáp, “Hỡi Ja'afar, ngươi phải dạy ta một kế nào đó để đánh lừa họ, nhờ đó ta có thể gặp gỡ họ mà họ không biết ta.” Vậy họ đi về phía sông Tigris, suy nghĩ chuyện ấy, và lát sau gặp một ngư phủ đang đứng câu cá dưới các cửa sổ của đình. Bấy giờ trước đó một thời gian, Khalif (khi đang ở trong đình) đã gọi Shaykh Ibrahim đến và hỏi ông, “Tiếng ồn nào ta nghe dưới các cửa sổ kia?” ông đáp, “Đó là tiếng những người đánh cá đang bắt cá”; vì vậy Khalif phán, “Hãy xuống và cấm họ đến nơi này”; và ông đã cấm họ theo lệnh. Tuy nhiên đêm ấy một ngư phủ tên Karim tình cờ đi ngang qua, thấy cổng vườn mở, bèn tự nhủ, “Đây là lúc sơ suất; và ta sẽ tận dụng nó để đánh một ít cá.” Vậy hắn cầm lưới và quăng ra, nhưng hắn vừa làm xong thì kìa, Khalif một mình đi tới, đứng ngay gần đó, nhận ra hắn và gọi lớn, “Này, Karim!” Người đánh cá nghe gọi tên mình, quay lại, và thấy Khalif thì run rẩy, cơ sườn rung lên, hắn kêu, “Nhân danh Allah, ôi Chủ nhân của các tín đồ, thần không làm điều ấy để giễu cợt mệnh lệnh; nhưng nghèo khó và gia đình đông miệng ăn đã đẩy thần tới việc ngài thấy!” Khalif nói, “Hãy quăng một mẻ nhân danh ta.” Nghe vậy người đánh cá mừng rỡ, đi ra bờ sông, quăng lưới, rồi chờ cho lưới trải rộng hết mức và lắng xuống, kéo lên và thấy trong đó đủ loại cá. Khalif hài lòng và nói, “Hỡi Karim, cởi áo của ngươi ra.” Vậy hắn cởi một áo khoác dài bằng vải len thô, vá trăm chỗ, trên đó rận bò lổn ngổn, và một khăn quấn đầu đã ba năm chưa từng tháo xoắn, nhưng hắn đã khâu vào đó mọi mảnh giẻ mình nhặt được. Khalif cũng cởi khỏi người hai áo trong bằng lụa Alexandria và Ba'lbak, một áo dài trong rộng và một áo khoác ngoài tay dài, rồi nói với người đánh cá, “Hãy lấy chúng mà mặc vào,” trong khi ngài khoác áo len bẩn thỉu và khăn quấn đầu dơ dáy, kéo một góc khăn đội đầu làm màn che miệng[FN#56] trước mặt mình. Rồi ngài nói với người đánh cá, “Đi lo việc của ngươi đi!”; người kia hôn chân Khalif, cảm tạ ngài và ứng khẩu những đôi câu sau,
“Ngài đã ban nhiều ân huệ hơn mọi điều thần từng cầu xin; * Ngài đã thỏa mãn những nhu cầu từng bắt trái tim thần làm nô lệ:
Thần sẽ cảm tạ ngài, cảm tạ mãi chừng nào đời còn kéo dài, * Và xương cốt thần sẽ ngợi ca ngài trong nấm mồ khắc sâu!”
Người đánh cá vừa dứt lời thơ thì rận bắt đầu bò trên da Khalif, và ngài bắt đầu bắt chúng trên cổ mình bằng tay phải lẫn tay trái rồi ném chúng đi, trong khi kêu, “Hỡi ngư phủ, khốn cho ngươi! sao áo khoác của ngươi lại có lắm rận thế này.” Hắn đáp, “Thưa chúa công, lúc đầu chúng có thể làm phiền ngài, nhưng chưa đầy một tuần ngài sẽ chẳng cảm thấy chúng cũng chẳng nghĩ đến chúng nữa.” Khalif cười và nói với hắn, “Khốn cho ngươi! Chẳng lẽ ta sẽ để chiếc áo khoác này của ngươi trên người ta lâu đến thế?” Người đánh cá nói, “Thần muốn thưa với ngài một lời nhưng hổ thẹn trước mặt Khalif!”; ngài phán, “Hãy nói điều ngươi muốn nói.” Người đánh cá nói, “Ý nghĩ thoáng qua trong đầu thần, ôi Chủ nhân của các tín đồ, rằng vì ngài muốn học nghề đánh cá để có trong tay một nghề lương thiện kiếm kế sinh nhai, chiếc áo khoác này của thần rất hợp với ngài.”[FN#57] Chủ nhân của các tín đồ bật cười trước lời ấy, và người đánh cá đi đường của hắn. Rồi Khalif cầm lấy giỏ cá, rải lên một ít cỏ xanh, đem đến chỗ Ja'afar và đứng trước mặt ông. Ja'afar tưởng ngài là Karim người đánh cá, sợ thay cho hắn và nói, “Hỡi Karim, điều gì đưa ngươi đến đây? Hãy chạy giữ mạng, vì Khalif đang ở trong vườn đêm nay, và nếu ngài thấy ngươi, cổ ngươi sẽ mất.” Nghe vậy Khalif cười, Ja'afar nhận ra ngài và hỏi, “Có thể là ngài chăng, thưa chúa công Sultan của chúng thần?”; ngài đáp, “Phải, hỡi Ja'afar, và ngươi là tể tướng của ta, ta và ngươi cùng đến đây với nhau; vậy mà ngươi còn không nhận ra ta; thế thì làm sao Shaykh Ibrahim nhận ra ta, khi ông ta đang say? Hãy ở lại đây cho tới khi ta trở lại với ngươi.” Ja'afar nói, “Nghe là vâng.” Rồi Khalif đi lên cửa đình và gõ nhẹ, tức thì Nur al-Din nói, “Hỡi Shaykh Ibrahim, có ai gõ cửa.” Shaykh kêu, “Ai đó?” và Khalif đáp, “Là ta, hỡi Shaykh Ibrahim!” Ông hỏi, “Ngươi là ai?” người kia đáp, “Ta là Karim ngư phủ: ta nghe ông có tiệc, nên đem đến cho ông ít cá, và thật tình đây là cá ngon.” Khi Nur al-Din nghe nhắc đến cá, chàng cùng thiếu nữ vui mừng, và cả hai nói với Shaykh, “Thưa chúa công của chúng con, hãy mở cửa và để hắn mang cá vào cho chúng ta.” Vậy Shaykh Ibrahim mở cửa, Khalif bước vào (trong lốt người đánh cá), và bắt đầu bằng việc chào họ. Shaykh Ibrahim nói, “Chào mừng tên vô lại, tên cướp, tay cờ bạc! Hãy cho chúng ta xem cá của ngươi.” Vậy Khalif cho họ xem mẻ cá của mình, và kìa, cá vẫn còn sống, đang nhảy; thiếu nữ bèn kêu, “Nhân danh Allah! Thưa chúa công, cá này quả thật ngon: giá như chúng được chiên lên!” Shaykh Ibrahim đáp, “Nhân danh Allah, thưa phu nhân, nàng nói đúng.” Rồi ông nói với Khalif, “Hỡi ngư phủ, sao ngươi không đem cá đã chiên sẵn cho chúng ta? Nào đứng dậy nấu chúng rồi đem lại đây cho chúng ta.” Khalif nói, “Mệnh lệnh của ông đặt trên đầu ta! Ta sẽ chiên cho ông một món rồi đem đến.” Họ nói, “Nhanh lên.” Nghe vậy ngài đi ra và chạy cho tới khi đến chỗ Ja'afar, rồi gọi ông, “Này, Ja'afar!”; ông đáp, “Thần đây, ôi Chủ nhân của các tín đồ, mọi sự tốt lành chăng?” Khalif nói, “Họ muốn cá chiên,” và Ja'afar đáp, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, hãy đưa cho thần, thần sẽ chiên cho họ.” Khalif nói, “Nhân mồ mả tổ tiên ta, chẳng ai chiên nó ngoài chính tay ta!” Vậy ngài đi đến lều của người làm vườn, tìm kiếm và thấy đủ mọi thứ mình cần, kể cả muối, nghệ tây, kinh giới dại và những thứ khác. Rồi ngài quay sang lò than, đặt chảo lên, chiên một mẻ thật ngon. Khi xong, ngài đặt cá lên một lá chuối, rồi nhặt trong vườn những quả rụng vì gió, chanh xanh và chanh vàng, đem cá đến đình và đặt món ấy trước mặt họ. Vậy chàng trai, thiếu nữ và Shaykh Ibrahim bước tới ăn; sau đó họ rửa tay, và Nur al-Din nói với Khalif, “Nhân danh Allah, hỡi ngư phủ, đêm nay ngươi đã làm cho chúng ta một việc rất tốt.” Rồi chàng thò tay vào túi, lấy ra ba đồng dinar trong số Sanjar đã cho chàng, nói, “Hỡi ngư phủ, hãy thứ lỗi cho ta. Nhân danh Allah, nếu ta biết ngươi trước những điều gần đây đã xảy đến với ta, ta đã xóa bỏ vị đắng của nghèo khó khỏi trái tim ngươi; nhưng hãy nhận lấy điều này như điều tốt nhất ta có thể làm cho ngươi.” Rồi chàng ném các đồng vàng cho Khalif, ngài cầm lấy, hôn chúng và đặt vào túi. Bấy giờ mục đích duy nhất của ngài khi làm mọi việc này là được nghe thiếu nữ hát; nên ngài nói với Nur al-Din, “Ngài đã thưởng cho tôi hết sức rộng rãi, nhưng tôi cầu xin lòng hào phóng vô biên của ngài cho thiếu nữ này hát một khúc, để tôi được nghe nàng.”[FN#58] Vậy Nur al-Din nói, “Hỡi Anis al-Jalis!” nàng đáp, “Vâng!” và chàng tiếp, “Lấy mạng ta mà thề, hãy hát cho chúng ta nghe một khúc vì người đánh cá này, kẻ rất muốn nghe nàng.” Nghe vậy nàng cầm đàn lute, gảy dây, sau khi đã vặn chặt và chỉnh âm, rồi hát những câu ứng tác này,
“Con nai cái thiếu nữ nắm cây đàn lute trong tay * Và âm nhạc của nàng khiến chúng ta phấn chấn xiết bao:
Vì khúc hát của nàng ban thính giác cho những tai điếc như đá, * Trong khi kẻ câm cũng kêu lên: Hay thay! Hay thay!”
Rồi nàng lại chơi đàn, và chơi mê hồn đến nỗi làm say đắm trí tuệ họ, rồi bỗng ứng tác và hát những đôi câu này,
“Các vị đã vinh danh chúng tôi bằng cách thăm xứ sở này của chúng tôi, * Và vẻ huy hoàng của các vị đã soi sáng những bóng tối hòa lẫn:
Vậy phải lẽ là vì các vị, tôi xông hương nơi mình ở * Bằng nước hồng, xạ hương và mùi long não!”
Nghe vậy Khalif xúc động, cảm xúc chế ngự ngài đến nỗi vì quá khoái lạc mà ngài không thể tự chủ, và ngài kêu lên, “Nhân danh Allah, hay! nhân danh Allah, hay! nhân danh Allah, hay!”[FN#59] Nur al-Din hỏi, “Hỡi ngư phủ, thiếu nữ này có làm ngươi hài lòng không?” Khalif đáp, “Có, nhân danh Allah!” Bấy giờ Nur al-Din nói, “Nàng là quà tặng cho ngươi, món quà của người hào hiệp không hối tiếc vì những gì mình ban và sẽ chẳng bao giờ thu hồi quà tặng của mình!” Rồi chàng bật dậy, lấy một áo choàng rộng, khoác lên người ngư phủ và truyền cho ngài nhận thiếu nữ rồi đi. Nhưng nàng nhìn chàng và nói, “Thưa chúa công, chàng ra đi mà không từ biệt sao? Nếu phải như vậy, ít nhất hãy ở lại cho đến khi thiếp chào tạm biệt chàng và bày tỏ cảnh ngộ của mình.” Và nàng bắt đầu làm thơ bằng những câu này,
“Khi tình yêu, nỗi nhớ và tiếc thương là của thiếp, * Há thân thể này chẳng phải hiện dấu bệnh sao?
Người yêu của thiếp! chớ nói, ‘Rồi nàng sẽ sớm được khuây khỏa’; * Khi cảnh trạng nói với cảnh trạng, chẳng ai xoa dịu được nỗi mòn mỏi của thiếp.
Nếu người sống có thể bơi trên nước mắt mình, * Thiếp hẳn là kẻ đầu tiên nổi trên dòng nước của đôi mắt này:
Ôi chàng, người đã truyền tình yêu của mình vào trái tim thiếp, * Như nước hòa lẫn trong chén với rượu,
Đây là nỗi sợ thiếp từng sợ, đòn ly biệt này. * Ôi chàng, tình yêu dành cho chàng chẳng bao giờ rời khỏi lõi tim thiếp!
Ôi Bin Khákán! điều thiếp tìm, hy vọng của thiếp, ý muốn của thiếp, * Ôi chàng, tình yêu của chàng đã khiến lồng ngực này hoàn toàn thuộc về chàng!
Vì thiếp, chàng đã phạm lỗi với chúa công là đức vua, * Và chuốc lấy cảnh lưu đày nơi những miền đất xa lạ:
Cầu Allah đừng bao giờ khiến chúa công của thiếp hối tiếc vì mất thiếp * Khi chàng đã trao thiếp cho tinh hoa[FN#60] của loài người, một người thật xứng đáng.”
Khi nàng đã dứt lời thơ, Nur al-Din đáp lại nàng bằng những câu này,
“Nàng từ biệt ta trong ngày chúng ta chia lìa, * Và nàng khóc trong ngọn lửa của tai ương cùng khổ đau của chúng ta:
‘Chàng sẽ làm gì khi thiếp rời xa chàng?’ * Ta đáp, ‘Hãy nói lời ấy với người còn giữ được mạng sống!’”
Khi Khalif nghe nàng nói trong câu thơ của nàng,
“Chàng đã trao thiếp cho Karim, tinh hoa của loài người;”
lòng ngài đối với nàng càng tăng gấp bội, và việc chia lìa họ xem ra là chuyện nặng nề đau đớn; vậy ngài nói với chàng trai, “Thưa chúa công, quả thật thiếu nữ đã nói trong thơ rằng ngài đã phạm lỗi với chủ nàng và người sở hữu nàng; vậy xin nói cho ta biết, ngài đã phạm lỗi với ai và ai là người có quyền đòi hỏi nơi ngài?” Nur al-Din đáp, “Nhân danh Allah, hỡi ngư phủ, giữa ta và thiếu nữ này đã xảy ra một câu chuyện kỳ diệu và một việc lạ lùng: nếu nó được khắc bằng kim khắc nơi khóe mắt, nó hẳn sẽ là lời răn cho bất cứ ai muốn được răn dạy.” Khalif kêu, “Chẳng lẽ ngài không kể cho ta nghe câu chuyện của ngài và cho ta biết cảnh ngộ của ngài sao? Có lẽ nó sẽ đem đến cho ngài sự giải thoát, bởi sự trợ giúp của Allah bao giờ cũng gần kề.” Nur al-Din nói, “Hỡi ngư phủ, ngươi muốn nghe chuyện chúng ta bằng thơ hay bằng văn xuôi?” Khalif đáp, “Văn xuôi là thứ lắm lời, còn thơ thì là những viên ngọc xâu chuỗi.” Bấy giờ Nur al-Din cúi đầu xuống và làm những đôi câu này,
“Hỡi bạn ta! bị tước mất nghỉ ngơi, ta chẳng còn yên tĩnh, * Và nỗi sầu của ta tăng gấp bội nơi đất khách xa xôi này:
Xưa ta có một người cha, chẳng ai nhân hậu hơn; * Nhưng người đã chết và trả món nợ máu cho Tử Thần:
Khi người rời khỏi ta, mọi việc đều thành trái ngang, * Cho tới khi tim ta gần tan vỡ, bản tính ta mất cả khí phách:
Người mua cho ta một tỳ nữ, một mỹ nhân khiến * Cành liễu được Zephyr ve vuốt cũng phải hổ thẹn:
Ta phung phí gia sản mình cho nàng, * Và tiêu xài như một quý nhân quyền thế lớn lao:
Rồi buộc phải bán nàng, nỗi buồn của ta càng tăng; * Cuộc chia lìa đau đớn, song ta chẳng thể cưỡng chống:
Ngay khi người rao vừa cất tiếng rao nàng, có kẻ trả giá, * Một lão già ác độc, một ngọn lửa cháy bừng:
Vậy ta nổi giận một cơn giận không thể kìm nén, * Và giật nàng khỏi tay kẻ làm thuê của hắn;
Khi lão keo kiệt giận dữ sửa soạn đánh nhau, * Và ngọn lửa ẩu đả bùng lên giữa hắn cùng bè lũ,
Ta giáng vào hắn trong cơn cuồng nộ, bằng tay phải và tay trái, * Và đánh cho tấm da hắn được thuộc, được nhuộm đến vừa lòng:
Rồi trong sợ hãi ta trốn đi, ẩn trong nhà mình, * Để thoát khỏi những cạm bẫy kẻ thù đã giăng:
Thế là vua của xứ ấy ban lệnh bắt ta; * Khi một vị thị thần tốt lành tìm được lối đến với ta:
Và cảnh báo ta phải trốn khỏi thành thật xa, * Biến mất, làm hỏng điều kẻ thù của ta đã mưu tính:
Rồi chúng ta rời nhà dưới cánh đêm, * Và tìm nơi nương náu bên bờ Baghdad:
Trong của cải của ta, ta chẳng còn gì để ban cho ngươi, * Hỡi ngư phủ, ngoài món quà xinh đẹp ngươi đã ngắm nhìn:
Người yêu dấu của hồn ta, và khi ta lìa xa nàng, * Hãy biết chắc rằng ta trao cho ngươi máu của trái tim mình.”[FN#61]
Khi chàng dứt lời thơ, Khalif nói với chàng, “Thưa chúa công Nur al-Din, xin giải thích cho ta cảnh ngộ của ngài đầy đủ hơn.” Vậy chàng kể cho ngài toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối, và Khalif nói với chàng, “Giờ ngài định đi đâu?” Chàng đáp, “Thế giới của Allah rộng lớn.” Khalif nói, “Ta sẽ viết cho ngài một bức thư để mang đến Sultan Mohammed bin Sulayman al-Zayni, và khi đọc nó, ngài ấy sẽ chẳng hại cũng chẳng làm tổn thương ngài điều gì.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ ba mươi tám đến,
Nàng tiếp tục, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Khalif nói với Nur al-Din Ali, “Ta sẽ viết cho ngài một bức thư để mang đến Sultan Mohammed bin Sulayman al-Zayni, và khi đọc nó, ngài ấy sẽ chẳng hại cũng chẳng làm tổn thương ngài điều gì,” Nur al-Din hỏi, “Sao! trên đời lại có một ngư phủ viết thư cho các vua ư? Chuyện như thế không bao giờ có thể xảy ra!”; Khalif đáp, “Ngài nói đúng, nhưng ta sẽ cho ngài biết nguyên do. Hãy biết rằng ta và ngài ấy từng học chung một trường dưới một thầy giáo, và ta là người giám học của ngài ấy. Từ thời ấy, Vận Mệnh đã kết bạn với ngài ấy và ngài ấy trở thành Sultan, còn Allah đã hạ thấp ta và khiến ta thành ngư phủ; song ta chưa từng gửi lời xin ngài ấy điều gì mà ngài ấy không làm theo ý ta; phải, dẫu ta mỗi ngày xin ngài ấy một nghìn ân huệ, ngài ấy cũng sẽ thuận theo.” Khi Nur al-Din nghe vậy, chàng nói, “Tốt! hãy viết để ta xem.” Vậy Khalif lấy hộp mực và bút sậy, rồi viết như sau,—“Nhân danh Allah, Đấng Thương Xót, Đấng Từ Bi! Sau nữa.[FN#62] Bức thư này do Harun al-Rashid, con trai Al-Mahdi, viết gửi đến điện hạ Mohammed bin Sulayman al-Zayni, người mà ta đã bao phủ bằng ân huệ của ta và đặt làm phó vương ở một số lãnh thổ của ta. Người mang thư này là Nur al-Din Ali, con trai Fazl bin Khákán, vị tể tướng. Ngay khi thư này đến tay ngươi, hãy lập tức cởi bỏ phẩm vị vương giả và trao nó cho chàng; vậy chớ chống lại mệnh lệnh của ta, và bình an ở cùng ngươi.” Ngài trao thư cho Nur al-Din, chàng nhận lấy, hôn nó, rồi đặt vào khăn quấn đầu và lập tức lên đường. Chuyện về chàng tới đây; còn về Khalif, Shaykh Ibrahim nhìn chằm chằm vào ngài (ngài vẫn đang trong y phục ngư phủ) và nói, “Hỡi tên ngư phủ đê tiện nhất, ngươi đã đem cho chúng ta một đôi cá đáng giá chừng hai mươi nửa-dirham,[FN#63] và đã lấy được ba dinar cho chúng; vậy mà ngươi còn nghĩ lấy luôn cả thiếu nữ sao?” Khi Khalif nghe vậy, ngài quát ông và ra hiệu cho Masrur, người bèn lộ diện và lao vào chỗ ông. Bấy giờ Ja'afar đã sai một trong các cậu trai làm vườn đến chỗ người giữ cửa cung điện để lấy một bộ vương phục cho Chủ nhân của các tín đồ; vậy người ấy đi, rồi trở lại với bộ áo, hôn đất trước Khalif và dâng nó cho ngài. Rồi ngài cởi bỏ y phục đang mặc[FN#64] và khoác lên trang phục đế vương. Shaykh Ibrahim vẫn đang ngồi trên ghế, còn Khalif nấn ná để xem chuyện gì sẽ xảy ra tiếp. Nhưng khi thấy ngư phủ trở thành Khalif, Shaykh Ibrahim hoàn toàn bối rối và không thể làm gì ngoài việc cắn đầu ngón tay[FN#65] rồi nói, “Ước gì ta biết ta đang ngủ hay đang thức!” Cuối cùng Khalif nhìn ông và quát, “Hỡi Shaykh Ibrahim, ta đang thấy ngươi trong tình trạng gì thế này?” Nghe vậy ông tỉnh lại khỏi cơn say và, ném mình xuống đất, ngâm những câu này,
“Xin tha thứ những đường tội lỗi tôi đã theo; * Lòng thương từ chúa công là điều mọi nô bộc đáng được hưởng:
Lời thú nhận trả món phạt mà tội lỗi đòi; * Vậy đâu là điều mà ân sủng và lòng khoan dung tìm kiếm?”[FN#66]
Khalif tha thứ cho ông và truyền đưa thiếu nữ về cung thành, nơi ngài dành riêng cho nàng một phòng và chỉ định nô bộc hầu hạ nàng, rồi nói với nàng, “Hãy biết rằng chúng ta đã sai chúa công của nàng đi làm Sultan ở Bassorah, và nếu Allah Toàn năng muốn, chúng ta sẽ gửi cho chàng áo phong chức cùng với nàng.” Trong khi ấy, Nur al-Din Ali không ngừng đi đường cho tới khi tới Bassorah, nơi chàng đến cung điện Sultan và cất tiếng hô lớn.[FN#67] Sultan nghe thấy chàng và sai gọi chàng vào; khi chàng vào trước mặt ngài, chàng hôn đất giữa hai tay ngài, rồi lấy bức thư ra dâng lên. Thấy dòng đề trên thư là nét chữ của Chủ nhân của các tín đồ, Sultan đứng dậy và hôn nó ba lần; rồi sau khi đọc, ngài nói, “Ta nghe và ta vâng Allah Toàn năng cùng Chủ nhân của các tín đồ!” Rồi ngài triệu bốn vị Kazi[FN#68] và các Emir, và sắp cởi bỏ vương quyền thì kìa, Al Mu'ín bin Sáwí bước vào. Sultan trao cho hắn bức thư của Khalif, hắn đọc nó, rồi xé thành mảnh, cho vào miệng, nhai[FN#69] và nhổ ra. Sultan nói, “Khốn cho ngươi,” (và quả thật ngài giận dữ dữ dội); “điều gì khiến ngươi làm việc này?” Mu'ín đáp, “Nay, lấy mạng ngài mà thề! Ôi chúa công Sultan của chúng ta, kẻ này chưa từng gặp Khalif cũng chưa từng gặp tể tướng của ngài; hắn chỉ là một con chim treo cổ, một chi thể của Satan, một tên vô lại, sau khi tình cờ nhặt được một tờ giấy có chữ viết tay của Khalif, một văn bản vô dụng nào đó, đã khiến nó phục vụ mục đích riêng của mình. Khalif chắc chắn sẽ không sai hắn đến đoạt Sultanate khỏi tay ngài mà không có bút tích đế vương[FN#70] và sắc phong trao quyền, và chắc chắn ngài cũng sẽ phái cùng hắn một vị thị thần hoặc một tể tướng. Nhưng hắn đã đến một mình, và hắn chưa bao giờ đến từ Khalif, không, chẳng bao giờ! chẳng bao giờ! chẳng bao giờ!” Sultan hỏi, “Phải làm gì?” Vị tể tướng đáp, “Hãy để hắn cho thần, thần sẽ bắt hắn và giữ hắn cách xa ngài, rồi gửi hắn dưới sự trông coi của một vị thị thần đến thành Baghdad. Khi ấy, nếu điều hắn nói là thật, họ sẽ đem về cho chúng ta bút tích và sắc phong; còn nếu không, thần sẽ đòi món nợ của mình từ con nợ này.” Khi Sultan nghe lời tể tướng, ngài nói, “Hãy đem ngươi và hắn đi.” Al Mu'ín nhận chàng từ tay vua và, đưa chàng về nhà mình, thét gọi bọn tiểu đồng; chúng đặt chàng nằm sấp và đánh cho tới khi chàng ngất đi. Rồi hắn cho xiềng nặng vào chân chàng và đưa chàng tới nhà giam, nơi hắn gọi cai ngục, tên là Kutayt,[FN#71] người đi tới và hôn đất trước mặt hắn. Tể tướng nói, “Hỡi Kutayt, ta muốn ngươi bắt tên này và ném hắn vào một trong các ngục thất dưới đất[FN#72] trong nhà tù, rồi tra tấn hắn ngày đêm.” Cai ngục đáp, “Nghe là vâng,” rồi đưa Nur al-Din vào nhà tù, khóa cửa lại. Sau đó ông truyền quét dọn một chiếc ghế dài sau cửa, trải lên đó một tấm thảm ngồi và một tấm da, đặt Nur al-Din ngồi lên, tháo xiềng cho chàng và đối xử tử tế với chàng. Tể tướng mỗi ngày đều sai người đến căn dặn cai ngục phải đánh chàng, nhưng ông kiêng không làm việc ấy, và cứ tiếp tục như vậy trong bốn mươi ngày. Đến ngày thứ bốn mươi mốt, có một món quà từ Khalif gửi tới; khi Sultan thấy nó thì hài lòng và bàn bạc với các tể tướng về việc này, một người trong số họ nói, “Có lẽ món quà này dành cho vị Sultan mới.” Al-Mu'ín kêu, “Lẽ ra chúng ta đã làm tốt nếu giết hắn ngay khi hắn vừa đến”; Sultan kêu lên, “Nhân danh Allah, ngươi đã nhắc ta nhớ đến hắn! Hãy xuống nhà tù và đem hắn tới, rồi ta sẽ chém đầu hắn.” Al-Mu'ín đáp, “Nghe là vâng”; rồi hắn đứng lên và nói, “Thần sẽ cho rao trong thành:—Ai muốn tự khuây khỏa bằng cách xem cuộc chém đầu Nur al-Din bin al-Fazl bin Khákán, hãy đến cung điện! Vậy kẻ theo lẫn người được theo, lớn nhỏ đều sẽ đổ về xem cảnh ấy, và thần sẽ chữa lành lòng mình, làm hại kẻ thù của mình.” Sultan nói, “Hãy làm như ngươi muốn.” Tể tướng ra đi (lòng vui vẻ hân hoan), và truyền cho viên Cảnh trưởng rao lời đã nói trên. Khi dân chúng nghe tiếng người rao, tất cả đều sầu não và khóc lóc, cả bọn trẻ nhỏ ở trường và các thương nhân trong cửa hiệu; có người cố tìm chỗ để xem cảnh ấy, trong khi những người khác đi đến nhà tù với ý định hộ tống chàng từ đó. Lát sau, tể tướng cùng mười Mameluke đến nhà lao, và Kutayt, viên cai ngục, hỏi hắn, “Ngài tìm ai, thưa chúa công tể tướng của chúng tôi?”; hắn đáp, “Đưa con chim treo cổ ấy ra cho ta.” Nhưng cai ngục nói, “Hắn đang ở trong cảnh đáng thương nhất vì bị tôi đánh quá nhiều.” Rồi ông vào nhà tù và thấy Nur al-Din đang ngâm những câu này,
“Ai sẽ đỡ nâng ta trong tai họa, * Khi mọi phương thuốc thất bại và mối lo lớn hơn nổi lên?
Lưu đày đã làm mòn tim ta, xé nát ruột gan ta; Thế gian đã biến những đồng minh vững chắc của ta thành thù địch.
Hỡi người đời, chẳng có một bạn hữu nào giữa các người * Than khóc cho khổ nạn của ta, và kêu lên khi nghe tiếng ta kêu sao?
Cái chết cùng những cơn hấp hối của nó xem ra nhẹ đối với ta, * Vì đời đã mất hết mọi vui thú và hân hoan:
Ôi Chúa của Mustafá,[FN#73] biển Tri Thức ấy, * Đấng Cầu thay duy nhất, Người Dẫn đường thông suốt, toàn trí!
Con cầu Người giải thoát con và bỏ qua lỗi lầm của con, * Và xua khỏi con điều ác cùng nỗi khổ của con.”
Cai ngục cởi bỏ quần áo sạch của chàng và, mặc cho chàng hai chiếc áo bẩn thỉu, đưa chàng đến chỗ tể tướng. Nur al-Din nhìn hắn và thấy chính kẻ thù đang tìm cách gây nên cái chết cho mình; vậy chàng khóc và nói, “Vậy ngươi thật an toàn trước Thế gian sao? Ngươi chưa nghe lời thi nhân nói ư,
‘Kisra và Caesar trong ngày đã qua * Tích trữ của cải; chúng ở đâu, và than ôi! họ ở đâu?’
“Hỡi tể tướng,” chàng nói tiếp, “hãy biết rằng Allah (nguyện Người được tán dương và tôn cao!) sẽ làm bất cứ điều gì Người muốn!” Hắn đáp, “Hỡi Ali, ngươi tưởng dọa được ta bằng những lời như thế sao? Chính ngày hôm nay ta sẽ chém cổ ngươi, bất chấp mũi của dân Bassorah, và ta chẳng quan tâm; cứ để ngày tháng làm điều chúng thích; ta cũng sẽ chẳng quay sang lời khuyên của ngươi mà quay sang điều thi nhân nói,
‘Hãy để ngày tháng sinh ra cấm đoán và hiểm họa của chúng, * Và hãy làm mình mạnh mẽ để gánh lấy sức nặng của Định Mệnh.’
Và một người khác cũng nói xuất sắc biết bao,
‘Kẻ nào được thấy ngày chết của kẻ thù, * Sống thêm một ngày, là đạt ước nguyện tốt nhất của mình.’”
Rồi hắn ra lệnh cho tùy tùng đặt Nur al-Din lên lưng trần của một con la; và họ nói với chàng trai (bởi thật sự việc ấy khiến họ khó chịu), “Hãy để chúng tôi ném đá hắn và chém hắn ngã xuống, dẫu mạng chúng tôi phải trả giá.” Nhưng Nur al-Din nói với họ, “Đừng làm vậy: các ngươi chưa nghe lời thi nhân nói sao,
‘Ta buộc phải chịu kỳ hạn do Định Mệnh định ra, * Và khi ngày ấy qua rồi, ta buộc phải chết:
Nếu sư tử kéo ta vào hang rừng của chúng, * Ta vẫn sống an toàn cho tới khi ngày chết của ta đến gần.’”
Rồi họ bắt đầu rao trước mặt Nur al-Din, “Đây là hình phạt nhẹ nhất dành cho kẻ lừa các vua bằng đồ giả mạo.” Và họ không ngừng diễu chàng quanh Bassorah, cho tới khi khiến chàng đứng dưới các cửa sổ cung điện, đặt chàng trên tấm da máu,[FN#74] và người cầm gươm bước tới chàng nói, “Thưa chúa công, tôi chỉ là một nô bộc được lệnh trong việc này: nếu ngài có điều gì mong muốn, hãy nói với tôi để tôi làm trọn, vì giờ phần đời của ngài chỉ còn chừng ấy thời gian cho tới khi Sultan ló mặt ra khỏi song cửa.” Nghe vậy Nur al-Din nhìn sang phải và sang trái, trước mặt và sau lưng, rồi bắt đầu ứng tác,
“Gươm, người cầm gươm và tấm da hứng máu đang chờ ta, ta trông thấy, * Và kêu, Than ôi, số phận ác nghiệt của ta! ôi tai họa của ta!
Sao ta chẳng thấy một bạn hữu yêu thương nào bằng mắt của cảm thức hay linh hồn? * Sao! chẳng có ai ở đây? Ta kêu với hết thảy: chẳng ai đáp lại ta sao?
Thời gian làm nên đời ta đã qua, kỳ hạn chết của ta đang đến gần, * Chẳng người nào giành lấy ân sủng của Allah bằng cách tỏ lòng khoan thứ với ta sao;
Và nhìn cảnh trạng ta bằng lòng thương, xua đi tuyệt vọng đen tối của ta, * Dẫu chỉ bằng một ngụm nước trao cho để làm mát cơn hấp hối?”
Dân chúng bắt đầu khóc thương chàng; và người hành quyết đứng dậy, đem cho chàng một ngụm nước; nhưng tể tướng bật dậy khỏi chỗ mình, lấy tay đánh vào bình nước và làm nó vỡ: rồi hắn quát người hành quyết và truyền chặt đầu Nur al-Din. Vậy hắn bịt mắt người bị kết án, dân chúng kêu la phản đối tể tướng, những tiếng than lớn vang lên và nhiều người hỏi han nhau. Đúng lúc ấy kìa, một đám bụi dày nổi lên, phủ kín trời và đồng nội; khi Sultan, đang ngồi trong cung, nhìn thấy nó, ngài nói với đoàn tùy tùng, “Hãy đi xem đám bụi kia mang gì đến.” Al Mu'ín đáp, “Không, cho tới khi chúng ta đã chém cổ tên này”; nhưng Sultan nói, “Hãy chờ cho đến khi chúng ta xem việc này nghĩa là gì.” Bấy giờ đám bụi ấy là bụi của Ja'afar người Barmecide, tể tướng của Khalif, cùng đoàn quân của ông; và nguyên do ông đến là như sau. Khalif đã trải qua ba mươi ngày mà không nhớ đến việc của Nur al-Din Ali,[FN#75] và chẳng ai nhắc ngài chuyện ấy, cho tới một đêm, khi ngài đi ngang qua phòng của Anis al-Jalis, ngài nghe nàng khóc và hát bằng giọng mềm mại ngọt ngào những câu thơ này của thi nhân,
“Trong ý nghĩ, ta thấy hình ngươi dẫu xa nhất xa hay gần nhất gần; * Và trên lưỡi ta ngự một cái tên mà người đời sẽ chẳng bao giờ không nghe.”
Rồi tiếng khóc của nàng càng tăng; thì kìa! Khalif mở cửa và, bước vào phòng, thấy Anis al-Jalis đang đẫm lệ. Khi nàng thấy ngài, nàng ngã xuống đất, hôn chân ngài ba lần và ngâm những câu này,
“Ôi gốc rễ phì nhiêu và thân cây sinh trưởng cao quý; * Cành trĩu quả chín của giống nòi chưa từng bị vấy bẩn;
Thiếp nhắc ngài về giao ước mà lòng hào phóng của ngài đã lập; * Mong rằng việc quên cảnh ngộ của thiếp còn xa khỏi ngài!”
Khalif hỏi, “Ngươi là ai?” nàng đáp, “Thiếp là người mà Ali bin Khákán đã trao cho ngài làm quà, và thiếp mong được hoàn tất lời hứa của ngài: gửi thiếp đến với chàng cùng áo vinh dự; bởi nay thiếp đã ba mươi ngày không nếm được thức ăn của giấc ngủ.” Nghe vậy Khalif sai gọi Ja'afar và nói với ông, “Hỡi Ja'afar, đã ba mươi ngày rồi chúng ta không có tin tức gì về Nur al-Din bin Khákán, và ta không thể không nghĩ rằng Sultan đã giết chàng; nhưng, nhân mạng sống của đầu ta và nhân các lăng mộ tổ tiên ta, nếu bất cứ điều gian trá nào đã xảy đến với chàng, ta chắc chắn sẽ kết liễu kẻ gây ra nó, dẫu hắn là người thân yêu nhất đối với chính ta! Vì vậy ta muốn ngươi lên đường đi Bassorah trong giờ này và đem về cho ta tin tức về người anh em họ của ta, vua Mohammed bin Sulayman al-Zayni, và cách ngài ấy đã đối xử với Nur al-Din Ali bin Khákán”; rồi nói thêm, “Nếu ngươi nấn ná trên đường lâu hơn thời gian đủ cho cuộc hành trình, ta sẽ chém đầu ngươi. Hơn nữa, ngươi hãy kể cho con trai của chú ta toàn bộ câu chuyện của Nur al-Din, và việc ta đã gửi chàng đi cùng mệnh lệnh bằng văn bản của ta; và nếu ngươi thấy, hỡi em họ của ta,[FN#76] rằng nhà vua đã làm khác điều ta truyền, hãy đem ngài ấy cùng tể tướng Al-Mu'ín bin Sáwí về cho ta trong bất cứ dạng nào ngươi tìm thấy họ.”[FN#77] Ja'afar đáp, “Nghe và tuân lệnh,” rồi lập tức chuẩn bị và lên đường đi Bassorah, nơi tin tức về việc ông đến đã đi trước ông và đã tới tai vua Mohammed. Khi Ja'afar đến nơi và thấy thần dân chen chúc xô đẩy đông nghịt, ông hỏi, “Cuộc tụ họp này nghĩa là gì?” vậy người ta kể cho ông nghe việc đang xảy ra với Nur al-Din; nghe vậy ông vội đến chỗ Sultan, chào ngài, rồi cho ngài biết nguyên nhân ông đến và quyết tâm của Khalif, rằng nếu có điều gian trá nào xảy đến với chàng trai, ngài sẽ xử tử bất cứ ai gây ra việc ấy. Rồi ông bắt giữ nhà vua và tể tướng, đặt họ dưới sự canh giữ; và truyền thả Nur al-Din Ali, rồi tôn chàng lên làm Sultan thay cho Mohammed bin Sulayman. Sau đó Ja'afar ở lại Bassorah ba ngày, thời hạn thông thường dành cho khách, và sáng ngày thứ tư, Nur al-Din Ali quay sang ông và nói, “Ta khao khát được thấy Chủ nhân của các tín đồ.” Bấy giờ Ja'afar nói với Mohammed bin Sulayman, “Hãy chuẩn bị lên đường, vì chúng ta sẽ cầu nguyện lúc bình minh rồi cưỡi ngựa hướng về Baghdad”; và ngài đáp, “Nghe là vâng.” Rồi họ cầu nguyện, lên ngựa và khởi hành, tất cả bọn họ, mang theo tể tướng Al-Mu'ín bin Sáwí, kẻ bắt đầu hối hận vì điều mình đã làm. Nur al-Din cưỡi ngựa bên cạnh Ja'afar và họ không ngừng đi đường cho tới khi đến Baghdad, Nhà Bình An, rồi vào gặp Khalif và kể cho ngài nghe họ đã tìm thấy Nur al-Din gần kề cái chết ra sao. Nghe vậy Khalif nói với chàng trai, “Hãy cầm thanh gươm này và dùng nó chém cổ kẻ thù của ngươi.” Vậy chàng cầm lấy gươm từ tay ngài và bước tới Al-Mu'ín, kẻ nhìn chàng và nói, “Ta đã làm theo sữa mẹ ta, ngươi hãy làm theo sữa mẹ ngươi.”[FN#78] Nghe vậy Nur al-Din ném gươm khỏi tay mình và nói với Khalif, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, hắn đã dùng lời lẽ mê hoặc thần”; và chàng ngâm đôi câu này,
“Bằng mưu mẹo và khéo léo ta bẫy hắn khi hắn đến; * Vài lời đẹp đẽ bao giờ cũng bẫy được thú săn cao quý!”
Khalif kêu, “Vậy hãy bỏ hắn,” rồi quay sang Masrur và nói, “Ngươi đứng lên chém cổ hắn.” Vậy Masrur rút gươm và chém đầu hắn. Rồi Khalif nói với Nur al-Din Ali, “Hãy xin ta một ân huệ.” Chàng đáp, “Thưa chúa công, thần không cần vương quyền Bassorah; mong muốn duy nhất của thần là được vinh dự phụng sự ngài và được nhìn thấy dung nhan ngài.” Khalif nói, “Với tình yêu và niềm vui.” Rồi ngài sai gọi thiếu nữ Anis al-Jalis, ban nhiều ân huệ dồi dào cho cả hai và trao cho họ một trong các cung điện của ngài ở Baghdad, chỉ định bổng lộc và cấp dưỡng, đồng thời đặt Nur al-Din Ali bin Fazl bin Khákán làm một trong những bạn chén của mình; và chàng sống bên Chủ nhân của các tín đồ, hưởng cuộc đời êm đẹp nhất cho tới khi cái chết bắt kịp chàng. “Song (Shahrazad tiếp) câu chuyện của chàng xét theo bất cứ cách nào cũng chẳng kỳ diệu hơn lịch sử người thương nhân và các con ông ta.” Nhà vua hỏi, “Và chuyện ấy là gì?” rồi Shahrazad bắt đầu kể
Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng vào thời xưa cũ, trong những năm tháng và thời đại đã lùi xa từ lâu, tại Damascus có một thương nhân trong giới thương nhân, một người giàu có, có một người con trai như vầng trăng trong đêm tròn đầy[FN#80] và lại ăn nói ngọt ngào, tên là Ghánim bin ‘Ayyúb, biệt hiệu Kẻ Sầu Loạn, Nô Lệ Của Tình Yêu. Ông cũng có một người con gái, em ruột của Ghanim, tên gọi Fitnah, một thiếu nữ độc nhất vô song về nhan sắc và duyên dáng. Cha của họ qua đời và để lại cho họ của cải dồi dào.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ ba mươi chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng vị thương nhân để lại cho hai con của mình của cải dồi dào, trong số những thứ khác có một trăm kiện hàng[FN#81] gồm lụa và gấm vóc, túi xạ hương và xà cừ; và trên mỗi kiện đều viết, “Đây là trong số các kiện hàng dành cho Baghdad,” bởi ông đã có ý định làm chuyến đi đến đó, thì Allah Toàn năng đưa ông về với Người, việc ấy xảy ra vào thời Khalif Harun al-Rashid. Sau một thời gian, con trai ông lấy các kiện hàng ấy, từ biệt mẹ, thân tộc và dân trong thành, rồi ra đi cùng một đoàn thương nhân, đặt lòng tin nơi Allah Toàn năng, Đấng đã định cho chàng được an toàn, nên chàng đến Baghdad không bị cản trở hay trì hoãn. Ở đó chàng thuê cho mình một ngôi nhà đẹp đẽ, trang hoàng bằng thảm và gối tựa, màn che và rèm rủ; trong ấy chàng cất các kiện hàng, cho la và lạc đà vào chuồng, sau đó ở lại một thời gian để nghỉ ngơi. Lát sau các thương nhân và bậc danh giá của Baghdad đến chào chàng; rồi chàng lấy một bó hàng gồm mười tấm vải quý, có ghi giá trên đó, đem đến chợ của các thương nhân, nơi họ đón tiếp, chào hỏi chàng và bày tỏ mọi sự tôn trọng; họ mời chàng xuống khỏi thú cưỡi, đặt chàng ngồi trong cửa hiệu của vị Trưởng chợ, người được chàng giao gói hàng. Ông mở nó ra, rút các tấm vải, bán giúp chàng với lời hai dinar trên mỗi dinar vốn gốc. Vì thế Ghanim vui mừng và cứ bán lần lượt lụa là cùng vải vóc của mình, không ngừng làm như vậy suốt trọn một năm. Vào ngày đầu tiên của năm kế tiếp, chàng đến Sở giao dịch trong chợ như thường lệ, nhưng thấy cổng đóng; hỏi nguyên do thì được bảo, “Một thương nhân đã chết, và tất cả những người khác đã đi đưa quan tài ông ấy,[FN#82] vậy sao ngài không giành lấy phần thưởng của việc lành bằng cách đi cùng họ?”[FN#83] Chàng đáp, “Được,” rồi hỏi khu phố nơi tang lễ đang diễn ra, và có người chỉ đường cho chàng. Vậy chàng thanh tẩy mình bằng phép tẩy Wuzu[FN#84], rồi cùng các thương nhân khác đến nhà nguyện, nơi họ cầu nguyện cho người chết; sau đó đi trước quan tài đến nơi chôn cất, còn Ghanim, vốn là người rụt rè, theo sau họ, vì hổ thẹn không dám bỏ đi. Chẳng bao lâu họ ra khỏi thành, đi qua các khu mộ cho tới khi tới ngôi mộ, nơi họ thấy thân quyến của người quá cố đã dựng một chiếc lều trên mộ và đem tới đó đèn cùng nến sáp. Vậy họ chôn thi hài, rồi ngồi xuống trong khi những người đọc tụng đọc và ngâm kinh Koran trên phần mộ; Ghanim cũng ngồi với họ, bị lòng e thẹn chế ngự và tự nhủ, “Ta chẳng tiện đi trước khi họ đi.” Họ nán lại nghe việc đọc trọn kinh Koran cho tới lúc đêm xuống, khi các tôi tớ dọn bữa tối và bánh kẹo[FN#85] trước mặt họ, và họ ăn đến no; rồi họ rửa tay và lại trở về chỗ ngồi. Nhưng tâm trí Ghanim bận nghĩ đến nhà cửa và hàng hóa của mình, vì sợ trộm cướp, nên chàng tự nhủ, “Ta là người xa lạ ở đây và bị cho là có tiền; nếu ta qua đêm bên ngoài, bọn trộm sẽ lấy cắp túi tiền và cả kiện hàng của ta nữa.” Vậy khi không thể kìm nổi nỗi sợ nữa, chàng đứng dậy rời khỏi cuộc tụ họp, trước đó đã xin phép đi vì có việc khẩn cấp; và theo các dấu hiệu trên đường, chàng nhanh chóng đến cổng thành. Nhưng lúc ấy đã nửa đêm, chàng thấy các cửa đều khóa, không thấy ai đi hay đến, cũng chẳng nghe gì ngoài tiếng chó tru và sói hú. Nghe vậy chàng kêu lên, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah! Ta sợ cho tài sản của mình nên quay về vì nó, nhưng giờ ta thấy cổng đóng kín và ta sợ chết cho mạng sống mình!” Rồi chàng quay lại, tìm một nơi có thể ngủ cho tới sáng, lát sau thấy một lăng mộ của Santon, một hình vuông bốn tường, có cây chà là giữa sân trong và một cổng bằng đá hoa cương. Cửa mở rộng; vậy chàng bước vào và muốn ngủ, nhưng giấc ngủ không đến với chàng; nỗi kinh hoàng và cảm giác hoang vắng đè nặng lên chàng, bởi chàng đơn độc giữa các ngôi mộ. Vì vậy chàng đứng dậy, mở cửa nhìn ra, thì kìa! chàng nhận thấy một ánh sáng từ xa ở hướng cổng thành; rồi đi một quãng ngắn về phía ấy, chàng thấy nó ở trên con đường mà chàng đã đi tới lăng mộ. Điều này khiến chàng sợ cho mạng sống mình, nên chàng vội đóng cửa, trèo lên ngọn cây chà là, ẩn mình trong lòng các tàu lá. Ánh sáng mỗi lúc một gần, cho tới khi nó sát bên lăng mộ; rồi nó dừng lại, và chàng thấy ba tên nô lệ, hai tên khiêng một chiếc rương, còn một tên cầm đèn lồng, rìu lưỡi ngang và một chiếc giỏ chứa ít vữa. Khi chúng đến lăng mộ, một trong hai tên khiêng rương nói, “Ngươi bị làm sao, hỡi Sawáb?”; và tên kia nói, “Có chuyện gì vậy, hỡi Káfúr?”[FN#86] Hắn nói, “Chẳng phải lúc ăn tối chúng ta đã ở đây, và chẳng phải chúng ta đã để cửa mở sao?” Tên kia đáp, “Phải, đúng vậy.” Kafur nói, “Xem kìa, giờ nó đã đóng và cài then.” Tên thứ ba, người cầm rìu lưỡi ngang, tên là Bukhayt,[FN#87] kêu, “Trí khôn các ngươi yếu quá! Các ngươi không biết rằng chủ các khu vườn thường từ Baghdad đi ra chăm sóc vườn, và khi chiều tối phủ xuống họ, họ vào nơi này rồi đóng cửa, vì sợ những gã da đen độc ác như chúng ta bắt họ, quay họ và ăn họ sao.”[FN#88] Hai tên kia nói, “Ngươi nói đúng, nhưng nhân danh Allah, dù thế nào đi nữa, trong chúng ta chẳng ai yếu trí hơn ngươi.” Bukhayt nói, “Nếu các ngươi không tin ta, hãy để chúng ta vào lăng mộ và ta sẽ khuấy con chuột dậy cho các ngươi xem; vì ta không nghi ngờ gì rằng khi hắn thấy ánh sáng và thấy chúng ta đi về phía nơi này, hắn đã chạy lên cây chà là và ẩn trong đó vì sợ chúng ta.” Khi Ghanim nghe vậy, chàng tự nhủ, “Ôi tên nô lệ đáng nguyền rủa nhất! Cầu Allah không giữ ngươi trong sự che chở thiêng liêng của Người vì mưu mẹo và trí khôn sắc bén này! Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah, Đấng Vinh Hiển, Đấng Vĩ Đại! Làm sao ta thoát khỏi bọn da đen này?” Rồi hai tên khiêng rương nói với tên cầm rìu, “Hãy trèo qua tường và mở cổng cho chúng ta, hỡi Bukhayt, vì chúng ta đã mệt vì khiêng chiếc rương trên cổ; và khi ngươi mở cổng xong, ngươi sẽ được một trong những con chúng ta bắt được bên trong, một con chuột béo tốt mà chúng ta sẽ chiên cho ngươi theo cách tuyệt hảo đến nỗi chẳng mất một hạt mỡ nào.” Nhưng Bukhayt đáp, “Ta sợ một điều mà trí khôn yếu ớt của ta đã gợi cho ta: chúng ta tốt hơn nên ném chiếc rương qua cổng; vì nó là kho báu của chúng ta.” Họ đáp, “Nếu ném, nó sẽ vỡ”; hắn nói, “Ta sợ rằng có bọn cướp bên trong, những kẻ giết người và cướp của, vì buổi tối là lúc chúng vào những nơi như thế này và chia chiến lợi phẩm.” Cả hai tên khiêng rương nói, “Ôi kẻ yếu trí kia, làm sao chúng có thể vào đây được!”[FN#89] Rồi chúng đặt chiếc rương xuống, trèo qua tường, nhảy vào trong và mở cổng, trong khi tên nô lệ thứ ba (tên được gọi là Bukhayt) đứng bên họ, cầm rìu lưỡi ngang, đèn lồng và chiếc giỏ tay đựng vữa. Sau đó chúng khóa cổng lại và ngồi xuống; lát sau một tên nói, “Hỡi các huynh đệ, chúng ta đã mệt vì đi bộ, vì nâng lên đặt xuống chiếc rương, và vì mở khóa rồi khóa cổng; giờ đã nửa đêm, chúng ta chẳng còn hơi sức để mở mộ và chôn chiếc rương: vậy hãy nghỉ ở đây hai hoặc ba giờ, rồi đứng dậy làm việc. Trong lúc ấy mỗi người chúng ta hãy kể mình đã bị hoạn ra sao và mọi việc xảy đến với mình từ đầu đến cuối, để thời gian trôi qua dễ hơn khi chúng ta nghỉ ngơi.” Nghe vậy tên thứ nhất, kẻ cầm đèn lồng và tên là Bukhayt, nói, “Ta sẽ kể chuyện của ta.” Họ đáp, “Hãy nói đi”; vậy hắn bắt đầu như sau
This content was flagged for safety reasons.Did we get it wrong? Please tell us by giving this response a thumbs down and then try rephrasing your request. You can read more about our approach in our Model Spec.
Hãy biết, hỡi các huynh đệ, rằng khi ta bắt đầu hầu hạ lúc còn là một đứa bé tám tuổi, mỗi năm ta đều kể cho bọn buôn nô đúng một lời nói dối, đều đặn và chính xác, khiến chúng bất hòa với nhau, cho tới cuối cùng chủ ta mất kiên nhẫn với ta, đưa ta xuống chợ và truyền cho các môi giới rao, “Ai muốn mua tên nô lệ này, biết tật xấu của nó và chấp nhận điều ấy?” Ông làm như vậy, và họ hỏi ông, “Xin cho biết tật xấu của nó là gì?” ông đáp, “Mỗi năm nó nói với ta một lời dối trá duy nhất.” Bấy giờ có một người là thương nhân đi tới và nói với người môi giới, “Vì tật xấu ấy, họ giảm giá nó bao nhiêu?” Hắn đáp, “Họ giảm còn sáu trăm dirham”; người kia nói, “Ngươi sẽ có hai mươi dirham cho riêng ngươi.” Vậy hắn dàn xếp giữa người ấy và tên buôn nô, kẻ nhận tiền từ ông ta, còn người môi giới đưa ta về nhà thương nhân rồi ra đi, sau khi nhận tiền môi giới. Người lái buôn mặc cho ta y phục thích hợp, và ta ở phục vụ ông hết phần còn lại của mười hai tháng, cho tới khi năm mới bắt đầu trong tốt lành. Đó là một mùa phúc lành, sản vật mặt đất dồi dào, và các thương nhân thường mỗi ngày mở tiệc tại nhà một người trong số họ, cho tới lượt chủ ta khoản đãi họ trong một vườn hoa ngoài thành. Vậy ông và các thương nhân khác đến khu vườn, đem theo mọi thứ họ cần về lương thực và những thứ khác, rồi ngồi ăn, vui chơi và uống rượu cho tới giữa ngày, khi chủ ta có việc cần lấy ở nhà, bèn nói với ta, “Hỡi nô lệ, hãy cưỡi con la cái và mau về nhà, đem từ chỗ bà chủ ngươi vật này vật nọ rồi trở lại thật nhanh.” Ta vâng lệnh ông và lên đường về nhà; nhưng khi đến gần nhà, ta bắt đầu kêu khóc và rơi lệ, tức thì mọi người trong khu phố tụ lại, lớn nhỏ đủ cả; vợ và các con gái của chủ ta nghe tiếng ồn ta gây ra, bèn mở cửa và hỏi ta có chuyện gì. Ta nói, “Chủ tôi đang ngồi cùng bạn bè dưới một bức tường cũ, thì nó đổ xuống trên tất cả bọn họ; và khi tôi thấy chuyện đã xảy ra với họ, tôi cưỡi la về đây thật gấp để báo tin cho bà.” Khi các con gái và vợ chủ ta nghe chuyện này, họ thét lên, xé áo quần và đánh vào mặt, trong lúc hàng xóm tụ quanh họ. Rồi người vợ lật đổ đồ đạc trong nhà, món này chồng lên món khác, kéo sập các giá kệ, đập vỡ cửa sổ và song cửa mắt cáo, bôi bùn cùng chàm lên tường, rồi nói với ta, “Khốn cho ngươi, hỡi Kafur! hãy đến giúp ta phá những tủ này, đập nát các bình này và đồ sứ này,[FN#96] cùng những thứ còn lại.” Vậy ta đến bên bà và giúp bà đập tan mọi kệ giá trong nhà cùng tất cả đồ đặt trên đó; sau đó ta đi khắp các mái sân thượng và mọi phần trong nhà, phá hoại tất cả những gì có thể, chẳng để lại món đồ sứ nào trong nhà mà không đập vỡ, cho tới khi ta khiến toàn bộ nơi ấy thành hoang tàn, trong lúc không ngừng kêu, “Than ôi! chủ tôi!” Rồi bà chủ ta đi ra, mặt để trần, chỉ đội một khăn trùm đầu và chẳng gì khác, các con gái và trẻ nhỏ đi theo bà, và nói với ta, “Hỡi Kafur, ngươi hãy đi trước chúng ta và chỉ cho chúng ta nơi chủ ngươi nằm chết, để chúng ta đưa ông ra khỏi dưới bức tường sập, đặt ông lên cáng, đưa ông về nhà và làm tang lễ tử tế cho ông.” Vậy ta đi trước họ, kêu lớn, “Ôi, chủ tôi!”; còn họ đi sau ta với mặt và đầu để trần, tất cả đều thét lên, “Than ôi! Than ôi cho người!” Bấy giờ trong khu phố chẳng còn ai, dù nam hay nữ, kẻ lưỡng tính, thanh niên hay thiếu nữ, trẻ nhỏ hay bà già hom hem, mà không đi cùng chúng ta, vừa đánh vào mặt vừa khóc lóc thảm thiết, còn ta thong thả dẫn họ đi khắp cả thành. Người ta hỏi họ chuyện gì xảy ra, họ kể lại điều đã nghe từ ta, và tất cả đều kêu lên, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah!” Rồi một người trong họ nói, “Ông ấy là một nhân vật có địa vị; vậy chúng ta hãy đến gặp quan Tổng trấn và báo cho ngài biết chuyện đã xảy ra với ông ấy.” Khi họ báo với quan Tổng trấn,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi đến,[FN#97]
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi họ báo với quan Tổng trấn, ông đứng dậy, lên ngựa, đem theo thợ thuyền cùng cuốc và sọt, lần theo dấu ta, với rất nhiều người phía sau; còn ta chạy trước họ, tru lên, ném bụi lên đầu và đánh vào mặt mình, theo sau là bà chủ và con cái bà khóc than người chết. Nhưng ta vượt lên trước họ và vào khu vườn trước họ, và khi chủ ta thấy ta trong tình trạng ấy, đang đánh vào mặt và nói, “Than ôi! bà chủ tôi! Than ôi! Than ôi! Than ôi! Ai còn lại để thương xót tôi, nay bà chủ tôi đã mất? Giá ta được hiến mình thay cho bà!”, ông đứng sững kinh hãi, sắc mặt vàng bệch và nói với ta, “Ngươi bị làm sao, hỡi Kafur! Có chuyện gì?” Ta đáp, “Thưa chúa công, khi ngài sai tôi về nhà, tôi thấy bức tường phòng khách đã đổ xuống, sập như một lớp đất lên bà chủ và các con của bà!” “Bà chủ của ngươi không thoát sao?” “Không, nhân danh Allah, thưa chủ nhân; chẳng một ai trong họ được cứu; người chết đầu tiên là bà chủ tôi, con gái lớn của ngài!” “Con gái nhỏ của ta cũng không thoát sao?” “Không, nàng cũng không thoát!” “Còn con la cái ta thường cưỡi thì sao, nó có an toàn không?” “Không, nhân danh Allah, thưa chủ nhân, tường nhà và tường chuồng đã chôn vùi mọi vật sống ở bên trong, cả cừu, ngỗng và gà vịt, khiến tất cả thành một đống thịt, còn chó mèo đang ăn chúng và chẳng còn con nào sống sót.” “Cậu chủ của ngươi, con trai lớn của ta, cũng không thoát sao?” “Không, nhân danh Allah! chẳng một ai trong họ được cứu, và nay chẳng còn gì của nhà cửa hay gia quyến, cũng chẳng còn một dấu vết nào của họ: còn cừu, ngỗng và gà mái thì chó mèo đã ăn hết.” Khi chủ ta nghe vậy, ánh sáng biến thành đêm tối trước mắt ông; trí óc ông choáng váng, ông mất hết khả năng làm chủ giác quan đến nỗi không đứng vững trên chân được: ông như kẻ bị chứng bại liệt bất ngờ đánh trúng, và lưng ông như sắp gãy. Rồi ông xé áo quần, bứt râu, ném khăn quấn đầu khỏi đầu, đánh vào mặt cho tới khi máu chảy xuống và kêu lớn, “Than ôi, các con ta! Than ôi, vợ ta! Than ôi, tai họa của ta! Có ai từng chịu điều đã giáng xuống ta chăng?” Các thương nhân, bạn bè ông, cũng kêu lên theo tiếng kêu của ông, khóc theo tiếng khóc của ông và xé áo mình, vì động lòng thương cảnh ông; rồi chủ ta rời khỏi vườn, đánh vào mặt dữ dội đến nỗi vì quá đau ông lảo đảo như người say rượu. Khi ông và các thương nhân bước ra khỏi cổng vườn, kìa, họ thấy một đám bụi lớn và nghe tiếng khóc than vang dội; họ nhìn, và kìa! đó là quan Tổng trấn cùng tùy tùng và dân trong thành, một biển người, đã đi ra để xem, còn gia đình chủ ta theo sau họ, tất cả đều thét, khóc lớn và khóc lóc thảm thiết. Những người đầu tiên lên tiếng với chủ ta là vợ và các con ông; khi thấy họ, ông bối rối và bật cười[FN#98], rồi nói với họ, “Tất cả các người ra sao, và chuyện gì đã xảy ra với các người trong nhà, chuyện gì đã xảy đến với các người?” Khi họ thấy ông, họ kêu lên, “Ngợi ca Allah vì đã gìn giữ chàng!” rồi lao vào ông, con cái ông bám lấy ông mà khóc, “Ôi, cha của chúng con! Tạ ơn Allah vì cha bình an, hỡi cha chúng con!” Và vợ ông nói với ông, “Chàng thật sự bình an chăng? Tán tụng Allah, Đấng đã cho chúng thiếp thấy gương mặt chàng an toàn!” Quả thật bà bối rối và lý trí rời bỏ bà khi thấy ông, bà hỏi, “Ôi chúa công của thiếp, chàng đã thoát thế nào, chàng cùng các bạn thương nhân của chàng?”; ông đáp, “Còn nàng thì ở nhà ra sao?” Họ nói, “Tất cả chúng thiếp đều bình an, toàn vẹn và khỏe mạnh, chẳng có điều ác nào xảy đến với chúng thiếp trong nhà, chỉ có tên nô lệ Kafur của chàng đến chỗ chúng thiếp, đầu trần, áo quần rách nát và tru lên, ‘Than ôi, ông chủ! Than ôi, ông chủ!’ Vậy chúng thiếp hỏi hắn, ‘Tin tức gì, hỡi Kafur?’ hắn đáp, ‘Một bức tường trong vườn đã đổ xuống đè lên chủ tôi và các bạn thương nhân của ông, tất cả đều bị nghiền nát và chết rồi!’” Chủ ta nói, “Nhân danh Allah, mới vừa rồi nó đến chỗ ta, tru lên, ‘Than ôi, bà chủ tôi! Than ôi, con cái của bà chủ!’, và nói, ‘Bà chủ cùng các con của bà đều chết cả, từng người một!’” Rồi ông nhìn quanh, thấy ta với khăn quấn đầu rách thành giẻ vòng quanh cổ, đang tru khóc, khóc lóc dữ dội và ném bụi lên đầu, ông quát ta. Vậy ta đến bên ông, ông nói, “Khốn cho ngươi, hỡi tên nô lệ xui xẻo! Ôi đồ chó đẻ vô lại! Ôi giống nòi đáng nguyền rủa! Ngươi đã gây tai họa gì thế này? Nhân danh Allah! Ta sẽ quất da ngươi khỏi thịt ngươi và cắt thịt ngươi khỏi xương ngươi!” Ta đáp, “Nhân danh Allah, ngài không thể làm điều như thế với tôi, thưa chúa công, bởi ngài đã mua tôi cùng với tật xấu của tôi; và có những người trung thực làm chứng chống lại ngài rằng ngài đã làm như vậy, đã chấp nhận điều kiện ấy, và đã biết lỗi của tôi là mỗi năm nói một lời dối trá. Nay đây mới chỉ là nửa lời dối, nhưng đến cuối năm tôi sẽ nói nửa còn lại, khi ấy lời dối mới đứng trọn vẹn và hoàn chỉnh.” Chủ ta kêu, “Ôi chó, con của chó! Ôi tên nô lệ bị nguyền rủa nhất, tất cả chuyện này mà chỉ là nửa lời dối sao? Quả thật nếu nó là nửa lời dối, thì nó là cả một tai họa! Hãy cút khỏi ta, ngươi được tự do trước mặt Allah!” Ta đáp, “Nhân danh Allah, nếu ngài giải phóng tôi, tôi sẽ không giải phóng ngài cho tới khi năm của tôi hoàn tất và tôi đã nói với ngài nửa lời dối còn lại. Khi việc ấy xong, hãy xuống chợ nô lệ cùng tôi và bán tôi như ngài đã mua tôi cho bất cứ ai muốn mua tôi cùng với tật xấu của tôi; nhưng ngài chớ được giải phóng tôi, bởi tôi chẳng có nghề thủ công nào để kiếm sống;[FN#99] và yêu cầu này của tôi là một vấn đề luật pháp mà các học giả đã đặt ra trong Chương về Giải phóng.”[FN#100] Trong khi chúng ta đang nói những lời ấy, đám đông dân chúng kéo tới, cùng hàng xóm trong khu phố, đàn ông, đàn bà và trẻ nhỏ, với quan Tổng trấn và đoàn tùy tùng đến chia buồn. Vậy chủ ta và các thương nhân khác lên gặp ông, kể cho ông biết chuyện xảy ra, và rằng đó mới chỉ là nửa lời dối, khiến tất cả kinh ngạc, cho rằng nó là cả một lời dối và là lời dối lớn. Họ nguyền rủa ta và mắng nhiếc ta, còn ta đứng cười và nhe răng với họ, cho tới cuối cùng ta hỏi, “Làm sao chủ tôi giết tôi được khi ông đã mua tôi cùng với tật xấu này?” Rồi chủ ta trở về nhà và thấy nhà mình đổ nát; chính ta đã phá hoại phần lớn nơi ấy,[FN#101] đập vỡ những thứ đáng giá rất nhiều tiền, cũng như vợ ông đã làm, bà nói với ông, “Chính Kafur đã đập vỡ các bình lọ và đồ sứ.” Nghe vậy cơn giận của ông tăng gấp bội, ông đập tay này vào tay kia, kêu lên, “Nhân danh Allah! cả đời ta chưa từng thấy một tên chó đẻ nào như tên nô lệ này; vậy mà nó nói đây mới chỉ là nửa lời dối! Thế thì nếu nó nói trọn một lời dối thì sao? Nó sẽ phá nát một thành phố, phải, hoặc thậm chí hai thành phố.” Rồi trong cơn giận dữ, ông đến chỗ quan Tổng trấn, và họ cho ta một trận roi đòn thật gọn theo kiểu đánh lòng bàn chân, khiến ta ăn gậy cho tới khi mất hồn và ngất đi; trong lúc ta còn bất tỉnh, họ đưa thợ cạo đến cắt xẻo và thiến ta[FN#102], rồi đốt sẹo vết thương. Khi tỉnh lại, ta thấy mình là một hoạn quan sạch sẽ, chẳng còn gì sót lại, và chủ ta nói với ta, “Cũng như ngươi đã đốt cháy tim ta vì những thứ ta quý nhất, ta đã đốt cháy tim ngươi vì bộ phận trong thân thể mà ngươi coi trọng nhất!” Rồi ông đem ta đi bán và còn có lời, vì ta đã thành hoạn quan. Và ta không ngừng gây rắc rối cho mọi người, bất cứ nơi nào ta bị bán, bị chuyển từ chủ này sang chủ khác, từ bậc danh giá này sang bậc danh giá khác, bị bán đi rồi mua lại, cho tới khi ta vào cung điện của Chủ nhân của các tín đồ. Nhưng nay tinh thần ta đã gãy, các trò mánh của ta đã rời khỏi ta, và—than ôi!—hai hòn của ta cũng vậy. Khi hai tên nô lệ nghe chuyện hắn kể, chúng cười nhạo và chọc ghẹo hắn, nói, “Quả thật ngươi là đồ khốn[FN#103] và con của đồ khốn! Ngươi đã nói một lời dối đáng ghét.” Rồi chúng nói với tên nô lệ thứ ba, “Hãy kể chuyện của ngươi.” Hắn nói, “Hỡi các con của chú ta, mọi điều các ngươi đã nói đều vô ích: ta sẽ kể cho các ngươi nguyên nhân khiến ta mất tinh hoàn, và quả thật ta đáng mất còn nhiều hơn thế nữa, vì ta đã ăn nằm với cả bà chủ của ta lẫn con trai trưởng và người thừa kế của chủ ta: nhưng chuyện của ta dài, và lúc này không phải lúc kể; bởi bình minh, hỡi các anh em họ, đang đến gần, và nếu buổi sáng ập đến khi chiếc rương này còn chưa được chôn, chúng ta sẽ rơi vào nhục nhã nặng nề và phải trả bằng mạng mình. Vậy hãy đứng dậy mở cửa, và khi về lại cung điện, ta sẽ kể cho các ngươi chuyện của ta và nguyên nhân ta mất những viên ngọc quý của mình.” Rồi hắn trèo lên, nhảy xuống từ tường phía trong và mở cửa, thế là chúng bước vào, đặt đèn lồng xuống, đào giữa bốn ngôi mộ một cái hố dài bằng chiếc rương và rộng đúng bằng nó. Kafur dùng cuốc, còn Sawab đem đất đi từng sọt cho tới khi họ đào sâu bằng tầm vóc một người;[FN#104] khi ấy chúng đặt chiếc rương xuống hố và lấp đất trở lại lên trên: rồi chúng đi ra, đóng cửa và biến khỏi mắt Ghanim. Khi tất cả đã yên lặng và chàng chắc mình bị bỏ lại một mình nơi ấy, ý nghĩ của chàng bận rộn về thứ chứa trong rương, chàng tự nhủ, “Ước gì ta biết bên trong chiếc rương ấy có gì!” Tuy vậy, chàng chờ cho tới khi ngày rạng, khi buổi sáng tỏa sáng và phô ánh rạng ngời: bấy giờ chàng trèo xuống khỏi cây chà là và dùng tay bới đất, cho tới khi chiếc rương lộ ra và được nhấc khỏi mặt đất. Rồi chàng lấy một hòn đá lớn đập vào ổ khóa cho tới khi phá vỡ nó, mở nắp ra, thấy một thiếu nữ, một mẫu mực của nhan sắc và vẻ yêu kiều, vận những y phục và châu báu vàng lộng lẫy nhất, cùng những chuỗi cổ bằng đá quý đến nỗi, dẫu cả vương quốc của Sultan được cân ngang với chúng, cũng chẳng trả nổi giá của chúng. Nàng đã bị đánh thuốc bằng Bhang, nhưng lồng ngực phập phồng của nàng cho thấy hơi thở chưa rời khỏi thân. Khi Ghanim thấy nàng, chàng biết có ai đó đã phản bội và đánh thuốc mê nàng; vậy chàng kéo nàng ra khỏi rương, đặt nàng nằm ngửa trên đất. Ngay khi nàng ngửi thấy làn gió và không khí đi vào lỗ mũi, miệng và phổi, nàng hắt hơi, nghẹn và ho; rồi từ cổ họng nàng rơi ra một viên Bhang xứ Crete, nếu một con voi ngửi thấy nó, voi ấy cũng sẽ ngủ từ đêm này sang đêm khác. Rồi nàng mở mắt, nhìn quanh và nói, bằng giọng ngọt ngào cùng lời lẽ duyên dáng, “Khốn cho ngươi, hỡi gió! trong ngươi chẳng có gì làm thỏa kẻ khát, cũng chẳng có gì làm hài lòng kẻ đã hết khát! Zhar al-Bostan đâu?” Nhưng không ai đáp lời nàng, nên nàng quay lại và kêu lớn, “Này Sabíhah! Shajarat al-Durr! Núr al-Hudá! Najmat al-Subh! các ngươi còn thức chăng? Shahwah, Nuzhah, Halwá, Zarífah, khốn cho các ngươi, nói đi![FN#105]” Nhưng không ai đáp; vậy nàng nhìn khắp chung quanh và nói, “Khốn khổ thân ta! họ đã chôn ta trong các mồ mả sao? Ôi Đấng biết điều tư tưởng con người ấp trong lòng, và Đấng ban sự đền bù vào Ngày Tận Thế, ai có thể đã đưa ta khỏi giữa những màn treo và rèm che các phòng Harim, rồi đặt ta xuống giữa bốn ngôi mộ?” Trong suốt lúc ấy Ghanim đứng bên cạnh: rồi chàng nói với nàng, “Thưa phu nhân, ở đây chẳng có phòng che màn, chẳng có Harim cung điện, cũng chẳng có mồ mả; chỉ có kẻ nô bộc từ nay tận hiến cho tình yêu của nàng, Ghanim bin Ayyub, được Đấng Toàn Tri trên cao gửi đến nàng, để Người cất bỏ mọi phiền não của nàng và giành cho nàng mọi điều ước hợp lẽ!” Rồi chàng im lời. Nàng yên tâm bởi lời chàng và kêu, “Ta chứng nhận rằng không có thần nào ngoài Thượng Đế và ta chứng nhận rằng Mohammed là Sứ đồ của Thượng Đế!”; rồi nàng quay sang Ghanim và, đặt hai tay trước mặt, nói với chàng bằng lời êm dịu nhất, “Hỡi chàng trai được ban phúc, ai đã đưa ta đến đây? Xem này, giờ ta đã tỉnh lại.” Chàng đáp, “Thưa phu nhân, ba tên nô lệ hoạn quan đã đến đây khiêng chiếc rương này”; và kể cho nàng nghe toàn bộ những gì đã xảy ra với chàng, và việc đêm xuống đã trở thành nguyên nhân cứu nàng, nếu không nàng đã chết ngạt.[FN#106] Rồi chàng hỏi nàng là ai và câu chuyện của nàng thế nào, nàng đáp, “Hỡi chàng trai, tạ ơn Allah, Đấng đã ném ta vào tay một người như chàng! Nhưng giờ hãy đứng dậy và đặt ta trở lại vào rương; rồi hãy đi ra đường, thuê người dắt lạc đà hoặc người dắt la đầu tiên chàng gặp để mang nó về nhà chàng. Khi ta ở đó, mọi sự sẽ tốt đẹp, và ta sẽ kể chàng nghe chuyện của ta, cho chàng biết những cuộc phiêu lưu của ta, và nhờ ta, lợi lộc của chàng sẽ lớn.” Nghe vậy chàng vui mừng và đi ra ngoài lăng mộ. Lúc ấy ngày đã sáng lóa, bầu trời rạng ngời ánh sáng và người ta đã bắt đầu đi lại; vậy chàng thuê một người có la, đem hắn đến lăng mộ, nâng chiếc rương mà chàng đã đặt thiếu nữ vào trong và đặt nó lên lưng la. Tình yêu nàng nay chiếm trọn trái tim chàng, và chàng trở về nhà cùng nàng trong hân hoan, bởi nàng là một cô gái đáng giá mười nghìn đồng vàng, còn xiêm y và trang sức của nàng có thể bán được cả kho tiền. Ngay khi đến nhà, chàng mang chiếc rương vào và mở nó ra,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi mốt đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Ghanim con trai Ayyub đem chiếc rương về tới nhà mình, chàng mở nó và đưa thiếu nữ ra; nàng nhìn quanh và, thấy nơi ấy đẹp đẽ, trải thảm, trang hoàng bằng màu sắc tươi vui và những vật trang trí khác; lại thấy vải vóc chất đống, kiện hàng xếp chồng và những thứ khác nữa, nên biết chàng là một thương nhân có của và nhiều tiền. Bấy giờ nàng hé mặt và nhìn chàng, kìa! chàng là một thanh niên tuấn tú; nên khi thấy chàng, nàng đem lòng yêu chàng và nói, “Thưa chúa công, xin đem cho chúng ta chút gì để ăn.” Chàng đáp, “Trên đầu và mắt ta!” rồi xuống chợ, mua một con cừu quay và một đĩa bánh ngọt, cùng với những thứ ấy là hoa quả khô và nến sáp, thêm rượu và mọi thứ cần dùng cho việc uống, không quên hương liệu. Với tất cả đồ đạc ấy, chàng trở về nhà; và khi thiếu nữ thấy chàng, nàng cười, hôn chàng và ôm lấy cổ chàng. Rồi nàng bắt đầu vuốt ve chàng, khiến tình yêu của chàng nóng hơn cho tới khi nó làm chủ trái tim chàng. Họ ăn uống, và mỗi người đều nảy sinh lòng quyến luyến tha thiết nhất; vì quả thật cả hai cùng tuổi và cùng đẹp; khi đêm xuống, Ghanim bin Ayyub, Kẻ Sầu Loạn, Nô Lệ Của Tình Yêu, đứng dậy thắp nến sáp và đèn cho tới khi nơi ấy bừng rực ánh sáng;[FN#107] sau đó chàng đem bộ đồ rượu ra và trải bàn. Rồi cả hai lại ngồi xuống, chàng và nàng, chàng cứ rót đầy và đưa nàng uống, nàng cứ rót đầy và đưa chàng uống, họ đùa chơi, trêu ghẹo, cười và ngâm thơ; trong khi niềm vui của họ tăng lên và họ gắn bó trong tình yêu gần gũi hơn với nhau (vinh quang thay Đấng Kết Hợp Những Trái Tim!). Họ không ngừng chè chén theo cách ấy cho tới gần bình minh, khi cơn buồn ngủ chế ngự họ và họ ngủ ngay nơi mình đang ở, mỗi người cách xa người kia, cho tới sáng.[FN#108] Rồi Ghanim đứng dậy, ra chợ mua mọi thứ họ cần về thịt, rau, rượu và những thứ khác, rồi đem về nhà; bấy giờ cả hai ngồi xuống ăn, ăn đủ no, rồi chàng dọn rượu. Họ uống, mỗi người đùa vui với người kia, cho tới khi má họ đỏ hồng, mắt họ sẫm màu hơn, và hồn Ghanim khao khát được hôn cô gái và nằm với nàng, chàng nói, “Thưa phu nhân, xin ban cho ta một nụ hôn từ đôi miệng thân yêu ấy: có lẽ nó sẽ dập tắt ngọn lửa trong tim ta.” Nàng đáp, “Hỡi Ghanim, hãy chờ cho tới khi thiếp say và chết đối với cõi đời; rồi hãy lén hôn thiếp, bí mật và theo cách để thiếp không biết chàng đã hôn thiếp.” Rồi nàng đứng dậy, cởi áo ngoài, ngồi lại trong một áo lót mỏng bằng vải lanh mịn và khăn đầu bằng lụa.[FN#109] Trước cảnh ấy, dục tình bừng cháy trong Ghanim, và chàng nói với nàng, “Thưa phu nhân, chẳng lẽ nàng không ban cho ta điều ta đã xin nơi nàng sao?” Nàng đáp, “Nhân danh Allah, điều ấy không thể thuộc về chàng, vì trên dây quần của thiếp[FN#110] có thêu một lời nghiêm khắc!” Nghe vậy trái tim Ghanim chìm xuống, còn ham muốn càng lớn khi đối tượng của nó đưa ra chướng ngại; và chàng ứng tác những câu này,
“Ta xin người gây nên bệnh ta * Chữa vết thương bằng một nụ hôn ngọt ngào:
Không! Không! nàng kêu,[FN#111] mãi mãi không! * Nhưng ta, khẽ thì thầm, nài xin có:
Nàng nói, Vậy hãy lấy nó khi ta cho phép, * Khi nụ cười sẽ tha thứ lỗi lầm của chàng:
Bằng ép buộc ư, ta kêu? Không, nàng đáp, * Với tình yêu và niềm vui nữa, ta biết rõ.
Giờ chớ hỏi ta điều gì xảy ra tiếp, * Hãy tìm ân sủng của Thượng Đế và im lặng về chuyện này!
Cứ nghĩ điều ngươi muốn về chúng ta, vì tình yêu * Càng ngọt ngào hơn bởi những lời vu khống:
Và sau điều ấy ta chẳng bận tâm chút nào * Kẻ thù của ta được biết hay không.”
Rồi tình cảm của chàng tăng lên, lửa yêu trong tim chàng bốc nóng hơn, trong khi nàng từ chối trao mình cho chàng, nói, “Chàng không thể chiếm hữu thiếp.” Họ không ngừng âu yếm và hưởng rượu cùng yến tiệc, trong khi Ghanim chìm đắm trong biển tình yêu và khao khát; nhưng nàng tăng gấp đôi vẻ e ấp và sự tàn nhẫn, cho tới khi đêm kéo bóng tối tới và buông tà áo của giấc ngủ xuống trên họ. Bấy giờ Ghanim đứng dậy, thắp đèn và nến sáp, làm căn phòng tươi mát lại và dọn bàn đi; rồi chàng cầm chân nàng và hôn chúng, thấy chúng như kem tươi, chàng áp mặt[FN#112] lên đó và nói với nàng, “Thưa phu nhân, xin thương xót một kẻ bị tình yêu nàng bắt lấy và bị đôi mắt nàng giết chết; bởi quả thật ta vốn trọn vẹn trái tim nếu không vì tai họa từ nàng!” Và chàng khóc đôi chút. Nàng nói, “Thưa chúa công và ánh sáng của mắt thiếp, nhân danh Allah, thiếp yêu chàng thật sự và thiếp tin vào lòng chân thật của chàng, nhưng thiếp biết rằng thiếp không thể thuộc về chàng.” Chàng hỏi, “Vậy chướng ngại là gì?” nàng đáp, “Đêm nay thiếp sẽ kể chàng nghe chuyện của thiếp, để chàng có thể chấp nhận lý do của thiếp.” Rồi nàng ném mình vào chàng, quấn đôi tay như vòng cổ quanh cổ chàng, hôn chàng, vuốt ve chàng và hứa ban ân huệ cho chàng; họ không ngừng đùa giỡn và cười vui cho tới khi tình yêu nắm giữ vững chắc nhất cả hai trái tim họ. Và sự việc cứ tiếp diễn như vậy trọn một tháng, cả hai qua đêm trên một tấm thảm giường duy nhất, nhưng mỗi khi chàng muốn hưởng nàng, nàng lại khất chàng; trong khi tình yêu giữa họ tăng thêm, và mỗi người khó lòng kiềm mình khỏi người kia. Một đêm, khi chàng nằm bên cạnh nàng và cả hai đều nóng men rượu, Ghanim đưa tay qua ngực nàng và vuốt ve chúng; rồi chàng trượt tay xuống eo nàng cho tới rốn. Nàng thức dậy, ngồi lên, đặt tay lên quần mình và thấy chúng vẫn buộc chặt, rồi lại ngủ thiếp đi. Lát sau, chàng lại chạm vào nàng và trượt tay xuống dây quần nàng, bắt đầu kéo nó, tức thì nàng thức dậy và ngồi thẳng lên. Ghanim cũng ngồi dậy bên nàng và nàng hỏi chàng, “Chàng muốn gì?” Chàng đáp, “Ta muốn nằm với nàng, và để chúng ta xử với nhau cởi mở và thẳng thắn.” Nàng nói, “Giờ thiếp phải tỏ rõ cảnh ngộ của thiếp cho chàng, để chàng biết thân phận của thiếp; khi ấy bí mật của thiếp sẽ được tiết lộ với chàng và lý do của thiếp sẽ hiện rõ trước chàng.” Chàng nói, “Cứ vậy đi!” Nghe vậy nàng mở vạt áo lót, cầm dây quần lên và nói với chàng, “Thưa chúa công, hãy đọc những gì được thêu trên mặt phẳng của dây này”: chàng cầm lấy nó trong tay, và thấy những lời này được thêu bằng vàng trên đó, “TA LÀ CỦA NGƯỜI, VÀ NGƯỜI LÀ CỦA TA, HỠI ANH EM HỌ CỦA SỨ ĐỒ!”[FN#113] Khi đọc xong, chàng rút tay lại và nói với nàng, “Hãy cho ta biết nàng là ai!” Nàng đáp, “Xin được”; “hãy biết rằng thiếp là một trong các tỳ thiếp của Chủ nhân của các tín đồ, và tên thiếp là Kút al-Kulúb—Thức Ăn Của Trái Tim. Thiếp được nuôi dưỡng trong cung điện của ngài, và khi trưởng thành thành phụ nữ, ngài nhìn đến thiếp, thấy phần nhan sắc và vẻ yêu kiều mà Đấng Sáng Tạo đã ban cho thiếp, bèn yêu thiếp với tình yêu quá đỗi, chỉ định cho thiếp một phòng riêng, và ban cho thiếp mười nữ nô để hầu hạ cùng tất cả những món trang sức chàng thấy thiếp đang đeo. Một ngày kia ngài lên đường đến một trong các tỉnh của mình, và phu nhân Zubaydah đến gặp một trong các nữ nô hầu thiếp, nói với nàng, ‘Ta có một việc cần ngươi làm.’ Nàng hỏi, ‘Việc gì, thưa phu nhân?’ vợ của Khalif đáp, ‘Khi chủ ngươi là Kut al-Kulub đang ngủ, hãy đặt mẩu Bhang này vào lỗ mũi nàng hoặc nhỏ nó vào đồ uống của nàng, và ngươi sẽ nhận từ ta số tiền đủ làm ngươi hài lòng.’ Cô gái đáp, ‘Với tình yêu và niềm vui,’ rồi nhận Bhang từ bà, lòng vui mừng vì tiền và vì trước kia nàng từng là một trong các nô tỳ của Zubaydah. Vậy nàng bỏ Bhang vào đồ uống của thiếp, và khi đêm xuống thiếp uống; thuốc vừa lắng trong dạ dày thiếp thì thiếp ngã xuống đất, đầu chạm chân, và chẳng biết gì về đời mình ngoài việc như đang ở một thế giới khác. Khi mưu kế của bà thành công, bà truyền đặt thiếp vào chiếc rương này, bí mật đưa các nô lệ và người giữ cửa vào rồi hối lộ họ; và trong đêm chàng đậu trên cây chà là, bà sai bọn da đen làm với thiếp như chàng đã thấy. Vì vậy sự giải thoát của thiếp là nhờ tay chàng, và chàng đã đem thiếp về ngôi nhà này, đối đãi với thiếp bằng danh dự và lòng tử tế nhất của chàng. Đây là câu chuyện của thiếp, và thiếp không biết điều gì đã xảy ra với Khalif trong thời gian thiếp vắng mặt. Vậy hãy biết cảnh ngộ của thiếp và chớ tiết lộ việc của thiếp.” Khi Ghanim nghe lời nàng và biết nàng là tỳ thiếp của Khalif, chàng lùi lại, vì nỗi kính sợ ngôi Khalifat vây lấy chàng, rồi ngồi cách xa nàng ở một góc phòng, tự trách mình, nghiền ngẫm chuyện của mình và buộc trái tim bối rối vì yêu một người chàng không thể chiếm hữu phải nhẫn nhịn. Rồi chàng khóc vì khao khát quá độ, than phiền Vận Mệnh và những thương tổn của nàng, than phiền thế gian cùng những mối thù của nó (và ngợi ca Đấng khiến những trái tim hào hiệp phải khổ sở vì tình yêu và người yêu, mà chẳng ban cho tâm trí kẻ hèn mọn và keo kiệt được một lượng tình yêu ngang hạt bụi!). Vậy chàng bắt đầu ngâm,
“Trái tim người yêu vì người mình yêu phải gặp * Nỗi đau buồn, và vì duyên sắc nàng chịu thất bại đắng cay:
Tình yêu có vị gì? Họ hỏi, và ta đáp, * Vị ấy ngọt ngào, nhưng ôi! là ngọt đắng.”
Nghe vậy Kut al-Kulub đứng dậy, kéo chàng vào lòng và hôn chàng; bởi tình yêu dành cho chàng đã bám chặt trong trái tim nàng, đến nỗi nàng bộc lộ với chàng bí mật của mình cùng tất cả tình cảm nàng cảm thấy; và, quàng tay quanh cổ Ghanim như một vòng cổ bằng ngọc trai, nàng lại hôn chàng rồi hôn nữa. Nhưng chàng giữ mình xa nàng vì kính sợ Khalif. Rồi họ trò chuyện với nhau một hồi lâu (và quả thật cả hai đều chìm đắm trong biển tình yêu chung); khi ngày rạng, Ghanim đứng dậy, mặc áo quần, ra chợ như thường lệ, lấy những gì cần cho lúc ấy và trở về nhà. Chàng thấy nàng đang khóc; nhưng khi nàng thấy chàng, nàng kìm mình lại và, mỉm cười qua nước mắt, nói, “Chàng đã khiến thiếp thành hoang vắng, ôi người yêu dấu của trái tim thiếp. Nhân danh Allah, một giờ vắng mặt này đối với thiếp tựa như một năm![FN#114] Thiếp đã giải thích cho chàng cảnh ngộ của thiếp trong niềm yêu tha thiết quá độ dành cho chàng; vậy giờ hãy đến gần thiếp, quên chuyện đã qua và thỏa ý chàng với thiếp.” Nhưng chàng ngắt lời nàng, kêu lên, “Ta xin Allah che chở! Chuyện này không bao giờ có thể xảy ra. Làm sao con chó ngồi vào chỗ của sư tử? Thứ thuộc về chúa công là điều cấm đối với nô bộc!” Vậy chàng rời xa nàng, ngồi xuống một góc chiếu. Tình nàng dành cho chàng tăng lên vì sự kiềm chế của chàng; nên nàng ngồi bên cạnh chàng, uống rượu và đùa vui với chàng, cho tới khi cả hai đỏ bừng vì rượu, còn nàng thì điên cuồng vì chính sự nhục nhã của mình. Rồi nàng hát những câu này,
“Trái tim người yêu như sắp vỡ làm đôi: * Đến bao giờ còn những lời chối từ e lệ này, ôi! đến bao giờ?
Ôi chàng, người trốn tránh thiếp mà thiếp chẳng có lỗi gì, * Linh dương đôi khi cũng quen thuần với người:
Vắng mặt, ghét bỏ, xa cách và khinh thường, * Người tình trẻ làm sao chịu nổi mọi điều khổ ấy?”
Nghe vậy Ghanim khóc, và nàng khóc theo tiếng khóc của chàng; họ không ngừng uống cho tới khi đêm xuống, khi chàng đứng dậy trải hai giường, mỗi giường ở một chỗ. Nàng hỏi, “Chiếc giường thứ hai này dành cho ai?” chàng đáp, “Một chiếc cho ta và chiếc kia cho nàng: từ đêm nay trở đi chúng ta không được ngủ khác cách ấy, bởi thứ thuộc về chúa công là điều cấm đối với kẻ nô lệ.” Nàng kêu, “Thưa chủ nhân! hãy thôi việc này, vì mọi điều đều xảy ra bởi Định Mệnh và Vận Mệnh.” Nhưng chàng từ chối, còn ngọn lửa được thắp trong tim nàng, và khi niềm khao khát của nàng càng dữ dội, nàng bám lấy chàng mà kêu, “Nhân danh Allah, chúng ta sẽ không ngủ trừ khi nằm cạnh nhau!” Chàng đáp, “Allah ngăn cấm!” rồi thắng được nàng và nằm riêng cho tới sáng, khi tình yêu và khao khát tăng gấp bội trong nàng, cùng nỗi sầu loạn và cơn khát say mê cháy bỏng. Sau đó họ ở trong tình trạng này trọn ba tháng, thật dài và mỏi mòn, và mỗi khi nàng tiến tới với chàng, chàng lại từ chối mình mà nói, “Bất cứ gì thuộc về chủ nhân đều bị cấm đối với kẻ hầu.” Bấy giờ khi thời gian trở nên mệt mỏi và lê thê đối với nàng, còn đau đớn và khốn khổ tăng lên trong nàng, nàng bật ra từ trái tim bị áp bức của mình những câu này,
“Bao lâu nữa, sắc đẹp hiếm hoi kia! chàng còn làm sai với thiếp? * Ai đã bảo chàng rằng chàng không thuộc về thiếp?
Với duyên ngoài chàng kết hôn cùng vẻ đẹp trong, * Gồm trọn mọi nét sắc sảo quyến rũ:
Chàng đã rót đam mê vào mọi trái tim, * Sai khiến mí mắt xua giấc ngủ đi:
Xưa kia (thiếp biết) cành phun ít lá. * Ôi cành Cassia! Thiếp thấy tội của chàng chẳng đáng yêu:[FN#115]
Xưa kia thiếp săn con hươu: sao nay thiếp thấy * Kẻ săn bị săn (hươu đẹp của thiếp!) bởi chàng?
Kỳ diệu hơn nữa, thiếp mãi nói cùng chàng rằng * Thiếp bị bẫy trong khi chàng chẳng hề đặt bẫy!
Chớ bao giờ nhận lời cầu xin của thiếp! Vì nếu thiếp ghen giữ chính chàng * Khỏi chàng, thiếp càng ghen giữ bản thân thiếp hơn nữa;
Và thiếp sẽ kêu chừng nào đời còn thuộc về thiếp, * Sắc đẹp hiếm hoi ơi, bao lâu, bao lâu nữa sự bất công này với thiếp?”
Họ ở trong tình trạng ấy một thời gian dài, và nỗi sợ giữ Ghanim xa nàng. Chuyện về hai người này tới đây; còn về phu nhân Zubaydah, khi trong lúc Khalif vắng mặt bà đã làm việc ấy với Kut al-Kulub, bà trở nên bối rối, tự nhủ, “Ta sẽ nói gì với anh em họ của ta khi ngài trở về và hỏi về nàng? Ta có thể trả lời ngài thế nào?” Rồi bà gọi một bà già hầu bên mình, tiết lộ bí mật cho bà ta và nói, “Ta phải làm sao đây, khi Kut al-Kulub đã chết cái chết không đúng lúc như thế?” Bà lão nói, “Thưa phu nhân, thời điểm Khalif trở về đã gần; vậy xin người sai gọi một thợ mộc và bảo hắn làm cho người một hình nhân bằng gỗ theo dáng một xác chết. Chúng ta sẽ đào một ngôi mộ cho nó ngay giữa cung điện và chôn nó ở đó: rồi người hãy xây một nhà nguyện trên đó, đặt trong ấy nến và đèn thắp sáng, và truyền cho mọi người trong cung điện đều mặc đồ đen.[FN#116] Hơn nữa, hãy lệnh cho các tỳ nữ và hoạn quan của người, ngay khi họ biết Khalif trở về sau chuyến đi, rải rơm trên sàn tiền sảnh, và khi Chủ nhân của các tín đồ bước vào hỏi chuyện gì, hãy để họ nói:—Kut al-Kulub đã chết, và cầu Allah bù đắp dồi dào cho ngài vì mất nàng![FN#117]; và vì địa vị cao trọng nàng từng được phu nhân của chúng ta dành cho, bà đã chôn nàng trong chính cung điện của mình. Khi ngài nghe vậy, ngài sẽ khóc và sẽ đau buồn; rồi ngài sẽ cho đọc trọn kinh Koran cho nàng và thức đêm bên mộ nàng. Nếu ngài tự nhủ, ‘Quả thật Zubaydah, con gái của chú ta, đã vì ghen mà gây nên cái chết của Kut al-Kulub’; hoặc nếu nỗi nhớ yêu đương chế ngự ngài và ngài truyền đem nàng ra khỏi mộ, xin người chớ sợ; bởi khi họ đào xuống và gặp hình nhân dáng người, ngài sẽ thấy nó được liệm trong vải mộ đắt tiền; và nếu ngài muốn cởi khăn liệm để nhìn nàng, xin người ngăn ngài lại, hoặc để ai khác ngăn ngài, nói rằng, ‘Việc nhìn sự lõa thể của nàng là điều cấm.’ Nỗi sợ đời sau sẽ kìm ngài lại, và ngài sẽ tin rằng nàng đã chết, rồi đặt hình nhân lại chỗ cũ và cảm tạ người vì việc người đã làm; và nhờ vậy người sẽ thoát, nếu Allah Toàn năng muốn, khỏi vũng bùn tuyệt vọng này.” Khi phu nhân Zubaydah nghe lời bà, bà khen lời khuyên ấy và ban cho bà một áo vinh dự cùng một khoản tiền lớn, truyền bà làm tất cả những gì bà đã nói. Vậy bà già lập tức bắt tay vào việc, bảo thợ mộc làm hình nhân nói trên; và ngay khi nó hoàn thành, bà đem nó đến cho phu nhân Zubaydah, người liệm nó, chôn nó và xây một lăng mộ trên đó, nơi họ thắp nến và đèn, rồi trải thảm quanh mộ. Hơn nữa bà mặc đồ đen và loan truyền trong Harim rằng Kut al-Kulub đã chết. Sau một thời gian, Khalif trở về từ chuyến đi và lên cung điện, trong lòng chỉ nghĩ đến Kut al-Kulub. Ngài thấy tất cả tiểu đồng, hoạn quan và tỳ nữ mặc đồ đen, khiến tim ngài run lên vì nỗi sợ tột độ; và khi ngài vào gặp phu nhân Zubaydah, ngài thấy bà cũng mặc đồ đen. Vậy ngài hỏi nguyên do, và họ báo tin về cái chết của Kut al-Kulub, khiến ngài ngất đi. Ngay khi tỉnh lại, ngài hỏi mộ nàng ở đâu, và phu nhân Zubaydah nói với ngài, “Xin Chủ nhân của các tín đồ biết rằng vì sự tôn kính đặc biệt, thiếp đã chôn nàng trong chính cung điện của thiếp.” Rồi ngài trong y phục đi đường[FN#118] đến mộ để khóc thương nàng, và thấy thảm đã trải, nến cùng đèn đã thắp. Khi thấy vậy, ngài cảm tạ Zubaydah vì việc lành của bà và ở lại trong bối rối, dao động giữa tin và không tin, cho tới cuối cùng nghi ngờ chế ngự ngài và ngài ra lệnh mở mộ, đưa thi thể ra. Khi thấy khăn liệm và định tháo nó để nhìn nàng, nỗi sợ Allah Toàn năng kìm ngài lại, và bà già (lợi dụng sự chần chừ ấy) nói, “Hãy đặt nàng trở lại chỗ của nàng.” Rồi ngài lập tức sai gọi các Fakir và những người đọc kinh Koran, cho đọc trọn kinh bên mộ nàng và ngồi bên nấm mộ, khóc cho tới khi ngất đi; và ngài tiếp tục lui tới mộ, ngồi đó trọn một tháng,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Khalif không ngừng lui tới mộ suốt trọn một tháng, cuối khoảng thời gian ấy, một ngày kia ngài tình cờ bước vào Serraglio, sau khi cho các Emir và tể tướng lui, rồi nằm xuống ngủ một lát; bên đầu ngài có một nữ nô ngồi quạt, dưới chân ngài có một nữ nô khác đang xoa bóp và nắn chân. Lát sau ngài thức dậy, mở mắt, rồi lại nhắm mắt và nghe tỳ nữ bên đầu nói với người ở dưới chân, “Chuyện hay thật đấy, hỡi Khayzarán!” và người kia đáp, “Sao vậy, hỡi Kazíb al-Bán?”[FN#119] Người thứ nhất nói, “Quả thật chúa công chúng ta chẳng biết gì về chuyện đã xảy ra, và cứ thức đêm canh bên một ngôi mộ trong đó chỉ có một khúc gỗ do nghệ thuật thợ mộc chạm nên.” Người kia hỏi, “Còn Kut al-Kulub, chuyện gì đã xảy đến với nàng?” Nàng đáp, “Hãy biết rằng phu nhân Zubaydah đã gửi một viên Bhang qua tay một trong các nữ nô được hối lộ để đánh thuốc mê nàng; và khi giấc ngủ chế ngự nàng, bà cho đặt nàng vào một chiếc rương, rồi truyền Sawab, Kafur và Bukhayt ném nàng giữa các mồ mả.” Khayzaran hỏi, “Ngươi nói gì, hỡi Kazib al-Ban; chẳng phải phu nhân Kut al-Kulub đã chết sao?” Nàng đáp, “Không, nhân danh Allah! và mong tuổi xuân của nàng còn lâu mới gặp cái chết! nhưng ta nghe phu nhân Zubaydah nói rằng nàng đang ở trong nhà một thương nhân trẻ tên là Ghanim bin Ayyub xứ Damascus, biệt hiệu Kẻ Sầu Loạn, Nô Lệ Của Tình Yêu; và nàng đã ở với chàng bốn tháng nay, trong khi chúa công chúng ta khóc lóc và thức đêm bên một ngôi mộ chẳng có xác chết.” Họ cứ nói với nhau những lời như vậy, còn Khalif lắng nghe lời họ; và khi họ dứt lời, ngài biết rất rõ rằng ngôi mộ là giả trá và lừa lọc, và Kut al-Kulub đã ở trong nhà Ghanim suốt bốn tháng. Tức thì ngài giận dữ vô cùng, đứng dậy, triệu các Emir trong triều; và tể tướng Ja'afar người Barmaki cũng đến, hôn đất giữa hai tay ngài. Khalif giận dữ nói với ông, “Hãy xuống, hỡi Ja'afar, cùng một toán người vũ trang và hỏi nhà của Ghanim con trai Ayyub ở đâu: hãy ập vào đó, cướp phá nó và đem hắn đến cho ta cùng nữ nô của ta, Kut al-Kulub, vì không thể không trừng phạt hắn!” Ja'afar nói, “Nghe là vâng”; rồi lên đường cùng quan Tổng trấn, lính canh và một biển người, đi đến nhà Ghanim. Bấy giờ vào lúc ấy chàng trai tình cờ vừa đem về một nồi thịt nấu và sắp đưa tay ăn, chàng cùng Kut al-Kulub, thì phu nhân tình cờ nhìn ra ngoài và thấy tai họa bao vây ngôi nhà từ mọi phía; bởi tể tướng và quan Tổng trấn, lính gác đêm và Mameluke với gươm tuốt trần đã bao quanh nó như lòng trắng mắt bao quanh lòng đen. Thấy vậy nàng biết tin tức về mình đã tới tai Khalif, chúa công của nàng; nàng chắc rằng họ đã đến để hủy diệt, sắc mặt nàng tái đi, nét đẹp đổi khác và vẻ tươi tắn phai tàn. Rồi nàng quay sang Ghanim và nói với chàng, “Ôi tình yêu của thiếp? hãy chạy giữ mạng!” Chàng hỏi, “Ta phải làm gì, và đi đâu, khi tiền bạc cùng phương tiện sinh sống của ta đều ở trong ngôi nhà này?”; nàng đáp, “Chớ chậm trễ kẻo chàng bị giết và mất cả mạng lẫn của.” Chàng kêu, “Ôi người yêu dấu và ánh sáng của mắt ta! ta làm sao thoát đi khi họ đã vây quanh nhà?” Nàng nói, “Đừng sợ”; rồi cởi bỏ quần áo đẹp của chàng, mặc cho chàng những y phục cũ rách; sau đó nàng lấy cái nồi và bỏ vào đó những mẩu bánh vụn cùng một đĩa thịt,[FN#120] đặt tất cả vào một cái giỏ, đội lên đầu chàng và nói, “Hãy ra ngoài trong bộ dạng này và đừng sợ cho thiếp, người biết rất rõ điều gì đang ở trong tay mình đối với Khalif.”[FN#121] Vậy chàng đi ra giữa họ, đội chiếc giỏ cùng những thứ bên trong, và Đấng Bảo Hộ đã ban cho chàng sự che chở của Người, nên chàng thoát khỏi những cạm bẫy và hiểm nguy vây bủa, nhờ phúc lành của lương tâm tốt đẹp và phẩm hạnh trong sạch của chàng. Trong khi ấy Ja'afar xuống ngựa, bước vào nhà, thấy Kut al-Kulub đã mặc và trang điểm bằng xiêm y cùng trang sức lộng lẫy, đã chất đầy một chiếc rương bằng vàng, châu báu, đá quý, vật hiếm và những thứ khác vừa nhẹ để mang vừa có giá trị hiếm. Khi nàng thấy Ja'afar bước vào, nàng đứng dậy, hôn đất trước mặt ông và nói, “Thưa chúa công, Cây Bút từ thuở xưa đã viết điều mưu tính mà Allah định đoạt!”[FN#122] Ja'afar đáp, “Nhân danh Allah, thưa phu nhân, ngài đã ra lệnh cho ta bắt Ghanim con trai Ayyub”; nàng đáp lại, “Thưa chúa công, chàng đã chuẩn bị hàng hóa và cùng chúng lên đường về Damascus, thiếp không biết thêm gì về chàng; nhưng thiếp mong ngài trông coi chiếc rương này và giao nó cho thiếp trong Harim của Vương tử các tín đồ.” Ja'afar nói, “Nghe và tuân lệnh,” rồi truyền người của mình mang nó về tổng hành dinh của ngôi Khalifat cùng với Kut al-Kulub, ra lệnh cho họ đối xử với nàng bằng danh dự như một người được trọng vọng cao. Họ làm theo lệnh ông sau khi phá hoại và cướp bóc nhà Ghanim. Rồi Ja'afar vào gặp Khalif và kể cho ngài tất cả những gì đã xảy ra, ngài truyền giam Kut al-Kulub trong một phòng tối và chỉ định một bà già hầu hạ nàng, vì ngài tin chắc rằng Ghanim đã làm hư nàng và nằm với nàng. Rồi ngài viết một sắc lệnh gửi Emir Mohammed bin Sulayman al-Zayni, phó vương của ngài tại Damascus, nội dung như sau: “Ngay khi nhận được thư này của chúng ta, hãy bắt Ghanim bin Ayyub và gửi hắn đến cho chúng ta.” Khi bức thư đến tay phó vương, ngài hôn nó và đặt lên đầu; rồi cho rao trong các chợ, “Ai muốn cướp bóc, hãy đến nhà Ghanim con trai Ayyub.”[FN#123] Vậy họ kéo đến đó, khi họ thấy mẹ và em gái Ghanim đã dựng cho chàng một ngôi mộ[FN#124] giữa nhà và ngồi bên mộ khóc thương chàng; tức thì họ bắt hai người mà không nói nguyên do, rồi sau khi cướp phá ngôi nhà, đưa họ đến trước mặt phó vương. Ngài hỏi họ về Ghanim, cả hai đáp, “Đã một năm hoặc hơn chúng tôi không có tin gì về nó.” Vậy họ được đưa trả về chỗ cũ. Chuyện về họ tới đây; còn về Ghanim, khi chàng thấy của cải mình bị cướp phá và sự hủy hoại của mình hoàn toàn, chàng khóc cho bản thân cho tới khi trái tim gần như vỡ nát. Rồi chàng đi lang thang vô định cho tới cuối ngày, cơn đói đè nặng lên chàng và việc đi bộ làm chàng kiệt sức. Vậy khi đến một ngôi làng, chàng bước vào một giáo đường[FN#125], nơi chàng ngồi xuống trên một tấm chiếu, tựa lưng vào tường; nhưng lát sau chàng gục xuống đất vì đói và mệt đến cùng cực. Chàng nằm đó cho tới bình minh, tim rung lên vì thiếu thức ăn; và vì mồ hôi của chàng, rận[FN#126] chạy trên da chàng; hơi thở chàng trở nên hôi hám và toàn bộ tình trạng của chàng đổi khác. Khi dân làng đến cầu nguyện buổi bình minh, họ thấy chàng nằm sấp, bệnh tật, gầy vì đói, nhưng vẫn lộ rõ dấu hiệu của sự giàu có trước kia. Ngay khi cầu nguyện xong, họ đến gần chàng; và hiểu rằng chàng bị đói và lạnh hành hạ, họ cho chàng một áo cũ với tay áo rách và nói với chàng, “Hỡi người xa lạ, ngươi từ đâu đến và bệnh gì ở trên ngươi?” Chàng mở mắt và khóc nhưng không trả lời; bấy giờ một người trong số họ, thấy chàng đang chết đói, đem cho chàng một đĩa mật ong và hai ổ bánh lúa mạch. Chàng ăn một ít, và họ ngồi với chàng cho tới khi mặt trời mọc, rồi đi làm việc. Chàng ở với họ trong tình trạng ấy một tháng, trong khi bệnh tật và yếu đuối tăng lên; họ khóc thương chàng và, động lòng trước cảnh ngộ của chàng, bàn bạc với nhau về trường hợp của chàng và đồng ý chuyển chàng đến bệnh viện ở Baghdad.[FN#127] Trong khi ấy kìa, hai người đàn bà ăn xin, chẳng ai khác ngoài mẹ và em gái của Ghanim,[FN#128] bước vào giáo đường; khi chàng thấy họ, chàng cho họ bánh đặt bên đầu mình; và đêm ấy họ ngủ bên cạnh chàng nhưng chàng không nhận ra họ. Ngày hôm sau dân làng đem đến một con lạc đà và nói với người dắt lạc đà, “Hãy đặt người bệnh này lên lưng thú của ngươi, đưa hắn đến Baghdad và đặt hắn xuống trước cửa nhà thương; như vậy có lẽ hắn sẽ được chữa thuốc và lành bệnh, còn ngươi sẽ được tiền công.”[FN#129] Người ấy nói, “Nghe là làm theo.” Vậy họ đưa Ghanim, lúc ấy đang ngủ, ra khỏi giáo đường và đặt chàng, cả chiếu lẫn người, lên lưng lạc đà; mẹ và em gái chàng ra giữa đám đông để nhìn chàng, nhưng họ không nhận ra chàng. Tuy nhiên, sau khi nhìn chàng và xem xét kỹ, họ nói, “Quả thật người này giống Ghanim của chúng ta, tội nghiệp thay!; người bệnh này có thể là nó chăng?” Lát sau, chàng thức dậy và thấy mình bị trói bằng dây trên lưng lạc đà, bèn bắt đầu khóc lóc và than phiền,[FN#130] còn dân làng thấy mẹ và em gái chàng khóc thương chàng, dù họ không nhận ra chàng. Rồi họ lên đường đi Baghdad, nhưng người dắt lạc đà đi trước họ và, đặt Ghanim xuống trước cửa nhà thương, rồi rời đi cùng con vật của mình. Người bệnh nằm đó cho tới bình minh; khi dân chúng bắt đầu đi lại trên các đường phố, họ thấy chàng và đứng nhìn chàng, vì chàng đã gầy như que tăm, cho tới khi vị Trưởng chợ đi tới và xua họ ra khỏi chàng, nói, “Ta sẽ giành được Thiên Đàng qua sinh linh đáng thương này; bởi nếu họ đưa hắn vào Nhà thương, họ sẽ giết hắn chỉ trong một ngày.”[FN#131] Rồi ông sai các thanh niên của mình khiêng chàng về nhà ông, nơi họ trải cho chàng một chiếc giường mới với gối mới,[FN#132] và ông nói với vợ, “Hãy chăm sóc hắn cẩn thận”; bà đáp, “Tốt! việc ấy đặt trên đầu thiếp!” Nghe vậy bà xắn tay áo lên, đun ấm ít nước, rửa tay, chân và thân thể chàng; sau đó mặc cho chàng một chiếc áo thuộc về một trong các nữ nô của bà, cho chàng uống một chén rượu và rảy nước hoa hồng lên chàng. Vậy chàng hồi tỉnh và than vãn, và ý nghĩ về người yêu dấu Kut al-Kulub khiến nỗi sầu của chàng tăng gấp bội. Chuyện về chàng tới đây; còn về Kut al-Kulub, khi Khalif nổi giận với nàng,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi ba đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Khalif nổi giận với Kut al-Kulub, ngài truyền đưa nàng vào một phòng tối, nơi nàng ở tám mươi ngày; cuối khoảng thời gian ấy, một ngày kia Khalif tình cờ đi ngang qua nơi nàng ở, nghe nàng ngâm thơ, và sau khi thôi đọc thơ, nàng nói, “Ôi người yêu dấu của thiếp, ôi Ghanim của thiếp! lòng tốt của chàng lớn lao xiết bao và bản tính của chàng trong sạch biết bao! chàng đã đối xử tốt với người làm điều xấu với chàng, và chàng đã giữ gìn danh dự của người khiến danh dự chàng hóa thành nhục nhã, và chàng đã bảo vệ Harim của người chọn bắt chàng cùng người của chàng làm nô lệ! Nhưng chắc chắn chàng và Chủ nhân của các tín đồ sẽ đứng trước Đấng Phán Xét Công Minh, và chàng sẽ được Người minh oan vào Ngày Chúa (vinh dự và vinh quang thuộc về Người!) làm Kazi, còn các Thiên thần Trời làm chứng!” Khi Khalif nghe lời than của nàng, ngài biết rằng nàng đã bị oan; trở về cung điện, ngài sai hoạn quan Masrur đi gọi nàng. Nàng đến trước mặt ngài, đầu cúi, mắt đầy lệ và tim sầu não; ngài nói với nàng, “Hỡi Kut al-Kulub, ta thấy ngươi buộc tội ta bạo ngược và áp bức, và ngươi quả quyết rằng ta đã làm điều xấu với người từng làm điều tốt với ta. Kẻ nào đã giữ gìn danh dự của ta trong khi ta khiến danh dự hắn thành nhục? Ai đã bảo vệ Harim của ta và Harim của ai đã bị ta phá hoại?” Nàng đáp, “Đó là Ghanim con trai Ayyub, bởi chàng chưa từng đến gần thiếp với sự phóng đãng hay ý đồ dâm tà, thiếp thề nhân sự hào phóng của ngài, ôi Chủ nhân của các tín đồ!” Bấy giờ Khalif nói, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah! Hãy xin điều ngươi muốn nơi ta, hỡi Kut al-Kulub.” Nàng đáp, “Ôi Vương tử của các tín đồ! thiếp chỉ đòi nơi ngài người yêu dấu của thiếp, Ghanim con trai Ayyub.” Ngài làm theo ý nàng, bấy giờ nàng nói, “Ôi Chúa của các tín đồ Hồi giáo, nếu thiếp đem chàng đến trước mặt ngài, ngài có ban thiếp cho chàng không?”; ngài đáp, “Nếu hắn đến trước mặt ta, ta sẽ trao ngươi cho hắn như món quà của người hào hiệp chẳng thu hồi sự rộng rãi của mình.” Nàng nói, “Ôi Vương tử của những người tin thật, xin cho thiếp đi tìm chàng; biết đâu Allah sẽ hợp nhất thiếp với chàng”; ngài đáp, “Hãy làm đúng như ngươi muốn.” Vậy nàng vui mừng, đem theo một nghìn dinar vàng, ra đi viếng các trưởng lão của nhiều đức tin khác nhau và bố thí nhân danh Ghanim.[FN#133] Ngày hôm sau nàng đi đến chợ của các thương nhân, bộc lộ mục đích của mình với vị Trưởng chợ và đưa ông tiền, nói, “Hãy đem số này bố thí cho người xa lạ!” Vào thứ Sáu kế tiếp, nàng đến chợ (với một nghìn dinar khác), bước vào phố chợ của thợ kim hoàn và châu báu, gọi vị Trưởng ngành và trao cho ông một nghìn dinar với những lời này, “Hãy đem số này bố thí cho người xa lạ!” Vị Trưởng nhìn nàng (và ông chính là vị Trưởng chợ đã thu nhận Ghanim) rồi nói, “Thưa phu nhân, nàng có muốn đến nhà tôi và nhìn một chàng trai, một người xa lạ mà tôi đang giữ ở đó, để xem chàng đẹp đẽ và duyên dáng thế nào không?” Bấy giờ người xa lạ chính là Ghanim, con trai Ayyub, nhưng vị Trưởng không biết chàng và tưởng chàng là một kẻ nghèo lang thang, một con nợ bị tước hết của cải, hoặc một người tình bị chia lìa khỏi người yêu. Khi nàng nghe lời ông, tim nàng rung động[FN#134] và ruột gan nàng khát khao, nàng nói với ông, “Hãy sai một người đi cùng thiếp để dẫn đường đến nhà ông.” Vậy ông sai một cậu bé đưa nàng đến ngôi nhà nơi có người khách lạ của vị trưởng, và nàng cảm tạ ông vì điều ấy. Khi tới nhà, nàng bước vào và chào vợ vị Trưởng chợ, bà đứng dậy, hôn đất giữa hai tay nàng, vì bà biết nàng. Rồi Kut al-Kulub hỏi, “Người bệnh đang ở với bà đâu?” Bà khóc và đáp, “Ở đây, thưa phu nhân; nhân danh Allah, chàng xuất thân từ người tốt và mang những dấu hiệu của dòng dõi thanh nhã: người thấy chàng nằm trên giường kia.” Vậy nàng quay lại nhìn chàng: nàng thấy một người giống chàng, nhưng chàng bị mài mòn, hao kiệt đến nỗi gầy như que tăm, nên thân phận chàng khiến nàng nghi ngờ và nàng không thể chắc đó là chàng. Tuy vậy lòng thương hại chiếm lấy nàng và nàng khóc, nói, “Quả thật người xa lạ là kẻ bất hạnh, dẫu ở xứ mình hắn là một vương tử!”; cảnh ngộ của chàng khiến nàng đau đớn và trái tim nàng nhói đau vì chàng, song nàng không biết chàng là Ghanim. Rồi nàng cung cấp cho chàng rượu và thuốc men, và ngồi một lúc bên đầu chàng, sau đó lên ngựa trở về cung điện của mình và tiếp tục thăm từng khu chợ để tìm người yêu. Trong khi ấy, mẹ Ghanim và em gái Fitnah đến Baghdad và gặp vị Trưởng chợ, ông đưa họ đến Kut al-Kulub và nói với nàng, “Ôi công chúa của các phu nhân nhân hậu, hôm nay có một phụ nữ cùng con gái đến thành của chúng ta, họ có dung mạo xinh đẹp, và những dấu hiệu của sự giáo dưỡng cùng phẩm giá hiện rõ nơi họ, dù họ mặc áo lông thô và mỗi người đeo một túi quanh cổ; mắt họ đầy lệ và tim họ sầu não. Vì vậy tôi đã đưa họ đến với nàng để nàng cho họ nương náu và cứu họ khỏi cảnh ăn xin, bởi họ không thuộc hạng người đi xin; và nếu Allah muốn, chúng ta sẽ vào Thiên Đàng nhờ họ.” Nàng kêu, “Nhân danh Allah, thưa chủ nhân của ta, ông khiến ta khao khát được thấy họ! Họ ở đâu?” rồi nói thêm, “Đưa họ đến đây cho ta!” Vậy ông bảo hoạn quan đưa họ vào; khi nàng nhìn họ và thấy cả hai đều có sắc đẹp nổi bật, nàng khóc vì họ và nói, “Nhân danh Allah, đây là những người có địa vị và lộ rõ dấu hiệu của sự sung túc trước kia.” Vợ vị Trưởng chợ nói, “Thưa phu nhân, chúng tôi yêu thương người nghèo và kẻ túng thiếu, đặc biệt vì phần thưởng trên Trời sẽ đền bù cho tình yêu ấy; còn về những người này, có lẽ kẻ áp bức đã đối xử khắc nghiệt với họ, cướp tài sản và tàn phá nhà cửa của họ.” Rồi mẹ và em gái Ghanim khóc lóc thảm thiết, nhớ lại cảnh thịnh vượng trước kia và đối chiếu với cảnh nghèo khổ cùng tình trạng khốn cùng hiện tại; ý nghĩ của họ xoay quanh con trai và anh trai, trong khi Kut al-Kulub khóc vì tiếng khóc của họ; và họ nói, “Chúng tôi cầu xin Allah đoàn tụ chúng tôi với người chúng tôi mong muốn, chẳng ai khác ngoài con trai tôi tên là Ghanim bin Ayyub!” Khi Kut al-Kulub nghe điều này, nàng biết họ là mẹ và em gái của người yêu mình, bèn khóc cho tới khi ngất đi. Khi hồi tỉnh, nàng quay sang họ và nói, “Chớ sợ hãi và chớ sầu muộn, vì ngày này là ngày đầu tiên của thịnh vượng và ngày cuối cùng của khốn khó dành cho các người!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi bốn đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng sau khi Kut al-Kulub an ủi họ, nàng truyền cho vị Trưởng chợ dẫn họ về nhà ông và để vợ ông đưa họ đến Hammam, mặc cho họ áo quần đẹp, chăm sóc họ và tôn trọng họ bằng mọi sự tôn trọng; rồi nàng đưa cho ông một khoản tiền đủ dùng. Ngày hôm sau, nàng lên ngựa, cưỡi đến nhà ông, vào gặp vợ ông, bà đứng dậy hôn tay nàng và cảm tạ lòng tốt của nàng. Ở đó nàng thấy mẹ và em gái Ghanim, những người mà vợ vị Trưởng chợ đã đưa đến Hammam và mặc lại áo quần mới, khiến dấu vết của thân phận trước kia hiện rõ trên họ. Nàng ngồi trò chuyện với họ một lúc, sau đó hỏi người vợ về chàng trai bệnh đang ở trong nhà bà, bà đáp, “Chàng vẫn trong tình trạng ấy.” Bấy giờ Kut al-Kulub nói, “Nào, chúng ta hãy đi thăm chàng.” Vậy nàng đứng dậy, cùng vợ vị Trưởng, mẹ và em gái Ghanim, rồi đi vào căn phòng nơi chàng nằm và ngồi xuống gần chàng. Lát sau Ghanim bin Ayyub, Kẻ Sầu Loạn, Nô Lệ Của Tình Yêu, nghe họ nhắc đến tên Kut al-Kulub; tức thì sự sống trở lại với chàng, dù chàng gầy mòn và héo úa, chàng nhấc đầu khỏi gối và kêu lớn, “Ôi Kut al-Kulub!” Nàng nhìn chàng, biết chắc đó là chàng và thét lên hơn là nói, “Vâng, ôi người yêu dấu của thiếp!” Chàng nói, “Hãy lại gần ta”; nàng đáp, “Chắc chắn chàng là Ghanim bin Ayyub?”; chàng đáp, “Đúng là ta!” Nghe vậy nàng ngất đi; và ngay khi mẹ Ghanim cùng em gái chàng Fitnah nghe những lời ấy, cả hai đều kêu lên, “Ôi niềm vui của chúng ta!” rồi ngất lịm. Khi tất cả hồi tỉnh, Kut al-Kulub kêu, “Ngợi ca Allah, Đấng đã đưa chúng ta lại với nhau và đã đoàn tụ chàng với mẹ cùng em gái chàng!” Rồi nàng kể cho chàng nghe tất cả những gì đã xảy ra với mình cùng Khalif và nói, “Thiếp đã cho Chủ nhân của các tín đồ biết sự thật, ngài tin lời thiếp và hài lòng với chàng; và nay ngài muốn gặp chàng,” rồi nói thêm, “Ngài đã trao thiếp cho chàng.” Nghe vậy chàng vui mừng tột độ, khi nàng nói, “Chớ rời nơi này cho tới khi thiếp trở lại,” rồi lập tức đứng dậy đi về cung điện của mình. Tại đó nàng mở chiếc rương đã đem từ nhà Ghanim, lấy ra một số dinar, đưa cho vị Trưởng chợ và nói, “Hãy dùng tiền này mua cho mỗi người trong họ bốn bộ áo hoàn chỉnh bằng những thứ vải tốt nhất và hai mươi chiếc khăn, cùng những thứ khác họ cần”; sau đó nàng đưa cả ba người đến phòng tắm, cho họ được rửa và tắm, rồi chuẩn bị cho họ consommé, nước riềng và rượu táo khi họ ra. Khi họ rời Hammam, họ mặc áo mới, và nàng ở với họ ba ngày, cho họ ăn thịt gà và thịt hầm, cho họ uống sherbert đường phèn. Sau ba ngày tinh thần họ trở lại; nàng lại đưa họ đến phòng tắm, và khi họ đi ra, thay áo quần xong, nàng dẫn họ về nhà vị Trưởng chợ và để họ ở đó, còn mình trở lại cung điện và xin phép gặp Khalif. Khi ngài truyền cho nàng vào, nàng bước vào và, hôn đất giữa hai tay ngài, kể cho ngài toàn bộ câu chuyện và rằng chúa công của nàng, Ghanim bin Ayyub, biệt hiệu Kẻ Sầu Loạn, Nô Lệ Của Tình Yêu, cùng mẹ và em gái chàng hiện đang ở Baghdad. Khi Khalif nghe vậy, ngài quay sang các hoạn quan và nói, “Đưa Ghanim đến đây cho ta.” Vậy Ja'afar đi đón chàng; nhưng Kut al-Kulub đi trước ông và nói với Ghanim, “Khalif đã sai người đến đưa chàng tới trước mặt ngài,” rồi dặn chàng phải sẵn lời nơi lưỡi, vững lòng nơi tim và ngọt ngào trong lời nói. Rồi nàng mặc cho chàng một bộ áo lộng lẫy và đưa chàng rất nhiều dinar, nói, “Hãy rộng rãi ban phát cho người trong nhà Khalif khi chàng vào gặp ngài.” Lát sau Ja'afar, cưỡi con la Nubia của mình, đến đón chàng; Ghanim tiến lên chào tể tướng, chúc ông trường thọ, rồi hôn đất trước mặt ông. Bấy giờ ngôi sao vận may của chàng đã mọc và sáng rực; Ja'afar đưa chàng đi; họ không ngừng cùng nhau lên đường, chàng và vị tể tướng, cho tới khi vào gặp Chủ nhân của các tín đồ. Khi đứng trước hiện diện, chàng nhìn các tể tướng, Emir và thị thần, các phó vương, đại nhân và đội trưởng, rồi nhìn Khalif. Nghe vậy chàng làm lời nói và tài hùng biện của mình trở nên ngọt ngào, cúi đầu xuống đất và bật ra những đôi câu ứng tác này,
“Nguyện tuổi thọ vị Quân vương ấy kéo dài thật lớn lao, * Đấng mà mọi thần dân đều thấy lòng rộng rãi ban phát của ngài:
Chẳng ai khác ngoài ngài được gọi là Kaysar, * Chúa của sảnh đường chúa tể và Divan kiêu hãnh:
Các vua đặt châu ngọc của mình lên bụi ngưỡng cửa ngài * Khi họ cúi mình và salam trước bậc đại nhân hùng mạnh;
Và những cái liếc của ngài làm họ bại, tất cả lùi lại, * Râu cúi sát đất và gương mặt tái nhợt:
Song họ thu được lợi ích của ân sủng vương giả, * Cấp bậc và địa vị của soldan cao sang.
Đồng bằng mặt đất quá chật cho thế giới người của ngài, * Hãy đóng trại nơi Empyrean của Kay wan![FN#135]
Cầu Vua của các vua mãi giữ ngài thân yêu; * Cầu mưu lược thuộc về ngài và kế hoạch đúng đắn vững bền,
Cho tới khi công lý của ngài trải khắp mặt đất bao la * Và gần cũng như xa đều có giá trị ngang nhau.”
Khi chàng dứt lời ứng tác, Khalif hài lòng vì nó và kinh ngạc trước tài hùng biện nơi lưỡi chàng cùng sự ngọt ngào trong lời nói của chàng,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi lăm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Khalif, sau khi kinh ngạc trước tài hùng biện nơi lưỡi chàng và sự ngọt ngào trong lời nói của chàng, nói với chàng, “Hãy lại gần ta.” Vậy chàng lại gần, và nhà vua phán, “Hãy kể cho ta chuyện của ngươi và tỏ rõ cảnh ngộ của ngươi.” Vậy Ghanim ngồi xuống và kể với ngài những gì đã xảy ra với chàng ở Baghdad, việc chàng ngủ trong lăng mộ, việc chàng mở chiếc rương sau khi ba tên nô lệ đã rời đi, và nói tóm lại, trình với ngài mọi chuyện đã xảy ra với chàng từ đầu đến cuối—những điều ấy chúng ta sẽ không lặp lại, vì chuyện kể hai lần thì hứng thú nhạt đi. Khalif tin chắc chàng là người chân thật; vậy ngài ban cho chàng một áo vinh dự, đặt chàng ở gần bên mình như dấu hiệu ân sủng, và nói với chàng, “Hãy miễn trách nhiệm cho ta về điều ta đã mắc phải.”[FN#136] Và Ghanim làm vậy, nói, “Ôi chúa công Sultan của chúng thần, thật vậy, nô bộc của ngài và mọi thứ hai tay hắn sở hữu đều thuộc về chủ nhân của hắn.” Khalif hài lòng vì điều này và truyền dành riêng một cung điện cho chàng, chỉ định cho chàng lương bổng và phụ cấp, khẩu phần và tặng vật, tổng cộng là một khoản vô cùng lớn. Vậy chàng chuyển đến đó cùng em gái và mẹ; sau đó Khalif, nghe rằng em gái chàng Fitnah về nhan sắc quả là một “fitnah,”[FN#137] một sự cám dỗ thuần túy, bèn xin Ghanim cưới nàng, chàng đáp, “Nàng là tỳ nữ của ngài cũng như thần là nô bộc của ngài.” Khalif cảm tạ chàng và ban cho chàng một trăm nghìn dinar, rồi triệu các nhân chứng và Kazi, và trong cùng một ngày họ viết ra hai hôn ước: giữa Khalif và Fitnah, và giữa Ghanim bin Ayyub với Kut al-Kulub; hai cuộc hôn nhân được hoàn thành trong cùng một đêm. Khi sáng đến, Khalif truyền ghi lại lịch sử những gì đã xảy đến với Ghanim từ đầu đến cuối và lưu nó trong kho văn thư hoàng gia, để những người đến sau ngài có thể đọc nó, kinh ngạc trước những cách Định Mệnh hành xử và đặt lòng tin vào Đấng đã tạo ra đêm và ngày. Tuy vậy, tâu đức vua cát tường, câu chuyện mà ngài đã hạ cố lắng nghe này xét theo bất cứ cách nào cũng không kỳ diệu hơn
Nhà vua hỏi nàng, “Vậy câu chuyện của họ là gì?” và nàng đáp: Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tại Thành An Toàn, Baghdad, trước thời Khalifat của Abd al-Malik bin Marwán,[FN#139] có một vị vua tên là Omar bin al-Nu'umán, thuộc hàng những người khổng lồ hùng mạnh, đã khuất phục các Chosroë xứ Ba Tư và các Kaysar của Đông La Mã; bởi chẳng ai có thể sưởi mình bên lửa của ngài;[FN#140] cũng chẳng ai đủ sức đối mặt với ngài nơi chiến trường cướp phá và giao tranh; và khi ngài nổi giận, từ lỗ mũi ngài bắn ra những tia lửa. Ngài đã tự lập làm vua trên khắp mọi phương, và Allah đã khiến mọi tạo vật của Người quy phục ngài; lời ngài truyền tới mọi đại thành, và quân đội ngài đã tàn phá những miền đất xa nhất. Đông và Tây đều vào dưới quyền ngài, cùng mọi xứ sở nằm chen giữa chúng, Hind và Sind và Sin,[FN#141] Thánh Địa, Al-Hijaz, những ngọn núi phì nhiêu của Al-Yaman và các quần đảo Ấn Độ cùng Trung Hoa. Hơn nữa, ngài trị vì tối thượng trên miền bắc quốc và Diyár Bakr, tức Mesopotamia, trên Sudán, xứ người Negro phương Đông và các Đảo của Đại Dương, cùng mọi dòng sông lừng danh xa gần trên mặt đất, Sayhún và Jayhún,[FN#142] sông Nile và Euphrates. Ngài sai sứ thần và đại sứ đến những kinh đô xa xôi nhất, để đem về cho ngài tin tức chân thực; và họ thường mang về tin về công lý và hòa bình, với lời bảo đảm về lòng trung thành và sự tuân phục, cùng những lời cầu nguyện trên bục giảng cho vua Omar bin al-Nu'uman; bởi ngài, ôi Đấng Trị Vì của Thời Đại, là một vị vua thật cao quý; và quà tặng gồm vật hiếm, thuế lộ cùng cống phẩm từ mọi miền dưới quyền cai trị của ngài đều dâng về cho ngài. Vị quân vương hùng mạnh này có một người con trai tên là Sharrkan,[FN#143] người giống cha hơn hết thảy mọi người và đã chứng tỏ mình là một trong những kỳ nhân của thời đại trong việc khuất phục kẻ dũng mãnh và đưa những người đồng thời đến họa diệt cùng lệnh cấm. Vì thế cha chàng yêu chàng bằng một tình yêu lớn lao không gì lớn hơn, và lập chàng làm người thừa kế vương quốc sau mình. Vị vương tử này lớn lên cho tới khi đạt tới tuổi trưởng thành, tròn hai mươi tuổi, và Allah khiến các tôi tớ của Người quy phục chàng, bởi sức mạnh lớn lao và lòng dũng cảm của chàng trong chiến trận. Bấy giờ cha chàng, vua Omar, có bốn người vợ cưới hỏi hợp pháp, nhưng Allah không ban cho ngài con trai nào bởi họ, ngoài Sharrkan, người ngài sinh với một trong bốn bà, còn những người khác đều son sẻ. Hơn nữa ngài có ba trăm sáu mươi tỳ thiếp, theo số ngày trong năm Coptic, thuộc đủ mọi dân tộc; và ngài đã chuẩn bị cho từng người một một phòng riêng trong chính cung điện mình. Bởi ngài đã dựng mười hai tòa đình, theo số tháng, mỗi tòa có ba mươi phòng riêng, tổng cộng ba trăm sáu mươi phòng, nơi ngài cho các tỳ nữ của mình trú ngụ: và ngài phân theo luật cho mỗi người một đêm của nàng, khi ngài nằm với nàng và không trở lại với nàng suốt trọn một năm;[FN#144] theo cách ấy ngài sống một thời gian dài. Trong khi đó con trai ngài, Sharrkan, đang làm danh tiếng mình vang khắp bốn phương thế giới, và cha chàng hãnh diện về chàng, còn sức mạnh của chàng tăng lên và ngày càng mạnh hơn; đến nỗi chàng vượt mọi giới hạn, cư xử như bậc chủ nhân, đánh chiếm lâu đài và thành thị. Bỗng, theo sắc lệnh của Đấng Định Đoạt, một tỳ nữ trong số các tỳ nữ của Omar bin Nu'uman có thai; và khi việc nàng mang thai được báo trong Harim, nhà vua được tin ấy; tức thì ngài vui mừng quá đỗi và nói, “Có lẽ đó sẽ là một con trai, và như vậy mọi con cái ta đều là nam!” Rồi ngài ghi ngày nàng thụ thai và đối đãi với nàng bằng mọi cách nhân từ. Nhưng khi tin ấy đến với Sharrkan, chàng bối rối và việc này đối với chàng xem ra nặng nề đau đớn; chàng nói, “Quả thật có một kẻ sắp đến tranh vương quyền với ta”: vậy chàng tự nhủ, “Nếu tỳ thiếp này sinh một đứa con trai, ta sẽ giết nó”; nhưng chàng giấu kín ý định ấy trong tim. Đó là tình cảnh của Sharrkan; còn điều xảy ra với thiếu nữ kia thì như sau. Nàng là một Roumiyah, một cô gái Hy Lạp, tên là Sofiyah hay Sophia,[FN#145] được vua Roum và Chúa của Cæsarea gửi làm quà cho vua Omar, cùng với rất nhiều lễ vật và vật hiếm: nàng có dung mạo xinh đẹp nhất, đáng yêu nhất trong tất cả tỳ nữ của ngài và biết giữ gìn danh dự hơn hết; nàng được phú cho trí tuệ thấu suốt chẳng kém gì dung nhan khiến người say đắm. Bấy giờ nàng đã hầu hạ nhà vua trong đêm ngài nằm với nàng, thưa với ngài, “Ôi đức vua! thiếp cầu xin Thượng Đế của các Tầng Trời ban phúc cho ngài đêm nay bằng một đứa con trai từ thiếp, để thiếp có thể nuôi dạy nó bằng sự dưỡng dục tốt nhất, và giúp nó đạt đến tuổi trưởng thành hoàn hảo về trí tuệ, lễ độ và phong thái cẩn trọng”[FN#146]—một lời nói khiến nhà vua rất hài lòng. Trong thời gian mang thai, nàng siêng năng cầu nguyện, thiết tha khẩn cầu Chúa ban phúc cho nàng một đứa con trai đẹp đẽ và khiến việc sinh nở của nàng dễ dàng; và Allah đã nghe lời cầu xin của nàng, nên sau khi đủ tháng, nàng ngồi an toàn trên ghế sinh.[FN#147] Bấy giờ nhà vua đã sai một hoạn quan báo cho ngài biết đứa trẻ nàng sinh ra là trai hay gái; và theo cùng cách ấy con trai ngài Sharrkan cũng sai một người đem tin tương tự về cho mình. Đến kỳ, Sophia sinh một đứa trẻ, các bà mụ xem xét và thấy đó là một bé gái có gương mặt sáng hơn trăng. Vậy họ báo điều này cho mọi người có mặt trong phòng, tức thì sứ giả của nhà vua đem tin ấy đến cho ngài; và hoạn quan của Sharrkan cũng làm như vậy với chủ mình, người vui mừng quá đỗi. Nhưng sau khi hai người ấy đã đi, Sophia nói với các bà mụ, “Hãy chờ cùng ta một lát, vì ta cảm thấy như vẫn còn thứ gì trong bụng.” Rồi nàng kêu lên, những cơn đau sinh nở lại bắt lấy nàng; và Allah khiến việc ấy dễ dàng cho nàng, nàng sinh ra đứa trẻ thứ hai. Các bà đỡ nhìn nó và thấy đó là một bé trai như trăng tròn, trán trắng như hoa, má hồng tươi rực ánh hồng; tức thì người mẹ vui mừng, cũng như các hoạn quan, người hầu và toàn thể đám hiện diện; và Sophia sinh nhau thai trong lúc khắp cung điện vang lên tiếng reo vui ngân rung.[FN#148] Các tỳ thiếp còn lại nghe tiếng ấy và ghen với số phận của nàng; còn tin tức đến với Omar con trai Al-Nu'uman, ngài hoan hỉ và vui mừng trước tin lành tuyệt diệu. Rồi ngài đứng dậy đến gặp nàng và hôn đầu nàng, sau đó nhìn đứa bé trai; cúi xuống hôn nó, trong khi các thiếu nữ đánh trống con và chơi nhạc cụ; nhà vua ra lệnh đặt tên đứa bé trai là Zau al-Makán và em gái nó là Nuzhat al-Zamán.[FN#149] Họ đáp “Nghe và tuân lệnh,” rồi làm theo lệnh ngài; vậy ngài chỉ định nhũ mẫu, bảo mẫu, hoạn quan và người hầu để phục vụ chúng; và cấp cho chúng khẩu phần đường, thức uống bổ dưỡng, dầu thơm cùng những thứ khác, vượt quá khả năng lưỡi kể lại. Hơn nữa dân chúng Baghdad, nghe rằng Allah đã ban phúc cho nhà vua của họ có con nối dõi, bèn trang hoàng thành phố và công bố tin mừng bằng trống lớn và trống tom-tom; các Emir, tể tướng và đại thần cao cấp đến cung điện, chúc mừng vua Omar bin al-Nu'uman về con trai ngài, Zau al-Makan, và con gái ngài, Nuzhat al-Zaman; bởi thế ngài cảm tạ họ, ban cho họ áo vinh dự và lại sủng đãi họ bằng quà tặng, rồi ban phát rộng rãi cho mọi người, sang cũng như hèn, có mặt ở đó. Theo cách ấy ngài làm suốt bốn ngày trọn vẹn, và ngài tuôn đổ lên Sophia xiêm y, trang sức cùng vô số của cải; và cứ vài ngày ngài lại sai một sứ giả đến hỏi thăm nàng và hai trẻ sơ sinh. Khi bốn năm đã trôi qua, ngài cung cấp cho nàng mọi phương tiện để nuôi nấng hai đứa trẻ chu đáo và giáo dục chúng bằng sự chỉ dạy tốt nhất. Suốt thời gian ấy, con trai ngài Sharrkan không biết một đứa con trai đã được sinh ra cho cha mình, Omar con trai Al-Nu'uman, mà chỉ biết tin rằng ngài đã được ban phúc bằng sự ra đời của Nuzhat al-Zaman; và họ giấu tin ấy khỏi chàng, cho tới khi ngày tháng và năm tháng đã trôi nhanh, trong khi chàng bận rộn chiến đấu với những kẻ dũng mãnh và một mình giao chiến với các hiệp sĩ. Một ngày kia, khi vua Omar đang ngồi trong cung điện, các thị thần vào gặp ngài và, hôn đất trước mặt ngài, thưa, “Ôi đức vua, có các Đại sứ từ vua Roum, Chúa của Constantinople Vĩ Đại, đã đến, họ mong được vào chầu ngài và quy phục sắc lệnh của ngài: nếu đức vua truyền cho chúng thần đưa họ vào, chúng thần sẽ làm; còn nếu không, mệnh lệnh của ngài chẳng ai dám tranh cãi.” Ngài truyền cho họ vào, và khi họ bước vào, ngài quay sang họ, đón tiếp họ lịch sự, hỏi họ về tình trạng của họ và nguyên nhân họ đến. Họ hôn đất trước mặt ngài và nói, “Ôi đức vua vinh quang và mạnh mẽ! Ôi chúa công của cánh tay dài! xin biết rằng người sai chúng tôi đến ngài là vua Afrídún,[FN#150] Chúa của xứ Ionia[FN#151] và các đạo quân Nazarene, vị quân chủ vững chắc trên ngôi đế quyền Constantinople, để báo cho ngài hay rằng hiện ngài đang tiến hành một cuộc chiến dữ dội và khốc liệt với một bạo chúa phản nghịch, Vương tử của Cæsarea; và nguyên nhân cuộc chiến ấy là như sau. Một trong các vua Ả Rập thời trước, trong một cuộc chinh phục của mình, tình cờ gặp một kho tàng từ thời Alexander,[FN#152] từ đó ngài lấy đi của cải không thể tính xuể; và trong số những thứ khác có ba viên ngọc tròn, lớn như trứng đà điểu, lấy từ một mỏ đá quý trắng tinh, thứ mà con người chưa từng thấy vật nào giống. Trên mỗi viên có khắc ký tự bằng chữ Ionia, và chúng có nhiều đức tính cùng đặc tính, trong số đó là nếu một trong các viên ngọc này được treo quanh cổ đứa trẻ mới sinh, chẳng điều ác nào sẽ giáng xuống nó, nó sẽ không khóc than, cũng không bị sốt hành hạ chừng nào viên ngọc còn nguyên vẹn không suy suyển.[FN#153] Khi vị vua Ả Rập nắm được chúng và biết các bí mật của chúng, ngài gửi đến vua Afridun những món quà gồm một số vật hiếm và trong số đó có ba viên ngọc vừa nói; và ngài chuẩn bị cho sứ mệnh ấy hai con tàu, một chiếc chở kho báu, chiếc kia chở những người hùng mạnh để canh giữ nó khỏi bất cứ ai có thể gây trở ngại trên biển cả, dù ngài hoàn toàn yên tâm rằng chẳng ai dám chặn đường tàu của mình, bởi ngài là vua của người Ả Rập, lại thêm dấu hiệu này: lộ trình của họ đi qua vùng nước thuộc quyền vua Constantinople và họ hướng về cảng của ngài; cũng như trên bờ biển ấy chẳng có ai ngoài thần dân của Đại Vương Afridun. Hai con tàu lên đường và vượt biển cho tới khi đến gần thành của chúng tôi, thì có một số hải tặc từ xứ ấy xông ra tấn công họ, trong số chúng có quân của Vương tử Cæsarea, chúng lấy hết kho báu và vật hiếm trên tàu, cùng ba viên ngọc, rồi giết thủy thủ đoàn. Khi vua của chúng tôi nghe tin này, ngài sai một đạo quân chống lại chúng, nhưng chúng đánh bại đạo quân ấy; rồi ngài đưa đạo quân thứ hai, mạnh hơn, tiến lên, nhưng chúng cũng khiến đạo quân này tháo chạy,—bấy giờ nhà vua nổi giận và thề rằng ngài sẽ không ra quân[FN#154] chống lại chúng trừ khi đích thân ngài đứng đầu toàn thể quân đội; cũng sẽ không quay lưng khỏi chúng cho tới khi ngài để Cæsarea thuộc Armenia[FN#155] thành hoang tàn và tàn phá mọi miền đất cùng thành thị mà Vương tử của nó cai trị. Vì vậy ngài sai chúng tôi đến với Chúa công của thời đại và thời gian, Sultan Omar bin al-Nu'uman, vua Baghdad và Khorasan, mong ngài trợ giúp chúng tôi bằng một đạo quân, để danh dự và vinh quang có thể thêm về phần ngài; và ngài cũng gửi qua chúng tôi một số quà tặng đủ loại, rồi nhờ ân đức của đức vua mà xin ngài nhận lấy chúng và ban ơn bằng hữu là sự trợ lực.” Rồi các Đại sứ hôn đất trước mặt ngài,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng sau khi các Đại sứ và đoàn tùy tùng từ vua Constantinople đã hôn đất trước mặt Omar và chuyển xong sứ điệp của họ, họ đem quà tặng ra, gồm năm mươi thiếu nữ chọn lọc nhất từ xứ Græcia, và năm mươi Mameluke mặc áo ngắn gấm, thắt đai bằng vàng bạc, mỗi người đeo nơi tai vòng vàng có móc treo ngọc trai mịn, mỗi món trị giá một nghìn ducat. Các cô gái cũng được trang điểm theo cách tương tự và mặc những thứ vải đáng giá cả một kho tiền. Khi nhà vua thấy họ, ngài vui mừng vì họ và nhận lấy; rồi ngài truyền đối đãi các Đại sứ bằng danh dự, triệu các tể tướng của mình đến và bàn với họ xem phải làm gì. Khi ấy trong số họ có một tể tướng đứng lên, một ông già tên là Dandán,[FN#156] người hôn đất trước mặt Omar và nói, “Ôi đức vua, chẳng có việc gì tốt hơn để làm trong vấn đề này ngoài trang bị một đạo quân dũng mãnh và chiến thắng, rồi đặt con trai ngài Sharrkan thống lĩnh nó, còn chúng thần làm phó tướng cho chàng; và lời khuyên này tự khiến thần tán thành vì hai lý do; thứ nhất, vì vua Roum đã cầu viện sự trợ giúp của ngài và đã gửi ngài những món quà mà ngài đã nhận; thứ hai, vì không kẻ thù nào dám tấn công đất nước chúng ta, nên quân đội của ngài có thể ra đi an toàn, và nếu nó cứu viện vua xứ Græcia và đánh bại kẻ thù của ngài ấy, vinh quang sẽ thuộc về ngài. Hơn nữa, tin ấy sẽ vang ra khắp mọi thành thị và xứ sở, đặc biệt khi tin tức đến các Đảo của Đại Dương và các vua Mauritania nghe được, họ sẽ gửi đến ngài lễ vật gồm những vật hiếm và nộp cho ngài cống tiền.” Nhà vua hài lòng với lời của tể tướng và tán thành lời khuyên của ông, ban cho ông một áo vinh dự và nói với ông, “Chính từ những người như ngươi mà các vua nên hỏi ý; và xem ra thích hợp rằng ngươi sẽ dẫn tiền quân của chúng ta, còn con trai chúng ta Sharrkan chỉ huy trung quân.” Rồi ngài sai gọi con trai mình; chàng đến, hôn đất trước mặt ngài và ngồi xuống; ngài giảng giải cho chàng sự việc, kể cho chàng những gì các Đại sứ và tể tướng Dandan đã nói, rồi truyền chàng cầm binh khí và chuẩn bị cho chiến dịch, căn dặn chàng chớ trái lời Dandan trong bất cứ việc gì ông làm. Hơn nữa, ngài lệnh cho chàng chọn trong quân đội của mình mười nghìn kỵ binh, vũ trang từ đầu đến chân và quen chịu xung phong cùng gian nan chiến trận. Theo đó, Sharrkan lập tức đứng dậy, chọn ra một vạn kỵ binh, sau đó vào cung của mình, điểm quân và ban phát rộng rãi cho họ, nói, “Các ngươi có thời hạn ba ngày.” Họ hôn đất trước mặt chàng để vâng lệnh và lập tức bắt đầu chuẩn bị khí giới, dự trữ lương thực cho dịp ấy; trong khi Sharrkan đến các kho vũ khí và lấy từ đó mọi thứ chàng cần về binh khí và áo giáp, rồi đến chuồng ngựa, nơi chàng chọn những con ngựa dòng máu thượng hạng và những con khác. Khi ba ngày đã định kết thúc, quân đội kéo ra ngoại ô thành Baghdad;[FN#157] và vua Omar đi ra để từ biệt con trai mình, người hôn đất trước mặt ngài và nhận từ nhà vua bảy gói tiền.[FN#158] Rồi ngài quay sang Dandan và phó thác cho ông chăm nom quân đội của con trai mình; tể tướng hôn đất trước mặt ngài và đáp, “Thần nghe và tuân lệnh”; sau cùng ngài dặn Sharrkan rằng chàng phải hỏi ý tể tướng trong mọi dịp, điều chàng hứa sẽ làm. Sau đó, nhà vua trở về thành, còn Sharrkan truyền các sĩ quan điểm quân theo trận thế. Vậy họ điểm quân, và số họ là mười nghìn kỵ binh, ngoài bộ binh và những kẻ theo trại. Rồi họ chất hành lý lên thú vật, trống trận nổi lên, kèn đồng réo vang, cờ đuôi nheo và đại kỳ được mở tung, trong khi Sharrkan lên ngựa, với tể tướng Dandan bên cạnh, cờ hiệu phấp phới trên đầu họ. Vậy đạo quân lên đường và không ngừng đi, với các đại sứ đi trước, cho tới khi ngày tàn và đêm gần tới, khi họ hạ trại nghỉ đêm. Và ngay khi Allah khiến buổi sớm thành Ngày Mai, họ lên ngựa và vội đi tiếp, do các Đại sứ dẫn đường, trong khoảng hai mươi ngày; đến đêm thứ hai mươi mốt, họ tới một Wady đẹp đẽ và rộng rãi, cây cối cùng bụi rậm mọc tốt. Tại đây Sharrkan lệnh cho họ xuống ngựa và truyền dừng lại ba ngày, vậy họ xuống ngựa và dựng lều, trải trại của mình khắp các sườn phải và trái của thung lũng rộng lớn, trong khi tể tướng Dandan và các Đại sứ của vua Afridun dựng lều dưới đáy Wady.[FN#159] Còn về Sharrkan, chàng nán lại phía sau họ một lúc cho tới khi tất cả đã xuống ngựa và tản ra trên các sườn thung lũng; rồi chàng buông lỏng dây cương tuấn mã, có ý muốn thám xét Wady và tự mình canh gác, vì lời dặn của cha chàng và bởi sự thật rằng họ đang ở biên giới xứ Græcia, trong đất địch. Vậy chàng một mình cưỡi ra sau khi lệnh cho các nô lệ vũ trang và đội cận vệ của mình đóng trại gần tể tướng Dandan, rồi chàng đi dọc sườn thung lũng cho tới khi một phần tư đêm đã qua, khi chàng thấy mệt và cơn buồn ngủ chế ngự chàng, đến nỗi chàng không còn thúc ngựa bằng gót được nữa. Bấy giờ chàng vốn quen nghỉ ngơi trên lưng ngựa; nên khi cơn ngủ lấn át, chàng ngủ, còn chiến mã không ngừng đưa chàng đi cho tới khi nửa đêm đã trôi qua và đi vào một trong những bụi cây[FN#160] rậm rạp; nhưng Sharrkan không tỉnh cho tới khi ngựa chàng vấp trên nền đất đầy cây. Bấy giờ chàng giật mình khỏi giấc ngủ và thấy mình ở giữa cây cối; mặt trăng đã lên và chiếu sáng rực rỡ trên hai chân trời Đông và Tây. Chàng hoảng hốt khi thấy mình đơn độc nơi này và nói lời chưa từng làm người nói ra phải hổ thẹn, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại!” Nhưng khi chàng tiếp tục cưỡi đi, trong nỗi sợ thú dữ, thì kìa, vầng trăng rải ánh sáng vui tươi lên một đồng cỏ như thể đó là một trong những đồng cỏ của Thiên Đàng; và chàng nghe những giọng nói êm tai cùng tiếng trò chuyện, cười đùa lớn làm say đắm giác quan con người. Vậy vua Sharrkan xuống ngựa, buộc chiến mã vào một cây, rồi đi một quãng ngắn cho tới khi đến một dòng suối và nghe một phụ nữ nói bằng tiếng Ả Rập, “Nay nhân sự thật của Đấng Messiah, các ngươi làm thế này chẳng hay đâu! Nhưng kẻ nào thốt một lời, ta sẽ quật nàng xuống và trói nàng bằng chính dây lưng của nàng[FN#161]!” Chàng cứ bước theo hướng âm thanh, và khi tới bờ bên kia, chàng nhìn và kìa, một dòng suối đang phun trào và chảy xiết, linh dương tự do nhảy nhót rong chơi, bò rừng di chuyển giữa đồng cỏ, chim chóc bày tỏ niềm vui và hân hoan bằng những thứ tiếng khác nhau của chúng, còn nơi ấy viền đầy mọi loại hoa và cỏ xanh, đúng như một thi nhân đã tả trong những đôi câu này,
“Đất đẹp nhất khi nụ hoa nở rộ, * Khi dòng nước trong chảy qua đồng bằng và rừng cây:
Không công trình nào ngoài của Người, Đấng Toàn Đại, Đấng Toàn Vinh, * Đấng Ban mọi ân tặng, Đấng Ban mọi điều lành!”
Và khi Sharrkan ngắm nhìn nơi ấy, chàng thấy trong đó một Tu viện Thiên Chúa giáo, trong vòng tường của nó có một lâu đài vươn cao lên trời, bắt lấy ánh trăng.[FN#162] Giữa tu viện có một dòng suối chảy qua, nước trôi giữa các khu vườn; và trên bờ ngồi người phụ nữ có giọng chàng đã nghe, trong khi trước mặt nàng đứng mười tỳ nữ như những vầng trăng, mặc đủ loại xiêm y và trang sức khiến người nhìn choáng váng và lóa mắt, những trinh nữ ngực cao, như thi nhân đã nói về họ trong những đôi câu này,
“Đồng cỏ rực sáng bởi những gì trên đó * Là những thiếu nữ vui tươi dịu dàng:
Những nàng gái mảnh mai xinh đẹp tụ thành đàn * Làm vẻ đẹp và duyên dáng của nó tăng gấp đôi:
Trinh nữ với dáng đi uyển chuyển như bơi * Sẵn sàng bằng mắt và môi giăng bẫy;
Và như dây nho tua cuốn, họ buông xõa * Sự phong phú dày dặn của mái tóc:
Bắn những mũi lao và tên từ * Đôi mắt đẹp không gì sánh nổi;
Chế ngự và xuyên thấu * Mọi đối thủ ngỗ ngược.”
Sharrkan nhìn mười cô gái và thấy giữa họ có một phu nhân như vầng trăng lúc tròn đầy nhất, với tóc xoăn lọn và vầng trán trắng sáng, đôi mắt rộng kỳ diệu, đen và rực rỡ, những lọn tóc bên thái dương như đuôi bò cạp; và nàng hoàn hảo cả về bản chất lẫn phẩm chất, như thi nhân đã nói về nàng trong những đôi câu này,
“Nàng chiếu vào mắt ta bằng một cái nhìn kỳ diệu, * Và vóc dáng thẳng thon của nàng khiến ngọn giáo phải thẹn:
Nàng bừng hiện trước mắt ta với đôi má hồng đỏ, * Nơi mọi thứ vẻ đẹp đều cư ngụ:
Và những lọn tóc trên trán nàng tối sầm như đêm, * Từ đó ló ra bình minh của cơ hội hạnh phúc nhất.”
Rồi Sharrkan nghe nàng nói với các tỳ nữ, “Hãy tiến lên, để ta vật với các ngươi và quật các ngươi xuống đất, trước khi trăng lặn và bình minh rạng!” Vậy từng người một tiến đến với nàng, và nàng lập tức hạ họ xuống đất, trói họ bằng dây lưng của chính họ, và không ngừng vật rồi ném họ cho tới khi nàng đã quật ngã hết thảy. Rồi một bà già đứng trước mặt nàng quay sang nàng, và mụ già nói như đang giận dữ, “Ôi con đĩ kia, ngươi khoe khoang vì quật ngã những cô gái này sao? Kìa, ta là một bà già, vậy mà ta đã ném họ bốn mươi lần! Vậy ngươi có gì để tự phụ? Nhưng nếu ngươi có sức vật với ta, hãy đứng lên để ta nắm lấy ngươi và đặt đầu ngươi vào giữa hai gót chân ngươi!” Thiếu nữ mỉm cười trước lời mụ, nhưng trong lòng nàng đầy giận dữ, và nàng nhảy bật dậy, hỏi, “Ôi phu nhân Zat al-Dawahi,[FN#163] nhân sự thật của Đấng Messiah, bà sẽ thật sự vật với tôi, hay bà đùa với tôi?”; bà đáp, “Đúng vậy,”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi thiếu nữ hỏi Zat al-Dawahi, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, bà sẽ vật với tôi hay bà chỉ đùa?”, và bà đáp, “Đúng vậy, ta sẽ thật sự vật với ngươi” (trong lúc Sharrkan đứng nhìn), thiếu nữ kêu, “Hãy đứng dậy chịu cú ngã nếu bà có gan làm vậy.” Khi bà già nghe lời ấy, bà nổi giận quá đỗi, lông trên thân dựng đứng như gai của một con nhím đang bực bội.[FN#164] Rồi bà bật dậy, trong khi thiếu nữ đứng lên đối diện bà, và nói, “Nay nhân sự thật của Đấng Messiah, ta sẽ không vật với ngươi trừ khi ta trần truồng, đồ đĩ cái!”[FN#165] Vậy bà cởi quần váy, thọc tay dưới áo quần và xé chúng khỏi thân; rồi xoắn một khăn lụa thành hình dây thừng, quấn quanh eo và trở nên như một Ifritah đầu ghẻ hay một con rắn đốm. Nói rồi bà nghiêng mình về phía thiếu nữ và bảo, “Ngươi cũng làm như ta đi.” Suốt lúc ấy, Sharrkan nhìn cả hai, cười vì dáng vẻ ghê tởm của mụ già. Vậy thiếu nữ thong thả đứng lên và, lấy một dải thắt lưng bằng vải Yamani, quấn hai vòng quanh eo, rồi vén quần lên, để lộ hai bắp chân bằng thạch cao trắng nâng một gò pha lê, mịn màng và tròn trịa, cùng một vùng bụng tỏa xạ hương từ những lúm nhỏ, như thể một luống hải quỳ của Nu'uman; và đôi ngực như hai quả lựu. Rồi bà già nghiêng mình về phía nàng, và cả hai nắm lấy nhau, trong khi Sharrkan ngẩng đầu lên Trời, cầu Allah cho người đẹp đánh bại mụ già. Chẳng bao lâu thiếu nữ luồn được xuống dưới bà già; và, tay trái nắm lấy khăn thắt eo của bà, tay phải vòng quanh cổ bà, nàng nâng bà khỏi mặt đất bằng cả hai tay; tức thì bà già cố vùng thoát, và trong lúc ấy ngã ngửa chổng vó, hai chân giơ cao trong không khí, còn bụi lông rậm giữa hai chân hiện rõ dưới ánh trăng; hơn nữa bà phóng ra hai tiếng trung tiện lớn[FN#166], một tiếng thổi tung bụi khỏi mặt đất, tiếng kia bốc hơi lên tận cổng Trời. Sharrkan cười đến ngã ngửa ra đất. Rồi chàng đứng dậy, tuốt gươm, nhìn phải nhìn trái, nhưng chẳng thấy ai ngoài bà già đang nằm xoài trên lưng, và tự nhủ, “Kẻ đặt tên ngươi là Phu nhân Tai Ương quả không nói dối! Quả thật ngươi đã biết sức nàng qua cách nàng xử các cô gái kia.” Vậy chàng tiến lại gần họ để nghe những gì sẽ diễn ra giữa họ. Bấy giờ thiếu nữ đi đến chỗ bà già và, ném một tấm khăn choàng lụa mỏng lên thân thể trần truồng của bà, giúp bà mặc lại áo quần rồi xin lỗi, nói, “Ôi phu nhân Zat al-Dawahi, tôi chỉ định quật ngã bà chứ không định để mọi chuyện thành thế này, nhưng bà cố vặn mình khỏi tay tôi; vậy xin ngợi ca Allah vì vẫn bình an!” Bà không đáp lời nàng, mà đứng dậy trong nỗi hổ thẹn và đi khỏi cho tới khi khuất bóng, để lại các tỳ nữ nằm sấp và bị trói, còn thiếu nữ xinh đẹp đứng giữa họ. Sharrkan tự nhủ, “Mọi vận may đều có nguyên do của nó. Giấc ngủ đã không phủ xuống ta, chiến mã đã không đưa ta đến đây, trừ vì vận lành của ta; bởi chắc chắn thiếu nữ này cùng những gì thuộc về nàng sẽ thành chiến lợi phẩm của ta.” Vậy chàng đi về phía chiến mã, lên ngựa và thúc gót[FN#167] vào nó; con ngựa phóng đi như mũi tên rời khỏi cung, trong tay chàng vẫn nắm thanh gươm trần khỏi vỏ, vung nó lên trong khi hô vang tiếng thét chiến trận, “Allah Toàn năng!”[FN#168] Khi thiếu nữ thấy chàng, nàng bật dậy và, đứng vững trên bờ dòng suối rộng sáu ells, tức những cubit thông thường, nàng nhảy một bước và đáp hẳn sang bờ bên kia,[FN#169] nơi nàng quay lại và kêu lớn, “Ngươi là ai, hỡi kẻ kia, mà xông vào chốn riêng tư và cuộc vui của chúng ta, lại còn cầm kiếm trong tay như thể đang xung phong vào một đạo quân? Ngươi từ đâu đến và đi về đâu? Hãy nói thật, vì sự thật sẽ giúp ích cho ngươi, và chớ nói dối, vì dối trá sinh từ giống nòi hèn hạ. Chắc đêm nay ngươi đã lạc đường, nên tình cờ đến nơi này, nơi mà thoát khỏi đây hẳn là ân huệ lớn nhất; bởi giờ ngươi đang ở giữa đồng trống, và nếu chúng ta chỉ hô lên một tiếng, bốn nghìn hiệp sĩ sẽ đến cứu chúng ta.[FN#170] Vậy hãy nói cho ta biết ngươi muốn gì; nếu ngươi chỉ muốn chúng ta chỉ cho đúng đường, chúng ta sẽ làm vậy.” Khi Sharrkan nghe lời nàng, chàng đáp, “Ta là một kẻ xa lạ trong những người Hồi giáo, đêm nay một mình ra đi tìm chiến lợi phẩm; và ánh trăng này không thể cho ta thấy chiến lợi phẩm nào đẹp hơn mười thiếu nữ kia; vậy ta sẽ bắt họ và cùng họ trở về với đồng đội của ta.” Nàng nói, “Ta muốn ngươi biết rằng chiến lợi phẩm thì ngươi chưa chạm tới; còn các tỳ nữ kia, nhân danh Allah, họ sẽ không bao giờ là vật cướp của ngươi. Chẳng phải ta đã nói với ngươi rằng nói dối là hèn hạ đê tiện sao?” Chàng nói, “Người khôn là người biết lấy lời răn từ kẻ khác.” Nàng bèn nói, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, nếu ta không sợ cái chết của ngươi sẽ nằm trên tay ta, ta đã hô một tiếng khiến đồng cỏ này đầy ngựa chiến và người hùng cho ngươi; nhưng ta thương hại kẻ xa lạ. Vậy nếu ngươi tìm chiến lợi phẩm, ta yêu cầu ngươi xuống khỏi ngựa và thề với ta, nhân đức tin của ngươi, rằng ngươi sẽ không tiến đánh ta bằng bất cứ thứ gì giống như vũ khí trong tay, rồi ta và ngươi sẽ vật với nhau. Nếu ngươi quật ngã ta, hãy đặt ta lên ngựa ngươi và lấy tất cả chúng ta làm chiến lợi phẩm; nhưng nếu ta quật ngã ngươi, ngươi sẽ nằm dưới quyền ta. Hãy thề điều này với ta, vì ta sợ sự phản trắc của ngươi: quả thật đã thành câu tục ngữ, ‘Nơi Bội Tín là bản tính bẩm sinh thì Niềm Tin là bạn đời yếu ớt.’ Nay nếu ngươi chịu thề, ta sẽ trở lại và đến gần ngươi để đấu với ngươi.” Sharrkan đáp (và quả thật chàng thèm muốn bắt nàng, tự nhủ trong lòng, “Quả thật nàng không biết ta là vô địch trong hàng vô địch”); “Hãy bắt ta thề bằng lời thề nào nàng muốn và bằng điều gì nàng cho là ràng buộc nhất, ta sẽ không tiếp cận nàng với bất cứ thứ gì cho tới khi nàng chuẩn bị xong và nói, ‘Hãy lại gần để ta vật với ngươi.’ Nếu nàng quật ngã ta, ta có tiền để chuộc mình; còn nếu ta quật ngã nàng, ấy sẽ là chiến lợi phẩm, và là chiến lợi phẩm đủ cho ta!” Thiếu nữ đáp, “Ta bằng lòng như vậy!” và Sharrkan kinh ngạc trước lời nàng, nói, “Và nhân sự thật của Sứ đồ (cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!) ta cũng bằng lòng về phần kia!” Rồi nàng nói, “Hãy thề với ta nhân Đấng đặt linh hồn trong thân xác và ban luật để cai trị loài người ngay chính, rằng ngươi sẽ không dùng bất cứ bạo lực nào với ta ngoài cách vật; nếu không, mong ngươi chết ngoài vòng Al-Islam.” Sharrkan đáp, “Nhân danh Allah! nếu một Kazi bắt ta thề, dẫu ông ta là Kazi của các Kazi,[FN#171] cũng sẽ không đặt lên ta một lời thề như thế này!” Rồi chàng thề với nàng bằng tất cả những gì nàng nêu và buộc ngựa vào một cây; nhưng chàng chìm trong biển suy tưởng, tự nhủ, “Ngợi ca Đấng đã tạo hình nàng từ nước bẩn!”[FN#172] Rồi chàng thắt lưng và sửa soạn để vật, rồi nói với nàng, “Hãy băng qua suối đến chỗ ta”; nhưng nàng đáp, “Không phải ta phải sang chỗ ngươi: nếu ngươi muốn, hãy qua đây với ta.” Chàng nói, “Ta không thể làm vậy,” nàng đáp, “Hỡi chàng trai, ta sẽ sang chỗ ngươi.” Vậy nàng vén váy áo lên và nhảy qua, đáp xuống bờ bên kia dòng suối cạnh chàng; tức thì chàng đến gần nàng, cúi người về phía trước và vỗ hai bàn tay.[FN#173] Nhưng chàng bị sắc đẹp và vẻ yêu kiều của nàng làm cho bối rối; bởi chàng thấy một hình dung mà Bàn Tay Quyền Năng đã nhuộm bằng lá thuốc của loài Jánn, được Bàn Tay Ân Huệ nuôi dưỡng và được những làn Zephyr của vận lành quạt mát, và khi sinh ra được một sao tốt lành chào đón. Rồi nàng gọi lớn với chàng, “Hỡi người Hồi giáo, hãy tiến lên và để chúng ta vật trước khi sáng rạng,” rồi vén tay áo khỏi một cẳng tay như sữa đông tươi, khiến cả nơi ấy sáng lên vì vẻ trắng ngần; và Sharrkan bị lóa mắt vì nó. Rồi chàng cúi tới và vỗ hai bàn tay để thách đấu, nàng cũng làm như vậy, và chàng nắm lấy nàng, cả hai vật nhau, siết nhau, khóa tay và cánh tay vào nhau. Chẳng bao lâu chàng chuyển tay đến vòng eo thon của nàng, khi đầu ngón tay chàng lún vào những nếp mềm nơi thân giữa của nàng, gây nên sự rã rời, và chàng run lên như cây sậy Ba Tư trong cơn gió gào. Vậy nàng nhấc chàng lên và, ném chàng xuống đất, ngồi lên ngực chàng bằng hông và đôi má sau như những gò cát, bởi linh hồn chàng đã mất quyền làm chủ giác quan. Rồi nàng hỏi chàng, “Hỡi người Hồi giáo! việc giết Nazarene là hợp pháp đối với các ngươi; vậy ngươi nói gì về việc chính ngươi bị giết?” chàng đáp, “Thưa phu nhân, lời nàng về việc giết ta chẳng gì khác ngoài điều bất hợp pháp; bởi Đấng Tiên tri Mohammed của chúng ta (cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!) đã cấm giết phụ nữ và trẻ em, người già và tu sĩ!” Nàng đáp, “Vì điều ấy đã được mặc khải cho Đấng Tiên tri của các ngươi, chúng ta phải đáp lại bằng lòng nhân từ tương đương; vậy hãy đứng dậy. Ta ban mạng sống cho ngươi, vì sự hào hiệp không bao giờ mất đi nơi người hào hiệp.” Rồi nàng rời khỏi ngực chàng, chàng đứng dậy và phủi bụi khỏi đầu mình để chống lại những chủ nhân của chiếc xương sườn cong, tức đàn bà; và nàng nói với chàng, “Chớ hổ thẹn; nhưng quả thật kẻ vào đất Roum tìm chiến lợi phẩm, và đến trợ giúp các vua chống lại các vua, sao lại không có đủ sức để tự vệ trước một kẻ được làm ra từ chiếc xương sườn cong?” Chàng đáp, “Không phải vì ta thiếu sức; nàng cũng không quật ngã ta bằng sức của nàng; chính vẻ yêu kiều của nàng đã đánh ngã ta; vậy nếu nàng ban cho ta một trận nữa, ấy sẽ là lòng tốt của nàng.” Nàng cười và nói, “Ta cho ngươi điều ngươi xin: nhưng các tỳ nữ này đã bị trói lâu rồi, tay và sườn họ đều mỏi, và chỉ phải lẽ là ta cởi trói cho họ, vì có lẽ trận vật kế tiếp này sẽ dài.” Rồi nàng đến chỗ các nữ nô và, cởi trói cho họ, nói với họ bằng tiếng Hy Lạp, “Các ngươi hãy đến một nơi an toàn, cho tới khi ta phá tan dục vọng và thèm muốn của tên Hồi giáo này đối với các ngươi.” Vậy họ đi khỏi, trong khi Sharrkan cứ nhìn họ, còn họ cứ quay lại nhìn hai người. Rồi mỗi bên tiến lại gần đối thủ, và chàng ép ngực mình vào ngực nàng, nhưng khi cảm thấy eo chạm eo, sức mạnh của chàng rời bỏ chàng; nàng nhận ra điều ấy, bèn nhấc chàng lên bằng hai tay nhanh hơn cả tia chớp làm mù mắt, và ném chàng xuống đất. Chàng ngã ngửa ra sau,[FN#174] và nàng nói với chàng, “Đứng lên: ta ban mạng sống cho ngươi lần thứ hai. Lần đầu ta tha ngươi vì Đấng Tiên tri của ngươi, bởi Người cấm giết phụ nữ; còn lần thứ hai này ta làm vì sự yếu đuối của ngươi, tuổi xanh của ngươi và thân phận khách lạ của ngươi; nhưng ta dặn ngươi, nếu trong đạo quân Hồi giáo do Omar bin al-Nu'uman gửi đến cứu viện vua Constantinople có người nào mạnh hơn ngươi, hãy sai hắn đến đây và kể cho hắn nghe về ta: bởi trong vật có những thế chuyển và thế quật, những miếng bắt và miếng khóa, như giả đòn hay đánh lừa, chụp nhanh hay nắm đầu, ôm siết, bắt chân, cắn đùi,[FN#175] húc vai và khóa chân.” Sharrkan nói, “Nhân danh Allah, thưa phu nhân,” (và quả thật chàng hết sức bực tức với nàng), “nếu ta là bậc thầy al-Safdí, bậc thầy Mohammed Kimál hay Ibn al-Saddí,[FN#176] như họ thời sung sức nhất, ta cũng chẳng bận ghi nhớ những thế miếng nàng nhắc đến; bởi thưa phu nhân, nhân danh Allah, nàng không hạ ta bằng sức mạnh, mà bằng sự mê hoặc của phần thân sau nàng; bởi người Mesopotamia chúng ta yêu đùi đầy đặn đến mức lý trí lẫn dự liệu đều chẳng còn nơi ta. Nhưng nay, nếu nàng muốn, nàng hãy thử với ta một keo ngã thứ ba khi trí ta còn quanh mình, và trận cuối này được luật chơi cho phép, luật nói rằng thắng hai trong ba; hơn nữa ta đã lấy lại sự tỉnh táo của mình.” Khi nghe lời chàng, nàng nói với chàng, “Ngươi chưa no bụng với việc vật này sao, hỡi kẻ bại trận? Tuy vậy cứ tới, nếu ngươi muốn; nhưng hãy biết rằng đây phải là vòng cuối cùng.” Rồi nàng cúi người thách đấu, và Sharrkan cũng làm như vậy, bắt đầu thật sự nghiêm túc và hết sức thận trọng về cú quật: vậy hai người vật nhau một lúc, và thiếu nữ thấy nơi chàng một sức mạnh mà trước đó nàng chưa nhận ra, bèn nói với chàng, “Hỡi người Hồi giáo, giờ ngươi đang dốc hết sức.” Chàng đáp, “Phải, nàng biết rằng ta chỉ còn vòng này, sau đó mỗi người chúng ta sẽ đi một đường khác.” Nàng cười và chàng cũng cười;[FN#177] rồi nàng vươn quá tay đến đùi chàng và bất ngờ nắm chặt lấy nó, khiến chàng chào đất và ngã ngửa hoàn toàn. Nàng cười chàng và nói, “Ngươi là kẻ ăn cám sao? Ngươi giống mũ trùm đầu của người Badawi, chạm vào là rơi, hoặc như Cha của Gió[FN#178] ngã xuống trước một luồng hơi. Chao ôi cho ngươi, hỡi vật đáng thương!” rồi nói thêm, “Hãy quay về đạo quân Hồi giáo và sai kẻ khác ngoài ngươi đến với chúng ta, vì ngươi thiếu gân sức; và hãy rao cho chúng ta, giữa người Ả Rập và Ba Tư, người Thổ và Daylamite,[FN#179] ai có sức mạnh trong mình thì hãy đến với chúng ta.” Rồi nàng nhảy một bước và đáp xuống bờ bên kia dòng suối, nói với Sharrkan, vừa cười, “Chia tay ngươi thật là đau buồn đối với ta, thưa chúa công; nhưng hãy về với bạn bè của ngươi trước bình minh, kẻo các Hiệp sĩ bắt gặp ngươi và nhặt ngươi lên trên mũi giáo của họ. Ngươi không đủ sức tự vệ trước một phụ nữ, vậy làm sao ngươi có thể giữ vững mình giữa những người hùng và Hiệp sĩ?” Sharrkan bối rối và gọi nàng (khi nàng quay khỏi chàng, hướng về tu viện), “Thưa phu nhân, nàng sẽ bỏ đi và để lại kẻ xa lạ khốn khổ, nô lệ tình yêu tan nát cõi lòng này sao?” Vậy nàng quay lại với chàng, cười và nói, “Ngươi muốn gì? Ta sẽ ban cho ngươi lời cầu xin.” Chàng đáp, “Ta đã đặt chân lên xứ sở nàng và nếm vị ngọt của lòng nhã nhặn nơi nàng, lẽ nào ta lại trở về mà chưa ăn thức ăn của nàng và nếm lòng hiếu khách của nàng; ta, kẻ đã trở thành một trong các tôi tớ của nàng!” Nàng đáp, “Chỉ kẻ hèn mới ngăn lòng tử tế, hãy vinh danh chúng ta nhân danh Allah, việc ấy đặt trên đầu và mắt ta! Hãy lên ngựa và cưỡi dọc bờ suối đối diện ta, vì giờ ngươi là khách của ta.” Nghe vậy Sharrkan vui mừng và vội trở lại ngựa, lên yên rồi cho nó đi ngang với nàng, còn nàng tiếp tục đi cho tới khi họ đến một cầu kéo[FN#180] làm bằng dầm bạch dương trắng, treo bằng ròng rọc và xích thép, được cố định bằng móc và khóa. Khi Sharrkan nhìn, chàng thấy mười tỳ nữ mà nàng đã quật ngã trong các keo vật đang đợi nàng trên cầu; và khi nàng đến gần họ, nàng nói với một người bằng tiếng Hy Lạp, “Hãy đứng dậy, cầm dây cương ngựa của chàng và dẫn chàng qua vào tu viện.” Vậy nàng ấy đến chỗ Sharrkan và dẫn chàng qua, khiến chàng hết sức bối rối, bất an trước những gì mình thấy, và tự nhủ, “Ôi ước gì tể tướng Dandan ở đây cùng ta để mắt ông thấy những dung nhan đẹp nhất này.” Rồi chàng quay sang thiếu nữ và nói với nàng, “Ôi kỳ quan của vẻ yêu kiều, nay ta có hai điều đòi hỏi nơi nàng; thứ nhất là đòi hỏi của tình bằng hữu tốt đẹp, thứ hai là vì nàng đã đưa ta về nhà nàng và ban cho ta lòng hiếu khách. Giờ ta ở dưới quyền nàng và sự dẫn dắt của nàng; vậy hãy làm cho ta một ân huệ cuối cùng bằng cách theo ta đến các xứ của Al-Islam; nơi nàng sẽ nhìn thấy biết bao chiến binh tim sư tử, và nàng sẽ biết ta là ai.” Khi nghe điều này, nàng nổi giận và nói với chàng, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, ngươi đã chứng tỏ với ta rằng ngươi là người trí sắc bén; nhưng giờ ta thấy điều xấu xa nào có trong tim ngươi, và ngươi có thể cho phép mình nói một lời chứng tỏ ý định phản bội của ngươi. Làm sao ta có thể làm như ngươi nói, khi ta biết rằng nếu ta đến với vị vua kia của các ngươi, Omar bin al-Nu'uman, ta sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi ông ta? Bởi thật sự ông ta chẳng có ai giống ta hoặc sau tường thành, hoặc trong sảnh cung điện của ông ta, dù ông ta là Chúa của Baghdad và Khorasan, kẻ đã dựng cho mình mười hai tòa đình, số lượng như các tháng trong năm, và trong mỗi tòa có tỳ thiếp theo số ngày; nếu ta đến với ông ta, ông ta sẽ chẳng e ngại ta đâu, vì dân các ngươi tin rằng ta là hợp pháp để chiếm hữu và giữ lấy, như trong kinh sách các ngươi nói, ‘Hoặc những phụ nữ mà tay phải các ngươi sở hữu làm nô lệ.’[FN#181] Vậy sao ngươi có thể nói với ta như thế? Còn lời ngươi nói, ‘Nàng sẽ nhìn thấy những kẻ dũng mãnh của người Hồi giáo,’ nhân sự thật của Đấng Messiah, ngươi nói điều không thật, vì ta đã thấy đạo quân của các ngươi khi nó đến đất chúng ta hai ngày trước; và ta không thấy quy chế của các ngươi là quy chế của các vua, mà ta chỉ thấy một đám hỗn tạp bộ tộc tụ lại. Còn lời ngươi nói, ‘Nàng sẽ biết ta là ai,’ ta đối xử tử tế với ngươi không phải vì phẩm vị của ngươi mà vì lòng tự hào nơi chính ta; và kẻ như ngươi không nên nói như thế với kẻ như ta, dẫu ngươi là Sharrkan, con trai Omar bin al-Nu'uman, cái tên dũng mãnh nhất những ngày này!” Chàng hỏi, “Nàng biết Sharrkan sao?” nàng đáp, “Có! và ta biết về việc hắn đến với một đạo quân gồm mười nghìn kỵ binh; cũng biết rằng hắn được cha sai đi cùng lực lượng này để giành ưu thế cho vua Constantinople.” Sharrkan nói, “Thưa phu nhân, ta khẩn cầu nàng nhân tôn giáo của nàng, hãy nói cho ta biết nguyên nhân của tất cả chuyện này, để sự thật hiện rõ với ta, tách khỏi điều không thật, và lỗi nằm ở ai.” Nàng đáp, “Nay nhân đức hạnh của đức tin ngươi, nếu ta không sợ tin tức về ta truyền ra rằng ta là một trong những con gái của Roum, ta đã liều mình xông ra một mình chống lại mười nghìn kỵ binh và giết thủ lĩnh của họ, tể tướng Dandan, cũng như đánh bại vô địch của họ là Sharrkan.[FN#182] Cũng chẳng có sự hổ thẹn nào rơi xuống ta vì việc ấy, bởi ta đã đọc sách và học các quy tắc giáo dưỡng tốt trong ngôn ngữ của người Ả Rập. Nhưng ta không cần khoe khoang sức mạnh của mình với ngươi, càng bởi chính ngươi đã thử trên bản thân mình kỹ năng và sức mạnh của ta trong môn vật; và ngươi đã biết sự vượt trội của ta so với những phụ nữ khác. Quả thật, nếu chính Sharrkan ở đây đêm nay và người ta bảo hắn, ‘Hãy vượt dòng suối này,’ hắn cũng chẳng làm được; và ta chỉ khao khát, thèm mong rằng Đấng Messiah sẽ ném hắn vào tay ta ngay trong tu viện này, để ta có thể bước ra gặp hắn trong y phục nam nhân, kéo hắn khỏi yên ngựa, biến hắn thành tù binh của ta và đặt hắn vào xiềng sắt.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi tám đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi thiếu nữ Nazarene nói với Sharrkan (còn chàng thì lắng nghe với đủ nôn nóng), “Quả thật nếu Sharrkan rơi vào tay ta, ta sẽ ra gặp hắn trong y phục nam nhân, kéo hắn khỏi yên ngựa, biến hắn thành tù binh của ta và đặt hắn vào xiềng sắt,” kiêu hãnh, đam mê và lòng ghen tị hiệp sĩ chiếm lấy chàng, chàng muốn lộ ra và tuyên bố mình là ai rồi ra tay mạnh; nhưng vẻ yêu kiều của nàng kìm chàng lại, và chàng bắt đầu ngâm,
“Nếu Người Đẹp có phạm một lỗi, * Duyên sắc nàng sẽ lay động nghìn người biện hộ.”
Vậy nàng đi lên, Sharrkan theo sau; và khi chàng thấy lưng thiếu nữ cùng đôi má sau va vào nhau như những con sóng lăn trong biển cuộn, chàng ứng tác những đôi câu này:—
“Vì lỗi của nàng, vầng trán ấy là người biện hộ, * Và mọi trái tim phải tin lời biện hộ đẹp đẽ của nó:
Khi ta thấy nó, ta kêu, “Đêm nay * Trăng hiện ra lúc tròn đầy nhất;
Dẫu Ifrit riêng của Balkis[FN#183] thử một keo, * Bất chấp sức mạnh hắn, nàng cũng sẽ quật hắn ngã.”
Hai người đi tiếp cho tới khi tới một cổng có vòm đá cẩm thạch vươn trên. Nàng mở cổng ấy và đưa Sharrkan vào một tiền sảnh dài, khum mái bằng mười vòm nối liền nhau, từ mỗi vòm treo một đèn pha lê lấp lánh như tia lửa. Các tỳ nữ đón nàng ở cuối xa, mang những cây nến sáp thơm tốt lành, trên đầu đeo dải vàng nạm đủ loại ngọc đặt trong ổ,[FN#184] và đi trước nàng (Sharrkan vẫn theo sau), cho tới khi họ đến tu viện bên trong. Ở đó người Hồi giáo thấy giường dài và trường kỷ xếp quanh khắp nơi, chiếc này đối diện chiếc kia, tất cả đều phủ trên bằng rèm thêu hoa vàng. Sàn tu viện lát đủ loại cẩm thạch nhiều màu và đồ khảm, giữa đó có một bồn nước chứa hai mươi bốn vòi phun bằng vàng, từ đó nước chảy như bạc nóng chảy; còn ở đầu trên có một ngai trải lụa chỉ hợp với các vua. Rồi thiếu nữ nói, “Xin lên ngồi ngai này, thưa chúa công.” Vậy chàng bước lên và ngồi xuống, còn nàng lui đi, vắng mặt một thời gian. Sharrkan hỏi một trong các nữ hầu về nàng, người ấy đáp, “Nàng đã đến phòng ngủ của mình; nhưng chúng tôi sẽ phục vụ ngài đúng như nàng đã truyền.” Vậy họ đặt trước mặt chàng những món ăn thuộc các loại hiếm quý, và chàng ăn đủ no, rồi họ đem đến cho chàng một chậu vàng và bình bạc, chàng rửa tay. Sau đó ý nghĩ của chàng quay lại với đạo quân, không biết điều gì đã xảy ra với nó trong lúc chàng vắng mặt, đồng thời nhớ lại việc mình đã quên lời căn dặn của cha; vì vậy chàng lo lắng về tình cảnh của mình, hối hận vì điều mình đã làm cho tới khi bình minh rạng và ngày xuất hiện; bấy giờ chàng than thở, thở dài, chìm trong biển buồn và ngâm,
“Ta không mất sự thận trọng, nhưng quả thật * Ở đây ta bối rối, kế nào là kế của ta?
Giá có ai giúp ta trong bệnh tình yêu, * Bằng sức và mưu của mình ta hẳn được giải thoát:
Nhưng ôi! tim ta đã mất và đam mê làm ta tan nát: * Chẳng ai ngoài Allah để ta gửi gắm nhu cầu!”
Khi chàng dứt lời thơ, kìa, đến với chàng là một cảnh tượng hiếm hoi và đẹp đẽ, hơn hai mươi thiếu nữ như trăng lưỡi liềm vây quanh thiếu nữ kia, người tỏa sáng giữa họ như trăng tròn giữa các chòm sao canh giữ và bao quanh nàng. Nàng mặc gấm vóc xứng với các vua; đôi ngực nàng như hai quả lựu song sinh, một thắt lưng dệt nạm đủ loại châu ngọc ôm chặt eo nàng, phần dưới mở rộng thành đôi hông nhô nở; và đôi má sau của nàng nổi lên như một gò pha lê[FN#185] nâng đỡ một thân trụ bạc. Khi Sharrkan nhìn nàng, trí óc chàng suýt bay khỏi chàng vì khoái lạc; và chàng quên cả quân đội lẫn tể tướng khi ngắm đầu nàng đẹp đẽ được trang điểm và điểm tô bằng một lưới ngọc trai nổi bật bởi nhiều loại châu báu. Các tỳ nữ bên phải và bên trái nâng tà áo nàng, khi nàng bước đi với dáng đi thanh nhã duyên dáng trong tất cả niềm kiêu hãnh của dung mạo xinh tươi. Chàng bật đứng dậy khi thấy sắc đẹp và vẻ yêu kiều như vậy, rồi kêu lớn, “Hãy coi chừng và coi chừng chiếc thắt lưng hiếm đẹp kia!” và bật ra những đôi câu này,
“Với phần sau nặng nề, đôi ngực cao thanh tú, * Và hình dung mềm mại đung đưa theo dáng đi như bơi
Nàng khéo giấu nỗi nhớ yêu trong ngực; * Nhưng ta chẳng bao giờ giấu được lệnh cấm và tai ương của nó:
Trong khi đoàn người theo sau đi trước bước nàng,[FN#186] * Như ngọc trai khi xâu thành chuỗi, khi lại tách rời.”
Nàng nhìn chàng một hồi lâu và quan sát chàng cho tới khi chắc chắn về chàng, rồi bước tới bên chàng và nói, “Quả thật nơi này được vinh dự và soi sáng bởi chàng, hỡi Sharrkan! Đêm của chàng ra sao, hỡi anh hùng, sau khi chúng ta đi khỏi và để chàng lại?” rồi nói thêm, “Quả thật nói dối là điều đê tiện và đáng hổ thẹn, nhất là ở các bậc đại vương! Và chàng là Thái tử Sharrkan, con trai và người thừa kế của vua Omar bin al-Nu'uman; vậy từ nay chớ giấu kín phẩm vị và tình trạng của mình, cũng đừng để ta nghe từ chàng điều gì ngoài sự thật; vì dối trá để lại căm ghét và khinh bỉ. Và vì chàng đã bị mũi tên Định Mệnh xuyên trúng, hãy nhận lấy sự thuận phục và bằng lòng chờ đợi.” Khi nghe lời nàng, chàng thấy mưu mẹo chẳng giúp ích gì cho mình, bèn thừa nhận sự thật, nói, “Ta là Sharrkan, con trai Omar bin al-Nu'uman, người bị vận mệnh làm khốn và ném vào nơi này; vậy nàng muốn làm gì với trường hợp của ta thì hãy làm!” Nàng cúi đầu xuống đất một hồi lâu, rồi quay sang chàng và nói, “Hãy vui lòng và để mắt chàng mát lành trong trẻo;[FN#187] vì chàng là khách trong lòng hiếu khách của ta, bánh và muối đã tạo nên ràng buộc giữa ta và chàng; bởi vậy chàng ở trong sự trông nom của ta và dưới sự bảo hộ của ta. Chớ sợ, vì nhân sự thật của Đấng Messiah, nếu tất cả trên đời tìm cách làm hại chàng, họ cũng sẽ chẳng chạm được tới chàng cho tới khi sự sống rời khỏi thân ta vì chàng: quả thật giờ đây chàng ở dưới sự bảo hộ của Đấng Messiah và của ta.” Nói rồi nàng ngồi xuống bên cạnh chàng và bắt đầu đùa vui với chàng, cho tới khi nỗi sợ của chàng lắng xuống và chàng biết rằng nếu nàng muốn giết chàng, nàng đã làm vậy trong đêm qua. Lát sau nàng nói bằng tiếng Hy Lạp với một trong các nữ nô, người ấy đi khỏi rồi nhanh chóng trở lại, mang một chiếc cốc lớn và một mâm thức ăn; nhưng Sharrkan kiêng không ăn và tự nhủ, “Có lẽ nàng đã bỏ gì đó vào thức ăn này.” Nàng biết điều đang trong ý nghĩ của chàng; nên quay sang chàng và nói, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, việc không phải như thế, cũng chẳng có gì trong món ăn này như điều chàng nghi ngờ! Nếu tâm trí ta đặt vào việc giết chàng, ta đã giết chàng từ trước rồi.” Rồi nàng bước đến mâm và ăn mỗi món một miếng; tức thì Sharrkan tiến lên và cũng ăn. Nàng hài lòng vì điều ấy và cả hai ăn đến no. Họ rửa tay, sau đó nàng đứng dậy, truyền một tỳ nữ đem hương liệu và các loài cỏ thơm, rượu đủ màu đủ loại cùng bộ đồ rượu với bình chén bằng vàng, bạc và pha lê. Nàng rót đầy chén đầu tiên và uống cạn trước khi mời chàng, như nàng đã làm với thức ăn: rồi nàng rót chén thứ hai và trao cho chàng. Chàng uống, và nàng nói với chàng, “Hỡi người Hồi giáo, hãy xem chàng ở đây trong mọi khuây khỏa và khoái lạc của đời!” Và nàng không ngừng uống và chuốc rượu cho chàng, cho tới khi chàng lìa bỏ trí khôn,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bốn mươi chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng thiếu nữ không ngừng uống và chuốc rượu cho Sharrkan cho tới khi chàng lìa bỏ trí khôn, vì rượu và vì cơn say tình yêu chàng mang dành cho nàng. Lát sau nàng nói với nữ nô, “Hỡi Marjanah[FN#188]! đem cho chúng ta vài nhạc cụ!” Tỳ nữ nói, “Nghe là vâng,” rồi đi ra, trở lại trong nháy mắt với một cây lute Damascus,[FN#189] một cây harp Ba Tư, một ống sáo Tartar và một đàn dulcimer Ai Cập. Thiếu nữ cầm lute và, sau khi chỉnh từng dây riêng biệt, bắt đầu hát dưới giọng nhẹ nhàng, mềm hơn cánh Zephyr và ngọt hơn suối Tasmin[FN#190], với trái tim an toàn và yên ổn khỏi mọi điều, những đôi câu sau,
“Cầu Allah gìn giữ đôi mắt ấy! Chúng đã đổ bao dòng máu! * Từ mí mắt ngươi, bao ánh nhìn như tên đã lao đi.
Ta yêu mọi người tình, những kẻ tỏ ra bền gan với người tình; * Hối tiếc tình yêu sinh ra và nuôi dưỡng trong đầu bướng bỉnh là sai:
Có lẽ con mắt bất hạnh vì ngươi chẳng biết ngủ là gì! * Trời giúp trái tim khốn khổ bị ngươi lầm lạc bằng sức mạnh!
Ngươi kết án ta chết, người là vua của ta, còn ta * Lấy mạng chuộc quan tòa muốn xử ta chết.”
Tức thì từng thiếu nữ một đứng dậy, cầm một nhạc cụ, chơi và ngâm những đôi câu bằng tiếng Roumi; rồi chủ nhân của họ cũng hát, và khi thấy Sharrkan ngây ngất, nàng hỏi chàng, “Hỡi người Hồi giáo, chàng có hiểu điều ta nói không?”; chàng đáp, “Không, cơn ngây ngất của ta đến từ vẻ đẹp nơi đầu ngón tay nàng.” Nàng cười và tiếp, “Nếu ta hát cho chàng bằng tiếng Ả Rập thì chàng sẽ làm gì?” Chàng nói, “Ta sẽ không còn làm chủ được giác quan mình nữa.” Rồi nàng cầm một nhạc cụ và, đổi làn điệu, bắt đầu hát những câu này,
“Vị myrrh của chia lìa đối với ta đã thế, * Vậy làm sao chịu nổi lô hội của kiên nhẫn?
Ta bị vây bởi ba điều khổ * Ly biệt, xa cách, tàn nhẫn!
Nàng xinh đẹp nhất ấy đã cướp tự do của ta, * Và chia lìa làm ta cay đắng khôn cùng.”
Khi nàng dứt lời thơ, nàng nhìn Sharrkan và thấy chàng đã mất khỏi cõi hiện hữu, nằm dài một lúc, sấp mình giữa các thiếu nữ.[FN#191] Rồi chàng hồi tỉnh và, nhớ lại các khúc hát, lại nghiêng mình về vui vẻ và hoan lạc; hai người trở lại với rượu và tiệc, tiếp tục đùa chơi, trêu ghẹo, tiêu khiển và khoái lạc cho tới khi ngày thôi soi sáng và đêm buông cánh xuống. Rồi thiếu nữ đi về phòng ngủ của mình, và khi Sharrkan hỏi về nàng, họ đáp, “Nàng đã về buồng ngủ”; chàng đáp, “Dưới sự che chở của Allah và sự gìn giữ tốt lành của Người!” Ngay khi trời sáng, một tỳ nữ đến với chàng và nói, “Chủ nhân của thiếp mời ngài đến gặp nàng.” Vậy chàng đứng dậy theo nàng, và khi chàng đến gần nơi ở của nàng, các thiếu nữ đón chào chàng bằng tiếng trống con gõ vang và những khúc ca chào mừng, rồi dẫn chàng qua một cánh cửa lớn bằng ngà nạm ngọc trai và châu báu. Từ đó họ đưa chàng vào một sảnh cao và rộng, ở đầu trên có một bục lớn trải đủ loại lụa, chung quanh là các cửa sổ mắt cáo mở ra nhìn xuống cây cối và suối nước. Quanh đại sảnh có các hình tượng chạm theo hình người, được chế tác theo cách khiến không khí đi qua chúng và làm chuyển động các nhạc cụ bên trong, đến nỗi người xem tưởng như chúng nói.[FN#192] Tại đây thiếu nữ ngồi, nhìn các hình tượng; nhưng khi thấy Sharrkan, nàng bật dậy và, cầm tay chàng, đặt chàng ngồi xuống bên cạnh mình, rồi hỏi chàng đã qua đêm thế nào. Chàng chúc phúc cho nàng, và hai người ngồi trò chuyện một lúc cho tới khi nàng hỏi chàng, “Chàng có biết gì về những người yêu và nô lệ của tình yêu không?”; chàng đáp, “Có! Ta biết đôi điều bằng thơ về việc ấy.” Nàng nói, “Hãy cho ta nghe,” vậy chàng bắt đầu trích đọc,
“Khoái lạc và sức khỏe, niềm vui tốt lành, khẩu vị tốt lành * Dành cho Azzah, người rộng lượng nhất với tên tuổi và danh tiếng chúng ta!
Nhân danh Allah! ta càng muốn đến gần nàng thì nàng càng bay xa * Theo tiếp tuyến, ban ít hơn khi ta đòi nhiều hơn:
Ta mê đắm Azzah, nhưng khi ta dẹp sạch * Các tình địch của mình, nàng quý nhất ấy cũng dẹp ta đi;
Như kẻ lang thang chọn bóng mây làm nơi rợp, * Mà trước khi giấc trưa xong, mây đã hóa hư không.”
Khi nghe điều này, nàng nói, “Quả thật Al-Kuthayyir[FN#193] nổi bật vì lời nói ngọt ngào và trong sạch, và chàng đã đạt mức tuyệt đỉnh khi ca ngợi Azzah bằng khúc hát” (rồi nàng bắt đầu ngâm),
“Nếu Azzah ban lệnh cho Mặt Trời buổi trưa, * Quan tòa hẳn đã phán vẻ đẹp nàng là ân huệ tuyệt nhất;
Và những cô gái đến với ta, chê trách nàng, * Cầu Thượng Đế biến đôi má hồng của họ thành dép sandal cho nàng!
“Và quả thật,” nàng nói, “người ta kể rằng Azzah khoe vẻ đẹp và duyên dáng vượt bậc.” Rồi nàng hỏi Sharrkan, nói, “Ôi Vương tử, chàng có biết gì về thơ của Jamíl[FN#194] gửi Buthaynah không? nếu có, hãy đọc cho chúng ta nghe đôi chút”; chàng đáp, “Có, ta biết chúng hơn bất cứ ai”; rồi chàng bắt đầu ngâm những đôi câu này,
“‘Jamil, hãy ra đánh Thánh chiến!’ họ nói với ta: * Có cuộc chiến nào ngoài chiến đấu vì người đẹp mà ta từng muốn thử?
Mỗi lời và mỗi việc của họ đối với ta đều là niềm vui thuần túy, * Và ta gọi là tử đạo mọi kẻ họ giết trong giao tranh và xung đột:
Nếu ta hỏi, ‘Ôi Buthaynah! tình yêu này là gì, ta xin hỏi, * Thứ đang ăn tim ta?’ nàng đáp, ‘Nó sẽ ở lại mãi mãi!’
Và khi ta kêu, ‘Xin trả chút trí khôn trở lại * Cho việc dùng hằng ngày,’ nàng nói, ‘Xa, xa lắm nó đã bay đi!’
Nàng tìm cái chết của ta; chẳng gì khác ngoài đó làm ý nàng thỏa mãn * Trong khi ta chẳng thấy đích nào ngoài nàng và mãi mãi là nàng.
“Nói rất hay,” nàng nói, “hỡi con trai đức vua, và Jamil cũng đã nói xuất sắc. Nhưng Buthaynah muốn làm gì với chàng mà chàng nói trong nửa câu thơ,
‘Nàng tìm cái chết của ta; chẳng gì khác ngoài đó làm ý nàng thỏa mãn?’”
Sharrkan đáp, “Thưa phu nhân, nàng ấy muốn làm với chàng điều nàng muốn làm với ta, và ngay cả điều ấy cũng không làm nàng thỏa mãn.” Nàng cười trước câu đáp đúng lúc của chàng, và họ không ngừng uống rượu cho tới khi Ngày tắt ánh sáng và Đêm bước vào khoác bóng tối. Rồi nàng đứng dậy về phòng ngủ và ngủ, trong khi Sharrkan ngủ tại chỗ của mình cho tới khi sáng rạng. Ngay khi chàng thức dậy, các tỳ nữ đến với chàng bằng trống con và những nhạc cụ vui vẻ, hân hoan khác như lệ thường; và, hôn đất giữa hai tay chàng, nói với chàng, “Bismillah!—nhân danh Allah—xin ngài vui lòng đến[FN#195]: chủ nhân của chúng tôi mời ngài vào hiện diện!” Vậy chàng đứng dậy và đi cùng các nữ nô vây quanh, họ chơi trống con và các nhạc cụ khác, cho tới khi họ đi từ đại sảnh ấy sang một sảnh khác rộng hơn nữa, trang trí bằng hình vẽ và tượng chim thú, vượt mọi lời mô tả. Sharrkan kinh ngạc trước nghệ thuật và sự tinh xảo của nơi ấy, rồi bắt đầu ngâm,
“Chàng hái những quả nơi vòng cổ nàng trong ganh đua, * Và những ngọc trai nơi ngực nàng nằm trong mỏ vàng.
Nước tinh khiết trên thỏi bạc là vầng trán nàng, * Và đôi má nàng phô hoa hồng tranh sắc với hồng ngọc:
Ta tưởng trong đôi mắt nàng, sắc tím của violet * Đang nhuộm tím trong thuốc Ithmid.[FN#196]”
Khi phu nhân thấy Sharrkan, nàng đứng dậy tôn kính chàng và,
cầm tay chàng, đặt chàng ngồi bên cạnh mình rồi hỏi, “Ôi con trai vua
Omar bin al-Nu'uman, chàng có sở trường nào trong trò cờ vua chăng?”
Chàng đáp, “Có, nhưng nàng chớ làm với ta như thi nhân đã nói,
‘Ta nói, và tình yêu khao khát buộc rồi cởi ta; * Cho tới khi nàng đãi ta bằng sương mật từ môi trong:
Ta mang bàn cờ tới và người yêu quý nhất chơi cùng ta * Với trắng và đen,[FN#197] nhưng đen cùng trắng chẳng bao giờ làm ta thỏa:
Như thể ta muốn đặt Vua vào vị trí Thành * Cho tới khi cố ý thua ván giữa hai Hậu làm ta ngạc nhiên:
Và nếu ta tìm đọc ý định trong đôi mắt đang nhìn ta * Ôi người ơi! cái nhìn nghiêng ấy với dấu hiệu của ham muốn thách đố ta.’”
Rồi nàng đem bàn cờ ra và chơi với chàng; nhưng Sharrkan, thay vì nhìn nước đi của nàng, cứ ngắm miệng xinh của nàng, đặt mã vào chỗ tượng và tượng[FN#198] vào chỗ mã. Nàng cười và nói với chàng, “Nếu chàng chơi theo kiểu này, chàng chẳng biết gì về trò này cả.” Chàng đáp, “Đây chỉ là ván đầu của chúng ta, chớ phán xét bằng lượt này.” Khi nàng thắng chàng, chàng đặt lại các quân vào vị trí và lại chơi với nàng; nhưng nàng thắng chàng lần thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm. Vậy nàng quay sang chàng và nói, “Chàng bị đánh bại trong mọi thứ”; chàng đáp, “Thưa phu nhân, người chơi với một người như nàng làm sao tránh khỏi bị đánh bại?” Rồi nàng truyền đem thức ăn đến, họ ăn và rửa tay; sau đó rượu được đặt trước mặt họ và họ uống. Lát sau, nàng cầm dulcimer, bởi tay nàng khéo gảy nó, và bắt đầu ngâm theo nhạc đệm những đôi câu này,
“Giữa buộc chặt và mở rộng, Vận Mệnh chẳng biết trung dung, * Nay rút rồi dâng, rồi dâng rồi rút, hình bóng nàng hiện theo cách ấy.
Vậy hãy uống rượu của nàng khi nàng là của ngươi và ngươi thấy nàng mỉm cười, * Chẳng mấy chốc nàng sẽ ngã xuống và rời đi khi mọi điều tốt lành của ngươi ra đi.”
Họ không ngừng chè chén cho tới đêm xuống, và ngày này còn vui thú hơn cả ngày đầu. Khi bóng tối phủ xuống, phu nhân về phòng ngủ, để chàng ở lại một mình với các tỳ nữ; vậy chàng ném mình xuống đất và ngủ cho tới bình minh, khi các thiếu nữ đến với chàng bằng trống lục lạc và các nhạc cụ khác theo lệ thường. Thấy họ, chàng vội tỉnh dậy và ngồi lên; họ đưa chàng đến chủ nhân của họ, người ra đón chàng và, cầm tay chàng, đặt chàng ngồi bên cạnh mình. Rồi nàng hỏi chàng đã qua đêm thế nào, chàng cầu nguyện cho đời nàng được kéo dài; và nàng cầm đàn lute, hát theo đàn những câu thơ nàng ứng tác,
“Chớ bao giờ nghiêng về chia lìa * Thứ làm trái tim cay đắng;
Ngay cả mặt trời khi lặn * Cũng ra đi trong sắc nhợt nhạt.”
Trong khi họ đang tự khuây khỏa theo cách ấy, kìa, bỗng nổi lên một tiếng huyên náo lớn và đột ngột, một đám đông hỗn loạn gồm hiệp sĩ và binh sĩ ùa vào, tay cầm gươm tuốt trần lấp lánh sáng loáng, và kêu lớn bằng tiếng Hy Lạp, “Ngươi đã rơi vào tay chúng ta, hỡi Sharrkan, vậy hãy chắc mình phải chết!” Khi nghe lời ấy, chàng tự nhủ, “Nhân danh Allah, nàng đã gài bẫy ta và giữ ta chơi đùa, cho đến khi người của nàng tới. Đây là các Hiệp sĩ mà nàng đã dọa ta; nhưng chính ta đã tự ném mình vào cảnh khốn này.” Rồi chàng quay về phía thiếu nữ để trách nàng, nhưng thấy sắc mặt nàng đã đổi và gương mặt tái nhợt; nàng bật đứng dậy và hỏi đám đông, “Các ngươi là ai?” Vị Hiệp sĩ dẫn đầu đáp, “Ôi Công chúa nhân từ nhất và viên ngọc hợp nhất không ai sánh, nàng có biết kẻ bên cạnh nàng là ai không?” Nàng đáp, “Ta không biết, hắn có thể là ai?” Vị Patrician nói, “Đây là tên đạo tặc trên các nẻo đường giữa các thành! Đây là kẻ cưỡi đầu hàng kỵ sĩ! Đây là Sharrkan, con trai vua Omar bin al-Nu'uman! Đây là kẻ cưỡng chiếm thành trì và xuyên thủng mọi nơi kiên cố bất khả xâm phạm! Tin tức về hắn đã tới vua Hardub, phụ vương của nàng, qua lời báo của mụ già Zat al-Dawahi; và phụ vương nàng, chúa thượng của chúng ta, đã chắc rằng nàng đã lập công lớn cho quân Hy Lạp bằng cách bắt được con sư tử điềm gở này.” Khi nghe vậy, nàng nhìn Hiệp sĩ và hỏi hắn, “Tên ngươi là gì?” hắn đáp, “Ta là Másúrah, con trai nô lệ của nàng Mausúrah bin Káshardah, Hiệp sĩ của các Hiệp sĩ.” Nàng hỏi, “Và sao ngươi dám vào hiện diện của ta mà không xin phép?” Hắn đáp, “Thưa phu nhân, khi ta đến cổng, chẳng ai ngăn ta, không thị thần cũng không người gác cửa, mà tất cả người giữ cửa đều đứng dậy và đi trước chúng ta như thường lệ; tuy rằng khi người khác đến, họ để những kẻ ấy đứng ở cổng trong lúc họ xin phép cho vào. Nhưng đây không phải lúc nói dài, khi đức vua đang đợi chúng ta trở về cùng Vương tử này, cái ngòi bò cạp[FN#199] của quân Hồi giáo, để ngài giết hắn và xua người của hắn trở lại nơi chúng đến, mà không phải chịu tai họa giao chiến với chúng.” Công chúa đáp, “Những lời này là lời xấu, và phu nhân Zat al-Dawahi đã nói dối, quả quyết một điều rỗng không vô ích mà bà ta chẳng biết sự thật; bởi nhân đức hạnh của Đấng Messiah, người đang ở cùng ta đây không phải Sharrkan, cũng không phải tù binh, mà là một khách lạ đến với chúng ta tìm lòng hiếu khách, và ta đã nhận chàng làm khách. Vậy dẫu chúng ta chắc rằng đây là Sharrkan và chứng minh được không còn nghi ngờ gì rằng chính là chàng, ta nói cũng chẳng hợp danh dự của ta nếu ta giao vào tay các ngươi một người đã bước vào dưới sự bảo hộ của ta. Vậy chớ biến ta thành kẻ phản bội khách của mình và thành nỗi ô nhục giữa người đời; hãy trở về với đức vua, phụ vương ta, hôn đất trước mặt ngài, và báo cho ngài biết rằng sự việc trái ngược với lời tường thuật của phu nhân Zat al-Dawahi.” Hiệp sĩ Masurah đáp, “Hỡi Abrízah, ta không thể trở về trước uy nghi của đức vua mà không có con nợ và kẻ thù của ngài.” Nàng nói (và quả thật nàng đã nổi giận dữ dội), “Khốn cho ngươi! Hãy trở về với câu trả lời của ta, và sẽ chẳng có lỗi nào giáng xuống ngươi!” Masurah nói, “Ta sẽ không trở về nếu không có hắn.” Nghe vậy sắc mặt nàng đổi khác và nàng kêu lên, “Chớ quá lời và nói năng phù phiếm; bởi quả thật người này đã không vào với chúng ta nếu chàng không chắc rằng tự thân một mình chàng có thể đương đầu với một trăm kỵ sĩ; và nếu ta nói với chàng, ‘Ngươi là Sharrkan, con trai vua Omar bin al-Nu'uman,’ chàng sẽ đáp, ‘Phải.’ Nhưng việc ngăn hay cản chàng không nằm trong khả năng của các ngươi; vì nếu các ngươi làm thế, chàng sẽ không quay lưng khỏi các ngươi cho tới khi đã giết hết mọi kẻ ở nơi này. Kìa, chàng đang ở bên cạnh ta, và ta sẽ đưa chàng ra trước các ngươi với gươm và khiên trong tay.” Hiệp sĩ Masurah đáp, “Dẫu ta được an toàn trước cơn giận của nàng, ta cũng không an toàn trước cơn giận của phụ vương nàng, và khi ta thấy hắn, ta sẽ ra hiệu cho các Hiệp sĩ bắt hắn làm tù binh, rồi chúng ta sẽ đưa hắn đến cho đức vua, bị trói và trong cảnh hèn hạ.” Khi nghe điều này, nàng nói, “Sự việc sẽ không diễn ra như vậy, vì làm thế chỉ phô ra sự ngu xuẩn. Người này chỉ có một, còn các ngươi là một trăm Hiệp sĩ: vậy nếu các ngươi muốn tấn công chàng, hãy lần lượt từng người ra đấu với chàng, để đức vua thấy rõ ai là kẻ dũng cảm trong các ngươi.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Công chúa Abrizah nói với Hiệp sĩ, “Người này chỉ có một, còn các ngươi là một trăm: vậy nếu các ngươi muốn tấn công chàng, hãy lần lượt từng người ra đấu với chàng, để đức vua thấy rõ ai là kẻ dũng cảm.” Hiệp sĩ Masurah nói, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, nàng nói đúng, và chẳng ai ngoài ta sẽ ra đấu với hắn trước.” Nàng nói, “Hãy chờ ta đến với chàng, cho chàng biết sự việc và nghe chàng trả lời ra sao. Nếu chàng đồng ý thì tốt; còn nếu chàng từ chối, các ngươi tuyệt đối không được đến gần chàng, vì ta cùng các tỳ nữ của ta và bất cứ ai ở trong tu viện sẽ là tiền chuộc cho chàng.” Vậy nàng đến với Sharrkan và kể cho chàng tin ấy; nghe vậy chàng mỉm cười và biết rằng nàng chưa báo với bất kỳ Emir nào; nhưng tin tức về chàng đã bị đồn thổi và lan truyền rộng khắp, cho tới khi lời tường thuật đến tai đức vua, trái với mong muốn và ý định của nàng. Vậy chàng lại bắt đầu tự trách mình và nói, “Sao ta lại liều lĩnh, đùa với mạng sống mình mà đến xứ người Hy Lạp?” Nhưng khi nghe đề nghị của thiếu nữ, chàng nói với nàng, “Quả thật việc chúng tấn công từng người một sẽ quá nặng nề cho chúng. Chúng không thể ra đấu với ta mười người một lượt sao?” Nàng nói, “Như thế là hèn hạ; hãy để một chọi một.” Khi nghe điều này, chàng bật dậy và tiến về phía họ với gươm cùng chiến cụ; Hiệp sĩ Masurah cũng bật dậy và xông thẳng vào chàng. Sharrkan nghênh hắn như sư tử và tung một nhát chém vai[FN#200] chẻ hắn đến giữa thân, lưỡi gươm ló ra sáng loáng lấp lánh từ lưng và ruột hắn. Khi phu nhân thấy nhát chém vung mạnh ấy, sức mạnh của Sharrkan được phóng đại trong mắt nàng, và nàng biết rằng khi nàng quật ngã chàng trong trận vật, không phải nhờ sức nàng mà nhờ sắc đẹp và vẻ yêu kiều của nàng. Vậy nàng quay sang các Hiệp sĩ và nói, “Hãy báo thù cho thủ lĩnh của các ngươi!” Tức thì anh trai của kẻ bị giết bước ra, một Hiệp sĩ hung hãn và cuồng nộ, lao vào Sharrkan, chàng không chậm trễ, mà cũng đánh hắn bằng nhát chém vai, và lưỡi gươm ló ra lấp lánh từ ruột gan hắn. Rồi Công chúa kêu, “Hỡi các tôi tớ của Đấng Messiah, hãy báo thù cho đồng đội của các ngươi!” Vậy chúng không ngừng xông xuống chàng, từng người một; và Sharrkan cũng không ngừng múa lưỡi gươm trên chúng, cho tới khi chàng đã giết năm mươi Hiệp sĩ, trong khi phu nhân đứng nhìn. Và Allah gieo nỗi hoảng sợ vào tim những kẻ sống sót, khiến chúng chùn lại, không dám gặp chàng trong cuộc đấu tay đôi, mà cùng nhau xông vào chàng; chàng bèn giáng đòn nặng với trái tim vững hơn đá, chém chúng và giẫm đạp chúng như rơm dưới bàn trượt đập lúa,[FN#201] cho tới khi chàng xua cả lý trí lẫn linh hồn khỏi chúng. Rồi Công chúa gọi lớn các tỳ nữ của mình, nói, “Trong tu viện còn lại ai?” họ đáp, “Chẳng còn ai ngoài những người giữ cổng”; tức thì nàng đến bên Sharrkan, ôm chàng vào lòng, chàng cũng làm như vậy, và họ trở về cung điện, sau khi chàng đã kết thúc cuộc hỗn chiến. Bấy giờ vẫn còn vài Hiệp sĩ trốn chàng trong các phòng nhỏ của tu viện, và khi Công chúa thấy vậy, nàng đứng dậy khỏi bên Sharrkan và rời chàng một lúc, nhưng lát sau trở lại, mặc áo giáp vòng xích đan khít và cầm trong tay một thanh đoản đao Ấn Độ tuyệt đẹp. Nàng nói, “Nay nhân sự thật của Đấng Messiah, ta sẽ không keo kiệt chính mình vì khách của ta; ta cũng sẽ không bỏ rơi chàng, dẫu vì việc này ta phải chịu lời trách móc và thành câu cửa miệng trong xứ Hy Lạp.” Rồi nàng kiểm lại số người chết và thấy chàng đã giết tám mươi Hiệp sĩ, còn hai mươi kẻ khác đã bỏ chạy.[FN#202] Khi thấy việc chàng đã làm với chúng, nàng nói với chàng, “Allah ban phúc cho chàng, hỡi Sharrkan! Các Kỵ sĩ quả có thể hãnh diện về người như chàng.” Rồi chàng đứng dậy, lau sạch máu kẻ bị giết khỏi lưỡi gươm và bắt đầu ngâm những đôi câu này,
“Bao lần giữa hỗn chiến ta đã chẻ tan hàng ngũ, * Và trao kẻ dũng cảm nhất của chúng làm mồi cho sư tử:
Hãy hỏi về ta và về chúng khi ta chứng tỏ sức mình * Vượt mọi tạo vật trong những ngày cướp phá và giao tranh:
Khi trong cuộc xung phong, ta bỏ lại sư tử của chúng nằm * Trên cát miền đất thấp[FN#203] giữa ngày rực lửa nhất.”
Khi chàng dứt lời thơ, Công chúa bước đến với chàng bằng những nụ cười và hôn tay chàng; rồi nàng cởi áo giáp, và chàng nói với nàng, “Thưa phu nhân của ta, vì sao nàng mặc áo giáp ấy và tuốt gươm?” Nàng đáp, “Để bảo vệ chàng khỏi bọn khốn kiếp kia.”[FN#204] Rồi nàng gọi những người giữ cổng và hỏi họ, “Sao các ngươi dám cho các Hiệp sĩ của đức vua vào nơi ở của ta mà không xin phép ta?” họ đáp, “Ôi Công chúa, chúng tôi không có lệ xin phép nàng đối với các sứ giả của đức vua, đặc biệt là thủ lĩnh các Hiệp sĩ của ngài.” Nàng nói, “Ta nghĩ các ngươi chỉ có ý làm nhục ta và sát hại khách của ta”; rồi truyền Sharrkan chém cổ họ. Chàng làm vậy, và nàng kêu với những tôi tớ còn lại, “Quả thật, chúng còn đáng chịu hơn thế nữa!” Rồi quay sang Sharrkan, nàng nói với chàng, “Nay điều từng bị che giấu đã hiện rõ với chàng, chàng sẽ được biết câu chuyện của ta. Vậy hãy biết rằng ta là con gái của vua Hardub xứ Roum; tên ta là Abrizah, còn mụ già được gọi là Zat al-Dawahi là bà nội ta theo dòng gươm. Chắc chắn chính bà ta đã kể cho cha ta về chàng, và cũng chắc chắn bà ta sẽ bày mưu giết ta, càng bởi chàng đã giết những hiệp sĩ tinh nhuệ của cha ta, và người ta đã đồn khắp nơi rằng ta đã tách mình khỏi những người Nazarene và với người Hồi giáo thì chẳng hơn gì kẻ đáng khinh. Vì vậy khôn ngoan hơn là ta rời nơi ở này trong lúc Zat al-Dawahi đang lần theo dấu ta; nhưng ta đòi nơi chàng lòng tốt và phép nhã nhặn giống như ta đã tỏ với chàng, bởi chẳng bao lâu sẽ có thù nghịch giữa ta và cha ta vì chàng. Vậy chớ lơ là bất cứ điều gì ta sẽ nói với chàng, hãy nhớ rằng tất cả những điều này xảy đến với ta chẳng vì gì khác ngoài chàng.” Nghe lời nàng, Sharrkan vui mừng khôn xiết; lồng ngực chàng mở rộng và trí óc chàng bay khỏi chàng vì hân hoan, chàng nói, “Nhân danh Allah, chẳng ai sẽ chạm tới nàng khi sự sống còn trong ngực ta! Nhưng nàng có đủ kiên nhẫn chịu chia lìa cha mẹ và dân của nàng chăng?” Nàng đáp, “Quả vậy”; và Sharrkan thề với nàng, rồi hai người trao lời hứa kết ước. Sau đó nàng nói, “Nay lòng ta đã yên; nhưng còn một điều kiện khác dành cho chàng.” Chàng hỏi, “Đó là gì?” nàng đáp, “Đó là chàng phải trở về cùng đạo quân của chàng, về đất nước của chàng.” Chàng nói, “Thưa phu nhân của ta, cha ta, vua Omar bin al-Nu'uman, sai ta đến giao chiến với phụ vương nàng vì kho báu ông đã cướp từ vua Constantinople, trong số đó có ba viên ngọc lớn, nổi tiếng ban vận may.” Nàng nói, “Hãy làm tim chàng vui và mắt chàng trong: ta sẽ kể cho chàng toàn bộ câu chuyện và nguyên nhân mối thù giữa chúng ta với vua Constantinople. Hãy biết rằng chúng ta có một lễ hội hằng năm gọi là Lễ Tu Viện, nơi các vua từ mọi phương cùng những phụ nữ cao quý nhất thường tụ hội; thương nhân và lái buôn cùng vợ con gia đình cũng đến đó, và khách ở lại bảy ngày. Ta vẫn thường là một trong những người dự lễ; nhưng khi thù nghịch xảy ra giữa chúng ta, phụ vương ta cấm ta hiện diện ở lễ hội trong khoảng bảy năm. Một năm kia, tình cờ trong số các con gái của bậc quyền quý đến nơi bảo trợ ấy như thường lệ, có một con gái của vua Constantinople, một cô gái xinh đẹp tên là Sophia. Họ ở lại tu viện sáu ngày, đến ngày thứ bảy người ta ai đi đường nấy;[FN#205] nhưng Sophia nói, ‘Ta sẽ không trở về Constantinople nếu không bằng đường thủy.’ Vậy họ chuẩn bị cho nàng một con tàu, nàng lên thuyền cùng đoàn tùy tùng; rồi giương buồm, họ ra khơi; nhưng khi họ đang vượt biển, kìa, một cơn gió ngược bắt lấy họ và đẩy con tàu lệch khỏi lộ trình, cho tới khi, theo ý Định Mệnh và Vận Mệnh, nó gặp một tàu Nazarene từ Đảo Long Não[FN#206], chở thủy thủ đoàn gồm năm trăm người Frank vũ trang, những kẻ đã tuần du trên biển một thời gian dài. Khi chúng nhìn thấy buồm của con tàu có Sophia và các nữ nhân của nàng, chúng lập tức đuổi theo hết tốc lực, và chưa đầy một giờ đã bắt kịp; rồi chúng ném móc câu tàu sang, bắt giữ con tàu. Sau đó chúng kéo nó đi, căng mọi buồm hướng về đảo của mình, chỉ còn cách đảo một quãng ngắn thì gió đổi chiều, xé buồm chúng và đẩy chúng vào một bãi cạn ngoài bờ biển của chúng ta. Khi ấy chúng ta xông ra và, xem chúng như chiến lợi phẩm do Định Mệnh đẩy đến cho mình,[FN#207] chúng ta lên tàu và bắt chúng; giết đàn ông, chiếm xác tàu làm của, trong đó chúng ta tìm thấy các kho báu và vật hiếm nói trên cùng bốn mươi thiếu nữ, trong số đó có con gái đức vua, Sophia. Sau khi bắt được, chúng ta đưa Công chúa và các nữ nhân của nàng đến cho phụ vương ta, không biết nàng là con gái vua Afridun của Constantinople; và ngài chọn cho mình mười người, gồm cả nàng; rồi chia số còn lại cho thuộc hạ. Sau đó ngài tách riêng năm thiếu nữ, trong số đó có con gái đức vua, và gửi họ đến cho cha chàng, vua Omar bin al-Nu'uman, cùng với những quà tặng khác, như vải broadcloth[FN#208], vải len và lụa Hy Lạp. Cha chàng nhận họ và chọn trong năm cô gái Sophia, con gái vua Afridun; và chúng ta không nghe thêm gì về nàng cho tới đầu năm nay, khi cha nàng viết thư cho cha ta bằng những lời không thích hợp để ta lặp lại, trách cứ ông bằng lời đe dọa và nói với ông: Hai năm trước, các ngươi đã cướp một con tàu của chúng ta, vốn đã bị một toán hải tặc Frank bắt giữ, trong đó có con gái ta, Sophia, được các thị nữ của nàng hộ tống, chừng sáu chục người. Vậy mà các ngươi không báo cho ta biết bằng sứ giả hay cách nào khác; ta cũng không thể công khai việc này, kẻo bị các vua chê trách vì danh dự của con gái ta. Vì vậy ta giấu cảnh ngộ của mình cho tới năm nay, khi ta viết thư cho một số hải tặc Frank và tìm tin con gái ta từ các vua trên các Đảo. Họ đáp, ‘Nhân danh Allah, chúng tôi không đem nàng ra khỏi vương quốc của ngài; nhưng chúng tôi có nghe rằng vua Hardub đã cứu nàng khỏi một số hải tặc. Và họ kể cho ta toàn bộ câu chuyện.’ Rồi ông thêm trong bức thư viết cho cha ta: ‘Trừ khi ngươi muốn gây thù với ta và có ý làm nhục ta, làm ô danh con gái ta, ngay khi thư của ta đến tay ngươi, ngươi sẽ gửi con gái ta trở về với ta. Nhưng nếu ngươi xem nhẹ thư ta và bất tuân mệnh lệnh của ta, chắc chắn ta sẽ trả lại đầy đủ cho ngươi vì hành vi xấu xa của ngươi và sự hèn hạ trong những việc làm của ngươi.’[FN#209] Khi cha ta đọc thư này và hiểu nội dung,[FN#210] nó khiến ông bực tức và ông hối tiếc vì đã không biết Sophia, con gái vua Afridun, ở trong số các thiếu nữ bị bắt, để có thể gửi nàng trở lại với cha nàng; và ông bối rối về việc ấy vì sau một thời gian dài như thế, ông không thể sai người đến chỗ vua Omar bin al-Nu'uman và đòi nàng lại từ ông ấy, nhất là khi gần đây ông nghe rằng Trời đã ban cho ông ấy ân phúc có con bởi Sophia này. Vậy khi chúng ta suy xét sự thật ấy, chúng ta biết rằng bức thư này chẳng gì khác ngoài một tai họa nặng nề; và cha ta chẳng tìm thấy cách nào ngoài viết thư trả lời vua Afridun, đưa ra lời xin lỗi và thề với ông bằng những lời thề nặng rằng ông không biết con gái ông ấy ở trong nhóm thiếu nữ trên tàu, rồi trình bày việc ông đã gửi nàng đến cho vua Omar bin al Nu'uman, người đã nhận được phúc lành con cái bởi nàng. Khi thư đáp của cha ta đến tay vua Afridun, ông đứng lên rồi ngồi xuống,[FN#211] gầm lên và sùi bọt mép, kêu rằng:—‘Sao! hắn bắt con gái ta làm tù binh, xếp nàng ngang với các nữ nô, chuyền nàng từ tay này sang tay khác, gửi nàng làm quà cho các vua, rồi họ nằm với nàng mà không có hôn ước sao? Nhân Đấng Messiah và Đức Tin chân thật,’ ông nói, ‘ta sẽ không ngừng cho tới khi báo thù máu vì chuyện này và rửa sạch nỗi nhục của ta; và quả thật ta sẽ làm một việc mà các sử gia sẽ ghi chép sau ta!’ Vậy ông chờ thời cho tới khi nghĩ ra một kế và giăng những bẫy lưới đáng kể, rồi sai sứ bộ đến với cha chàng, vua Omar, để kể với ngài điều chàng đã nghe: theo đó cha chàng trang bị cho chàng và một đạo quân đi cùng chàng, rồi gửi chàng đến vua Afridun, người có mục đích bắt cả chàng lẫn đạo quân của chàng. Còn ba viên ngọc mà ông ấy nói với cha chàng khi xin trợ giúp, trong việc ấy không có một lời nào là thật, bởi chúng ở cùng Sophia, con gái ông; và cha ta đã lấy chúng từ nàng khi ông chiếm được nàng cùng các thị nữ, rồi ban tặng tự do cho ta, và chúng hiện ở với ta. Vậy chàng hãy đi đến đạo quân của mình và quay họ về trước khi họ bị dẫn sâu vào và bị khóa kín trong đất người Frank và xứ người Hy Lạp; vì ngay khi các ngươi đi đủ xa vào nội địa của họ, họ sẽ chặn các con đường quanh các ngươi, và sẽ chẳng còn lối thoát nào cho các ngươi cho tới Ngày báo ứng và trả đũa. Ta biết quân của chàng vẫn đang dừng lại nơi chàng đã để họ, bởi chàng đã ra lệnh nghỉ ba ngày; tuy nhiên họ đã mất chàng suốt thời gian này và chẳng biết phải làm gì.” Khi Sharrkan nghe lời nàng, chàng lặng đi một lúc trong suy nghĩ; rồi hôn tay Công chúa Abrizah và nói, “Ngợi ca Allah, Đấng đã ban nàng cho ta và định nàng làm nguyên nhân cứu rỗi ta cùng sự cứu rỗi của những người đi với ta! Nhưng thật đau đớn cho ta khi phải chia lìa nàng, và ta không biết điều gì sẽ xảy đến với nàng sau khi ta ra đi.” Nàng đáp, “Giờ hãy đến với đạo quân của chàng và quay họ trở lại, trong khi các ngươi còn gần đất nước của mình. Nếu các sứ giả vẫn ở cùng họ, hãy bắt giữ họ và giữ lại, để sự việc có thể hiện rõ với các ngươi; và sau ba ngày, ta sẽ đến cùng tất cả các ngươi, rồi chúng ta sẽ cùng vào Baghdad.” Khi chàng quay đi rời khỏi, nàng nói, “Chớ quên giao ước giữa ta và chàng”; rồi nàng đứng dậy để[FN#212] từ biệt chàng, ôm chàng và dập tắt ngọn lửa khao khát, vậy nàng chia tay chàng và, quàng tay quanh cổ chàng, khóc lóc thảm thiết rồi ngâm những câu này,
“Ta nói lời vĩnh biệt, tay phải lau đi nước mắt, * Trong khi tay trái giữ nàng trong vòng ôm chặt:
‘Chàng chẳng sợ gì,’ nàng nói, ‘nỗi hổ thẹn sao?’ Ta đáp, ‘Không, * Ngày chia lìa của người yêu là nỗi nhục tệ nhất của người yêu.’”
Rồi Sharrkan rời nàng và đi xuống khỏi tu viện. Họ đem chiến mã của chàng đến, vậy chàng lên ngựa và cưỡi xuôi dòng đến cầu kéo, băng qua đó rồi chẳng mấy chốc luồn theo các lối rừng và đi vào đồng cỏ trống. Ngay khi ra khỏi cây cối, chàng nhận thấy có kỵ sĩ, khiến chàng cảnh giác, tuốt gươm và cưỡi ngựa thận trọng; nhưng khi họ tiến gần và trao nhau những cái nhìn tò mò, chàng nhận ra họ, và kìa, đó là tể tướng Dandan cùng hai Emir của chàng. Khi họ thấy chàng và nhận ra chàng, họ xuống ngựa, chào chàng và hỏi nguyên nhân chàng vắng mặt; bấy giờ chàng kể cho họ mọi điều đã xảy ra giữa chàng và Công chúa Abrizah từ đầu đến cuối. Tể tướng tạ ơn Allah Toàn năng vì sự an toàn của chàng và nói,[FN#213] “Chúng ta hãy lập tức rời những miền đất này; vì các sứ giả đi cùng chúng ta đã đi báo cho vua của họ biết chúng ta đến gần, và có lẽ ông ta sẽ vội vàng đánh úp chúng ta, bắt chúng ta làm tù binh.” Vậy Sharrkan hô quân mình thắng yên và lên ngựa, họ làm vậy và lập tức khởi hành, không ngừng đi cho tới khi đến đáy thung lũng nơi đạo quân đóng. Trong khi ấy, các Đại sứ đã báo với vua của họ về việc Sharrkan đến gần, và ông ta lập tức trang bị một đạo quân để bắt chàng cùng những người đi với chàng. Nhưng Sharrkan, được tể tướng Dandan và hai Emir hộ tống, vừa trông thấy quân đội thì đã cất tiếng hô “Hành quân! Hành quân!” Họ lập tức lên ngựa và đi suốt ngày thứ nhất, thứ hai và thứ ba, rồi không ngừng đi trong năm ngày; cuối thời gian ấy, họ hạ trại tại một thung lũng nhiều cây, nghỉ ngơi một lát. Rồi họ lại lên đường và không ngừng cưỡi trong hai mươi lăm ngày, đưa họ đến biên giới đất nước mình. Tại đây, xem như đã an toàn, họ dừng lại nghỉ; dân trong xứ ra đón họ với quà hiếu khách cho người và cỏ khô, thức ăn cho thú. Họ nấn ná ở đó hai ngày, sau đó, khi tất cả chuẩn bị về nhà, Sharrkan đặt tể tướng Dandan chỉ huy, bảo ông dẫn đạo quân trở về Baghdad. Còn chính chàng ở lại phía sau với một trăm kỵ sĩ, cho tới khi phần còn lại của quân đội đã đi được một ngày đường: rồi chàng gọi “Lên ngựa!” và lên yên cùng một trăm người của mình. Họ cưỡi đi khoảng hai parasang[FN#214] cho tới khi đến một hẻm núi giữa hai ngọn núi, thì kìa! trước mặt họ nổi lên một đám mây cát bụi đen ngòm. Vậy họ ghìm ngựa một lúc cho tới khi bụi tách ra và bốc lên, để lộ dưới đó một trăm kỵ sĩ, mặt như sư tử và mình bọc áo giáp. Ngay khi họ đến trong tầm nghe của Sharrkan và đoàn tùy tùng, họ kêu lớn với họ, rằng, “Nhân đức hạnh của John và Mary, chúng ta đã đạt được điều mình muốn! Chúng ta đã theo các ngươi bằng những cuộc hành quân cưỡng bức, đêm ngày, cho tới khi vượt trước các ngươi đến nơi này. Vậy hãy xuống ngựa, đặt vũ khí xuống và đầu hàng, để chúng ta ban mạng sống cho các ngươi.” Khi Sharrkan nghe vậy, mắt chàng lồi ra khỏi đầu, má chàng đỏ bừng và chàng nói, “Sao thế, hỡi bọn chó Nazarene, các ngươi dám vào đất nước chúng ta và vượt qua miền đất của chúng ta? Chừng ấy còn chưa đủ cho các ngươi sao, mà các ngươi còn liều thân và nói với chúng ta bằng lời lẽ vô lễ như thế? Các ngươi nghĩ sẽ thoát khỏi tay chúng ta và trở về xứ mình ư?” Rồi chàng hô với một trăm kỵ sĩ của mình, “Đứng lên và đánh bọn chó này, vì chúng ngang số các ngươi!” Nói vậy, chàng tuốt gươm và xông xuống chúng, chàng và người của mình; nhưng người Frank đón họ với trái tim vững hơn đá, chiến binh lao vào chiến binh, hiệp sĩ lao vào hiệp sĩ, trận đánh nóng lên, nỗi kinh hoàng dữ dội, lời thương lượng hay tiếng cầu xin tha mạng đều chẳng giúp được cảnh ngộ của họ; họ không ngừng xung phong và chém, tay phải gặp tay phải, cũng không ngừng chặt và bổ bằng những lưỡi gươm trắng sáng, cho tới khi ngày hóa thành đêm và bóng tối đè nặng tầm nhìn. Rồi họ tách ra, và Sharrkan điểm lại người của mình, thấy không ai bị thương ngoài bốn người, chỉ mang vết thương chứ không phải tử thương. Chàng nói với họ, “Nhân danh Allah, suốt đời ta đã lội trong biển chiến đấu va chạm, đã gặp nhiều tinh thần hào kiệt, nhưng chưa ai không sợ lưỡi gươm chém xuống và cú va của người làm kinh hãi như các Hiệp sĩ dũng cảm này!” Họ nói, “Xin đức vua biết rằng trong số chúng có một kỵ sĩ Frank là thủ lĩnh của chúng, và quả thật hắn là người dũng mãnh, mũi giáo của hắn gây chết người: nhưng nhân danh Allah, hắn tha cho chúng ta lớn nhỏ; bởi ai rơi vào tay hắn, hắn đều để đi và kiềm không giết. Nhân danh Allah, nếu hắn muốn, hắn đã giết hết chúng ta.” Sharrkan kinh ngạc khi nghe điều Hiệp sĩ ấy đã làm và lời tường thuật cao đẹp như thế về hắn, nên chàng nói, “Khi sớm mai rạng, chúng ta sẽ dàn ra và thách đấu chúng, vì chúng ta một trăm, chúng cũng một trăm; và chúng ta sẽ cầu sự trợ giúp chống lại chúng từ Chúa của các Tầng Trời.” Vậy đêm ấy họ nghỉ trong ý định như thế; còn người Frank tụ quanh Đội trưởng của họ và nói, “Quả thật hôm nay chúng ta không đạt được ý mình với những kẻ này”; hắn đáp, “Vào sớm tinh mơ khi mai rạng, chúng ta sẽ dàn ra và thách đấu chúng, từng người một.” Họ cũng nghỉ với ý ấy, và cả hai trại đều canh gác cho tới khi Allah Toàn năng gửi ánh sáng bình minh. Khi ấy vua Sharrkan cùng một trăm kỵ sĩ lên ngựa, cưỡi ra đồng bằng, nơi họ thấy người Frank đã xếp thành hàng trận; và Sharrkan nói với thuộc hạ, “Kẻ thù của chúng ta đã quyết như chúng ta phải làm tròn bổn phận; vậy hãy đứng lên, đánh chúng và giáng đòn nặng.” Rồi một Sứ giả của người Frank bước ra, kêu lớn, rằng, “Hôm nay giữa chúng ta chớ có giao chiến toàn quân, mà chỉ bằng đấu tay đôi, một dũng sĩ của các ngươi đấu với một dũng sĩ của chúng ta.” Tức thì một kỵ sĩ của Sharrkan phóng ra khỏi hàng ngũ, cưỡi giữa hai trận tuyến và kêu, “Này! ai muốn chém? Hôm nay chớ để kẻ hèn nào hay tên vô lại nào giao chiến với ta!” Hắn vừa dứt lời khoe khoang thì một kỵ sĩ Frank xông ra với hắn, vũ trang từ đầu đến chân, mặc áo choàng ngoài bằng vải vàng, cưỡi trên một chiến mã xám trắng,[FN#215] và trên má không có râu. Hắn thúc ngựa lao vào giữa chiến trường, hai bên bắt đầu những hành động táo bạo bằng chém và đâm, nhưng chẳng bao lâu người Frank đã đâm người Hồi giáo bằng mũi giáo; và, hất hắn khỏi ngựa, bắt hắn làm tù binh rồi dẫn đi trong cảnh nhục nhã. Người của hắn vui mừng vì đồng đội, và cấm hắn lại ra chiến trường, rồi sai một người khác ra; một người Hồi giáo khác, anh trai của kẻ bị bắt, xông ra với hắn và thách đấu. Hai người xáp vào, kẻ này chống kẻ kia, giao chiến một lúc, cho tới khi người Frank xông xuống người Hồi giáo và, đánh lừa hắn bằng một đòn giả, hất hắn ngã khỏi chiến mã bằng một cú thúc cán giáo rồi bắt làm tù binh. Theo cách ấy, người Hồi giáo không ngừng lao ra từng người một, còn người Frank thì hất họ xuống ngựa và bắt giữ, cho tới khi ngày tàn và đêm cùng bóng tối nổi lên. Bấy giờ chúng đã bắt được hai mươi kỵ sĩ Hồi giáo, và khi Sharrkan thấy vậy, điều ấy khiến chàng đau đớn, chàng điểm lại quân mình và nói với họ, “Chuyện gì đã xảy đến với chúng ta thế này? Ngày mai, chính ta sẽ ra chiến trường, thách đấu thủ lĩnh của chúng trong cuộc đơn chiến, tìm hiểu nguyên nhân hắn vào đất chúng ta và cảnh báo hắn chớ giao chiến với đoàn chúng ta. Nếu hắn cố chấp, chúng ta sẽ trừng phạt hắn bằng cái chết; còn nếu hắn tỏ ra hòa bình, chúng ta sẽ làm hòa với hắn.” Họ qua đêm theo cách ấy cho tới khi Allah Toàn năng khiến bình minh rạng, bấy giờ cả hai bên lên ngựa và dàn trận sẵn sàng; Sharrkan sắp ra đồng bằng, nhưng kìa, hơn một nửa người Frank xuống ngựa và đi bộ trước một kẻ trong bọn vẫn cưỡi ngựa, cho tới khi họ đến giữa chiến trường. Sharrkan nhìn kỵ sĩ ấy, và kìa! đó là thủ lĩnh của họ. Hắn mặc áo choàng ngoài bằng satin xanh và áo giáp vòng xích đan khít; gương mặt như vầng trăng khi mới mọc và trên má không có râu. Trong tay hắn cầm một thanh đoản đao Ấn Độ, cưỡi một chiến mã đen tuyền có vệt trắng trên trán như đồng dirham; hắn thúc gót vào ngựa cho tới khi đứng gần giữa chiến trường, rồi ra hiệu cho người Hồi giáo và kêu bằng tiếng Ả Rập trôi chảy, “Này, Sharrkan! Này, con trai Omar bin al-Nu'uman! Này, ngươi kẻ cưỡng chiếm thành trì và lật đổ thành thị cùng xứ sở! hãy đứng lên, ra đấu trận, một mình cầm lưỡi gươm với kẻ chia đôi chiến trường cùng ngươi! Ngươi là Vương tử của dân ngươi, ta là Vương tử của dân ta; ai thắng đối thủ của mình thì người của kẻ kia hãy tuân phục hắn và vào dưới quyền hắn.” Hắn vừa dứt lời thì Sharrkan bước ra với trái tim đầy cuồng nộ, thúc ngựa vào giữa chiến trường, xáp lại như sư tử nổi giận với người Frank, kẻ đón chàng bằng sự thận trọng và vững vàng, gặp chàng bằng cách gặp của các chiến binh. Rồi họ bắt đầu đâm và bổ, không ngừng tiến công và phản kích, trao và nhận, như thể hai ngọn núi va vào nhau hay hai biển đập vào nhau; họ không ngừng chiến đấu cho tới khi ngày tối đi và đêm cứng lại. Rồi họ tách ra, mỗi người trở về phe mình; nhưng ngay khi Sharrkan gặp lại đồng đội, chàng nói, “Ta chưa từng nhìn thấy kỵ sĩ nào giống kẻ này: hắn có một phẩm chất ta chưa thấy ở ai, đó là khi kẻ thù để lộ một chỗ cho đòn chết, hắn đảo ngược vũ khí và đánh bằng cán giáo! Thật sự ta không biết kết cục giữa hắn và ta sẽ ra sao; nhưng ta ước gì trong đạo quân của chúng ta có người như hắn và những người như quân của hắn.” Rồi chàng đi nghỉ đêm, và khi sáng rạng, người Frank ra trận, cưỡi xuống giữa chiến trường, nơi Sharrkan gặp hắn; họ bắt đầu giao chiến và xoay vòng, trái rồi phải; cổ vươn ra để xem cảnh ấy, họ không ngừng tranh đấu, múa gươm và phóng giáo với hết sức hết lực, cho tới khi ngày hóa thành đêm và bóng tối phủ kín ánh sáng. Rồi hai người tách ra, mỗi người trở lại trại mình, nơi cả hai kể cho đồng đội nghe điều đã xảy ra trong cuộc đấu tay đôi; cuối cùng người Frank nói với người của hắn, “Ngày mai sẽ quyết định sự việc!” Vậy cả hai qua đêm ấy trong yên nghỉ cho tới bình minh; và ngay khi trời sáng, họ lên ngựa, mỗi người xông xuống người kia và không ngừng đánh nhau cho tới khi nửa ngày đã qua. Rồi người Frank nghĩ ra một mưu; trước hết thúc ngựa bằng gót rồi ghìm nó bằng dây cương, khiến nó vấp và ngã cùng người cưỡi; tức thì Sharrkan lao mình vào kẻ địch và định chém hắn bằng gươm, sợ rằng cuộc giao tranh kéo dài, thì người Frank kêu với chàng, “Hỡi Sharrkan, các dũng sĩ không có thói làm như vậy! Đây là hành động của một người quen bị phụ nữ đánh bại.”[FN#216] Khi Sharrkan nghe vậy, chàng ngước mắt nhìn mặt người Frank, chăm chú nhìn hắn, nhận ra trong hắn là Công chúa Abrizah, người mà cuộc phiêu lưu dễ chịu kia đã xảy ra với chàng trong tu viện; tức thì chàng ném gươm khỏi tay, hôn đất trước mặt nàng và hỏi nàng, “Điều gì khiến nàng làm việc như thế này?” nàng đáp, “Ta muốn chứng nghiệm sức mạnh của chàng ngoài chiến trường và thử sự dũng mãnh của chàng trong đánh thương và đấu ngựa. Những người đi cùng ta là các tỳ nữ của ta, và họ đều là thiếu nữ trong sạch; vậy mà họ đã đánh bại kỵ sĩ của chàng trong trận giao tranh đường hoàng trên đồng bằng; và nếu ngựa ta không vấp ngã cùng ta, chàng hẳn đã thấy sức mạnh và lòng dũng cảm của ta trong chiến đấu.” Sharrkan mỉm cười trước lời nàng và nói, “Ngợi ca Allah vì sự an toàn và vì ta được đoàn tụ với nàng, ôi Nữ vương của thời đại!” Rồi nàng gọi lớn các tỳ nữ của mình hãy thả hai mươi tù binh thuộc đội quân của Sharrkan và xuống ngựa. Họ làm theo lệnh nàng, đến hôn đất trước mặt nàng và Sharrkan, người nói với họ, “Chính những kẻ như các nàng là người mà các vua giữ lại cho giờ cần kíp.” Rồi chàng ra hiệu cho đồng đội chào Công chúa; vậy tất cả xuống ngựa và hôn đất trước mặt nàng, vì họ biết câu chuyện. Sau đó, toàn bộ hai trăm người lên ngựa, đi suốt đêm ngày trong khoảng sáu ngày, cho tới khi họ đến gần Baghdad, khi ấy họ dừng lại và Sharrkan bảo Abrizah cùng các tỳ nữ cởi bỏ y phục Frank đang mặc trên người,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi mốt đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Sharrkan bảo Công chúa Abrizah và các thiếu nữ của nàng cởi bỏ y phục đang mặc và khoác vào xiêm y của các con gái xứ Hy Lạp; và họ làm như vậy. Rồi chàng phái một nhóm bạn đồng hành đến Baghdad để báo cho cha mình là Omar bin al-Nu'uman biết việc chàng đã tới và tâu rằng chàng đi cùng Công chúa Abrizah, con gái vua Hardub, Chúa của xứ Græcia. Họ lập tức dừng lại tại nơi đã đến, và Sharrkan cũng dừng lại, tất cả qua đêm ở đó; và khi Allah Toàn năng khiến bình minh rạng, Sharrkan cùng đoàn của chàng, Abrizah cùng đoàn của nàng lên ngựa đi về phía thành; thì kìa! trên đường họ gặp tể tướng Dandan, người đã đi ra cùng một nghìn kỵ sĩ để tôn vinh Abrizah và Sharrkan, theo mệnh lệnh riêng của vua Omar con trai Al-Nu'uman. Khi hai người đến gần, họ quay về phía họ và hôn đất trước mặt họ; rồi họ lại lên ngựa và hộ tống họ vào thành, cùng họ lên cung điện. Sharrkan vào gặp cha mình, người đứng dậy ôm chàng và hỏi chàng về cảnh ngộ. Vậy chàng kể cho ngài mọi điều Abrizah đã kể với chàng, và những gì đã xảy ra giữa họ, rồi nói, “Nàng đã lìa cha mình và rời vương quốc của mình, đã chọn đứng về phía chúng ta và cư ngụ với chúng ta;” “Và quả thật,” chàng thưa với cha, “vua Constantinople đã mưu toan gây hại cho chúng ta vì con gái ông là Sophia, bởi vua Hy Lạp đã cho ông biết câu chuyện của nàng và nguyên do nàng được trao cho ngài; còn ngài ấy (vua Hy Lạp) không biết nàng là con gái vua Afridun, Chúa của Constantinople; nếu đã biết điều ấy, ngài ấy hẳn không ban nàng cho ngài, mà đã hoàn trả nàng cho cha nàng. Và quả thật,” chàng tiếp, “chúng ta thoát khỏi những hiểm nguy này chỉ nhờ phu nhân Abrizah, và chúng ta chưa từng thấy ai dũng mãnh hơn nàng.” Rồi chàng tiếp tục kể cho cha nghe mọi điều đã xảy ra từ đầu đến cuối, về việc vật nhau và đơn chiến. Khi vua Omar nghe câu chuyện của Sharrkan, Abrizah trở nên cao quý trong mắt ngài, và ngài khao khát được gặp nàng, hỏi chuyện nàng. Bấy giờ Sharrkan đi ra gặp nàng và nói, “Đức vua gọi nàng”; nàng đáp, “Thiếp nghe và tuân lệnh”; rồi chàng đưa nàng vào gặp cha mình, người đang ngồi trên ngai và, sau khi cho các đại thần lui, chỉ còn các hoạn quan hầu bên. Công chúa bước vào, hôn đất giữa hai tay ngài, chào ngài bằng những lời chọn lọc. Ngài kinh ngạc trước lời nói hùng biện của nàng và cảm tạ nàng vì cách nàng đối xử với con trai ngài Sharrkan, rồi truyền nàng ngồi. Vậy nàng ngồi xuống và hé mở mặt mình;[FN#217] và khi nhà vua thấy sắc đẹp của nàng, lý trí rời khỏi đầu ngài, ngài bảo nàng lại gần, tỏ ân sủng với nàng, chỉ định cho nàng một cung điện riêng dành cho nàng và các thiếu nữ của nàng, cấp cho họ lương và phụ cấp. Rồi ngài bắt đầu hỏi nàng về ba viên ngọc nói trên, và nàng đáp, “Chúng ở đây cùng thiếp, ôi đức vua của thời đại!” Nói vậy, nàng đứng dậy, đi về nơi ở của mình, mở hành lý và từ trong đó lấy ra một chiếc hộp, rồi từ chiếc hộp lấy một tráp vàng. Nàng mở tráp và lấy ra ba viên ngọc ấy, hôn chúng rồi dâng cho nhà vua. Rồi nàng rời đi, mang theo trái tim ngài. Sau khi nàng đi, nhà vua sai gọi con trai mình Sharrkan và trao cho chàng một viên trong ba viên ngọc; khi chàng hỏi về hai viên kia, ngài đáp, “Hỡi con trai ta! Ta định trao một viên cho em trai con Zau al-Makan, và viên kia cho em gái con Nuzhat al-Zaman.” Nhưng khi Sharrkan nghe rằng chàng có một em trai (vì đến lúc ấy chàng chỉ biết về em gái mình), chàng quay sang cha mình và nói, “Ôi đức vua, ngài có một con trai khác ngoài con sao?” Ngài đáp, “Phải, và nay nó đã sáu tuổi”; rồi nói thêm rằng tên nó là Zau al-Makan và nó cùng Nuzhat al-Zaman là song sinh, sinh cùng một lần. Tin này khiến Sharrkan đau đớn, nhưng chàng giữ kín bí mật và nói, “Cầu phúc lành của Allah Tối Cao ở trên họ!”, rồi chàng ném viên ngọc khỏi tay và phủi bụi khỏi áo quần. Nhà vua nói, “Sao ta thấy thái độ của con đổi khác khi nghe chuyện này, trong khi xét rằng sau ta, con trở thành người thừa kế vương quốc. Quả thật quân đội đã thề với con, và các Emir cùng đại nhân đã nhận lời thề kế vị nơi con; và một trong ba viên ngọc này là của con.” Sharrkan cúi đầu xuống đất và hổ thẹn không muốn đôi co với cha, nên chàng nhận viên ngọc và đi khỏi, không biết phải làm gì vì cơn giận quá độ, và không ngừng bước cho tới khi vào cung điện của Abrizah. Khi chàng đến gần, nàng đứng dậy đón chàng, cảm tạ chàng vì những gì chàng đã làm và cầu phúc cho chàng cùng cha chàng. Rồi nàng ngồi xuống và đặt chàng ngồi bên cạnh; nhưng khi chàng đã ngồi vào chỗ, nàng thấy cơn giận trên mặt chàng và hỏi chàng, bấy giờ chàng nói với nàng rằng Allah đã ban phúc cho cha chàng có hai đứa con với Sophia, một trai và một gái, và ngài đặt tên đứa trai là Zau al-Makan, đứa gái là Nuzhat al-Zaman; rồi nói thêm, “Ngài đã giữ lại hai viên ngọc kia cho chúng và đã trao cho ta một viên của nàng, nên ta để nó lại phía sau; ta không hề biết việc Zau al-Makan ra đời cho tới hôm nay, mà hai đứa ấy nay đã sáu tuổi. Vậy khi biết điều này, cơn giận chiếm lấy ta; và ta nói với nàng nguyên do cơn giận của ta, chẳng giấu nàng điều gì. Nhưng giờ ta sợ cha ta lấy nàng làm vợ, bởi ngài yêu nàng và ta đã thấy nơi ngài những dấu hiệu ham muốn nàng: vậy nàng sẽ nói gì, nếu ngài muốn điều ấy?” Nàng nói, “Hãy biết, hỡi Sharrkan, rằng cha chàng không có quyền thống trị ta, cũng không thể có ta nếu không có sự đồng ý của ta; và nếu ngài thắng ta bằng bạo lực, ta sẽ tự lấy mạng mình. Còn về ba viên ngọc, ý ta không phải để ngài trao bất cứ viên nào cho con cái ngài, và ta không nghĩ gì khác ngoài việc ngài sẽ cất chúng trong kho báu cùng các vật quý của ngài; nhưng nay ta mong nhờ ân tình của chàng rằng chàng tặng cho ta viên ngọc mà ngài đã trao cho chàng, nếu chàng đã nhận nó.” Sharrkan đáp, “Nghe và tuân lệnh,” rồi trao nó cho nàng. Rồi nàng nói, “Chớ sợ gì,” và trò chuyện với chàng một lúc rồi tiếp, “Ta sợ cha ta nghe rằng ta ở cùng các người, sẽ không nhẫn nhịn chịu mất ta, mà dốc sức tìm ta; và để làm việc ấy, có thể ông sẽ liên minh với vua Afridun, vì con gái ông là Sophia, rồi cả hai sẽ kéo quân đến đánh chàng, khi ấy sẽ xảy ra rối loạn lớn.” Khi Sharrkan nghe những lời này, chàng nói với nàng, “Thưa phu nhân, nếu nàng vui lòng lưu lại với chúng ta, chớ bận tâm đến họ; dẫu tất cả những gì trên đất và trên biển tụ lại chống chúng ta.” Nàng đáp, “Tốt lắm; nếu các người đối đãi công bằng với ta, ta sẽ ở lại với các người, còn nếu các người xử ác với ta, ta sẽ rời các người.” Rồi nàng bảo các nữ nô đem thức ăn; vậy họ dọn bàn, Sharrkan ăn một ít rồi trở về nhà mình, lòng bối rối và rối loạn. Đó là tình cảnh của chàng; còn về chuyện của cha chàng, Omar bin al-Nu'uman, sau khi cho con trai Sharrkan lui, ngài đứng dậy, cầm hai viên ngọc còn lại, đi đến chỗ phu nhân Sophia, người đứng dậy khi thấy ngài và đứng yên cho tới khi ngài ngồi xuống. Lát sau, hai con của ngài, Zau al-Makan và Nuzhat al-Zaman, đến bên ngài, ngài hôn chúng và treo một viên ngọc quanh cổ mỗi đứa, khiến chúng vui mừng và hôn tay ngài. Rồi chúng đi đến chỗ mẹ mình, người vui vì niềm vui của chúng và chúc nhà vua trường thọ; ngài hỏi nàng, “Vì sao suốt thời gian qua nàng không cho ta biết nàng là con gái vua Afridun, Chúa của Constantinople, để ta có thể tôn vinh nàng hơn nữa, mở rộng phẩm giá của nàng và nâng cao địa vị của nàng?” Sophia đáp, “Ôi đức vua, thiếp còn có thể mong gì lớn hơn hay cao hơn địa vị này của thiếp bên ngài, trong khi thiếp được chìm ngập trong ân huệ và lợi lộc của ngài? Hơn nữa, Allah đã ban phúc cho thiếp có hai đứa con với ngài, một trai và một gái.” Lời đáp của nàng làm nhà vua hài lòng, và sau khi rời nàng, ngài dành riêng cho nàng cùng các con nàng một cung điện đẹp kỳ diệu. Hơn nữa, ngài chỉ định cho họ hoạn quan và người hầu, các học giả luật pháp và các triết gia, các nhà chiêm tinh, thầy thuốc và phẫu y để phục vụ; và bằng mọi cách ngài tăng gấp bội ân huệ của mình, đối đãi với họ bằng sự đối xử tốt nhất. Chẳng bao lâu ngài trở về cung điện thống trị và triều đình của mình, nơi ngài phân xử công lý giữa các thần dân. Chuyện về ngài, Sophia và các con nàng tới đây; nhưng về việc Abrizah, nhà vua bị tình yêu dành cho nàng chiếm lấy dữ dội, và cháy bỏng ham muốn nàng đêm ngày; mỗi đêm, ngài vào gặp nàng, trò chuyện với nàng và bày tỏ sự tán tỉnh, nhưng nàng không đáp lại, chỉ nói, “Ôi đức vua của thời đại! hiện giờ thiếp không có ham muốn với nam nhân.” Khi ngài thấy nàng lánh xa mình, đam mê của ngài càng nóng hơn, nỗi khao khát và héo hon càng tăng, cho tới khi mỏi mệt vì điều này, ngài triệu tể tướng Dandan và, mở thẳng trái tim với ông, kể cho ông nghe tình yêu của mình dành cho Công chúa Abrizah, con gái Hardub, và cho ông biết nàng từ chối thuận theo ý muốn của ngài ra sao, ham muốn nàng đang khiến ngài chết dần thế nào, vì ngài không được nàng ban ơn. Tể tướng nghe những lời ấy, bèn nói với nhà vua, “Ngay khi đêm tối xuống, ngài hãy lấy một miếng Bhang chừng một miskal, khoảng một ounce, rồi vào gặp nàng và uống chút rượu cùng nàng. Khi giờ kết thúc cuộc chè chén gần đến, hãy rót cho nàng một chén cuối cùng, thả Bhang vào đó, đưa cho nàng uống, và nàng sẽ chưa kịp đến phòng ngủ thì thuốc đã phát tác. Khi ấy ngài hãy vào với nàng và lấy điều ngài muốn nơi nàng; đó là lời khuyên của thần.”[FN#218] Nhà vua nói, “Lời khuyên của ngươi là đúng,” rồi đến kho báu của mình, lấy từ đó một miếng Bhang cô đặc, nếu voi ngửi thấy cũng ngủ từ năm này sang năm khác. Ngài bỏ nó vào túi trong ngực và chờ cho đêm qua một chút, rồi đến cung điện của Công chúa Abrizah, người khi thấy ngài bèn đứng dậy đón tiếp; nhưng ngài bảo nàng ngồi xuống. Vậy nàng ngồi, ngài ngồi bên nàng và bắt đầu nói với nàng về rượu cùng vui tiệc, tức thì nàng chuẩn bị bàn chè chén[FN#219] và đặt trước mặt ngài. Rồi nàng bày các bình chén uống rượu, thắp nến và truyền đem hoa quả khô, bánh kẹo cùng mọi thứ liên quan đến việc uống. Vậy họ bắt đầu nhấp rượu, và nhà vua không ngừng mời nàng cho tới khi cơn say len vào đầu nàng; thấy vậy ngài lấy mẩu Bhang ra khỏi túi và, giữ nó giữa các ngón tay, tự tay rót đầy một chén và uống cạn. Rồi rót chén thứ hai, ngài nói, “Vì tình bầu bạn với nàng!”; và thả thuốc vào chén của nàng, trong khi nàng chẳng biết gì. Nàng cầm lấy và uống cạn; rồi đứng dậy đi về phòng ngủ. Ngài chờ chưa đến một giờ cho tới khi chắc rằng liều thuốc đã phát tác trên nàng và cướp đi giác quan của nàng, bấy giờ ngài vào với nàng và thấy nàng nằm ngửa: nàng đã cởi quần váy, còn làn khí nâng vạt áo lót của nàng lên và để lộ thứ nằm giữa hai đùi nàng. Khi nhà vua thấy tình trạng ấy và thấy một cây nến thắp sáng bên đầu nàng, một cây khác dưới chân nàng, chiếu lên điều cặp đùi nàng cất giữ, ngài lìa khỏi năm giác quan vì dục vọng, Satan quyến dụ ngài và ngài không thể làm chủ mình, bèn cởi quần và phủ lên người nàng, phá mất trinh tiết của nàng. Rồi ngài rời khỏi nàng và đi đến một nữ tỳ của nàng tên là Marjánah, nói, “Hãy vào với chủ nhân ngươi và nói chuyện với nàng.” Vậy nàng vào gặp chủ nhân và thấy nàng nằm ngửa bất tỉnh, máu chảy xuống tận bắp chân; tức thì nàng lấy khăn lau máu đi và nằm bên nàng đêm ấy. Ngay khi Allah Toàn năng đem bình minh đến, nữ tỳ Marjanah rửa tay chân cho chủ nhân, đem nước hoa hồng đến, tắm mặt và miệng nàng bằng thứ ấy, tức thì nàng hắt hơi, ngáp và nôn từ trong người ra mẩu Bhang ấy như một viên thuốc lớn.[FN#220] Rồi nàng hồi tỉnh, rửa tay và miệng rồi nói với Marjanah, “Hãy nói cho ta biết điều gì đã xảy đến với ta.” Vậy nàng kể cho nàng mọi điều đã qua và nàng đã thấy nàng ra sao, nằm ngửa, máu chảy xuống; bởi thế nàng biết rằng vua Omar bin al-Nu'uman đã nằm với nàng, làm nhục nàng và lấy ý muốn của ngài nơi nàng. Trước điều ấy nàng đau buồn quá độ và rút vào nơi riêng, nói với các thiếu nữ của mình, “Hãy từ chối bất cứ ai muốn vào gặp ta và nói với người ấy rằng ta bị bệnh, cho tới khi ta xem Allah sẽ làm gì với ta.” Lát sau tin nàng bị bệnh đến tai nhà vua; vậy ngài gửi đến nàng sherbet và thuốc ngọt đường. Nàng trải qua mấy tháng như thế trong cô độc, trong thời gian ấy ngọn lửa của nhà vua nguội đi và ham muốn của ngài đối với nàng tắt lịm, nên ngài kiêng không đến với nàng. Bấy giờ nàng đã thụ thai bởi ngài, và khi những tháng mang thai trôi qua, bụng nàng hiện rõ, phình lớn, còn thế gian trở nên chật hẹp với nàng, nên nàng nói với nữ tỳ Marjanah, “Hãy biết rằng không phải người đời đã làm sai với ta, mà chính ta đã phạm tội với bản thân mình[FN#221] khi rời cha mẹ và xứ sở. Quả thật ta ghê tởm cuộc sống, vì tinh thần ta đã gãy, chẳng còn can đảm hay sức mạnh nào nơi ta. Trước kia, khi cưỡi chiến mã, ta làm chủ được nó, nhưng nay ta không thể cưỡi nữa. Nếu ta sinh con giữa họ, ta sẽ bị ô nhục trước các tỳ nữ của mình, và mọi người trong cung điện sẽ biết rằng ngài đã lấy trinh tiết ta bằng con đường hổ thẹn; còn nếu ta trở về với cha, ta sẽ gặp người bằng gương mặt nào, hay cầu viện người bằng gương mặt nào? Thi nhân đã nói hay biết bao,
‘Hãy nói, điều gì sẽ an ủi kẻ chẳng có nhà cũng chẳng có chốn ở yên, * Chẳng bạn chén, chẳng chén rượu, chẳng nơi che đầu?’”
Marjanah đáp nàng, “Mệnh lệnh là của nàng; thiếp sẽ tuân theo”; và Abrizah nói, “Ta muốn lập tức rời khỏi nơi này một cách bí mật, để chẳng ai biết về ta ngoài ngươi; rồi trở về với cha mẹ ta, bởi khi thịt bốc mùi, chẳng có gì dành cho nó ngoài chính người thân của nó, và Allah sẽ làm với ta đúng như Người muốn.” Marjanah đáp, “Ôi Công chúa, điều nàng muốn làm là đúng.” Rồi nàng chuẩn bị mọi việc, giữ kín bí mật và chờ vài ngày cho tới khi nhà vua đi săn đuổi, còn con trai ngài Sharrkan đến một số pháo đài để lưu lại đó một thời gian. Bấy giờ nàng nói với Marjanah, “Ta muốn lên đường đêm nay, nhưng ta phải làm gì chống lại định mệnh của mình? Vì ta đã cảm thấy cơn đau chuyển dạ và sinh nở, và nếu ta ở lại thêm bốn hay năm ngày nữa, ta sẽ sinh con tại đây, rồi không thể đi về xứ mình. Nhưng đây là điều đã được viết trên trán ta.” Rồi nàng suy nghĩ một lúc, và nói với Marjanah, “Hãy tìm cho chúng ta một người sẽ đi cùng và phục vụ chúng ta trên đường, vì ta không còn sức mang binh khí.” Marjanah đáp, “Nhân danh Allah, thưa phu nhân, thiếp không biết ai ngoài một nô lệ da đen tên là Al-Ghazbán,[FN#222] một trong những nô lệ của vua Omar bin al-Nu'uman; hắn là một kẻ dũng mãnh, và canh giữ cổng cung điện của chúng ta. Nhà vua đã chỉ định hắn hầu chúng ta, và quả thật chúng ta đã ban cho hắn nhiều ân huệ; vậy, xem này, thiếp sẽ ra ngoài nói với hắn chuyện này, hứa cho hắn ít tiền và nói với hắn rằng nếu hắn muốn ở lại với chúng ta, thiếp sẽ gả hắn cho người hắn muốn. Trước hôm nay hắn từng nói với thiếp rằng hắn đã từng là kẻ cướp đường; vậy nếu hắn đồng ý với chúng ta, chúng ta sẽ đạt ý nguyện và về được đất nước mình.” Nàng đáp, “Hãy gọi hắn, để ta nói chuyện với hắn”; tức thì Marjanah đi ra và nói với tên nô lệ, “Hỡi Ghazban, cầu Allah cho ngươi thịnh vượng, để ngươi thuận theo điều phu nhân của ta nói với ngươi!” Rồi nàng cầm tay hắn và đưa hắn đến trước Công chúa, hắn hôn tay nàng, nhưng khi nàng nhìn hắn, tim nàng kinh hãi vì hắn. “Tuy nhiên,” nàng tự nhủ, “quả thật, Nhu Cầu ban ra luật”; và nàng đến gần để nói chuyện với hắn, nhưng tim nàng giật khỏi hắn. Lát sau nàng nói, “Hỡi Ghazban, nói ta nghe, ngươi có giúp ta chống lại những phản trắc của Vận Mệnh và che giấu bí mật của ta nếu ta tiết lộ với ngươi không?” Khi tên nô lệ thấy nàng, tim hắn bị đánh chiếm như bão, hắn lập tức yêu nàng và không thể không đáp; “Thưa chủ nhân, bất cứ điều gì nàng truyền tôi làm, tôi sẽ không rời khỏi nó.” Nàng nói, “Ta muốn ngươi ngay giờ này đưa ta và nữ tỳ này của ta đi, thắng yên cho chúng ta hai con lạc đà và hai con ngựa của nhà vua, đặt lên mỗi con ngựa một túi yên hàng hóa và ít lương thực, rồi đi cùng chúng ta đến đất nước của ta; ở đó, nếu ngươi muốn ở lại với chúng ta, ta sẽ gả ngươi cho người ngươi chọn trong các tỳ nữ của ta; hoặc nếu ngươi muốn trở về đất mình, chúng ta sẽ cưới vợ cho ngươi và trao cho ngươi bất cứ gì ngươi muốn sau khi ngươi đã lấy số tiền làm ngươi thỏa mãn.” Khi Al-Ghazban nghe điều này, hắn mừng rỡ vô cùng và đáp, “Thưa phu nhân, tôi sẽ phục vụ cả hai người bằng đôi mắt của tôi và sẽ đi thắng yên ngựa ngay.” Rồi hắn vui sướng đi khỏi và tự nhủ, “Ta sẽ đạt ý muốn với chúng, và nếu chúng không thuận theo ta, ta sẽ giết cả hai rồi lấy của cải của chúng.” Nhưng hắn giữ kín ý định này trong lòng, và lát sau trở lại với hai con lạc đà và ba con ngựa, một con hắn cưỡi, Công chúa Abrizah cho Marjanah cưỡi con thứ hai, nàng cưỡi con thứ ba, dù nàng đang trong cơn đau sinh và không làm chủ được mình vì đau đớn. Tên nô lệ không ngừng đi cùng họ đêm ngày qua các đèo núi, cho tới khi giữa họ và đất nước mình chỉ còn một ngày đường; khi ấy cơn đau sinh đổ xuống Abrizah và nàng không thể chống nổi nữa; vậy nàng nói với Al-Ghazban, “Hãy đặt ta xuống, vì cơn đau chuyển dạ đang ở trên ta”; rồi gọi Marjanah, “Ngươi xuống ngựa, ngồi bên ta và đỡ đẻ cho ta.” Bấy giờ Marjanah xuống khỏi ngựa, và Al-Ghazban cũng làm như vậy, họ buộc dây cương và giúp Công chúa xuống ngựa, vì nàng ngất đi bởi đau đớn quá độ. Khi Al-Ghazban thấy nàng trên mặt đất, Satan nhập vào hắn, hắn rút mã tấu, vung nó trước mặt nàng và nói, “Thưa phu nhân, xin ban cho tôi ân huệ của nàng.” Nghe những lời ấy, nàng quay sang hắn và nói, “Điều còn lại cho ta chỉ là phải trao mình cho những nô lệ da đen, sau khi ta đã từ chối các vua và kẻ dũng mãnh!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Công chúa Abrizah nói với tên nô lệ da đen Al-Ghazban, “Điều còn lại cho ta chỉ là phải trao mình cho những nô lệ Negro, sau khi ta đã từ chối các vua và kẻ dũng mãnh!” Và nàng giận dữ với hắn, kêu, “Khốn cho ngươi! những lời ngươi nói là gì vậy? Cút đi, chớ nói như thế trước mặt ta, và hãy biết rằng ta sẽ không bao giờ thuận theo điều ngươi nói, dẫu ta phải uống chén tử thần. Hãy chờ cho tới khi ta trút gánh nặng và sinh nhau thai, rồi sau đó, nếu ngươi có thể, hãy làm với ta như ngươi muốn; nhưng nếu lúc này ngươi không thôi lời dâm ô, chắc chắn ta sẽ tự tay giết mình, rời khỏi thế gian và được bình yên khỏi mọi việc này.” Rồi nàng bắt đầu ứng tác,[FN#223]
“Ôi hãy tha cho ta, hỡi Ghazban, quả thật đã đủ cho ta * Những đòn nặng của thời gian, tai ương và khốn khổ!
Chúa của ta cấm sự dâm loạn với mọi loài người; * Người phán, ‘Kẻ phá lệnh ta sẽ thấy Địa Ngục làm nhà!’
Và nếu ngươi không thôi nài ép ta vào đường dâm loạn * Chống lại ân huệ quý nhất của Đấng Toàn năng, sự trinh khiết của ta,
Ta sẽ gọi các bộ tộc của mình bằng hết sức và hết lực * Và tụ họp tất cả, dẫu họ xa hay gần;
Dẫu ta bị lưỡi gươm Yamáni chém thành mảnh, * Kẻ mưu việc hèn hạ sẽ chẳng bao giờ thấy mặt ta,
Gương mặt của kẻ sinh tự do, đến từ dòng người cao quý và dũng cảm; * Vậy mầm giống chó đẻ nô lệ có thể là gì đối với ta?”
Khi Ghazban nghe những câu ấy, hắn giận dữ vô cùng; mắt hắn đỏ ngầu máu và mặt hắn trở nên xám bụi[FN#224]; lỗ mũi hắn phồng lên, môi hắn trề ra và vẻ gớm ghiếc của diện mạo hắn tăng gấp bội. Rồi hắn ngâm những đôi câu này,
“Này nàng, Abrizah, xin thương xót! chớ bỏ ta, vì ta * Nằm đây là nạn nhân của tình yêu nàng và cái liếc Yamáni[FN#225]
Tim ta bị sự tàn nhẫn của nàng cắt thành mảnh, * Thân ta hao mòn và lòng nhẫn nại của ta chết lịm:
Từ những ánh nhìn mê hoặc mọi trái tim bằng phù phép * Lý trí bay xa, trong khi ham muốn kéo gần về phía nàng;
Dẫu theo tiếng gọi của nàng, các đạo quân phủ kín mặt đất, * Ngay giờ ta vẫn sẽ đạt ý nguyện và thách thức các thế giới cầm vũ khí!”
Khi Abrizah nghe những lời này, nàng khóc lóc thảm thiết và nói với hắn, “Khốn cho ngươi, hỡi Ghazban! Làm sao kẻ như ngươi dám thốt ra với ta đòi hỏi như thế, hỡi đồ hạ tiện sinh ra thấp hèn và giống nòi dâm tục? Ngươi tưởng mọi người đều giống nhau sao?” Khi tên nô lệ đê tiện nghe lời ấy từ nàng, hắn càng nổi giận hơn, mắt đỏ hơn: hắn tiến đến chỗ nàng, lấy gươm chém vào cổ nàng, gây cho nàng vết thương chí mạng. Rồi hắn dắt ngựa nàng cùng kho báu đi trước mình và trốn vào núi. Đó là tình cảnh của Al-Ghazban; còn về Abrizah, nàng sinh ra một bé trai, như vầng trăng, và Marjanah bồng đứa trẻ, làm những việc cần thiết cho nó, rồi đặt nó bên cạnh mẹ; và kìa, trông kìa! đứa trẻ bám vào ngực mẹ mình trong khi nàng hấp hối.[FN#226] Khi Marjanah thấy vậy, nàng thét lên một tiếng đau đớn, xé áo quần, ném bụi lên đầu và đánh vào má cho tới khi máu chảy, nói, “Than ôi, phu nhân của tôi! Than ôi, cảnh đáng thương này! Nàng đã chết dưới tay một tên nô lệ da đen vô giá trị, sau tất cả lòng dũng cảm hiệp sĩ của nàng!” Nàng không ngừng khóc thì bỗng một đám bụi lớn nổi lên và dựng tường ngang chân trời;[FN#227] nhưng sau một lúc, nó nâng lên và để lộ một đạo quân đông đảo chiến thắng. Bấy giờ đây là quân đội của vua Hardub, cha Công chúa Abrizah, và nguyên nhân ông đến là khi nghe tin con gái mình cùng các tỳ nữ đã trốn đến Baghdad, và họ ở cùng vua Omar bin al-Nu'uman, ông đã ra đi, dẫn theo những người đi với mình, để hỏi tin nàng từ những lữ khách có thể đã thấy nàng cùng nhà vua. Khi đi một ngày đường từ kinh đô của mình, ông thoáng thấy ba người cưỡi ngựa từ xa và đi về phía họ, định hỏi họ từ đâu đến và tìm tin con gái mình. Bấy giờ ba người mà ông thấy ở xa là con gái ông, Marjanah và tên nô lệ Al-Ghazban; và ông tiến về phía họ để dò hỏi. Thấy vậy, tên da đen hung ác sợ cho mình; nên hắn giết Abrizah và chạy giữ mạng. Khi họ đến gần, vua Hardub thấy con gái mình nằm chết, Marjanah khóc trên nàng, ông ném mình khỏi ngựa và ngã xuống đất ngất đi. Tất cả kỵ sĩ trong đoàn của ông, các Emir và tể tướng, xuống ngựa và lập tức dựng lều trên núi, dựng cho nhà vua một đại đình lớn, vòm tròn, bên ngoài đó các đại nhân của vương quốc đứng chầu. Khi Marjanah thấy chủ nhân của mình, nàng lập tức nhận ra ông và nước mắt tăng gấp bội; và khi ông tỉnh lại, ông hỏi nàng, nàng kể cho ông mọi điều đã xảy ra và nói, “Quả thật kẻ đã giết con gái ngài là một nô lệ da đen thuộc về vua Omar bin al-Nu'uman,” rồi nàng cho ông biết cha của Sharrkan đã đối xử với Công chúa ra sao. Khi vua Hardub nghe điều này, thế gian hóa đen trước mắt ông và ông khóc lóc thảm thiết. Rồi ông gọi một chiếc cáng và, đặt thi thể con gái mình lên đó, trở về Cæsarea, đưa nàng vào cung điện, nơi ông vào gặp mẹ mình, Zat al-Dawahi, và nói với Phu nhân Tai Ương ấy, “Người Hồi giáo sẽ đối xử với con gái ta như thế sao? Quả thật vua Omar bin al-Nu'uman đã cướp danh dự của nàng bằng vũ lực, và sau đó, một trong các nô lệ da đen của hắn đã giết nàng. Nhân sự thật của Đấng Messiah, ta chắc chắn sẽ báo thù máu cho con gái mình và xóa khỏi danh dự ta vết nhơ hổ thẹn; nếu không, ta sẽ tự tay giết mình!” Và ông khóc đau đớn lắm. Mẹ ông nói, “Không ai khác ngoài Marjanah đã giết con gái con, vì nó ngầm ghét nàng”; rồi bà tiếp tục nói với con trai, “Chớ nóng ruột về việc lấy máu đền máu cho con gái con, bởi nhân sự thật của Đấng Messiah, ta sẽ không quay lưng khỏi vua Omar bin al-Nu'uman cho tới khi ta giết hắn và các con trai hắn; và quả thật ta sẽ làm với hắn một việc vượt ngoài khả năng của Hiền giả và Hiệp sĩ, mà các sử gia sẽ kể thành biên niên trong mọi xứ sở và mọi nơi: nhưng con cần phải làm theo lệnh ta trong mọi điều ta chỉ dẫn, vì ai bám chắc vào đối tượng mình mong muốn thì chắc chắn sẽ đạt được mong muốn.” Ông đáp, “Nhân đức hạnh của Đấng Messiah, con sẽ không trái bất cứ điều gì mẹ nói.” Bấy giờ bà nói, “Hãy đem đến cho ta một số tỳ nữ, những trinh nữ ngực cao, và triệu các bậc hiền triết của thời đại, để họ dạy chúng triết học và các quy tắc ứng xử trước các vua, nghệ thuật đàm thoại và làm thơ; và hãy để họ nói với chúng về đủ mọi khoa học và tri thức giáo hóa. Các hiền giả phải là người Hồi giáo, để họ dạy chúng ngôn ngữ và truyền thống của người Ả Rập, cùng lịch sử của các Khalif và biên niên cổ xưa của các vua Al-Islam; và nếu chúng ta kiên trì việc này trong bốn năm, chúng ta sẽ thắng được việc của mình. Vậy hãy giữ linh hồn con trong kiên nhẫn và chờ đợi; bởi một người Ả Rập nói, ‘Nếu sau bốn mươi năm chúng ta mới nhận được khoản bồi thường máu, thì thời gian ấy vẫn ngắn đối với các ngươi.’ Khi chúng ta đã dạy các cô gái những điều này, chúng ta sẽ có thể thực hiện ý muốn của mình với kẻ thù, bởi hắn mê đắm đàn bà và có ba trăm sáu mươi tỳ thiếp, nay lại thêm một trăm bông hoa trong số các tỳ nữ của con từng ở cùng con gái con, người đã được thương xót.[FN#228] Ngay khi ta hoàn tất việc giáo dục chúng như đã tả với con, ta sẽ đích thân đưa chúng lên đường.” Khi vua Hardub nghe lời mẹ mình, ông vui mừng, đứng dậy và hôn đầu bà; rồi lập tức phái sứ giả và người đưa tin đến nhiều xứ sở khác nhau để tìm cho ông các hiền giả Hồi giáo. Họ vâng lệnh ông, đi đến những miền đất xa và từ đó đem về cho ông các hiền giả cùng các học giả mà ông tìm kiếm. Khi những người này vào hiện diện, ông tôn vinh họ bằng những vinh dự lớn lao, ban áo cho họ, chỉ định cho họ bổng lộc và phụ cấp, hứa cho họ nhiều tiền khi họ đã dạy xong các thiếu nữ. Rồi ông giao các tỳ nữ vào tay họ—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi ba đến.
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi các hiền giả và học giả đứng trước hiện diện của vua Hardub, ngài tôn vinh họ bằng những vinh dự lớn lao và giao các tỳ nữ vào tay họ, truyền rằng những cô gái ấy phải được dạy đủ mọi loại tri thức, triết học và các tài nghệ nhã nhặn; và họ bắt tay làm theo lệnh ngài. Đó là tình cảnh của vua Hardub; còn về vua Omar bin al Nu'uman, khi ngài trở về từ cuộc săn đuổi và săn bắn, bước vào cung điện, ngài tìm Công chúa Abrizah nhưng không thấy nàng, cũng chẳng ai biết gì về nàng hay có thể cho ngài tin tức về nàng. Điều này làm ngài đau buồn và ngài nói, “Làm sao phu nhân có thể rời cung điện mà không ai biết? Nếu vương quốc của ta bị đặt vào cảnh này, nó hẳn ở trong tình trạng hiểm nghèo, vì chẳng có ai cai quản nó! Ta sẽ không bao giờ lại đi chơi và săn bắn cho tới khi đã đặt ở các cổng những người canh giữ chúng cẩn mật!” Và ngài vô cùng bực tức, lồng ngực chật lại vì mất Công chúa Abrizah. Bấy giờ kìa, con trai ngài Sharrkan trở về từ chuyến đi; người cha kể cho chàng điều đã xảy ra, cho chàng biết phu nhân đã bỏ trốn trong khi ngài đang săn đuổi và săn bắn, khiến chàng đau buồn quá đỗi. Rồi vua Omar bắt đầu mỗi ngày đến thăm các con mình, rất mực chiều chuộng chúng, đem đến cho chúng các bậc học giả và học sĩ để dạy dỗ chúng, đồng thời cấp bổng lộc cho những người ấy. Khi Sharrkan thấy vậy, chàng nổi giận vô cùng và vì thế ghen tị với em trai cùng em gái mình, cho tới khi những dấu hiệu phẫn uất hiện trên gương mặt chàng và chàng không ngừng tiều tụy vì chuyện này: vậy một ngày kia cha chàng nói với chàng, “Vì sao ta thấy thân thể con yếu đi và mặt con vàng vọt?” Sharrkan đáp, “Ôi cha của con, mỗi khi con thấy người âu yếm em trai và em gái con, rất mực chiều chuộng chúng, lòng ghen tị liền chiếm lấy con, và con sợ nó lớn lên trong con cho tới khi con giết chúng rồi người giết con để trả thù. Đó là nguyên nhân thân thể con yếu đi và sắc mặt đổi khác. Nhưng nay con cầu xin ân huệ của người rằng người ban cho con một trong những lâu đài xa xôi của người, để con ở đó đến hết phần đời còn lại; bởi như người nói ngạn ngữ đã nói, ‘Xa bạn ta thì tốt hơn và hợp hơn cho ta’; và, ‘Điều mắt không thấy, điều ấy chẳng khiến tim đau buồn.’” Rồi chàng cúi đầu xuống đất. Khi vua Omar bin al-Nu'uman nghe lời chàng và biết nguyên nhân bệnh tật cùng sự suy sụp của chàng, ngài xoa dịu trái tim chàng và nói với chàng, “Hỡi con trai ta, ta ban cho con điều này, và trong triều đại của ta, ta không có nơi nào lớn hơn Lâu đài Damascus, quyền cai trị nó từ nay thuộc về con.” Bấy giờ ngài lập tức triệu các thư ký quốc vụ, truyền họ viết sắc chỉ phong Sharrkan làm phó vương Damascus xứ Syria. Và khi họ đã viết xong, ngài trang bị cho chàng và sai tể tướng Dandan đi cùng chàng, trao cho chàng quyền cai trị và quản trị, dặn dò chàng về chính sách và quy lệ; rồi từ biệt chàng, các đại nhân và quan chức triều đình cũng làm như vậy, và chàng lên đường cùng quân đội của mình. Khi chàng đến Damascus, dân trong thành đánh trống, thổi kèn, trang hoàng thành phố và ra đón chàng với nghi lễ trọng thể; trong khi mọi bậc danh giá và đại nhân bước đi thành đoàn rước, những người đứng bên phải ngai đi ở cánh phải chàng, những người khác ở bên trái. Chuyện về Sharrkan tới đây; còn về cha chàng, Omar bin al-Nu'uman, chẳng bao lâu sau khi con trai ngài rời đi, các thầy dạy và người giám hộ của bọn trẻ đến trước mặt ngài và thưa, “Thưa chúa công của chúng thần, các con của ngài nay đã học tri thức và hoàn toàn thông hiểu các quy tắc lễ độ cùng nghi thức nghi lễ.” Nhà vua vui mừng quá đỗi vì điều ấy và ban thưởng rộng rãi cho các học giả, khi thấy Zau al-Makan đã lớn lên, thịnh đạt và thành thạo thuật cưỡi ngựa. Vị Vương tử này đã đến tuổi mười bốn và chuyên tâm vào lòng mộ đạo cùng cầu nguyện, yêu thương người nghèo, các Olema và học trò kinh Koran, đến nỗi toàn thể dân Baghdad đều yêu mến chàng, cả đàn ông lẫn đàn bà. Một ngày kia, đoàn rước Mahmil[FN#229] của Irák đi vòng quanh Baghdad trước khi khởi hành hành hương đến Meccah và thăm viếng mộ Đấng Tiên tri (cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!). Khi Zau al-Makan thấy đoàn rước Mahmil, chàng bị một khát vọng mãnh liệt muốn trở thành người hành hương[FN#230] chiếm lấy, nên chàng vào gặp phụ vương và nói, “Con đến xin người cho phép con thực hiện cuộc hành hương.” Nhưng cha chàng cấm chàng, nói, “Hãy chờ tới năm sau, ta sẽ đi và con cũng vậy.” Khi Vương tử thấy việc ấy bị hoãn lại, chàng đến với em gái mình Nuzhat al-Zaman, người chàng thấy đang đứng cầu nguyện. Ngay khi nàng kết thúc nghi lễ sùng kính, chàng nói với nàng, “Ta đang chết vì khao khát được hành hương đến Ngôi Nhà Thiêng của Allah tại Meccah và thăm mộ Đấng Tiên tri, cầu bình an đến với Người! Ta đã xin phép cha ta, nhưng người cấm ta, vậy ta định bí mật lấy ít tiền và lên đường hành hương mà người không biết.” Nàng kêu, “Allah ở trên chàng, hãy đem em đi cùng và đừng tước khỏi em việc thăm viếng mộ Đấng Tiên tri, cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!” Và chàng đáp, “Ngay khi đêm tối xuống, em hãy ra khỏi nơi này, đừng nói với ai.” Theo đó, khi nửa đêm đến, nàng đứng dậy, lấy ít tiền và khoác y phục nam nhân; nàng không ngừng đi đến cổng cung điện, nơi nàng thấy Zau al-Makan cùng những con lạc đà đã sẵn sàng lên đường. Vậy chàng lên cưỡi và cho nàng cưỡi; hai người đi cho tới khi ở giữa đoàn hành hương Iraki[FN#231], rồi họ không ngừng đi và Allah viết sự an toàn cho họ, cho tới khi họ vào Meccah Thiêng và đứng trên Arafát, làm các nghi thức hành hương. Rồi họ thăm viếng mộ Đấng Tiên tri (cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!) và nghĩ đến việc trở về quê nhà cùng những người hành hương. Nhưng Zau al-Makan nói với em gái mình, “Hỡi em gái ta, trong lòng ta muốn thăm Ngôi Nhà Thiêng,[FN#232] Jerusalem, và Abraham, Bạn của Allah[FN#233] (cầu bình an đến với Người!).” Nàng đáp, “Em cũng muốn làm vậy.” Vậy họ đồng ý chuyện này, chàng ra đi, mua chỗ lên tàu cho mình và nàng, rồi họ chuẩn bị và lên đường trên thuyền cùng một đoàn người hành hương Jerusalem. Chính đêm ấy người em gái bị ốm vì một cơn rét sốt, bệnh nặng lắm nhưng chẳng bao lâu hồi phục, sau đó người anh cũng ngã bệnh. Nàng chăm sóc chàng trong lúc ốm, và họ không ngừng đi đường cho tới khi tới Jerusalem, nhưng cơn sốt tăng lên nơi chàng và chàng yếu dần, yếu dần. Họ xuống ở một Khan và thuê một chỗ trọ tại đó; nhưng bệnh của Zau al-Makan không ngừng tăng lên, cho tới khi chàng gầy mòn và trở nên mê sảng. Vì vậy, em gái chàng vô cùng khổ sở và kêu lên, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại! Đây là sắc lệnh của Allah!” Họ ở lại nơi ấy một thời gian, sự yếu đuối của chàng ngày càng tăng, còn nàng chăm nom chàng và mua những thứ cần thiết cho chàng cùng cho mình, cho tới khi mọi tiền bạc nàng có đều tiêu hết và nàng nghèo đến nỗi chẳng còn lấy một dirham. Rồi nàng sai một người hầu của Khan ra chợ với vài món áo quần của mình, hắn bán chúng, và nàng dùng giá tiền ấy cho anh trai; rồi nàng lại bán thêm thứ khác và không ngừng bán tất cả những gì nàng có, từng món một, cho tới khi chẳng còn gì ngoài một tấm thảm cũ. Bấy giờ nàng khóc và kêu lên, “Quả thật Allah là Đấng An Bài quá khứ và tương lai!” Lát sau anh trai nàng nói với nàng, “Hỡi em gái ta, ta cảm thấy sự hồi phục đang đến gần và tim ta thèm một ít thịt quay.” Nàng đáp, “Nhân danh Allah! ôi anh trai của em, em không có mặt mũi nào đi xin; nhưng ngày mai em sẽ vào nhà một người giàu nào đó và hầu hạ ông ta, kiếm chút gì cho cuộc sống của chúng ta.” Rồi nàng suy nghĩ một lúc và nói, “Quả thật khó cho em phải rời anh khi anh đang trong tình trạng này, nhưng bất chấp lòng mình, em phải làm!” Chàng đáp, “Allah ngăn cấm! Em sẽ bị hổ thẹn; nhưng không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah!” Và chàng khóc, nàng cũng khóc. Rồi nàng nói, “Ôi anh trai của em, chúng ta là người xa lạ đã ở đây trọn một năm, nhưng chưa ai từng gõ cửa chúng ta. Vậy chẳng lẽ chúng ta phải chết đói sao? Em không biết cách nào khác ngoài việc ra ngoài làm việc hầu hạ và kiếm chút gì để giữ chúng ta sống, cho tới khi anh khỏi bệnh, khi ấy chúng ta sẽ trở về quê hương.” Nàng ngồi khóc một lúc, chàng cũng khóc, chống người lên khuỷu tay. Rồi Nuzhat al-Zaman đứng dậy và, che đầu bằng một mảnh camlet,[FN#234] vốn từng thuộc y phục của người dắt lạc đà và chủ nó đã quên để lại chỗ họ; nàng hôn đầu anh trai, ôm chàng rồi rời khỏi chàng, vừa khóc vừa không biết mình nên đi về đâu. Và nàng không ngừng đi, còn anh trai nàng Zau al-Makan đợi nàng trở về cho tới giờ ăn tối; nhưng nàng không đến, và chàng chờ nàng cho tới sáng hôm sau mà nàng vẫn không trở lại; việc này kéo dài đến hai ngày trôi qua. Chàng vô cùng lo lắng vì chuyện ấy, tim run lên vì nàng, và cơn đói đè nặng lên chàng. Cuối cùng chàng rời căn phòng và, gọi người hầu của caravanserai, nói, “Ta muốn ngươi đưa ta ra chợ.” Vậy hắn mang chàng đến phố chợ và đặt chàng nằm xuống đó; dân Jerusalem tụ quanh chàng, động lòng rơi lệ khi thấy tình trạng của chàng. Chàng ra hiệu cho họ xin chút gì để ăn; vậy họ đem cho chàng một ít tiền từ một số thương nhân trong chợ, rồi mua thức ăn và cho chàng ăn; sau đó họ khiêng chàng đến một cửa hiệu, nơi họ trải cho chàng một tấm chiếu lá chà là và đặt một bình nước bên đầu chàng. Khi đêm xuống, mọi người đi khỏi, hết sức bận lòng vì chàng, và giữa đêm, chàng nhớ đến em gái mình, bệnh tình lại tăng gấp đôi, khiến chàng thôi ăn uống và trở nên vô tri với thế giới quanh mình. Rồi người trong chợ đứng dậy, lấy cho chàng từ các thương nhân ba mươi bảy dirham, thuê một con lạc đà và nói với người dắt lạc đà, “Hãy đưa người bệnh này đến Damascus và để hắn ở bệnh viện; có lẽ hắn được chữa và hồi phục sức khỏe.” Người dắt lạc đà đáp, “Xin đặt trên đầu tôi!”; nhưng hắn tự nhủ, “Ta sẽ đưa người bệnh này đến Damascus thế nào, khi hắn gần chết?” Vậy hắn mang chàng đến một nơi và ẩn cùng chàng cho tới đêm, khi hắn ném chàng xuống đống tro gần lò lửa của một Hammam rồi đi đường mình. Khi bình minh rạng, Người Đốt Lò[FN#235] của nhà tắm đến làm việc và, thấy Zau al-Makan bị ném nằm ngửa, kêu lên, “Sao họ không ném xác chết của họ ở đâu khác mà lại ở đây?” Nói vậy, ông đá chàng một cái, và chàng cử động; tức thì Người Đốt Lửa nói, “Một gã nào đó trong các ngươi đã ăn chút Hashish rồi ném mình xuống bất cứ chỗ nào đây!” Rồi ông nhìn mặt chàng, thấy đôi má không râu, vẻ duyên dáng và đẹp đẽ của chàng; vậy ông thương xót chàng và biết chàng là người bệnh, lại là khách lạ trong xứ. Và ông kêu, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah! quả thật ta đã phạm lỗi với chàng trai này, bởi Đấng Tiên tri (cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!) đã dạy phải tôn trọng người xa lạ, nhất là khi người xa lạ bị bệnh.” Rồi ông mang chàng về nhà, vào cùng chàng đến chỗ vợ mình và dặn bà chăm sóc chàng. Vậy bà trải cho chàng một tấm thảm ngủ, đặt một cái gối dưới đầu chàng, rồi đun nước ấm cho chàng và dùng nước ấy rửa tay, chân và mặt chàng. Trong khi đó, Người Đốt Lò ra chợ mua ít nước hoa hồng và đường, rồi rảy nước ấy lên mặt Zau al-Makan và cho chàng uống sherbet. Sau đó ông lấy một chiếc áo sạch và mặc cho chàng. Nhờ vậy, Zau al-Makan ngửi thấy làn gió nhẹ của sức khỏe, sự hồi phục trở lại với chàng; và chàng ngồi dậy, tựa vào gối. Trước việc này, Người Đốt Lửa vui mừng và kêu lên, “Ngợi ca Allah vì sự bình an của chàng trai này! Ôi Allah, con khẩn cầu Người nhân tri thức của Người về những điều ẩn kín, hãy khiến sự cứu thoát của chàng trai này nằm trong tay con!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi bốn đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Người Đốt Lửa kêu lên, “Ôi Allah, con khẩn cầu Người nhân tri thức của Người về những điều ẩn kín, hãy khiến mạng sống của chàng trai này là việc làm của đôi tay con!” Và ông không ngừng chăm sóc chàng suốt ba ngày, cho chàng uống sherbet đường, nước hoa liễu và nước hoa hồng; làm cho chàng mọi việc phục vụ và tử tế, cho tới khi sức khỏe bắt đầu trở lại thân thể chàng và Zau al-Makan mở mắt. Lát sau Người Đốt Lửa bước vào và, thấy chàng ngồi dậy, lộ dấu hiệu khá hơn, bèn nói với chàng, “Tình trạng của con giờ thế nào, hỡi con trai ta?” Zau al-Makan đáp, “Ngợi ca Allah, con khỏe và có vẻ sẽ hồi phục, nếu đó là ý của Allah Toàn năng vào lúc này.” Người Đốt Lò ca tụng Chúa của Tất Cả vì điều này và, vội đi ra chợ, mua mười con gà, đem về cho vợ và nói, “Mỗi ngày hãy giết hai con cho chàng, một con lúc bình minh và con kia khi ngày tàn.” Vậy bà đứng dậy, giết một con gà và đem đến cho chàng đã luộc chín, cho chàng ăn thịt và uống nước luộc. Khi chàng ăn xong, bà lấy nước nóng để chàng rửa tay rồi nằm lại trên gối, bấy giờ bà đắp chăn cho chàng, và chàng ngủ cho tới giờ cầu nguyện giữa buổi chiều. Rồi bà đứng dậy, giết một con gà khác và luộc nó; sau đó chặt ra và đem đến cho Zau al-Makan, nói, “Hãy ăn, hỡi con trai ta!” Trong khi chàng đang ăn; kìa, chồng bà bước vào, thấy bà đang cho chàng ăn, bèn ngồi xuống bên đầu chàng và nói với chàng, “Giờ con thế nào, hỡi con trai ta?” Chàng đáp, “Tạ ơn Allah vì được hồi phục! cầu Đấng Toàn năng đền đáp lòng tốt của ông dành cho tôi.” Nghe vậy Người Đốt Lửa vui mừng, đi ra mua sherbet hoa violet và nước hoa hồng rồi cho chàng uống. Bấy giờ Người Đốt Lò thường làm việc ở Hammam suốt ngày với tiền công năm dirham, trong đó mỗi ngày ông chi cho Zau al-Makan một dirham mua đường và sherbet nước hoa hồng cùng nước hoa liễu,[FN#236] một dirham khác mua gà; và ông không ngừng đối đãi tử tế với chàng như vậy suốt trọn một tháng, cho tới khi dấu vết bệnh tật rời khỏi chàng và chàng lại khỏe mạnh nguyên vẹn. Bấy giờ Người Đốt Lửa và vợ ông vui mừng, hỏi chàng, “Hỡi con trai ta, con có muốn đi cùng ta đến nhà tắm không?” chàng đáp, “Có!” Vậy Người Đốt Lò ra chợ tìm một cậu dắt lừa, đặt Zau al-Makan lên lưng lừa và đỡ chàng trên yên cho tới khi họ đến nhà tắm. Rồi ông cho chàng ngồi xuống, đặt cậu dắt lừa ở phòng lò, rồi đi ra chợ mua lá lote và bột lupin,[FN#237] đem về nhà tắm và nói với Zau al-Makan, “Thưa chủ nhân, nhân danh Allah, xin bước vào, tôi sẽ tắm rửa thân thể cho ngài.” Vậy họ vào phòng trong của nhà tắm, và Người Đốt Lửa bắt đầu xoa bóp chân Zau al-Makan, bắt đầu rửa thân chàng bằng lá và bột, thì có một người tắm thuê đến với họ, được chủ nhà tắm sai đến cho Zau al-Makan; hắn thấy Người Đốt Lò đang tắm rửa và xoa bóp chàng, bèn nói, “Làm thế là xâm hại quyền của chủ nhà tắm.” Người Đốt Lửa đáp, “Chủ nhân đã ban ân huệ ngập đầu chúng ta!” Rồi người tắm thuê bắt đầu cạo đầu Zau al-Makan, sau đó chàng và Người Đốt Lò tắm rửa, rồi trở về nhà, nơi ông mặc cho Zau al-Makan một chiếc áo bằng vải tốt và một áo choàng của chính mình; trao cho chàng một khăn quấn đầu đẹp, một đai lưng và một khăn nhẹ quấn quanh cổ chàng. Trong khi ấy vợ Người Đốt Lửa đã giết và nấu hai con gà; vậy ngay khi Zau al-Makan bước vào và ngồi xuống trên thảm, người chồng đứng dậy, hòa đường trong nước hoa liễu, cho chàng uống. Rồi ông đem mâm thức ăn đến và, chặt gà ra, cho chàng ăn thịt, cho chàng uống nước luộc cho tới khi chàng no; khi chàng rửa tay và ngợi ca Allah vì hồi phục, chàng nói với Người Đốt Lửa, “Ông là người mà Đấng Toàn năng đã ban cho tôi và khiến thành nguyên nhân chữa lành tôi!” Người kia đáp, “Bỏ lời ấy đi, và hãy kể cho chúng ta nguyên nhân ngươi đến thành này cùng ngươi từ đâu đến. Gương mặt ngươi cho thấy dấu hiệu của dòng dõi thanh nhã.” Zau al-Makan nói, “Trước hết hãy kể cho ta nghe ông đã gặp ta thế nào; rồi sau đó ta sẽ kể chuyện của mình.” Người Đốt Lửa đáp, “Về việc ấy, ta thấy ngươi nằm trên đống rác bên cửa lò lửa, khi ta đi làm lúc gần sáng, và không biết ai đã ném ngươi ở đó. Vậy ta đem ngươi về nhà cùng ta; và đó là toàn bộ câu chuyện của ta.” Zau al-Makan nói, “Vinh quang thay Đấng làm sống lại xương cốt, dẫu chúng đã mục nát! Quả thật, hỡi huynh đệ, ông đã làm điều thiện không phải với ai ngoài một người xứng đáng với điều ấy, và chẳng bao lâu ông sẽ hái quả của nó.” Rồi chàng nói thêm, “Nhưng hiện giờ ta đang ở đâu?” Người Đốt Lò đáp, “Ngươi đang ở thành Jerusalem”; tức thì Zau al-Makan nhớ đến thân phận khách lạ và nhớ sự chia lìa với em gái mình, rồi khóc. Sau đó chàng tiết lộ bí mật với Người Đốt Lửa, kể cho ông nghe câu chuyện của mình và bắt đầu ngâm,
“Trong tình yêu, họ mang ta xa hơn sức ta có thể đi, * Và vì họ khiến ta chịu cơn đau như ngày phục sinh:
Ôi hãy thương xót, hỡi kẻ tàn nhẫn! linh hồn này của ta * Từ khi các người ra đi, cả kẻ thù ganh tị cũng phải xót thương;
Chớ tiếc lòng thương dịu dàng của một thoáng nhìn qua * Để làm nhẹ cảnh ta, làm dịu nỗi sầu quá độ này:
Ta nói, ‘Hỡi tim, hãy chịu mất mát này trong nhẫn nại!’ Nhẫn nại kêu, * ‘Hãy coi chừng! Trong cảnh như vậy ta chẳng quen tỏ mình.’”
Rồi chàng lại khóc nhiều hơn, và Người Đốt Lửa nói với chàng, “Chớ khóc, mà hãy ngợi ca Allah vì an toàn và hồi phục.” Zau al-Makan hỏi, “Từ đây đến Damascus bao xa?” Người kia đáp, “Sáu ngày đường.” Bấy giờ Zau al-Makan nói, “Ông có đưa ta đến đó không?” Người Đốt Lò nói, “Thưa chúa công, làm sao tôi có thể để ngài đi một mình, mà ngài lại là một chàng trai, thêm nữa là người xa lạ? Nếu ngài muốn đi đến Damascus, tôi là người sẽ đi cùng ngài; và nếu vợ tôi nghe lời và vâng tôi, cùng đi với tôi, tôi sẽ định cư ở đó; bởi chia lìa ngài không phải chuyện nhẹ.” Rồi ông nói với vợ, “Nàng có đi cùng ta đến Damascus xứ Syria, hay nàng ở lại đây trong khi ta dẫn chúa công của ta đến đó rồi trở về với nàng? Bởi ngài quyết đi đến Damascus xứ Syria, và nhân danh Allah, thật khó cho ta phải xa ngài, và ta lo cho ngài trước bọn cướp đường.” Bà đáp, “Thiếp sẽ đi cùng cả hai người”; ông nói, “Ngợi ca Allah vì sự đồng thuận, và chúng ta đã nói lời cuối!” Rồi ông đứng dậy, bán hết đồ đạc của mình và vật dụng của vợ,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói,
Khi đêm thứ năm mươi lăm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Người Đốt Lửa và vợ ông đồng ý với Zau al-Makan sẽ đi cùng chàng về hướng Damascus. Rồi Người Đốt Lò bán đồ đạc của mình cùng vật dụng của vợ, mua một con lạc đà và thuê một con lừa cho Zau al-Makan; họ lên đường, không ngừng đi suốt sáu ngày cho tới khi đến Damascus. Họ tới đó vào lúc chiều tối; khi ấy Người Đốt Lửa đi ra và, như lệ thường, mua ít thịt cùng đồ uống. Họ ở Damascus mới năm ngày thì vợ ông ngã bệnh và, sau một cơn ốm ngắn, được chuyển đến lòng thương xót của Allah Toàn năng. Cái chết của bà là việc nặng nề đối với Zau al-Makan, vì chàng đã quen với bà do bà chăm sóc chàng tận tụy; còn Người Đốt Lửa đau buồn vì bà bằng nỗi buồn quá độ. Lát sau Vương tử quay sang Người Đốt Lò, thấy ông đang tang tóc, bèn nói với ông, “Chớ buồn, vì tất cả chúng ta đều phải bước vào cổng này.” Ông đáp, “Cầu Allah làm phần của ngài tốt lành, hỡi con trai ta! Chắc chắn Người sẽ bù đắp chúng ta bằng các ân huệ của Người và khiến tang tóc của chúng ta chấm dứt. Con nghĩ sao, hỡi con trai ta, về việc chúng ta đi dạo ngoài phố để ngắm Damascus và làm tinh thần con vui lên?” Zau al-Makan đáp, “Ý ông là ý tôi.” Vậy Người Đốt Lửa đứng dậy, đặt tay mình vào tay Zau al-Makan và cả hai đi cho tới khi đến chuồng ngựa của Phó vương Damascus, nơi họ thấy lạc đà chở rương, thảm và vải gấm, ngựa thắng yên sẵn sàng cùng lạc đà Bactria, trong khi Mameluke, nô lệ da đen và người trong cảnh ồn ào chạy qua chạy lại. Zau al-Makan nói, “Ta tự hỏi tất cả tài sản, lạc đà và vải vóc này thuộc về ai!” Vậy chàng hỏi một trong các hoạn quan, “Việc phái đi này đến đâu?” và hắn đáp, “Đây là quà tặng do Emir của Damascus gửi đến vua Omar bin al-Nu'uman, cùng cống phẩm của Syria.” Bấy giờ khi Zau al-Makan nghe tên cha mình, mắt chàng tràn lệ, và chàng bắt đầu ngâm,
“Ôi những người đã khuất khỏi ánh nhìn của đôi mắt được giải thoát này, * Các người mà hình bóng trong linh hồn ta sẽ mãi cư ngụ!
Duyên sắc các người đã đi, nhưng trái tim này của ta * Chẳng có vị ngọt, và chẳng thú vui nào xua được chua cay;
Nếu ân sủng Allah khiến chúng ta lại gặp nhau, * Trong câu chuyện tình dài dằng dặc, tình yêu của ta sẽ được nói.”
Và khi chàng dứt lời thơ, chàng khóc, còn Người Đốt Lửa nói với chàng, “Hỡi con trai ta, chúng ta vừa mới tin rằng sức khỏe con đã trở lại;[FN#238] vậy hãy vững lòng và đừng khóc, vì ta sợ bệnh tái phát nơi con.” Ông không ngừng an ủi và làm chàng vui, trong khi Zau al-Makan thở dài và rên rỉ vì thân phận khách lạ cùng sự chia lìa em gái và gia đình; nước mắt tuôn từ mắt chàng và chàng ngâm những đôi câu này,
“Hãy lấy lương thực trong cõi đời này trước khi ngươi lên đường, * Và biết chắc Tử Thần sẽ giáng xuống, rình chờ phần đời ngươi:
Mọi của cải thế gian của ngươi đều là kiêu hãnh và nỗi đau hối tiếc cay đắng nhất; * Mọi đời sống thế gian của ngươi là phiền não, là phô bày vô ích của linh hồn:
Hãy nói, chẳng phải chốn ở đời giống nơi nghỉ của kẻ lữ hành sao, * Nơi đêm hắn ‘nakhs’[FN#239] lạc đà và rời đi lúc bình minh?”
Và chàng tiếp tục khóc than vì chia lìa; trong khi Người Đốt Lửa cũng khóc thương mất vợ, song vẫn không ngừng an ủi Zau al-Makan cho tới khi bình minh rạng. Khi mặt trời lên, ông nói với chàng, “Ta thấy dường như con khao khát quê hương?” Zau al-Makan đáp, “Vâng, và tôi không thể nấn ná ở đây nữa; vậy tôi sẽ phó thác ông cho sự chăm nom của Allah và lên đường cùng những người này, đi cùng họ, từng chút một, cho tới khi tôi về đến đất mẹ.” Người Đốt Lò nói, “Và ta đi cùng con; bởi quả thật ta không thể chịu nổi chia lìa con. Ta đã hầu hạ con bằng lòng tốt và ta muốn hoàn tất điều ấy bằng cách chăm nom con trên đường đi.” Trước điều này, Zau al-Makan vui mừng và nói, “Cầu Allah đền đáp ông dồi dào vì tôi!” và hài lòng với ý nghĩ họ sẽ cùng đi. Người Đốt Lửa lập tức đi ra, bán con lạc đà và mua một con lừa khác; rồi chuẩn bị lương thực, nói với Zau al-Makan, “Con lừa này để con cưỡi trên đường; và khi con mỏi vì cưỡi, con có thể xuống đi bộ.” Zau al-Makan nói, “Cầu Allah ban phúc cho ông và giúp tôi đền đáp ông! bởi quả thật ông đã đối đãi với tôi còn thương yêu hơn người ta đối đãi với anh em mình.” Rồi chàng chờ cho tới khi đêm tối xuống, khi ấy chàng đặt lương thực và hành lý lên con lừa ấy rồi lên đường. Đó là những gì xảy đến với Zau al-Makan và Người Đốt Lửa; còn về điều xảy ra với em gái chàng Nuzhat al-Zaman, khi nàng rời anh trai mình trong Khan nơi họ ở và, quấn trong tấm camlet cũ, đi ra tìm người để hầu hạ, hầu kiếm được tiền mua cho chàng món thịt quay mà chàng thèm, nàng đi mãi, vừa khóc vừa không biết nên đi đâu, trong khi tâm trí đầy những ý nghĩ về anh trai, gia đình và quê hương mình. Vậy nàng khẩn cầu Allah Toàn năng cất bỏ những tai ương này khỏi họ và bắt đầu gieo vần,
“Đêm tối buông xuống và Đam Mê đến, khiến ta chịu đau đớn dữ dằn, * Và héo hon khuấy dậy những cơn nhức nhối không ngừng đang làm ta khổ sở,
Lửa chia lìa không thôi thiêu đốt ruột gan ta, * Và nỗi ngây cuồng của sầu này đẩy ta đi trên đường hủy diệt
Nỗi nhớ sinh trong ta sự bồn chồn; ham muốn mãi bốc cháy, * Và nước mắt tuyên cáo với mọi người điều ta muốn giữ kín
Ta chẳng biết mưu kế khéo nào để giành một cuộc gặp, * Để ta rời cảnh bệnh này, để chữa lành chứng tật của ta:
Tình yêu cháy rực trong tim ta được nuôi bằng củi tưởng tượng, * Người yêu từ địa ngục lửa ấy phải chịu đau đớn Địa Ngục![FN#240]
Ôi ngươi, kẻ trách ta vì mọi điều đã xảy đến với ta, thế là đủ, * Ta nhẫn nại chịu mọi điều Cây Bút Định Mệnh đã viết cho ta:
Nhân Tình Yêu ta thề, ta sẽ không bao giờ được an ủi, không, chẳng bao giờ nữa; * Ta thề lời thề của chính nô lệ Tình Yêu, những người không biết bội thề:
Ôi Đêm, hãy tuyên với các biên niên gia của Tình Yêu tin về ta; * Rằng giấc ngủ đã nuôi mí mắt ta, hãy làm chứng cho tri thức của ngươi!”
Rồi nàng đi tiếp, vừa khóc vừa nhìn phải nhìn trái khi bước, thì kìa, một lão Badawi[FN#241] trông thấy nàng, hắn đã từ sa mạc vào thành cùng năm người Ả Rập hoang dã khác. Lão già chú ý đến nàng và thấy nàng xinh đẹp, nhưng trên đầu nàng chẳng có gì ngoài một mảnh camlet, và kinh ngạc trước sắc đẹp của nàng, hắn tự nhủ, “Nàng quyến rũ này làm lóa trí khôn nam nhân, nhưng nàng đang trong cảnh tồi tàn; và dẫu nàng là người trong thành này hay là khách lạ, ta nhất định phải có nàng.” Vậy hắn theo nàng, từng chút một, cho tới khi gặp nàng mặt đối mặt và chặn đường nàng trong một ngõ hẹp, gọi nàng, hỏi cảnh ngộ của nàng và nói, “Hãy nói ta nghe, hỡi con gái nhỏ của ta! nàng là phụ nữ tự do hay là nữ nô?” Khi nghe điều này, nàng nói với hắn, “Vì mạng ông, xin đừng thêm vào nỗi sầu của tôi!” Hắn nói, “Allah đã ban phúc cho ta sáu con gái, năm đứa đã chết và chỉ còn lại một, đứa nhỏ nhất; và ta đến hỏi xem nàng là người trong thành này hay là khách lạ; để ta có thể đưa nàng về với nó, làm bạn với nó, giúp nó khuây khỏa nỗi héo hon vì các chị em nó. Nếu nàng không có thân thích, ta sẽ xem nàng như một trong số họ, và nàng cùng nó sẽ là hai con của ta.” Nuzhat al-Zaman cúi đầu vì thẹn thùng khi nghe những lời hắn nói và tự nhủ, “Có lẽ ta có thể tin cậy lão già này.” Rồi nàng nói với hắn, “Ôi chú, tôi là một thiếu nữ Ả Rập, một người xa lạ, và tôi có một người anh đang bệnh; nhưng tôi sẽ đi với ông đến chỗ con gái ông với một điều kiện, đó là tôi chỉ ở ban ngày cùng nàng, còn ban đêm trở về với anh tôi. Nếu ông thỏa thuận điều này, tôi sẽ đi với ông, vì tôi là người xa lạ và từng được tôn trọng cao giữa bộ tộc mình, rồi một sáng thức dậy thấy mình hèn hạ và thấp kém. Tôi đến cùng anh tôi từ xứ Al-Hijaz, và tôi sợ rằng chàng không biết tôi ở đâu.” Khi lão Badawi nghe vậy, hắn tự nhủ, “Nhân danh Allah, ta đã đạt được điều ta muốn!” Rồi hắn quay sang nàng và đáp, “Sẽ chẳng có ai thân yêu với ta hơn nàng; ta chỉ muốn nàng làm bạn với con gái ta ban ngày và nàng sẽ đi về với anh nàng lúc đêm vừa xuống. Hoặc, nếu nàng muốn, hãy đưa chàng đến ở cùng chúng ta.” Và lão Badawi không ngừng an ủi lòng nàng và dỗ dành nàng, cho tới khi nàng tin hắn và đồng ý hầu hạ hắn. Rồi hắn đi trước nàng, và khi nàng theo sau, hắn nháy mắt cho người của hắn đi trước, thắng dây lạc đà chạy nhanh, chất hành lý lên chúng, đặt nước và lương thực lên trên, sẵn sàng khởi hành ngay khi hắn đến chỗ lạc đà. Bấy giờ lão Badawi này là một kẻ thô bỉ hạ tiện, một tên cướp đường và kẻ phản bội người bạn mà hắn nắm giữ thân thiết nhất, một tên vô lại từ cốt tủy, bậc thầy của âm mưu và lừa lọc. Hắn không có con gái cũng chẳng có con trai, chỉ là đang đi qua thành thì, theo sắc lệnh của Đấng Định Đoạt, hắn gặp phải người bất hạnh này. Và hắn không ngừng chuyện trò với nàng trên đường cái cho tới khi họ ra khỏi thành Jerusalem; khi ở bên ngoài, hắn nhập bọn với bạn mình và thấy chúng đã chuẩn bị xong lạc đà chạy nhanh. Vậy lão Badawi cưỡi một con lạc đà, đặt Nuzhat al-Zaman ngồi sau hắn, và họ đi suốt đêm. Bấy giờ nàng biết đề nghị của lão Badawi là một cái bẫy và hắn đã lừa nàng; nàng tiếp tục khóc và kêu suốt cả đêm dài, trong khi họ đi mãi về phía núi, vì sợ có ai thấy họ. Khi gần sáng, họ xuống khỏi lạc đà chạy nhanh, và lão Badawi đến chỗ Nuzhat al-Zaman, nói với nàng, “Hỡi con đĩ thành thị, khóc lóc gì thế? Nhân danh Allah, nếu ngươi không im miệng, ta sẽ đánh ngươi đến chết, hỡi đồ rác rưởi thành thị!” Khi nghe vậy, nàng ghê tởm cuộc sống và khao khát cái chết; nên nàng quay sang hắn và nói, “Ôi lão già đáng nguyền rủa, ôi bộ râu bạc của địa ngục, sao ta đã tin ngươi mà ngươi lại lừa phản ta, và nay ngươi muốn hành hạ ta?” Khi nghe lời đáp của nàng, hắn kêu lớn, “Ôi con lười nhác hư hỏng, ngươi dám đôi co với ta sao?” Rồi hắn đứng lên với nàng, lấy roi đánh nàng, nói, “Nếu ngươi không im, ta sẽ giết ngươi!” Vậy nàng im lặng một lúc, rồi nhớ đến anh trai mình và cảnh hạnh phúc mình từng có, nàng âm thầm rơi lệ. Ngày hôm sau, nàng quay sang lão Badawi và nói với hắn, “Sao ông có thể lừa tôi bằng trò này và dụ tôi vào những núi trọc đầy đá này, và ông định làm gì với tôi?” Khi nghe lời nàng, hắn cứng lòng và nói với nàng, “Ôi con lười nhác xui xẻo và hỗn láo! ngươi muốn đôi co với ta sao?” rồi hắn cầm roi quất xuống lưng nàng cho tới khi nàng cảm thấy muốn ngất. Rồi nàng cúi xuống chân hắn và hôn[FN#242] chúng; hắn thôi đánh nàng, bắt đầu chửi rủa nàng và nói, “Nhân quyền của chiếc mũ ta đội,[FN#243] nếu ta thấy hay nghe ngươi khóc, ta sẽ cắt lưỡi ngươi và nhét nó vào chỗ kín của ngươi, hỡi đồ rác rưởi thành thị!” Vậy nàng im lặng và không đáp lời hắn, vì trận đòn làm nàng đau; mà ngồi xuống, vòng tay quanh gối, cúi đầu trên cổ áo, bắt đầu nhìn vào cảnh ngộ và sự thấp hèn của mình sau phần số vinh dự cao sang; rồi trận đòn nàng đã chịu; nàng nhớ đến anh trai, bệnh tật và cảnh bơ vơ của chàng, nhớ việc cả hai đều là khách lạ nơi xứ xa, điều ấy khiến nước mắt chảy xuống má nàng và nàng khóc lặng lẽ rồi bắt đầu ngâm,
“Thời gian vốn quen nâng lên rồi hạ xuống, * Chẳng có tình trạng nào bền lâu cho giống người:
Trong cõi đời này, mỗi vật đều có lượt định sẵn; * Người không thể vượt qua chỗ đã định của mình:
Bao lâu nữa những hiểm nguy và khổ nạn này? Ôi khốn * Cho một đời, toàn khốn khổ trong cảnh hiểm nghèo!
Allah chớ ban phúc cho những ngày đã đặt ta thấp xuống * Trong cõi đời, với nhục nhã sau quá nhiều ân sủng!
Ước vọng ta bị cản, hy vọng ta bị quật ngã, * Và khoảng cách ngăn ta chào gương mặt người ấy:
Ôi ngươi, kẻ đi qua cửa người thân yêu ấy, * Hãy nói thay ta, những giọt lệ này sẽ chảy mãi!”
Khi nàng đã dứt lời thơ, lão Badawi đến gần nàng và, động lòng thương nàng, nói với nàng tử tế rồi lau nước mắt cho nàng. Sau đó hắn đưa nàng một ổ bánh lúa mạch và nói, “Ta không ưa kẻ đáp trả vào những lúc ta đang nổi giận: vậy từ nay chớ cho ta thêm những lời hỗn láo này, và ta sẽ bán ngươi cho một người tốt như ta, người sẽ đối đãi tốt với ngươi, giống như ta đã làm.” Nàng đáp, “Vâng; mọi điều ông làm đều đúng”; và khi đêm dài dằng dặc với nàng, còn cơn đói thiêu đốt nàng, nàng ăn rất ít bánh lúa mạch ấy. Giữa đêm lão Badawi ra lệnh khởi hành,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi lão Badawi đưa ổ bánh lúa mạch cho Nuzhat al-Zaman và hứa sẽ bán nàng cho một người tốt giống như hắn, nàng đáp, “Ông làm điều gì cũng phải cả!” và, vào khoảng nửa đêm khi cơn đói thiêu đốt nàng,[FN#244] nàng ăn rất ít thứ bánh lúa mạch ấy, rồi lão Badawi truyền cho đoàn của hắn lên đường; vậy họ chất hành lý, hắn cưỡi một con lạc đà, đặt Nuzhat al-Zaman ngồi phía sau. Rồi họ đi và không ngừng đi trong ba ngày, cho tới khi vào thành Damascus và xuống nghỉ tại Khan của Sultan, ngay gần Cổng Phó vương. Bấy giờ sắc mặt nàng đã phai vì sầu khổ và mệt nhọc bởi cuộc hành trình ấy, và nàng không ngừng khóc cho những tai ương của mình. Vậy lão Badawi đến gần nàng và nói, “Hỡi đồ rác rưởi thành thị, nhân quyền chiếc mũ ta đội, nếu ngươi không thôi khóc lóc, ta sẽ chẳng bán ngươi cho ai ngoài một tên Do Thái!” Rồi hắn đứng dậy, cầm tay nàng, đưa nàng vào một căn phòng, rồi bỏ đi ra chợ; hắn đi vòng quanh các thương nhân chuyên buôn nữ nô, bắt đầu thương lượng với họ, nói, “Ta đã đem tới một nữ nô có anh trai bị bệnh, và ta đã gửi hắn đến chỗ người của ta gần Jerusalem, để họ chăm sóc hắn cho tới khi khỏi bệnh. Còn nàng thì ta muốn bán, nhưng sau khi con chó anh nàng đổ bệnh, sự chia lìa hắn khiến nàng đau đớn, và từ đó nàng chẳng làm gì ngoài khóc; nay ta muốn kẻ nào có ý mua nàng của ta thì hãy nói dịu dàng với nàng và bảo, ‘Anh nàng đang ở cùng ta tại Jerusalem, bị bệnh’; còn ta sẽ dễ dãi với hắn về giá nàng.” Rồi một trong các thương nhân đến gần hắn và hỏi, “Nàng bao nhiêu tuổi?” Hắn đáp, “Nàng là trinh nữ, vừa đến tuổi gả chồng, và nàng được phú cho trí khôn, giáo dưỡng, thông minh, sắc đẹp và vẻ yêu kiều. Nhưng từ ngày ta gửi anh nàng đến Jerusalem, tim nàng luôn khao khát hắn, nên sắc đẹp của nàng đã phai và giá trị nàng giảm đi.” Bấy giờ khi thương nhân nghe điều này, ông lên đường cùng lão Badawi và nói, “Ôi Shaykh[FN#245] của người Ả Rập, ta sẽ đi cùng ông và mua của ông cô gái mà ông ca ngợi cao đến thế về trí tuệ, phép tắc, sắc đẹp và vẻ yêu kiều; ta sẽ trả ông giá của nàng, nhưng phải có những điều kiện, nếu ông chấp nhận thì ta sẽ đưa tiền ngay, còn nếu ông không chấp nhận thì ta sẽ trả nàng lại cho ông.” Lão Badawi nói, “Nếu ông muốn, hãy đưa nàng lên chỗ Sultan Sharrkan, con trai Omar bin al-Nu'uman, Chúa của Baghdad và xứ Khorasan, rồi đặt với ta bất cứ điều kiện nào ông thích; bởi khi ông đưa nàng tới trước vua Sharrkan, có lẽ nàng sẽ làm ngài hài lòng, và ngài sẽ trả ông giá của nàng, thêm cả một khoản lời tốt cho chính ông nữa.” Thương nhân đáp, “Tình cờ ta hiện có một việc muốn xin ngài, ấy là ngài viết cho ta một lệnh gửi công sở, miễn cho ta thuế quan, và cũng viết cho ta một thư tiến cử đến cha ngài, vua Omar bin al-Nu'uman. Vậy nếu ngài lấy cô gái, ta sẽ cân[FN#246] giá nàng ra trả ông ngay.” Lão Badawi đáp, “Ta đồng ý với ông về điều kiện này.” Vậy họ cùng nhau trở lại nơi Nuzhat al-Zaman đang ở, và người Ả Rập hoang dã đứng ở cửa phòng, gọi lớn, nói, “Hỡi Nájiyah[FN#247]!” đó là cái tên hắn đã đặt cho nàng. Khi nghe hắn, nàng khóc và không đáp. Rồi hắn quay sang thương nhân và nói với ông, “Nàng ngồi kia; hãy đến với nàng, nhìn nàng và nói tử tế với nàng như ta đã dặn ông.” Vậy người lái buôn đến gần nàng theo cách nhã nhặn và thấy nàng đẹp tuyệt diệu, đáng yêu, nhất là vì nàng biết tiếng Ả Rập; và ông nói với lão Badawi, “Nếu nàng đúng như ông nói, ta sẽ được Sultan ban điều ta muốn vì nàng.” Rồi ông nói với nàng, “Bình an ở trên nàng, hỡi cô hầu nhỏ của ta! Nàng thế nào?” Nàng quay sang ông và đáp, “Điều này cũng đã được ghi trong Sách Định Mệnh.” Rồi nàng nhìn ông và, thấy ông có dáng vẻ đáng kính với gương mặt đẹp, nàng tự nhủ, “Ta tin người này đến để mua ta;” và nàng tiếp, “Nếu ta lánh xa ông ta, ta sẽ ở lại với tên bạo ngược của mình và hắn sẽ đánh ta đến chết. Dù sao, người này có gương mặt đẹp và khiến ta hy vọng được đối đãi tốt hơn nơi ông ta so với con thú Badawi kia. Có lẽ ông ta chỉ đến nghe ta nói; vậy ta sẽ đáp lại ông ta bằng lời tốt đẹp.” Suốt lúc ấy mắt nàng vẫn nhìn xuống đất; rồi nàng ngẩng mắt lên nhìn ông và nói bằng giọng ngọt ngào, “Và trên ngài cũng có bình an, thưa chúa công, cùng lòng thương xót và phúc lành của Allah![FN#248] Đây là điều được truyền bởi Đấng Tiên tri, cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người! Còn về việc ngài hỏi tôi thế nào, nếu ngài muốn biết cảnh ngộ của tôi, thì nó là thứ ngài chỉ muốn dành cho kẻ thù của mình.” Và nàng im lặng. Khi thương nhân nghe những lời nàng nói, trí tưởng tượng của ông chắp cánh vì vui thích nơi nàng và, quay sang lão Badawi, ông hỏi hắn, “Giá nàng là bao nhiêu, vì quả thật nàng cao quý?” Bấy giờ lão Badawi nổi giận và đáp, “Ông sẽ làm cô gái này kiêu đầu lên bằng những lời ấy! Vì sao ông nói nàng cao quý,[FN#249] trong khi nàng là cặn bã của nữ nô và rác rưởi của người đời? Ta sẽ không bán nàng cho ông!” Khi thương nhân nghe vậy, ông biết người này yếu trí và nói với hắn, “Hãy bình tĩnh, vì ta sẽ mua nàng của ông cùng những khiếm khuyết ông nhắc đến.” Lão Badawi hỏi, “Vậy ông sẽ cho ta bao nhiêu vì nàng?” Thương nhân đáp, “Hãy tự nêu giá của nàng: chẳng ai nên đặt tên cho con ngoài cha nó.” Lão Badawi đáp, “Chẳng ai đặt nó ngoài chính ông.” Thương nhân tự nhủ, “Tên hoang dã này là kẻ thô lỗ và đầu óc đầy giòi. Nhân danh Allah, ta không thể nói giá của nàng, vì nàng đã chiếm tim ta bằng lời nói đẹp và dung mạo tốt; và nếu nàng biết đọc biết viết, ấy sẽ là vận may trọn vẹn cho nàng và cho người mua nàng. Nhưng tên Badawi này không biết giá trị của nàng.” Rồi ông quay lại và nói với hắn, “Ôi Shaykh của người Ả Rập, ta sẽ đưa ông tiền mặt, sạch khỏi thuế và lệ phí của Sultan, hai trăm đồng vàng.” Bấy giờ khi lão Badawi nghe điều này, hắn bùng lên cơn giận dữ dội và quát thương nhân, nói, “Đứng dậy và đi đường ông đi! Nhân danh Allah, dẫu ông chào ta hai trăm dinar chỉ vì mảnh camlet nàng đang mặc, ta cũng không bán cho ông. Nay ta sẽ không bán nàng, mà giữ nàng bên mình, để chăn lạc đà và xay thóc cho ta.” Rồi hắn kêu lớn với nàng, nói, “Lại đây, đồ hôi thối! Ta sẽ không bán ngươi.” Rồi hắn quay sang thương nhân và nói, “Ta từng nghĩ ông là người biết xét đoán; nhưng, nhân quyền chiếc mũ ta đội, nếu ông không biến khỏi ta, ta sẽ cho ông nghe điều không làm ông vui đâu!” Thương nhân tự nhủ, “Quả thật tên Badawi này điên và không biết giá trị của nàng, ta sẽ không nói thêm với hắn về giá nàng lúc này; vì nhân danh Allah, nếu hắn là người có lý trí, hắn đã không nói, ‘Nhân quyền chiếc mũ ta đội!’ Nhân Đấng Toàn năng, nàng đáng giá cả vương quốc của các Chosroë, và ta không có giá nàng bên mình, nhưng nếu hắn đòi nhiều hơn nữa, ta sẽ cho hắn điều hắn muốn, dẫu là toàn bộ hàng hóa của ta.” Rồi ông quay sang hắn và nói, “Ôi Shaykh của người Ả Rập, hãy nhẫn nại, bình tĩnh và nói ta nghe nàng có áo quần gì ở chỗ ông?” Lão Badawi kêu, “Đồ hư hỏng ấy cần gì áo quần? Nhân danh Allah, tấm camlet nàng quấn trên người đã đủ rộng cho nàng rồi.” Thương nhân nói, “Nếu ông cho phép, ta sẽ mở mạng che mặt nàng và xem xét nàng như người ta xem xét các nữ nô khi có ý mua.”[FN#250] Người kia đáp, “Dậy đi và làm điều ông muốn, cầu Allah giữ tuổi xuân của ông! Hãy xem xét nàng bên ngoài và bên trong, và nếu ông muốn, hãy lột áo quần nàng ra rồi nhìn nàng khi nàng trần truồng.” Người lái buôn nói, “Allah ngăn cấm! Ta sẽ không nhìn gì ngoài gương mặt nàng.”[FN#251] Rồi ông đến gần nàng và hổ thẹn trước sắc đẹp cùng vẻ yêu kiều của nàng,—Và Shahrazed nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng thương nhân đến gần Nuzhat al-Zaman và hổ thẹn trước sắc đẹp cùng vẻ yêu kiều của nàng, nên ông ngồi bên nàng và hỏi nàng, “Thưa nữ chủ nhân của ta, tên nàng là gì?” Nàng đáp, “Ngài hỏi tên tôi hôm nay hay tên tôi trước hôm nay?” Bấy giờ thương nhân hỏi, “Vậy nàng có hai tên: tên hôm nay và tên hôm qua sao?” Nàng đáp, “Phải, tên tôi trong quá khứ là Nuzhat al-Zaman, Niềm Vui của Thời Đại; nhưng tên tôi hiện tại là Ghussat[FN#252] al-Zaman, Nỗi Cay Đắng của Thời Đại.” Khi thương nhân nghe vậy, mắt ông tràn lệ và ông nói với nàng, “Chẳng phải nàng có một người anh đang bệnh sao?” Nàng đáp, “Vâng, nhân danh Allah, thưa chúa công, tôi có, nhưng vận mệnh đã chia lìa tôi và chàng, còn chàng nằm bệnh ở Jerusalem.” Đầu óc thương nhân bối rối trước sự ngọt ngào trong lời nàng, và ông tự nhủ, “Quả thật, lão Badawi đã nói thật về nàng.” Rồi nàng nhớ đến anh trai mình, bệnh tật và thân phận khách lạ của chàng, sự chia lìa khỏi chàng trong giờ yếu đuối của chàng và việc nàng không biết điều gì đã xảy đến với chàng; nàng nghĩ đến tất cả những gì đã xảy đến với mình cùng lão Badawi, và sự đứt lìa khỏi mẹ cha cùng quê hương; nước mắt chảy xuống má nàng, giọt này vừa trào đã rơi xuống, và nàng bắt đầu ngâm,
“Allah, dù chàng ở nơi đâu, xin Người ban trợ giúp * Cho chàng, người ở xa mà cư ngụ trong tim ta!
Allah ở gần chàng, dẫu chàng đi xa đến đâu; * Ngăn mọi đổi thay của Thời Gian, chống mọi hiểm nguy!
Mắt ta hoang vắng vì vắng bóng hình chàng, * Nước mắt ta khởi tuôn—ôi ta, chúng khởi tuôn nhanh xiết bao!
Ước gì Trời cho ta biết phương nào hay đất nào * Là nơi chàng ở, và chàng thuộc nhà nào, bộ tộc nào
Chàng có uống nguồn sống trong sắc xanh của hoa hồng, * Trong khi ta uống giọt lệ làm sa mạc duy nhất của mình?
Chàng có hưởng giấc ngủ trong những giờ ấy, khi ta * Cảm thấy giữa sườn mình và giường là nỗi đau than lửa cháy?
Mọi việc đều dễ chịu, trừ chia lìa chàng, * Với trái tim buồn này, nỗi sầu ấy thật khó gánh.”
Khi thương nhân nghe những câu thơ của nàng, ông khóc và đưa tay ra lau nước mắt khỏi má nàng; nhưng nàng buông mạng che xuống gương mặt, nói, “Trời cấm, thưa chúa công!”[FN#253] Bấy giờ lão Badawi, đang ngồi cách đó một quãng ngắn quan sát họ, thấy nàng che mặt trước thương nhân khi ông sắp lau nước mắt khỏi má nàng; và hắn kết luận rằng nàng định ngăn ông chạm vào nàng: vậy hắn đứng dậy, chạy đến chỗ nàng, dùng dây buộc lạc đà hắn cầm trong tay giáng lên vai nàng một cú mạnh đến nỗi nàng ngã sấp mặt xuống đất. Lông mày nàng va vào một hòn đá khiến nó rách toạc, máu chảy xuống má; tức thì nàng hét lên một tiếng lớn, cảm thấy choáng váng và khóc cay đắng. Thương nhân động lòng rơi lệ vì nàng và tự nhủ, “Không còn cách nào khác ngoài việc ta phải mua thiếu nữ này, dẫu bằng trọng lượng nàng tính bằng vàng, và giải thoát nàng khỏi tên bạo ngược này.” Rồi ông bắt đầu mắng nhiếc lão Badawi trong khi Nazhat al-Zaman nằm bất tỉnh. Khi nàng hồi lại, nàng lau nước mắt và máu khỏi mặt, rồi băng đầu lại: sau đó, ngước mắt lên trời, nàng khẩn cầu Chúa của mình bằng trái tim sầu khổ và bắt đầu ngâm,
“Xin thương một người xưa từng thịnh vượng trong danh dự, * Nay rơi vào nỗi ô nhục đau đớn.
Nàng khóc và tắm đôi má bằng những giọt lệ như mưa, * Rồi hỏi ‘Phương thuốc nào chữa được cảnh chí mạng này?’”
Khi nàng đã dứt lời thơ, nàng quay sang thương nhân và nói nhỏ, “Nhân Đấng Toàn năng, xin đừng để tôi lại với một kẻ bạo ngược không biết Allah Tối Cao! Nếu tôi phải qua đêm này ở chỗ hắn, tôi sẽ tự tay giết mình: hãy cứu tôi khỏi hắn, để Allah cứu ngài khỏi lửa Gehenna.” Rồi thương nhân nói với lão Badawi, “Ôi Shaykh của người Ả Rập, nữ nô này không còn là việc của ông nữa; vậy ông hãy bán nàng cho ta với bất cứ giá nào ông muốn.” Lão Badawi nói, “Hãy lấy nàng, trả ta giá của nàng ngay, nếu không ta sẽ mang nàng về trại và bắt nàng chăn lạc đà, gom phân của chúng.”[FN#254] Thương nhân nói, “Ta sẽ cho ông năm mươi nghìn dinar vì nàng.” Lão Badawi đáp, “Allah sẽ mở!”[FN#255] Thương nhân nói, “Bảy mươi nghìn.” Lão Badawi lặp lại, “Allah sẽ mở! đó chưa phải vốn đã bỏ ra cho nàng, vì nàng đã ăn cùng ta bánh lúa mạch trị giá chín mươi nghìn đồng vàng.” Thương nhân đáp, “Ông, người của ông và toàn bộ bộ tộc của ông trong suốt đời các ngươi cũng chưa ăn nổi lúa mạch đáng giá một nghìn ducat; nhưng ta sẽ nói với ông một lời, nếu ông không bằng lòng với nó, ta sẽ sai Phó vương Damascus đến bắt ông, và ngài sẽ đoạt nàng khỏi tay ông bằng vũ lực.” Lão Badawi nói tiếp, “Nói đi!” Thương nhân nói, “Một trăm nghìn.” Lão Badawi đáp, “Ta đã bán nàng cho ông với giá ấy; ta sẽ có thể mua muối bằng nàng.” Thương nhân cười và, đi về nơi trọ của mình, đem tiền đến đặt vào tay lão Badawi; hắn cầm lấy rồi chuồn đi, tự nhủ, “Nhất định ta phải đến Jerusalem, biết đâu ta gặp được anh nàng, rồi ta sẽ đem hắn đến đây và cũng bán hắn.” Vậy hắn lên đường cho tới khi đến Jerusalem, nơi hắn vào Khan và hỏi về Zau al-Makan, nhưng không tìm thấy chàng. Đó là tình cảnh của hắn; còn về thương nhân và Nazhat al-Zaman, khi ông nhận nàng, ông khoác vài món áo của mình lên nàng và đưa nàng về nơi trọ của ông,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi tám đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi người lái buôn cứu Nuzhat al-Zaman khỏi lão Badawi, đưa nàng về nơi trọ và mặc cho nàng xiêm y sang trọng nhất, ông dẫn nàng xuống chợ, nơi ông mua cho nàng những trang sức nàng chọn và đặt chúng vào một túi satin, đặt trước mặt nàng, nói, “Tất cả là của nàng, và ta không đòi hỏi điều gì nơi nàng để đáp lại, ngoài việc khi ta đưa nàng đến chỗ Sultan, Phó vương Damascus, nàng báo cho ngài biết giá ta đã trả vì nàng, dù nó nhỏ bé so với giá trị của nàng: và nếu thấy nàng mà ngài mua nàng từ ta, nàng hãy nói với ngài ta đã đối xử với nàng thế nào và xin ngài cho ta một sắc chỉ vương gia, cùng một thư tiến cử để ta có thể đến gặp cha ngài, vua Omar bin al-Nu'uman, Chúa của Baghdad, nhằm để ngài cấm đánh thuế lên vải vóc của ta hay bất cứ hàng hóa nào khác mà ta buôn bán.” Khi nghe lời ông, nàng khóc và nức nở, thương nhân nói với nàng, “Thưa phu nhân của ta, ta thấy rằng mỗi lần ta nhắc tới Baghdad, mắt nàng lại đầy lệ: có ai ở đó mà nàng yêu chăng? Nếu đó là một thương nhân hay người tương tự, hãy nói ta biết; vì ta biết tất cả các thương nhân và những người như thế ở đó, và nếu nàng muốn gửi người ấy một thông điệp, ta sẽ mang giúp nàng.” Nàng đáp, “Nhân danh Allah, tôi không quen ai trong giới thương nhân và những người như thế! Tôi không biết ai ở đó ngoài vua Omar bin Nu'uman, Chúa của Baghdad.” Khi thương nhân nghe lời nàng, ông cười và vui mừng quá đỗi, tự nhủ, “Nhân danh Allah, ta đã đạt được điều ta muốn!” Rồi ông nói với nàng, “Trước kia nàng từng được đưa ra trước ngài chưa?” Nàng đáp, “Chưa, nhưng tôi được nuôi lớn cùng con gái ngài và ngài quý tôi, tôi có danh dự cao trước ngài; vậy nếu ngài muốn nhà vua ban cho ngài điều ngài muốn, hãy cho tôi hộp mực và giấy, tôi sẽ viết cho ngài một bức thư; và khi ngài tới thành Baghdad, hãy trao nó vào tay vua Omar bin al-Nu'uman và nói với ngài, ‘Tỳ nữ của ngài, Nuzhat al-Zaman, muốn ngài biết rằng những may rủi và đổi thay của đêm ngày đã giáng xuống nàng như búa đập, đã đánh nàng đến nỗi nàng bị bán từ nơi này sang nơi khác, và nàng gửi đến ngài lời salam.’ Và nếu ngài hỏi thêm về nàng, hãy nói rằng tôi hiện ở cùng Phó vương tại Damascus.” Thương nhân kinh ngạc trước tài hùng biện của nàng, lòng quý mến nàng trong ông tăng lên và ông nói với nàng, “Ta không thể không nghĩ rằng người ta đã đùa giỡn với trí hiểu của nàng và bán nàng lấy tiền. Nói ta nghe, nàng có thuộc lòng kinh Koran không?” Nàng đáp, “Có; và tôi cũng thông hiểu triết học, y học, các lời mở đầu của khoa học và những chú giải của Galen, vị thầy thuốc, về các chuẩn tắc của Hippocrates; tôi đã chú giải ông ấy, đã đọc Tazkirah và đã chú giải Burhán; tôi đã học về các Đơn dược của Ibn Baytár, và có đôi điều để nói về y điển Meccah của Avicenna. Tôi có thể giải câu đố và tháo gỡ những điều mơ hồ, luận bàn về hình học và thạo giải phẫu. Tôi đã đọc sách của trường phái Sháfi'í[FN#256] và các Truyền thống của Đấng Tiên tri cùng cú pháp; tôi có thể tranh luận với các Olema và diễn giảng về đủ loại học vấn. Hơn nữa tôi thạo logic, tu từ, số học, việc làm bùa chú và lịch thư, và tôi hiểu tường tận các Khoa học Tâm linh[FN#257] cùng những thời điểm được ấn định cho các nghĩa vụ tôn giáo, và tôi hiểu tất cả các ngành tri thức này.” Rồi nàng nói với thương nhân, “Hãy đem cho tôi hộp mực và giấy, để tôi viết cho ngài một bức thư giúp ngài trên hành trình đến Baghdad và khiến ngài không cần giấy thông hành.” Bấy giờ khi thương nhân nghe điều này, ông kêu lớn “Brava! Brava![FN#258] Vậy hạnh phúc thay người mà trong cung điện người ấy nàng sẽ ở!” Bấy giờ ông đem giấy, hộp mực và một cây bút đồng đến cho nàng, rồi hôn đất trước mặt nàng để tôn vinh nàng. Nàng cầm một tờ giấy, cầm cây bút sậy và viết bằng nó những câu thơ này,
“Ta thấy mọi quyền năng của giấc ngủ đã bay khỏi mắt ta; * Hãy nói, có phải chia lìa chàng dạy đôi mắt này quen thức?
Điều gì khiến ký ức về chàng thắp lên những đám cháy trong tim ta? * Có phải mọi người yêu đều có sức mang những ký ức như thế?
Ngọt ngào biết bao đám mây giọt lớn từng mưa xuống ngày hè; * Nó đã đi, và trước khi ta nếm vị ngọt của nó, nó đã bay xa:
Ta cầu gió bằng hơi thở gió đem chút tin * Từ chàng đến một kẻ yêu, người vì tình mà sầu khổ đến thế
Một người yêu tuyệt vọng mọi hy vọng than van với chàng, * Vì nỗi đau chia lìa có thể làm vỡ không chỉ tim mà cả đá.”
Và khi nàng đã viết xong các câu thơ, nàng tiếp, “Những lời này đến từ nàng nói rằng u sầu hủy diệt nàng và thức trắng làm nàng hao mòn; trong bóng tối đêm nàng không tìm thấy ánh sáng, và bóng tối với ban ngày trong mắt nàng đều như nhau. Nàng lăn trở trên giường của chia lìa, đôi mắt nàng đen bởi những cây bút của mất ngủ; nàng canh khi các sao mọc lên và dõi mắt vào màn tối: quả thật, sầu buồn và gầy mòn đã tiêu hao sức nàng, và việc trình bày cảnh ngộ nàng sẽ kéo dài không dứt. Nàng chẳng có trợ thủ nào ngoài nước mắt, và nàng ngâm những câu này,
‘Không có chim cu gáy nào rền rĩ khỏi nhà trên cành trong ánh sớm, * Mà không làm cả thân ta rung lên vì sức giết người của sầu khổ:
Không có người yêu nào thở dài vì tình mình hay làm tim vui * Khi gặp bạn đời, mà không sinh trong ta tai ương gấp bội
Ta mang lời than đến một người chẳng chút thương ta, * Ôi ta, Tình Yêu có thể chia lìa thân phàm và linh hồn con người thế nào!’”
Rồi mắt nàng trào lệ, và nàng cũng viết hai đôi câu này,
“Tình yêu đánh thân ta đau đớn đến thế trong ngày chia lìa, * Đến nỗi ly biệt chia lìa giấc ngủ và mắt mãi mãi.
Ta gầy mòn đến nỗi vẫn là một con người, * Nhưng nếu không nói năng, ngươi sẽ chẳng bao giờ nói vậy.”
Rồi nàng rơi lệ và viết dưới chân tờ giấy, “Điều này đến từ nàng xa rời người thân và quê hương mình, người phụ nữ có trái tim sầu khổ Nuzhat al-Zaman.” Sau cùng, nàng gấp tờ giấy và đưa cho thương nhân, ông cầm lấy, hôn nó, hiểu nội dung của nó và kêu lên, “Vinh quang thay Đấng đã tạo hình nàng!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ năm mươi chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Nuzhat al-Zaman viết bức thư và đưa nó cho thương nhân; ông cầm lấy, đọc nó, hiểu nội dung và kêu lên, “Vinh quang thay Đấng đã tạo hình nàng!” Rồi ông tăng gấp đôi lòng tốt và làm mình vui vẻ với nàng suốt ngày ấy; và khi đêm đến, ông ra chợ mua ít thức ăn, dùng nó cho nàng ăn; sau đó đưa nàng đến Hammam và nói với người phụ nữ nhà tắm, “Ngay khi bà gội đầu nàng xong, hãy mặc áo cho nàng rồi sai người báo ta biết.” Bà đáp, “Nghe là vâng.” Trong khi đó ông mang thức ăn, hoa quả và nến sáp đến, đặt chúng trên ghế dài trong phòng ngoài của nhà tắm; và khi người phụ nữ chải chuốt đã tắm gội xong cho nàng, bà mặc áo cho nàng, dẫn nàng ra khỏi nhà tắm và đặt nàng ngồi trên ghế dài. Rồi bà sai người báo cho thương nhân, và Nuzhat al-Zaman đi ra phòng ngoài, nơi nàng thấy mâm đã bày thức ăn và hoa quả. Vậy nàng ăn, người phụ nữ chải chuốt ăn cùng nàng, rồi nàng cho người trong nhà tắm và người giữ nhà tắm phần còn lại. Sau đó nàng ngủ cho tới sáng, còn thương nhân qua đêm ở một nơi riêng cách nàng. Khi ông tỉnh giấc, ông đến với nàng và đánh thức nàng, tặng nàng một chiếc áo lót bằng vải mịn và một khăn trùm đầu trị giá một nghìn dinar, một bộ đồ thêu Thổ Nhĩ Kỳ và đôi ủng đi đường viền vàng đỏ, nạm ngọc trai và châu báu. Hơn nữa, ông treo vào mỗi tai nàng một vòng vàng có một viên ngọc trai đẹp, trị giá một nghìn dinar, và quấn quanh cổ nàng một vòng cổ vàng với chấu ngọc hồng lựu cùng một chuỗi hổ phách rủ xuống giữa ngực nàng, vượt qua rốn. Bấy giờ trên chuỗi ấy gắn mười quả cầu và chín lưỡi liềm, mỗi lưỡi liềm có giữa nó một viên hồng ngọc trong ổ, và mỗi quả cầu có một viên balass trong ổ: giá trị của chuỗi này là ba nghìn dinar, và mỗi quả cầu được định giá hai mươi nghìn dirham, cho nên toàn bộ y phục nàng mặc trị giá một khoản tiền rất lớn. Khi nàng đã mặc những thứ ấy, thương nhân bảo nàng trang điểm, và nàng trang điểm đến mức đẹp nhất; rồi nàng buông dải băng trán xuống trên mắt và bước ra cùng thương nhân đi trước. Nhưng khi người ta thấy nàng, tất cả đều kinh ngạc trước sắc đẹp của nàng và kêu lên, “Phúc thay Allah, Đấng Sáng Tạo tuyệt hảo nhất! Ôi may mắn thay người đàn ông trong nhà có sảnh đường là nàng!” Và người lái buôn không ngừng đi (nàng phía sau ông) cho tới khi họ vào cung điện của Sultan Sharrkan; bấy giờ ông xin được vào chầu và, hôn đất giữa hai tay ngài, nói, “Ôi đức vua cát tường, thần đã đem đến cho ngài một món quà hiếm, không ai sánh trong thời này và được phú giàu sắc đẹp cùng phẩm chất tốt.” Nhà vua nói, “Hãy để ta xem.” Vậy thương nhân đi ra đưa nàng vào, nàng theo ông cho tới khi ông đặt nàng đứng trước vua Sharrkan. Khi chàng trông thấy nàng, máu khao khát máu, dù nàng đã bị chia lìa khỏi chàng từ thuở nhỏ và dù chàng chưa từng thấy nàng, chỉ nghe từ lâu sau khi nàng sinh ra rằng chàng có một em gái tên là Nuzhat al-Zaman và một em trai Zau al-Makan, vì chàng từng ghen tị với họ do việc kế vị. Và đó là nguyên nhân chàng biết rất ít về họ. Sau khi đặt nàng trước hiện diện, thương nhân nói, “Ôi đức vua của thời đại, ngoài việc vô song trong thời của nàng về sắc đẹp và vẻ yêu kiều, nàng còn thông thạo mọi học vấn, thiêng liêng và thế tục, kể cả thuật cai trị và các khoa học trừu tượng.” Nhà vua nói với người lái buôn, “Hãy nhận giá của nàng, theo như ngươi đã mua, rồi đi đường ngươi.” Thương nhân đáp, “Thần nghe và tuân lệnh; nhưng trước hết xin viết cho thần một sắc chỉ, vĩnh viễn miễn cho thần nộp thuế thập phân trên hàng hóa.” Nhà vua nói, “Ta sẽ làm điều này, nhưng trước hết hãy nói ta biết ngươi đã trả giá bao nhiêu vì nàng.” Thương nhân nói, “Thần mua nàng với một trăm nghìn dinar, và xiêm y của nàng tốn thêm một trăm nghìn.” Khi Sultan nghe những lời này, chàng tuyên bố, “Ta sẽ trả ngươi giá cao hơn thế vì nàng”; rồi gọi thủ quỹ, nói với ông, “Hãy trả thương nhân này ba trăm hai mươi nghìn ducat; như vậy hắn sẽ có một trăm hai mươi nghìn dinar lợi nhuận.” Bấy giờ Sultan triệu bốn Kazi và trả tiền cho ông ta trước mặt họ, rồi nói, “Ta gọi các ngươi làm chứng rằng ta giải phóng nữ nô này của ta và dự định cưới nàng.” Vậy các Kazi viết văn bản giải phóng và hôn ước, khi Sultan rải rất nhiều vàng lên đầu những người hiện diện; các tiểu đồng và hoạn quan nhặt lấy khoản ban phát ấy. Rồi, sau khi trả tiền cho ông, Sharrkan truyền họ viết cho thương nhân một sắc chỉ vĩnh viễn, miễn cho ông khỏi mọi lệ phí, thuế hay thuế thập phân trên hàng hóa, và cấm mỗi người, mọi người trong toàn bộ lãnh địa của chàng quấy nhiễu ông, sau cùng ban cho ông một áo vinh dự rực rỡ.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng vua Sharrkan truyền họ viết cho thương nhân một sắc lệnh, sau khi trả tiền cho ông; và họ viết một sắc chỉ vĩnh viễn, miễn cho ông khỏi thuế thập phân trên hàng hóa và cấm bất cứ ai trong lãnh địa của chàng quấy nhiễu ông; cuối cùng ban cho ông một áo vinh dự rực rỡ. Rồi mọi người quanh chàng lui ra, không còn ai ở lại ngoài các Kazi và thương nhân, bấy giờ chàng nói với các quan tòa, “Ta muốn các ngươi nghe từ thiếu nữ này một bài luận có thể chứng tỏ tri thức và tài nghệ của nàng trong mọi điều mà người lái buôn này đã nêu cho nàng, để chúng ta xác minh sự thật trong những lời khẳng định của ông ta.” Họ đáp, “Điều ấy chẳng có gì xấu!”; và chàng truyền thả rèm xuống giữa chàng cùng những người bên chàng với thiếu nữ và những người bên nàng; và các phụ nữ quanh thiếu nữ phía sau rèm bắt đầu chúc mừng nàng, hôn tay và chân nàng, khi họ biết nàng đã trở thành vợ của nhà vua. Rồi họ vây quanh nàng, cởi bỏ xiêm y của nàng để nàng nhẹ bớt sức nặng áo quần và bắt đầu nhìn ngắm sắc đẹp cùng vẻ yêu kiều của nàng. Chẳng bao lâu, vợ các Emir và tể tướng nghe rằng vua Sharrkan đã mua một nữ nô vô song về sắc đẹp, học vấn, triết học và tính toán, thông thạo mọi nhánh tri thức, rằng chàng đã trả vì nàng ba trăm hai mươi nghìn dinar, đã giải phóng nàng, viết hôn ước với nàng và triệu bốn Kazi đến thử nàng, xem nàng sẽ trả lời mọi câu hỏi của họ và tranh luận với họ thế nào. Vậy họ xin phép chồng mình và đến cung điện nơi Nuzhat al-Zaman ở. Khi họ vào với nàng, họ thấy các hoạn quan đứng trước nàng; và ngay khi thấy vợ các Emir, tể tướng cùng đại nhân của vương quốc đến thăm mình, nàng đứng dậy đón họ, các tỳ nữ đứng phía sau nàng, và nàng tiếp họ, nói, “Xin chào đón các vị!” Trong khi ấy nàng mỉm cười trước mặt họ để chiếm lấy lòng họ; nàng hứa với họ đủ mọi điều tốt lành và đặt họ ngồi đúng vị trí của mình, như thể nàng đã được nuôi lớn cùng họ; vậy tất cả đều kinh ngạc trước sắc đẹp cùng vẻ yêu kiều của nàng và nói với nhau, “Thiếu nữ này chẳng là gì khác ngoài một Nữ vương, con gái của một vị vua.” Rồi họ ngồi xuống, tôn cao giá trị của nàng và nói với nàng, “Ôi phu nhân của chúng tôi, thành phố của chúng tôi được nàng soi sáng, đất nước, nơi ở, nơi sinh và triều đại của chúng tôi được vinh dự bởi sự hiện diện của nàng. Vương quốc quả thật là vương quốc của nàng và cung điện là cung điện của nàng, còn tất cả chúng tôi là tỳ nữ của nàng; vậy, nhân danh Allah, xin đừng khép chúng tôi khỏi ân huệ của nàng và khỏi việc được nhìn thấy sắc đẹp của nàng.” Và nàng cảm tạ họ vì điều ấy. Suốt lúc này, các bức rèm được thả xuống giữa Nuzhat al-Zaman cùng các phụ nữ ở bên nàng, một phía, với vua Sharrkan, bốn Kazi và thương nhân ngồi bên chàng ở phía kia. Lát sau vua Sharrkan gọi nàng và nói, “Ôi Nữ vương, vinh quang của thời nàng, thương nhân này đã mô tả nàng là người học rộng và tài nghệ; ông ta quả quyết rằng nàng thông thạo mọi nhánh tri thức, đến cả chiêm tinh: vậy hãy để chúng ta nghe đôi điều về tất cả những gì ông ta đã nhắc, và xin nàng ban cho chúng ta một bài luận ngắn về các đề tài ấy.” Nàng đáp, nói: “Ôi đức vua, nghe là vâng.[FN#259] Những đề tài đầu tiên mà tôi sẽ bàn là thuật cai trị, bổn phận của các vua, những điều các bậc cầm quyền cai quản phải làm theo luật tôn giáo, và những điều họ phải có về lời nói cùng phong thái vừa lòng. Vậy hãy biết, ôi đức vua, rằng mọi việc làm của con người đều hướng hoặc tới đời tôn giáo hoặc tới đời thế tục, bởi chẳng ai đạt tới tôn giáo trừ thông qua thế giới này, vì nó là con đường tốt nhất dẫn tới tương lai. Nay những việc của thế giới này không được sắp đặt trừ bởi hành động của người trong nó, và hành động của con người được chia thành bốn loại: cai trị, thương mại, canh tác và thủ công. Nay cai trị đòi hỏi sự quản trị hoàn hảo với phán xét công bằng và chân thật; bởi cai trị là trục của tòa kiến trúc thế gian, mà thế gian là con đường tới tương lai; vì Allah Toàn năng đã tạo thế gian cho tôi tớ Người như lương thực đường xa dành cho lữ khách để đạt tới đích; và mỗi người nên nhận lấy từ nó một mức lượng đưa mình đến Allah, chứ không theo trong đó ý riêng và dục vọng cá nhân. Nếu người đời lấy của cải thế gian bằng công lý và bình đẳng, mọi nguyên nhân tranh chấp sẽ bị cắt đứt; nhưng họ lấy nó bằng bạo lực và theo ham muốn riêng, và sự cố chấp của họ trong đó làm nảy sinh tranh chấp; vậy họ cần Sultan, để ngài xét xử công bằng giữa họ và sắp đặt việc của họ; và nếu nhà vua không kiềm chế dân mình khỏi xâm hại nhau, kẻ mạnh sẽ dồn kẻ yếu vào chân tường. Vì vậy Ardeshir[FN#260] nói, ‘Tôn giáo và Vương quyền là song sinh’; tôn giáo là kho báu ẩn giấu và nhà vua là người canh giữ nó; và các Sắc Lệnh Thiêng cùng trí tuệ con người chỉ ra rằng dân chúng cần nhận một Sultan, người sẽ ngăn kẻ áp bức khỏi người bị áp bức, đem công lý cho kẻ yếu chống lại kẻ mạnh, và kiềm chế bạo lực của kẻ kiêu ngạo cùng những kẻ nổi loạn chống lại phép trị. Bởi hãy biết, ôi đức vua, rằng theo mức độ đạo đức tốt của Sultan, thời thế cũng sẽ như vậy; như Sứ đồ của Allah (cầu bình an và cứu rỗi đến với Người!) đã nói, ‘Có hai hạng người, nếu họ tốt, dân chúng sẽ tốt; và nếu họ xấu, dân chúng sẽ xấu, đó là các Olema và các Emir.’ Và một hiền giả nọ nói, ‘Có ba loại vua: Vua của Đức Tin, Vua bảo vệ những điều phải được tôn kính, và Vua của dục vọng chính mình.’ Vua của Đức Tin buộc thần dân đi theo đức tin của họ, và ngài phải là người trung tín nhất,[FN#261] vì chính nhờ ngài mà họ lấy mẫu mực trong các việc của Đức Tin; và dân chúng phải vâng lệnh ngài trong mọi điều ngài truyền theo Sắc Lệnh Thiêng; nhưng ngài phải xem kẻ bất mãn ngang với kẻ mãn nguyện, bởi sự quy phục trước những sắc lệnh của Định Mệnh. Còn Vua bảo vệ những điều phải được tôn kính, ngài nâng đỡ các việc của Đức Tin và của Thế Gian, buộc dân mình đi theo Luật Thiêng và gìn giữ quyền của nhân loại; và ngài nên kết hợp Bút và Gươm; bởi kẻ nào lệch khỏi điều Bút đã viết thì chân hắn trượt, và nhà vua sẽ sửa lỗi hắn bằng Gươm sắc, rồi trải công lý của mình lên toàn thể loài người. Còn Vua của dục vọng chính mình thì chẳng có tôn giáo nào ngoài việc đi theo ham muốn; và vì hắn không sợ cơn thịnh nộ của Chúa mình, Đấng đã đặt hắn lên ngai, nên Vương quốc của hắn nghiêng về phế truất, và kết thúc kiêu hãnh của hắn nằm trong nhà diệt vong. Các hiền giả nói, ‘Nhà vua cần nhiều người, nhưng dân chúng chỉ cần một nhà vua’; bởi vậy ngài phải biết rõ bản tính của họ, khiến bất hòa của họ thành đồng thuận, dùng công lý bao trùm họ hết thảy và dùng ân huệ phủ ngập họ hết thảy. Và hãy biết, ôi đức vua, rằng Ardeshir, được gọi là Jamr Shadíd, hay Than Hồng Sống, vị thứ ba trong các vua Ba Tư, đã chinh phục toàn thế giới và chia nó thành bốn phần, và vì mục đích này làm cho mình bốn chiếc nhẫn ấn, mỗi chiếc dành cho một phần. Ấn thứ nhất là ấn của biển và lực lượng cảnh sát cấm đoán, trên đó viết, Đổi thay sống. Ấn thứ hai là ấn cống thuế và nhận tiền, trên đó viết, Xây dựng. Ấn thứ ba là ấn của cơ quan cung cấp lương thực, trên đó viết, Sung túc. Ấn thứ tư là ấn của những người bị áp bức, trên đó viết, Công lý. Và những tập tục này vẫn hiệu lực ở Ba Tư cho tới khi Al-Islam được mặc khải. Chosroës cũng viết cho con trai mình, người đang ở cùng quân đội, ‘Con chớ quá rộng tay với quân lính, bằng không họ sẽ quá giàu đến mức không cần con.’—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi mốt đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Chosroës viết cho con trai mình, ‘Con chớ quá rộng tay với quân lính, bằng không họ sẽ quá giàu đến mức không cần con; cũng chớ keo kiệt với họ, bằng không họ sẽ lẩm bẩm chống con. Hãy cho một cách thận trọng và ban ân huệ có cân nhắc; mở tay với họ trong thời thành công và chớ hạn chế họ trong thời khốn khó.’ Có một truyền thuyết rằng một người Ả Rập sa mạc từng đến gặp Khalif Al-Mansúr[FN#262] và nói, ‘Hãy bỏ đói chó của ngài thì nó sẽ theo ngài.’ Khi Khalif nghe lời ấy, ngài nổi giận với người Ả Rập, nhưng Abu 'l-Abbás xứ Tús nói với ngài, ‘Thần sợ rằng nếu một người khác ngoài ngài cho nó thấy một ổ bánh, con chó sẽ theo người ấy và bỏ ngài một mình.’ Bấy giờ cơn giận của Khalif Al-Mansur lắng xuống, và ngài biết rằng người Ả Rập hoang dã không có ý xúc phạm, rồi lệnh ban cho hắn một món quà. Và hãy biết, ôi đức vua, rằng Abd al-Malik bin Marwán viết cho em trai mình Abd al-Azíz, khi phái ông đến Ai Cập, như sau, ‘Hãy chú ý đến các Thư ký và các Thị thần của ngươi, vì các Thư ký sẽ báo cho ngươi biết những việc quốc sự đã được đánh bắt, còn các Thị thần cho biết những vấn đề nghi thức chính thức, trong khi sự chi tiêu của ngươi sẽ khiến quân đội của ngươi lộ rõ với ngươi.’ Omar bin Al-Khattáb[FN#263] (cầu Allah chấp nhận người!) khi thuê một người hầu thường đặt bốn điều kiện với hắn; thứ nhất là hắn không được cưỡi thú chở hành lý, thứ hai là hắn không được mặc áo đẹp, thứ ba là hắn không được ăn của chiến lợi phẩm, và thứ tư là hắn không được trì hoãn cầu nguyện quá thời điểm thích hợp. Người ta nói rằng không có của cải nào sinh lợi hơn sự hiểu biết, không có hiểu biết nào như lẽ thường và sự thận trọng, không có sự thận trọng nào như lòng mộ đạo; rằng không có phương tiện nào đưa đến gần Thượng Đế như đạo đức tốt, không có thước đo nào như giáo dưỡng tốt, không có giao dịch nào như việc lành và không có lợi nhuận nào như giành được ân huệ Thiêng; rằng không có sự tiết độ nào như đứng trong giới hạn của luật, không có khoa học nào như khoa học suy tưởng, không có thờ phụng nào như vâng các mệnh lệnh Thiêng, không có đức tin nào như khiêm hổ, không có sự tính toán nào như hạ mình và không có danh dự nào như tri thức. Vậy hãy giữ gìn cái đầu và những gì nó chứa, cái bụng và những gì nó bao gồm; hãy nghĩ đến cái chết và phán xét trước khi nó nổi lên. Ali nói (cầu Allah tôn vinh gương mặt người!), ‘Hãy coi chừng sự độc ác của phụ nữ và cảnh giác với họ: chớ hỏi ý họ trong bất cứ việc gì;[FN#264] nhưng cũng chớ tiếc sự chiều lòng họ, kẻo họ thèm muốn mưu mô.’ Và người cũng nói, ‘Kẻ nào rời con đường điều độ thì trí khôn hắn trở nên rối loạn’; và có những quy tắc cho việc này mà chúng ta sẽ nhắc, nếu Allah muốn. Và Omar (cầu Allah chấp nhận người!) nói, ‘Có ba loại phụ nữ, thứ nhất là người tin thật, kính sợ Trời, đầy tình yêu và đầy hoa trái, người giúp bạn đời chống lại số phận, chứ không giúp số phận chống lại bạn đời; thứ hai là người yêu con mình nhưng không hơn; và sau cùng là người là xiềng xích Allah đặt lên cổ kẻ nào Người muốn.’ Nam nhân cũng có ba loại: người khôn khi tự thực hành phán đoán của mình; người khôn hơn là kẻ, khi xảy ra việc mà hắn không biết kết quả, tìm đến người có lời khuyên tốt và hành động theo lời họ; và kẻ không khôn, do dự, không biết đường đúng cũng không nghe những người muốn dẫn hắn đi ngay. Công lý là điều không thể thiếu trong mọi việc; ngay cả nữ nô cũng cần công lý; và người ta dẫn làm ví dụ bọn cướp đường sống bằng cách dùng bạo lực với nhân loại, bởi nếu chúng không đối xử công bằng với nhau và giữ công lý trong việc chia chiến lợi phẩm, trật tự của chúng sẽ tan rã.[FN#265] Tóm lại, với phần còn lại, Vương tử của những phẩm chất cao quý là Lòng Thiện cùng Nhân Từ; và tuyệt diệu thay lời thi nhân nói,
Bằng bàn tay rộng mở và lòng thương, chàng trai vươn lên chỉ huy bộ tộc mình; * Hãy đi và làm như thế, bởi cùng điều ấy là việc dễ dàng cho ngươi.’
Và một người khác nói,
‘Trong lòng thương và sự dịu hiền có bảo đảm, và lòng nhân giành được kính trọng, * Còn Chân Lý là nơi trú ẩn tốt nhất cho người có linh hồn chân thật:
Kẻ nào muốn nhờ vàng bạc mà giành và mang tiếng tốt của thế gian, * Trên đường vinh quang phải luôn là người đầu tiên đạt đích.’”
Và Nazhat al-Zaman luận bàn về phép trị nước của các vua cho tới khi những người đứng bên nói, “Chưa từng thấy ai lý giải về quyền cai trị và chính sự như thiếu nữ này! Có lẽ nàng sẽ cho chúng ta nghe một bài luận về đề tài khác ngoài việc này.” Khi nghe và hiểu lời họ, nàng nói, “Còn về chương giáo dưỡng tốt, phạm vi của nó rộng lớn, vì nó là bản tóm tập những điều hoàn hảo. Bấy giờ xảy ra rằng một ngày kia có một trong các bạn hữu của Khalif Mu'áwiyah[FN#266] đến gặp ngài, nhắc đến dân Irak và trí tuệ tốt lành của họ; vợ Khalif là Maysún, mẹ của Yezíd, nghe thấy lời ấy. Vậy khi người kia đi khỏi, bà nói với Khalif, ‘Ôi Chủ nhân của các tín đồ, thiếp mong ngài cho vài người dân Irak vào nói chuyện với ngài, để thiếp được nghe lời họ.’ Khi ấy Mu'awiyah nói với người hầu, ‘Hãy xem ai ở ngoài cửa?’ Họ đáp, ‘Banu Tamim.’ Ngài nói, ‘Cho họ vào.’ Vậy họ vào, và cùng họ có Al-Ahnáf con trai Kays.[FN#267] Bấy giờ Mu'awiyah nói, ‘Vào đi, hỡi Abu Bahr,’ rồi kéo một tấm rèm giữa mình và Maysun, để bà có thể nghe họ nói mà chính bà không bị nhìn thấy; rồi ngài nói với Al-Ahnaf, ‘Hỡi Con Trai của Biển, hãy lại gần và nói cho ta biết ngươi có lời khuyên gì cho ta.’ Al-Ahnaf nói, ‘Hãy rẽ tóc, tỉa ria mép, cắt móng tay, nhổ lông nách, cạo lông mu[FN#268] và luôn dùng tăm xỉa răng, bởi trong đó có bảy mươi hai đức tính, và hãy làm Ghusl, tức lễ tắm rửa toàn thân, vào ngày thứ Sáu, như sự chuộc lỗi cho mọi điều giữa hai ngày thứ Sáu.’—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Ahnaf bin Kays đáp câu hỏi của Al-Mu'awiyah[FN#269], ‘Và luôn dùng tăm xỉa răng, bởi trong đó có bảy mươi hai đức tính, và hãy làm lễ tắm rửa toàn thân ngày thứ Sáu, như sự chuộc lỗi cho mọi điều giữa hai ngày thứ Sáu.’ Mu'awiyah nói, ‘Lời khuyên của ngươi dành cho chính mình là gì?’ ‘Đặt chân ta vững trên đất, di chuyển chúng thận trọng và canh chừng chúng bằng mắt mình!’ ‘Ngươi sắp đặt mình ra sao khi vào gặp một người không thuộc hàng quý tộc của bộ tộc ngươi?’ ‘Ta khiêm tốn hạ mắt và chào trước; ta tránh điều không liên quan đến mình và tiết chế lời nói!’ ‘Còn khi ngươi vào gặp những người ngang hàng?’ ‘Ta lắng nghe khi họ nói và không công kích họ khi họ sai!’ ‘Khi ngươi vào gặp các thủ lĩnh của ngươi?’ ‘Ta chào mà không làm dấu hiệu nào và chờ lời đáp: nếu họ bảo ta lại gần, ta lại gần, còn nếu họ xa khỏi ta, ta lui ra!’ ‘Ngươi đối xử với vợ thế nào?’ Ahnaf nói, ‘Xin miễn cho thần trả lời việc này, ôi Chủ nhân của các tín đồ!’; nhưng Mu'awiyah kêu, ‘Ta buộc ngươi phải cho ta biết.’ Ông nói, ‘Ta đối đãi nàng tử tế, tỏ sự thân mật với nàng và rộng rãi trong chi tiêu, bởi phụ nữ được tạo ra từ một chiếc xương sườn cong.’[FN#270] ‘Và ngươi làm thế nào khi muốn nằm với nàng?’ ‘Ta bảo nàng xức hương và hôn nàng cho tới khi nàng động lòng ham muốn; rồi, nếu sự việc như ngài biết,[FN#271] ta đặt nàng nằm ngửa. Nếu hạt giống ở lại trong dạ nàng, ta nói, “Ôi Allah, xin khiến nó được chúc phúc và đừng để nó thành kẻ phung phí, mà hãy tạo hình nó thành hình dạng tốt nhất!”[FN#272] Rồi ta rời khỏi nàng để làm lễ tẩy rửa, trước tiên ta đổ nước lên tay mình, rồi lên thân thể, và sau cùng ta ca ngợi Allah vì niềm vui Người đã ban cho ta.’ Mu'awiyah nói, ‘Ngươi đã trả lời rất phải, nay hãy nói cho ta biết những điều ngươi cần là gì?’ Ahnaf nói, ‘Thần muốn ngài cai trị thần dân trong nỗi kính sợ Allah và xét xử công bằng giữa họ.’ Bấy giờ Ahnaf đứng dậy và rời khỏi hiện diện của Khalif, và khi ông đi rồi Maysun nói, ‘Nếu ở Irak chỉ có người này thôi, ông cũng đủ cho xứ ấy.’” Rồi Nuzhat al-Zaman tiếp, “Và tất cả điều này là một mục trong chương giáo dưỡng tốt; và hãy biết, ôi đức vua, rằng Muaykib là quản thủ công khố trong thời Khalif Omar bin al-Khattáb,”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi ba đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Nuzhat al-Zaman tiếp, “Hãy biết, ôi đức vua, rằng Mu'aykib là quản thủ công khố trong thời Khalif Omar bin al-Khattab; và xảy ra rằng ông thấy con trai của Omar rồi cho cậu một dirham từ công khố. Bấy giờ, Mu'aykib nói, ‘Ta trở về nhà mình, và trong khi đang ngồi đó, kìa, một sứ giả từ Omar đến gặp ta, ta sợ hãi và đi đến chỗ ngài; khi vào hiện diện của ngài, trong tay ngài là đồng dirham ta đã cho con trai ngài. Ngài nói với ta, “Khốn cho ngươi, Mu'aykib! Ta đã tìm thấy điều gì đó liên quan đến linh hồn ngươi.” Ta hỏi, “Đó là gì?”; ngài đáp, “Đó là ngươi đã tỏ mình là kẻ thù của những người theo Mohammed (cầu bình an và cứu rỗi đến với Người!) trong việc đồng dirham này, và ngươi sẽ phải giải trình về nó vào Ngày Phục Sinh.”[FN#273]’ Và Omar cũng viết một lá thư cho Abú Músá al-Ashári[FN#274] như sau, ‘Khi thư này đến tay ngươi, hãy trao cho dân chúng những gì thuộc về họ và gửi phần còn lại cho ta.’ Và ông làm như vậy. Bấy giờ khi Othman kế vị Khalif, ông viết một lá thư tương tự cho Abu Musa, người làm theo lệnh ông và gửi cống phẩm về cho ông; cùng với cống phẩm ấy có Ziyád.[FN#275] Và khi Ziyad đặt cống phẩm trước mặt Othman, con trai Khalif bước vào và lấy một dirham, bấy giờ Ziyad rơi lệ. Othman hỏi, ‘Vì sao ngươi khóc?’; Ziyad đáp, ‘Tôi từng đem cho Omar bin al-Khattab thứ tương tự như thế này và con trai ngài lấy một dirham, bấy giờ Omar truyền giật nó khỏi tay cậu. Nay con trai ngài đã lấy từ cống phẩm, vậy mà tôi không thấy ai nói gì với cậu hay giật tiền khỏi tay cậu.’ Rồi Othman[FN#276] kêu, ‘Và ngươi sẽ tìm đâu ra người giống Omar?’ Lại nữa, Zayd bin Aslam kể từ cha mình rằng ông nói, ‘Một đêm ta đi ra cùng Omar cho tới khi chúng ta tới gần một ngọn lửa cháy rực. Omar nói, “Hỡi Aslam, ta nghĩ đây hẳn là những người lữ hành đang chịu rét. Nào, chúng ta hãy đến cùng họ.” Vậy chúng ta đi tiếp cho tới khi tới chỗ họ, và kìa! chúng ta thấy một người phụ nữ đã nhóm lửa dưới một cái vạc, bên cạnh bà có hai đứa trẻ, cả hai đều khóc lóc. Omar nói, “Bình an ở cùng các ngươi, hỡi người của ánh sáng” (vì ngài thấy ghê khi nói “người của lửa”),[FN#277] “điều gì làm các ngươi khổ?” Bà nói, “Cái lạnh và đêm tối làm chúng tôi khổ.” Ngài hỏi, “Điều gì làm những đứa nhỏ này khóc?”; bà đáp, “Chúng đói.” Ngài hỏi, “Vậy trong vạc này có gì?”; bà đáp, “Đó là thứ tôi dùng để dỗ chúng, và Allah sẽ chất vấn Omar bin al-Khattab về chúng vào Ngày Phán Xét.” Ngài nói, “Và Omar biết gì về cảnh ngộ của chúng?” Bà đáp, “Vậy vì sao ông ta cai quản việc dân mà lại không biết đến họ?” Bấy giờ Omar quay sang ta (Aslam tiếp) và kêu, “Đi cùng chúng ta!” Vậy chúng ta chạy đi cho tới khi tới cơ quan phát lương trong công khố của ngài, nơi ngài lấy ra một bao bột và một nồi mỡ rồi nói với ta, “Đặt những thứ này lên lưng ta!” Ta nói, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, tôi sẽ mang chúng thay ngài.” Ngài đáp, “Ngươi sẽ mang gánh nặng của ta thay ta vào Ngày Phục Sinh sao?” Vậy ta đặt các thứ lên lưng ngài, rồi chúng ta lên đường, chạy, cho tới khi chúng ta ném bao xuống gần bà ấy. Rồi ngài lấy một ít bột cho vào vạc; và, nói với người phụ nữ, “Để việc này cho ta,” ngài bắt đầu thổi lửa dưới vạc. Bấy giờ ngài là người râu dài[FN#278] và ta thấy khói thoát ra giữa các sợi râu của ngài cho tới khi bột chín, bấy giờ ngài lấy ít mỡ ném vào và nói với người phụ nữ, “Hãy trải giường cho chúng trong khi ta làm nguội món này cho chúng.” Vậy chúng bắt đầu ăn cho tới khi no, và ngài để phần còn lại cho bà. Rồi ngài quay sang ta và nói, “Hỡi Aslam, ta thấy quả thật chính cơn đói đã khiến chúng khóc; và ta mừng vì đã không đi khỏi trước khi tìm ra nguyên nhân ánh sáng mà ta thấy.”’—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi bốn đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Nuzhat al-Zaman tiếp, “Có truyền lại rằng Omar đi ngang một đàn cừu do một Mameluke trông giữ, và ngài bảo hắn bán cho ngài một con cừu. Hắn đáp, ‘Chúng không phải của tôi.’ Omar nói, ‘Ngươi chính là người ta tìm,’ rồi mua hắn và giải phóng hắn; bấy giờ người nô lệ kêu lên, ‘Ôi Allah, như Người đã ban cho con sự giải phóng nhỏ hơn; vậy xin ban cho con sự giải phóng lớn hơn!’[FN#279] Người ta cũng kể rằng Omar bin al-Khattab thường cho người hầu uống sữa ngọt, còn chính mình ăn món thô; mặc cho họ đồ mềm, còn chính mình mặc áo thô. Ngài trả cho mọi người phần xứng đáng của họ, và còn vượt quá trong việc ban phát cho họ. Có lần ngài cho một người bốn nghìn dirham và thêm một nghìn nữa, vì vậy có người nói với ngài, ‘Vì sao ngài không tăng cho con trai ngài như ngài tăng cho người này?’ Ngài đáp, ‘Cha của người này đã đứng vững trong ngày trận Ohod.’[FN#280] Al-Hasan kể rằng Omar có lần trở về từ cuộc chinh phạt với nhiều tiền, và Hafsah[FN#281] đến gần ngài, nói, ‘Ôi Chủ nhân của các tín đồ, phần xứng đáng của tình thân!’ Ngài đáp, ‘Ôi Hafsah! quả thật Allah đã truyền chúng ta thỏa mãn phần xứng đáng của tình thân, nhưng không phải bằng tiền của các Tín đồ Chân chính. Quả thật nàng làm vui lòng gia đình nàng, nhưng nàng làm cha nàng giận.’ Và bà đi khỏi, kéo lê tà áo.[FN#282] Con trai của Omar nói, ‘Ta khẩn cầu Chúa cho ta thấy cha mình một năm sau khi ông mất, cho tới cuối cùng ta thấy ông đang lau mồ hôi khỏi trán, và hỏi ông, “Cha thế nào, ôi cha của con?” Ông đáp, “Nếu không nhờ lòng thương xót của Chúa ta, cha của con chắc chắn đã diệt vong.”’ Rồi Nuzhat al-Zaman nói, “Xin đức vua cũng lắng nghe phần thứ hai của chương đầu về những mẫu chuyện của các tín đồ theo Sứ đồ và những bậc thánh khác. Al Hasan al-Basrí[FN#283] nói, Không linh hồn nào trong con cháu Adam rời khỏi thế gian mà không hối tiếc ba điều: không hưởng được thứ mình đã tích góp, không đạt được thứ mình đã hy vọng, không chuẩn bị đủ lương thực đường xa cho nơi mình đang đi đến.[FN#284] Người ta hỏi Sufyan,[FN#285] ‘Một người có thể vừa mộ đạo vừa có của cải không?’ Ông đáp, ‘Có, miễn là người ấy kiên nhẫn khi sầu khổ và biết tạ ơn khi được nhận.’ Abdullah bin Shaddád, khi sắp chết, sai gọi con trai mình Mohammed và khuyên bảo chàng, rằng, ‘Hỡi con trai ta, ta thấy Kẻ Gọi Của Tử Thần đang gọi ta, nên ta dặn con kính sợ Allah cả nơi công khai lẫn riêng tư, ca ngợi Allah và nói năng chân thật, vì lời ca ngợi ấy đem lại tăng trưởng thịnh vượng, còn lòng mộ đạo tự thân là lương thực tốt nhất cho đời sau; đúng như một thi nhân đã nói,
‘Ta không thấy hạnh phúc nằm trong việc gom vàng; * Người mộ đạo nhất là người hạnh phúc nhất:
Quả thật nỗi kính sợ Thượng Đế là kho tốt nhất, * Và Thượng Đế sẽ khiến người mộ đạo được phúc lành chọn lọc.’
Rồi Nuzhat al-Zaman nói, “Xin đức vua cũng lắng nghe những ghi chép này từ mục thứ hai của chương đầu.” Chàng hỏi nàng, ‘Chúng là gì?’; nàng đáp, “Khi Omar bin Abd al-Azíz[FN# 286] kế vị Khalif, ông đến với gia quyến mình và đặt tay lên tất cả những gì họ nắm giữ, đưa vào công khố. Vậy Banu Umayyah vội chạy đến cầu viện cô ruột của cha ông, Fátimah, con gái Marwan, và bà sai người nói với ông, ‘Ta cần nói chuyện với ngươi.’ Bà đến với ông vào ban đêm, và khi ông đã đỡ bà xuống khỏi thú cưỡi, mời ngồi, ông nói với bà, ‘Ôi cô, cô phải nói trước, vì cô có điều muốn hỏi: vậy hãy nói cho con biết cô muốn gì nơi con.’ Bà đáp, ‘Ôi Chủ nhân của các tín đồ, ngươi nên nói trước, vì phán đoán của ngươi nhận ra điều ẩn khỏi trí hiểu của người khác.’ Rồi Omar nói, ‘Quả thật Allah Toàn năng gửi Mohammed làm phúc lành cho một số người và tai họa cho những kẻ khác; và Người chọn cho Người những người ở cùng Người, trao sứ mệnh cho Người làm Sứ đồ của Người rồi đưa Người về với Chính Người,’—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi lăm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Nuzhat al-Zaman tiếp như vầy, “Omar nói, ‘Quả thật Allah đã trao sứ mệnh Sứ đồ cho Mohammed (cầu phúc lành và cứu rỗi của Allah ở trên Người!), làm phúc lành cho một số người và tai họa cho những kẻ khác; và Người chọn cho Người những người ở cùng Người, rồi đưa Người về với Chính Người, để lại cho dân chúng một dòng suối mà họ có thể uống. Sau Người, Abu Bakr[FN#287] Người Nói Thật trở thành Khalif, và ông để dòng sông như cũ, làm điều đẹp lòng Allah. Rồi Omar nổi lên, làm một công việc và gắng sức trong thánh chiến cùng tranh đấu mà không ai có thể làm điều tương tự. Nhưng khi Othman lên nắm quyền, ông rẽ một dòng nhỏ khỏi dòng suối, và Mu'awiyah đến lượt mình rẽ khỏi nó vài dòng nhỏ; cứ thế không ngừng, Yezid và Banu Marwán như Abd al-Malik, Walíd và Sulaymán[FN#288] rút nước khỏi dòng suối, và dòng chính cạn khô, cho tới khi quyền trị chuyển đến ta, nay ta muốn phục hồi dòng suối về tình trạng bình thường.’ Khi Fatimah nghe vậy, bà nói, ‘Ta đến chỉ muốn nói và bàn với ngươi, nhưng nếu đây là lời ngươi, ta chẳng có gì để nói với ngươi.’ Rồi bà trở về với người Ommiade và nói với họ, ‘Nay các ngươi hãy nhận lấy hậu quả của việc mình làm khi các ngươi kết thân bằng hôn nhân với Omar bin al-Khattab.’[FN#289] Người ta cũng kể rằng khi Omar sắp chết, ông tụ họp con cái quanh mình, và Maslamah[FN#290] bin Abd al-Malik nói với ông, ‘Ôi Chủ nhân của các tín đồ, ngài sẽ để con cái mình nghèo khổ ra sao khi ngài là người bảo hộ chúng? Không ai có thể ngăn ngài trong đời mình trao cho chúng đủ dùng từ công khố; và việc này quả thật tốt hơn là để việc tốt ấy cho người sẽ cai trị sau ngài.’ Omar nhìn ông bằng cái nhìn giận dữ và kinh ngạc rồi đáp, ‘Ôi Maslamah, ta đã bảo vệ chúng khỏi tội này suốt những ngày đời ta, lẽ nào ta khiến chúng khốn khổ sau khi ta chết? Quả thật các con trai ta giống như những người khác, hoặc vâng phục Allah Toàn năng và Người sẽ làm chúng thịnh vượng, hoặc bất tuân và ta sẽ không giúp chúng trong sự bất tuân của chúng. Hãy biết, ôi Maslamah, rằng ta đã hiện diện, cũng như ngươi, khi người nọ trong số con trai Marwan được chôn, và ta thiếp ngủ bên người ấy rồi thấy trong mộng người ấy bị giao cho một trong những hình phạt của Allah, Đấng sở hữu Danh Dự và Vinh Quang! Điều ấy làm ta kinh hãi và run rẩy, và ta đã thề với Allah rằng nếu có ngày ta nắm quyền, ta sẽ không làm những việc mà người chết ấy đã làm. Ta đã cố gắng giữ trọn lời thề này suốt chiều dài đời mình, và ta hy vọng được chết trong lòng thương xót của Chúa ta.’ Maslamah nói, ‘Một người nọ chết và ta có mặt tại lễ chôn ông ấy; khi mọi việc đã xong, ta thiếp ngủ và thấy ông ấy như người ngủ thấy mộng, đi trong một khu vườn có nước chảy, mặc áo trắng. Ông ấy đến gần ta và nói: “Ôi Maslamah, chính vì điều như thế này mà các bậc cầm quyền phải cai trị.”’ Có nhiều mẫu chuyện thuộc loại này, và một người có thẩm quyền nói, ‘Ta từng vắt sữa cừu cái trong thời Khalif Omar bin Abd al-Aziz, và một ngày kia ta gặp một người chăn, trong đàn cừu của hắn ta thấy một con sói hoặc nhiều con sói. Ta tưởng chúng là chó, vì trước đó chưa từng thấy sói; nên ta hỏi, “Ngươi làm gì với những con chó này?” Người chăn đáp, “Chúng không phải chó, mà là sói.” Ta nói, “Sói có thể ở cùng cừu mà không hại chúng sao?” Hắn đáp, “Khi đầu nguyên vẹn, thân thể nguyên vẹn.”[FN#291] Omar bin Abd al-Aziz từng giảng từ một bục đất sét và, sau khi ca ngợi và tôn vinh Allah Toàn năng, nói ba lời như sau, ‘Hỡi dân chúng, hãy làm sạch trái tim sâu kín của mình, để đời sống bên ngoài của các ngươi được sạch đối với anh em các ngươi, và hãy kiêng những điều của thế gian. Hãy biết rằng giữa chúng ta và Adam chẳng có một người sống nào giữa những người chết. Abd al-Malik và những người đi trước ông đã chết, và Omar cũng sẽ chết cùng những người đi trước ông.’ Maslamah hỏi, ‘Ôi Chủ nhân của các tín đồ, nếu chúng tôi đặt một cái gối sau lưng ngài, ngài có tựa vào nó một lúc không?’ Nhưng Omar đáp, ‘Ta sợ nó sẽ là một lỗi quanh cổ ta vào Ngày Phục Sinh.’ Rồi ông thở khò khè tiếng hấp hối và ngã lùi trong cơn ngất; bấy giờ Fatimah kêu lớn, nói, ‘Này, Maryam! Này, Muzahim![FN#292] Này, người kia! Hãy xem người này!’ Và bà bắt đầu rưới nước lên ông, vừa khóc, cho tới khi ông tỉnh lại khỏi cơn ngất; thấy bà rơi lệ, ông nói với bà, ‘Điều gì khiến nàng khóc, ôi Fatimah?’ Bà đáp, ‘Ôi Chủ nhân của các tín đồ, thiếp thấy ngài nằm phủ phục trước chúng thiếp và nghĩ đến việc ngài phủ phục trong cái chết trước Allah Toàn năng, việc ngài rời khỏi thế gian và chia lìa chúng thiếp. Đó là điều khiến thiếp khóc.’ Ông đáp, ‘Đủ rồi, ôi Fatimah, quả thật nàng quá mức.’ Rồi ông định đứng dậy, nhưng lại ngã xuống, và Fatimah ôm chặt ông vào lòng, nói, ‘Ngài đối với thiếp như cha và mẹ của thiếp, ôi Chủ nhân của các tín đồ! Tất cả chúng thiếp không thể nói chuyện với ngài.’” Rồi Nuzhat al-Zaman nói với anh trai nàng Sharrkan và bốn Kazi, “Đây là kết thúc mục thứ hai của chương đầu.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Nuzhat al-Zaman nói với anh trai nàng Sharrkan và bốn Kazi, “Đây là kết thúc mục thứ hai của chương đầu. Và xảy ra rằng Omar bin Abd al-Aziz viết cho những người ở lễ hội tại Meccah như sau, ‘Ta gọi Allah làm chứng, trong Tháng Thiêng, trong Thành Thiêng và vào ngày của Đại Hành Hương,[FN#293] rằng ta vô can với sự áp bức của các ngươi và với những điều sai trái của kẻ làm sai với các ngươi, bởi ta không truyền việc này cũng không định nó, cũng chưa có báo cáo nào về bất cứ điều gì như thế tới ta cho đến giờ, và ta chưa thu được tri thức nào về nó; và ta tin rằng sẽ tìm thấy nguyên nhân để được tha thứ ở chỗ chẳng ai có thẩm quyền từ ta để áp bức bất cứ người nào, bởi chắc chắn ta sẽ bị chất vấn về từng người bị áp bức. Và nếu bất cứ quan chức nào của ta rời khỏi lẽ phải và hành động khác với điều Sách Thiêng và Truyền thống của Sứ đồ cho phép, chớ vâng lời hắn để hắn có thể trở lại con đường công chính.’ Ông cũng nói (cầu Allah chấp nhận ông!), ‘Ta không mong được giải thoát khỏi cái chết, bởi nó là điều tối thượng mà Tín đồ Chân chính được tưởng thưởng.’ Một người có thẩm quyền nói, ‘Ta đến gặp Chủ nhân của các tín đồ, Omar bin Abd al-Aziz, lúc ấy là Khalif, và thấy trước mặt ông mười hai dirham, mà ông truyền đem gửi vào công khố. Vậy ta nói với ông, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, ngài làm con cái mình nghèo đi và giảm chúng xuống cảnh ăn xin, không có gì để sống. Nếu ngài muốn để lại đôi chút theo di chúc cho chúng và cho những người nghèo trong nhà ngài, ấy sẽ là điều tốt.” Ông đáp, “Hãy lại gần ta”: vậy ta lại gần ông và ông nói, “Nay còn về lời ngươi nói, ‘Ngài làm con cái ngài thành ăn xin; hãy chu cấp cho chúng và cho người nghèo trong nhà ngài,’ lời ấy không có lý; bởi Allah quả thật sẽ thay ta chăm lo cho con cái ta và người nghèo trong nhà ta, và Người sẽ là Đấng bảo hộ họ. Quả thật họ giống như những người khác; ai kính sợ Allah, chẳng bao lâu Allah sẽ cung cấp cho người ấy một kết cục tốt đẹp, còn kẻ nghiện tội lỗi, ta sẽ không nâng đỡ hắn trong tội lỗi chống lại Allah.” Rồi ông triệu các con trai mình, số lượng mười hai; khi nhìn thấy chúng, mắt ông rơi lệ, và lát sau ông nói với chúng, “Cha các con đứng giữa hai điều; hoặc các con sẽ khá giả, còn cha các con vào lửa, hoặc các con nghèo, còn cha các con vào Thiên Đường; và việc cha các con vào Thiên Đường thân thiết với cha hơn việc các con khá giả.[FN#294] Vậy hãy đứng dậy và đi, Allah là Đấng giúp các con, bởi ta phó thác việc của các con cho Người!”’ Khálid bin Safwán[FN#295] nói, ‘Yúsuf bin Omar[FN#296] cùng ta đến gặp Hishám bin Abd al-Malik,[FN#297], và khi ta gặp ông, ông đang đi ra cùng thân tộc và tùy tùng. Ông xuống ngựa và một lều được dựng cho ông. Khi mọi người đã ngồi vào chỗ, ta đến bên mép tấm thảm nơi ông ngồi tựa và nhìn ông; rồi, đợi cho tới khi mắt ta gặp mắt ông, ta nói với ông như vầy, “Cầu Allah hoàn thành ân phúc của Người cho ngài, ôi Chủ nhân của các tín đồ, thần có một lời khuyên dành cho ngài, được truyền xuống cho chúng ta từ lịch sử của các vua trước ngài!” Nghe vậy, ông ngồi thẳng dậy từ tư thế tựa và nói với ta, “Hãy đem điều ngươi có ra, hỡi con trai Safwan!” Ta nói, “Ôi Chủ nhân của các tín đồ, một trong các vua trước ngài đã đi ra vào một thời trước thời của ngài, tới chính xứ này và nói với bạn đồng hành, ‘Các ngươi từng thấy địa vị nào như của ta chưa, và hãy nói ta nghe, một cảnh như vậy từng được ban cho người nào như nó được ban cho ta chưa?’ Bấy giờ bên ông có một người thuộc số những kẻ còn sống để làm chứng cho Sự Thật; những người nâng đỡ Lẽ Phải và đi trên đường lớn của nó, người ấy nói với ông, ‘Ôi đức vua, ngài hỏi một việc hệ trọng. Ngài có cho phép tôi đáp không?’ Nhà vua đáp, ‘Có,’ và người kia nói, ‘Ngài phán rằng địa vị hiện tại của ngài là ngắn ngủi hay vĩnh cửu?’ Nhà vua đáp, ‘Nó là tạm thời.’ Người ấy nói tiếp, ‘Vậy sao tôi thấy ngài hân hoan trong điều ngài chỉ hưởng được chút ít, rồi sẽ bị chất vấn về nó rất lâu, và để phải trả lời về nó, ngài sẽ như một vật cầm cố?’ Nhà vua nói, ‘Ta sẽ trốn đi đâu và ta phải tìm gì cho mình?’ Người kia đáp, ‘Rằng ngài ở lại trong vương quyền của mình, hoặc mặc giẻ rách[FN#298] và chuyên tâm vâng phục Allah Toàn năng, Chúa của ngài, cho tới giờ định sẵn của ngài. Tôi sẽ lại đến với ngài lúc rạng đông.’” Khalid bin Safwan kể tiếp rằng người ấy gõ cửa lúc bình minh, và kìa, nhà vua đã bỏ vương miện, quyết làm một ẩn tu sĩ vì sức mạnh lời khuyên răn của ông. Khi Hishám bin Abd al-Malik nghe điều này, ông khóc đến ướt râu, rồi truyền cởi bỏ y phục giàu sang, tự nhốt mình trong cung điện. Rồi các đại nhân và thuộc hạ đến gặp Khalid và nói, “Ngươi đã làm gì với Chủ nhân của các tín đồ thế này? Ngươi đã làm rối thú vui của ngài và khuấy động đời sống của ngài!”’” Rồi Nuzhat al-Zaman nói, hướng lời với Sharrkan, “Có biết bao mẫu chuyện răn dạy trong chương này! Quả thật tôi không thể thuật hết mọi điều thuộc về đề mục này trong một buổi ngồi,”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Nuzhat al-Zaman tiếp tục nói với Sharrkan, “Hãy biết, ôi đức vua, rằng trong chương này có nhiều mẫu chuyện răn dạy đến nỗi quả thật tôi không thể thuật hết mọi điều thuộc về đề mục này trong một buổi ngồi; nhưng, với ngày tháng dài lâu, ôi đức vua của thời đại, mọi sự sẽ tốt đẹp.” Bấy giờ các Kazi nói, “Ôi đức vua, quả thật thiếu nữ này là kỳ quan của thế giới, viên ngọc độc nhất trong thời đại chúng ta! Suốt chiều dài thời gian hay chiều dài đời mình, chúng tôi chưa từng nghe người nào giống nàng.” Và họ cầu phúc cho nhà vua rồi đi khỏi. Rồi Sharrkan quay sang người hầu và nói, “Các ngươi hãy bắt đầu chuẩn bị lễ cưới và sửa soạn thức ăn đủ mọi loại.” Vậy họ lập tức làm theo lệnh chàng về các món ăn, và chàng truyền vợ các Emir, tể tướng cùng đại nhân không được rời đi cho tới giờ tiệc cưới và giờ mở màn che của cô dâu. Vừa đến giờ cầu nguyện buổi chiều, các bàn đã được bày với mọi thứ trái tim có thể muốn hay mắt có thể thích, gồm thịt quay, ngỗng và gà; thần dân ăn cho tới no. Hơn nữa, Sharrkan đã sai gọi tất cả nữ ca sĩ của Damascus, và họ có mặt, cùng mọi nữ nô của nhà vua và của các bậc danh giá biết hát. Và họ cùng nhau đi lên cung điện. Khi chiều tối đến và bóng tối dày đặc, họ thắp nến bên phải bên trái, từ cổng thành lũy đến cổng cung điện; các Emir, tể tướng và đại nhân diễu qua trước mặt vua Sharrkan, trong khi những nữ ca sĩ và phụ nữ trang điểm đưa thiếu nữ đi mặc áo và trang sức, nhưng thấy nàng chẳng cần trang sức nào. Trong khi ấy vua Sharrkan đến Hammam và khi ra, ngồi xuống trên ghế nghi trượng, còn họ diễu cô dâu trước mặt chàng trong bảy bộ áo khác nhau: sau đó họ giảm bớt sức nặng xiêm y và trang sức cho nàng, đồng thời truyền những lời dặn dò như vẫn dặn các trinh nữ trong đêm tân hôn. Rồi Sharrkan vào với nàng và lấy mất trinh tiết của nàng;[FN#299] nàng lập tức thụ thai bởi chàng và, khi nàng báo điều ấy, chàng vui mừng vô hạn, truyền các học giả ghi lại ngày nàng thụ thai. Sáng hôm sau, chàng đi ra và ngồi trên ngai, các đại quan vào gặp chàng và chúc mừng chàng. Rồi chàng gọi thư ký riêng, truyền ông viết một bức thư cho cha mình, vua Omar bin al-Nu'uman, nói rằng chàng đã mua cho ngài một thiếu nữ vượt trội về học vấn và giáo dưỡng tốt, tinh thông mọi loại tri thức. Hơn nữa chàng viết, “Không còn cách nào khác ngoài việc con gửi nàng đến Baghdad để thăm em trai con Zau al-Makan và em gái con Nuzhat al-Zaman. Con đã giải phóng nàng và cưới nàng, nay nàng đã thụ thai bởi con.” Rồi chàng tiếp tục ca ngợi trí tuệ của nàng và gửi lời chào đến em trai, em gái mình cùng tể tướng Dandan và tất cả các Emir. Sau đó chàng niêm phong thư và phái nó đến cha bằng một người đưa thư trạm, người vắng mặt trọn một tháng, sau thời gian ấy trở về với thư đáp và dâng nó trong hiện diện. Sharrkan cầm lấy và đọc như sau, “Sau Bismillah thông thường, đây là từ người đàn ông khổ não tán loạn, từ kẻ đã mất con cái và nhà cửa vì tai họa cùng cấm trở, vua Omar bin al-Nu'uman, gửi con trai mình Sharrkan. Hãy biết rằng, từ khi con rời khỏi ta, nơi này trở nên chật hẹp với ta, đến nỗi ta không còn sức kiên nhẫn và không thể giữ kín bí mật của mình: nguyên nhân của việc ấy như sau. Xảy ra rằng khi ta ra ngoài săn bắn và rượt đuổi, Zau al-Makan xin phép ta đi về hướng Hijaz, nhưng ta, vì sợ cho nó trước những đổi thay của vận số, đã cấm nó cho tới năm sau hay năm sau nữa. Sự vắng mặt của ta trong lúc vui chơi và săn bắn kéo dài trọn một tháng”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi tám đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng vua Omar bin al-Nu'uman viết trong thư, “Sự vắng mặt của ta trong lúc vui chơi và săn bắn kéo dài trọn một tháng, và khi trở về, ta thấy em trai và em gái con đã lấy một ít tiền rồi bí mật lên đường cùng đoàn hành hương để hành hương. Khi biết điều này, thế giới rộng lớn hóa chật hẹp trước ta, hỡi con trai ta! nhưng ta chờ đoàn hành hương trở về, hy vọng có lẽ chúng sẽ quay lại cùng đoàn. Theo đó, khi những người hành hương xuất hiện, ta hỏi về hai đứa, nhưng họ không cho ta được tin nào về chúng; vậy ta mặc tang phục vì chúng, lòng nặng trĩu, chẳng có phần trong giấc ngủ, và ta chìm trong nước mắt của mình.” Rồi ngài viết bằng thơ,
“Đôi ấy trong hình bóng chẳng rời ta một giờ, * Những người ta giữ nơi danh dự nhất của tim mình:
Không hy vọng họ trở về, ta không sống nổi một giờ, * Không những giấc mơ về họ, ta chẳng bao giờ duỗi mình ngủ.”
Bức thư tiếp, “Và sau những lời chào thông thường gửi đến con cùng người của con, ta truyền con chớ lơ là bất cứ cách nào để tìm tin tức về chúng, vì quả thật đây là nỗi hổ thẹn đối với chúng ta.” Khi Sharrkan đọc thư, chàng cảm thấy buồn cho cha mình và vui vì mất em trai và em gái. Rồi chàng cầm thư vào gặp Nuzhat al-Zaman, người không biết chàng là anh nàng, cũng như chàng không biết nàng là em gái mình, dù chàng thường thăm nàng cả đêm lẫn ngày cho tới khi các tháng tròn đủ và nàng ngồi xuống ghế sinh. Allah khiến việc sinh nở của nàng dễ dàng, nàng sinh một con gái, bấy giờ nàng sai gọi Sharrkan, thấy chàng nàng nói, “Đây là con gái của chàng: hãy đặt tên cho con như chàng muốn.” Chàng nói, “Theo lệ thường, con trẻ được đặt tên vào ngày thứ bảy sau khi sinh.”[FN#300] Rồi chàng cúi xuống đứa trẻ để hôn nó và thấy, treo quanh cổ nó, một viên ngọc mà chàng lập tức nhận ra là một trong những viên Công chúa Abrizah đã mang từ xứ Hy Lạp. Bấy giờ khi chàng thấy viên ngọc treo trên cổ con mình, chàng nhận ra nó rất rõ, giác quan bỏ chàng đi và cơn giận chiếm lấy chàng; mắt chàng đảo lên vì thịnh nộ, chàng nhìn Nuzhat al-Zaman và nói với nàng, “Ngươi lấy viên ngọc này từ đâu, hỡi nữ nô?” Khi nàng nghe lời ấy từ Sharrkan, nàng đáp, “Ta là phu nhân của chàng, và là phu nhân của tất cả trong cung điện chàng! Chàng không hổ thẹn khi gọi ta là Nữ nô sao? Ta là một Nữ vương, con gái của vua Omar bin al-Nu'uman.” Nghe điều này, chàng bị cơn run chiếm lấy và cúi đầu xuống đất,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ sáu mươi chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Sharrkan nghe những lời này, tim chàng run lên, sắc mặt vàng vọt, chàng bị cơn run chiếm lấy và cúi đầu xuống đất, bởi chàng biết nàng là em gái cùng cha của mình. Rồi chàng mất giác quan; và khi tỉnh lại, chàng ở trong kinh ngạc, nhưng không tiết lộ thân phận mình với nàng mà hỏi, “Thưa phu nhân, hãy nói, nàng quả thật là con gái vua Omar bin al-Nu'uman sao?” Nàng đáp, “Phải”; chàng tiếp, “Hãy kể cho ta nguyên nhân nàng rời phụ vương và bị bán làm nô lệ.” Vậy nàng kể cho chàng mọi điều đã xảy đến với mình từ đầu đến cuối, cách nàng để anh trai ốm trong Thành Thiêng Jerusalem, và cách lão Badawi bắt cóc nàng rồi bán nàng cho người lái buôn. Khi Sharrkan nghe điều này, chàng chắc chắn nàng là em gái của mình theo dòng gươm và tự nhủ, “Làm sao ta có thể lấy em gái mình làm vợ? Nhân danh Allah, ta nhất định phải gả nàng cho một trong các thị thần của mình; và nếu việc này lộ ra, ta sẽ tuyên bố rằng ta đã ly dị nàng trước khi viên phòng và gả nàng cho Đại Thị thần của ta.” Rồi chàng ngẩng đầu lên, thở dài và nói, “Ôi Nuzhat al-Zaman, nàng chính là em gái ruột của ta và ta kêu: ‘Ta tìm sự che chở nơi Allah khỏi tội lỗi mà chúng ta đã rơi vào,’ bởi ta là Sharrkan, con trai Omar bin al-Nu'uman.” Nàng nhìn chàng và biết chàng nói thật; rồi, trở nên như kẻ mất trí, nàng khóc và đấm vào mặt mình, kêu lên, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah! Quả thật chúng ta đã rơi vào tội chết![FN#301] Ta sẽ làm gì và nói gì với cha mẹ ta khi họ hỏi ta, ‘Con gái của con từ đâu mà có?’” Sharrkan nói, “Điều hợp nhất là ta gả nàng cho Thị thần của ta và để nàng nuôi con gái ta trong nhà ông ấy, hầu không ai biết nàng là em gái ta. Việc này đã xảy đến với chúng ta từ Allah Toàn năng vì mục đích riêng của Người, và không gì che phủ được chúng ta ngoài việc nàng kết hôn với Thị thần này trước khi ai biết.” Rồi chàng bắt đầu an ủi nàng và hôn đầu nàng, nàng hỏi chàng, “Chàng sẽ gọi bé gái là gì?” Chàng đáp, “Hãy gọi nó là Kuzia Fakán.”[FN#302] Rồi chàng gả người mẹ cho Đại Thị thần, chuyển nàng đến nhà ông ấy cùng đứa trẻ, mà họ nuôi trên lòng các nữ nô, cho uống sữa và dùng thuốc bột. Bấy giờ tất cả những việc này xảy ra trong khi người anh, Zau al-Makan, vẫn còn lưu lại với Người Đốt Lửa tại Damascus. Một ngày kia có người đưa thư từ cha chàng đến với vua Sharrkan, mang một bức thư mà chàng nhận và đọc, thấy trong đó viết, “Sau Bismillah, hãy biết, ôi đức vua yêu dấu, rằng ta đau khổ trong nỗi đau đớn dữ dội vì mất các con: giấc ngủ luôn rời bỏ ta và thức trắng luôn vây đánh ta. Ta gửi cho con bức thư này để, ngay khi nhận được nó, con chuẩn bị tiền bạc và cống phẩm, gửi chúng về cho chúng ta, cùng với thiếu nữ mà con đã mua và lấy làm vợ; bởi ta khao khát được thấy nàng và nghe nàng luận bàn; nhất là vì từ xứ Roum có một bà già dáng vẻ thánh thiện đến với chúng ta, cùng bà có năm thiếu nữ trinh nữ ngực cao, được phú tri thức, giáo dưỡng tốt, cùng mọi nghệ thuật và khoa học mà phàm nhân nên biết; và quả thật lưỡi ta bất lực không tả nổi bà già này cùng những người đi với bà; bởi quả thật họ là những bản tổng tập hoàn hảo về học vấn và tài nghệ. Ngay khi ta thấy họ, ta yêu mến họ và muốn có họ trong cung điện mình, trong tầm tay mình; bởi không vị vua nào sở hữu kẻ giống họ; vậy ta hỏi bà già giá của họ và bà đáp, ‘Ta sẽ không bán họ trừ khi đổi lấy cống phẩm của Damascus.’ Và ta, nhân danh Allah, không cho giá này là quá đáng, quả thật nó còn ít, vì mỗi người trong số họ đáng bằng toàn bộ giá ấy. Vậy ta đồng ý và đưa họ vào cung điện của mình, và họ vẫn ở trong sở hữu của ta. Do đó con hãy chuyển cống phẩm đến cho chúng ta để người đàn bà ấy có thể trở về xứ sở của bà; và gửi cho chúng ta thiếu nữ kia, để nàng có thể tranh luận với họ trước các học giả; và nếu nàng thắng họ, ta sẽ trả nàng về cho con cùng cống phẩm của Baghdad.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng vua Omar con trai Al-Nu'uman nói trong thư, “Và gửi cho chúng ta thiếu nữ kia để nàng có thể tranh luận với họ trước các học giả; và nếu nàng thắng họ, ta sẽ trả nàng về cho con cùng cống phẩm của Baghdad.” Ngay khi Sharrkan biết nội dung, chàng vào gặp anh em rể mình và nói với ông, “Hãy đem thiếu nữ mà ta đã gả cho ngươi đến”; và khi nàng đến, chàng cho nàng xem thư rồi nói, “Ôi em gái ta! nàng khuyên ta nên đáp bức thư này thế nào?” Nàng đáp, “Hãy tìm lời khuyên từ chính chàng!” và lát sau nói thêm (bởi nàng khao khát người thân và quê hương của mình), “Hãy gửi em cùng chồng em, Thị thần, đến Baghdad, để em có thể kể cho cha em câu chuyện của mình, cho người biết mọi điều đã xảy đến với em cùng lão Badawi bán em cho thương nhân, và em cũng cho người biết cách chàng mua em từ người lái buôn rồi gả em cho Thị thần, sau khi giải phóng em.” Sharrkan đáp, “Cứ vậy.” Rồi Sharrkan lấy con gái mình, Kuzia Fakan, giao nàng cho các nhũ mẫu và hoạn quan chăm sóc, và chàng vội chuẩn bị cống phẩm, truyền Thị thần đi cùng Công chúa và kho báu đến Baghdad. Chàng cũng trang bị cho ông hai kiệu đi đường, một cho ông và một cho vợ ông. Và Thị thần đáp, “Nghe là vâng.” Hơn nữa Sharrkan gom lạc đà và la, viết một bức thư cho cha mình rồi giao nó cho Thị thần; sau đó chàng từ biệt em gái, sau khi đã lấy viên ngọc từ nàng và treo nó quanh cổ con gái mình bằng một dây chuyền vàng ròng; rồi nàng cùng chồng lên đường đến Baghdad ngay đêm ấy. Bấy giờ xảy ra rằng Zau al-Makan và bạn chàng là Người Đốt Lửa đã ra khỏi túp lều nơi họ ở để xem cảnh tượng, và họ thấy lạc đà, lạc đà Bukhti[FN#303], la chở hàng, đuốc và đèn lồng sáng rực; Zau al-Makan hỏi về những kiện hàng và chủ nhân của chúng, thì được nói rằng đó là cống phẩm của Damascus gửi đến vua Omar bin al-Nu'uman, Chúa của Thành Baghdad. Rồi chàng hỏi, “Ai là người dẫn đầu đoàn lữ hành?” họ đáp, “Đại Thị thần, người đã cưới thiếu nữ nổi danh về học vấn và khoa học.” Bấy giờ Zau al-Makan khóc cay đắng và nhớ đến mẹ cha, em gái cùng quê hương mình, rồi nói với Người Đốt Lò, “Ta sẽ gia nhập đoàn lữ hành này và, từng chút một, sẽ đi về nhà.” Người Đốt Lửa nói, “Ta đã không chịu để con một mình đi từ Thành Thiêng đến Damascus, vậy làm sao ta yên tâm về sự an toàn của con khi con đi Baghdad? Ta sẽ đi cùng con và chăm sóc con cho tới khi con đạt được mục đích.” Zau al-Makan đáp, “Với niềm vui và thiện ý.” Rồi Người Đốt Lửa chuẩn bị cho chàng chuyến đi, thuê một con lừa, vắt túi yên lên nó và đặt vào đó ít lương thực; khi mọi thứ đã sẵn, ông chờ đoàn lữ hành đi qua. Chẳng bao lâu Thị thần đi ngang trên một con lạc đà chạy nhanh, lính hầu đi quanh ông. Rồi Zau al-Ma ken cưỡi lừa và nói với bạn mình, “Ông cũng lên cưỡi cùng ta.” Nhưng ông đáp, “Không: ta sẽ là người hầu của con.” Zau al-Makan nói, “Không còn cách nào khác ngoài việc ông phải cưỡi một lúc.” Người Đốt Lò nói, “Tốt thôi, ta sẽ cưỡi khi mệt.” Rồi Zau al-Makan nói, “Hỡi huynh đệ, chẳng bao lâu ông sẽ thấy ta đối đãi với ông thế nào khi ta đến với người nhà mình.” Vậy họ đi cho tới khi mặt trời mọc, và khi đến giờ ngủ trưa[FN#304], Thị thần gọi dừng lại, họ xuống nghỉ và cho lạc đà uống nước. Rồi ông ra hiệu khởi hành và, sau năm ngày, họ đến thành Hamáh,[FN#305], nơi họ dừng xuống và nghỉ ba ngày;—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi mốt đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng họ dừng lại trong thành Hamah ba ngày; rồi họ đi tiếp và không ngừng đi cho tới khi đến một thành khác. Ở đây họ cũng dừng ba ngày, rồi từ đó họ đi cho tới khi vào tỉnh Diyár Bakr. Tại đây những làn gió Baghdad thổi qua họ, và Zau al-Makan nghĩ đến cha mẹ cùng quê hương mình, nghĩ đến việc mình đang trở về với phụ vương mà không có em gái: vậy chàng khóc, thở dài và than vãn, nỗi hối tiếc trong chàng lớn lên, rồi chàng bắt đầu ứng tác những đôi câu này,
“Người yêu dấu! Ta còn phải đợi bao lâu trong dằng dặc khổ đau? * Mà chẳng sứ giả nào đến báo ta biết chàng cư ngụ nơi nao:
Ôi ta! quả thật thời khắc gặp nhau của chúng ta ngắn ngủi xiết bao: * Ước gì Trời khiến buổi chia lìa hiện tại ngắn hơn cho ta!
Nay hãy kéo tay ta, mở áo ta ra, và trong đó nàng sẽ thấy * Tứ chi ta hao mòn đến đâu, mà ta vẫn che giấu sự hao mòn:
Khi họ nói ‘Hãy tìm an ủi vì mất tình yêu’, ta chỉ đáp * ‘Nhân danh Allah, cho tới Ngày Phán Xét, sẽ chẳng có an ủi nào đến!’”
Bấy giờ Người Đốt Lửa nói với chàng, “Hãy thôi khóc lóc than van đi, vì chúng ta đã gần lều của Thị thần rồi.” Zau al-Makan nói, “Ta nhất định phải ngâm đôi chút thơ; biết đâu nó sẽ dập tắt ngọn lửa trong tim ta.” Người kia kêu, “Allah ở trên chàng, hãy ngừng lời than này cho tới khi chàng về tới xứ sở của mình; rồi hãy làm điều chàng muốn, và ta sẽ ở cùng chàng bất cứ nơi nào chàng ở.” Zau al-Makan đáp, “Nhân danh Allah! ta không thể nhịn được điều này!” Rồi chàng quay mặt về phía Baghdad, vầng trăng đang sáng rỡ, tỏa ánh trên nơi ấy, còn Nuzhat al-Zaman đêm ấy không ngủ được, mà trằn trọc, nhớ đến anh trai và khóc. Và trong khi nàng đang rơi lệ, nàng nghe Zau al-Makan khóc và ứng tác những câu đôi sau đây,
‘Ta thấy ánh chớp lóe của Al-Yaman[FN#306], * Và tuyệt vọng đớn đau làm ta tuyệt vọng
Vì người bạn xưa từng ở cùng ta * Rót đầy chén ta bằng niềm vui hân hoan nhất:
Nó nhắc ta nhớ một người đã phụ ta * Để than khóc tự do cay đắng của ta.
Hãy nói thật, hỡi tia chớp tờ giấy đẹp! liệu * Chúng ta có lại gặp nhau trong vui sướng hân hoan?
Ôi kẻ trách móc! hãy tha cho ta lời trách của ngươi * Chúa của ta đã gửi nỗi sầu này để ta chịu,
Vì người bạn đã bỏ ta, khát khao trốn chạy; * Vì Thời Gian sinh ra tai họa:
Mọi phúc lạc đã rời khỏi trái tim ta * Từ khi Vận Mệnh thành kẻ thù của ta.
Hắn[FN#307] rót đầy một bát toàn sầu héo hắt, * Và bắt ta uống cạn cặn, chính hắn:
Ta thấy mình, người yêu dấu, đã chết và đi khỏi * Trước khi ta lại được ngắm nhìn chàng.
Thời Gian! xin hãy đem tuổi thơ chúng ta trở lại, * Trả lại cho chúng ta thời thơ ấu hạnh phúc,
Khi niềm vui và an toàn chúng ta cùng hưởng * Khỏi những mũi tên nay họ bắn vào ta!
Ai giúp kẻ xa lạ khốn cùng, * Kẻ qua đêm trong kinh hãi và khổ đau,
Kẻ hao phí ngày mình trong sầu riêng lẻ, * Vì ‘Niềm Vui của Thời Gian’[FN#308] không còn nữa?
Bất chấp ý muốn, định mệnh buộc chúng ta chịu * Trong tay bọn thô phàm thấp hèn những lo âu và nhọc nhằn.”
Khi chàng dứt lời thơ, chàng kêu lên và ngã xuống trong cơn ngất. Đó là tình cảnh của chàng; còn về Nuzhat al-Zaman, khi nghe giọng ấy trong đêm, lòng nàng yên lại, nàng đứng dậy, trong niềm vui gọi Đại Hoạn quan, người nói với nàng, “Nàng muốn gì?” Nàng nói, “Hãy đứng dậy và đem đến cho ta người vừa ngâm thơ.” Hắn đáp, “Quả thật tôi không nghe thấy người ấy”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Nuzhat Al-Zaman nghe anh trai mình ngâm thơ, nàng gọi Đại Hoạn quan và nói với hắn, “Hãy đi, đem đến cho ta người đang đọc bài thơ này!” Hắn đáp, “Quả thật tôi không nghe thấy người ấy, cũng chẳng biết người ấy, và mọi người đều đang ngủ.” Nhưng nàng nói, “Bất cứ ai ngươi thấy thức, chính là người ngâm.” Vậy hắn đi, song không tìm thấy ai còn thức ngoài Người Đốt Lò; vì Zau al-Makan vẫn còn bất tỉnh, và khi bạn chàng thấy Hoạn quan đứng bên đầu mình, ông sợ hắn. Rồi Hoạn quan nói, “Có phải ngươi là người vừa ngâm thơ và phu nhân ta nghe thấy không?” Người Đốt Lò tưởng vị phu nhân kia giận người ngâm thơ; và vì sợ, ông đáp, “Nhân danh Allah, không phải tôi!” Hoạn quan nói tiếp, “Vậy ai là người ngâm?: chỉ hắn cho ta. Ngươi hẳn phải biết đó là ai, vì ngươi đang thức.” Người Đốt Lửa sợ cho Zau al-Makan và tự nhủ, “Có lẽ Hoạn quan sẽ làm hại chàng”; nên ông đáp, “Nhân danh Allah, tôi không biết đó là ai.” Hoạn quan nói, “Nhân danh Allah, ngươi nói dối, vì ở đây chẳng có ai thức ngoài ngươi! Vậy nhất định ngươi phải biết hắn.” Người Đốt Lửa đáp, “Nhân danh Allah, tôi nói thật với ngài!: hẳn là người qua đường nào đó, một lữ khách nào đó đã ngâm những câu thơ ấy, làm tôi bối rối và khiến tôi thức; cầu Allah báo ứng hắn!” Hoạn quan nói, “Nếu ngươi gặp hắn, hãy chỉ hắn cho ta, ta sẽ đặt tay lên hắn và đem hắn đến cửa kiệu[FN#309] của phu nhân chúng ta, hoặc chính tay ngươi hãy đưa hắn đến.” Người Đốt Lửa nói, “Ngài hãy trở về, tôi sẽ đem hắn đến cho ngài.” Vậy Hoạn quan rời ông và đi đường mình; rồi vào gặp nữ chủ nhân, kể lại tất cả và nói với nàng, “Không ai biết đó là ai; hẳn là một người qua đường, một lữ khách nào đó.” Và nàng im lặng. Trong khi đó, Zau al-Makan tỉnh lại và thấy vầng trăng đã lên giữa trời; hơi thở của gió sớm[FN#310] thổi trên chàng, trái tim chàng rung động vì nhớ nhung và buồn bã; vậy chàng hắng giọng và sắp ngâm thơ, thì Người Đốt Lửa hỏi chàng, “Chàng định làm gì?” Zau al-Makan đáp, “Ta muốn đọc ít thơ, để nhờ đó dập tắt ngọn lửa trong tim.” Người kia nói, “Chàng không biết điều gì đã xảy đến với ta trong khi chàng ngất, và ta đã thoát chết chỉ bằng cách đánh lừa Hoạn quan.” Zau al-Makan nói, “Hãy kể cho ta biết chuyện đã xảy ra.” Người Đốt Lò đáp, “Trong lúc chàng ngất, vừa rồi có một Hoạn quan đến chỗ ta, trong tay cầm một cây gậy dài bằng gỗ hạnh nhân, hắn nhìn vào mặt mọi người khi họ đang ngủ và hỏi ta ai đã ngâm những câu thơ, vì không tìm thấy ai thức ngoài ta. Ta đáp rằng đó là một người qua đường, một lữ khách nào đó; vậy hắn đi khỏi và Allah đã giải thoát ta khỏi hắn; nếu không hắn đã giết ta rồi. Nhưng trước hết hắn nói với ta, ‘Nếu ngươi lại nghe hắn, hãy đem hắn đến cho chúng ta.’” Khi Zau al-Makan nghe vậy, chàng khóc và nói, “Ai là kẻ muốn cấm ta ngâm thơ? Ta chắc chắn sẽ ngâm, dẫu điều gì xảy đến; bởi ta đã gần đất nước mình và chẳng sợ ai.” Người Đốt Lửa nói tiếp, “Ý định của chàng chẳng là gì ngoài việc đánh mất mạng mình”; còn Zau al-Makan đáp lại, “Ta nhất định phải ngâm thơ.” Người Đốt Lò nói, “Quả thật nhất định phải có cuộc chia lìa giữa ta và chàng ở nơi này, dù ta từng định không rời chàng cho tới khi đưa chàng về thành quê hương và đoàn tụ chàng với cha mẹ. Chàng nay đã ở với ta một năm rưỡi và ta chưa từng hại chàng trong bất cứ việc gì. Vậy điều gì xảy đến với chàng, khiến chàng nhất định phải ngâm thơ, trong khi chúng ta đã mệt lả vì đi đường và thức canh, còn mọi người đều đang ngủ, vì họ cần ngủ để nghỉ khỏi mỏi mệt?” Nhưng Zau al-Makan đáp, “Ta sẽ không bị xoay khỏi mục đích của mình.”[FN#311] Rồi nỗi sầu lay động chàng, chàng vứt bỏ che giấu và bắt đầu ngâm những đôi câu này,
“Hãy đứng bên những mái nhà và chào các chủ nhân của nơi hoang tàn; * Hãy gọi để được đáp, biết đâu lời hồi đáp sẽ đến với ngươi:
Nếu đêm và vắng cách làm phiền linh hồn ngươi, hãy thắp một ngọn đuốc * Bằng sầu than; và soi sáng bóng tối bằng khát vọng lấp lánh:
Nếu rắn cồn cát rít lên, ta chẳng chút kinh ngạc! * Hãy để nó cắn, miễn ta được cắn đôi môi đẹp đỏ mọng kia:
Ôi Eden, linh hồn ta đã bay đi bất chấp nàng thiếu nữ ta yêu: * Nếu ta mất hy vọng nơi Thiên Đường, tim ta đã chết trong tuyệt vọng.”
Và chàng cũng ứng tác hai câu đôi sau đây,
“Chúng ta từng sống, và những ngày tháng bị cột vào mọi ý muốn của ta, * Cư ngụ trong hợp nhất ngọt ngào và ở trong nơi đẹp nhất:
Ai sẽ trả lại mái nhà của người yêu dấu, nơi từng hiện * Ánh Sáng của Chốn Ấy mãi kết liền với Niềm Vui của Thời Gian?”[FN#312]
Và khi chàng ngừng lời thơ, chàng thét lên ba tiếng rồi ngã bất tỉnh xuống đất, còn Người Đốt Lửa đứng dậy phủ chàng lại. Khi Nuzhat al-Zaman nghe bài ứng tác đầu tiên, nàng nhớ đến cha mẹ, anh trai và mái nhà thuở trước; rồi nàng khóc, kêu với Hoạn quan và nói với hắn, “Khốn cho ngươi! Kẻ đã ngâm lần đầu nay lại ngâm lần thứ hai và ta nghe thấy hắn ở ngay gần đây. Nhân danh Allah, nếu ngươi không đem hắn đến cho ta, ta chắc chắn sẽ đánh thức Thị thần chống lại ngươi, và ông ấy sẽ đánh ngươi rồi đuổi ngươi đi. Nhưng hãy cầm một trăm dinar này, đưa cho người ca sĩ ấy và đem hắn đến với ta một cách dịu dàng, chớ làm hại hắn. Nếu hắn từ chối, hãy trao cho hắn chiếc túi một nghìn dinar này, rồi rời hắn và trở về với ta, kể cho ta biết sau khi ngươi đã tìm hiểu nơi ở, nghề nghiệp của hắn và hắn là người xứ nào. Hãy mau quay về và chớ nán lại.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi ba đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Nuzhat al-Zaman sai Hoạn quan đi dò hỏi về người ca sĩ và nói, “Hãy coi chừng, chớ trở về gặp ta mà báo rằng, Ta không tìm được hắn.” Vậy Hoạn quan đi ra, lục soát mọi người và giẫm vào lều của họ, nhưng chẳng thấy ai thức, tất cả đều ngủ vì mệt, cho tới khi hắn đến chỗ Người Đốt Lò và thấy ông đang ngồi dậy, đầu không che. Vậy hắn lại gần, nắm lấy tay ông và nói, “Chính ngươi đã ngâm những câu thơ ấy!” Người Đốt Lửa sợ cho mạng mình và đáp, “Không, nhân danh Allah, ôi thủ lĩnh của mọi người, không phải tôi!” Nhưng Hoạn quan nói, “Ta sẽ không rời ngươi cho tới khi ngươi chỉ cho ta biết ai là kẻ đã ngâm những câu thơ ấy, vì ta sợ trở về với phu nhân ta mà không có hắn.” Bấy giờ khi Người Đốt Lửa nghe những lời này, ông sợ cho Zau al-Makan, khóc lóc thảm thiết và nói với Hoạn quan, “Nhân danh Allah, không phải tôi, và tôi không biết hắn. Tôi chỉ nghe một người qua đường, một lữ khách nào đó, ngâm thơ: vậy xin đừng phạm tội với tôi, bởi tôi là người xa lạ và đến từ Thành Thiêng Jerusalem; và Abraham, bạn của Allah, ở cùng tất cả các vị.” Hoạn quan đáp, “Hãy đứng dậy và đi với ta, rồi tự miệng ngươi nói điều này với phu nhân ta, vì ta không thấy ai thức ngoài ngươi.” Người Đốt Lò nói, “Chẳng phải ngài đã đến và thấy tôi ngồi tại nơi tôi đang ngồi đây sao, và chẳng phải ngài biết trạm của tôi sao? Ngài biết không ai có thể rời khỏi chỗ mình, trừ khi người canh bắt hắn. Vậy ngài hãy về trạm của ngài, và nếu sau giờ này ngài lại gặp bất cứ ai ngâm chút thơ nào, dù hắn ở gần hay xa, ấy sẽ là tôi hoặc một người tôi biết, và ngài sẽ chỉ biết được hắn qua tôi.” Rồi ông hôn đầu Hoạn quan và nói ngọt với hắn cho tới khi hắn đi khỏi; nhưng tên hoạn vòng lại và, bí mật quay về, đến đứng sau Người Đốt Lửa, vì sợ trở về với nữ chủ nhân mà không có tin tức. Ngay khi hắn đi khỏi, Người Đốt Lò đứng dậy, đánh thức Zau al-Makan và nói với chàng, “Nào, ngồi dậy, để ta kể cho chàng điều đã xảy ra.” Vậy Zau al-Makan ngồi dậy, bạn chàng kể cho chàng mọi chuyện đã qua, và chàng đáp, “Cứ mặc ta; ta sẽ không để tâm chuyện này và chẳng sợ ai, vì ta đã ở đất nước của chính mình.”[FN#313] Người Đốt Lò nói, “Vì sao chàng muốn vâng theo xác thịt và quỷ dữ? Nếu chàng không sợ ai, thì ta sợ cho chàng và cho mạng ta, vậy Allah ở trên chàng! chớ ngâm thêm câu thơ nào cho tới khi chàng về tới đất mình. Quả thật, ta không nghĩ chàng lại có tính khí tệ đến thế. Chàng chẳng biết vị phu nhân này là vợ của Thị thần, và nàng định trừng phạt chàng vì đã làm nàng bối rối sao? Có lẽ nàng đang bệnh hoặc bất an vì mỏi mệt đường xa và vì nơi này cách nhà nàng xa, mà đây là lần thứ hai nàng sai Hoạn quan đi tìm chàng.” Tuy nhiên Zau al-Makan chẳng để ý lời Người Đốt Lửa, mà kêu lên lần thứ ba và bắt đầu gieo vần bằng những đôi câu này,
“Ta trốn khỏi thương tổn của kẻ chê bai, * Lời chê bai của hắn làm ta đau đớn cay nghiệt:
Hắn trách mắng và nhạo ta, chẳng biết rằng * Hắn chỉ càng đốt ta đau hơn.
Kẻ trách móc kêu ‘Hắn đã được an ủi!’ * Ta nói, ‘Được thấy đất thân yêu của ta’[FN#314]:
Họ hỏi, ‘Vì sao đất ấy lại thân yêu thế?’ * Ta nói, ‘Vì nó dạy ta biết yêu’:
Họ hỏi, ‘Điều gì nâng phẩm giá nó?’ * Ta nói, ‘Chính điều làm nên nhục nhã của ta’:
Dẫu chén đắng nào ta phải uống cạn, * Xin hãy xa khỏi ta việc trốn khỏi đất ấy:
Ta cũng sẽ không cúi đầu trước những kẻ trách, * Và vì tình yêu ấy mà gieo cho ta hổ thẹn.
Chàng vừa dứt lời thơ và đi đến kết thúc, thì Hoạn quan (người đã nghe chàng từ nơi ẩn nấp bên đầu chàng) bước đến chỗ chàng; bấy giờ Người Đốt Lửa bỏ chạy và đứng ở xa xem chuyện gì xảy ra giữa họ. Rồi Hoạn quan nói với Zau al-Makan, “Bình an ở cùng ngài, thưa chúa công!” Zau al-Makan đáp, “Và bình an ở cùng ngươi, cùng lòng thương xót và phúc lành của Allah!” Hoạn quan tiếp, “Thưa chúa công,”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói,
Khi đêm thứ bảy mươi tư đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Hoạn quan nói với Zau al-Makan, “Thưa chúa công, tôi đã tìm ngài mấy lần đêm nay, vì nữ chủ nhân của tôi mời ngài đến.” Zau al-Makan nói, “Và con chó cái nào tìm ta vậy? Allah nguyền rủa nàng và nguyền rủa cả chồng nàng cùng nàng!”[FN#315] Rồi chàng bắt đầu chửi rủa Hoạn quan, người không thể đáp lại chàng, vì nữ chủ nhân đã dặn hắn không được làm hại Zau al-Makan, cũng không được đưa chàng đi trừ khi chàng hoàn toàn tự nguyện; và nếu chàng không đi cùng hắn thì phải đưa chàng một nghìn dinar. Vậy tên hoạn bắt đầu nói ngọt với chàng và nói với chàng, “Thưa chúa công, xin nhận túi tiền này và đi cùng tôi. Chúng tôi sẽ không làm điều gì bất chính với ngài, hỡi con trai ta, cũng không làm hại ngài chút nào; mục đích của chúng tôi chỉ là ngài thương tình dời bước theo tôi đến với nữ chủ nhân, để nhận câu trả lời của nàng rồi trở về trong bình an và an toàn: và ngài sẽ có một món quà đẹp như người mang tin lành.” Khi Zau al-Makan nghe vậy, chàng đứng dậy đi cùng Hoạn quan và bước giữa những người đang ngủ, bước qua họ; trong khi Người Đốt Lửa theo sau họ từ xa, dõi mắt trông chàng và tự nhủ, “Than ôi, đáng thương cho tuổi trẻ của chàng! Ngày mai họ sẽ treo cổ chàng.” Ông không ngừng theo họ cho tới khi đến gần trạm của họ,[FN#316] mà không ai nhận thấy ông. Rồi ông đứng yên và nói, “Hắn sẽ hèn hạ biết bao nếu hắn nói chính ta đã bảo hắn ngâm thơ!” Đó là tình cảnh của Người Đốt Lò; còn về điều xảy đến với Zau al-Makan, chàng không ngừng đi cùng Hoạn quan cho tới khi đến trạm của hắn, và tên hoạn vào gặp Nuzhat al-Zaman, nói, “Thưa phu nhân, tôi đã đem đến cho nàng người nàng tìm, và chàng là một thanh niên, mặt đẹp và mang dấu hiệu của giàu sang cùng dòng dõi thanh nhã.” Khi nghe vậy, tim nàng run lên và nàng kêu, “Hãy để chàng ngâm vài câu thơ, để ta nghe chàng gần bên, rồi sau đó hỏi tên, cảnh ngộ và quê quán của chàng.” Rồi Hoạn quan đi ra gặp Zau al-Makan và nói với chàng, “Hãy ngâm những câu thơ ngài biết, vì phu nhân tôi ở ngay gần đây, lắng nghe ngài, sau đó tôi sẽ hỏi ngài tên, quê quán và cảnh ngộ.” Chàng đáp, “Với tình yêu và vui lòng; nhưng nếu ngươi hỏi tên ta, nó đã bị xóa và dấu vết ta không nơi chốn, thân ta là một phế tích. Ta có một câu chuyện, khởi đầu của nó không ai biết và kết thúc của nó không thể chỉ ra, và này, ta tựa như một kẻ đã quá độ trong uống rượu và không tiếc chính mình; một kẻ mắc bệnh tật và lang thang khỏi lẽ phải, bối rối về cảnh ngộ của mình và chìm trong biển suy tưởng.” Khi Nuzhat al-Zaman nghe vậy, nàng bật khóc và nức nở quá độ, rồi nói với Hoạn quan, “Hãy hỏi chàng xem chàng có chia lìa người mình yêu như mẹ hay cha không.” Tên hoạn hỏi theo lời nàng dặn, và Zau al-Makan đáp, “Có, ta đã chia lìa mọi người ta yêu: nhưng người thân yêu nhất trong tất cả đối với ta là em gái ta, người mà Định Mệnh đã tách khỏi ta.” Khi Nuzhat al-Zaman nghe điều này, nàng kêu lên, “Cầu Allah Toàn năng đoàn tụ chàng với người chàng yêu!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi lăm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Nuzhat al-Zaman nghe những lời của chàng, nàng nói, “Cầu Allah đoàn tụ chàng với người chàng yêu!” Rồi nàng nói với Hoạn quan, “Bảo chàng cho ta nghe đôi điều về cuộc chia lìa của chàng khỏi đồng bào và xứ sở mình.” Hoạn quan làm như vậy, và Zau al-Makan thở dài nặng nề rồi bắt đầu ngâm những đôi câu này,[FN#317]
“Chẳng phải tình yêu nàng là lời cam kết được toàn nhân gian thừa nhận sao? * Ngôi nhà nơi Hinda cư ngụ hãy mãi được chúc phúc
Tình nàng san phẳng tất cả; người ta chẳng còn đoái gì khác; * Trước hay sau chẳng có gì đem lại hương vị cho người:
Như thể thung lũng được lát bằng xạ hương và long diên hương * Ngày bước chân Hinda đặt trên mặt nó:
Kính chào sắc đẹp của trại chúng ta, niềm kiêu hãnh của dân, * Người yêu dấu nô dịch mọi trái tim theo lệnh nàng:
Cầu Allah gửi đến ‘Niềm Vui của Thời Gian’ những đám mây giọt lớn tuôn tràn * Mưa lành, mà trong ngực không mang tiếng sấm.”
Và cả những câu này,
“Ta thề với Allah nếu ở nhà ta nhìn thấy * Em gái ta tên là Nuzhat al-Zamani
Ta sẽ qua ngày trong vui sướng và hoan lạc * Giữa những thiếu nữ e thẹn, mềm mại và trắng ngần:
Theo tiếng đàn harp họ gảy nhiều điệu khác nhau * Cạn chén, trong khi mắt rải ánh sáng sống động
Dưới mi khép nửa, đôi môi đỏ sáng nhấp từng ngụm * Bên bờ suối chảy qua khu vườn của ta.”
Khi chàng dứt lời thơ, Nuzhat al-Zaman nhấc một vạt rèm kiệu lên và nhìn chàng. Ngay khi mắt nàng rơi trên gương mặt chàng, nàng nhận ra chàng chắc chắn và kêu lên, “Ôi anh trai của em! Ôi Zau al-Makan!” Chàng cũng nhìn nàng, nhận ra nàng và kêu lên, “Ôi em gái của ta! Ôi Nuzhat al-Zaman!” Rồi nàng ném mình lên chàng, chàng ôm nàng vào ngực và cả hai cùng ngã xuống trong cơn ngất. Khi Hoạn quan thấy cảnh ấy, hắn kinh ngạc về họ và ném lên họ một vật gì đó để che phủ, rồi chờ cho tới khi họ tỉnh lại. Sau một lúc, họ hồi tỉnh, và Nuzhat al-Zaman vui mừng quá đỗi: áp bức và u uất rời nàng, niềm vui chiếm lấy nàng, và nàng ngâm những câu này,
“Thời Gian từng thề đời ta sẽ trôi trong hoang phế khốn sầu; * Thời Gian bội thề rồi, hãy mau chuộc tội mình![FN#318]
Phúc lành đến và một người bạn đáng mừng đến trợ giúp; * Với người mang tin lành, hãy đứng dậy, thắt lưng lại
Ta từng khinh chuyện cũ của trần gian về phúc lạc Eden; * Cho tới khi ta gặp Kausar[FN#319] trên đôi môi ấy
Khi Zau al-Makan nghe vậy, chàng ép em gái vào ngực; nước mắt tuôn từ mắt chàng vì niềm vui quá độ và chàng ngâm những đôi câu này,[FN#320]
“Ta đã than khóc lâu dài vì chúng ta lìa nhau, * Trong khi những giọt lệ ăn năn tuôn rào từ đôi mắt này;
Và thề rằng, nếu Thời Gian lại hợp nhất hai ta một lần nữa, * ‘Chia lìa’ sẽ chẳng bao giờ vang từ lưỡi ta:
Niềm vui đã phủ ngập ta đến nỗi quá độ * Khoái lạc kéo từ mắt ta những giọt nước mặn:
Lệ ơi, hỡi mắt ta, nay các ngươi đã thành thói quen * Các ngươi khóc vì vui và các ngươi khóc vì héo hon!”
Họ ngồi một lúc ở cửa kiệu cho tới khi nàng nói với chàng, “Hãy vào kiệu cùng em và kể cho em mọi điều đã xảy đến với chàng, rồi em sẽ kể cho chàng điều đã xảy ra với em.” Vậy họ vào, và Zau al-Maken nói, “Em hãy bắt đầu câu chuyện của mình.” Theo đó, nàng kể cho chàng mọi điều đã xảy đến với nàng từ khi họ chia lìa tại Khan, và những gì đã xảy ra với nàng cùng lão Badawi; cách thương nhân mua nàng từ hắn và đưa nàng đến chỗ anh trai nàng Sharrkan rồi bán nàng cho chàng; cách chàng giải phóng nàng ngay lúc mua; cách chàng lập hôn ước với nàng và vào với nàng; và cách nhà vua, phụ vương của họ, đã gửi thư yêu cầu Sharrkan đưa nàng về. Rồi nàng nói, “Ngợi ca Allah, Đấng đã ban chàng lại cho em và định rằng, đúng như chúng ta rời cha cùng nhau, chúng ta cũng sẽ cùng nhau trở về với người!” Nàng nói thêm, “Quả thật anh trai em Sharrkan đã gả em cho vị Thị thần này để ông đưa em về với cha. Và đó là những gì đã xảy ra với em từ đầu đến cuối; nay hãy kể cho em chàng đã trải qua thế nào từ khi em rời chàng.” Bấy giờ chàng kể cho nàng mọi điều đã xảy đến với mình từ đầu đến cuối; và cách Allah đoái thương sai Người Đốt Lửa đến với chàng, cách chàng đã đi cùng ông, tiêu tiền của ông trên mình chàng, và được ông hầu hạ đêm ngày. Nàng ca ngợi Người Đốt Lò vì việc ấy, và Zau al-Makan nói thêm, “Quả thật, ôi em gái ta, Người Đốt Lửa này đã đối đãi với ta bằng lòng nhân từ đến mức người yêu với người yêu, cha với con cũng chẳng hơn; bởi ông nhịn ăn để cho ta ăn, ông đi bộ trong khi để ta cưỡi; và ta nợ ông mạng sống.” Nàng nói, “Nếu Allah muốn, chúng ta sẽ đền đáp ông vì tất cả điều này, theo khả năng của chúng ta.” Rồi nàng gọi Hoạn quan, hắn đến và hôn tay Zau al-Makan, nàng nói, “Hãy nhận phần thưởng của ngươi vì tin lành, hỡi gương mặt điềm tốt! Chính tay ngươi đã đoàn tụ ta với anh trai ta; vậy chiếc túi tiền ta đưa cho ngươi và mọi thứ trong đó đều thuộc về ngươi. Nhưng nay hãy đến gặp chủ của ngươi và mau đưa ông đến với ta.” Tên hoạn vui mừng và, vào gặp Thị thần, đưa ông đến với nữ chủ nhân. Theo đó, ông vào gặp vợ mình và thấy Zau al-Makan ở cùng nàng, bèn hỏi chàng là ai. Vậy nàng kể cho ông nghe tất cả những gì đã xảy đến với cả hai, từ đầu đến cuối, và nói thêm, “Hãy biết, ôi Thị thần, rằng ngài không cưới một nữ nô; xa hẳn với điều ấy, ngài đã lấy làm vợ con gái của vua Omar bin al-Nu'uman, vì ta là Nuzhat al-Zaman, còn đây là anh trai ta, Zau al-Makan.” Khi Thị thần nghe chuyện, ông biết nó là sự thật, chân lý rõ ràng hiện ra trước ông và ông chắc chắn rằng mình đã trở thành con rể của vua Omar bin al-Nu'uman, nên ông tự nhủ, “Số mệnh ta hẳn sẽ là được làm phó vương một tỉnh nào đó.”[FN#321] Rồi ông đến gần Zau al-Makan, chúc mừng chàng vì sự an toàn và đoàn tụ với em gái, rồi lập tức truyền cho người hầu chuẩn bị cho chàng một chiếc lều và một con ngựa tốt nhất của chính ông để cưỡi. Bấy giờ Nuzhat al-Zaman nói, “Nay chúng ta đã gần xứ sở của mình và em muốn được ở riêng với anh trai, để chúng em được hưởng bầu bạn của nhau và uống no điều ấy trước khi tới Baghdad; bởi chúng em đã xa nhau lâu, rất lâu.” Thị thần đáp, “Cứ như nàng truyền,” rồi đi ra khỏi họ, gửi đến cho họ nến sáp và nhiều loại bánh ngọt, cùng ba bộ xiêm y đắt giá nhất cho Zau al-Makan. Rồi ông trở lại kiệu và kể lại việc tốt mình đã làm, Nuzhat al-Zaman nói với ông, “Hãy bảo Hoạn quan đem Người Đốt Lửa đến cho em, trao cho ông một con ngựa để cưỡi, cấp cho ông một mâm thức ăn vào sáng và tối, và cấm ông rời khỏi chúng ta.” Thị thần gọi tên hoạn và giao cho hắn làm theo; hắn đáp, “Tôi nghe và tuân lệnh”; rồi dẫn theo các tiểu đồng đi ra tìm Người Đốt Lò cho tới khi thấy ông ở phía sau đoàn lữ hành, đang siết dây bụng lừa và chuẩn bị bỏ trốn. Nước mắt chảy xuống má ông vì sợ cho mạng mình và buồn vì chia lìa Zau al-Makan; ông đang tự nhủ, “Quả thật, ta đã khuyên chàng vì tình yêu Allah, nhưng chàng không nghe ta; ôi ước gì ta biết điều gì đã xảy đến với chàng!” Ông chưa nói xong thì Hoạn quan đã đứng bên đầu ông trong khi các tiểu đồng vây quanh ông. Người Đốt Lửa quay lại, thấy Hoạn quan và các tiểu đồng tụ quanh mình, bèn vàng mặt vì sợ,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Người Đốt Lò siết dây bụng lừa để bỏ trốn và tự nói với mình, “Ôi ước gì ta biết điều gì đã xảy đến với chàng!”; ông chưa nói xong thì tên hoạn đã đứng bên đầu ông, các cơ bên sườn ông run lên vì sợ, ông cất tiếng kêu, “Quả thật chàng không biết giá trị những việc tốt ta đã làm cho chàng! Ta tin chàng đã tố cáo ta với Hoạn quan (vì thế các tiểu đồng này mới vây quanh ta) và chàng đã khiến ta thành đồng phạm trong tội của chàng.” Rồi tên yểu điệu kia quát ông, nói, “Ai đã ngâm những câu thơ ấy? Hỡi đồ nói dối! vì sao ngươi nói, ‘Ta chưa từng đọc những câu đôi ấy, cũng không biết ai đọc chúng,’ trong khi đó là bạn ngươi? Nhưng nay ta sẽ không rời ngươi giữa nơi này và Baghdad, và điều gì xảy đến với bạn ngươi cũng sẽ xảy đến với ngươi.” Người Đốt Lửa nói, “Điều ta sợ đã xảy đến với ta.” Và ông ngâm câu đôi này,
“Đúng như ta đã sợ khi nhìn thấy tai họa đang đến: * Nhưng về với Allah tất cả chúng ta đều phải trở về.”
Rồi Hoạn quan quát các tiểu đồng, nói, “Đưa ông ta xuống khỏi lừa.” Vậy họ đưa ông đi cùng đoàn lữ hành, các tiểu đồng vây quanh ông như lòng trắng chứa lòng đen của mắt; còn tên hoạn nói với họ, “Nếu một sợi tóc của ông ấy mất, các ngươi cũng sẽ mất theo nó.” Và hắn dặn họ bí mật đối đãi với ông bằng danh dự, chớ làm nhục ông. Nhưng khi Người Đốt Lò thấy mình bị các tiểu đồng vây kín, ông tuyệt vọng về mạng sống của mình, quay sang Hoạn quan và nói với hắn, “Ôi thủ lĩnh, tôi không phải anh em của chàng trai này, cũng chẳng có họ hàng với chàng, chàng cũng không là thân thuộc với tôi; tôi chỉ là Người Đốt Lửa trong một Hammam và thấy chàng bị vứt ra, trong cơn bệnh, trên đống phân.” Rồi đoàn lữ hành đi tiếp, Người Đốt Lò khóc và tưởng tượng trong lòng nghìn điều, trong khi Hoạn quan đi bên cạnh ông và không nói gì với ông, mà chỉ nói, “Ngươi và chàng trai này đã làm nữ chủ nhân của chúng ta bối rối bằng việc ngâm thơ: nhưng chớ sợ cho bản thân ngươi”; và trong khi ấy cứ tự cười thầm với ông. Mỗi khi đoàn lữ hành dừng lại, họ dọn thức ăn cho ông, và ông cùng tên hoạn ăn chung một đĩa.[FN#322] Rồi Hoạn quan bảo các cậu hầu đem một bình sherbet đường và, sau khi tự uống, đưa nó cho Người Đốt Lửa, ông uống; nhưng suốt lúc ấy nước mắt ông không hề khô, vì sợ cho mạng mình, vì buồn chia lìa Zau al-Makan và vì những gì đã xảy đến với họ trong cảnh tha hương. Vậy cả hai cùng đi với đoàn lữ hành, trong khi Thị thần lúc thì cưỡi ngựa bên cửa kiệu của vợ, hầu cận Zau al-Makan và em gái chàng, lúc lại để mắt đến Người Đốt Lửa; còn Nuzhat al-Zaman và anh trai nàng bận trò chuyện và cùng an ủi nhau; họ không ngừng như vậy cho tới khi còn cách Baghdad ba ngày đường. Tại đây họ xuống nghỉ lúc chiều tối và nghỉ cho tới sáng hôm sau; khi họ thức dậy và sắp chất hàng lên thú, thì kìa, từ xa hiện ra một đám bụi lớn làm tối cả trời cao cho tới khi nó đen như đêm u ám nhất.[FN#323] Bấy giờ Thị thần kêu với họ, “Dừng lại, và khoan chất hàng!”; rồi, cưỡi ngựa cùng các Mameluke của mình, ông tiến lên phía trước theo hướng đám mây bụi. Khi họ đến gần, dưới nó bất chợt hiện ra một đạo quân đông đảo chiến thắng như biển triều đầy, với cờ và hiệu kỳ, trống và trống đồng, kỵ binh và bộ binh. Thị thần kinh ngạc trước cảnh này; và khi quân lính thấy ông, từ giữa họ tách ra một toán năm trăm kỵ sĩ, lao vào ông cùng đoàn tùy tùng và vây quanh họ, năm người đối một; bấy giờ ông nói với họ, “Có chuyện gì vậy và đoàn quân này là gì mà các ngươi làm như thế với chúng ta?” Họ hỏi, “Ngươi là ai; từ đâu đến, và đi đâu?” ông đáp, “Ta là Thị thần của Emir Damascus, vua Sharrkan, con trai Omar bin al-Nu'uman, Chúa của Baghdad và xứ Khorasan, và ta mang cống phẩm cùng quà tặng từ ngài đến cha ngài ở Baghdad.” Khi các kỵ sĩ nghe lời ông, họ buông khăn đầu xuống che mặt và khóc, nói, “Quả thật vua Omar đã chết, và ngài chết không bởi gì ngoài thuốc độc. Vậy các ngươi hãy đi tiếp; không hại nào sẽ xảy đến với các ngươi cho tới khi các ngươi nhập với Đại Tể tướng của ngài, Dandan.” Bấy giờ khi Thị thần nghe điều này, ông khóc đau đớn và kêu lên, “Ôi, chuyến đi này của chúng ta thất vọng biết bao!” Rồi ông cùng tất cả đoàn tùy tùng khóc cho tới khi họ đến chỗ đạo quân và xin vào gặp tể tướng Dandan, người cho phép yết kiến, truyền dừng lại và, cho dựng đình của mình, ngồi xuống trên một chiếc trường kỷ trong đó rồi truyền cho Thị thần vào. Sau đó ông mời Thị thần ngồi và hỏi chuyện ông; ông đáp rằng mình là Thị thần của Emir Damascus và đang đi đến chỗ vua Omar với quà tặng cùng cống phẩm của Syria. Tể tướng nghe nhắc tên vua Omar thì khóc và nói, “Vua Omar đã chết vì thuốc độc, và khi ngài chết, dân chúng bất hòa với nhau về người sẽ kế vị ngài, cho tới mức họ gần như giết nhau vì chuyện này; nhưng các bậc danh giá, đại nhân và bốn Kazi can thiệp, rồi toàn dân đồng ý đưa việc ấy cho bốn quan tòa quyết định, và không ai được trái lời họ. Vậy đã quyết rằng chúng ta đi đến Damascus và đem từ đó con trai của nhà vua, Sharrkan, về lập làm Sultan cai trị vương quốc của cha mình. Và trong số họ có vài người muốn chọn con thứ, Zau Al-Makan, vì họ nói, tên chàng là Ánh Sáng của Chốn Ấy, và chàng có một em gái tên Nuzhat al-Zaman, Niềm Vui của Thời Gian; nhưng họ đã lên đường đến Al-Hijaz năm năm trước và chẳng ai biết điều gì đã xảy đến với họ.” Khi Thị thần nghe vậy, ông biết rằng vợ mình đã kể thật về các cuộc phiêu lưu của nàng; và ông buồn đau khôn xiết vì cái chết của vua Omar, dù lại vui mừng quá đỗi, nhất là vì Zau al-Makan đã đến, bởi nay chàng sẽ trở thành Sultan của Baghdad thay cha mình—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Thị thần của Sharrkan nghe tin vua Omar bin al-Nu'uman qua đời, ông than khóc, nhưng ông vui mừng vì vợ mình và anh nàng Zau al-Makan, người sẽ trở thành Sultan của Baghdad thay cha. Vậy ông quay sang tể tướng Dandan và nói với ông, “Quả thật câu chuyện của ngài là kỳ quan trong các kỳ quan! Hãy biết, ôi Đại Tể tướng, rằng ở đây, nơi ngài gặp ta, Allah đã cho ngài nghỉ khỏi mỏi mệt và đem đến cho ngài điều ngài muốn theo cách dễ dàng nhất, bởi Ý Chí Toàn Năng của Người đã trả lại cho ngài Zau al-Makan và em gái chàng Nuzhat al-Zaman; nhờ đó chúng ta sẽ giải quyết việc này dễ như trở bàn tay.” Khi vị tể tướng nghe những lời này, ông vui mừng lắm và nói, “Ôi Thị thần, hãy kể cho ta câu chuyện của hai người ấy, những điều đã xảy đến với họ và nguyên nhân họ vắng mặt lâu như vậy.” Vậy ông kể lại cho tể tướng toàn bộ câu chuyện, nói rằng Nuzhat al-Zaman là vợ mình và thuật cho ông những cuộc phiêu lưu của Zau al-Makan từ đầu đến cuối. Ngay khi ông kể xong, tể tướng sai gọi các Emir, tể tướng và các đại quan, rồi cho họ biết sự việc; họ vui mừng vô cùng và kinh ngạc trước vận may tốt lành. Rồi họ tụ lại thành một đoàn, vào gặp Thị thần và hành lễ với ông, hôn đất giữa hai tay ông; tể tướng Dandan cũng đứng dậy, đi ra đón ông và đứng trước ông để tỏ kính trọng. Sau đó, Thị thần mở một hội đồng Divan ngày ấy; ông và tể tướng ngồi trên ngai, trong khi mọi Emir, đại nhân và quan chức quốc vụ đứng vào chỗ trước mặt họ, theo từng phẩm trật.[FN#324] Rồi họ hòa đường trong nước hoa hồng và uống, sau đó các Emir ngồi xuống bàn việc, cho phép phần còn lại của đạo quân lên ngựa và thong thả tiến trước, cho tới khi họ kết thúc bàn luận và đuổi kịp họ. Vậy các quan chức hôn đất giữa hai tay họ rồi lên ngựa đi tiếp, trước mặt là các chiến kỳ. Khi các đại nhân đã hoàn tất cuộc nghị bàn, họ lên ngựa và nhập lại với quân đội; Thị thần đến gần tể tướng Dandan và nói, “Ta cho rằng tốt hơn nên cưỡi ngựa đi trước ngài, dẫn đầu ngài, để ta chuẩn bị một nơi cho Sultan và báo cho ngài biết các ngài sắp đến, cùng việc các ngài chọn ngài làm Sultan trên đầu anh trai ngài Sharrkan.” Tể tướng đáp, “Ngài xét đúng.” Rồi Thị thần vội đứng dậy, Dandan cũng đứng dậy để tỏ kính trọng và đem quà tặng đến cho ông, khẩn khoản xin ông nhận. Các Emir, đại nhân và quan chức quốc vụ cũng làm tương tự, đem quà tặng đến cho ông, cầu phúc cho ông và nói với ông, “Có lẽ ngài sẽ nhắc hoàn cảnh của chúng tôi với Sultan Zau al-Makan và nói với ngài cho chúng tôi tiếp tục giữ phẩm vị.”[FN#325] Thị thần hứa mọi điều họ yêu cầu và bảo các tiểu đồng của mình sẵn sàng lên đường, bấy giờ tể tướng Dandan gửi cùng ông các lều trại và bảo những người dựng lều dựng chúng cách thành một ngày đường. Họ làm theo lệnh ông. Rồi Thị thần lên ngựa và cưỡi đi trước, đầy vui mừng, tự nhủ, “Chuyến đi này phúc lành biết bao!”, và quả thật vợ ông được tôn cao trong mắt ông, cả nàng và anh nàng Zau al-Makan. Họ vội vã trên đường, cho tới khi đến một nơi cách Baghdad một ngày đường, nơi Thị thần gọi dừng lại nghỉ, bảo người của ông xuống ngựa và chuẩn bị một chỗ ngồi cho Sultan Zau al-Makan, con trai vua Omar bin al-Nu'uman, trong khi ông cưỡi ngựa đi trước cùng các Mameluke của mình và, xuống ngựa cách kiệu của Nuzhat al-Zaman một quãng, truyền các hoạn quan xin phép vào hiện diện. Họ làm vậy và nàng cho phép; bấy giờ ông vào gặp nàng, trò chuyện với nàng và anh nàng; rồi kể cho họ nghe về cái chết của cha họ; và về Zau al-Makan, rằng những người đứng đầu dân chúng đã lập chàng làm vua thay cha; rồi ông chúc mừng họ về vương quốc. Cả hai cùng khóc vì cha mình và hỏi cách người bị giết; nhưng Thị thần đáp, “Tin tức nằm nơi tể tướng Dandan, người sẽ đến đây vào ngày mai, dẫn theo toàn bộ quân đội; và điều còn lại duy nhất cho ngài, ôi đức vua, là làm điều họ khuyên, vì họ đã nhất trí chọn ngài làm Sultan; bởi nếu ngài không làm vậy, họ sẽ chọn người khác, và ngài không thể chắc mạng mình với một Sultan khác. Có lẽ hắn sẽ giết ngài, hoặc bất hòa có thể xảy ra giữa hai người, và vương quốc rơi khỏi tay cả hai.” Zau al-Makan cúi đầu một lúc rồi nói, “Ta chấp nhận địa vị này”; bởi quả thật không thể từ chối; và chàng chắc chắn rằng Thị thần đã khuyên mình tốt đẹp, khôn ngoan và đặt mình trên con đường đúng. Rồi chàng nói thêm, “Ôi chú của ta, ta sẽ làm gì với anh trai mình Sharrkan?” Thị thần đáp, “Ôi con trai ta, anh trai con sẽ là Sultan của Damascus, còn con là Sultan của Baghdad; vậy hãy vững lòng trong ân sủng và chuẩn bị cảnh ngộ của mình.” Zau al-Makan chấp nhận điều này, và Thị thần dâng cho chàng một bộ vương phục cùng một con dao găm[FN#326] nghi trượng mà tể tướng Dandan đã đem theo; rồi rời chàng, ông bảo những người dựng lều chọn một chỗ đất cao và dựng trên đó một đại đình rộng rãi, nơi Sultan có thể ngồi tiếp các Emir và đại nhân. Hơn nữa ông truyền cho đầu bếp nấu các món ăn thịnh soạn và dọn chúng, đồng thời truyền cho người gánh nước sắp đặt các máng nước. Họ làm như ông bảo, và chẳng bao lâu một đám bụi nổi lên từ mặt đất, lan rộng cho tới khi dựng tường quanh chân trời. Sau một lúc, bụi tan và dưới nó hiện ra đạo quân Baghdad và Khorasan, một đoàn quân chiến thắng như biển triều đầy.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi tám đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Thị thần truyền cho những người dựng lều dựng một đại đình đủ rộng để đón các thần dân đổ về với Sultan của họ, họ đã dựng một Sháhmiyánah[FN#327] lộng lẫy xứng với các bậc vua chúa. Và khi họ vừa hoàn tất công việc, kìa một đám bụi vươn cao cuồn cuộn, gió làm nó bốc lên, và bên dưới hiện ra một đạo quân chiến thắng; chẳng bao lâu rõ ra rằng ấy là quân đội Baghdad và Khorasan, dẫn đầu bởi tể tướng Dandan. Và trong toàn quân, ai nấy đều vui mừng vì “Ánh Sáng của Chốn Ấy” lên ngôi. Bấy giờ Zau al-Makan đã khoác vương phục và thắt thanh gươm nghi trượng: vậy Thị thần đem đến cho chàng một chiến mã, chàng lên yên, quanh mình là các Mameluke và toàn bộ người trong các lều đều đi bộ hầu chàng; chàng cưỡi đi cho tới khi đến đại đình, nơi chàng ngồi xuống và đặt con dao găm vương gia ngang đùi, trong khi Thị thần đứng hầu bên chàng, còn các nô bộc vũ trang của chàng đứng dưới mái hiên lối vào Sháhmiyánah, tay cầm gươm tuốt trần. Chẳng bao lâu, quân lính và đạo quân kéo tới xin được vào, vậy Thị thần vào gặp Zau al-Makan xin phép; bấy giờ chàng truyền cho họ vào, mười người một lượt. Thị thần báo cho họ biết mệnh lệnh của nhà vua, họ đáp, “Chúng thần nghe và tuân lệnh”; rồi tất cả dàn hàng trước lối vào đại đình. Sau đó ông dẫn mười người trong số họ, đưa qua tiền sảnh vào hiện diện của Sultan Zau al-Makan; khi thấy chàng, họ đều kính sợ; nhưng chàng tiếp họ với lòng nhân hậu hết sức khoan hòa và hứa với họ mọi điều tốt lành. Vậy họ chúc mừng chàng trở về bình an, cầu xin phúc lành của Allah trên chàng, rồi thề trung thành không bao giờ trái lệnh chàng trong bất cứ việc gì, hôn đất trước mặt chàng và lui ra. Rồi mười người khác vào, chàng đối đãi họ như đã đối đãi những người kia; và họ không ngừng vào, mười người một lượt, cho tới khi chẳng còn ai ngoài tể tướng Dandan. Sau cùng vị tể tướng vào, hôn đất trước mặt Zau al-Makan, chàng đứng dậy đón ông, nói, “Hoan nghênh, hỡi tể tướng và bậc cha không ai sánh! Quả thật hành động của ngươi là hành động của một cố vấn vô cùng thân thiết, còn phán đoán và tầm nhìn sáng rõ đều nằm trong tay Đấng Tinh Diệu của Tri Thức.” Rồi chàng truyền Thị thần lập tức đi ra, cho bày bàn và lệnh toàn quân đến ăn. Vậy họ đến, ăn và uống. Hơn nữa Sultan truyền tể tướng Dandan cho quân đội nghỉ mười ngày, để chàng có thể ở riêng với ông và biết từ ông cách nào và vì sao cha mình bị giết. Tể tướng vâng lệnh Sultan bằng sự quy phục, chúc chàng vinh quang vĩnh cửu và nói, “Việc này nhất định phải làm!” Sau đó ông đi vào giữa doanh trại và ra lệnh cho quân đội dừng lại mười ngày. Họ làm theo lệnh ông; hơn nữa, ông cho phép họ tiêu khiển và truyền rằng trong khoảng ba ngày không một vị đại thần chầu trực nào phải hầu hạ nhà vua. Rồi tể tướng đến gặp Sultan và tâu lại mọi việc, còn Zau al-Makan đợi đến khi đêm xuống, bèn vào gặp em gái Nuzhat al-Zaman và hỏi nàng, “Em có biết nguyên nhân phụ vương ta bị giết hay không?” Nàng đáp, “Em không biết nguyên nhân,” rồi kéo một bức rèm lụa trước mình, trong khi Zau al-Makan ngồi ngoài rèm và truyền mời tể tướng vào hiện diện; khi ông đến, chàng nói với ông, “Ta muốn ngươi thuật cho ta tường tận nguyên nhân phụ vương ta, vua Omar bin al-Nu'uman, bị giết!” Dandan đáp, “Vậy hãy biết, ôi đức vua, rằng vua Omar bin al-Nu'uman, khi trở về Baghdad sau cuộc săn bắn và rượt đuổi thú rồi vào thành, đã hỏi về ngài và em gái ngài, nhưng không tìm được hai ngài và biết rằng hai ngài đã đi Hành hương; vì thế ngài đau buồn lắm và vô cùng giận dữ, ngực ngài bị bóp nghẹt, và ngài ở trong tình trạng ấy nửa năm, hỏi tin hai ngài từ mọi kẻ đến người đi, nhưng chẳng ai có thể cho ngài chút tin tức nào. Bấy giờ trong khi chúng tôi hầu ngài một ngày kia, sau khi trọn một năm đã trôi qua từ lúc hai ngài khuất khỏi mắt ngài, kìa! có một bà lão dáng vẻ như người tu hành đến với chúng tôi, đi cùng năm thiếu nữ, những trinh nữ ngực cao tựa trăng, được ban cho sắc đẹp và vẻ yêu kiều mà lưỡi không thể tả xiết; và để làm trọn thêm những hoàn hảo của dung nhan, họ có thể đọc kinh Koran và thông thạo nhiều loại học vấn cùng lịch sử các dân tộc đã qua. Rồi bà lão ấy xin vào yết kiến nhà vua, và ngài truyền cho bà vào; bấy giờ bà bước vào hiện diện, hôn đất giữa hai tay ngài. Khi ấy tôi đang ngồi bên cạnh ngài, và ngài, thấy nơi bà những dấu hiệu của khổ hạnh và mộ đạo, bảo bà lại gần và ngồi ngay bên mình. Khi bà đã ngồi xuống, bà nói với ngài, ‘Hãy biết, ôi đức vua, rằng cùng tôi có năm thiếu nữ mà chẳng vị vua nào trong các vua sở hữu kẻ giống như họ; bởi họ được ban cho trí tuệ, sắc đẹp, vẻ yêu kiều và sự hoàn hảo. Họ đọc kinh Koran—và các Truyền thống, lại tinh thông mọi loại học vấn cùng lịch sử các chủng tộc đã qua. Họ đứng đây giữa hai tay ngài để hầu hạ ngài, ôi đức vua của thời đại, và chính qua thử thách mà người đời được quý trọng hay bị khinh thường.’ Phụ vương ngài, người đã được thương xót;[FN#328] nhìn các thiếu nữ và vẻ đẹp của họ làm ngài hài lòng; vậy ngài nói với họ, Hãy để mỗi người trong các ngươi cho ta nghe điều gì đó trong những điều nàng biết về lịch sử người xưa và các dân tộc đã qua từ lâu!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ bảy mươi chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng Dandan nói với vua Zau al-Makan, “Phụ vương ngài, người đã được thương xót, liếc nhìn các thiếu nữ và vẻ đẹp của họ làm ngài hài lòng, rồi ngài nói với họ, ‘Hãy để mỗi người trong các nàng cho ta nghe điều gì đó trong những điều nàng biết về lịch sử người xưa và các dân tộc đã qua từ lâu!’ Bấy giờ một người trong số họ bước tới, hôn đất trước mặt ngài và nói như sau[FN#329] ‘Hãy biết, ôi đức vua, rằng người có giáo dưỡng tốt phải tránh sự xấc xược, trang điểm cho mình bằng các đức hạnh, giữ những mệnh lệnh Thiêng và tránh các tội chết; và người ấy phải chuyên tâm vào điều này bằng sự cần mẫn của kẻ, nếu lạc khỏi đó, sẽ rơi vào diệt vong; bởi nền tảng của giáo dưỡng tốt là cách cư xử đức hạnh. Và hãy biết rằng nguyên nhân cùng lý do chính của sự tồn tại con người là nỗ lực hướng tới đời sống vĩnh cửu, và con đường đúng đến đó là phụng sự Allah. Bởi vậy ngài phải đối đãi nhân từ với dân chúng: chớ lệch khỏi phép tắc này, bởi con người càng hùng mạnh trong phẩm vị, càng cần đến sự thận trọng và tiên liệu; và thật vậy, các bậc quân vương cần điều này hơn đám đông, vì dân thường lao mình vào các việc mà không suy xét kết quả của chúng. Hãy hào phóng với mạng sống và của cải của ngài trên đường Allah, và biết rằng nếu kẻ thù tranh luận với ngài, ngài có thể tranh luận với hắn, bác bỏ hắn bằng bằng chứng và vững vàng trước hắn; nhưng còn bạn hữu của ngài, chẳng ai có thể phân xử giữa ngài và người ấy ngoài sự ngay chính và đối đãi công bằng. Vì vậy hãy chọn bạn cho mình sau khi ngài đã thử người ấy. Nếu người ấy thuộc tình huynh đệ của đời sau,[FN#330] hãy để người ấy sốt sắng giữ những hình thức bên ngoài của Luật Thiêng và tinh thông ý nghĩa bên trong của nó, trong phạm vi có thể; còn nếu người ấy thuộc tình huynh đệ của thế gian, hãy để người ấy là người tự do, chân thành, không ngu dại cũng không ngang ngược, bởi kẻ ngu là kẻ mà ngay cả cha mẹ hắn cũng có thể phải trốn khỏi hắn, còn kẻ nói dối không thể là bạn chân thật. Quả thật chữ Siddík[FN#331] (“bạn”) bắt nguồn từ Sidk (“sự thật”), vốn tuôn lên từ đáy lòng; mà điều này sao có thể có, khi dối trá hiển hiện trên đầu lưỡi? Và hãy biết rằng việc giữ Luật đem lợi cho người thực hành nó: vậy hãy yêu thương huynh đệ của ngài, nếu người ấy có phẩm chất này, và đừng bỏ rơi người ấy, dẫu ngài thấy nơi người ấy điều làm ngài khó chịu, bởi bạn hữu không giống như vợ, người ta có thể ly dị rồi cưới lại: không, trái tim người ấy giống như thủy tinh: một khi vỡ, nó không thể hàn gắn. Và cầu Allah ban phúc cho người nói rằng,
‘Hãy coi chừng, chớ làm người đau bằng vết thương nơi tim; * Khó mà giành lại được trái tim đã bị xúc phạm:
Vì những trái tim, một khi tình yêu bị làm cho xa lạ khỏi đó, * Như thủy tinh đã vỡ, chẳng bao giờ còn được hàn gắn.’
Thiếu nữ tiếp tục và kết thúc bằng việc chỉ cho chúng tôi biết điều các hiền giả nói, ‘Huynh đệ tốt nhất là người bền bỉ nhất trong lời khuyên tốt; hành động tốt nhất là hành động có kết quả đẹp nhất; và lời ca ngợi tốt nhất không phải là lời nằm trong miệng người đời.’ Người ta cũng nói, ‘Tôi tớ không nên lơ là việc tạ ơn Allah, nhất là vì hai ân huệ: sức khỏe và lý trí.’ Lại nữa có lời rằng, ‘Kẻ nào tôn trọng bản thân, dục vọng của hắn là chuyện nhẹ đối với hắn; và kẻ nào làm lớn những nỗi phiền nhỏ của mình, Allah sẽ giáng cho hắn những nỗi lớn hơn; kẻ nào vâng theo khuynh hướng riêng của mình thì lơ là bổn phận, và kẻ nào nghe lời kẻ gièm pha thì mất bạn thật. Kẻ nào nghĩ tốt về ngươi, hãy làm trọn điều hắn nghĩ về ngươi. Kẻ nào quá mức trong tranh cãi thì phạm tội, và kẻ nào không cảnh giác khi chống lại điều ngay thẳng thì không an toàn khỏi gươm. Nay tôi sẽ nói cho ngài đôi điều về bổn phận của các Kazi và quan tòa. Hãy biết, ôi đức vua, rằng không phán quyết nào phục vụ chính nghĩa công lý trừ khi nó được đưa ra sau bằng chứng xác thực, và quan tòa phải đối xử với mọi người trên cùng một mức, nhằm để người lớn không khao khát áp bức và kẻ nhỏ không tuyệt vọng về công lý. Hơn nữa, ông phải rút bằng chứng từ nguyên đơn và đặt lời thề lên bị đơn; và hòa giải là điều được chấp nhận giữa các tín đồ Hồi giáo, trừ khi đó là thỏa hiệp cho phép điều bất hợp pháp hay cấm điều hợp pháp.[FN#332] Nếu trong ngày ngài đã làm điều gì mà lý trí còn nghi ngờ nhưng thiện ý được chứng minh, thì ngài (ôi Kazi) phải trở về với lẽ phải, bởi thực thi công lý là nghĩa vụ tôn giáo và trở về với điều đúng thì tốt hơn cố chấp trong điều sai. Rồi (ôi quan tòa) ngài phải nghiên cứu tiền lệ và luật của vụ việc, xét xử công bằng giữa các người kiện, đồng thời đặt mắt vào sự thật và phó thác việc của mình cho Allah (nguyện Người được tán dương và tôn cao!). Và ngài hãy đòi bằng chứng nơi nguyên đơn, nếu hắn đưa chứng cứ thì hãy để hắn hưởng lợi chính đáng từ đó; còn nếu không, hãy đặt bị đơn vào lời thề; bởi đây là sắc lệnh của Allah. Ngài hãy nhận lời chứng của những nhân chứng Hồi giáo có đủ tư cách, người này chống người kia, bởi Allah Toàn năng đã truyền cho các quan tòa phán xét theo vẻ bên ngoài, còn Chính Người đảm nhận những điều bên trong và bí mật. Quan tòa cũng phải tránh ra phán quyết khi đang chịu đau đớn nặng nề hoặc đói khát,[FN#333] và trong các quyết định giữa người với người, ông phải tìm đến gương mặt của Allah Toàn năng; bởi kẻ có ý định thanh sạch và hòa bình với chính mình, Allah sẽ bảo đảm cho hắn trước những gì nằm giữa hắn và dân chúng.’ Al-Zuhri[FN#334] nói, ‘Có ba điều, nếu được thấy nơi một Kazi, thì phải phế bỏ ông ta; ấy là nếu ông ta tôn vinh kẻ hèn hạ, nếu ông ta thích lời khen và nếu ông ta sợ bị bãi chức.’ Và Omar bin Abd al-Aziz từng phế truất một Kazi, người hỏi ông, ‘Vì sao ngài bãi chức tôi?’ Omar đáp, ‘Có tin đến ta rằng lời trò chuyện của ngươi lớn hơn địa vị của ngươi.’ Người ta cũng kể rằng Iskandar[FN#335] nói với Kazi của mình, ‘Ta đã trao cho ngươi chức vụ này và phó thác trong đó linh hồn, danh dự và nam tính của ta; vậy hãy gìn giữ nó bằng giác quan và hiểu biết của ngươi.’ Với Đầu bếp của mình, ông nói, ‘Ngươi là Sultan của thân thể ta; vậy hãy chăm sóc nó như chính bản thân ngươi.’ Với Thư ký của mình, ông nói, ‘Ngươi là người điều khiển trí tuệ của ta: vậy hãy canh giữ ta trong những gì ngươi viết cho ta và từ ta.’” Bấy giờ thiếu nữ thứ nhất lùi ra khỏi hiện diện và một thiếu nữ thứ hai bước tới.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi đến,
Nàng tiếp, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng Dandan nói với Zau al-Makan, “Bấy giờ thiếu nữ thứ nhất lùi ra khỏi hiện diện, còn một thiếu nữ thứ hai bước tới và, hôn đất bảy lần trước mặt nhà vua phụ vương ngài, nói như sau, ‘Hiền giả Lukmán[FN#336] nói với con trai mình, “Có ba hạng người chỉ được biết trong ba trường hợp riêng: người nhân từ chỉ được biết trong lúc giận, người dũng cảm chỉ trong chiến trận, và bạn của con trong lúc cần.” Người ta nói rằng kẻ áp bức sẽ bị hạ xuống dù được người đời khen, và người bị áp bức được yên nghỉ dù bị người đời trách. Allah Toàn năng phán,[FN#337] “Chắc chắn chớ tưởng rằng những kẻ vui mừng vì điều mình đã làm, và thích được khen vì điều mình chưa làm, sẽ thoát khỏi sự tính toán hình phạt: quả thật đã dành sẵn cho họ một hình phạt đau đớn.” Và Người nói[FN#338] (cầu cứu rỗi và chào lành đến với Người!), “Việc làm tùy theo ý định, và mỗi người được gán điều mình định.” Người cũng nói, “Trong thân thể có một phần, nếu nó lành mạnh thì phần còn lại lành mạnh, và nếu nó hư hỏng thì toàn thể hư hỏng.” Và đó là trái tim. Nay trái tim này là thứ kỳ diệu nhất trong con người, vì chính nó sắp đặt toàn bộ việc của người ấy: nếu lòng tham khuấy động trong nó, dục vọng hủy diệt người ấy; nếu tai ương chế ngự nó, thống khổ giết người ấy; nếu cơn giận cuồng nộ trong nó, hiểm nguy đè nặng lên người ấy; nếu nó được chúc phúc bằng sự bằng lòng, người ấy an toàn khỏi bất mãn; nếu nỗi sợ bất ngờ ập đến, người ấy đầy tang tóc; và nếu tai họa bắt kịp nó, đau khổ xảy đến với người ấy. Nếu một người đạt được việc dùng của cải, có lẽ người ấy bị nó làm xao lãng khỏi việc nhớ đến Chúa của mình; nếu nghèo đói bóp nghẹt người ấy, tim người ấy bị khổ đau làm rối loạn; hoặc nếu bất an hao mòn tim người ấy, yếu đuối khiến người ấy ngã. Như vậy, trong mọi trường hợp, chẳng gì đem lợi cho người ấy ngoài việc nhớ đến Allah và chuyên tâm kiếm sinh kế trong thế giới này, đồng thời bảo đảm chỗ của mình trong đời sau. Người ta hỏi một hiền giả, “Ai là kẻ có điều kiện tệ nhất trong loài người?”; ông đáp, “Kẻ có dục vọng chế ngự nam tính và có trí óc bay quá cao, đến nỗi tri thức của hắn phân tán còn lời bào chữa của hắn giảm đi; và thi nhân nói hay tuyệt làm sao,
Ta là kẻ tự do nhất trong nhân loại khỏi người hay xen vào, * Kẻ thấy người khác sai mà chẳng hề thấy lỗi mình:
Giàu sang và tài năng chỉ là của vay mượn cho tạo vật, * Mỗi người khoác tấm áo của thứ mình mang trong ngực và linh hồn:
Nếu qua cửa nhầm mà ngươi thử việc gì, * Ngươi sẽ đi sai; còn nếu cửa đúng, sẽ đi đúng!’
Thiếu nữ tiếp, ‘Còn về các giai thoại của những người mộ đạo, Hisham bin Bashar nói, “Ta hỏi Omar bin Ubayd, Thế nào là lòng mộ đạo chân thật?”; ông đáp, “Sứ đồ của Allah (cầu chào lành và cứu rỗi đến với Người!) đã giải thích điều ấy khi Người nói, Người mộ đạo là kẻ không quên mộ phần và tai họa, kẻ thích điều trường tồn hơn điều qua đi; kẻ không tính ngày mai là một trong những ngày của mình mà kể mình vào hàng người chết.” Và có truyền lại rằng Abu Zarr[FN#339] thường nói, “Thiếu thốn thân với ta hơn giàu sang, và bệnh tật thân với ta hơn sức khỏe.” Một người nghe nói, “Cầu Allah thương xót Abu Zarr!” Còn về phần mình, ta nói, “Kẻ nào đặt tin cậy vào sự tốt lành trong lựa chọn của Allah Toàn năng thì phải bằng lòng với tình trạng mà Allah đã chọn cho mình.” Một trong những Bạn đồng hành của Đấng Tiên tri nói, “Ibn Abi Aufa[FN#340] có lần cầu nguyện bình minh cùng chúng tôi. Khi cầu nguyện xong, ông đọc, ‘Ôi Người Được Quấn Áo!’[FN#341] cho tới chỗ Allah phán, ‘Khi kèn được thổi lên,’ rồi ngã xuống chết.” Người ta nói rằng Sabit al-Banani khóc cho tới khi gần mất mắt. Họ đem đến cho ông một người chữa trị, người ấy nói với ông, “Ta sẽ chữa cho ngươi, miễn là ngươi nghe lệnh ta.” Sabit hỏi, “Trong việc gì?” Thầy thuốc nói, “Trong việc ngươi ngừng khóc!” Sabit đáp, “Mắt ta đáng giá gì nếu chúng không khóc?” Một người nói với Mohammed bin Abdillah, “Xin hãy khuyên bảo tôi!”’”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi mốt đến,
Nàng tiếp, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng Dandan nói với Zau al-Makan, “Thiếu nữ thứ hai đã nói như vậy với nhà vua, người đã được thương xót, Omar bin al-Nu'uman. ‘Một người nói với Mohammed bin Abdillah, “Xin hãy khuyên bảo tôi!” Ông đáp, “Ta khuyên ngươi hãy là người tự trị mình, kẻ kiêng bỏ trong thế gian này, và ở đời sau là nô lệ tham lam.” Người kia hỏi, “Như thế nào?” Mohammed đáp, “Người kiêng bỏ trong thế gian này chinh phục cả thế gian hiện tại lẫn thế giới sắp đến.” Và Ghaus bin Abdillah nói, “Trong số con cái Israel có hai anh em, một người nói với người kia, ‘Việc nguy hiểm nhất[FN#342] ngươi từng làm là gì?’ Người anh em đáp, ‘Có lần ta gặp một ổ chim non; vậy ta lấy ra một con rồi ném nó trở lại ổ; nhưng trong đàn chim con có vài con tách xa khỏi nó. Đó là việc nguy hiểm nhất ta từng làm; nay việc nguy hiểm nhất ngươi từng làm là gì?’ Người kia đáp, ‘Khi ta đứng dậy cầu nguyện, ta sợ rằng việc ấy chỉ vì phần thưởng.’ Bấy giờ cha họ nghe những lời này và kêu lên, ‘Ôi Allah, nếu chúng nói thật, xin đưa chúng về với Người!’ Một trong các hiền giả tuyên bố, ‘Quả thật, họ thuộc những người con đức hạnh nhất.’ Sa'íd bin Jubayr[FN#343] nói, ‘Ta có lần ở cùng Fuzalah bin 'Ubayd và nói với ông, “Xin hãy khuyên tôi!” Ông đáp, “Hãy ghi nhớ hai điều cần thiết này: tránh đa thần[FN#344] và đừng làm hại bất cứ tạo vật nào của Allah.”’ Và ông ngâm hai câu đôi này,
‘Hãy là điều ngươi muốn, vì Allah vẫn là Chúa rộng lượng, * Đấng xua tan lo âu, vậy chớ sợ tai ương và cấm trở
Chỉ hai điều chớ bao giờ lại gần, cũng chớ đem * Bạn ngang hàng cho Allah, hay phiền não cho người anh em của mình.’
Và thi nhân nói hay biết bao,
‘Nếu ngươi lơ là một kho việc mộ đạo * Và sau khi chết gặp người đã gom góp,
Ngươi sẽ hối tiếc vì đã không làm như người ấy, * Cũng không chuẩn bị như người ấy đã chọn.’
Rồi thiếu nữ thứ ba bước tới, sau khi thiếu nữ thứ hai đã lui ra, và nói, ‘Quả thật, chương về lòng mộ đạo rộng lớn vô cùng; nhưng tôi sẽ nhắc điều hiện đến trong trí mình về nó, liên quan đến những người mộ đạo thời xưa. Một bậc thánh nọ nói, “Ta tự chúc mừng mình trong cái chết, dù không chắc có được nghỉ yên trong đó, trừ việc ta biết cái chết chen vào giữa con người và việc làm của hắn; vậy ta hy vọng các việc tốt được nhân đôi và các việc xấu bị cắt bớt.” Và Ita'a al Salami, khi kết thúc một lời khuyên, thường run rẩy, sầu muộn và khóc đau đớn; khi người ta hỏi vì sao ông làm vậy, ông đáp, “Ta muốn bước vào một việc trọng đại, ấy là đứng lên trước Allah Toàn năng để làm theo lời khuyên của ta.” Tương tự, Zayn al-Abidín,[FN#345] con trai Al-Husayn, thường run rẩy khi đứng lên cầu nguyện. Khi được hỏi nguyên nhân, ông đáp, “Các ngươi không biết ta đứng trước ai và đang thưa chuyện với ai sao?” Người ta kể rằng gần Sufyán al-Thauri[FN#346] có một người mù sống, khi tháng Ramazan đến, người ấy đi ra cùng dân chúng để cầu nguyện,[FN#347] nhưng giữ im lặng và lùi lại phía sau. Sufyan nói, “Vào Ngày Phục Sinh, người ấy sẽ đến cùng dân của kinh Koran, và họ sẽ được phân biệt với đồng bạn bằng sự gia tăng danh dự.” Sufyan nói, “Nếu linh hồn được đặt trong tim như đáng phải thế, nó sẽ bay đi vì vui sướng và khao khát Thiên Đường, và vì sầu khổ cùng sợ hãi lửa địa ngục.” Cũng có truyền lại về Sufyan Al-Thauri rằng ông nói, “Nhìn vào mặt một kẻ bạo ngược là tội lỗi.”’ Rồi thiếu nữ thứ ba lui ra, và thiếu nữ thứ tư bước tới, nói, ‘Tôi đây sẽ nói về vài truyền thống của những người mộ đạo hiện đến trong trí tôi. Có truyền rằng Bishr Chân Trần[FN#348] nói, “Có lần ta nghe Khálid nói, ‘Hãy coi chừng đa thần bí mật.’ Ta hỏi, ‘Đa thần bí mật là gì?’; ông đáp, ‘Khi một người trong các ngươi trong lúc cầu nguyện kéo dài các động tác cúi mình và phủ phục cho tới khi một nguyên nhân bất tịnh[FN#349] xảy đến với hắn.’” Và một trong các hiền giả nói, “Làm việc lành chuộc lại điều dữ.” Ibrahim[FN#350] nói, “Ta khẩn khoản xin Bishr Chân Trần cho ta biết vài huyền nhiệm thần học; nhưng ông nói, ‘Hỡi con trai ta, tri thức này không nên dạy cho mọi người; trong mỗi một trăm chỉ năm người, đúng như khoản bố thí hợp pháp trên tiền bạc.’ Ibrahim nói, ‘Ta cho lời đáp của ông là tuyệt diệu và chấp nhận nó; và trong khi ta đang cầu nguyện, kìa, Bishr cũng đang cầu nguyện: vậy ta đứng phía sau ông[FN#351] làm động tác cúi cầu nguyện cho tới khi Mu'ezzin cất tiếng gọi. Rồi một người có dáng rách rưới đứng dậy và nói, Ôi dân chúng, hãy coi chừng một sự thật đem lại bất hạnh, bởi một lời dối đem lại lành thì chẳng hại gì,[FN#352] và trong lúc cần chẳng có lựa chọn nào ta màng: lời nói chẳng lợi gì khi thiếu phẩm chất tốt, cũng như im lặng chẳng hại gì khi có điều tốt. Chẳng bao lâu ta thấy Bishr đánh rơi một danik,[FN#353] vậy ta nhặt nó lên và đổi lấy một dirham, rồi đưa cho ông. Ông nói, “Ta sẽ không nhận.” Ta nói, “Đây là đổi chác hoàn toàn hợp pháp”; nhưng ông đáp, “Ta không thể nhận để đổi lấy của cải đời hiện tại cho của cải đời tương lai.”’ Cũng có truyền rằng em gái của Bishr Chân Trần từng đến gặp Ahmad bin Hanbal”[FN#354]—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng Dandan tiếp tục nói với Zau al-Makan như vầy, “Và thiếu nữ nói với phụ vương ngài, ‘Em gái của Bishr Chân Trần có lần đến gặp Ahmad bin Hanbal và nói với ông, “Ôi Imam của Đức Tin, chúng tôi là một gia đình kéo sợi vào ban đêm và làm việc kiếm sống ban ngày; nhiều lúc đuốc của đội canh Baghdad đi ngang, còn chúng tôi ở trên mái nhà kéo sợi nhờ ánh sáng của họ. Điều này có bị cấm đối với chúng tôi không?” Ahmad hỏi: “Bà là ai?” Bà đáp, “Tôi là em gái của Bishr Chân Trần.” Imam đáp, “Ôi nhà Bishr, ta sẽ không bao giờ thôi uống đầy từng ngụm mộ đạo từ trái tim các ngươi.” Một trong các hiền giả nói, “Khi Allah muốn điều lành cho tôi tớ của Người, Người mở cho hắn cánh cửa hành động.” Málik bin Dinár,[FN#355] khi đi qua chợ và thấy điều gì mình ham muốn, thường nói, “Ôi linh hồn, hãy nhẫn nại, vì ta sẽ không thuận cho ngươi điều ngươi muốn.” Ông cũng nói (cầu Allah chấp nhận ông!), “Sự cứu rỗi của linh hồn nằm trong việc chống lại nó, còn sự đọa đầy của nó nằm trong việc khuất phục nó.” Mansúr bin Ammár[FN#356] nói, “Ta thực hiện một cuộc hành hương và đi về hướng Meccah theo đường Cufa, đêm ấy trời u ám, khi ta nghe một giọng kêu lên từ sâu trong bóng tối, nói, ‘Ôi Allah, con thề bởi Sự Vĩ Đại và Vinh Quang của Người, qua sự bất tuân của con, con không có ý vượt giới chống lại Người; vì quả thật con không ngu dốt về Người; nhưng lỗi của con là điều Người đã tiền định cho con từ vĩnh cửu không khởi đầu;[FN#357] vậy xin Người tha thứ sự vi phạm của con, vì quả thật con đã bất tuân Người do sự ngu dốt của con!’ Khi người ấy kết thúc lời cầu nguyện, người ấy đọc lớn câu kinh, ‘Ôi những tín đồ chân chính, hãy cứu linh hồn các ngươi và gia đình các ngươi khỏi lửa mà nhiên liệu là người và đá.’[FN#358] Rồi ta nghe một tiếng ngã, nhưng không biết đó là gì, ta đi tiếp. Khi sáng hôm sau đến, trong lúc chúng ta lên đường, kìa, chúng ta gặp một đoàn tang, theo sau là một bà già đã mất sức. Ta hỏi bà về người chết, bà đáp, ‘Đây là tang lễ của một người hôm qua đi ngang chúng tôi trong khi con trai tôi đang đứng cầu nguyện, và sau lời cầu nguyện, nó đọc một câu từ Sách của Allah Toàn năng; bấy giờ túi mật của người ấy vỡ ra và người ấy ngã xuống chết.’” Rồi thiếu nữ thứ tư lui ra và thiếu nữ thứ năm bước tới, nói, ‘Tôi cũng sẽ nhắc lại điều hiện đến trong trí mình liên quan đến hành trạng của những người mộ đạo thời xưa. Maslamah bin Dinár thường nói, “Bằng cách làm lành mạnh những ý nghĩ bí mật, tội lớn và nhỏ đều được che phủ”; và, “khi tôi tớ của Allah quyết tâm bỏ tội, chiến thắng đến với hắn.” Ông cũng nói, “Mọi điều tốt của thế gian không đưa người ta gần Allah hơn đều là tai họa, bởi chút ít của thế giới này làm xao lãng khỏi nhiều phần của thế giới sắp đến, còn nhiều phần của hiện tại khiến ngươi quên toàn bộ tương lai.” Người ta hỏi Abú Házim,[FN#359] “Ai là người thịnh vượng nhất?”; ông đáp, “Kẻ dành đời mình trong sự quy phục Allah.” Người kia hỏi, “Và ai là kẻ ngu dại nhất trong nhân loại?” Abu Hazim đáp, “Kẻ bán tương lai của mình để lấy của cải thế gian của người khác.” Có truyền lại về Moses[FN#360] (cầu bình an ở trên Người!) rằng khi Người đến vùng nước Midian, Người kêu lên, “Ôi Chúa, quả thật con cần điều tốt mà Người sẽ gửi xuống cho con.”[FN#361] Và Người xin nơi Chúa của mình chứ không xin nơi dân mình. Có hai thiếu nữ đi đến, và Người kéo nước cho cả hai, không cho những kẻ chăn cừu kéo trước. Khi hai người trở về, họ báo cho cha mình là Shu'ayb (cầu bình an ở trên Người!), ông nói, “Có lẽ chàng đói,” rồi nói thêm với một người trong họ, “Hãy trở lại với chàng và mời chàng đến đây.” Bấy giờ khi nàng đến gặp Moses, nàng che mặt và nói, “Cha tôi mời ngài đến với ông, để ông trả công ngài vì đã kéo nước cho chúng tôi.” Moses không thích điều này và không muốn đi theo nàng. Bấy giờ nàng là người phụ nữ có phần sau đầy đặn, và gió thổi lên áo nàng[FN#362] để lộ đôi má sau trước mắt Moses; khi Moses thấy vậy, Người hạ mắt xuống và nói với nàng, “Nàng hãy đi phía sau, còn ta đi phía trước.” Vậy nàng theo sau Người cho tới khi Người vào nhà Shu'ayb, nơi bữa tối đã sẵn.”’—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi ba đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng Dandan tiếp tục với Zau al-Makan, “Bấy giờ, thiếu nữ thứ năm nói với phụ vương ngài, ‘Khi Moses (cầu bình an ở trên Người!) vào nhà Shu'ayb, nơi bữa tối đã sẵn, Shu'ayb nói với Người, “Ôi Moses, ta muốn trả công cho ngươi vì đã kéo nước cho hai cô gái này.” Nhưng Moses đáp, “Ta thuộc một gia đình không bán bất cứ thứ gì thuộc cách thức của đời sau[FN#363] để đổi lấy vàng bạc trên đất.” Khi ấy Shu'ayb nói, “Ôi chàng trai! tuy vậy, ngươi là khách của ta, và thói quen của ta cùng tổ tiên ta là tôn vinh khách bằng cách đặt thức ăn trước mặt người.” Vậy Moses ngồi xuống và ăn. Rồi Shu'ayb thuê Moses trong tám cuộc hành hương, nghĩa là tám năm, và đặt tiền công của Người là hôn nhân với một trong hai con gái ông, còn sự phục vụ của Moses với ông thay cho sính lễ của nàng. Như Sách Thiêng nói về Người, “Quả thật ta sẽ gả cho ngươi một trong hai con gái ta, với điều kiện ngươi phục vụ ta thuê trong tám cuộc hành hương: và nếu ngươi hoàn thành mười năm, điều ấy tùy lòng ngươi; vì ta không muốn đặt khó khăn lên ngươi.”[FN#364] Có lần một người nói với một người bạn mà mình đã nhiều ngày không gặp, “Ngươi đã khiến ta cô quạnh, vì ta đã không thấy ngươi suốt một thời gian dài.” Người kia nói, “Ta bận lòng vì Ibn Shiháb: ngươi có biết ông ấy không?” Bạn ông đáp, “Có, ông ấy là hàng xóm của ta ba mươi năm nay, nhưng ta chưa từng nói chuyện với ông ấy.” Người kia đáp, “Quả thật ngươi quên Allah khi quên—người hàng xóm của mình! Nếu ngươi yêu Allah, ngươi hẳn đã yêu hàng xóm của mình. Ngươi không biết rằng hàng xóm có quyền đối với hàng xóm,[FN#365] cũng như quyền của thân tộc sao?” Huzayfah nói, “Chúng tôi vào Meccah cùng Ibráhím bin Adham, và Shakík al-Balkhí cũng hành hương năm ấy. Bấy giờ chúng tôi gặp nhau trong lúc đi vòng quanh Ka'abah, và Ibrahim nói với Shakik, ‘Ở xứ các ông, cách thức các ông thế nào?’ Shakik đáp, ‘Khi được phúc lương thực hằng ngày, chúng tôi ăn, và khi đói, chúng tôi nhẫn nại.’ Ibrahim nói, ‘Chó ở Balkh cũng làm như thế; còn chúng tôi, khi được phúc dư dả, chúng tôi tôn vinh Allah, và khi đói, chúng tôi tạ ơn Người.’ Và Shakik ngồi xuống trước Ibrahim và nói với ông, ‘Ngài là thầy của tôi.’ Mohammed bin Imrán cũng nói, ‘Một người từng hỏi Hátim Người Điếc[FN#366] “Điều gì khiến ngài đặt tin cậy vào Allah?” Ông đáp, “Hai điều, ta biết rằng không ai ngoài chính ta sẽ ăn phần lương thực hằng ngày của ta, nên tim ta yên về điều ấy; và ta biết rằng ta không được tạo ra ngoài tri thức của Allah, nên ta hổ thẹn trước Người.”’ Rồi thiếu nữ thứ năm lui ra, và bà lão bước tới, hôn đất trước phụ vương ngài chín lần, nói, ‘Ngài đã nghe, ôi đức vua, tất cả những người này đã nói gì về đề tài mộ đạo; và tôi sẽ theo gương họ trong việc thuật lại điều truyền đến tôi về những danh nhân thời trước. Người ta kể rằng Imam al-Sháfi'í chia đêm thành ba phần, phần thứ nhất để học, phần thứ hai để ngủ và phần thứ ba để cầu nguyện. Imam Abú Hanífah[FN#367] cũng thường dành nửa đêm để cầu nguyện. Một ngày kia, một người chỉ ông cho một người khác khi ông đi ngang và nói, “Người kia thức canh trọn đêm.” Khi nghe điều này, Abu Hanifah nói, “Ta hổ thẹn trước Allah khi nghe mình được khen vì điều không có nơi ta”; vậy sau đó ông thường thức canh trọn đêm. Và một trong các Hiền giả đã nói,
‘Kẻ tìm ngọc trai nơi Vực Sâu phải lặn sâu; * Kẻ muốn lên cao phải cướp giấc ngủ khỏi đêm mình.’
Al-Rabí a kể rằng Al-Shafi'i thường đọc toàn bộ kinh Koran bảy mươi lần trong tháng Ramazan, và ấy là trong các lời cầu nguyện hằng ngày của ông. Al-Shafi'i nói (cầu Allah chấp nhận ông!), ‘Suốt mười năm ta chưa từng ăn no bánh lúa mạch, bởi no nê làm tim cứng lại, làm trí tuệ chết đi, gây buồn ngủ và làm người ta yếu ớt không đứng dậy cầu nguyện.’[FN#368] Có truyền lại về Abdullah bin Mohammed al-Sakrá rằng ông nói, ‘Có lần ta đang nói chuyện với Omar, và ông nhận xét với ta, “Ta chưa từng thấy một người nào kính sợ Thượng Đế hơn hay hùng biện hơn Mohammed bin Idris al-Shafi'i.” Xảy ra một ngày kia ta đi ra cùng Al-Háris bin Labíb al-Saffár, người là môn đồ của Al-Muzani[FN#369] và có giọng rất hay, ông đọc lời phán của Đấng Toàn năng, “Đây sẽ là ngày mà họ không nói được điều gì có ích, cũng không được phép bào chữa cho mình.”[FN#370] Ta thấy sắc mặt Al-Shafi'i đổi màu; da ông rùng mình dựng tóc, ông bị lay động dữ dội và ngã xuống trong cơn ngất. Khi tỉnh lại, ông nói, “Ta tìm nơi Allah sự che chở khỏi chỗ đứng của những kẻ nói dối và phần của những kẻ lơ là! Ôi Allah, trước Người trái tim của người khôn ngoan tự hạ mình, ôi Allah, bởi ân từ của Người, xin ban cho con sự tha thứ tội lỗi của con, trang điểm con bằng bức màn che chở của Người và thứ lỗi cho những thiếu sót của con, bởi sự cao thượng của Bản Thể Người!” Rồi ta đứng dậy và đi khỏi. Một người mộ đạo nói, “Khi ta vào Baghdad, Al-Shafi'i ở đó. Vậy ta ngồi xuống bờ sông để làm lễ tẩy rửa trước khi cầu nguyện; và kìa, có một người đi ngang qua ta, nói, ‘Ôi chàng trai, hãy làm lễ Wuzu-tẩy rửa cho tốt, rồi Allah sẽ làm tốt cho ngươi trong thế giới này và trong đời sau.’ Ta quay lại, và kìa! có một người đàn ông phía sau, theo sau ông là một đoàn người. Vậy ta vội hoàn tất lễ tẩy rửa và đi theo ông. Chẳng bao lâu, ông quay lại và hỏi ta, ‘Nói đi, ngươi muốn gì chăng?’ Ta đáp, ‘Vâng, tôi muốn ngài dạy tôi đôi chút trong điều Allah Toàn năng đã dạy ngài.’ Ông nói, ‘Vậy hãy biết rằng kẻ nào tin vào Allah sẽ được cứu, kẻ nào yêu đức tin mình bằng lòng ghen giữ sẽ được giải thoát khỏi hủy diệt, và kẻ nào thực hành kiêng bỏ trong thế gian này, đôi mắt hắn sẽ được an ủi vào sáng ngày sau cái chết. Ta có nên nói thêm với ngươi không?’ Ta đáp, ‘Chắc chắn’; ông tiếp, ‘Đối với thế giới hiện tại, hãy là kẻ không màng; còn đối với thế giới sắp đến, hãy là kẻ tham lam nhất. Hãy chân thật trong mọi giao dịch, rồi ngươi sẽ được cứu cùng những người được cứu.’ Rồi ông đi tiếp, ta hỏi về ông và được nói rằng đó là Imam Al-Shafi'i. Al-Shafi'i thường nhận xét, ‘Ta thích thấy người đời hưởng lợi từ học vấn này của ta, với điều kiện rằng không gì trong đó được quy về ta.’”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi tư đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng Dandan tiếp tục với Zau al-Makan, “Bà lão nói với phụ vương ngài rằng, ‘Imam Al-Shafi'i thường nhận xét, Ta thích thấy người đời hưởng lợi từ học vấn này của ta, với điều kiện rằng không gì trong đó được quy về ta.’ Ông cũng nói, ‘Ta chưa từng tranh luận với ai mà không mong Allah Toàn năng ban cho người ấy tri thức về Chân Lý và giúp người ấy truyền rộng nó: ta cũng chưa từng tranh luận với bất cứ ai vì điều gì ngoài việc làm Chân Lý hiện rõ, và ta chẳng bận tâm liệu Allah làm nó hiển hiện qua lưỡi ta hay qua lưỡi người ấy.’ Ông cũng nói (cầu Allah chấp nhận ông!), ‘Nếu ngươi sợ trở nên tự phụ vì học thức của mình, thì hãy nghĩ đến Ân Sủng của Ai mà ngươi tìm kiếm, điều tốt nào ngươi khao khát, và hình phạt nào ngươi khiếp sợ.’ Có người báo cho Abu Hanífah rằng Chủ nhân của các tín đồ, Abú Ja'afar al-Mansúr, đã bổ nhiệm ông làm Kazi và lệnh cấp cho ông lương mười nghìn dirham; nhưng ông không chịu nhận việc này; và khi đến ngày tiền được trả cho ông, ông cầu nguyện bình minh, rồi lấy áo choàng phủ đầu—và không nói. Khi sứ giả của Khalif mang tiền đến, hắn vào gặp Imam và chào ông, nhưng ông không nói với hắn. Vậy sứ giả nói, ‘Quả thật khoản tiền này là hợp pháp của ngài.’ Ông đáp, ‘Ta biết nó hợp pháp của ta: nhưng ta ghê sợ tình yêu dành cho những kẻ bạo ngược chiếm lấy tim mình.’[FN#371] Người kia hỏi, ‘Nếu ngài vào gặp họ, chẳng lẽ ngài không thể giữ mình khỏi yêu họ sao?’ Abu Hanifah đáp, ‘Ta có thể trông đợi bước vào biển mà áo quần không ướt sao?’ Một lời khác của Al-Shafi'i (cầu Allah chấp nhận ông!) là,
‘Ôi linh hồn ta, nếu ngươi nhận lời khuyên của ta, * Ngươi sẽ giàu có và trọn vẹn trong ân sủng:
Hãy vứt bỏ tham vọng và những ham muốn hão huyền, * Biết bao cái chết đã được gây ra bởi ham muốn hão huyền!’
Trong số những lời của Sufyán al-Thaurí, mà ông dùng để khuyên Ali bin al-Hasan al-Salami, có lời này: ‘Hãy là người của sự thật và coi chừng dối trá, phản bội, đạo đức giả và kiêu ngạo. Chớ mắc nợ ai ngoài Đấng thương xót con nợ của Người; và hãy để người kết giao với ngươi là kẻ tách ngươi khỏi thế gian. Hãy luôn nhớ đến cái chết, bền bỉ cầu xin Allah tha thứ và cầu xin Allah ban bình an cho phần đời còn lại của ngươi. Hãy khuyên bảo mọi Tín đồ Chân chính khi người ấy hỏi ngươi về các việc trong đức tin của mình; và hãy coi chừng phản bội một Tín đồ, bởi kẻ nào phản bội một Tín đồ là phản bội Allah và Sứ đồ của Người. Hãy tránh bất hòa và kiện tụng; hãy bỏ điều khiến ngươi nghi ngờ để lấy những điều không sinh nghi ngờ:[FN#372] như vậy ngươi sẽ được bình an. Hãy truyền điều thiện và cấm điều ác: như vậy ngươi sẽ được Allah yêu thương. Hãy trang điểm con người bên trong của ngươi, rồi Allah sẽ trang điểm con người bên ngoài của ngươi. Hãy nhận lời xin lỗi của kẻ tự bào chữa với ngươi, và chớ ghét bất cứ người Hồi giáo nào. Hãy lại gần những người rút khỏi ngươi, và tha lỗi cho những kẻ đối xử tệ với ngươi: như vậy ngươi sẽ là bạn của các Đấng Tiên tri. Hãy để mọi việc của ngươi, cả công khai lẫn riêng tư, trong sự chăm lo của Allah, và kính sợ Người bằng nỗi sợ của kẻ biết mình đã chết và đang đi về phía Phục Sinh cùng chỗ Phán Xét giữa hai tay Chúa của Kinh Hoàng; và hãy nhớ rằng ngươi đang được đưa đến một trong hai nhà, hoặc các Thiên Đường vĩnh cửu hoặc những lửa Địa Ngục cháy bừng.’ Bấy giờ bà lão ngồi xuống bên các thiếu nữ. Nay khi phụ vương ngài, người đã được thương xót, nghe bài luận của họ, ngài biết rằng họ là những người thành tựu nhất trong dân chúng thời mình; và thấy sắc đẹp, vẻ yêu kiều cùng mức độ minh triết và học vấn của họ, ngài tỏ với họ mọi ân huệ. Hơn nữa, ngài quay sang bà lão và đối đãi bà bằng danh dự, rồi dành riêng cho bà cùng các thiếu nữ cung điện từng là nơi ở của Công chúa Abrizah, con gái vua Hy Lạp, và truyền mang tới đó mọi xa hoa họ cần. Họ ở với ngài mười ngày và bà lão ở cùng họ; và mỗi khi nhà vua đến thăm họ, ngài thấy bà đắm mình trong cầu nguyện, thức canh ban đêm và nhịn ăn ban ngày; bởi vậy lòng yêu mến bà chiếm lấy tim ngài, và ngài nói với tôi, ‘Ôi tể tướng, quả thật bà lão này thuộc hàng mộ đạo, và lòng kính sợ bà mạnh trong tim ta.’ Nay vào ngày thứ mười một, nhà vua đến thăm bà để trả giá cho các thiếu nữ; nhưng bà nói với ngài, ‘Ôi đức vua, hãy biết rằng giá của những thiếu nữ này vượt quá khả năng của loài người; quả thật tôi không tìm vàng bạc hay châu báu vì họ, dù ít hay nhiều.’ Bấy giờ khi phụ vương ngài nghe những lời này, ngài kinh ngạc và hỏi bà, ‘Thưa phu nhân của ta, vậy giá của họ là gì?’; bà đáp, ‘Tôi sẽ không bán họ cho ngài trừ với điều kiện ngài nhịn ăn, thức đêm trọn một tháng, kiêng khem ban ngày, tất cả vì tình yêu Allah Toàn năng; và nếu ngài làm điều này, họ sẽ là tài sản của ngài để sử dụng trong cung điện của ngài tùy ý ngài.’ Vậy nhà vua kinh ngạc trước sự hoàn hảo trong chính trực, mộ đạo và từ bỏ của bà; bà được tôn lớn trong mắt ngài và ngài nói, ‘Cầu Allah khiến người phụ nữ mộ đạo này đem lợi cho chúng ta!’ Rồi ngài đồng ý với bà sẽ nhịn ăn một tháng như bà đã đặt điều kiện, và bà nói với ngài, ‘Tôi sẽ giúp ngài bằng những lời cầu nguyện tôi cầu cho ngài, còn nay hãy đem cho tôi một bình nước.’ Họ đem đến một bình và bà cầm lấy, đọc trên nó, lẩm nhẩm bùa chú, và ngồi một giờ nói bằng thứ ngôn ngữ chẳng ai hiểu hay biết gì. Sau cùng bà phủ nó bằng một tấm vải, niêm nó bằng nhẫn ấn của mình, đưa cho phụ vương ngài, nói, ‘Khi ngài đã nhịn ăn mười ngày đầu, hãy phá chay vào đêm thứ mười một bằng thứ trong bình này, vì nó sẽ nhổ tận gốc tình yêu thế gian khỏi tim ngài và lấp đầy nó bằng ánh sáng cùng đức tin. Còn tôi, ngày mai tôi sẽ đi ra với các huynh đệ của tôi, những Đấng Điều Khiển Vô Hình,[FN#373] vì tôi khao khát họ, và tôi sẽ trở về với ngài khi mười ngày đầu đã qua.’ Phụ vương ngài cầm bình, đứng dậy và đặt riêng nó trong một phòng kín của cung điện, rồi khóa cửa và cất chìa khóa trong túi. Ngày hôm sau nhà vua nhịn ăn và bà lão đi đường của mình.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi lăm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng Dandan tiếp tục với Zau al-Makan như sau, “Bấy giờ, khi đến ngày Sultan bắt đầu chay tịnh, bà lão đi đường của mình. Và sau khi ngài đã hoàn tất mười ngày chay, đến ngày thứ mười một, ngài mở bình ra, uống thứ ở trong đó và thấy nó ấm bụng dễ chịu. Trong mười ngày thứ hai của tháng, bà lão trở lại, mang theo bánh ngọt bọc trong một chiếc lá xanh, chẳng giống lá của bất cứ cây nào được biết. Bà vào gặp phụ vương ngài và chào ngài; khi thấy bà, ngài đứng dậy đón bà, nói, ‘Hoan nghênh, hỡi phu nhân mộ đạo!’ Bà nói, ‘Ôi đức vua, các Đấng Điều Khiển Vô Hình gửi lời chào ngài, vì tôi đã kể với họ về ngài, và họ vui mừng vì ngài, rồi gửi cho ngài món Halwá[FN#374] của họ, vốn là một thứ bánh ngọt của thế giới bên kia. Ngài hãy dùng nó để phá chay vào cuối ngày.’ Nhà vua vui mừng lắm vì điều này và kêu lên, ‘Ngợi ca Allah, Đấng đã ban cho ta những huynh đệ thuộc Thế Giới Vô Hình!’ Bấy giờ ngài tạ ơn bà lão và hôn tay bà; rồi tôn vinh bà cùng các thiếu nữ bằng vinh dự hết sức trọng hậu. Bà ra đi trong hai mươi ngày chay của phụ vương ngài, cuối thời gian ấy bà đến gặp ngài và nói, ‘Hãy biết, ôi đức vua, rằng tôi đã kể cho các Đấng Điều Khiển Vô Hình về tình yêu giữa tôi và ngài, và báo cho họ biết việc tôi để các thiếu nữ lại với ngài; họ vui mừng vì các thiếu nữ sẽ thuộc về một vị vua như ngài, bởi khi thấy họ, họ thường sốt sắng dâng thay họ những lời cầu nguyện và khẩn cầu luôn được chấp nhận. Vậy tôi muốn đưa họ đến với các Đấng Điều Khiển Vô Hình để họ được hưởng lợi từ hơi thở ân sủng của các ngài, và biết đâu họ sẽ không trở về với ngài nếu không mang theo một kho báu trong các kho báu của đất, để sau khi hoàn tất chay tịnh, ngài có thể lo y phục cho họ và nhờ số tiền họ đem về mà giúp mình theo đúng mức ngài mong muốn.’ Khi phụ vương ngài nghe lời bà, ngài cảm tạ bà vì chúng và nói, ‘Nếu không phải ta sợ trái ý bà, ta sẽ không nhận kho báu hay bất cứ thứ gì khác; nhưng khi nào bà lên đường với họ?’ Bà đáp, ‘Vào đêm thứ hai mươi bảy; và tôi sẽ đem họ trở lại với ngài vào đầu tháng, khi ấy ngài đã hoàn tất kỳ chay, còn họ đã qua kỳ kinh nguyệt và sạch khỏi ô uế; rồi họ sẽ trở thành của ngài và ở dưới quyền định đoạt của ngài. Nhân danh Allah, mỗi thiếu nữ trong số họ đáng giá gấp nhiều lần vương quốc của ngài!’ Ngài nói, ‘Ta biết điều ấy, hỡi phu nhân mộ đạo!’ Rồi bà lão nói, ‘Nhất thiết ngài phải gửi cùng họ một người trong cung điện của ngài, người thân yêu với ngài, để nàng tìm được an ủi và cầu một phúc lành từ các Đấng Điều Khiển Vô Hình.’ Ngài nói, ‘Ta có một nữ nô Hy Lạp tên Sophia, nhờ nàng mà ta được ban phúc có hai con, một gái và một trai; nhưng chúng đã mất tích nhiều năm rồi. Hãy đưa nàng đi cùng bà để nàng nhận được phúc lành’”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng tể tướng Dandan tiếp tục với Zau al-Makan, “Phụ vương ngài nói với bà lão khi bà xin các tỳ nữ của ngài, ‘Ta có một nữ nô Hy Lạp tên Sophia, nhờ nàng mà ta được ban phúc có hai con, một gái và một trai, nhưng chúng đã mất tích nhiều năm rồi; vậy hãy đưa nàng đi cùng bà, biết đâu nàng được hưởng phúc lành và, có lẽ, các Đấng Điều Khiển Vô Hình sẽ cầu xin Allah cho nàng để hai con nàng được trả lại cho nàng.’ Bà đáp, ‘Ngài nói rất đúng, vì quả thật đó là nỗi thiếu thốn đau đớn nhất của nàng.’ Phụ vương ngài chưa thôi hoàn tất kỳ chay thì bà lão nói với ngài, ‘Ôi con trai ta, ta sắp đi đến với các Đấng Điều Khiển Vô Hình; vậy hãy đem Sophia đến cho ta.’ Theo đó, ngài cho gọi nàng và nàng lập tức đến, rồi ngài giao nàng cho bà lão, người trộn nàng vào cùng các thiếu nữ khác. Sau đó bà vào phòng mình và đem ra một chiếc chén niêm phong, dâng cho Sultan mà nói, ‘Vào ngày thứ ba mươi, ngài hãy đến Hammam và khi ra khỏi đó, hãy vào một phòng kín trong cung điện và uống thứ ở trong chén này. Rồi hãy ngủ, và ngài sẽ đạt được điều ngài tìm kiếm, bình an ở cùng ngài!’ Nghe vậy nhà vua vui mừng, cảm tạ bà và hôn tay bà. Bà nói, ‘Ta phó ngài cho sự chăm nom của Allah’; ngài nói, ‘Vậy khi nào ta sẽ lại gặp bà, hỡi phu nhân mộ đạo? Quả thật ta không thích chia lìa bà.’ Rồi bà cầu phúc cho ngài và ra đi cùng năm thiếu nữ và Hoàng hậu; trong khi nhà vua tiếp tục chay tịnh thêm ba ngày sau khi bà đi, cho tới khi tháng ấy kết thúc, bấy giờ ngài đứng dậy, đến Hammam, rồi khi ra khỏi đó, tự nhốt mình trong một phòng kín của cung điện, truyền rằng không ai được vào gặp ngài. Tại đó, sau khi chốt cửa, ngài uống thứ ở trong chén và nằm xuống ngủ; còn chúng tôi ngồi đợi ngài cho tới cuối ngày, nhưng ngài không ra, và chúng tôi nói, ‘Có lẽ ngài mệt vì tắm và vì thức đêm chay ngày; bởi vậy ngài ngủ.’ Vậy chúng tôi đợi tới hôm sau; nhưng ngài vẫn không ra. Rồi chúng tôi đứng trước cửa phòng kín, gọi lớn để có lẽ ngài tỉnh dậy và hỏi có chuyện gì. Nhưng chẳng có gì xảy ra; nên cuối cùng chúng tôi nhấc cửa lên;[FN#375] và khi vào trong, thấy ngài đã chết, thịt bị xé thành dải và mảnh, xương bị đập gãy.[FN#376] Khi thấy ngài trong tình trạng ấy, chúng tôi đau đớn vô cùng, và chúng tôi nhặt chiếc chén lên, thấy bên trong nắp của nó có một mảnh giấy, trên đó viết rằng, ‘Kẻ nào làm ác thì chẳng để lại gì phải tiếc nuối, và đây là phần thưởng của kẻ phản bội các con gái của các vua và làm nhục họ; và chúng ta cho mọi kẻ rơi vào tờ giấy này biết rằng Sharrkan, khi đến xứ chúng ta, đã quyến rũ Hoàng hậu Abrizah của chúng ta; điều ấy chưa đủ với hắn, hắn còn nhất thiết phải đem nàng khỏi chúng ta và đưa nàng đến với các ngươi. Rồi hắn[FN#377] gửi nàng đi cùng một tên nô lệ da đen, kẻ đã giết nàng, và chúng ta tìm thấy nàng nằm chết trên cỏ hoang sa mạc, bị ném cho dã thú. Đây không phải hành động của vua chúa, và kẻ đã làm việc này chỉ nhận đúng điều hắn đáng nhận. Vậy các ngươi chớ nghi ngờ bất cứ ai đã giết hắn, vì chẳng ai giết hắn ngoài mụ phù thủy xảo quyệt tên là Zat al-Dawahi. Và này, ta đã đem vợ nhà vua là Sophia đi, đưa nàng về với cha nàng, Afridun, vua Constantinople. Hơn nữa, nhất thiết chúng ta sẽ phát động chiến tranh chống các ngươi, giết các ngươi và đoạt đất nước các ngươi khỏi tay các ngươi; các ngươi sẽ bị chặt đứt đến người cuối cùng, không một linh hồn sống nào được Tử Thần tha, cũng chẳng kẻ nào thổi lửa bằng hơi thở mình, ngoại trừ kẻ thờ Thập Giá và Đai Lưng[FN#378].’ Khi chúng tôi đọc tờ giấy này, chúng tôi biết rằng bà lão đã lừa chúng tôi và thực hiện mưu kế của bà chống lại chúng tôi: bấy giờ chúng tôi kêu lớn, vả mặt mình và khóc đau đớn, khi khóc chẳng ích gì. Và quân lính bất hòa về việc họ nên lập ai làm Sultan; có người muốn ngài, có người muốn anh trai ngài Sharrkan; chúng tôi cứ tranh cãi về việc này suốt một tháng, cuối thời gian ấy một số trong chúng tôi tụ lại và đồng ý đi đến chỗ anh trai ngài Sharrkan: vậy chúng tôi lên đường và đi mãi cho tới khi gặp ngài. Và đó là cách Sultan Omar bin al-Nu'uman chết!” Bấy giờ khi tể tướng Dandan kể xong câu chuyện, Zau al-Makan và em gái chàng, Nuzhat al-Zaman, khóc; còn Thị thần, người cũng khóc, nói với Zau al-Makan, “Ôi đức vua, khóc lóc chẳng ích gì cho ngài; cũng chẳng điều gì có lợi cho ngài ngoài việc ngài làm cứng trái tim, tăng cường sức mạnh và thiết lập vương quyền; bởi quả thật kẻ để lại người giống như ngài thì không chết.” Bấy giờ Zau al-Makan thôi khóc và truyền đặt ngai của mình bên ngoài đại đình, rồi lệnh quân đội diễu qua trước mặt chàng theo hàng duyệt binh. Thị thần ngồi bên cạnh chàng, tất cả những người mang giáp khí[FN#379] đứng phía sau chàng, trong khi tể tướng Dandan và phần còn lại của các Emir cùng đại nhân đứng mỗi người tại chỗ riêng của mình. Rồi vua Zau al-Makan nói với tể tướng Dandan, “Hãy báo cho ta biết về kho báu của phụ vương ta”; ông đáp, “Thần nghe và tuân lệnh”; rồi cho chàng biết về các kho tích trữ và tiền bạc của vị vua quá cố, về những của cải và châu báu tích tụ trong kho, cùng các vật quý giá khác. Vậy Zau al-Makan mở tay với quân đội, ban một chiếc áo vinh dự xa hoa cho tể tướng Dandan, nói, “Ngươi tiếp tục tại chức.” Bấy giờ Dandan hôn đất trước mặt chàng và chúc chàng sống lâu. Rồi chàng ban áo cho các Emir, sau đó nói với Thị thần, “Hãy đem cống phẩm Damascus đang ở cùng ngươi ra trước mặt ta.” Vậy người ta cho chàng xem các rương tiền, kỳ vật và châu báu, khi ấy chàng lấy chúng và chia tất cả cho quân lính,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Zau al-Makan truyền Thị thần đem ra trước mặt chàng những gì ông đã mang theo trong cống phẩm Damascus; và khi được cho xem các rương tiền, kỳ vật và châu báu, chàng lấy chúng rồi chia tất cả cho quân lính, cho tới khi chẳng còn gì. Các Emir hôn đất trước mặt chàng và chúc chàng trường thọ, nói, “Chúng thần chưa từng thấy vị vua nào ban những món quà như thế.” Rồi tất cả trở về lều của họ, và khi sáng đến, chàng truyền lệnh hành quân. Vậy họ hành quân ba ngày, cho tới ngày thứ tư thì đến gần Baghdad. Khi họ vào thành, thấy nó đã được trang hoàng, và Zau al-Makan, vị Sultan, đi lên cung điện của cha mình rồi ngồi xuống ngai, trong khi các Emir của quân đội, tể tướng Dandan và Thị thần Damascus đứng giữa hai tay chàng. Rồi chàng truyền thư ký riêng viết một văn thư gửi anh trai Sharrkan, báo cho chàng biết mọi việc đã xảy ra, từ đầu đến cuối, và kết thư rằng, “Ngay khi huynh đọc thư này, hãy chuẩn bị mọi việc và đến nhập với chúng ta cùng quân đội của huynh, để chúng ta quay sang Thánh Chiến chống những Kẻ vô đạo, báo thù cho cha chúng ta và xóa vết nhơ trên danh dự chúng ta.” Rồi chàng gấp thư, niêm bằng nhẫn ấn của mình và nói với tể tướng Dandan, “Không ai được mang thư này ngoài ngươi; và ngươi phải nói mềm mỏng với anh ta và nói với anh ta rằng, ‘Nếu huynh có ý muốn vương quốc của cha mình, nó là của huynh, còn em trai huynh sẽ làm phó vương cho huynh ở Damascus; bởi ta được chàng chỉ thị theo ý ấy.’” Vậy tể tướng lui khỏi trước mặt chàng và chuẩn bị lên đường. Sau đó Zau al-Makan truyền dành riêng một ngôi nhà nguy nga cho Người Đốt Lửa và trang bị nó bằng những đồ đạc tốt nhất, còn chuyện về Người Đốt Lửa ấy thì dài.[FN#380] Ít lâu sau Zau al-Makan ra ngoài rượt thú và săn bắn; và khi chàng đang trở về Baghdad, một trong các Emir dâng cho chàng những con tuấn mã thuần huyết và những tỳ nữ đẹp đẽ mà lời lưỡi không tả xiết. Một thiếu nữ làm chàng hài lòng: vậy chàng vào với nàng và biết nàng đêm ấy, rồi nàng lập tức thụ thai bởi chàng. Sau một thời gian, tể tướng Dandan trở về từ chuyến đi, đem cho chàng tin tức về anh trai chàng Sharrkan rằng chàng ấy đang trên đường đến với chàng, và nói, “Ngài nên đi ra đón chàng.” Zau al-Makan đáp, “Ta nghe và thuận”; rồi cưỡi ngựa ra ngoài cùng các đại nhân của mình cách Baghdad một ngày đường, dựng các đình trại ở đó chờ anh trai. Sáng hôm sau, vua Sharrkan xuất hiện giữa quân đội Syria, một kỵ sĩ hùng cường, một con sư tử dữ trong giao chiến, một hiệp sĩ dũng mãnh và gan dạ. Khi các đội kỵ binh đến gần và những đám bụi mây tiến sát, quân lính cưỡi lên với hiệu kỳ phấp phới trên cao, Zau al-Makan và những người đi cùng chàng tiến tới đón Sharrkan cùng người của chàng; và khi Zau al-Makan thấy anh trai, chàng muốn xuống ngựa, nhưng Sharrkan khẩn cầu chàng đừng làm như vậy, còn chính mình xuống ngựa, đi bộ vài bước về phía chàng.[FN#381] Ngay khi chàng đến gần Zau al-Makan, tân Sultan ném mình lên chàng, Sharrkan ôm chàng và khóc rất nhiều, rồi hai người cùng chia buồn với nhau. Sau đó họ lên ngựa và cưỡi đi tiếp, họ cùng quân lính, cho tới khi tới Baghdad, nơi họ xuống ngựa, đi lên hoàng cung và qua đêm ấy tại đó; khi sáng hôm sau đến, Zau al-Makan đi ra và truyền triệu tập quân lính từ mọi nơi, rồi tuyên bố Thánh Chiến và một cuộc Razzia.[FN#382] Sau đó họ chờ các đội quân trưng tập từ mỗi góc vương quốc kéo đến; và bất cứ ai đến, họ đều đối đãi bằng vinh dự và hứa với người ấy mọi điều tốt lành; cứ như thế cho tới khi trọn một tháng đã trôi qua, và chiến binh kéo đến với họ thành một đoàn không dứt. Rồi Sharrkan nói với Zau al-Makan, “Ôi em trai ta, hãy kể cho ta lịch sử của em.” Vậy chàng kể cho anh mọi điều đã xảy đến với mình từ đầu đến cuối, kể cả cách đối đãi nhân từ của Người Đốt Lửa với chàng. Sharrkan hỏi, ‘Em đã báo đáp lòng tốt của ông ấy chưa?” chàng đáp, “Ôi anh trai ta! em vẫn chưa thưởng cho ông ấy, nhưng Inshallah! em sẽ đền đáp ông ấy khi em trở về từ cuộc chinh phạt này”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi tám đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Sharrkan hỏi em trai Zau al-Makan, “Em đã báo đáp Người Đốt Lửa vì lòng tốt của ông ấy chưa?”; và chàng đáp, “Ôi anh trai ta, em vẫn chưa thưởng cho ông ấy, nhưng Inshallah! em sẽ đền đáp ông ấy khi em trở về từ cuộc chinh phạt này và có thời gian làm vậy.” Nhờ đó Sharrkan chắc chắn rằng em gái mình, Nuzhat al-Zaman, đã kể cho chàng toàn bộ sự thật; nhưng chàng che giấu điều đã xảy ra giữa họ và gửi lời chào đến nàng qua chồng nàng là Thị thần. Nàng gửi lại lời chào, cầu phúc cho chàng và hỏi thăm con gái mình Kuzia-Fakan, chàng đáp rằng thiếu nữ ấy vẫn bình an, trong sức khỏe và an toàn tốt nhất; bấy giờ nàng ngợi ca Allah Toàn năng và tạ ơn Người. Rồi Sharrkan đến gặp em trai để bàn với chàng về việc lên đường; và Zau al-Makan nói, “Ôi anh trai ta, ngay khi quân đội đầy đủ và người Ả Rập kéo đến từ mọi nơi, chúng ta sẽ hành quân.” Vậy chàng truyền chuẩn bị quân lương và sắm sửa khí giới chiến tranh, rồi vào gặp vợ mình, người nay đã mang thai năm tháng; chàng đặt dưới quyền nàng các nhà chiêm tinh và toán học gia, ban cho họ bổng lộc và lương cấp. Rồi chàng xuất quân ba tháng sau khi quân đội Syria đến, ngay khi người Ả Rập đã kéo vào và các binh đoàn đã tụ họp từ mọi hướng; và khi chàng lên đường, các chiến binh cùng đạo quân hợp nhất theo sau chàng. Bấy giờ tên vị Tướng của quân Daylam là Rustam và tên vị Tướng của quân Thổ[FN#383] là Bahram. Và Zau al-Makan hành quân giữa toàn quân, bên phải chàng là anh trai Sharrkan, bên trái là Thị thần, anh rể chàng. Vậy các đội kỵ binh tách ra tiến lên, các tiểu đoàn và đại đội đi qua theo hàng trận, cho tới khi toàn quân chuyển động. Họ không ngừng đi trong khoảng một tháng, và mỗi đoàn xuống nghỉ tại khu đất riêng của mình, mỗi tuần nghỉ ba ngày (vì đạo quân rất lớn); và họ tiến theo trật tự này cho tới khi đến xứ của người Hy Lạp. Bấy giờ dân các làng mạc, thôn xóm và hạng nghèo sợ hãi họ, bỏ chạy về Constantinople. Nhưng khi vua Afridun nghe tin, ông đứng dậy và đi đến chỗ Zat al-Dawahi, chính người đã nghĩ ra mưu kế, đã đi đến Baghdad và giết vua Omar bin Al-Nu'uman; rồi sau khi mang các nữ nô và Hoàng hậu Sophia đi, đã đưa tất cả về quê hương mình. Nay khi bà đã được trả lại cho con trai mình, vua Hy Lạp, và cảm thấy mình an toàn, bà nói với vua Hardub, “Hãy làm mắt ngươi mát lại; vì ta đã lấy máu rửa nhục cho con gái ngươi Abrizah, đã giết Omar bin al-Nu'uman và đã đưa Sophia trở về. Vậy nay chúng ta hãy đi đến chỗ vua Constantinople, đưa con gái ông về cho ông và báo ông biết những gì đã xảy ra, để tất cả chúng ta cảnh giác và chuẩn bị lực lượng; còn ta sẽ đi cùng ngươi đến chỗ vua Afridun, Chúa của Constantinople, vì ta cho rằng người Hồi giáo sẽ không đợi chúng ta tấn công.” Hardub nói, “Hãy nán lại cho tới khi chúng đến gần đất nước chúng ta, để trong lúc ấy chúng ta chuẩn bị và tập hợp sức mạnh.” Theo đó họ bắt đầu mộ quân và chuẩn bị chiến tranh, và khi tin quân Hồi giáo tiến đến, họ đã sẵn sàng phòng thủ; còn Zat al-Dawahi đã đi trước họ. Bấy giờ khi bà và con trai đến Constantinople, vua của các vua, Afridun, nghe tin Hardub, vua Hy Lạp, đến gần, bèn ra đón ông và hỏi ông hiện thế nào cùng nguyên nhân ông đến thăm. Vậy Hardub cho ông biết những hành động xảo quyệt của mẹ mình, Zat al-Dawahi, cách bà đã giết vua Hồi giáo và thu hồi Hoàng hậu Sophia từ tay ông ấy, và đã nói, “Người Hồi giáo đã tập hợp lực lượng và đang trên đường tấn công chúng ta, bởi vậy hai chúng ta phải chung tay thành một dải duy nhất mà gặp chúng.” Bấy giờ vua Afridun vui mừng vì con gái mình trở về và vì vua Omar bin al-Nu'uman bị giết; ông gửi thư đến mọi xứ xin viện binh và cho dân chúng biết nguyên nhân giết vị vua Hồi giáo. Vậy quân Nazarene kéo đến với ông, và chưa đầy ba tháng thì quân đội Hy Lạp đã đầy đủ, ngoài ra còn có người Frank từ mọi xứ của họ gia nhập với ông, người Pháp, người Đức[FN#384] và người Ragusa,[FN#385] cùng người Zara,[FN#386] người Venice, người Genoa, và tất cả các đạo quân Mặt Vàng[FN#387]; và khi cuộc tụ họp đã đủ, đất trở nên chật chội vì số đông của họ. Rồi Afridun, Đại Vương, ra lệnh hành quân; vậy họ lên đường và không ngừng đi thành hàng qua thành phố suốt mười ngày. Họ đi mãi cho tới khi đến Wady tên là Al-Nu'uman, một thung lũng rộng hai bên gần Biển Mặn, nơi họ dừng lại ba ngày; đến ngày thứ tư, họ sắp lại lên đường thì tin đến rằng quân đội Al-Islam đang ép tới họ, và những người bảo vệ đức tin của Mohammed, Người Tốt Nhất trong loài người. Vậy họ dừng ở đó thêm ba ngày nữa, và vào ngày thứ tám họ thấy một đám bụi vươn cao cho tới khi dựng thành tường khắp đất; chưa qua một giờ trong ngày thì lớp bụi ấy bắt đầu trôi và bị xé thành mảnh trên không, xuyên qua các bóng tối của nó là ánh sao của giáo mác và tia chớp trắng của lưỡi gươm. Chẳng bao lâu bên dưới hiện ra các cờ hiệu Islam và các kỳ xí Mohammed; kỵ binh thúc ngựa tiến lên, như những biển cả được thả tung cho dâng trào, mặc giáp lưới, tựa những đám mây lưng cá thu mà trăng che phủ; bấy giờ hai đạo quân va vào nhau như hai dòng lũ đổ vào nhau. Mắt đối mắt; và người đầu tiên tìm trận đơn chiến là tể tướng Dandan, ông cùng quân đội Syria, gồm ba mươi nghìn dây cương, và đi cùng ông là Tướng quân Thổ và Tướng quân Daylam, Rustam và Bahram, giữa hai mươi nghìn kỵ binh, phía sau là những người từ bờ Biển Mặn, mặc giáp sắt, tựa những trăng tròn đi qua một đêm mây phủ. Rồi quân Nazarene kêu gọi Jesus và Mary, và Thập Giá ô uế[FN#388], rồi chồng mình lên tể tướng Dandan và những người đi cùng ông trong quân Syria. Nay tất cả chuyện này là theo một mưu kế do bà lão Zat al-Dawahi bày ra; vì trước khi khởi hành, vua Afridun đã vào gặp bà và hỏi bà, “Ta phải làm gì và theo kế nào? chính bà đã gây cho chúng ta nỗi khốn lớn này”; và bà đã đáp, “Ôi đại vương và Cohen hùng mạnh![FN#389] Ta sẽ dạy ngài một mẹo khiến chính Iblis cũng phải bó tay, dù hắn triệu đến giúp mình tất cả các đạo quân ghê tởm của hắn.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ tám mươi chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, tất cả chuyện này là mưu kế của bà lão, bởi trước khi khởi hành, nhà vua đã đến gặp bà và hỏi, “Ta phải làm gì và theo kế nào? chính bà đã gây cho chúng ta nỗi khốn lớn này!” Và bà đã đáp, “Ôi đại vương và Cohen hùng mạnh, ta sẽ dạy ngài một mẹo khiến chính Quỷ Dữ cũng phải bó tay, dù hắn triệu đến giúp mình tất cả các đạo quân ghê tởm của hắn. Ấy là ngài hãy gửi năm mươi nghìn người xuống tàu, vượt biển đến Núi Khói; và tại đó hãy cho họ đổ bộ, rồi không động đậy cho tới khi các cờ hiệu Al-Islam kéo đến trên ngài, khi ấy ngài hãy đứng dậy và lao vào họ. Rồi truyền cho quân từ phía biển đổ ra đánh người Hồi giáo vào hậu quân, trong khi chúng ta đối mặt họ từ phía đất liền. Như vậy chẳng một kẻ nào trong họ sẽ thoát, nỗi sầu của chúng ta sẽ thôi, và bình an ở lại với chúng ta.” Bấy giờ lời khuyên của bà lão này hợp ý vua Afridun, và ông đáp, “Kế ngươi tính thật đúng, ôi Công chúa của trí khôn và nơi cầu viện của các vua cùng các Cohen giao chiến để đòi nợ máu!” Vậy khi quân đội Al-Islam kéo đến thung lũng ấy, trước khi họ biết chuyện, lửa đã bắt đầu thiêu các lều trại và gươm đã bắt đầu xé thân người. Rồi quân đội Baghdad và Khorasan vội tiến lên, gồm một trăm hai mươi nghìn kỵ binh, với Zau al-Makan ở tuyến đầu chiến trận. Khi đạo quân những Kẻ vô đạo nằm bên biển thấy họ, chúng đổ ra chống lại họ và theo sau dấu họ; khi Zau al-Makan thấy điều này, chàng kêu với người của mình, “Hãy quay lại với những Kẻ vô đạo, hỡi Dân của Sứ đồ Được Chọn, và giết những kẻ phủ nhận cùng căm ghét quyền uy của Đấng Khoan Nhân, Đấng Từ Bi!” Vậy họ quay lại và giao chiến với người Cơ Đốc. Rồi Sharrkan tiến lên cùng một quân đoàn khác của đạo quân Hồi giáo, khoảng một trăm nghìn người, trong khi những Kẻ vô đạo có gần một triệu sáu trăm nghìn người. Khi người Hồi giáo hợp lại, tim họ mạnh lên và họ kêu lớn, nói, “Quả thật Allah đã hứa chiến thắng cho chúng ta, và đã định bại vong cho những Kẻ vô đạo.” Rồi họ va vào nhau bằng gươm và giáo. Bấy giờ Sharrkan xé qua hàng ngũ và đội hình, cuồng nộ giữa đám đông kẻ thù, đánh một trận dữ dội đến mức làm trẻ con bạc tóc; chàng không ngừng tung hoành giữa đám quân vô đạo và gây tàn phá giữa chúng bằng lưỡi gươm sắc, hô lớn “Allaho Akbar!” (Allah là Vĩ Đại nhất) cho tới khi chàng đẩy lui đạo quân về bờ biển. Khi ấy sức kẻ thù suy kiệt và Allah ban chiến thắng cho đức tin Al-Islam, người đánh người, say không bởi rượu mạnh, cho tới khi họ giết trong trận ấy bốn mươi lăm nghìn Kẻ vô đạo, trong khi phía Hồi giáo chỉ có ba nghìn năm trăm người ngã xuống. Hơn nữa, Sư Tử của Đức Tin, vua Sharrkan, và em trai chàng, Zau al-Makan, đêm ấy không ngủ, mà bận chúc mừng các dũng sĩ của mình, chăm nom người bị thương, trấn an quân đội về chiến thắng và cứu rỗi, cùng lời hứa phần thưởng trong thế giới sắp đến. Đến đây là chuyện về người Hồi giáo; còn về vua Afridun, Chúa của Constantinople và Chủ quyền của Roum, cùng Zat Al-Dawahi, họ triệu tập các Emir của đạo quân và nói với họ, “Quả thật, chúng ta đã đạt ý muốn và an ủi lòng mình, nhưng sự quá tự tin vào quân số, chỉ điều ấy, đã đánh bại chúng ta.” Rồi bà lão, Phu nhân của các Tai Ương, nói với họ, “Thật ra chẳng điều gì đem lợi cho các ngươi, trừ khi các ngươi lại gần Đấng Messiah và đặt lòng tin vào Chính Tín, bởi, nhân đức hạnh của Đấng Messiah, toàn bộ sức mạnh của đạo quân Hồi giáo nằm nơi tên Satan ấy, vua Sharrkan.” Vua Afridun nói, “Ngày mai ta quyết định dàn trận và phái ra chống chúng kỵ sĩ đáng sợ ấy, Lúká bin Shamlút; vì nếu vua Sharrkan bước ra làm dũng sĩ để đánh đơn chiến, người của chúng ta sẽ giết hắn và sẽ giết các Hiệp sĩ Hồi giáo khác, cho tới khi chẳng còn ai. Và đêm nay ta định thánh hóa tất cả các ngươi bằng Hương Thiêng.” Khi các Emir nghe những lời này, họ hôn đất trước mặt ông. Nay hương mà ông nói đến chính là phân của Đại Giáo trưởng, kẻ chối bỏ, kẻ làm ô uế Chân Lý, và họ tìm nó hết sức khẩn thiết, quý nó đến mức các đại tư tế của người Hy Lạp thường gửi nó đến mọi nước Cơ Đốc trong bọc lụa, sau khi trộn nó với xạ hương và long diên hương. Khi nghe nói về nó, các vua sẵn sàng trả một nghìn đồng vàng cho mỗi dram và sai người tìm kiếm nó để dùng xông hương cho cô dâu; còn các Đại Tư tế và các Đại Vương thường dùng một ít làm thuốc kẻ mắt và làm thuốc trị bệnh cùng đau bụng; các Giáo trưởng thường trộn cứt[FN#390] của chính họ vào đó, vì cứt của Đại Giáo trưởng không thể đủ cho mười xứ.[FN#391] Vậy, ngay khi bình minh hiện ra và buổi sáng sáng lên bằng vẻ sáng và ánh rạng của nó, các kỵ sĩ chạy đến những cây giáo sắc của mình, và vua Afridun,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, ngay khi bình minh hiện ra và buổi sáng sáng lên bằng vẻ sáng và ánh rạng của nó, các kỵ sĩ chạy đến những cây giáo sắc của mình, vua Afridun triệu các Hiệp sĩ và Quý tộc chủ chốt, ban cho họ áo vinh dự; rồi vẽ dấu thập trên trán họ, xông cho họ thứ hương như đã nói trên, chính là cứt của Đại Giáo trưởng, Cohen, Kẻ Dị Giáo Đầu Sỏ. Xông hương xong, ông cho gọi Luka bin Shamlut, biệt hiệu Gươm của Đấng Messiah; rồi sau khi xông khói cho hắn và xoa vòm miệng hắn bằng Phân Thiêng, cho hắn hít nó và bôi lên má hắn, xức phần còn lại lên ria mép hắn. Nay trong xứ Roum không có dũng sĩ nào vạm vỡ hơn tên Luka bị nguyền rủa này, cũng chẳng ai giỏi hơn trong việc uốn cung, múa gươm hay phóng giáo vào ngày giao chiến; nhưng hắn dung mạo gớm ghiếc, bởi mặt hắn như mặt lừa, hình dáng như vượn, ánh nhìn như rắn độc dữ: sự hiện diện của hắn còn đau đớn hơn chia lìa người yêu dấu; màu đen của hắn còn đen hơn đêm và hơi thở hắn hôi thối hơn sư tử; dáng hắn cong hơn cây cung và sự xấu xí của hắn dữ tợn hơn báo, và mặt hắn mang dấu của những Kẻ vô đạo.[FN#392] Sau đó hắn bước đến vua Afridun, hôn chân ông và đứng trước mặt ông; nhà vua nói với hắn, “Ta muốn ngươi ra chống Sharrkan, vua Damascus, con trai Omar bin al-Nu'uman, và giải thoát chúng ta khỏi tai ương này.” Luka nói, “Xin nghe và tuân lệnh”; rồi nhà vua làm dấu thập trên trán hắn và chắc lòng rằng sự giúp đỡ từ Trời đã gần kề. Sau đó Luka rời hiện diện, và tên bị nguyền rủa ấy cưỡi một con ngựa hồng; hắn mặc áo đỏ và áo giáp vàng nạm châu báu, mang một cây giáo ba mũi, như thể hắn là Iblis bị nguyền rủa vào ngày hắn kéo các đạo quân của mình ra dàn chiến. Rồi hắn tiến lên, hắn cùng đám Kẻ vô đạo của mình, như thể họ đang bị lùa vào Lửa, đi trước là một sứ giả, kêu lớn bằng tiếng Ả Rập rằng, “Hỡi giáo phái của Mohammed (cầu chào lành và cứu rỗi đến với Người!), đừng để ai trong các ngươi bước ra ngoài dũng sĩ của các ngươi, Sharrkan, Thanh Gươm của Al-Islam, Chúa của Damascus ở Shám[FN#393]!” Hắn chưa nói xong, thì trên đồng bằng nổi lên một tiếng huyên náo; toàn dân nghe điệu lời ấy, và cả hai khối chuyển động của hai đạo quân đều nhớ đến Ngày Khiếu Nại. Bấy giờ những kẻ hèn nhát run rẩy và mọi cổ đều quay về phía âm thanh, và kìa! đó là vua Sharrkan, con trai vua Omar bin al-Nu'uman. Vì khi em trai chàng, Zau al-Makan, thấy tên bị nguyền rủa ấy xông ra đồng bằng và nghe tiếng người truyền lệnh, chàng quay sang Sharrkan và nói, “Chắc chắn chúng đang tìm huynh.” Chàng nói, “Nếu đúng vậy, điều ấy làm ta hài lòng nhất.” Vậy khi họ chắc chắn về việc ấy và nghe sứ giả kêu trên đồng bằng, “Đừng để ai trong các ngươi ra chống ta ngoài Sharrkan,” họ biết tên Luka bị nguyền rủa này là dũng sĩ của xứ Roum, kẻ đã thề quét sạch mặt đất khỏi người Hồi giáo. Nay hắn là một trong những kẻ ác lớn nhất, một tên khốn khiến tim người đau đớn; người Daylam, người Thổ và người Kurd đều khiếp sợ sức mạnh và quyền năng của hắn. Chẳng bao lâu Sharrkan thúc ngựa lao vào hắn như con sư tử giận dữ dữ tợn, cưỡi trên một tuấn mã tựa linh dương hoang bay nhanh và mảnh; khi đến gần hắn, chàng khiến cây giáo trong tay mình rung lên như con rắn lao tới, rồi ngâm những câu đôi này,
“Ta có một chiến mã hồng, niềm kiêu hãnh của nó ưa mang cương, * Sẽ cho ngươi điều ngươi chẳng thích và khiến ngươi nếm sức mạnh của nó:
Ta có một ngọn giáo dẻo thuận tay, sáng rực và sắc mũi, * Trên cán nó, mẹ của Tử Thần đã đặt ngai gai của mình:
Ta có một thanh gươm Hind chém ngọt; và khi ta vén mặt nó * Khỏi màn vỏ, từ trán nó những tia chớp tuôn mưa.”
Luka không hiểu ý nghĩa lời chàng cũng chẳng nắm được sức mạnh của câu thơ; nhưng hắn lấy tay đập trán, để tôn kính Thập Giá vẽ trên đó, rồi hôn nó; sau đó hắn hạ cây lao phóng xuống và lao vào Sharrkan. Nhưng trước hết hắn tung lao lên không bằng một tay, cao đến mức mất hút khỏi mắt người xem; rồi bắt lấy nó bằng tay kia như bọn làm trò, ném vào Sharrkan. Nó bay khỏi tay hắn như sao băng, dân chúng kêu ầm lên và sợ cho Sharrkan; nhưng khi cây giáo bay đến gần chàng, chàng đưa tay ra và bắt nó giữa lúc đang bay, khiến mọi kẻ thấy cảnh ấy kinh ngạc. Rồi chàng lắc nó bằng bàn tay đã bắt được nó cho tới khi nó gần gãy, và ném nó lên cao vào bầu trời đến mức nó biến mất khỏi tầm mắt. Khi nó rơi xuống, chàng lại bắt nó bằng tay kia, trong thời gian chưa bằng một cái chớp mắt, rồi kêu lên từ đáy tim rằng, “Nhân danh sự thật của Đấng đã tạo nên bảy tầng trời, ta chắc chắn sẽ khiến tên bị nguyền rủa này thành ngạn ngữ cho loài người khinh bỉ!” Rồi chàng ném cây lao vào Luka, kẻ nghĩ sẽ làm như Sharrkan đã làm và đưa tay ra đón nó giữa lúc bay; nhưng Sharrkan đã ngăn hắn, và phóng vào hắn một cây lao thứ hai, đâm trúng hắn, mũi giáo rơi ngay trên trán hắn, đúng giữa dấu Thập Giá, và Allah vội đưa linh hồn hắn xuống Lửa cùng Nơi Ở khủng khiếp.[FN#394] Nhưng khi những Kẻ vô đạo thấy Luka bin Shamlut ngã chết, chúng vả mặt và kêu, “Than ôi!” và “Khốn thay ngày này!” rồi gọi các Tu viện trưởng cứu giúp,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi mốt đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi những Kẻ vô đạo thấy Luka bin Shamlut ngã chết, chúng vả mặt, kêu, “Than ôi!” và “Khốn thay ngày này!” rồi gọi các Tu viện trưởng và kêu, “Các thập giá đâu?” Vậy giới Tu sĩ dâng lời cầu nguyện, còn tất cả người Cơ Đốc tụ lại chống Sharrkan; và, vung gươm cong cùng giáo mác, chúng lao tới tấn công. Rồi quân gặp quân, ngực ngã dưới vó ngựa, trong khi giáo và gươm thống trị ngày ấy, cẳng tay và cổ tay yếu rời, những tuấn mã tưởng như được tạo ra không chân;[FN#395] người truyền chiến không ngừng gọi đánh cho tới khi tay mỏi rã rời, ngày bay đi và đêm kéo đến khoác bóng tối. Vậy hai đạo quân tách ra, trong khi mọi dũng sĩ lảo đảo như kẻ say rượu, bởi họ đã gắng sức bằng quá nhiều nhát chém và mũi đâm; nơi ấy nghẹt đầy xác chết; vết thương dữ dội và kẻ bị thương chẳng biết mình ngã bởi tay ai. Rồi Sharrkan hội với em trai mình Zau al-Makan, cùng Thị thần và tể tướng Dandan, rồi nói với họ, “Quả thật Allah đã mở một cánh cửa để những Kẻ vô đạo sa ngã, ngợi ca Chúa của muôn thế giới!” Zau al-Makan đáp, “Chúng ta hãy không bao giờ thôi ngợi ca Allah, vì Người đã xua tan phiền não khỏi người Ả Rập và Ajam. Quả thật dân chúng, đời này qua đời khác, sẽ kể về việc huynh dám làm chống lại Luka bị nguyền rủa, kẻ làm sai lạc Phúc Âm;[FN#396] về việc huynh bắt cây lao đang phóng giữa không trung, và cách huynh đánh hạ kẻ thù của Allah giữa loài người; danh tiếng huynh sẽ còn tới tận cùng thời gian.” Rồi Sharrkan nói, “Hãy nghe đây, ôi Đại Thị thần và Capitayne dũng mãnh!” ông đáp, “Adsum!”[FN#397] Sharrkan nói, “Hãy đem theo tể tướng Dandan và hai mươi nghìn kỵ binh, dẫn họ đi bảy parasang về phía biển, ép họ hành quân cho tới khi các ngươi đến gần bờ, và chỉ còn hai parasang giữa ngươi và kẻ thù. Rồi các ngươi hãy mai phục trong các hõm đất cho tới khi nghe tiếng huyên náo của những Kẻ vô đạo đổ bộ khỏi tàu; và tiếng hô chiến trận từ mọi phía đập vào tai các ngươi, và các ngươi biết rằng các thanh gươm đã bắt đầu lao tác giữa chúng ta và chúng; và khi nào các ngươi thấy quân ta lùi lại, như thể bị đánh bại, còn tất cả những Kẻ vô đạo theo sau họ, cả những kẻ phía trước lẫn những kẻ từ phía biển và lều trại, các ngươi vẫn cứ nằm phục chờ chúng: nhưng ngay khi các ngươi thấy ngọn cờ có dòng chữ, Không có thần nào ngoài Thượng Đế, và Mohammed là Sứ đồ của Thượng Đế (cầu chào lành và cứu rỗi đến với Người!), thì hãy giương cờ xanh lên, dốc sức mà đánh vào hậu quân chúng và hô, ‘Alla ho Akbar! Allah là Vĩ Đại nhất!’ rồi vòng quanh để chúng không thể chen vào giữa quân đang lui và biển.” Ông đáp, “Xin nghe và tuân lệnh!”; và lập tức họ thỏa thuận việc này rồi ra đi. Bấy giờ Thị thần đem theo tể tướng Dandan cùng hai mươi nghìn người đúng như Sharrkan đã truyền. Ngay khi bình minh ló rạng, quân lính bật lên lưng ngựa sau khi đã mặc áo giáp, tuốt gươm cong và khoác giáo. Rồi người Cơ Đốc tản khắp đồi và thung, hàng Giáo sĩ[FN#398] kêu lớn và mọi đầu đều để trần, còn những kẻ trên tàu kéo Thập Giá lên đỉnh cột buồm, bắt đầu từ mọi phía tiến vào bờ, cho ngựa đổ bộ và chuẩn bị chúng cho trận đánh, trong khi lưỡi gươm sáng lấp lánh, lao giáo lóe như tia chớp trên áo giáp trắng; tất cả nhập chiến, cối xay Tử Thần quay tròn và nghiền nát những kẻ đánh nhau trên lưng ngựa lẫn dưới đất: đầu bay khỏi thân, lưỡi trở nên câm và mắt không còn biết thấy. Gươm cong gắng sức đến tận cùng và đầu bay trên đồng trận; túi mật bị xẻ, cổ tay bị chặt đôi; chiến mã dẫm bì bõm trong hồ máu, râu bị nắm giật đau đớn; đạo quân Al-Islam kêu lớn rằng, “Phúc lành và bình an ở trên Vị Chủ Nhân của Nhân Loại, và vinh quang cùng tán tụng dành cho Đấng Khoan Nhân, chẳng bao giờ ngừng, vì những ân huệ của Người mãi tăng thêm”; còn đạo quân những Kẻ vô đạo hô, “Vinh quang cho Thập Giá và Đai Lưng, cho nước ép máy ép nho, cho người ép rượu, các Tư tế, Tu sĩ, Lễ Lá và Tổng Giám mục!” Bấy giờ Zau al-Makan và Sharrkan ghìm lại, quân của họ nhường bước và giả vờ bỏ chạy trước kẻ thù, trong khi hàng ngũ Kẻ vô đạo ép mạnh lên họ, tưởng họ đã tan tác, và chuẩn bị đâm chém. Rồi đoàn người Hồi giáo cất giọng đọc những câu đầu của Chương Con Bò,[FN#399] trong khi người chết bị vó ngựa giẫm đạp, còn các sứ giả của người Hy Lạp kêu lớn, “Hỡi tôi tớ của Đấng Messiah! Hỡi dân của Chính Tín! Hỡi tín đồ của Giáo chủ Tối cao![FN#400] Quả thật ân sủng Thiêng đang mở ra cho các ngươi; vì xem kìa, các đạo quân Al Islam như chim gãy cánh đang nghiêng mình trốn chạy! Vậy chớ quay lưng với chúng, mà hãy để gươm các ngươi chẻ sâu vào cổ chúng, chớ nương tay với chúng, nếu không các ngươi là kẻ bị Đấng Messiah, con trai Mary, kẻ đã nói ngay khi còn nằm nôi, ruồng bỏ!”[FN#401] Bấy giờ Afridun, vua Constantinople, tưởng những Kẻ vô đạo đã thắng, không biết rằng đó chỉ là mưu kế khôn khéo của người Hồi giáo, bèn gửi lời chúc mừng chiến thắng đến vua Hardub của Roum, thêm rằng, “Chẳng gì đã giúp chúng ta ngoài Phân Thiêng của Tổng Giáo trưởng, hương thơm của nó tỏa ra từ râu và ria của các nô lệ Thập Giá gần xa; và ta thề, nhân các Phép Lạ của Đấng Messiah; nhân con gái ngươi Abrizah, người Nazarene, kẻ sùng kính Mary; và nhân Nước Rửa Tội, rằng ta sẽ không để trên mặt đất một kẻ bảo vệ Al-Islam nào! Và đến tận cùng cay đắng ta sẽ thực hiện kế này.” Vậy sứ giả mang lời ấy đến vua Hardub, trong khi những Kẻ vô đạo gọi nhau rằng, “Hãy báo thù cho Luka!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng những Kẻ vô đạo gọi nhau, nói, “Hãy báo thù cho Luka!” trong khi Hardub, vua Hy Lạp, kêu lớn, “Nào, vì mối thù của Abrizah!” Bấy giờ vua Zau al-Makan hô, “Hỡi tôi tớ của Đức Vua Báo Ứng!: hãy đánh những đứa con của phủ nhận và bất tuân bằng trắng sáng của gươm và nâu sẫm của giáo!” Vậy người Hồi giáo quay lại với những Kẻ vô đạo và dùng gươm cong sắc bén đánh chúng, trong khi sứ giả của họ kêu lớn, “Đứng lên và đánh kẻ thù của Đức Tin, tất cả các ngươi là những người yêu Đấng Tiên tri Được Chọn, với hy vọng cứu rỗi vào Ngày Kinh Hãi, để giành ân sủng của Đấng Rộng Lượng, Đấng Tha Thứ; vì quả thật Vườn Thiên Đường nằm dưới bóng gươm!” Và kìa, Sharrkan cùng người của chàng lao xuống những Kẻ vô đạo, cắt đường lui của chúng, xoay vòng và tung hoành giữa hàng ngũ; thì kìa! một hiệp sĩ có dáng vẻ đẹp đẽ mở lối xuyên qua đạo quân của những Kẻ không tin, vòng chỗ này chỗ kia giữa những Kẻ phủ nhận, chém và đâm, phủ mặt đất bằng đầu và thân, đến nỗi bọn Vô tín sợ hắn, cổ chúng cúi xuống dưới mũi lao và nhát chém của hắn. Hắn thắt hai thanh gươm, ánh nhìn và lưỡi thép của hắn, và mang hai cây giáo, một bằng tre trúc, một là dáng vóc thẳng như gậy của hắn; mái tóc buông chảy của hắn thay cho nhiều chiến binh, đúng như thi nhân nói,
“Chớ khen tóc dài,[FN#402] trừ khi nó xõa rộng * Thành hai lọn đôi, vào ngày giao chiến và tranh hùng,
Trên chàng trai mang giáo giữa hông và đùi, * Để thắng ngày ấy trước bao hiệp sĩ râu ria.”
Và như một người khác hát rằng,
“Ta nói với chàng, khi chàng treo gươm mình, * ‘Vì gươm sẽ hầu những ánh nhìn tựa gươm kia!’
Chàng nói, ‘Gươm cong của ta dành cho những người ta yêu, * Gươm của ta dành cho những kẻ chẳng biết ngọt ngào của tình yêu!’”
Khi Sharrkan thấy chàng, chàng nói với chàng ấy, “Ta khẩn cầu ngươi nhân kinh Koran và các phẩm tính của Đấng Khoan Nhân, hỡi Dũng sĩ của các Dũng sĩ! hãy nói cho ta biết ngươi là ai: bởi quả thật, bằng những việc ngươi làm hôm nay, ngươi đã làm hài lòng Đức Vua Báo Ứng, Đấng không để một việc làm Người xao lãng khỏi việc khác; vì ngươi đã làm cho con cái vô đạo khốn đốn và khiến bọn phản nghịch say sưa trong sự bại vong.” Rồi vị Kỵ sĩ kêu với chàng rằng, “Chính ngươi là người đã kết nghĩa huynh đệ với ta mới hôm qua: sao ngươi quên ta nhanh đến thế!” Bấy giờ chàng vén khăn che miệng,[FN#403] để vẻ đẹp bị giấu kín của chàng lộ ra, và kìa! đó chẳng phải ai khác ngoài Zau al-Makan. Khi ấy Sharrkan mừng rỡ vì em trai mình, chỉ có điều chàng lo cho chàng ấy trước xung phong của chiến trận và đám dũng sĩ chen nhau chém giết; vì hai lý do, thứ nhất là tuổi còn non trẻ và dễ gặp mắt dữ, thứ hai là sự an toàn của chàng đối với vương quốc là cánh lớn hơn trong hai cánh che phủ. Vậy chàng nói với chàng ấy, “Ôi đức vua! ngài đang liều mạng, hãy ghép ngựa ngài với ngựa ta; quả thật ta lo cho ngài trước kẻ thù; tốt hơn ngài hãy thôi mạo hiểm thân mình ngoài các đội kỵ binh này, để chúng ta có thể bắn vào quân địch mũi tên không sai đích của ngài.” Zau al-Makan nói, “Ta muốn ngang bằng với huynh trong giao tranh, và ta sẽ không keo kiệt với thân mình trước huynh giữa trận loạn.” Rồi đạo quân Al-Islam, dồn mình lên những Kẻ vô đạo, vây chúng tứ phía, giao chiến với chúng trong một Thánh Chiến đúng nghĩa, và bẻ gãy sức mạnh của con cái vô đạo, kiêu mạn và hung tàn. Nhưng vua Afridun thở dài khi thấy tai họa dữ đã giáng xuống người Hy Lạp, và chúng quay lưng khỏi trận đánh, lo liệu chạy trốn, hướng về phía tàu thuyền, thì kìa! từ bờ biển một đạo quân khác kéo ra chặn chúng, do tể tướng Dandan dẫn đầu, vị dũng sĩ vốn thường khiến các dũng sĩ khác phải cắn bụi và đè nặng lên họ bằng chém cùng đâm. Cũng không kém, Emir Bahram, Chúa các tỉnh Sham, kéo ra giữa hai mươi nghìn kỵ binh gan dạ; và đạo quân Al-Islam ép chúng từ trước mặt và bên sườn, gây cho chúng tai hại nặng nề. Rồi một toán người Hồi giáo quay sang đánh những kẻ còn lại trong thuyền, mưa hủy diệt trút xuống chúng, cho tới khi chúng ném mình xuống biển, và họ giết vô số kẻ trong bọn chúng, hơn một trăm nghìn quý nhân, chẳng một dũng sĩ nào của chúng, lớn hay nhỏ, thoát khỏi tai họa và bại vong. Hơn nữa, họ chiếm các tàu của chúng, cùng tất cả tiền bạc, kho báu và hàng hóa, trừ hai mươi chiếc thuyền, và người Hồi giáo thu được chiến lợi phẩm chưa từng có trong những năm đã qua; cũng chưa từng có tai người nghe chuyện chém và đâm như thế.[FN#404] Trong số chiến lợi phẩm có năm mươi nghìn ngựa, ngoài kho báu và của cướp vượt ngoài tính toán và số học, khiến người Hồi giáo vui mừng khôn xiết vì Allah đã ban cho họ chiến thắng và sự che chở. Đó là chuyện của họ; còn về những Kẻ vô đạo chạy trốn, chúng chẳng bao lâu đã đến Constantinople, nơi tin tức đến trước rằng vua Afridun đã thắng người Hồi giáo; nên bà lão Zat al-Dawahi nói, “Ta biết rằng con trai ta Hardub, vua Roum, không phải kẻ bỏ chạy và không sợ quân đội Hồi giáo, mà sẽ trả cả thế giới về với đức tin Nazarene.” Rồi bà truyền Đại Vương Afridun ra lệnh trang hoàng thành phố, dân chúng mở hội lớn, uống rượu đến say sưa và chẳng biết các sắc lệnh của Định Mệnh. Nay khi họ đang giữa cuộc vui mừng, kìa, quạ đen của tang thương và sụp đổ kêu trên đầu họ, và hai mươi con tàu chạy trốn kéo đến, trong đó có vua Cæsarea. Vậy vua Afridun, Chúa của Constantinople, ra gặp chúng trên bờ biển, và chúng kể cho ông mọi điều đã xảy đến với chúng từ người Hồi giáo, rồi chúng khóc đau đớn, rên rỉ than van; niềm vui vì phúc lành hóa thành kinh hoàng trước tai họa; và chúng báo cho ông về Luka con trai Shamlut, tai ương đã ập xuống hắn ra sao và Tử Thần đã bắn hắn bằng mũi tên của mình thế nào. Khi ấy những kinh hoàng của Ngày Phán Xét nổi lên trong vua Afridun,[FN#405] và ông biết rằng không thể nắn thẳng chỗ cong của họ. Rồi từ giữa họ nổi lên tiếng khóc lóc và than gào; thành phố đầy những người để tang và kẻ canh giữ than khóc, tiếng thở dài cùng kêu la vang lên từ mọi phía. Và khi vua Hardub của Hy Lạp gặp vua Afridun, ông kể cho ông ấy sự thật của việc này, rằng cuộc chạy trốn của người Hồi giáo chỉ là mưu kế và lừa dối, rồi nói với ông, “Đừng mong thấy ai trong quân đội ngoài những kẻ đã đến được với ngài.” Khi vua Afridun nghe những lời này, ông ngã xuống ngất lịm, mũi chúc xuống dưới chân; và ngay khi tỉnh lại, ông kêu lên, “Chắc hẳn Đấng Messiah đã nổi giận với chúng nên khiến người Hồi giáo thắng được chúng!” Rồi Tổng Giáo trưởng buồn bã đến với nhà vua, người nói với ông, “Ôi cha của chúng con, sự hủy diệt đã giáng xuống quân đội chúng ta và Đấng Messiah đã trừng phạt chúng ta!” Giáo trưởng đáp, “Chớ buồn cũng chớ lo, vì hẳn là một kẻ trong các ngài đã phạm tội với Đấng Messiah, và tất cả đã bị phạt vì tội của hắn; nhưng nay chúng ta sẽ đọc kinh cầu cho các ngài trong các nhà thờ, để các đạo quân Mohammed bị đẩy lui khỏi các ngài.” Sau đó bà lão Zat al-Dawahi đến gặp Afridun và nói với ông, “Ôi đức vua, quả thật các đạo quân Hồi giáo rất đông, và chúng ta sẽ không bao giờ thắng chúng trừ bằng mưu mẹo: bởi vậy ta định dùng gian kế với chúng, đi đến đạo quân Al-Islam này, có lẽ ta sẽ đạt được ý muốn nơi thủ lĩnh của chúng và giết dũng sĩ của chúng, như ta đã giết cha hắn. Nếu mưu kế của ta thành công với hắn, chẳng một kẻ nào trong đạo quân hắn dẫn sẽ trở về quê nhà, bởi tất cả chỉ mạnh vì có hắn; nhưng ta muốn có vài cư dân Cơ Đốc ở Syria, những người đi ra mỗi tháng mỗi năm để bán hàng hóa, để họ giúp ta (vì họ có thể làm được việc này) thực hiện kế hoạch của ta.” Nhà vua đáp, “Cứ vậy khi nào bà muốn.” Vậy bà truyền đem đến một trăm người, dân Najrán,[FN#406] ở Sham, và nhà vua hỏi họ, “Các ngươi chưa nghe chuyện đã xảy ra với người Cơ Đốc trước người Hồi giáo sao?” Họ đáp, “Có.” Ông nói tiếp, “Hãy biết rằng người đàn bà này đã hiến mạng mình cho Đấng Messiah và định đi cùng các ngươi, cải trang thành người Nhất Thần và Mohammed, để thực hiện một mưu kế có lợi cho chúng ta và ngăn người Hồi giáo khỏi chúng ta: vậy hãy nói, các ngươi có sẵn lòng hiến mình cho Đấng Được Xức Dầu không, và ta sẽ ban cho các ngươi một quintal vàng?[FN#407] Kẻ nào trong các ngươi thoát được sẽ nhận tiền, còn kẻ nào chết thì Đấng Messiah sẽ thưởng cho.” Họ đáp, “Ôi đức vua, chúng tôi sẽ hiến mạng mình cho Đấng Messiah, và chúng tôi sẽ làm vật tế của ngài.” Bấy giờ bà lão lấy mọi rễ thơm bà cần, đặt chúng vào nước và đun trên lửa cho tới khi tinh chất đen của chúng được rút ra. Bà đợi cho nước sắc nguội, rồi nhúng góc một chiếc khăn dài vào đó và nhuộm mặt mình bằng nó. Hơn nữa, bà mặc bên ngoài y phục một áo khoác dài viền thêu và cầm trong tay một chuỗi tràng hạt, rồi sau đó vào gặp vua Afridun, người không nhận ra bà, cũng không một ai trong các bạn đồng hành của ông nhận ra bà, cho tới khi bà tự lộ mình với họ: và chẳng ai trong hội ấy mà không cảm tạ và ca ngợi bà vì sự xảo quyệt của bà; con trai bà vui mừng và nói, “Cầu Đấng Messiah không bao giờ phụ bà!” Bấy giờ bà đem theo các người Cơ Đốc Syria và lên đường tới đạo quân Baghdad.— Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi ba đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi vua Afridun nghe những lời này, ông ngã xuống ngất lịm, mũi chúc xuống dưới chân; và ngay khi tỉnh lại, nỗi sợ làm tinh hoàn[FN#408] dưới bụng ông run lên, rồi ông than vãn với bà lão Zat al-Dawahi. Nay mụ già bị nguyền rủa này là phù thủy trong hàng phù thủy, bậc thầy lão luyện về ma thuật và lừa lọc; phóng đãng và xảo quyệt, trụy lạc và trá ngụy; hơi thở hôi hám, mí mắt đỏ, má vàng, mặt nâu xỉn, mắt kèm nhèm, thân ghẻ lở, tóc hoa râm, lưng gù, da héo úa nhợt nhạt và lỗ mũi lúc nào cũng chảy. Nhưng mụ đã học kinh sách Al-Islam và đã hành hương đến Ngôi Nhà Thiêng ở Meccah, tất cả để có thể biết các quy định của Mohammed và những câu mầu nhiệm trong kinh Koran; và mụ đã tuyên xưng Do Thái giáo tại Thành Thánh Jerusalem[FN#409] suốt hai năm, để có thể nắm phép thuật của người và quỷ; vì thế mụ là tai họa của tai họa và dịch bệnh của dịch bệnh, lầm lạc trong tín ngưỡng và chẳng trung thành với tôn giáo nào. Nay nguyên nhân chính khiến mụ ở với con trai mình, vua Hardub của Hy Lạp, là vì các trinh nữ nô lệ tại triều đình ông: bởi mụ đam mê nữ sắc đồng giới[FN#410] và không thể tồn tại nếu thiếu tình ái nữ-nữ, nếu không mụ phát điên: vì thế, nếu thiếu nữ nào làm mụ vừa ý, mụ thường dạy nàng nghệ thuật cọ âm vật vào âm vật và xức nàng bằng nghệ tây[FN#411] cho tới khi nàng ngất đi vì khoái cảm quá độ. Kẻ nào vâng lời mụ thì mụ thường ban ân và khiến con trai mụ nghiêng về phía nàng; nhưng kẻ nào chống lại mụ thì mụ sẽ lập kế hủy diệt; và mụ sống như thế trong một thời gian dài. Điều này Marjanah, Rayhánah và Utrijah, các tỳ nữ của Abrizah, đều biết; còn Công chúa của họ thì ghê tởm mụ già ấy và kinh sợ việc nằm với mụ, vì mùi nồng nặc từ nách mụ, mùi rắm thối hơn xác thối, và làn da thô ráp của mụ còn thô hơn xơ chà là. Mụ thường hối lộ những kẻ cọ chỗ kín với mụ bằng châu báu và lời chỉ dạy; nhưng Abrizah tránh xa mụ và tìm nơi nương náu nơi Đấng Toàn Năng, Đấng Toàn Tri; bởi, nhân Allah, thi nhân đã nói rất đúng,
“Hỡi kẻ phủ phục thấp hèn trước người quyền quý * Mà chẳng hề chùn bước khi lội qua những kẻ thấp hơn
Kẻ mạ vàng cặn bã bằng cách gom từng dirham, * Hương rái cá nào che được mùi xác thối!”
Và nay hãy trở lại với câu chuyện về mưu kế của mụ và những tai họa do việc mụ làm. Chẳng bao lâu mụ lên đường, đem theo các thủ lĩnh Nazarene cùng người của họ, hướng về đạo quân người Hồi giáo. Bấy giờ vua Hardub vào gặp vua Afridun và nói với ông, “Ôi đức vua, chúng ta không cần Đại Giáo trưởng hay lời cầu nguyện của ông ta, mà sẽ nghe theo lời khuyên của mẹ ta và xem bà sẽ làm gì với mưu kế vô tận của bà chống các đạo quân Hồi giáo; vì chúng đang hành quân với toàn bộ sức mạnh, chúng sẽ sớm ở trên chúng ta và vây chúng ta tứ phía.” Khi vua Afridun nghe điều này, kinh hoàng chiếm lấy tim ông và ông viết thư, không ngừng cũng chẳng chậm trễ, gửi tới tất cả các dân tộc Nazarene, nói rằng, “Không một ai trong các tín đồ Messiah hay các hiệp sĩ Thập Giá được lùi bước, nhất là dân các thành lũy và pháo đài: tất cả hãy đến với chúng ta, bộ binh và kỵ binh, đàn bà và trẻ nhỏ, vì các đạo quân Hồi giáo đã giẫm lên đất ta rồi. Vậy nhanh lên! hãy nhanh lên! trước khi điều chúng ta sợ hiện ra với chúng ta nơi đây.” Đến đây là chuyện về họ; còn về việc làm của bà lão Zat al-Dawahi, khi mụ rời thành cùng đoàn tùy tùng, mụ mặc cho họ y phục của thương nhân Hồi giáo, đã chuẩn bị cho mình một trăm con la chở hàng vải Antioch, như sa tanh dệt vàng, gấm vóc hoàng gia và những thứ tương tự. Và mụ đã lấy một bức thư từ vua Afridun với nội dung như sau: “Đây là các thương nhân từ xứ Sham, đã ở với chúng ta: vậy không ai được làm hại hay cản trở họ, cũng không được lấy thuế và phần mười của họ, cho tới khi họ về đến quê nhà và nơi an toàn, vì nhờ thương nhân mà một xứ sở phồn thịnh, và họ không phải người chiến tranh cũng không phải kẻ ác tín.” Rồi mụ bị nguyền rủa Zat al-Dawahi nói với những kẻ đi cùng mụ, “Quả thật ta muốn thực hiện một mưu kế để hủy diệt người Hồi giáo.” Họ đáp, “Ôi Nữ vương, hãy truyền cho chúng tôi bất cứ điều gì bà muốn; chúng tôi ở dưới quyền bà và cầu Đấng Messiah không bao giờ làm hỏng những việc bà sắp đặt!” Rồi mụ mặc một áo choàng lông cừu trắng mịn và chà trán cho tới khi tạo ra một dấu lớn như sẹo, rồi xức lên đó thứ thuốc mỡ do chính mụ chế, khiến nó sáng lên với ánh rạng kỳ lạ. Nay mụ già ấy thân gầy mắt hõm, và mụ buộc chặt hai chân bằng dây[FN#412] ngay phía trên bàn chân, cho tới khi mụ đến gần trại quân Hồi giáo thì tháo chúng ra, để lại những vết hằn sâu trên mắt cá. Rồi mụ xức các vết hằn bằng huyết rồng và bảo bạn đồng hành đánh mụ một trận dữ dội, đặt mụ trong một chiếc rương, rồi nói, “Hãy kêu lớn Điệp Khúc Nhất Thể,[FN#413] và chớ sợ vì nó mà có tổn hại gì!” Họ đáp, “Làm sao chúng tôi đánh bà được, người là nữ chúa của chúng tôi, Zat al-Dawahi, mẹ của vị vua chúng tôi lấy làm vinh hiển?” Bấy giờ mụ nói, “Chúng ta không trách cũng không quở mắng kẻ đi đến nhà xí, và khi cần thì điều ác hóa thành việc lành. Khi các ngươi đã đặt ta vào rương, hãy lấy nó và biến nó thành một kiện hàng, đặt nó lên lưng la rồi đi với nó và những hàng hóa khác qua trại quân Hồi giáo, chớ sợ bị trách. Và nếu bất cứ người Hồi giáo nào cản các ngươi, hãy giao nộp la cùng hàng chở, rồi tự mình đến gặp vua của chúng, Zau al-Makan, khẩn xin sự bảo hộ của hắn rằng, ‘Chúng tôi ở trong đất của những Kẻ vô đạo và chúng chẳng lấy gì của chúng tôi, mà viết cho chúng tôi một giấy thông hành để không ai cản trở hay gây tai họa cho chúng tôi.’ Nếu hắn hỏi các ngươi, ‘Các ngươi được lợi gì từ tài sản của mình trong xứ Roum?’ hãy trả lời hắn, ‘Chúng tôi được lợi trong việc giải cứu một người mộ đạo, người đã bị trói trong một phòng giam dưới đất gần mười lăm năm, kêu cứu mà chẳng ai cứu. Không, những Kẻ vô đạo đã tra tấn ngài đêm ngày. Chúng tôi không biết việc này; nhưng sau khi nán lại Constantinople một thời gian, bán hàng hóa của mình và mua thứ khác thay vào, chúng tôi quyết định và chuẩn bị trở về quê nhà. Đêm ấy chúng tôi chuyện trò về chuyến đi, và khi ngày ló rạng, chúng tôi thấy trên tường có hình dáng một người; khi chúng tôi lại gần nó, kìa, nó cử động và nói, “Hỡi người Hồi giáo, trong các ngươi có ai có ý tìm ân sủng của Chúa Ba Thế Giới không?”[FN#414] Chúng tôi hỏi, “Bằng cách nào?” và hình ấy đáp, “Hãy biết rằng Allah đã khiến ta nói với các ngươi, để đức tin các ngươi được củng cố, niềm tin các ngươi thêm can đảm, và để các ngươi ra khỏi xứ của những Kẻ vô đạo mà đến với đạo quân Hồi giáo; vì cùng họ có Thanh Gươm của Đấng Khoan Nhân, Dũng sĩ của Thời đại chúng ta, vua Sharrkan, nhờ người ấy Người sẽ chinh phục thành Constantinople và hủy diệt giáo phái Nazarene. Và khi các ngươi đi ba ngày đường, các ngươi sẽ tìm thấy một ẩn thất gọi là Ẩn thất của nhà khổ tu Matruhina[FN#415] và có một phòng giam; hãy viếng nó với ý định tinh sạch và cố đến đó bằng sức mạnh của ý chí, vì trong ấy có một Giáo sĩ từ Thành Thánh Jerusalem, tên là Abdullah, một trong những người sùng đạo nhất nhân loại, được ban quyền làm các phép lạ thánh thiện[FN#416] xua tan nghi ngờ và u ám. Một số tu sĩ đã dùng mưu bắt ngài và nhốt ngài trong một hầm ngầm, nơi ngài đã nằm rất lâu. Nhờ giải cứu ngài, các ngươi sẽ làm hài lòng Chúa của những Người Trung Tín, vì sự giải thoát ấy tốt hơn chiến đấu cho Đức Tin.”’ Nay khi bà lão và những người đi cùng mụ đã đồng ý những lời như vậy, mụ nói, “Ngay khi những điều ta truyền đạt đến tai vua Sharrkan, hãy nói thêm với hắn, ‘Nghe điều này từ hình tượng ấy, chúng tôi biết rằng vị thánh nhân’”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi tư đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi bà lão Zat al-Dawahi và những người đi cùng mụ đã đồng ý những lời như vậy, mụ nói, “Nay ngay khi những điều ta truyền đạt đến tai vua Sharrkan, hãy nói thêm với hắn, ‘Nghe những lời này từ hình tượng ấy, chúng tôi biết rằng vị thánh nhân quả thật thuộc hàng những nhà khổ tu hàng đầu và là tôi tớ của Allah có phẩm chất tinh thuần nhất; vậy chúng tôi đi ba ngày đường cho tới khi thấy ẩn thất ấy, rồi chúng tôi lên đó và trải cả ngày mua bán, như thói thường của thương nhân. Ngay khi ngày đã rời khỏi mắt chúng tôi và đêm đến làm tối ánh sáng, chúng tôi đi tới phòng giam nơi có ngục tối, và chúng tôi nghe vị thánh nhân, sau khi tụng vài câu trong kinh Koran, ngâm những câu đôi sau,
‘Tim ta đã nản, ngực ta chật hẹp, * Và hồn ta chìm trong biển tai ương hận sầu
Nếu thoát thân chẳng gần, ta sẽ sớm chết; * Và Chết còn hơn cảnh ngặt nghèo đau đớn này:
Ôi Tia Chớp nếu ngươi soi sáng quê nhà và thân tộc ta, * Nếu nét duyên còn rạng hơn của họ làm ánh ngươi lu mờ,
Hãy nói, đường nào đưa ta gặp họ, khi bị chặn * Bởi chiến tranh, và cửa cứu viện bị rào kín?’
“Khi các ngươi đã đưa ta vào trại quân Hồi giáo, và ta trà trộn với chúng, các ngươi sẽ thấy,” bà lão tiếp tục, “ta sẽ xoay xở lừa chúng và giết hết chúng, đến người cuối cùng ra sao.” Những người Nazarene nghe điều bà nói thì hôn tay bà và đặt bà vào rương, sau khi đã đánh bà một trận đau đớn theo lệnh bà, bởi họ thấy phải làm theo ý bà trong việc này; rồi tất cả cùng hướng đến đạo quân Hồi giáo như đã nói trước. Đó là trường hợp của mụ già bị nguyền rủa Zat al-Dawahi và đồng bọn; còn về quân đội Mohammed, quả thật sau khi Allah ban cho họ chiến thắng trước kẻ thù và họ đã cướp mọi tiền bạc và kho tàng trong các tàu, tất cả ngồi xuống trò chuyện với nhau và Zau al-Makan nói với anh trai Sharrkan, “Quả thật Allah đã cho chúng ta thắng vì sự đối đãi công bằng, kỷ luật và hòa hợp giữa chúng ta; bởi vậy hãy tiếp tục, ôi Sharrkan, vâng theo mệnh lệnh của ta, trong sự phục tùng Allah (Người được tôn cao và ca ngợi!), vì ta định giết mười vua để đòi nợ máu cho phụ vương ta, cắt cổ năm mươi nghìn người Hy Lạp và tiến vào Constantinople.” Sharrkan đáp, “Mạng ta xin làm vật chuộc cho đệ trước cái chết! Nhất thiết ta sẽ theo đuổi Thánh Chiến, dù có phải ở nhiều năm trong xứ chúng. Nhưng ta có, ôi em trai ta, một người con gái ở Damascus, tên là Kuzia Fakan, ta hết lòng yêu nó vì nó là một trong những kỳ quan của thời đại và nó sắp đến tuổi trưởng thành.” Zau al-Makan nói, “Còn ta cũng để vợ ta đang mang thai và gần đến ngày sinh, ta không biết Allah sẽ ban cho ta điều gì qua nàng. Nhưng hãy hứa với ta, ôi anh trai ta, rằng nếu Allah ban phúc cho ta một con trai, huynh sẽ ban con gái huynh làm vợ nó, và lập giao ước với ta, cam kết đức tin của huynh về việc ấy.” “Với tình yêu và thiện ý,” Sharrkan đáp; rồi đưa tay ra cho em trai mình, chàng nói, “Nếu nàng sinh cho đệ một con trai, ta sẽ gả con gái ta Kuzia Fakan làm vợ nó.” Vì điều này Zau al-Makan vui mừng, và họ chúc mừng nhau về chiến thắng trước kẻ thù. Tể tướng Dandan cũng chúc mừng hai anh em và nói với họ, “Hãy biết, ôi các đức vua, rằng Allah đã ban cho chúng ta chiến thắng, vì chúng ta đã hiến đời mình cho Người (Người được tôn cao và ca ngợi!); và chúng ta đã rời bỏ nhà cửa cùng gia quyến; lời khuyên của thần là chúng ta đuổi theo kẻ thù, ép sát và quấy rối chúng, hầu có lẽ Allah sẽ cho chúng ta đạt được ý nguyện, và chúng ta sẽ hủy diệt kẻ thù từ cành đến rễ. Nếu các ngài thuận ý, hai ngài hãy xuống các tàu này và vượt biển, trong khi chúng thần tiến bằng đường bộ, gánh chịu sức nặng chiến trận và mũi đâm giao tranh.” Tể tướng Dandan không ngừng thúc giục họ chiến đấu và lặp lại lời người đã nói,
“Giết kẻ thù là phúc lạc lớn nhất ta biết, * Và được mang trên lưng tuấn mã ghi vào danh sách;
Sứ giả từ bạn mang hẹn ước thường đến hứa hẹn, * Nhiều khi bạn lại đến không cần hẹn ước.”
Và những lời này của một người khác,
“Vì mẹ ta (nếu ta còn sống) ta sẽ nhận chiến tranh; * Giáo vì anh em ta; gươm cong vì cha ta
Cùng mọi dũng sĩ tóc bờm xờm gặp cái chết * Mỉm cười, cho tới khi giành từ Định Mệnh ước muốn thân yêu!”
Và khi tể tướng kết thúc các câu thơ, ông nói, “Ngợi ca Đấng đã giúp chúng ta giữ vững chiến thắng thân yêu và đã ban cho chúng ta chiến lợi phẩm bạc cùng vàng ròng!” Rồi Zau al-Makan truyền quân đội khởi hành; họ đi tiếp, ép mình hành quân về Constantinople, cho tới khi đến một cánh đồng rộng lớn mênh mông, đầy mọi thứ đẹp đẽ và vui tươi, với thú hoang nhảy nhót và linh dương bước qua bước lại trên đồng bằng. Nay họ đã vượt qua những sa mạc lớn và nước uống đã bị cắt khỏi họ sáu ngày, khi họ đến gần đồng cỏ này và thấy trong đó nước phun thành nguồn, trái chín mời gọi, xứ ấy như Thiên Đường; bởi nó đã khoác lên trang sức và tự trang điểm.[FN#417] Cành cây dịu dàng lay động, say với rượu mới của sương, và hòa cùng mật lộ Tasnim là hơi thở mềm của gió sớm. Tâm trí và mắt nhìn đều bối rối trước vẻ đẹp của nó, đúng như thi nhân nói,
“Hãy ngắm khu vườn xinh đẹp này! như thể * Xuân đã trải áo choàng xanh lên thân nó.
Nhìn bằng mắt thịt, ngươi chỉ thấy * Một hồ nước cân bằng trong lòng nó,
Nhưng nhìn bằng mắt hồn và kìa! ngươi sẽ thấy * Vinh quang lay sóng trong mỗi chiếc lá trên đầu.”
Và như một người khác nói,
“Dòng suối là gò má nhuộm hồng bởi nắng, * Lông tơ[FN#418] của nó là bóng bò của thân liễu tamarisk
Quanh chân các thân cây, bạc lăn thành vòng * Không sóng, và hoa là những vương miện.”
Khi Zau al-Makan thấy cánh đồng này, với cây cúi xuống, hoa nở rộ và chim ca hót, chàng gọi anh trai Sharrkan và nói, “Ôi anh trai ta, quả thật ở Damascus chẳng có gì giống nơi này. Chúng ta sẽ không rời nó trừ sau ba ngày, để chúng ta nghỉ ngơi và để đạo quân Al-Islam lấy lại sức, còn linh hồn họ được củng cố nhằm gặp những Kẻ vô đạo đáng trách.” Vậy họ dừng lại ở đó và trong khi hạ trại, kìa, họ nghe tiếng người vọng từ xa, và Zau al-Makan hỏi nguyên do, được đáp rằng một đoàn thương nhân từ Xứ Syria đã dừng ở đó để nghỉ, và quân Hồi giáo đã đến gặp họ, có lẽ đã lấy một ít hàng hóa họ mang từ xứ của những Kẻ vô đạo. Sau một lúc, các thương nhân tiến đến, kêu la và cầu xin nhà vua giúp đỡ. Khi Zau al-Makan thấy vậy, chàng truyền đưa họ đến trước mặt mình, và khi ở trước mặt, họ nói với chàng, “Ôi đức vua, chúng tôi đã ở trong xứ của những Kẻ vô đạo mà chúng chẳng cướp gì của chúng tôi: vậy tại sao anh em Hồi giáo của chúng tôi lại tước đoạt hàng hóa của chúng tôi, ngay trên đất của họ? Quả thật khi thấy quân lính của ngài, chúng tôi đến với họ và họ cướp của chúng tôi những gì chúng tôi có, nay chúng tôi đã trình với ngài mọi điều xảy đến cho chúng tôi.” Bấy giờ họ đưa cho chàng bức thư của vua Constantinople, và Sharrkan đọc nó rồi nói, “Chúng ta sẽ lập tức trả lại cho các ngươi những gì đã bị lấy; nhưng các ngươi cũng không nên mang hàng hóa đến xứ của những Kẻ vô đạo.” Họ đáp, “Ôi chúa công của chúng tôi, quả thật Allah đã sai chúng tôi đến đó để chúng tôi giành được điều mà chưa một Gházi[FN#419] nào từng giành được tương tự, ngay cả ngài trong mọi cuộc razzia của ngài.” Sharrkan hỏi, “Các ngươi đã giành được gì?” Họ đáp, “Ôi đức vua, chúng tôi sẽ không nói với ngài trừ khi ở chỗ riêng tư; vì nếu việc này truyền ra giữa dân chúng, có lẽ nó sẽ đến tai một số người,[FN#420] và điều này sẽ là nguyên nhân hủy diệt chúng tôi cùng sự hủy diệt của mọi người Hồi giáo lui tới xứ người Hy Lạp.” Nay họ đã giấu chiếc rương trong đó có mụ Zat al-Dawahi bị nguyền rủa. Vậy Zau al-Makan và anh trai đưa họ đến một nơi riêng tư, nơi họ bày tỏ với cả hai câu chuyện về nhà khổ tu, và khóc cho tới khi làm hai đức vua cũng khóc.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi lăm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng những người Nazarene mặc áo thương nhân, khi được Zau al-Makan và anh trai Sharrkan đưa đến nơi riêng, bày tỏ với cả hai câu chuyện về nhà khổ tu, khóc cho tới khi làm hai đức vua cũng khóc, rồi lặp lại cho họ mọi điều đã được mụ phù thủy già Zat al-Dawahi dạy. Bấy giờ lòng Sharrkan rung động vì nhà khổ tu và chàng động lòng thương xót ông, bừng nhiệt tâm phụng sự Allah Toàn năng. Vậy chàng nói với họ, “Các ngươi đã cứu vị thánh nhân này hay ông vẫn còn trong ẩn thất?” Họ đáp, “Chúng tôi đã giải cứu ngài và giết tên ẩn sĩ, vì sợ mạng mình; sau đó chúng tôi vội vã bỏ chạy vì sợ chết; nhưng một người đáng tin nói với chúng tôi rằng trong ẩn thất này có hàng quintal vàng bạc và đá quý.” Rồi họ đem chiếc rương đến và đưa mụ già bị nguyền rủa ra, mụ tựa một quả đậu cassia[FN#421] vì quá đen và gầy, và mụ bị trói bằng chính những xiềng cùng cùm ấy. Khi Zau al-Makan và những người đứng quanh thấy mụ, họ tưởng mụ là một trong những nhà khổ tu tốt nhất của Allah và vượt trội về phẩm chất sùng đạo, đặc biệt vì vầng trán mụ sáng lên do thuốc mỡ mụ đã xức lên mặt. Vậy Zau al-Makan và Sharrkan khóc đau đớn; rồi họ đứng dậy tôn kính và hôn tay chân mụ, nức nở lớn tiếng: nhưng mụ ra dấu cho họ và nói, “Hãy thôi khóc và nghe lời ta.” Bấy giờ họ lau khô nước mắt để vâng lệnh mụ, và mụ nói, “Hai ngài hãy biết rằng ta đã bằng lòng chấp nhận điều Chúa ta làm với ta, vì ta biết tai họa giáng xuống ta là một thử thách từ Người (Người được tôn cao và ca ngợi!); và ai không có nhẫn nại dưới tai họa cùng thử thách, người ấy chẳng thể đến được những lạc thú của Thiên Đường. Quả thật ta đã khẩn cầu Người cho ta trở về quê hương, không phải để bù đắp cho những đau khổ đã định cho ta, mà để ta có thể chết dưới vó ngựa của các chiến binh đánh trận vì Đức Tin, những người dù bị giết trong giao tranh, vẫn sống lại mà không chịu cái chết.”[FN#422] Rồi mụ ngâm những câu đôi sau,
“Pháo đài của chúng ta là Tor,[FN#423] và lửa chiến trận rực cháy: * Ngươi là Moses và đây là lúc cần trợ giúp:
Hãy ném gậy của ngươi xuống, nó sẽ nuốt hết việc chúng làm, * Và chớ sợ người ta biến dây thừng thành rắn độc.[FN#424]
Thay các Chương, vào ngày chiến hãy đọc hàng ngũ kẻ thù, * Và khắc các verset[FN#425] lên cổ chúng bằng lưỡi gươm ngươi!”
Khi bà lão kết thúc thơ của mình, mắt mụ tràn lệ và vầng trán dưới lớp thuốc mỡ sáng như ánh lấp lánh, Sharrkan đứng dậy hôn tay mụ và truyền đem thức ăn đến trước mặt mụ: nhưng mụ từ chối, nói, “Ta đã không phá chay ban ngày suốt mười lăm năm; và làm sao ta có thể phá chay vào lúc như thế này khi Chúa ta đã rộng lượng với ta, giải thoát ta khỏi cảnh tù đày của những Kẻ vô đạo và cất khỏi ta điều còn đau đớn hơn hình phạt lửa? Ta sẽ đợi đến khi mặt trời lặn.” Vậy khi đêm xuống, Sharrkan và Zau al-Makan đến dọn thức ăn cho mụ và nói, “Hãy ăn đi, hỡi nhà khổ tu!” Nhưng mụ nói, “Đây không phải lúc ăn; đây là lúc thờ phượng Đức Vua Báo Ứng.” Rồi mụ đứng trong hốc cầu nguyện và ở đó cầu nguyện cho tới hết đêm; và mụ không ngừng làm theo cách này suốt ba ngày ba đêm, chẳng ngồi xuống ngoài lúc Salám hay lời chào[FN#426] kết thúc bằng vài lời cầu nguyện. Khi Zau al-Makan thấy mụ như thế, niềm tin vững chắc nơi mụ chiếm lấy tim chàng và chàng nói với Sharrkan, “Hãy cho dựng một lều da thơm cho vị Giáo sĩ này, và chỉ định một người hầu thân cận chăm sóc ông.” Đến ngày thứ tư mụ gọi thức ăn; vậy họ đem đến cho mụ đủ loại món thịt có thể quyến rũ giác quan hay làm vui mắt; nhưng trong tất cả thứ ấy mụ chỉ chịu ăn một chiếc bánh với muối. Rồi mụ lại quay về chay tịnh và, khi đêm đến, mụ lại đứng dậy cầu nguyện; khi ấy Sharrkan nói với Zau al-Makan, “Quả thật, người này đưa việc từ bỏ thế gian đến tận cùng của sự từ bỏ, và nếu không vì Thánh Chiến này, ta đã gắn mình với người và thờ phượng Allah trong sự phụng sự người, cho tới khi ta đến trước sự hiện diện của Người. Và nay ta muốn vào lều của người và trò chuyện với người một giờ.” Zau al-Makan nói, “Ta cũng vậy: ngày mai chúng ta xuất trận đánh Constantinople, và chúng ta sẽ không tìm được lúc nào như hiện tại.” Tể tướng Dandan nói, “Cả thần cũng không kém mong muốn được gặp vị khổ tu này; biết đâu người sẽ cầu nguyện cho thần được chết trong Thánh Chiến này và đến trước sự hiện diện của Chúa mình, vì thần đã chán mỏi thế gian.” Vậy ngay khi đêm tối phủ xuống, họ đến lều của mụ phù thủy Zat al-Dawahi; và khi thấy mụ đang đứng cầu nguyện, họ đến gần mụ và khóc vì thương hại mụ; nhưng mụ chẳng để ý đến họ cho tới quá nửa đêm, khi mụ kết thúc kinh nguyện bằng lời chào. Rồi mụ quay sang họ, sau khi chúc họ trường thọ, hỏi họ, “Vì sao các ngài đến?” họ đáp, “Ôi thánh nhân! ngài không nghe chúng tôi khóc quanh ngài sao?” Mụ trả lời, “Đối với người đứng trong hiện diện của Allah, chẳng còn tồn tại trong thời gian, dù để nghe bất cứ ai hay thấy bất cứ điều gì quanh mình.” Họ nói, “Chúng tôi muốn ngài kể cho chúng tôi nguyên nhân ngài bị giam cầm và cầu nguyện cho chúng tôi đêm nay, vì điều ấy có ích cho chúng tôi hơn cả việc chiếm Constantinople.” Nay khi mụ nghe lời họ, mụ nói, “Nhân danh Allah, nếu các ngài không phải các Emir của người Hồi giáo, ta sẽ không kể cho các ngài bất cứ điều gì về chuyện này vào bất kỳ lúc nào; vì ta không than phiền với ai ngoài một mình Allah. Tuy nhiên, với các ngài ta sẽ kể hoàn cảnh bị giam cầm của ta. Vậy hãy biết rằng ta ở trong Thành Thánh Jerusalem cùng một số người xuất thần và được linh cảm, và ta không đề cao mình giữa họ, vì Allah (Người được tôn cao và ca ngợi!) đã ban cho ta sự khiêm nhường và tự bỏ mình, cho tới khi một đêm ta tình cờ xuống biển và bước đi trên mặt nước. Rồi kiêu ngạo đi vào ta; từ đâu ta không biết, và ta tự nhủ, ‘Ai như ta có thể bước đi trên nước?’ Và từ lúc ấy tim ta cứng lại, và Allah giáng cho ta lòng yêu thích du hành. Vậy ta đi đến xứ Roum và thăm mọi nơi suốt một năm, chẳng bỏ nơi nào mà không thờ phượng Allah trong đó. Khi ta đến chỗ này,[FN#427] ta trèo lên núi và thấy ở đó một ẩn thất, có một tu sĩ tên Matrubina cư ngụ; khi thấy ta, hắn đi ra hôn tay và chân ta, nói, ‘Quả thật, ta đã thấy ngươi từ khi ngươi bước vào đất Hy Lạp, và ngươi khiến ta tràn đầy nỗi nhớ xứ Al-Islam.’ Rồi hắn cầm tay ta, đưa ta vào ẩn thất ấy, đem ta đến một phòng tối; khi ta vô tình bước vào, hắn khóa cửa nhốt ta và để ta ở đó bốn mươi ngày, không thịt không uống; vì hắn định giết ta bằng cách trì hoãn. Tình cờ một ngày kia, một Hiệp sĩ tên Dakianús[FN#428] đến ẩn thất, đi cùng mười người hầu khiên và con gái hắn Tamásil, một cô gái có nhan sắc không gì sánh nổi. Khi họ vào ẩn thất ấy, tu sĩ Matruhina kể với họ về ta, và Hiệp sĩ nói, ‘Đem hắn ra, vì chắc chắn trên người hắn chẳng còn một bữa ăn của chim.’ Vậy họ mở cửa phòng tối và thấy ta đứng trong hốc cầu nguyện, đang cầu nguyện và tụng kinh Koran, tôn vinh Allah và hạ mình trước Đấng Toàn năng. Khi họ thấy ta trong trạng thái ấy, Matrohina kêu lên, ‘Người này quả thật là một phù thủy trong hàng phù thủy!’; và nghe lời hắn, tất cả xông vào ta, Dakianus cùng cả bọn, và họ đánh ta một trận đau đớn, cho tới khi ta mong được chết và trách chính mình, nói, ‘Đây là phần thưởng của kẻ tự tôn và kiêu hãnh vì điều Allah đã ban cho hắn, vượt quá năng lực của chính hắn! Còn ngươi, ôi linh hồn ta, quả thật tự phụ và kiêu căng đã lẻn vào ngươi. Ngươi chẳng biết kiêu ngạo làm Chúa nổi giận, làm tim cứng lại và đưa người ta vào Lửa sao?’ Rồi họ trói ta bằng xiềng và đưa ta trở lại chỗ ta, vốn là ngục dưới đất. Cứ ba ngày, họ ném xuống cho ta một chiếc bánh lúa mạch và một ngụm nước; và mỗi một hoặc hai tháng, Hiệp sĩ lại đến ẩn thất. Nay con gái hắn Tamasil đã lớn, vì nàng chín tuổi khi ta thấy nàng lần đầu, và mười lăm năm đã trôi qua trên ta trong cảnh giam cầm, nên nàng đã đến tuổi hai mươi bốn. Trong xứ chúng ta cũng như xứ Hy Lạp chẳng có ai đẹp hơn nàng, và cha nàng sợ nhà vua đoạt nàng khỏi hắn; vì nàng đã hiến mình cho Đấng Messiah và cưỡi ngựa cùng Dakianus trong y phục một kỵ sĩ, nên dù không ai sánh được với nàng về sắc đẹp, chẳng ai thấy nàng lại biết nàng là phụ nữ. Cha nàng đã cất tiền của mình trong ẩn thất này, bất cứ ai có đồ quý hay kho báu đều thường gửi ở đó; và ta thấy ở đó đủ mọi loại vàng bạc, châu báu, bình quý và kỳ vật, chẳng ai có thể đếm được chúng ngoài Allah Toàn năng. Nay các ngài xứng đáng với những của cải này hơn những Kẻ vô đạo ấy; vậy hãy đặt tay lên những gì trong ẩn thất và chia chúng cho người Hồi giáo, nhất là các chiến binh trong Thánh Chiến. Khi các thương nhân này đến Constantinople và bán hàng của họ, hình tượng trên tường ấy đã nói với họ, nhờ ân sủng một phép lạ mà Allah ban cho ta; vậy họ tìm đến ẩn thất đó và giết Matruhina, sau khi tra tấn hắn bằng những cực hình đau đớn nhất và kéo râu hắn, cho tới khi hắn chỉ cho họ nơi ta ở; khi ấy họ bắt ta ra và không tìm được đường nào ngoài trốn chạy vì sợ chết. Nay đêm mai Tamasil sẽ đến thăm ẩn thất ấy như thói quen của nàng, và cha nàng cùng các hầu khiên sẽ đến sau nàng, vì hắn lo cho nàng; vậy, nếu các ngài muốn chứng kiến những điều này, hãy đem ta theo các ngài, và ta sẽ giao cho các ngài tiền bạc cùng của cải của Hiệp sĩ Dakianus ở trong núi ấy; vì ta đã thấy họ đem các bình vàng bạc ra uống từ chúng, và ta nghe một thiếu nữ trong đoàn họ hát cho họ bằng tiếng Ả Rập, ôi đau thay! một giọng ngọt ngào như thế lại không bận rộn trong việc tụng kinh Koran. Vậy nếu các ngài muốn, hãy vào ẩn thất ấy và ẩn ở đó chờ Dakianus cùng con gái hắn đến; rồi bắt nàng, vì nàng chỉ xứng với Vua của Thời Đại, Sharrkan, hoặc vua Zau al-Makan.” Nghe vậy tất cả đều vui mừng, ngoại trừ tể tướng Dandan, người ít tin vào câu chuyện của mụ, bởi lời mụ không giữ được lý trí ông, và dấu hiệu nghi ngờ mụ cùng không tin hiện trên mặt ông.[FN#429] Tuy nhiên ông bối rối trước lời lẽ của mụ, nhưng sợ không dám nói với mụ vì kính sợ nhà vua. Rồi bà lão Zat al-Dawahi nói, “Quả thật, ta sợ Hiệp sĩ đến và, thấy các đạo quân này đóng trong đồng cỏ, sẽ sợ mà không vào ẩn thất.” Vậy Zau al-Makan truyền quân đội hành quân đến Constantinople và nói, “Ta quyết định đem theo một trăm kỵ binh cùng nhiều la để đến ngọn núi ấy, nơi chúng ta sẽ chất lên thú thồ số tiền của trong ẩn thất.” Rồi chàng lập tức sai gọi Đại Thị thần, người được đưa vào hiện diện; đồng thời chàng triệu các thủ lĩnh của người Thổ và Daylam, nói, “Ngay khi trời sáng, các ngươi hãy lên đường đến Constantinople; còn ngươi, ôi Thị thần, sẽ thay ta trong hội đồng và mưu kế, trong khi ngươi, ôi Rustam, sẽ làm phó tướng cho anh ta trong chiến trận. Nhưng đừng để ai biết rằng chúng ta không ở cùng các ngươi, và sau ba ngày chúng ta sẽ tái nhập cùng các ngươi.” Rồi chàng chọn ra một trăm kỵ sĩ gan dạ nhất, chàng cùng Sharrkan và tể tướng Dandan lên đường đến ẩn thất, và một trăm kỵ binh dẫn theo các con la với rương để vận chuyển kho báu.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Sharrkan cùng em trai chàng, Zau al-Makan, và tể tướng Dandan lên đường với một trăm kỵ binh đến ẩn thất mà mụ Zat al-Dawahi bị nguyền rủa kia đã tả cho họ, và họ đem theo la cùng rương để chở kho báu. Nay ngay khi bình minh ló rạng, Thị thần ra hiệu cho đạo quân lệnh khởi hành, và họ lên đường, tưởng rằng hai đức vua cùng tể tướng đang ở với họ; chẳng biết rằng ba người ấy đã đi về phía tu viện. Đó là chuyện của đạo quân; còn về hai đức vua và vị tể tướng, họ nán lại chỗ mình cho đến cuối ngày ấy. Bấy giờ những Kẻ vô đạo đi cùng Zat al-Dawahi bí mật rời đi, sau khi đã vào gặp mụ, hôn tay chân mụ và xin mụ cho phép lên đường. Mụ không chỉ cho họ phép, mà còn dạy họ mọi điều mụ nghĩ ra về mưu mô và xảo kế. Và khi đêm tối, mụ đứng dậy, vào gặp Zau al-Makan cùng các bạn đồng hành của chàng và nói với họ, “Hãy đến, chúng ta lên đường tới ngọn núi, và đem theo ít người cầm khí giới.” Họ vâng lời mụ, để năm kỵ sĩ lại dưới chân núi, còn những người khác cưỡi ngựa đi trước Zat al-Dawahi; mụ nhờ quá vui mừng mà có thêm sức mới, đến nỗi Zau al-Makan nói, “Vinh quang thay Đấng nâng đỡ thánh nhân này, người mà chúng ta chưa từng thấy ai giống!” Nay mụ phù thủy đã viết một bức thư gửi vua Constantinople và phái nó đi trên cánh chim,[FN#430] báo cho ông biết những gì đã xảy ra và kết rằng, “Ta muốn ngươi gửi cho ta mười nghìn kỵ binh dũng cảm nhất của người Hy Lạp, và để họ lén đi dọc chân núi một cách cẩn trọng, kẻo đạo quân Al-Islam trông thấy họ; khi họ đến ẩn thất, hãy để họ mai phục ở đó, cho tới khi ta đem vua Hồi giáo và anh trai hắn đến với họ, vì ta sẽ dụ dỗ chúng và sẽ đưa chúng đến đó, cùng với tể tướng và một trăm kỵ binh, không hơn, để ta có thể lập tức giao cho họ những thập giá ở trong ẩn thất. Ta quyết định giết tu sĩ Matruhina, bởi mưu kế của ta không thể thực hiện nếu không lấy mạng hắn. Nếu mưu của ta thành, chẳng một người Hồi giáo nào sẽ trở về xứ sở mình; không, chẳng một sinh linh sống nào hay một kẻ thổi lửa sáng nào; và Matruhina sẽ làm vật tế cho tín đồ đức tin Nazarene và tôi tớ của Thập Giá, và ngợi ca Đấng Messiah, từ đầu đến cuối.” Khi bức thư này tới Constantinople, người giữ chim bồ câu đưa thư đem nó đến vua Afridun; ông đọc xong liền tức khắc kiểm duyệt đạo quân của mình, trang bị mười nghìn kỵ sĩ với ngựa, lạc đà nhanh, la và lương thực, rồi truyền họ đi đến ẩn thất ấy và, sau khi tới ngọn tháp, ẩn mình ở đó. Đến đây là chuyện của họ; còn về vua Zau al-Makan, anh trai chàng Sharrkan, tể tướng Dandan và đoàn hộ tống, khi họ tới ẩn thất, họ bước vào và gặp tu sĩ Matruhina, người đi ra xem họ là ai và việc gì; bấy giờ người mộ đạo ấy, Zat al-Dawahi, nói, “Hãy giết tên bị nguyền rủa này.”[FN#431] Vậy họ chém hắn bằng gươm và bắt hắn uống chén tử vong. Rồi mụ già bị nguyền rủa đưa họ đến nơi cất đồ cúng và vật tạ nguyện, đem ra cho họ kho báu cùng vật quý nhiều hơn những gì mụ đã tả với họ; và sau khi gom tất cả lại, họ đặt chiến lợi phẩm vào các rương và chất lên la. Còn về Tamasil, nàng không đến, nàng cũng như cha nàng, vì sợ người Hồi giáo; vậy Zau al-Makan nán lại đó, chờ nàng suốt ngày ấy và ngày kế tiếp cùng ngày thứ ba, cho tới khi Sharrkan nói với chàng, “Nhân Allah, ta lo lắng về đạo quân Al-Islam, vì ta không biết họ đã ra sao.” Em trai chàng đáp, “Ta cũng lo cho họ: chúng ta đã lấy được kho báu lớn này, và ta không tin Tamasil hay bất cứ ai khác sẽ đến gần ẩn thất sau chuyện đã xảy ra với đạo quân Cơ Đốc. Vậy chúng ta nên bằng lòng với điều Allah đã ban cho mình và rời đi; biết đâu Người sẽ giúp chúng ta chinh phục Constantinople.” Theo đó họ xuống núi, trong khi Zat al-Dawahi bất lực không thể ngăn họ hành quân vì sợ để lộ sự lừa dối của mình; và họ đi tiếp cho tới khi đến đầu một hẻm núi, nơi mụ già đã đặt phục binh chờ họ với mười nghìn kỵ binh. Ngay khi những kẻ này thấy người Hồi giáo, chúng bao vây họ từ mọi phía, hạ giáo và tuốt lưỡi gươm trắng; những Kẻ vô đạo hô khẩu hiệu của Đức Tin bội tín của chúng và căng dây các mũi tên tai hại. Khi Zau al-Makan, anh trai chàng Sharrkan và tể tướng Dandan nhìn đạo quân này, họ thấy đó là một quân đội đông đảo và nói, “Ai có thể đã báo cho quân này biết về chúng ta?” Sharrkan đáp, “Ôi em trai ta, đây không phải lúc nói chuyện; đây là lúc đánh bằng gươm và bắn bằng tên; vậy hãy thắt chặt lòng can đảm và làm tim các ngươi vững lại, vì chỗ ngặt này giống như con phố có hai cửa; tuy rằng, nhân đức hạnh của Chúa người Ả Rập và Ajam, nếu chỗ này không hẹp đến vậy, ta sẽ khiến chúng thành hư vô, dù chúng có là một trăm nghìn người!” Zau al-Makan nói, “Nếu chúng ta biết trước việc này, chúng ta đã đem theo năm nghìn kỵ binh”; và tể tướng Dandan tiếp lời, “Nếu chúng ta có mười nghìn kỵ binh thì họ cũng chẳng giúp ích gì trong chỗ hẹp này; nhưng Allah sẽ trợ giúp chúng ta chống lại chúng. Thần biết hẻm này và độ chật hẹp của nó, thần biết trong đó có nhiều nơi trú ẩn; vì thần từng đến đây trong một cuộc razzia với vua Omar bin al-Nu'uman, khi chúng ta vây hãm Constantinople. Chúng ta đã ở lại chỗ này, và ở đây có nước lạnh hơn tuyết. Vậy hãy đến, chúng ta hãy thoát khỏi hẻm này trước khi đạo quân Kẻ vô đạo tăng thêm trên chúng ta và giành trước chúng ta lên đỉnh núi, từ đó chúng sẽ ném đá xuống chúng ta, còn chúng ta bất lực không đến gần chúng được.” Vậy họ bắt đầu vội vã đi để thoát khỏi chỗ hẹp ấy; nhưng người mộ đạo, Zat al-Dawahi, nhìn họ và nói, “Các ngài sợ điều gì, các ngài là những người đã hiến mình cho Chúa, và cho việc thi hành ý Người? Nhân Allah, ta đã ở tù dưới đất suốt mười lăm năm, vậy mà chưa từng chống lại Đấng Toàn năng trong bất cứ điều gì Người làm với ta! Hãy chiến đấu trên đường Allah; ai trong các ngài bị giết thì Thiên Đường sẽ là nơi ở của người ấy, còn ai giết được kẻ thù, nỗ lực của người ấy sẽ là vinh dự của người ấy.” Khi nghe từ nhà khổ tu những lời này, mối lo và ưu tư rời khỏi họ, và họ đứng vững cho tới khi những Kẻ vô đạo xung kích từ mọi phía, trong khi gươm múa trên cổ họ và chén tử vong chuyền vòng giữa họ. Người Hồi giáo chiến đấu vì sự phụng sự Allah một trận thật tốt, và ra tay trên kẻ thù của Người bằng đường gươm và mũi giáo; trong khi Zau al-Makan đánh xuống những người kia, khiến các hiệp sĩ cắn bụi và đầu họ bay khỏi thân, từng năm một, từng mười một, cho tới khi chàng giết chết một số vượt quá đếm kể và sổ sách không thể tính hết. Nay trong lúc làm vậy, chàng nhìn mụ già bị nguyền rủa đang vung gươm và khích lệ họ, và tất cả những ai sợ hãi đều chạy đến mụ tìm nơi trú; nhưng mụ cũng đang ra hiệu cho những Kẻ vô đạo giết Sharrkan. Vậy từng đội này đến đội khác lao vào chàng với ý định giết chàng; nhưng mỗi đội xung phong thì chàng cũng xung phong và đẩy lùi; khi đội khác tấn công chàng, chàng đẩy lui cuộc công kích bằng gươm vào lưng chúng; bởi chàng tưởng rằng phúc lành của nhà khổ tu đã ban cho mình chiến thắng, và chàng tự nhủ, “Quả thật Allah nhìn thánh nhân này bằng đôi mắt ân sủng của Người và tăng sức dũng mãnh của ta chống những Kẻ vô đạo bằng sự tinh sạch trong ý hướng mộ đạo của ông: vì ta thấy chúng sợ ta và không thể thắng ta, nhưng ai tấn công ta đều quay đuôi bỏ chạy.” Vậy họ giao chiến hết phần còn lại của ngày, và khi đêm xuống, người Hồi giáo trú vào một hang trong hẻm ấy, mệt mỏi vì áp lực chiến tranh và đá ném: và ngày ấy có bốn mươi lăm người trong họ bị giết. Khi họ tụ lại, họ tìm nhà khổ tu, nhưng chẳng tìm được dấu vết nào của ông; điều này khiến họ đau buồn, họ nói, “Có lẽ ngài đã tử đạo.” Sharrkan nói, “Ta thấy ngài khích lệ các kỵ sĩ bằng những điển tích thiêng và dùng các câu trong Thánh Kinh làm bùa hộ mệnh.” Nay trong khi họ đang nói, kìa, mụ già bị nguyền rủa Zat al-Dawahi đứng trước họ, trong tay cầm đầu của Tổng Đội trưởng của mười nghìn kỵ binh, một hiệp sĩ cao quý, dũng sĩ dữ tợn trong chiến trận và một Satan gây họa. Một người Thổ đã giết hắn bằng một mũi tên, và Allah vội đưa linh hồn hắn vào lửa; khi những Kẻ vô đạo thấy điều người Hồi giáo ấy làm với thủ lĩnh của chúng, tất cả xông vào người ấy, gây tai họa cho người ấy và băm người ấy thành mảnh bằng gươm của chúng, còn Allah vội đưa linh hồn người ấy lên Thiên Đường. Rồi mụ già bị nguyền rủa cắt đầu Hiệp sĩ ấy, đem đến và ném dưới chân Sharrkan, Zau al-Makan và tể tướng Dandan. Nay khi Sharrkan thấy mụ, chàng vội bật dậy trước mặt mụ và kêu lên, “Ngợi ca Allah vì sự bình an của ngài và vì chúng tôi được trông thấy ngài, hỡi thánh nhân và dũng sĩ mộ đạo của Tôn Giáo!” Mụ đáp, “Ôi con trai ta, hôm nay ta đã tìm tử đạo, đã ném mạng mình giữa hàng ngũ Kẻ vô đạo, nhưng chúng sợ ta kinh hoàng. Khi các ngươi tản ra, ta nổi lòng ghen vì danh dự của các ngươi; vậy ta xông vào Hiệp sĩ Trưởng, thủ lĩnh của chúng, dù hắn xứng đương một nghìn kỵ binh, và ta đánh hắn cho tới khi chém lìa đầu khỏi thân. Không một Kẻ vô đạo nào có thể đến gần ta; vậy ta đem đầu hắn đến cho các ngươi,”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi mụ phù thủy bị nguyền rủa Zat al-Dawahi lấy đầu Hiệp sĩ, thủ lĩnh của hai mươi nghìn Kẻ vô đạo, mụ đem nó đến và ném xuống trước mặt Zau al-Makan, anh trai chàng Sharrkan và tể tướng Dandan, nói, “Khi ta thấy tình cảnh các ngài, ta nổi lòng ghen vì danh dự của các ngài; vậy ta xông vào Hiệp sĩ Trưởng và đánh hắn bằng gươm cho tới khi chém lìa đầu khỏi thân. Và không ai có thể đến gần ta, nên ta đem đầu hắn đến cho các ngài, để các ngài thêm mạnh trong Thánh Chiến và dùng gươm mình thực hiện ý muốn của Chúa những Người Trung Tín. Còn nay ta định rời các ngài để các ngài gắng sức chống những Kẻ vô đạo, trong khi ta đi đến quân đội các ngài, dù họ đang ở cổng Constantinople, và trở lại với hai mươi nghìn kỵ binh để hủy diệt bọn Bất tín này.” Sharrkan nói, “Làm sao ngài sẽ đi qua đến chỗ họ, ôi thánh nhân, khi thung lũng bị bọn Gian ác chắn kín tứ phía?” Mụ già bị nguyền rủa nói, “Allah sẽ che ta khỏi mắt chúng và chúng sẽ không thấy ta;[FN#432] mà nếu ai thấy ta, kẻ ấy cũng chẳng dám tấn công ta vào lúc đó, vì ta sẽ như kẻ không tồn tại, chìm trong Allah, và Người sẽ xua kẻ thù của Người khỏi ta.” Sharrkan đáp, “Ngài nói thật, ôi thánh nhân, vì quả thật ta đã chứng kiến điều ấy; vậy nếu ngài có thể ra đi đầu đêm, sẽ là tốt nhất cho chúng ta.” Mụ đáp, “Ta sẽ lên đường ngay giờ này, và nếu ngươi muốn, ngươi hãy đi cùng ta, không ai sẽ thấy ngươi. Hơn nữa nếu em trai ngươi cũng muốn đi cùng chúng ta thì chúng ta sẽ đem chàng theo, nhưng không ai khác; vì bóng của một thánh nhân chỉ có thể che hai người.” Sharrkan nói, “Còn ta, ta sẽ không rời bạn đồng hành của mình; nhưng nếu em trai ta muốn, chàng đi cùng ngài cũng chẳng hại gì và giải thoát chúng ta khỏi chỗ ngặt này; vì chàng là thành lũy của người Hồi giáo và thanh gươm của Chúa Ba Thế Giới; và nếu chàng vui lòng, hãy để chàng đem theo tể tướng Dandan, hoặc người nào khác chàng chọn, rồi phái cho chúng ta mười nghìn kỵ binh trợ giúp chúng ta chống bọn đê hèn này.” Vậy sau khi bàn cãi họ đồng ý việc này, và bà lão nói, “Hãy cho ta thời gian đi trước các ngươi và xem xét tình trạng của những Kẻ vô đạo, xem chúng ngủ hay thức.” Họ nói, “Chúng ta sẽ không ra ngoài trừ khi đi cùng ngài và phó việc của mình cho Allah.” Mụ đáp, “Nếu ta làm theo ý các ngươi, chớ trách ta mà hãy trách chính các ngươi; vì lời khuyên của ta là các ngươi đợi ta cho tới khi ta đem tin về tình hình đến cho các ngươi.” Khi ấy Sharrkan nói, “Hãy đi đến chỗ chúng và đừng chậm trễ với chúng ta, vì chúng ta sẽ chờ ngài.” Bấy giờ mụ đi ra, còn Sharrkan quay sang em trai mình, nói với chàng, “Nếu thánh nhân này không phải người làm phép lạ, ngài đã chẳng bao giờ giết được tên hiệp sĩ hung dữ kia. Đây là bằng chứng đủ về quyền năng của nhà khổ tu; và quả thật niềm kiêu hãnh của những Kẻ vô đạo đã bị hạ thấp vì kỵ sĩ này bị giết, bởi hắn hung bạo, một ác quỷ dữ và ngoan cố.” Nay trong khi họ đang bàn về những công việc vĩ đại của nhà khổ tu, kìa, mụ Zat al-Dawahi bị nguyền rủa đến chỗ họ và hứa cho họ chiến thắng trước bọn Bất tín; vì vậy họ cảm tạ mụ (không biết tất cả đây là mưu mẹo và lừa lọc), rồi mụ già bị nguyền rủa hỏi, “Vua của Thời Đại, Zau al-Makan, và tể tướng Dandan ở đâu?” Chàng đáp, “Ta đây!” Mụ nói, “Hãy đem theo tể tướng của ngươi và theo sau ta, để chúng ta lên đường đi Constantinople.” Nay mụ đã báo cho những Kẻ vô đạo về trò lừa mụ đã đặt lên người Hồi giáo, và chúng vui mừng cực độ, nói, “Tim chúng ta sẽ không thỏa cho tới khi giết được vua của chúng để đổi lấy cái chết của Hiệp sĩ; bởi chúng ta không có kỵ sĩ nào vạm vỡ hơn hắn”; và chúng nói thêm (nói với mụ già xui rủi khi mụ kể cho chúng kế hoạch đi đến xứ người Hồi giáo), “Khi ngươi đem hắn đến cho chúng ta, chúng ta sẽ mang hắn đến vua Afridun.” Rồi mụ đi ra, và đi cùng mụ là Zau al-Makan và tể tướng Dandan, mụ bước trước hai người mà nói, “Hãy lên đường với phúc lành của Allah Toàn năng!” Vậy họ làm theo lệnh mụ, vì mũi tên của Định Mệnh và Vận Số của phần người đã bắn trúng họ, và mụ không ngừng dẫn cả hai đi qua giữa trại quân Hy Lạp, cho tới khi họ đến hẻm núi, lối hẹp đã nói trước, trong khi kẻ thù Vô đạo nhìn họ, nhưng không cản trở họ; vì mụ già địa ngục đã dặn như vậy. Nay khi Zau al-Makan và tể tướng Dandan thấy đạo quân Kẻ vô đạo không ngăn cản họ, dù vẫn thấy họ, tể tướng kêu lên, “Nhân Allah, đây là một trong những phép lạ thánh thiện của thánh nhân! và chắc chắn ngài thuộc hàng được chọn.” Zau al-Makan đáp, “Nhân Allah, ta nghĩ những Kẻ vô đạo chẳng khác gì mù, vì chúng ta thấy chúng mà chúng không thấy chúng ta.” Và trong khi họ đang ca ngợi thánh nhân, kể lại những công việc vĩ đại, lòng mộ đạo và lời cầu nguyện của ông, kìa, những Kẻ vô đạo xung phong xuống họ từ mọi phía, vây quanh và bắt lấy họ, nói, “Có ai khác đi cùng hai ngươi không, để chúng ta cũng bắt hắn?” Tể tướng Dandan đáp, “Các ngươi không thấy người kia ở trước chúng ta sao?” Bọn Bất tín đáp, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, các Tu sĩ, Giáo chủ Tối cao và Tổng Giám mục, chúng ta chẳng thấy ai ngoài hai ngươi!” Khi ấy Zau Al-Makan nói, “Nhân Allah, đây là hình phạt do Allah Toàn năng định cho chúng ta!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi tám đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi bọn Bất tín đã bắt vua Zau al-Makan và tể tướng Dandan, chúng nói với hai người, “Có ai khác đi cùng hai ngươi không, để chúng ta cũng bắt hắn?” Và tể tướng Dandan đáp, “Các ngươi không thấy người kia đang ở cùng chúng ta sao?” Chúng trả lời, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, các Tu sĩ, Giáo chủ Tối cao và Tổng Giám mục, chúng ta chẳng thấy ai ngoài hai ngươi!” Rồi những Kẻ vô đạo đặt xiềng vào chân họ và cắt người canh giữ họ suốt đêm, trong khi Zat al-Dawahi đi tiếp và biến mất khỏi mắt họ. Vậy họ than khóc và nói với nhau, “Quả thật chống lại người mộ đạo dẫn đến nỗi khốn lớn hơn thế này, và chúng ta bị trừng phạt bằng chỗ ngặt đã giáng xuống chúng ta.” Đến đây là chuyện về Zau al-Makan và tể tướng Dandan; còn về vua Sharrkan, chàng qua đêm ấy trong hang cùng các bạn đồng hành, và khi ngày ló rạng, sau khi cầu nguyện buổi sáng, chàng cùng người của mình chuẩn bị giao chiến với Kẻ vô đạo, chàng khích lệ họ và hứa cho họ mọi điều tốt lành. Rồi họ xông ra cho tới khi sát gần bọn Bất tín, và khi bọn này thấy họ từ xa, chúng kêu với họ rằng, “Hỡi người Hồi giáo, chúng ta đã bắt làm tù binh Sultan của các ngươi và tể tướng của các ngươi, người điều hành mọi việc của các ngươi; và nếu các ngươi không thôi giao chiến với chúng ta, chúng ta sẽ giết các ngươi đến người cuối cùng; nhưng nếu các ngươi chịu quy phục, chúng ta sẽ đem các ngươi đến vua chúng ta, người sẽ làm hòa với các ngươi với điều kiện các ngươi rời đất nước chúng ta, trở về nhà và không làm hại chúng ta điều gì, còn chúng ta sẽ không làm hại các ngươi điều gì. Nếu các ngươi chấp nhận, đó sẽ là điều tốt cho các ngươi; nhưng nếu các ngươi từ chối, chẳng còn gì cho các ngươi ngoài cái chết. Vậy chúng ta đã nói thật với các ngươi, và đây là lời cuối cùng của chúng ta với các ngươi.” Nay khi Sharrkan nghe điều này và được xác tín về việc em trai mình cùng tể tướng Dandan bị bắt, chàng nặng trĩu đau buồn và khóc; sức lực chàng rời bỏ chàng và, chắc rằng cái chết đã đến, chàng tự nhủ, “Ước gì ta biết nguyên nhân họ bị bắt! Họ đã thiếu kính trọng thánh nhân hay trái lời người, hay chuyện gì đã xảy ra?” Rồi họ bật dậy giao chiến với bọn Bất tín và giết vô số trong bọn chúng. Ngày ấy người dũng cảm được phân biệt khỏi kẻ hèn nhát, gươm và giáo nhuộm vết máu; vì bọn Vô đạo kéo đến đông như ruồi bu uống nước, từ đồi và từ đồng bằng; nhưng Sharrkan và người của chàng không ngừng đánh trận của những người không sợ chết, cũng không để cái chết ngăn họ theo đuổi chiến thắng, cho tới khi thung lũng chảy đầy máu và đất chất đầy xác chết mà nó mang. Khi đêm xuống, các đạo quân tách nhau, mỗi bên về nơi của mình; còn người Hồi giáo trở lại hang, nơi lời lãi và mất mát hiện rõ với họ: họ còn lại rất ít và chẳng có gì để nương dựa ngoài Allah và gươm cong. Nay ngày ấy đã có ba mươi lăm người trong số họ bị giết, thuộc các Emir hàng đầu, còn họ đã giết hàng nghìn Kẻ vô đạo, bộ binh và kỵ binh chiến đấu trên ngựa. Khi Sharrkan thấy điều này, tình cảnh ấy làm chàng đau đớn và chàng hỏi các bạn đồng hành, “Chúng ta sẽ làm gì?” tất cả đáp, “Điều Allah Toàn năng muốn sẽ xảy đến với chúng ta.” Sáng ngày thứ hai, Sharrkan nói với tàn quân của mình, “Nếu các ngươi ra ngoài giao chiến, chẳng một ai trong các ngươi còn sống, và chúng ta chỉ còn lại rất ít thức ăn cùng nước uống; vậy ta cho rằng tốt hơn các ngươi hãy tuốt gươm, đi ra đứng ở cửa hang này để ngăn bất cứ ai vào trong. Có lẽ thánh nhân đã đến được quân đội Hồi giáo và sẽ trở lại với mười nghìn kỵ binh để giúp chúng ta chiến đấu với những Kẻ vô đạo, vì biết đâu bọn Bất tín đã không thấy ngài và những người đi cùng ngài.” Họ nói, “Đây là đường tốt hơn để đi, và chúng ta chẳng nghi ngờ gì về sự thích đáng của nó.” Vậy toán quân đi ra, giữ cửa hang, đứng bên vách; và mỗi Kẻ vô đạo tìm cách vào trong, họ đều giết. Cứ thế họ chống đỡ kẻ thù khỏi miệng hang và nhẫn nại chịu mọi cuộc tấn công ấy, cho tới khi ngày tàn và đêm kéo tới tối sẫm âm u;—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ chín mươi chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng quân đội người Hồi giáo giữ cửa hang và đứng bên vách, họ chống đỡ kẻ thù; và bất cứ Kẻ vô đạo nào định xông vào họ, người ấy đều bị họ giết; họ nhẫn nại chịu mọi cuộc tấn công ấy cho tới khi ngày tàn và đêm kéo tới tối sẫm âm u, đến lúc ấy vua Sharrkan chỉ còn lại hai mươi lăm người, không hơn. Rồi những Kẻ vô đạo nói với nhau, “Bao giờ những ngày chiến trận này mới kết thúc? Chúng ta mệt mỏi vì đánh người Hồi giáo.” Một trong bọn nói, “Hãy đứng dậy và đánh chúng, vì chúng chỉ còn hai mươi lăm người! Nếu chúng ta không thể thắng chúng bằng giao chiến, hãy đốt lửa lên chúng;[FN#433] nếu chúng quy phục và đầu hàng chúng ta, chúng ta sẽ bắt chúng làm tù binh; còn nếu chúng từ chối, chúng ta sẽ để chúng làm củi cho lửa, để chúng trở thành lời cảnh cáo kinh hoàng cho những người có tâm trí biết nhìn xa. Cầu Đấng Messiah không có ân sủng cho cha ông chúng, và cầu nơi cư ngụ của người Nazarene không thành chốn ở cho chúng!” Vậy chúng mang củi đến miệng hang và châm lửa. Bấy giờ Sharrkan và các bạn đồng hành chắc chắn mình sẽ diệt vong và đầu hàng làm tù binh. Và trong khi họ ở tình trạng này, kìa! vị hiệp sĩ thủ lĩnh của chúng nói với những kẻ khuyên giết họ, “Không ai ngoài vua Afridun được giết chúng, để ngài thỏa cơn giận; bởi vậy chúng ta nên giữ chúng trong cảnh giam cầm bên mình cho tới ngày mai, khi chúng ta sẽ đi với chúng đến Constantinople và giao chúng cho vua chúng ta, để ngài xử trí chúng tùy ý.” Chúng nói, “Đó là đường đúng”; và hắn truyền trói họ, đặt lính canh trên họ. Rồi ngay khi đêm đen, những Kẻ vô đạo bận rộn yến tiệc và mở hội; chúng gọi rượu và uống cho tới khi tất cả ngã ngửa. Nay Sharrkan và em trai chàng, Zau al-Makan, bị giam cầm và các hiệp sĩ đồng hành của chàng cũng vậy; bấy giờ người anh quay sang em trai nói, “Ôi em trai ta, làm sao thoát tự do?” Zau al-Makan đáp, “Nhân Allah, ta không biết; vì chúng ta ở đây như chim trong lồng.” Rồi Sharrkan nổi giận, thở dài vì cơn thịnh nộ quá độ và vươn mình, cho tới khi dây trói bằng đồng của chàng bật đứt; bấy giờ được tự do, chàng đứng dậy, đi đến Đội trưởng lính canh, lấy từ túi hắn chìa khóa xiềng, giải thoát Zau al-Makan, tể tướng Dandan và phần còn lại của người mình. Rồi chàng quay sang hai người và nói, “Ta muốn giết ba tên trong bọn Vô đạo này rồi lấy và mặc y phục của chúng, ba chúng ta; để chúng ta giả dạng người Hy Lạp, đi qua giữa chúng mà chúng không biết, rồi thoát ra đến lực lượng của mình.” Zau al-Makan đáp, “Kế này không an toàn, vì nếu chúng ta giết chúng, ta sợ vài đồng bọn của chúng có thể nghe tiếng thét của chúng, kẻ thù sẽ tỉnh dậy chống chúng ta và giết chúng ta. Cách chắc hơn là đi ra khỏi hẻm núi.” Vậy họ đồng ý việc này và lên đường; khi họ đã bỏ lại đầu lối hẹp một quãng, họ thấy ngựa buộc cọc và kỵ sĩ đang ngủ: Sharrkan nói với em trai, “Tốt hơn mỗi người trong chúng ta lấy một con ngựa.” Có hai mươi lăm kỵ sĩ, vậy họ lấy hai mươi lăm con ngựa, trong khi Allah gửi giấc ngủ xuống những Kẻ vô đạo vì một mục đích Người biết, và những Người trung tín lên ngựa, đi cho tới khi ra khỏi tầm với. Trong khi ấy Sharrkan bắt đầu gom từ bọn Vô đạo bao nhiêu khí giới, gươm và giáo cần dùng. Và trong lúc họ thắng yên rồi tiến lên, chẳng Kẻ vô đạo nào nghĩ rằng có ai đó có thể giải thoát Zau al-Makan, anh trai chàng và người của họ; hay những tù binh của chúng có sức thoát đi. Nay khi tất cả các tù binh đã an toàn khỏi bọn Bất tín, Sharrkan đến với các bạn đồng hành của mình và thấy họ đang chờ chàng đến như ngồi trên than lửa, mong chàng trong nỗi lo âu cay đắng; vậy chàng quay sang họ và nói, “Đừng sợ vì Allah che chở chúng ta. Ta có một đề xuất có lẽ sẽ đạt mục đích của chúng ta.” Họ hỏi, “Đó là gì?” chàng đáp, “Ta muốn tất cả các ngươi trèo lên đỉnh núi và kêu lớn bằng một giọng, ‘Allaho Akbar!’ rồi các ngươi thêm, ‘Đạo quân Al Islam đã ở trên các ngươi! Allaho Akbar!’ Bằng cách này, đội ngũ chúng chắc chắn sẽ tan rã, và chúng sẽ không phát hiện mưu mẹo, vì chúng say rượu; chúng sẽ tưởng quân Hồi giáo đã vây chúng tứ phía và trà trộn với chúng; vậy trong hỗn loạn của say rượu và ngủ, chúng sẽ cầm gươm đánh lẫn nhau, còn chúng ta sẽ chẻ chúng bằng chính gươm của chúng, và gươm cong sẽ đi vòng giữa chúng cho tới bình minh.” Zau al-Makan đáp, “Kế này không tốt; tốt hơn chúng ta nên tìm đường về quân đội mình và không nói một lời; vì nếu chúng ta hô ‘Allaho Akbar,’ chúng sẽ tỉnh dậy và xông vào chúng ta, rồi chẳng một ai trong chúng ta thoát.” Sharrkan đáp, “Nhân Allah, dù chúng có tỉnh dậy cũng chẳng hề gì, và ta mong các ngươi theo kế của ta, vì chẳng gì ngoài điều tốt có thể đến từ nó!” Vậy họ đồng ý với việc ấy, trèo lên núi và hô, “Allaho Akbar!” Và đồi núi, cây cối, đá tảng đáp lại Allaho Akbar của họ vì sợ Đấng Toàn năng. Nhưng khi bọn Kafir nghe khẩu hiệu ấy, chúng kêu lên với nhau,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Sharrkan đã nói như sau, “Ta mong các ngươi theo kế này của ta, vì chẳng gì ngoài điều tốt có thể đến từ nó.” Vậy họ đồng ý với việc ấy, trèo lên đỉnh núi và hô, “Allaho Akbar!”; và đồi núi, cây cối, đá tảng đáp lại Allaho Akbar của họ vì sợ Đấng Toàn năng. Những Kẻ vô đạo nghe thấy liền kêu nhau và mặc áo giáp rồi nói, “Kẻ thù đã ở trên chúng ta, nhân sự thật của Đấng Messiah!” Rồi chúng xông vào nhau và giết chính người của chúng nhiều hơn bất cứ ai biết ngoài Allah Toàn năng. Ngay khi trời sáng, chúng tìm các tù binh nhưng không thấy dấu vết nào, và các đội trưởng của chúng nói, “Những kẻ làm việc này chính là tù binh trong tay chúng ta; vậy hãy đứng dậy và đuổi theo chúng thật nhanh cho tới khi bắt kịp chúng, rồi chúng ta sẽ bắt chúng uống chén báo ứng; và chớ để sợ hãi hay hoảng loạn của việc bất ngờ thức giấc chiếm lấy các ngươi.” Vậy chúng lên ngựa và đuổi theo những kẻ trốn chạy, chỉ thiếu một cái chớp mắt nữa là chúng bắt kịp và vây họ. Nay khi Zau al-Makan thấy việc này, chàng bị nỗi kinh hoàng tăng thêm chiếm lấy và nói với anh trai, “Điều ta sợ sẽ đến nay đã đến trên chúng ta, và giờ chẳng còn gì ngoài chiến đấu vì Đức Tin.” Nhưng Sharrkan chọn giữ im lặng. Rồi Zau al-Makan cùng các bạn đồng hành lao xuống từ đỉnh đồi, hô, “Allaho Akbar!” người của chàng lặp lại tiếng hô chiến trận và chuẩn bị giao chiến, bán mạng mình phụng sự Chúa của những Người Trung Tín; và trong khi họ ở tình cảnh này, kìa, họ nghe nhiều giọng cất lên, “Không có thần nào ngoài Thượng Đế! Thượng Đế là vĩ đại nhất! Chào lành và cứu rỗi ở trên Sứ đồ, Người Mang Tin Mừng, Người Mang Tin Dữ!”[FN#434] Vậy họ quay về hướng âm thanh và thấy một đoàn người Hồi giáo tin một Thượng Đế đang tiến tới phía họ, vì vậy tim họ thêm can đảm, và Sharrkan xung phong vào những Kẻ vô đạo, kêu lớn, “Không có thần nào ngoài Thượng Đế! Thượng Đế là vĩ đại nhất!” chàng và những người cùng chàng, đến nỗi đất rung như động đất và đạo quân Bất tín vỡ ra, chạy trốn vào núi, còn người Hồi giáo theo sau chúng bằng đâm và chém; Zau al-Makan cùng các bạn Hồi giáo của chàng không ngừng đánh các đạo quân của kẻ thù Vô đạo, tách đầu khỏi thân cho tới khi ngày tối lại và đêm kéo đến làm tầm mắt dày đặc. Bấy giờ người Hồi giáo tụ lại và qua đêm trong lời chúc mừng, và khi bình minh ló rạng, ngày sáng lên bằng vẻ sáng và ánh rạng của nó, họ thấy Bahram, thống lĩnh người Daylam, và Rustam, thống lĩnh người Thổ, tiến đến nhập với họ, cùng hai mươi nghìn kỵ sĩ tựa sư tử dữ. Ngay khi thấy Zau al-Makan, các kỵ sĩ xuống ngựa và chào chàng, hôn đất giữa hai tay chàng; chàng nói với họ, “Hãy vui mừng vì tin lành về chiến thắng của người Hồi giáo và sự thất bại của bộ tộc những Kẻ bất tín!” Rồi họ chúc mừng nhau vì được giải thoát và vì phần thưởng lớn lao của họ sau Ngày Phục Sinh. Nay nguyên nhân viện binh đến nơi ấy là như sau. Khi Emir Bahram, Emir Rustam và Đại Thị thần, cùng đạo quân Hồi giáo và cờ hiệu phấp phới cao phía trước, đến trong tầm thấy Constantinople, họ thấy người Nazarene đã lên tường thành, bố trí người trên các tháp và pháo đài, và đặt mọi người phòng thủ vào trật tự phòng vệ, ngay khi chúng biết đạo quân Al-Islam và các cờ hiệu Mohammed tiến đến; và chúng nghe tiếng vũ khí va chạm, tiếng hô chiến tranh, tiếng vó ngựa, và từ các vọng gác chúng thấy người Hồi giáo, với cờ hiệu và kỳ xí của Đức Tin Nhất Thể dưới mây bụi, kìa! họ tựa một đàn châu chấu hay những đám mây mưa đang trút mưa, và giọng người Hồi giáo tụng Koran cùng tôn vinh Đấng Khoan Nhân đập vào tai chúng. Nay những Kẻ vô đạo biết đạo quân này tiến đến nhờ Zat al-Dawahi với mưu mô và dâm loạn,[FN#435] vu khống và kế hoạch của mụ. Và các đạo quân Al-Islam đến gần như biển căng đầy, bởi số đông bộ binh, kỵ binh, đàn bà và trẻ nhỏ. Rồi vị Tướng của người Thổ nói với vị Tướng của người Daylam, “Ôi Emir, quả thật chúng ta đang lâm nguy vì số đông kẻ thù trên tường thành. Hãy nhìn những lũy kia và thế giới người đông như biển xô sóng này. Quả thật bọn Vô đạo kia đông hơn chúng ta gấp trăm lần, và chúng ta không thể an toàn khỏi gián điệp có thể báo cho chúng biết chúng ta không có Sultan. Thật vậy, chúng ta gặp hiểm nguy từ những kẻ thù này, quân số chúng không thể kể và nguồn lực chúng không ai ngăn được, đặc biệt trong lúc vắng vua Zau al-Makan, anh trai ngài Sharrkan và tể tướng lừng danh Dandan. Nếu chúng biết chuyện này, chúng sẽ được khích lệ tấn công chúng ta trong lúc các ngài vắng mặt, và bằng gươm chúng sẽ hủy diệt chúng ta đến người cuối cùng; chẳng một ai trong chúng ta sẽ thấy được an toàn. Vậy lời khuyên của ta là ngươi lấy mười nghìn kỵ sĩ trong quân đồng minh và người Thổ, hành quân đến ẩn thất Matruhina và đồng cỏ Malúkhiná để tìm các huynh đệ và bạn đồng hành của chúng ta. Nếu ngươi làm theo lời khuyên của ta, có lẽ chúng ta sẽ chứng tỏ mình là nguyên nhân giải thoát họ, trong trường hợp họ bị những Kẻ vô đạo ép ngặt; còn nếu ngươi không làm, trách nhiệm sẽ không thuộc về ta. Nhưng nếu các ngươi đi, các ngươi phải trở về nhanh, vì nghi ngờ điều xấu là một phần của sự thận trọng.” Vị Emir nói trên đồng ý với lời khuyên của ông; vậy họ chọn hai mươi nghìn kỵ binh và lên đường, phủ kín các lối và hướng về tu viện đã nói. Đó là nguyên nhân họ đến; còn về bà lão Zat al-Dawahi, ngay khi mụ giao Sultan Zau al-Makan, anh trai chàng Sharrkan và tể tướng Dandan vào tay những Kẻ vô đạo, con điếm ghê tởm ấy cưỡi một tuấn mã nhanh, nói với bọn Bất tín, “Ta định nhập lại với quân đội Hồi giáo đang ở Constantinople và bày kế hủy diệt chúng; vì ta sẽ báo cho chúng rằng các thủ lĩnh của chúng đã chết, và khi nghe điều ấy từ ta, sự kết hợp của chúng sẽ tan rã, dây liên minh của chúng bị cắt và đạo quân của chúng phân tán. Rồi ta sẽ đến gặp vua Afridun, Chúa của Constantinople, và con trai ta Hardub, vua Roum, kể cho họ tin tức về chúng; họ sẽ kéo quân ra đánh người Hồi giáo và hủy diệt chúng, không để lại một tên nào sống.” Vậy mụ lên ngựa và băng ngang đồng quê trên con tuấn mã của mình suốt đêm dài; khi ngày ló rạng, các đạo quân của Bahram và Rustam hiện ra đang tiến về phía mụ. Vậy mụ rẽ vào một bụi rậm ven đường, giấu ngựa giữa cây, rồi đi bộ một lúc, tự nhủ, “Có lẽ các đạo quân Hồi giáo đang trở về, bị đánh bại khỏi cuộc tấn công Constantinople.” Tuy nhiên, khi mụ đến gần họ, mụ nhìn kỹ và chắc chắn rằng cờ hiệu của họ không bị lộn ngược,[FN#436] và mụ biết họ đến không phải như những người bị chinh phục, mà vì lo cho vua và bạn đồng hành của mình. Khi mụ đã chắc điều này, mụ vội lao về phía họ, chạy thật nhanh, như một con quỷ của mưu xấu, cho tới khi tới chỗ họ, mụ kêu lên, “Nhanh lên! nhanh lên! Hỡi binh sĩ của Đấng Khoan Nhân, hãy nhanh tới Thánh Chiến chống các đạo quân của Satan!” Khi Bahram thấy mụ, ông xuống ngựa, hôn đất trước mặt mụ và hỏi mụ, “Ôi bạn của Allah, phía sau ngài có gì?” Mụ đáp, “Chớ hỏi về tình cảnh buồn thảm và trạng huống đau đớn; vì khi các bạn đồng hành của chúng ta đã lấy kho báu khỏi ẩn thất Matruhina, và định mở đường tới Constantinople, thì một đạo quân hùng hổ và đáng sợ của những Kẻ vô đạo kéo ra đánh họ.” Và mụ phù thủy bị nguyền rủa lặp lại cho họ câu chuyện để làm họ đầy rối bời và khiếp sợ, thêm rằng, “Phần lớn họ đã chết, và chỉ còn hai mươi lăm người.” Bahram nói, “Ôi thánh nhân! ngài rời họ khi nào?” Mụ đáp, “Mới đêm nay.”[FN#437] Ông kêu, “Vinh quang thay Allah! Đấng đã cuộn quãng đường xa cho ngài như một tấm thảm, để ngài đi nhanh như vậy bằng đôi chân mình và chống trên một gân giữa của thân chà là! Nhưng ngài là một trong các thánh nhân bay như chim khi được linh cảm và được các chỉ dẫn của Người chiếm giữ.”[FN#438] Rồi ông lên ngựa, bối rối và lúng túng vì những gì đã nghe từ mụ già mạnh về dối trá và vu khống độc ác, và ông nói, “Không có Uy Nghi và không có Quyền Năng nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại! Quả thật công sức của chúng ta đã mất và tim chúng ta nặng trĩu trong lồng ngực, vì Sultan của chúng ta là tù binh cùng những người ở với ngài.” Rồi họ băng ngang đồng quê, rộng dài, đêm ngày, và khi bình minh ló rạng, họ tới đầu hẻm núi và thấy Zau al-Makan cùng Sharrkan đang hô. “Không có thần nào ngoài Thượng Đế! Allaho Akbar! và Chào lành cùng Cứu rỗi ở trên Người Báo Tin Mừng, Người Cảnh Báo.”[FN#439] Bấy giờ ông và đoàn của ông lao vào bọn Bất tín, cuốn trùm chúng như lũ mưa cuốn trùm đất hoang; họ kêu vang tiếng hô chiến trận, cho tới khi nỗi sợ chiếm lấy các Hiệp sĩ dũng mãnh và núi non nứt ra vì kinh hãi. Và khi ngày chiếu sáng, phô vẻ sáng cùng ánh rạng của nó, gió sớm thổi lên họ ngọt ngào và thơm dịu, và mỗi người nhận ra nhau như đã nói trước. Rồi họ hôn đất trước mặt nhà vua và trước mặt anh trai ngài Sharrkan, người kể cho họ mọi điều đã xảy ra với nhóm trong hang. Nghe vậy họ kinh ngạc và nói với nhau, “Chúng ta hãy nhanh chóng trở về Constantinople, vì đã để bạn đồng hành của mình ở đó, và tim chúng ta ở cùng họ.” Vậy họ vội vã khởi hành, phó mình cho Đấng Tinh Tế, Đấng Toàn Trí, và Zau al-Makan khuyên người Hồi giáo kiên định rồi ngâm những câu đôi sau,[FN#440]
“Lời ngợi ca của ta dâng hết lên Người đáng ngợi ca, * Ôi Chúa, Đấng chẳng hề tiếc sự trợ giúp cho ta!
Dù ta từng lạc nơi xa, Người đã là cho ta * Chỗ dựa mạnh nhất ban cho chiến thắng:
Người ban cho ta của cải, vương quyền và quà tặng tốt lành, * Và đeo cho ta thanh gươm chinh phục của dũng khí:
Người khiến ta được phúc dưới bóng vương giả của Người, * Được ân sủng bằng các ân huệ hào phóng ban vui và tự do:
Người cứu ta khỏi mọi nỗi sợ ta từng sợ, nhờ trợ giúp * Của tể tướng ta, người cao quý nhất của Thời Đại!
Ân sủng Người khiến chúng ta trong trận đánh quật ngã người Hy Lạp, * Kẻ lại trở về khoác màu đỏ thẫm của Chiến Tranh:
Rồi ta giả vờ bỏ chạy khỏi chiến trận; * Nhưng như sư tử dữ quay lại, ta khiến chúng phải chạy,
Và bỏ lại dưới lòng thung lũng kẻ thù của ta, say * Không bởi rượu lâu năm[FN#441] mà bởi cuộc vui của chén Tử Thần:
Rồi Thánh Ẩn Sĩ đến, và ngài phô bày * Những phép màu của ngài cho thành thị và đồng nội thấy;
Khi chúng giết các anh hùng dũng sĩ, những người thức dậy để cư ngụ * Trong các vòm cây Eden, nơi những dòng suối ngọt trào tuôn.”
Nhưng khi Zau al-Makan đã ngâm xong thơ, anh trai chàng Sharrkan chúc mừng chàng được an toàn và cảm tạ chàng vì những việc chàng đã làm; sau đó cả hai lên đường, ép mình hành quân để tái nhập với đạo quân của họ.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm lẻ một đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng Sharrkan chúc mừng em trai chàng, Zau al-Makan, vì chàng được bình an và cảm tạ chàng vì những việc chàng đã làm; sau đó cả hai gấp rút hành quân để tái nhập với đạo quân của mình. Đó là chuyện của họ; còn về mụ già Zat al-Dawahi, sau khi đã gặp các đạo quân của Rustam và Bahram, mụ trở lại bụi cây thấp, nơi mụ lấy chiến mã, leo lên lưng và phóng đi vun vút, cho tới khi đến gần đạo quân Hồi giáo đang vây hãm Constantinople, bấy giờ mụ xuống khỏi lưng ngựa và dắt nó đến lều trướng của Đại Thị thần. Khi ông thấy mụ, ông đứng dậy tỏ lòng tôn kính, ra hiệu cho mụ bằng tay phải và nói, “Chào mừng, ôi vị ẩn sĩ mộ đạo!” Rồi ông hỏi mụ chuyện gì đã xảy ra, và mụ lặp lại với ông những lời dối trá gây bất an cùng những vu khống mê hoặc của mình, nói, “Thật vậy, ta lo cho Emir Rustam và Emir Bahram, vì ta đã gặp họ cùng người của họ trên đường và đã phái họ cùng đoàn tùy tùng đi giải cứu nhà vua và các bạn đồng hành của ngài. Nay chỉ có hai mươi nghìn kỵ binh, mà bọn Bất tín lại đông hơn họ; vậy ta muốn ngay giờ này ngài phái phần còn lại của quân mình đi hết tốc lực đến cứu viện họ, kẻo họ bị giết đến người cuối cùng.” Và mụ kêu với họ, “Nhanh lên! Nhanh lên!” Khi Thị thần và người Hồi giáo nghe những lời này, tinh thần họ suy sụp và họ khóc; nhưng Zat al-Dawahi nói với họ, “Hãy cầu Allah trợ giúp và hãy kiên nhẫn chịu thử thách này; vì các ngươi có gương của những người đã đi trước các ngươi trong dân của Mohammed; và Thiên Đường cùng các cung điện của nó đã được Allah trải ra cho những ai chết vì đạo; tất cả đều phải chết, nhưng đáng ngợi ca nhất là chết khi chiến đấu vì Đức Tin.” Nghe lời nói ấy của mụ già bị nguyền rủa, Thị thần gọi em trai của Emir Bahram, một hiệp sĩ tên là Tarkash; và chọn cho ông mười nghìn kỵ binh, những tay cưỡi ngựa lừng danh về sức mạnh, truyền ông lên đường tức khắc. Vậy ông ra đi và hành quân suốt ngày ấy cùng trọn đêm kế tiếp, cho tới khi đến gần người Hồi giáo. Khi ánh ngày ló rạng, Sharrkan thấy đám mây bụi quanh họ và lo cho người của Al-Islam, nói, “Nếu toán quân đang tiến đến chỗ chúng ta này là người Hồi giáo thì chiến thắng của chúng ta được bảo đảm nhờ họ; nhưng nếu họ là người Nazarene, thì không thể chống lại các phán quyết của Định Mệnh.” Rồi chàng quay sang em trai mình, Zau al-Makan, và nói, “Đừng sợ, vì bằng mạng ta, ta sẽ chuộc em khỏi cái chết. Nếu đây là quân Mohammedan, thì đó là ân huệ trời cao tăng thêm; nhưng nếu là kẻ thù của chúng ta, thì chẳng có cách nào ngoài giao chiến với chúng. Tuy vậy ta mong gặp Thánh Nhân trước khi chết, để ta có thể xin ngài cầu cho ta không chết trừ bằng cái chết tử đạo.” Trong khi hai người đang nói như vậy, kìa, những lá cờ hiện ra mang dòng chữ, “Không có thần nào ngoài Thượng Đế và Mohammed là Sứ đồ của Thượng Đế”; và Sharrkan kêu lên, “Người Hồi giáo ra sao?” Họ đáp, “Tất cả đều mạnh khỏe và bình an, và chúng tôi đến chỉ vì lo cho các ngài.” Rồi thủ lĩnh đạo quân xuống ngựa, hôn đất trước mặt Sharrkan và hỏi, “Thưa chúa công, Sultan và tể tướng Dandan, cùng Rustam và anh trai thần Bahram ra sao; tất cả các ngài đều bình an chứ?” Chàng đáp, “Tất cả đều ổn; nhưng ai đã đem tin của chúng ta đến cho ngươi?” Tarkash nói, “Chính Thánh Nhân đã nói với chúng tôi rằng ngài đã gặp anh trai thần Bahram và Rustam, đã phái cả hai đến chỗ các ngài, và ngài cũng bảo đảm với chúng tôi rằng bọn Vô đạo đã bao vây các ngài và đông hơn các ngài; nhưng thần chỉ thấy tình hình trái ngược, và các ngài đang chiến thắng.” Họ hỏi ông, “Và Thánh Nhân đã đến chỗ các ngươi bằng cách nào?” Ông đáp, “Đi bộ trên đôi chân ngài, và trong một ngày một đêm ngài đã vượt quãng đường mười ngày của một kỵ sĩ cường tráng.” Sharrkan nói, “Không nghi ngờ gì nữa, ngài là Thánh của Allah, nhưng nay ngài ở đâu?” Họ đáp, “Chúng tôi để ngài lại với quân ta, dân của Đức Tin, để ngài thúc giục họ giao chiến với bọn phản nghịch và Vô tín.” Nghe vậy Sharrkan mừng rỡ và tất cả cảm tạ Allah vì sự giải thoát của chính mình và sự bình an của Thánh Nhân; rồi họ phó thác người chết cho lòng thương xót của Người, nói, “Điều này đã được viết trong Sách.” Rồi họ lên đường đi về phía Constantinople bằng những chặng hành quân gấp; và trong khi họ đang trên việc ấy, kìa, một đám mây bụi nổi lên cao đến mức che khuất khỏi mắt người hai chân trời đông và tây, và ngày bị nó làm tối thành đêm. Nhưng Sharrkan nhìn nó và nói, “Quả thật ta e đây là bọn Vô đạo đã đánh tan đạo quân Al-Islam, vì đám bụi này che kín thế gian, đông tây, và giấu hai chân trời bắc nam.” Lát sau dưới lớp bụi hiện ra một cột tối, đen hơn sắc đen của những ngày ảm đạm; và cột ấy không ngừng tiến đến họ, đáng sợ hơn cả nỗi sợ Ngày Phán Xét. Kỵ binh và bộ binh vội tiến lên nhìn nó và biết sự kinh hoàng của tình thế; kìa, họ thấy đó chính là vị ẩn sĩ đã nói trước; vậy họ chen quanh ngài để hôn tay ngài, còn ngài kêu lên, “Ôi dân của Người Tốt Lành Nhất Trong Nhân Loại,[FN#442] ngọn đèn chiếu sáng trong mù tối, quả thật bọn Vô đạo đã dùng mưu lừa người Hồi giáo, vì chúng đổ ập lên đạo quân thờ Một Thượng Đế trong lúc họ tưởng mình an toàn trước bọn Vô tín, và chúng tấn công họ trong lều trại, gây một cuộc tàn sát đau đớn khi họ không ngờ có mưu mẹo; vậy hãy mau đến trợ giúp những Người tin vào sự nhất thể của Thượng Đế, và giải thoát họ khỏi những kẻ chối bỏ Người!” Nay khi Sharrkan nghe những lời này, tim chàng như bay khỏi ngực vì nỗi rối bời đau đớn; và kinh ngạc xuống khỏi lưng ngựa, chàng hôn tay và chân vị Ẩn sĩ. Em trai chàng, Zau al-Makan, cùng phần còn lại của bộ binh và kỵ binh cũng làm như vậy; ngoại trừ tể tướng Dandan, người không xuống ngựa mà nói, “Nhân Allah, lòng ta tránh xa vị mộ đạo này, vì ta chưa từng biết vẻ mộ đạo nào mà không sinh ra tai họa. Vậy hãy bỏ ông ta lại và tái nhập với các bạn đồng hành Hồi giáo của các ngươi, vì kẻ này là một trong những kẻ bị xua khỏi cổng lòng thương xót của Chúa Ba Thế Giới! Biết bao lần ta từng làm razzia ở đây cùng vua Omar bin al-Nu'uman và giẫm chân trên đất của những xứ này!” Sharrkan nói, “Hãy gạt ý nghĩ xấu ấy khỏi lòng ngươi; há ngươi không thấy Thánh Nhân này kích động những Người Trung Tín chiến đấu, và cầm giáo cùng gươm nhẹ như không sao? Vậy chớ phỉ báng ngài, vì nói xấu sau lưng là điều đáng trách, và thịt của người mộ đạo là độc.[FN#443] Hãy xem ngài khích lệ chúng ta giao chiến với kẻ thù; và nếu Allah Toàn năng không thương yêu ngài, từ lâu Người đã ném ngài vào cực hình đáng sợ.” Rồi Sharrkan truyền đem đến một con la Nubia cho nhà khổ tu cưỡi và nói, “Hãy lên, ôi người mộ đạo, sùng tín và đức hạnh!” Nhưng nhà mộ đạo từ chối cưỡi và giả vờ từ bỏ bản thân để đạt mục đích của mình; và họ không biết rằng nhân vật thánh thiện này giống kẻ mà thi nhân nói,
“Y cầu nguyện và nhịn ăn vì một mục đích y trông thấy; * Một khi mục đích đã an toàn đạt được, thì nhịn ăn cùng cầu nguyện xin cáo biệt.”[FN#444]
Vậy nhà mộ đạo không ngừng đi giữa kỵ binh và bộ binh, như một con cáo gian đang nghĩ mưu, và bắt đầu cất giọng tụng Koran, ngợi ca Đấng Khoan Nhân. Và họ tiếp tục tiến gấp cho tới khi đến gần trại quân Al-Islam, nơi Sharrkan thấy người Hồi giáo trong cảnh bị đánh bại, Thị thần bên bờ sắp lùi bước tháo chạy, trong khi gươm của người Hy Lạp gây tàn phá giữa những Người Trung Tín, những người chính trực và những người làm điều ngay,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm lẻ hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Sharrkan thấy người Hồi giáo trong cảnh bị đánh bại, Thị thần bên bờ rút lui và tháo chạy, và gươm đang gây tàn phá giữa những người chính trực cùng những người làm điều ngay, nguyên nhân của sự suy yếu này giữa người Hồi giáo là vì mụ già bị nguyền rủa Zat al-Dawahi, kẻ thù của Đức Tin, sau khi thấy Bahram và Rustam đã lên đường cùng quân của họ để hội với Sharrkan và em trai chàng Zau al-Makan, bèn tới trại người Mahometan trước Constantinople và gây ra sứ mạng của Emir Tarkash, như đã nói trước. Mục đích của mụ trong việc này là chia cắt lực lượng Hồi giáo để làm họ yếu đi hơn nữa. Rồi mụ rời họ và vào Constantinople, lớn tiếng gọi các hiệp sĩ Hy Lạp, nói, “Hãy thả dây xuống cho ta buộc bức thư này vào, và các ngươi hãy mang nó đến vua Afridun của các ngươi để ngài đọc nó, và đến con trai ta vua Hardub để cả hai làm theo những gì viết trong đó, cả lệnh truyền lẫn điều cấm.” Vậy họ thả cho mụ một sợi dây, và mụ buộc vào đó một bức thư có nội dung như sau: “Từ nỗi kinh khiếp nhất trong các tai ương[FN#445] và tai họa đứng đầu mọi tai họa, Zat al-Dawahi, gửi lời chào tới vua Afridun. Sau nữa, thật vậy ta đã nghĩ ra một kế để hủy diệt người Hồi giáo; vậy các ngươi hãy yên ổn và hài lòng. Ta đã lừa và bắt được Sultan của chúng cùng tể tướng Dandan; rồi ta trở lại trại chúng và báo cho chúng biết việc ấy, nhờ đó niềm kiêu hãnh của chúng đã sụp đổ và vai chúng bị vặn đau. Và ta đã tác động đến đạo quân đang vây Constantinople đến mức chúng phái mười nghìn người dưới quyền Emir Tarkash đi cứu các tù binh, trong số họ nay chỉ còn ít người; bởi vậy mục đích của ta là các ngươi kéo ra đánh chúng bằng toàn bộ sức mạnh khi ngày này còn kéo dài; và các ngươi đổ ập lên chúng trong lều trại, đừng rời chúng cho tới khi giết chúng đến người cuối cùng; vì quả thật Đấng Messiah đang nhìn xuống các ngươi và Đức Trinh Nữ Phúc Lành đang ưu ái các ngươi; và ta hy vọng nơi Đấng Messiah rằng người sẽ không quên việc ta đã làm.” Khi thư của mụ đến tay vua Afridun, ông vui mừng vô hạn; và lập tức phái người mời vua Hardub của Hy Lạp, con trai Zat al-Dawahi, rồi đọc thư cho ông nghe ngay khi ông đến; bấy giờ ông hết sức vui mừng và nói, “Hãy xem mưu trí của mẹ ta; quả thật nó thay được gươm, và vẻ mặt của bà đủ thay cho những nỗi kinh hoàng của Ngày Đáng Sợ.” Afridun đáp, “Cầu Đấng Messiah không tước khỏi chúng ta bậc thân mẫu đáng kính của ngài, cũng không tước khỏi bà mưu mẹo và xảo trá của bà!” Rồi ông truyền các Hiệp sĩ ra lệnh xuất kích khỏi thành, và tin ấy lan khắp Constantinople. Vậy người Nazarene và các đoàn quân Thập Giá tràn ra, tuốt những lưỡi gươm sắc bén giữa số đông của chúng, hô lớn những lời tuyên xưng bội đạo và tà thuyết, đồng thời báng bổ Chúa của muôn loài. Khi Thị thần thấy cuộc xuất kích, ông nói, “Kìa, người Hy Lạp đã ở trên chúng ta, và chắc chắn chúng đã biết Sultan của chúng ta ở xa; có lẽ chúng đã tấn công chúng ta vì phần lớn quân ta đã hành quân đi cứu viện vua Zau al-Makan!” Rồi ông nổi giận và kêu lớn, “Này, binh sĩ của Al-Islam và những người ủng hộ Đức Tin Chân Chính, nếu các ngươi chạy thì các ngươi mất, nhưng nếu các ngươi đứng vững, các ngươi thắng! Hãy biết rằng dũng cảm nằm ở chịu đựng đến tận cùng, và không có tình thế nào chật hẹp đến mức Đấng Toàn năng không thể làm nó thành rộng rãi; cầu Allah ban phúc cho các ngươi và nhìn các ngươi bằng đôi mắt đầy lòng thương xót!” Bấy giờ người Hồi giáo kêu lên, “Allaho Akbar!” và người tin vào Một Thượng Đế hô khẩu hiệu của mình, xoay những bánh xe cối xay chiến trận bằng chém và đâm với toàn lực; gươm cong và giáo múa dữ dội, các đồng bằng cùng thung lũng ngập tràn máu. Các linh mục và tu sĩ làm phận linh mục, thắt chặt đai lưng và giơ cao những Thánh Giá, trong khi người Hồi giáo hô vang lời tuyên xưng của Vua Báo Ứng và những câu Koran bắt đầu cất tiếng. Các đạo quân của Đấng Khoan Nhân Là Một chiến đấu chống các binh đoàn Satan; đầu bay khỏi thân người, trong khi các Thiên Thần lành bay lượn trên dân của Đấng Tiên tri Được Chọn, và gươm không ngừng đánh cho tới khi ngày tối lại, đêm kéo đến và dày đặc. Nay bọn gian ác đã bao vây người Hồi giáo và chắc mẩm thoát khỏi những đau đớn đang chờ chúng; bọn Vô tín tham muốn chiến thắng trước những Người Trung Tín cho tới khi bình minh ló rạng và chói sáng. Bấy giờ Thị thần lên ngựa, ông cùng người của mình, tin rằng Allah sẽ giúp họ chiến thắng; và đạo quân hòa vào đạo quân, chiến trận nổi lên sừng sững. Đầu bay khỏi thân trong khi người dũng cảm đứng vững tại chỗ; kẻ hèn nhát quay đuôi tháo chạy; và Quan Tòa của cái chết phán xử, án lệnh thi hành, đến nỗi các dũng sĩ ngã khỏi yên bị giết, xác chết chất đầy đồng cỏ và bình nguyên. Rồi người Hồi giáo bắt đầu nhường đất và nghiêng lùi về sau; người Hy Lạp chiếm được một số lều của họ; bấy giờ người Hồi giáo sắp vỡ trận, rút lui và bỏ chạy, thì trong lúc ấy kìa, Sharrkan kéo đến cùng phần còn lại của đạo quân Al-Islam và các cờ hiệu của những Người tin vào Nhất Thể. Và khi đến kịp họ, chàng xung phong vào bọn Vô đạo; theo sau chàng là Zau al-Makan, tể tướng Dandan, các Emir Bahram và Rustam cùng em trai ông Tarkash. Khi kẻ thù thấy vậy, chúng mất đầu óc và lý trí bay mất, những đám mây bụi bốc lên cho tới khi phủ kín cả xứ sở, trong khi những Người Tin chính trực nhập cùng các bạn đạo mộ đạo của họ. Rồi Sharrkan chào Thị thần và khen ông vì sự kiên định; còn ông lần lượt chúc mừng Hoàng tử vì cuộc cứu viện đúng lúc và việc chàng giành được ngày thắng. Nghe vậy người Hồi giáo vui mừng và tim họ thêm vững; họ xông vào kẻ thù và hiến mình cho Allah trong Cuộc Chiến vì Đức Tin. Nhưng khi những Kẻ thờ ngẫu tượng trông thấy các cờ hiệu Mohammed và trên đó là lời tuyên xưng Đức Tin Islamitan, công bố Nhất Thể, chúng thét “Khốn thay!” và “Diệt vong!” và cầu cứu các Giáo chủ của các Tu viện. Rồi chúng bắt đầu kêu gọi John, Mary và Thập Giá ghê tởm, và ngừng tay tàn sát, trong khi vua Afridun đi lên bàn với vua Hardub của Hy Lạp, vì hai đức vua đứng ở đầu mỗi cánh, phải và trái. Nay cùng với họ còn có một kỵ sĩ nổi tiếng tên là Láwiyá, người chỉ huy trung quân; và họ dàn trận, nhưng quả thật họ đầy kinh hoảng và sợ hãi. Trong khi ấy, người Hồi giáo chỉnh hàng lực lượng của mình, và lúc đó Sharrkan đến với em trai mình, Zau al-Makan, nói, “Ôi Vua của Thời Đại, chắc chắn chúng định đấu tướng, và đó cũng là điều chúng ta mong muốn; nhưng ý ta là đẩy ra phía trước những chiến binh gan dạ nhất của chúng ta, vì nhờ lo xa mà một nửa đời được nên.” Sultan đáp, “Như anh muốn, ôi người bạn của lời khuyên tốt!” Sharrkan nói thêm, “Ý ta là đứng giữa hàng đối diện Kẻ vô đạo, với tể tướng Dandan bên trái ta và em bên phải ta, trong khi Emir Bahram dẫn cánh hữu và Emir Rustam dẫn cánh tả; còn em, ôi Đức vua hùng mạnh, sẽ ở dưới cờ hiệu và kỳ xí, vì em là cột trụ phòng thủ của chúng ta; vào em, sau Allah, chúng ta nương cậy, và tất cả chúng ta sẽ là giá chuộc cho em khỏi bất cứ điều gì có thể hại đến em.” Zau al-Makan cảm tạ chàng vì điều ấy, và tiếng hô chiến trận nổi lên, gươm được rút ra; nhưng trong lúc tình thế như vậy, kìa, từ hàng ngũ Roum xuất hiện một kỵ sĩ; và khi hắn đến gần, họ thấy hắn cưỡi trên một con la cái đi chậm, đang cùng chủ nó lánh khỏi va chạm của gươm. Yên phủ của nó bằng lụa trắng phủ bên trên bằng một tấm thảm cầu nguyện dệt kiểu Cashmere, và trên lưng nó ngồi một Shaykh, một ông lão dung mạo đẹp đẽ và dáng vẻ đáng kính, mặc áo choàng len trắng. Ông không ngừng thúc và giục con vật tiến lên cho tới khi đến gần người Hồi giáo và nói, “Ta là sứ giả gửi đến tất cả các ngươi, và sứ giả chẳng có việc gì ngoài truyền đạt; vậy hãy cho ta sự bảo đảm an toàn và cho phép ta nói, để ta truyền cho các ngươi thông điệp của mình.” Sharrkan đáp, “Ngươi được an toàn: chớ sợ đường gươm hay mũi giáo.” Bấy giờ ông lão xuống ngựa, lấy Thập Giá khỏi cổ, đặt nó trước mặt Sultan và hạ mình hết sức khiêm nhường. Rồi người Hồi giáo nói với ông, “Ngươi có tin gì?” Ông nói, “Ta là sứ giả từ vua Afridun, vì ta đã khuyên ngài tránh sự hủy diệt của tất cả những thân thể người và đền thờ của Đấng Khoan Nhân này; và đối với ngài, việc ngăn máu đổ, giới hạn nó vào cuộc đụng độ của hai hiệp sĩ trong một trận đơn đấu là điều chính đáng; vậy ngài đồng ý việc đó và ngài nói với các ngươi, ‘Quả thật, ta sẽ lấy mạng mình chuộc quân đội của ta; vậy hãy để vua Hồi giáo làm như ta và lấy mạng mình chuộc quân của hắn. Nếu hắn giết ta, đạo quân Roum sẽ chẳng còn chỗ dựa, còn nếu ta giết hắn, người Hồi giáo sẽ chẳng còn sự vững bền.’” Khi Sharrkan nghe vậy, chàng nói, “Ôi tu sĩ, ta đồng ý điều ấy, vì nó công bằng và không thể phản bác; và kìa, ta sẽ gặp hắn trong trận đơn đấu và trổ dũng với hắn, vì ta là Dũng sĩ của những Người Trung Tín cũng như hắn là Dũng sĩ của những Kẻ vô tín; và nếu hắn giết ta, hắn sẽ thắng ngày này, và lực lượng Hồi giáo sẽ chẳng còn gì ngoài tháo chạy. Vậy hãy trở về với hắn, ôi tu sĩ, và nói rằng trận đơn đấu sẽ diễn ra ngày mai, vì hôm nay chúng ta vừa xong cuộc hành quân và mệt mỏi; nhưng sau khi nghỉ ngơi, các ngươi đừng sợ lời chê trách hay khiển trách.” Vậy vị tu sĩ trở về (lòng vui mừng) tới vua Afridun và vua Hardub, kể cho cả hai nghe những gì Sharrkan đã nói; nghe vậy vua Afridun vui mừng hết sức, nỗi lo và buồn rơi khỏi ông, ông tự nhủ, “Chắc chắn Sharrkan này là tay gươm cứng cỏi nhất của chúng và là kẻ dữ dội nhất khi đâm giáo; và khi ta giết được hắn, tim chúng sẽ mất can đảm và sức chúng sẽ vỡ vụn.” Nay Zat al-Dawahi đã viết cho vua Afridun về chuyện đó, đã nói với ông rằng Sharrkan là Hiệp sĩ của những người Dũng cảm và dũng cảm nhất trong các hiệp sĩ, và đã cảnh báo ông về chàng; nhưng Afridun là một kỵ sĩ cường tráng, chiến đấu theo nhiều lối; ông có thể ném đá tảng, phóng giáo, đánh bằng chùy sắt, và không sợ dũng lực của người dũng. Vậy khi nghe tường thuật của tu sĩ rằng Sharrkan đồng ý đơn đấu, ông gần như bay lên vì quá vui, bởi ông tự tin và biết không ai có thể chống lại mình. Bọn Vô đạo qua đêm ấy trong vui mừng, hội hè và uống rượu; và ngay khi bình minh ló rạng, hai đạo quân dàn ra với màu đen sẫm của giáo và màu trắng của lưỡi gươm. Kìa, một kỵ sĩ một mình cưỡi vào đồng bằng, ngồi trên lưng chiến mã thuần huyết, hoàn toàn sẵn sàng và háo hức cho cướp phá cùng giao tranh. Hiệp sĩ ấy có tứ chi mạnh mẽ, mặc giáp sắt làm cho áp lực chiến trận. Trên ngực ông mang một tấm gương gắn ngọc, trong tay cầm gươm cong sắc bén và cây giáo gỗ Khalanj,[FN#446] tác phẩm tinh xảo của người Frank, nặng một quintal. Rồi người kỵ sĩ để lộ mặt và kêu lớn, nói, “Ai biết ta thì đã đủ biết ta, còn ai không biết ta thì rất sớm[FN#447] sẽ biết ta là ai. Ta là Afridun, kẻ bị choáng ngợp bởi Shawáhi điềm lành,[FN#448] Zat al-Dawahi.” Nhưng ông chưa nói xong thì Sharrkan, Dũng sĩ của người Hồi giáo, đã tiến ra gặp ông, cưỡi trên một con ngựa hung đáng giá một nghìn đồng vàng đỏ, yên cương nạm ngọc trai và đá quý; chàng đeo chéo bên mình một lưỡi gươm thép Ấn vân nước, chặt qua cổ và làm dễ mọi điều khó nhọc đau đớn. Chàng thúc chiến mã giữa hai đạo quân đang dàn hàng, trong khi mọi kỵ sĩ đều dán mắt vào chàng, rồi chàng kêu với Afridun, “Khốn cho ngươi, ôi kẻ bị nguyền rủa! ngươi tưởng ta là một trong những kỵ sĩ ngươi đã bắt kịp, những người không thể đứng vững trước ngươi trên bãi chiến sao?” Rồi mỗi người lao vào người kia, và họ va vào nhau như hai quả núi đổ sầm hay hai ngọn sóng đập vào nhau rầm rập: họ tiến rồi lùi; hợp lại rồi rời ra; và không ngừng giao tranh, chiến đấu, múa binh khí, công thủ, bằng đường gươm và mũi giáo. Trong hai đạo quân đứng xem, có kẻ nói, “Sharrkan thắng!” và những kẻ khác, “Afridun sẽ chinh phục!”; còn hai kỵ sĩ không ngừng tay khỏi cơn chen lấn cho tới khi tiếng huyên náo và náo động ngưng; các cột bụi bốc lên, ngày nghiêng xuống, mặt trời vàng vọt nhợt nhạt. Rồi vua Afridun kêu lớn với Sharrkan, nói, “Nhân sự thật của Đấng Messiah và Đức Tin không biết nói dối, ngươi chẳng là gì ngoài một kỵ sĩ dũng mãnh và một chiến binh gan lì; nhưng ngươi gian trá và bản tính ngươi không phải bản tính người cao quý. Ta biết việc ngươi làm chẳng đáng khen, dũng lực ngươi chẳng phải của một Hoàng tử; vì người của ngươi cư xử với ngươi như thể ngươi là nô lệ;[FN#449] và xem kìa! chúng đem ra cho ngươi một chiến mã không phải của ngươi, để ngươi cưỡi rồi trở lại giao chiến. Nhưng nhân sự thật của Đức Tin ta, việc đánh nhau với ngươi làm ta bực bội và mỏi mệt, ta chán chém và đâm với ngươi rồi; và nếu ngươi định tiếp tục đánh nặng tay với ta đêm nay, ngươi sẽ không thay đổi chút nào khí giới hay ngựa của ngươi, cho tới khi ngươi chứng tỏ với các kỵ sĩ rằng máu ngươi hào hiệp và ngươi có tài giữa trận xung phong.” Khi Sharrkan nghe hắn nói những lời ấy về việc người của mình cư xử với mình như thể mình là nô lệ, chàng nổi giận và quay về phía người của mình, định ra hiệu cho họ và truyền họ đừng chuẩn bị cho chàng đổi giáp hay đổi ngựa, thì kìa! Afridun rung cao cây lao phóng trong không và ném nó vào Sharrkan. Nay khi người Hồi giáo quay lưng lại, chàng thấy chẳng có người nào gần mình, và chàng biết đây là một trò lừa của tên Vô đạo bị nguyền rủa; vậy chàng vội quay phắt lại và kìa, cây lao bay tới chàng, nên chàng tránh nó, cho tới khi đầu chàng cúi thấp như cung yên. Vũ khí sượt qua ngực chàng và đâm rách da trên lồng ngực chàng, vì Sharrkan ngực cao: bấy giờ chàng kêu lên một tiếng và ngất đi. Tên Afridun bị nguyền rủa mừng rỡ vì tưởng đã giết được chàng; hắn hô với bọn Vô đạo, truyền chúng vui mừng, khiến bọn Vô tín phấn chấn, còn những Người Trung Tín khóc than. Khi Zau al-Makan thấy anh mình lảo đảo trên yên đến gần ngã, chàng phái các kỵ sĩ đến chỗ anh; những người dũng cảm vội đến cứu và tới được bên chàng. Bấy giờ bọn Vô đạo lao vào người Hồi giáo; hai đạo quân giao chiến và hai hàng ngũ hòa lẫn, trong khi gươm cong sắc của Al-Yaman làm việc tốt. Nay người đầu tiên tới chỗ Sharrkan là tể tướng Dandan,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm lẻ ba đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi vua Zau al-Makan thấy tên Vô đạo bị nguyền rủa đã đánh anh trai chàng Sharrkan bằng lao, chàng tưởng anh mình đã chết và phái các kỵ sĩ đến chỗ chàng; những người đầu tiên tới nơi là tể tướng Dandan, Emir của người Thổ Bahram, và Emir của người Daylam Rustam. Họ thấy chàng đang ngã khỏi ngựa; vậy họ giữ chàng trên yên và đưa chàng về với em trai, Zau al-Makan; rồi họ giao chàng cho các tiểu đồng của chàng chăm sóc, và lại đi làm việc chém và đâm. Vậy cuộc chiến dữ dội hơn, vũ khí va vào nhau và không ngừng công thủ, chẳng thấy gì ngoài máu chảy và cổ cúi; gươm không ngừng múa trên gáy người, cuộc giao tranh càng lúc càng dữ, cho tới khi phần lớn đêm đã trôi qua và hai đạo quân đều mệt mỏi vì hỗn chiến. Vậy họ gọi đình chiến và mỗi đạo quân trở về lều trại của mình, trong khi tất cả bọn Vô đạo đến chỗ vua Afridun, hôn đất trước mặt ông, còn các linh mục và tu sĩ chúc mừng ông vì chiến thắng trước Sharrkan. Rồi nhà vua đi về Constantinople và ngồi trên ngai vương quốc của mình, khi vua Hardub đến gặp ông và nói, “Cầu Đấng Messiah làm cánh tay ngài mạnh thêm và không ngừng làm người trợ giúp ngài, nghe những lời cầu nguyện mà mẹ mộ đạo của thần, Zat al-Dawahi, sẽ cầu cho ngài! Hãy biết rằng người Hồi giáo không thể trụ lại nếu thiếu Sharrkan.” Afridun đáp, “Ngày mai việc này sẽ kết thúc khi ta ra trận: ta sẽ tìm Zau al-Makan và giết hắn, rồi đạo quân của chúng sẽ quay đuôi và tháo chạy.” Đó là chuyện của bọn Kafir; còn về đạo quân Al-Islam, khi Zau al-Makan trở về lều của mình, chàng không nghĩ gì ngoài anh trai, và khi vào trướng, thấy chàng trong cảnh xấu và tình trạng đau đớn; bấy giờ chàng triệu tể tướng Dandan, Rustam và Bahram đến bàn bạc. Khi họ bước vào, họ đề nghị triệu tập các y sĩ để họ chữa trị cho Sharrkan, và họ khóc rồi nói, “Thế gian khó lòng sinh ra người như chàng!” họ thức canh bên chàng suốt đêm ấy, và vào những giờ khuya, vị Ẩn sĩ đến với họ trong nước mắt. Khi Zau al-Makan thấy ngài, chàng đứng dậy tỏ lòng tôn kính; và vị Mộ đạo vuốt vết thương của Sharrkan bằng tay mình, tụng chút kinh Koran và lặp lại như bùa hộ mệnh vài câu của Đấng Khoan Nhân. Kẻ giả mạo không ngừng thức canh bên chàng cho tới rạng đông, khi chàng tỉnh lại, mở mắt, cử động lưỡi trong miệng và nói. Bấy giờ Zau al-Makan vui mừng, nói, “Quả thật phúc lành của Thánh Nhân đã tác động lên chàng!” Và Sharrkan nói, “Ngợi ca Allah vì được bình phục; quả thật, giờ này ta đã ổn. Kẻ bị nguyền rủa ấy chơi ta gian trá; và nếu ta không tránh sang một bên nhanh hơn chớp, cây lao phóng đã xuyên qua ngực ta. Vậy ngợi ca Allah vì đã cứu ta! Còn người Hồi giáo ra sao?” Zau al-Makan đáp, “Tất cả đều khóc vì anh.” Sharrkan nói, “Ta khỏe và trong tình trạng tốt; nhưng Thánh Nhân đâu?” Nay mụ đang ngồi cạnh chàng và nói, “Ở bên đầu ngươi.” Vậy Hoàng tử quay sang mụ và hôn tay mụ, khi mụ nói, “Ôi con trai ta! Hãy kiên nhẫn tốt lành và Allah sẽ tăng phần thưởng của ngươi; vì tiền công đo theo công việc.” Sharrkan đáp, “Xin cầu nguyện cho ta,” và mụ cầu nguyện cho chàng. Ngay khi bình minh ló rạng và ngày bừng lên trong ánh sáng cùng vẻ rạng, người Hồi giáo xông ra đồng bằng, còn bọn Kafir sẵn sàng đâm và chém. Rồi đạo quân Islam tiến tới, dâng trận chiến với vũ khí chuẩn bị sẵn, và vua Zau al-Makan cùng Afridun định xông vào nhau. Nhưng khi Zau al-Makan tiến ra chiến trường, tể tướng Dandan, Thị thần và Bahram đi cùng chàng, nói, “Chúng thần sẽ làm vật tế cho ngài.” Chàng đáp, “Nhân Ngôi Nhà Thánh, Zemzem và Thánh Địa![FN#450] Ta sẽ không để mình bị ngăn ra đánh lũ lừa hoang này.” Và khi chàng cưỡi ra chiến trường, chàng múa gươm và giáo khiến kỵ sĩ kinh ngạc, cả hai đạo quân đều lấy làm lạ; rồi chàng xông vào cánh hữu của kẻ thù và giết hai hiệp sĩ trong đó, và cũng xử như vậy với cánh tả. Lát sau chàng dừng ngựa giữa chiến trường và kêu lớn, “Afridun đâu, để ta bắt hắn nếm chén nhục nhã?” Nhưng khi vua Hardub thấy tình thế, ông khẩn cầu Afridun chớ tấn công chàng, nói, “Ôi Đức vua, hôm qua là lượt ngài chiến đấu: hôm nay là lượt thần. Thần chẳng bận tâm đến dũng lực của hắn.” Vậy ông lao ra phía Zau al-Makan, gươm trong tay, dưới thân là một con ngựa giống như Abjar, chiến mã của Antar, và lông nó đen tuyền, đúng như thi nhân nói,
“Trên con tuấn mã thoáng nhanh hơn cả thoáng nhìn * Chàng phóng đi, như muốn ghì lấy Định Mệnh:
Áo lông đen của ngựa chàng là huyền thạch tối nhất, * Và giống Đêm trong u ám đêm đen nhất:
Tiếng hí của nó nghe vui tai người nghe * Như sấm cuộn trong tiếng ầm ầm sấm động:
Nếu nó đua với gió, nó sẽ dẫn đầu, * Và tia chớp lóe sẽ hiện ra sau lưng nó.”[FN#451]
Rồi mỗi người xông vào đối thủ, đỡ đòn và chứng tỏ những phẩm chất kỳ diệu được cất trong mình; họ cứ tiến tới rồi rút lui, cho tới khi ngực những người đứng xem thắt lại và họ mệt mỏi vì chờ kết quả. Cuối cùng Zau al-Makan kêu tiếng hô chiến trận của mình và lao vào Hardub, vua Cæsarea,[FN#452] đánh ông một đòn chém lìa đầu khỏi thân và giết ông ngay tại chỗ. Khi bọn Vô đạo thấy vậy, chúng xung phong thành một khối, dày đặc và hợp nhất, vào Zau al-Makan; chàng gặp chúng giữa chiến trường, và họ cuốn vào chém cùng đâm, cho tới khi máu chảy thành dòng. Rồi người Hồi giáo hô lên, “Allaho Akbar!” (Thượng Đế là vĩ đại nhất) và “Không có thần nào ngoài Thượng Đế!”, và cầu chào lành cho Đấng Tiên tri, Người Mang Tin Mừng, Người Mang Tin Dữ. Và xảy ra một trận chiến lớn, nhưng Allah trao chiến thắng cho những Người Trung Tín và thất bại cho bọn Vô tín. Tể tướng Dandan hô lớn, “Hãy trả thù máu cho vua Omar bin al Nu'uman và con trai ngài Sharrkan!”; rồi ông để trần đầu và kêu lớn với người Thổ. Nay bên ông có hơn hai mươi nghìn kỵ binh, và tất cả xông trận cùng ông như những người đàn ông, khi bọn Vô tín chẳng tìm thấy gì để cứu mạng mình ngoài tháo chạy. Vậy chúng quay đuôi bỏ chạy trong khi lưỡi gươm cắn xé gây tàn phá, và người Hồi giáo giết của chúng ngày ấy khoảng năm mươi nghìn kỵ binh và bắt nhiều hơn con số đó: rất nhiều người cũng bị giết khi đi vào cổng, vì đám đông quá lớn. Rồi người Hy Lạp kéo đến các cửa và tràn lên tường chờ cuộc công kích; cuối cùng các đạo quân Hồi giáo trở về lều trại, được trợ giúp để đạt vinh quang và chiến thắng, còn vua Zau al-Makan vào gặp anh trai mình, thấy chàng trong trạng thái vui mừng nhất. Vậy chàng phủ phục tạ ơn Đấng Rộng Lượng và Đấng Tối Cao; rồi chàng tiến tới chúc mừng Sharrkan vì chàng bình phục. Chàng đáp, “Quả thật tất cả chúng ta đều ở dưới phúc lành của vị Mộ đạo này, thánh thiện và chính trực, và các ngươi đã không thể thắng nếu không nhờ các lời cầu nguyện được chấp nhận của ngài; quả thật suốt ngày ngài vẫn cầu nguyện để khẩn xin chiến thắng cho người Hồi giáo.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm lẻ bốn đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Zau al-Makan vào gặp anh trai mình Sharrkan, chàng thấy anh đang ngồi với Thánh Nhân bên cạnh; vậy chàng vui mừng, tiến lại gần và chúc mừng anh bình phục. Chàng đáp, “Quả thật tất cả chúng ta đều ở dưới phúc lành của vị Ẩn sĩ này, và các ngươi đã không thể thắng nếu không nhờ lời cầu nguyện của ngài; quả thật hôm nay ngài không hề biết sợ và không ngừng khẩn nguyện cho người Hồi giáo. Ta thấy sức lực trở lại với mình khi nghe tiếng ‘Allaho Akbar’ của các ngươi, vì khi ấy ta biết các ngươi đã chiến thắng kẻ thù. Nhưng bây giờ hãy kể cho ta, ôi em trai ta, điều gì đã xảy ra với em.” Vậy chàng kể cho anh nghe tất cả những gì đã diễn ra giữa chàng và tên Hardub bị nguyền rủa, kể lại cách chàng giết ông ta và phái ông ta đến lời nguyền rủa của Allah; và Sharrkan ngợi khen chàng, cảm tạ chàng vì dũng lực của chàng. Khi Zat al-Dawahi nghe kể về cái chết của con trai mình (mà mụ vẫn ăn mặc như một nhà mộ đạo), mặt mụ vàng bệch và mắt tràn nước mắt cay đắng: tuy nhiên mụ giữ kín ý định, giả vờ trước người Hồi giáo rằng mụ mừng rỡ và khóc vì vui quá độ. Nhưng mụ tự nhủ, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, đời ta chẳng còn ích lợi gì nếu ta không đốt tim hắn vì anh trai hắn, Sharrkan, như hắn đã đốt tim ta vì vua Hardub, trụ cột của Cơ Đốc giới và các đạo quân của Thập Giá!” Tuy vậy mụ giữ kín bí mật của mình. Và tể tướng Dandan, vua Zau al-Makan cùng Thị thần vẫn ngồi với Sharrkan cho tới khi họ đã băng bó và bôi thuốc lên vết thương của chàng; sau đó họ cho chàng uống thuốc và chàng bắt đầu hồi phục sức lực; họ vui mừng hết sức và báo cho quân lính, những người tự chúc mừng nhau, nói, “Ngày mai chàng sẽ cưỡi ngựa cùng chúng ta và trổ bổn phận nam nhi trong cuộc vây hãm.” Rồi Sharrkan nói với họ, “Các ngươi đã chiến đấu suốt cả ngày này và đã mệt vì giao tranh; vậy các ngươi nên trở về chỗ mình mà ngủ, đừng thức.” Họ nhận lời khuyên của chàng, rồi mỗi người đi về trướng của mình, và không ai ở lại với Sharrkan ngoài ít người hầu cùng mụ già Zat al-Dawahi. Chàng nói chuyện với mụ một phần đêm, rồi duỗi mình nghỉ ngơi: các gia nhân của chàng cũng làm vậy và lát sau giấc ngủ thắng tất cả, họ nằm như người chết. Đó là chuyện của Sharrkan và người của chàng; còn về mụ già, chỉ mình mụ thức trong khi họ ngủ trong lều, và nhìn Sharrkan, một lát sau mụ thấy chàng đã chìm sâu trong giấc ngủ. Bấy giờ mụ bật dậy, như một con gấu cái trụi lông hay một con rắn đốm, và rút từ thắt lưng ra một con dao găm độc đến nỗi nếu đặt lên đá nó cũng làm đá tan chảy. Rồi mụ tuốt đoản đao và bước đến đầu Sharrkan, kéo dao ngang cổ chàng, cắt đứt khí quản và chặt đầu chàng khỏi thân. Một lần nữa mụ bật dậy; và đi quanh những gia nhân đang ngủ, mụ cũng cắt đầu họ, kẻo họ thức dậy. Rồi mụ rời lều và đi về phía trướng của Sultan, nhưng thấy lính canh tỉnh táo, mụ quay sang lều của tể tướng Dandan. Nay mụ thấy ông đang đọc Koran, và khi mắt ông rơi lên mụ, ông nói, “Chào mừng Thánh Nhân!” Nghe điều này từ tể tướng, tim mụ run lên và mụ nói, “Lý do ta đến đây vào giờ này là vì ta nghe giọng của một vị thánh trong các Thánh của Allah và đang đi đến chỗ ngài.” Rồi mụ quay lưng, nhưng tể tướng tự nhủ, “Nhân Allah, đêm nay ta sẽ đi theo vị Mộ đạo của chúng ta!” Vậy ông đứng dậy và đi theo mụ; nhưng khi mụ già bị nguyền rủa cảm thấy tiếng bước chân của ông, mụ biết ông đang theo mình: bởi vậy mụ sợ nhục nhã vì bị phát hiện và tự nhủ, “Nếu ta không dùng trò lừa nào với ông ta, ông ta sẽ làm nhục ta.” Vậy mụ quay lại và nói với ông từ xa, “Này, ngươi tể tướng, ta đang đi tìm vị Thánh này để biết ngài là ai; và sau khi biết chừng ấy, ta sẽ xin phép ngài cho ngươi đến thăm. Rồi ta sẽ trở lại nói với ngươi: vì ta sợ ngươi đi cùng ta mà chưa có phép của ngài, e ngài giận ta khi thấy ngươi trong hội của ta.” Nay khi tể tướng nghe những lời này, ông thấy hổ thẹn không đáp mụ; vậy ông để mụ đi và trở về lều mình, định ngủ; nhưng giấc ngủ không thuận với ông và thế gian như chất chồng lên ông. Lát sau ông đứng dậy và đi ra khỏi lều, tự nhủ, “Ta sẽ đến chỗ Sharrkan và trò chuyện với chàng cho tới sáng.” Nhưng khi ông bước vào trướng của Sharrkan, ông thấy máu chảy như kênh nước và thấy các gia nhân nằm đó với cổ bị cắt như súc vật làm thức ăn. Trước cảnh ấy, ông kêu lên một tiếng làm mọi người đang ngủ đều thức giấc; dân chúng vội đến với ông và, khi thấy máu chảy thành dòng, bèn nổi lên tiếng khóc than và kêu gào. Rồi tiếng huyên náo đánh thức Sultan, người hỏi chuyện gì xảy ra, và người ta nói với chàng, “Sharrkan, anh trai ngài, cùng các gia nhân của ngài ấy đã bị sát hại.” Vậy chàng vội đứng dậy, bước vào lều, thấy tể tướng Dandan đang gào lớn và thấy thân anh mình không đầu. Trước cảnh ấy chàng ngất đi, và toàn bộ quân lính chen quanh chàng, khóc lóc kêu gào, cứ thế một lúc, cho tới khi chàng tỉnh lại; bấy giờ chàng nhìn Sharrkan và khóc nức nở, trong khi tể tướng cùng Rustam và Bahram cũng làm vậy. Nhưng Thị thần khóc lóc và than thảm hơn tất cả những người còn lại, rồi xin phép vắng mặt, nỗi kinh hoàng của ông lớn đến thế. Khi ấy Zau al-Makan nói, “Các ngươi có biết ai đã làm việc này không, và sao ta không thấy vị Mộ đạo, người đã gạt bỏ những sự của thế gian?” Tể tướng nói, “Còn ai có thể là nguyên nhân của tai họa này ngoài tên Mộ đạo ấy, tên Satan ấy? Nhân Allah, lòng ta ghét hắn từ đầu, vì ta biết rằng tất cả những kẻ giả vờ chìm đắm trong các thực hành tôn giáo đều đê tiện và phản trắc!” Rồi ông lặp lại với nhà vua câu chuyện về việc ông muốn theo sau vị Mộ đạo, nhưng vị ấy đã ngăn ông lại; bấy giờ dân chúng bùng lên trong cơn huyên náo khóc than và kêu gào, rồi hạ mình trước Đấng luôn ở gần, Đấng luôn đáp lời cầu nguyện, khẩn xin Người khiến tên Mộ đạo giả dối, kẻ đã chối bỏ chứng ngôn của Allah, rơi vào tay họ. Sau đó họ đặt thi thể Sharrkan ra và chôn chàng trên ngọn núi đã nói, thương khóc những đức hạnh lừng danh xa rộng của chàng.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm lẻ năm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng họ đặt thi thể Sharrkan ra và chôn chàng trên ngọn núi đã nói, rồi thương khóc những đức hạnh lừng danh xa rộng của chàng. Sau đó họ trông chờ cửa thành mở; nhưng cửa không mở, và trên tường thành cũng chẳng thấy dấu hiệu người nào; vì vậy họ kinh ngạc hết sức. Nhưng vua Zau al-Makan nói, “Nhân Allah, ta sẽ không quay lưng khỏi chúng, dù ta có ngồi đây năm này qua năm khác, cho tới khi ta trả thù máu cho anh trai ta Sharrkan, tàn phá Constantinople và giết vua của người Nazarene, dù cái chết có thắng ta và ta được yên nghỉ khỏi cõi đời khốn khổ này!” Rồi chàng truyền đem ra kho báu lấy từ Tu viện Matruhina; kiểm quân và chia tiền bạc cho họ, không bỏ sót một người nào mà chàng không ban quà khiến người ấy hài lòng. Hơn nữa, chàng triệu đến trước mặt ba trăm kỵ binh thuộc mọi phân đội và nói với họ, “Các ngươi hãy gửi tiếp tế về cho gia đình mình, vì ta quyết ở lại bên thành này, năm này qua năm khác, cho tới khi ta trả được nợ máu cho anh trai ta Sharrkan, dù ta chết ở chốn này.” Và khi quân đội nghe những lời ấy và đã nhận quà bạc của chàng, họ đáp, “Nghe là vâng!” Bấy giờ chàng triệu các trạm sứ, trao thư cho họ và dặn họ giao thư ấy, cùng với tiền bạc, cho gia đình binh sĩ, và báo cho họ biết rằng tất cả đều bình an và thỏa nguyện, lại nói với họ, “Chúng tôi đang đóng trại trước Constantinople và hoặc chúng tôi sẽ hủy diệt nó, hoặc chết; và dù chúng tôi buộc phải ở đây tháng này qua năm khác, chúng tôi sẽ không rời nơi này cho tới khi chiếm được nó.” Hơn nữa, chàng truyền tể tướng Dandan viết thư cho em gái mình, Nuzhat al-Zaman, và nói với ông, “Hãy cho nàng biết những gì đã xảy ra với chúng ta, và tình cảnh của chúng ta ra sao, rồi phó thác con ta cho nàng chăm sóc, bởi khi ta ra trận, vợ ta đã gần đến kỳ sinh nở, và đến lúc này hẳn nàng đã lâm bồn; nếu nàng sinh con trai, như ta đã nghe nói, thì hãy mau trở về và đem cho ta tin lành đáng mừng ấy.” Rồi chàng cho họ ít tiền, họ bỏ vào túi và lên đường ngay; tất cả mọi người ùa ra tiễn họ và gửi gắm họ tiền bạc cùng lời nhắn. Sau khi họ đã rời đi, Zau al-Makan quay sang tể tướng Dandan và truyền ông tiến quân áp sát tường thành. Vậy quân lính tiến tới, nhưng không thấy ai trên lũy, khiến họ kinh ngạc, trong khi Zau al-Makan bối rối vì việc ấy, bởi chàng thương tiếc sâu sắc sự chia lìa với anh trai Sharrkan và hết sức bồn chồn về tên phản bội Đạo sĩ khổ hạnh kia. Trong tình trạng này họ ở ba ngày mà chẳng thấy một ai. Đến đây là chuyện về người Hồi giáo; còn về người Hy Lạp và nguyên nhân họ từ chối giao chiến trong ba ngày ấy, sự việc như sau. Ngay khi Zat al-Dawahi đã giết Sharrkan, mụ vội vã đi gấp và tới tường thành Constantinople, nơi mụ kêu lớn bằng tiếng Hy Lạp với lính gác, bảo chúng ném cho mụ một sợi dây. Chúng hỏi, “Ngươi là ai?” và mụ đáp, “Ta là Zat al-Dawahi.” Chúng nhận ra mụ và thả xuống một sợi dây, mụ buộc mình vào đó và chúng kéo mụ lên; khi đã vào trong thành, mụ đi vào gặp vua Afridun và nói với ông, “Ta nghe gì từ bọn Hồi giáo thế này? Chúng nói con trai ta, vua Hardub, đã bị giết.” Ông đáp, “Đúng vậy”; và mụ thét lên, khóc lóc thảm thiết, không ngừng khóc như thế cho tới khi khiến Afridun và tất cả những ai có mặt đều khóc theo mụ. Rồi mụ kể cho nhà vua nghe mụ đã giết Sharrkan cùng ba mươi gia nhân của chàng ra sao; nghe vậy ông vui mừng và cảm tạ mụ; rồi hôn tay mụ và khuyên mụ nhẫn nhịn trước mất mát con trai. Mụ nói, “Nhân sự thật của Đấng Messiah, ta sẽ không thỏa lòng chỉ với việc giết con chó ấy trong lũ chó Hồi giáo để trả thù máu cho con trai ta, một vị vua trong các vua của thời đại! Nay không có cách nào khác ngoài việc ta phải bày mưu và đặt kế để giết Sultan Zau al-Makan, tể tướng Dandan, Thị thần, Rustam, Bahram và mười nghìn kỵ sĩ của đạo quân Al-Islam; vì sẽ không bao giờ được nói rằng đầu con trai ta được trả bằng tiền máu là đầu của Sharrkan; không, chẳng bao giờ!” Rồi mụ nói với vua Afridun, “Hãy biết, ôi Vua của Thời Đại, rằng ý ta là dựng tang lễ cho con trai ta, cắt Đai của ta và bẻ gãy các Thập Giá.” Afridun đáp, “Hãy làm điều ngươi muốn; ta sẽ không trái ý ngươi trong bất cứ việc gì. Và nếu ngươi kéo dài tang chế nhiều ngày thì cũng chỉ là việc nhỏ; vì dù người Hồi giáo quyết vây hãm chúng ta năm này qua năm khác, chúng cũng sẽ chẳng bao giờ đạt được điều chúng muốn ở chúng ta, hay nhận được từ chúng ta điều gì ngoài nhọc nhằn và mỏi mệt.” Rồi Mụ Bị Nguyền Rủa ấy (sau khi đã xong với tai họa mụ gây ra và những nhục nhã mà trong lòng mụ đã nghĩ đến) lấy hộp mực và giấy rồi viết lên đó: “Từ Shawahi, Zat al-Dawahi, gửi đến đạo quân Hồi giáo. Hãy biết rằng ta đã vào xứ sở các ngươi và dùng xảo trí của ta đánh lừa các bậc quý nhân của các ngươi, và trước hết ta đã giết vua của các ngươi Omar bin al-Nu'uman ngay giữa cung điện của ông. Hơn nữa, ta đã giết nhiều người của các ngươi trong chuyện hẻm núi và hang động; những kẻ cuối cùng ta giết là Sharrkan cùng các gia nhân của hắn. Và nếu vận may không cản ta, còn Satan vâng lời ta, thì nhất định ta sẽ giết Sultan của các ngươi và tể tướng Dandan, vì ta chính là người đã đến với các ngươi trong lốt một Ẩn sĩ, và chất lên các ngươi những mưu chước cùng lừa dối của ta. Bởi vậy, nếu các ngươi muốn được an toàn sau chuyện này, hãy lập tức rời đi; còn nếu các ngươi tìm lấy sự hủy diệt của chính mình thì cứ tiếp tục ở lại trong lúc này; và dù các ngươi nán lại đây năm này qua năm khác, các ngươi cũng sẽ không đạt được điều mình muốn nơi chúng ta. Vậy bình an ở cùng các ngươi!” Sau khi viết xong thư, mụ dành ba ngày để để tang vua Hardub; và đến ngày thứ tư, mụ gọi một Hiệp sĩ, truyền hắn lấy bức thư, buộc chặt nó vào một mũi tên và bắn vào trại Hồi giáo. Khi việc ấy xong, mụ vào nhà thờ và buông mình vào khóc lóc than van vì mất con trai, nói với kẻ kế vị vương quyền sau ông, “Không gì có ích cho ta ngoài việc ta phải giết Zau al-Makan cùng toàn bộ quý nhân của Al-Islam.” Đó là chuyện của mụ; còn về những gì xảy ra với người Hồi giáo, tất cả trải qua ba ngày trong phiền muộn và lo âu; đến ngày thứ tư, khi đang nhìn lên tường thành, kìa, họ thấy một hiệp sĩ cầm cung và sắp bắn một mũi tên có bức thư buộc dọc bên thân. Vậy họ đợi cho tới khi hắn bắn nó xuống giữa họ, và Sultan truyền tể tướng Dandan lấy bức thư mà đọc. Ông đọc theo lệnh; và khi Zau al-Makan nghe hết, hiểu được nội dung, mắt chàng đầy lệ và chàng thét lên vì đau đớn trước sự bội trá của mụ; còn tể tướng Dandan nói, “Nhân Allah, lòng thần đã co lại vì mụ!” Sultan nói, “Làm sao con điếm này có thể chơi trò bịp của nó với chúng ta đến hai lần? Nhưng nhân Đấng Toàn năng, ta sẽ không rời nơi này cho tới khi ta đổ chì nóng chảy vào khe của mụ, giam mụ như nhốt chim trong lồng, rồi trói mụ bằng chính tóc mụ và đóng đinh mụ trên cổng Constantinople.” Và chàng nhớ đến anh trai mình, khóc lóc quá độ. Nhưng khi Zat al-Dawahi đến giữa bọn Vô đạo và kể dài dòng cho chúng nghe những cuộc phiêu lưu của mụ, chúng vui mừng vì mụ bình an và vì Sharrkan bị giết. Bấy giờ người Hồi giáo lại chuyên tâm vây hãm thành, và Sultan hứa với người của mình rằng nếu thành bị chiếm, chàng sẽ chia đều kho báu của nó cho họ. Nhưng chàng không khô nước mắt vì thương tiếc anh trai, cho tới khi thân thể chàng hao mòn và bệnh tật, gầy như que tăm. Lát sau tể tướng Dandan vào gặp chàng và nói, “Hãy vui lòng lên và giữ cho mắt ngài mát lành trong trẻo; thật vậy, anh trai ngài chết chỉ vì giờ của ngài ấy đã tới, và tang khóc này chẳng ích gì. Thi nhân nói hay biết bao,
“Điều không phải xảy ra, chẳng mưu nào làm thành được; * Điều phải xảy ra, không sai chạy, sẽ nên thành;
Chẳng bao lâu vận phải đến sẽ được thấy là đến, * Và anh em của Kẻ Rồ[FN#453] sẽ ở lại cô đơn, sầu muộn.”
Vì thế xin ngài hãy bỏ khóc lóc than van này và làm tim mình mạnh lên để cầm vũ khí.” Chàng đáp, “Ôi tể tướng, tim ta nặng trĩu vì cái chết của cha ta và anh trai ta, vì chúng ta xa lò sưởi và nhà cửa; tâm trí ta cũng bận lo cho thần dân của ta.” Bấy giờ tể tướng và những người đứng quanh đều khóc; nhưng họ không ngừng đẩy mạnh cuộc vây hãm Constantinople trong nhiều ngày dài. Và trong lúc họ như vậy, kìa, tin tức từ Baghdad đến, do một trong các Emir mang tới, rằng vợ của nhà vua đã được phúc sinh một bé trai, và em gái chàng, Nuzhat al-Zaman, đã đặt tên đứa bé là Kánmákán.[FN#454] Hơn nữa, cậu bé hứa hẹn sẽ nổi danh, đã tỏ ra những dấu hiệu kỳ diệu và điềm lạ phi thường; và nàng đã truyền các Olema cùng những người thuyết giảng cầu nguyện cho mẹ và con từ các bục giảng, chúc phúc cho họ bằng mọi cách; thêm nữa, cả hai đều khỏe mạnh, đất nước được mưa dồi dào, và người bạn chàng là Người Đốt Lò đã được lập trong mọi phú quý, có hoạn quan và nô lệ hầu hạ; nhưng ông vẫn chưa biết chuyện gì đã xảy ra với chàng. Và nàng kết bằng lời chào bình an. Khi ấy Zau al-Makan nói với tể tướng Dandan, “Nay lưng ta đã được làm vững, bởi ta được phúc có một con trai tên là Kanmakan.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm lẻ sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi họ đem cho chàng tin vợ chàng đã sinh cho chàng một bé trai, Zau al-Makan vui mừng vô hạn và kêu lên, “Nay lưng ta được làm vững, bởi ta được phúc có một con trai[FN#455] tên là Kanmakan.” Và chàng nói với tể tướng Dandan rằng, “Ta định bỏ tang khóc này và truyền đọc trọn bộ kinh Koran cho anh trai ta, lại truyền làm việc bố thí vì ngài.” Tể tướng nói, “Ý định của ngài là tốt.” Bấy giờ chàng cho dựng lều trên mộ anh trai mình; vậy họ dựng lên và tụ họp những người cầm binh có thể tụng Koran; một số bắt đầu đọc Thánh thư; trong khi những người khác tụng các kinh cầu chứa tên Allah, và họ làm như vậy cho tới sáng. Rồi Zau al-Makan lên mộ anh trai Sharrkan và đổ lệ chan hòa, rồi ứng khẩu những câu đôi này,
“Họ khiêng chàng trên cáng tang, và mọi người theo sau đều khóc * Bằng tiếng thét của Moses ngày Tor rung chuyển trên đầu;[FN#456]
Cho tới khi đến ngôi mộ mà Số Phận đã làm nhà cho chàng, * Đào trong hồn những người tôn thờ một Thượng Đế duy nhất:
Trước đây ta chưa từng nghĩ sẽ thấy niềm vui của ta * Được khiêng trên cáng tang đặt trên vai những người khiêng:
Ôi không! và cũng chưa từng nghĩ trước khi họ đặt chàng trong bụi * Rằng các vì sao trời lại bị đất che phủ.
Phải chăng người ngụ trong mồ là con tin của một chốn, * Nơi ánh sáng và huy hoàng sẽ tuôn trên mặt chàng?
Lời Ngợi Ca đã hứa sẽ phục hồi sự sống cho chàng: * Bị nhốt và giam hãm, chàng sẽ càng tỏa rộng hơn!”
Khi Zau al-Makan ngâm thơ xong, chàng khóc và toàn quân cũng khóc với chàng; rồi chàng đến bên mộ, ném mình lên đó, cuồng loạn vì đau buồn, và tể tướng lặp lại lời thi nhân,
“Rời đau đớn của đời trôi qua, ngươi đã giành được cõi vĩnh hằng; * Ngươi đã làm như xưa bao người làm giống ngươi từng làm
Rời ngôi nhà thế gian này không bị trách móc hay chê bai; * Ôi, mong cuộc đổi thay ấy bảo đảm cho ngươi mọi phúc lành!
Ngươi từng là khiên chắn và phòng tuyến vững trước đòn công của địch, * Để chúng ta tránh các mũi tên và giáo lao rít gió.
Ta thấy thế gian này chỉ là lừa dối và hư ảo, * Nơi con người chẳng nên tìm gì ngoài làm vui lòng Đấng Chân Thật:
Cầu Chúa của Tầng Trời ban cho ngươi lầu viên lạc phúc thiên đình, * Và cùng các bạn trung tín của ngươi, Đấng Dẫn Đường chỉ cho nơi ở tốt lành:
Ta chào vĩnh biệt ngươi bằng tiếng thở dài đau đớn, * Thấy phương Tây trong sầu muộn vì thiếu Mặt Trời Mọc.”
Khi tể tướng Dandan đọc xong, ông khóc thảm thiết và nước mắt từ mắt ông rơi như ngọc trai được đệm êm. Rồi một người từng là bạn chén rượu thân thiết của Sharrkan tiến lên, khóc cho tới khi giọt lệ chảy thành dòng, và kể ra những phẩm chất hào hiệp của người đã chết, ngâm những khổ năm câu sau,
“Lòng Hào Phóng đi đâu khi tay ngươi đã hóa thành đất? * Còn ta nằm trong khốn khổ từ khi ngươi bị mang đi.
Ngươi không thấy sao, ôi người dẫn cáng[FN#457] (cầu Trời giữ ngươi vui tươi!), * Nước mắt tô điểm má ta, cào xước những nếp nhăn hằn sâu này?
Một cảnh khiến mắt ngươi vui, rồi khiến ngươi kinh hãi.[FN#458]
Nhân Allah, chưa từng có tim này trong ta nói về ngươi; * Ôi không! cũng chẳng dám để mắt ta nhìn vẻ rực rỡ của ngươi:
Ngoài việc những giọt lệ của ta đã khiến ta chịu vết thương đau nhất * Phải! và nếu đôi mắt này của ta từng nghỉ trên kẻ khác,
Cầu nỗi khao khát kéo dây cương của chúng, chẳng để chúng thấy giấc ngủ.”
Và khi người ấy ngừng ngâm, Zau al-Makan cùng tể tướng Dandan đều khóc, toàn quân cũng xúc động rơi lệ; sau đó tất cả lui về lều mình, còn nhà vua quay sang tể tướng bàn với ông về việc tiến hành chiến dịch. Cứ thế hai người trải qua ngày đêm, trong khi Zau al-Makan bị đè nặng bởi buồn đau và tang tóc, cho tới cuối cùng chàng nói, “Ta muốn nghe những truyện kể và chuyện phiêu lưu của các vua, cùng chuyện những người yêu bị tình yêu nô dịch; biết đâu Allah sẽ khiến điều này an ủi nỗi âu lo nặng nề trong tim ta, và ngăn dừng tiếng khóc than của ta.” Tể tướng nói, “Nếu chẳng gì có thể xua tan nỗi phiền muộn của ngài ngoài việc nghe những truyện kỳ lạ về các vua và người thời xa xưa, cùng chuyện những kẻ bị tình yêu thuở trước nô dịch, và những chuyện như vậy, thì việc này dễ thôi, vì thần không có việc gì khác trong đời thân phụ ngài (người đã được thương xót) ngoài kể chuyện và ngâm thơ cho ngài. Ngay đêm nay thần sẽ kể ngài nghe một chuyện về người yêu và người được yêu, như vậy ngực ngài sẽ mở rộng.” Khi Zau al-Makan nghe những lời này từ vị tể tướng, lòng chàng đặt cả vào điều đã được hứa với mình và chàng chẳng làm gì ngoài ngóng đêm đến, để có thể nghe những gì tể tướng Dandan kể về các vua thuở trước và những kẻ yêu si cuồng đã xa xưa. Và chàng hầu như không tin rằng đêm đã xuống thì đã truyền thắp nến sáp và đèn, đem đến mọi thứ cần thiết gồm thịt, thức uống, hương liệu và các thứ khác; và khi tất cả đã có mặt, chàng triệu tể tướng Dandan, các Emir Rustam, Bahram, Tarkash và Đại Thị thần; rồi đợi tới khi cả đoàn đã ngồi trước mặt mình; bấy giờ chàng quay sang vị tể tướng và nói, “Hãy biết, ôi tể tướng, rằng đêm đã đến và đã buông xuống trên chúng ta tấm màn tối của nó, và chúng ta muốn ngươi kể cho chúng ta những chuyện ngươi đã hứa.” Tể tướng đáp, “Với niềm vui và thiện ý.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm lẻ bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi vua Zau Al-Makan triệu tể tướng, Thị thần, Rustam và Bahram, chàng quay về phía tể tướng Dandan và nói, “Hãy biết, ôi tể tướng, rằng đêm đã đến và đã buông xuống trên chúng ta tấm màn tối của nó, và chúng ta muốn ngươi kể cho chúng ta những chuyện ngươi đã hứa.” Tể tướng đáp, “Với tình yêu và vui lòng! Hãy biết, ôi Đức vua cát tường, rằng tai thần đã nghe một chuyện kể về người yêu và người được yêu, về cuộc đối thoại giữa họ và những điều hiếm lạ, tốt đẹp đã xảy đến với họ, một câu chuyện có thể xua lo khỏi tim và xua tan sầu muộn như của tổ phụ Jacob[FN#459]; chuyện ấy như sau”:
Thuở xưa đã lâu lắm, phía sau dãy núi Ispahán có một thành phố tên là Thành Xanh, nơi cư ngụ của một vị vua tên là Suláyman Sháh. Nay ngài là người rộng rãi và nhân đức, công bằng và chính trực, hào phóng và chân thành; lữ khách từ khắp mọi xứ đều tìm đến ngài, danh ngài vang khắp mọi miền, mọi thành, và ngài trị vì nhiều năm trong sự tôn kính cao trọng và phồn thịnh, chỉ hiềm một nỗi ngài không có vợ cũng không có con. Ngài có một vị tể tướng sánh ngang ngài về lòng tốt và sự hào phóng; và một ngày kia, ngài sai gọi ông đến, khi ông vào chầu, ngài phán với ông, “Ôi tể tướng của ta, tim ta nặng trĩu, lòng nhẫn nại đã cạn, sức lực đã suy, bởi ta chẳng có vợ cũng chẳng có con. Đây không phải đường lối của các vua cai trị mọi người, từ vương hầu đến kẻ nghèo hèn; vì họ vui mừng khi để lại sau mình con cái và người kế vị, nhờ đó số lượng và sức mạnh của họ được nhân đôi. Đấng Tiên tri (cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!) đã phán: ‘Hãy cưới vợ, hãy sinh sôi, hãy tăng nhiều, để Ta có thể tự hào về sự vượt trội của các ngươi trước các dân tộc vào Ngày Phục Sinh.’ Vậy lời khuyên của ngươi là gì, ôi tể tướng? Hãy chỉ cho ta con đường và mưu kế nào nên dùng!” Khi vị tể tướng nghe những lời ấy, nước mắt từ mắt ông tuôn thành dòng, và ông đáp, “Thần xin tránh xa, ôi Vua của Thời Đại, việc bàn luận điều thuộc về Đấng Khoan Nhân! Bệ hạ muốn thần bị ném vào lửa bởi cơn thịnh nộ và giận dữ của Vua Toàn Năng sao? Xin bệ hạ mua một nữ tỳ.” Nhà vua đáp, “Hãy biết, ôi tể tướng, rằng khi một quân vương mua một nữ nô, ngài không biết phẩm bậc cũng không biết dòng dõi của nàng, vì vậy ngài không thể rõ nàng xuất thân thấp hèn để tránh xa, hay thuộc giống nòi cao quý để gần gũi trong bầu bạn. Vậy nếu ngài giao hợp với nàng, có lẽ nàng sẽ thụ thai bởi ngài, và con trai nàng sẽ là kẻ đạo đức giả, người nóng giận và kẻ đổ máu. Quả thật hạng đàn bà như thế có thể ví với đất mặn và đầm lầy, dù người ta cày cấy mãi mãi, nó cũng chỉ sinh ra giống mọc vô giá trị và chẳng tỏ sự bền lâu; vì có thể con trai nàng sẽ đáng ghét trước cơn giận của Chúa mình, không làm điều Người truyền hoặc không tránh điều Người cấm. Bởi vậy ta sẽ không bao giờ trở thành nguyên nhân của việc ấy qua chuyện mua một nữ tỳ; và ý ta là ngươi hãy cầu hôn cho ta con gái của một trong các vua, người có dòng dõi được biết rõ và sắc đẹp đã lừng danh. Nếu ngươi có thể chỉ cho ta một thiếu nữ thuộc dòng quý tộc và mộ đạo trong số con gái các vương triều Hồi giáo, ta sẽ cầu hôn nàng và cưới nàng trước mặt các nhân chứng, để ân sủng của Chúa muôn loài có thể đến với ta.” Tể tướng nói, “Ôi Đức vua, quả thật Allah đã hoàn thành ước nguyện của ngài và đưa ngài đến điều ngài mong muốn;” rồi nói thêm, “Hãy biết, ôi Đức vua, thần được biết rằng vua Zahr Shah,[FN#460] Chúa tể Xứ Trắng, có một người con gái đẹp vượt mọi lời, dung sắc của nàng lời nói và chuyện kể đều không thể diễn tả: trong thời này nàng không có ai sánh bằng, vì nàng hoàn hảo về cân xứng và hài hòa, mắt đen như nhuộm Kohl, tóc dài, eo nhỏ mà hông nặng. Khi nàng đến gần, nàng quyến rũ; khi nàng quay lưng[FN#461], nàng giết chết; nàng đoạt lấy tim và mắt nhìn, và nàng đúng như thi nhân nói về nàng,
‘Một thiếu nữ eo thon làm hổ cây liễu mềm; * Mặt trời và mặt trăng cũng không thể mọc sáng như nàng:
Như thể mật sương trên môi nàng được pha * Với rượu, và ngọc trai răng nàng được tắm trong rượu:
Thân hình nàng, như Houri thiên giới, duyên dáng mảnh mai; * Mặt đẹp; và mắt liếc gây tan hoang:
Biết bao kẻ chết rồi mắt nàng đã giết * Trên đường tình yêu nằm trong tàn lụi:
Nếu ta sống, nàng là cái chết của ta! Ta không nói thêm * Vì sống mà thiếu nàng thì đời ta là vô ích.’”
Nay khi vị tể tướng đã tả xong thiếu nữ ấy, ông nói với Sulayman Shah, “Lời khuyên của thần, ôi Đức vua, là ngài phái đến cha nàng một sứ giả khôn ngoan, từng trải và quen lối đời, người sẽ lịch thiệp cầu hôn nàng cho ngài với phụ vương nàng; vì quả thật nàng không có người sánh ngang ở những phương xa của thế gian hay ở những chốn gần. Như vậy ngài sẽ hưởng dung nhan đáng yêu của nàng theo đường ân sủng, và Chúa của Vinh Quang sẽ hài lòng với cảnh ngộ của ngài; vì có lời truyền rằng Đấng Tiên tri (cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!) đã phán, ‘Không có đời tu sĩ trong Al-Islam.’” Nghe vậy nhà vua được đưa đến niềm vui trọn vẹn; ngực ngài mở rộng và nhẹ đi; lo âu cùng phiền não dứt khỏi ngài, và ngài quay sang tể tướng mà nói, “Hãy biết, ôi tể tướng, rằng không ai đi lo việc này ngoài ngươi, bởi trí tuệ hoàn bị và phong thái tốt đẹp của ngươi; vậy hãy vội về nhà, làm mọi việc ngươi phải làm, chuẩn bị sẵn sàng vào ngày mai rồi lên đường, và cầu hôn cho ta thiếu nữ mà ngươi đã khiến tim và ý nghĩ ta bận rộn; và đừng trở về với ta nếu không có nàng.” Tể tướng đáp, “Thần nghe và thần vâng.” Rồi ông đi về nhà mình, truyền chuẩn bị các lễ vật xứng với các vua, gồm đá quý và vật giá trị cùng các thứ khác nhẹ gánh nhưng nặng giá, thêm những tuấn mã Rabite và áo giáp, như thứ David từng làm,[FN#462] cùng những rương châu báu mà lời nói không đo được. Vị tể tướng chất tất cả lên lạc đà và la, rồi lên đường, có một trăm nữ nô hầu cận, cờ và hiệu bay phấp phới trên đầu. Nhà vua dặn ông trở về với ngài sau ít ngày; và khi ông đã đi, Sulayman Shah nằm như trên than lửa, ngày đêm chìm trong khát vọng; trong khi sứ giả cứ đi không ngừng qua tối và sáng, vượt đồng ruộng phì nhiêu và bãi sa mạc, cho tới khi chỉ còn một ngày đường giữa ông và thành phố nơi ông định đến. Tại đây ông ngồi xuống bên bờ một con sông, gọi một người thân tín đến, truyền người ấy lên đường tới vua Zahr Shah và báo ngay việc ông sắp đến. Người đưa tin nói, “Thần nghe và thần vâng!” Rồi vội cưỡi ngựa đến thành ấy; và khi người ấy sắp vào thành, tình cờ nhà vua, lúc đang ngồi trong một khu vườn vui chơi trước cổng thành, nhìn thấy người khi người đi ngang qua các cửa, và nhận ra là người lạ, bèn truyền đưa người vào trước mặt. Vậy người đưa tin tiến tới, báo cho ngài biết vị tể tướng của vua hùng mạnh Sulayman Shah, Chúa tể Xứ Xanh và Dãy núi Ispahan, đang đến gần; nghe vậy vua Zahr Shah vui mừng và chào đón người. Rồi ngài đưa người vào cung điện và hỏi, “Ngươi để vị tể tướng ở đâu?” Người đáp, “Thần rời ngài lúc sớm ngày bên bờ con sông ấy, và ngày mai ngài sẽ đến chỗ bệ hạ; cầu Allah tiếp tục các ân huệ của Người cho bệ hạ và thương xót cha mẹ bệ hạ!” Bấy giờ vua Zahr Shah truyền một trong các tể tướng của mình dẫn phần tinh túy trong các bậc Quyền quý, Thị thần, Phó tướng và Chúa đất của ngài đi ra đón sứ giả để tôn vinh vua Sulayman Shah; vì quyền thống trị của ngài trải rộng khắp xứ. Đó là chuyện của Zahr Shah; còn về vị tể tướng, ông ở yên tại chỗ cho tới nửa đêm[FN#463], rồi lên đường về phía thành; nhưng khi sáng rạng và mặt trời lên trên đồi cùng thung, bỗng ông thấy tể tướng của vua Zahr Shah đang đến gần ông, cùng các Thị thần, các Đại thần và các Quan lớn đứng đầu vương quốc; hai đoàn gặp nhau cách thành vài parasang.[FN#464] Khi ấy vị tể tướng tin chắc sứ mạng của mình thành công và chào đoàn hộ tống, đoàn ấy không ngừng đi trước ông cho tới khi họ đến cung điện của nhà vua và qua cổng vào trước mặt ngài, đến tiền sảnh thứ bảy, nơi không ai được vào trên lưng ngựa, vì gần chỗ nhà vua ngồi. Vậy vị tể tướng xuống ngựa và đi bộ cho tới khi đến một đại sảnh cao vút, ở đầu trên đặt một sập cẩm thạch, nạm ngọc trai và đá quý, có bốn chân là bốn ngà voi. Trên đó phủ tấm chăn satin xanh viền vàng đỏ, và phía trên treo một tán lọng trang hoàng bằng ngọc trai cùng châu báu; tại đó vua Zahr Shah ngồi, trong khi các quan của ngài đứng hầu trước mặt. Khi vị tể tướng bước vào trước ngài, ông định thần, mở lời, phô bày tài hùng biện của các tể tướng và chào nhà vua bằng ngôn ngữ của tài biện luận.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói,
Khi đêm thứ một trăm lẻ tám đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi tể tướng của vua Sulayman Shah vào trước mặt vua Zahr Shah, ông định thần, mở lời, phô bày tài hùng biện của các tể tướng, chào nhà vua bằng ngôn ngữ của tài biện luận và ứng khẩu những câu đôi này,
“Ngài đến trong áo bào, dáng nghiêng mình đầy duyên; * Trên cây và cành ngọn, ngài rưới sương ân sủng:
Ngài mê hoặc; chẳng bùa chú, phép thiêng hay pháp thuật * Có thể chặn những tia mắt ấy khỏi ngươi:
Hãy nói với kẻ trách ta, ‘Chớ trách ta, vì ta * Sẽ chẳng bao giờ quay lưng trốn khỏi tình yêu ngài’:
Tim ta đã phản ta trong khi trung thành với ngài, * Và Giấc Ngủ, yêu ngài, lại ghét bỏ ta:
Ôi tim! ngươi không phải kẻ duy nhất yêu ngài, * Vậy cứ ở với ngài trong lúc ta chịu cảnh bị bỏ rơi:
Chẳng gì làm vui tai ta bằng âm thanh vui sướng * Ngoài lời ca ngợi vua Zahr Shah trong hân hoan:
Một vị vua mà dù ngươi bỏ mạng để giành * Một ánh nhìn, ánh nhìn ấy cũng đã đủ hết thảy:
Và nếu ngươi thở một lời cầu mộ đạo cho ngài, * Tất cả Người Trung Tín sẽ hợp cùng trong niềm mộ đạo ấy:
Hỡi dân trong cõi ngài! Nếu ai tránh né quyền ngài * Để hy vọng nơi kẻ khác, ta thấy đó là Bất tín nặng nề.”
Khi vị tể tướng đã ngâm xong thơ, vua Zahr Shah truyền ông đến gần và tôn vinh ông bằng những vinh dự cao nhất; rồi cho ông ngồi bên cạnh mình, mỉm cười với ông và ban cho ông lời đáp ân cần. Họ cứ như vậy cho tới giờ bữa ăn dưới, khi các người hầu đem các bàn thức ăn vào đại sảnh ấy, và tất cả ăn đến no; sau đó các bàn được dọn đi và những người trong hội rút lui, chỉ để lại các quan đứng đầu. Nay khi vị tể tướng thấy vậy, ông đứng dậy, sau khi chúc tụng nhà vua lần thứ hai và hôn đất trước mặt ngài, nói như sau, “Ôi Đức vua hùng mạnh và Chúa tể đáng kính sợ! Thần đã đi đến đây và đã thăm ngài vì một việc sẽ đem cho ngài bình an, lợi ích và thịnh vượng: đó là việc thần đến làm sứ giả cho ngài, cầu hôn con gái ngài, thiếu nữ cao quý và lừng lẫy, cho Sulayman Shah, một Hoàng tử nổi danh vì công bằng và chính trực, chân thành và hào phóng, Chúa tể Xứ Xanh và Dãy núi Ispahan, người gửi đến ngài cả kho lễ vật và vô số tặng phẩm quý giá, tha thiết mong trở thành con rể của ngài. Vậy ngài có hướng về người như người hướng về ngài không?” Rồi ông im lặng, chờ lời đáp. Khi vua Zahr Shah nghe những lời này, ngài bật dậy và kính cẩn hôn đất trước mặt vị tể tướng, trong khi những người đứng quanh bối rối trước sự hạ mình của ngài với sứ giả và tâm trí họ kinh ngạc. Rồi ngài ngợi ca Đấng là Chúa của Danh Dự và Vinh Quang và đáp (mà ngài vẫn đứng), “Ôi tể tướng hùng mạnh và thủ lĩnh lừng danh; hãy nghe điều ta nói! Quả thật chúng ta đối với vua Sulayman Shah nằm trong số thần dân của ngài, và chúng ta sẽ được cao quý nhờ liên minh với ngài, chúng ta hết lòng khao khát điều ấy; vì con gái ta là một nữ tỳ trong các nữ tỳ của ngài, và ước muốn thân thiết nhất của ta là ngài trở thành chỗ dựa cùng nơi nương cậy đáng tin của ta.” Rồi ngài triệu các Kazi và nhân chứng, những người sẽ làm chứng rằng vua Sulayman Shah đã phái tể tướng của ngài làm người ủy quyền để kết hôn, và rằng vua Zahr Shah vui lòng hành động và đứng ra thay con gái mình. Vậy các Kazi hoàn tất khế ước hôn nhân và dâng lời cầu nguyện cho hạnh phúc cùng thịnh vượng của đôi hôn phối; sau đó vị tể tướng đứng dậy, đem lễ vật, vật hiếm và đồ quý giá đến, bày tất cả trước mặt nhà vua. Rồi Zahr Shah chuyên tâm chuẩn bị hành trang cho con gái mình, tiếp đãi vị tể tướng cách vinh dự, mở tiệc cho hết thảy thần dân, lớn nhỏ; và trong hai tháng họ tổ chức lễ hội lớn, không bỏ sót điều gì có thể làm vui lòng và mắt. Nay khi mọi thứ cần cho cô dâu đã sẵn sàng, nhà vua cho mang lều ra và họ dựng trại trong tầm nhìn của thành, nơi họ đóng các đồ đạc của cô dâu vào rương, chuẩn bị các tỳ nữ Hy Lạp và nữ nô Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời cấp cho Công chúa rất nhiều châu báu quý giá và nữ trang đắt tiền. Rồi ngài cho làm cho nàng một chiếc kiệu bằng vàng đỏ, khảm ngọc trai và đá quý, và dành riêng hai con la để khiêng nó; một chiếc kiệu giống như một trong các phòng của cung điện, bên trong đó nàng như một Houri đẹp nhất, và nó trở thành như một trong những lầu đình của Thiên Đường. Và sau khi họ đã đóng thành kiện các kho báu và tiền bạc, chất chúng lên lưng la và lạc đà, vua Zahr Shah đi cùng nàng một quãng ba parasang; sau đó ngài từ biệt nàng, vị tể tướng và những người đi cùng ông, rồi trở về nhà trong vui mừng và bình an. Bấy giờ vị tể tướng, đi cùng con gái nhà vua, thúc tiến và không ngừng qua các chặng đường sa mạc,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm lẻ chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng vị tể tướng đi tiếp cùng con gái nhà vua, không ngừng ép qua các chặng đường sa mạc và vội hết sức qua đêm ngày, cho tới khi giữa ông và thành của mình chỉ còn ba chặng. Bấy giờ ông phái về trước cho vua Sulayman Shah một người để báo tin cô dâu đang đến. Nhà vua vui mừng vì điều đó, ban cho người đưa tin một áo vinh dự; và truyền quân lính đi ra trong đoàn rước lớn để đón Công chúa cùng đoàn của nàng với đầy đủ tôn kính và vinh dự, mặc y phục giàu sang nhất của họ, cờ bay trên đầu. Và lệnh ngài được tuân. Ngài cũng truyền rao khắp thành rằng không thiếu nữ trong màn che nào, không phu nhân đáng kính nào, không bà lão già nua nào được vắng mặt mà không ra đón cô dâu. Vậy tất cả đều ra nghênh tiếp nàng, những người cao trọng nhất trong họ tranh nhau hầu hạ nàng, và họ đồng ý đưa nàng vào cung điện của nhà vua ban đêm. Hơn nữa, các quan đứng đầu quyết định trang hoàng đường đi và đứng thành hai hàng như giàn cây đôi, trong khi cô dâu đi qua, có các hoạn quan và tỳ nữ đi trước, mặc trang phục cha nàng đã ban cho nàng. Vậy khi nàng hiện ra, quân lính vây quanh nàng, kẻ ở cánh phải, người ở cánh trái, và chiếc kiệu không ngừng tiến cùng nàng cho tới khi nàng đến gần cung điện; chẳng còn ai mà không ra nhìn Công chúa. Trống được đánh, giáo được vung, tù và vang dội, cờ phấp phới và ngựa hí nhảy tranh đi trước, hương thơm tỏa ngát cho tới khi họ đến cổng cung điện, và các tiểu đồng đưa kiệu vào qua cửa Harim. Nơi ấy sáng rực bởi vẻ lộng lẫy và các bức tường lấp lánh vì ánh huy hoàng của đồ trang hoàng. Nay khi đêm xuống, các hoạn quan mở rộng cửa phòng tân hôn và đứng vây quanh lối vào chính, bấy giờ cô dâu tiến tới giữa các tỳ nữ của mình, như mặt trăng giữa các vì sao hay một viên ngọc trai sáng trên chuỗi ngọc nhỏ hơn, và nàng bước vào phòng tân hôn, nơi người ta đã đặt cho nàng một chiếc giường bằng thạch cao tuyết hoa khảm ngọc trai và châu báu. Ngay khi nàng ngồi xuống đó, nhà vua vào với nàng và Allah đổ đầy tim ngài tình yêu dành cho nàng, vậy ngài phá trinh tiết nàng và nỗi phiền cùng bất an dứt khỏi ngài. Ngài ở với nàng gần một tháng, nhưng nàng đã thụ thai với ngài ngay đêm đầu; và khi tháng ấy qua, ngài đi ra, ngồi trên ngai quốc sự, phân xử công bằng cho thần dân, cho tới khi các tháng thai nghén của nàng hoàn tất. Vào ngày cuối cùng của tháng thứ chín, gần rạng sáng, Hoàng hậu bị cơn đau sinh nở bắt lấy; vậy nàng ngồi xuống ghế sinh và Allah làm cuộc chuyển dạ dễ dàng cho nàng, nàng sinh một bé trai, trên người đứa trẻ hiện ra những điềm lành. Khi nhà vua nghe chuyện này, ngài vui mừng vô hạn và thưởng cho người mang tin lành rất nhiều châu báu; vì quá mừng, ngài vào gặp đứa trẻ, hôn giữa đôi mắt nó và kinh ngạc trước vẻ đẹp sáng rực của nó; vì ở đứa trẻ ấy đã chứng nghiệm lời thi nhân,
“Trong những pháo đài cao vút Allah đặt chàng làm Vua, * Một sư tử, một vì sao trên bầu trời vương quyền:
Khi chàng mọc lên, giáo và ngai đều vui mừng, * Linh dương, đà điểu, những người mạnh mẽ:[FN#465]
Chớ đặt chàng lên bầu vú, vì rất sớm chàng sẽ tỏ * Rằng chàng thích ngự trên lưng chiến mã hơn:
Và hãy cai chàng khỏi bú sữa, vì chẳng bao lâu * Chàng sẽ uống thức ngọt hơn, máu kẻ thù, cạn tận.”
Rồi các bà đỡ bế đứa trẻ sơ sinh, cắt dây rốn, tô đen mí mắt nó bằng bột Kohl[FN#466] và đặt tên nó là Táj al-Mulúk Khárán.[FN#467] Nó được bú nơi bầu ngực của sự nuông chiều trìu mến và được nuôi lớn trên lòng của vận may hạnh phúc; cứ vậy ngày tháng của nó không ngừng trôi và năm tháng qua đi cho tới khi nó lên bảy tuổi. Bấy giờ Sulayman Shah triệu các bác sĩ và học giả, truyền họ dạy con trai mình viết chữ, khoa học và văn chương thanh nhã. Họ tiếp tục làm như vậy nhiều năm, cho tới khi chàng học được những điều cần thiết; và khi nhà vua thấy chàng đã được đặt nền vững chắc trong mọi điều ngài mong muốn, ngài đưa chàng khỏi tay các thầy dạy và giáo sư, rồi thuê cho chàng một bậc thầy khéo léo, người dạy chàng nghệ thuật cưỡi ngựa và các bài tập hiệp sĩ, cho tới khi cậu bé đến tuổi mười bốn; và bất cứ khi nào chàng ra ngoài vì việc gì, tất cả những ai thấy chàng đều bị vẻ đẹp của chàng làm say đắm và lấy chàng làm đề tài thi ca; ngay cả những người mộ đạo cũng bị dung nhan rực rỡ của chàng quyến rũ.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm mười đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Taj al-Muluk Kharan, con trai Sulayman Shah, trở nên hoàn hảo trong thuật cưỡi ngựa và vượt trội mọi người cùng thời, vẻ đẹp quá mức của chàng, mỗi khi chàng ra ngoài vì việc gì, khiến tất cả những ai thấy chàng đều bị mê hoặc và lấy chàng làm đề tài thi ca; ngay cả những người mộ đạo cũng bị dung nhan rực rỡ của chàng quyến rũ. Thi nhân nói về chàng,
“Ta ôm lấy dáng chàng và say bởi hương chàng, * Cành đẹp được Zephyr nuôi dưỡng:
Không say như người uống rượu, mà say * Vì hớp đêm môi chàng cho vay mật sương:
Mọi vẻ đẹp đều hiện trong toàn thân chàng, * Nên mọi tim người chàng nắm trong tay:
Tâm trí ta, nhân Allah! sẽ chẳng bao giờ quên * Tình yêu chàng, khi ta còn mang xiềng đời cho tới khi tàn:
Nếu ta sống, trong tình chàng ta sẽ sống; nếu ta chết * Vì héo hon và khao khát, ta sẽ kêu ‘Ôi phúc thay!’”
Khi chàng đến năm mười tám tuổi, lớp tơ mềm[FN#468] nhú lên trên bên mặt tươi trẻ của chàng, từ một nốt ruồi trên má hồng này và một chấm sắc đẹp thứ hai, như hạt long diên hương, tô điểm má kia; và chàng chiếm lấy trí cùng mắt của mọi người nhìn chàng, đúng như thi nhân nói,
“Chàng là Khalif của Sắc Đẹp thay chỗ Yúsuf, * Và mọi kẻ yêu đều run sợ khi thấy vẻ duyên của chàng:
Hãy dừng lại và ngắm cùng ta; trên má chàng ngươi sẽ thấy * Lá cờ đen của Khalifate.”[FN#469]
Và như người khác nói,
“Mắt ngươi chưa từng thấy cảnh nào đẹp hơn, * Trong mọi vật người đời có thể trông thấy,
Hơn nốt ruồi nâu kia điểm trên má xinh của chàng, * Đỏ hồng dưới con mắt đen huyền ấy.”
Và như người khác nói,
“Ta kinh ngạc khi thấy nốt ruồi kia phụng sự ngọn lửa sáng trên má chàng * Mà vẫn không cháy trong lửa, dẫu là Kẻ vô đạo[FN#470]
Ta cũng lạ khi thấy ánh nhìn tông đồ ấy, * Làm nên phép lạ, dẫu nó vận hành bằng bùa phép:
Tơ má trang điểm má chàng tươi sáng làm sao, vậy mà * Những túi mật vỡ nuôi nó, tuôn ra như nước giếng.”
Và như người khác nói,
“Ta kinh ngạc khi nghe người đời hỏi về * Suối Nguồn Sự Sống và nó được tìm thấy ở xứ nào:
Ta thấy nó trào từ môi của chú nai thanh nhã, * Miệng hồng ngọt ngào có tơ mép xanh che:
Và lạ lùng thay khi Moses nhìn thấy * Suối Nguồn ấy, người chẳng nghỉ khỏi cuộc đi vòng mỏi mệt.”[FN#471]
Nay khi đã phát triển vẻ đẹp như vậy, đến tuổi trưởng thành, dung mạo của chàng càng tăng thêm, và nó giành cho chàng nhiều bạn đồng hành cùng thân hữu; còn mọi người đến gần chàng đều mong Taj al-Muluk Kharan sẽ trở thành Sultan sau khi cha chàng mất, và chính mình có thể là một trong các Emir của chàng. Rồi chàng say mê săn đuổi và đi săn, việc mà chàng hầu như không rời bỏ lấy một giờ. Cha chàng, vua Sulayman Shah, muốn cấm chàng theo đuổi thú ấy, sợ cho chàng trước những hiểm nguy nơi hoang địa và thú dữ; nhưng chàng chẳng để ý đến lời cảnh báo của ngài. Và tình cờ một thuở nọ, chàng nói với các tùy tùng, “Hãy lấy lương thực và cỏ khô đủ mười ngày”; và khi họ vâng lệnh chàng, chàng cùng đoàn tùy tùng lên đường tìm thú vui và cuộc săn chơi. Họ cưỡi vào sa mạc và không ngừng đi bốn ngày, cho tới khi đến một nơi mặt đất xanh tươi, và họ thấy trong đó thú hoang đang gặm cỏ, cây có quả chín mọc lên, suối chảy. Taj al-Muluk nói với các tùy tùng, “Hãy dựng lưới ở đây và đóng cọc thành một vòng rộng, còn nơi hẹn của chúng ta là ở miệng hàng rào, tại chỗ kia.” Vậy họ vâng lời chàng và đóng cọc khoanh một vòng rộng bằng lưới săn; nơi đó tụ lại vô số các loại thú hoang và linh dương, chúng kêu lên vì sợ người và vì kinh hãi mà ném mình vào mặt ngựa. Rồi họ thả chó săn, linh miêu[FN#472] và chim ưng[FN#473] vào chúng; họ bắn con mồi bằng những mũi tên xuyên qua nội tạng; và đến lúc họ tới đầu xa của vòng lưới, họ đã bắt được rất nhiều thú hoang, còn phần còn lại trốn thoát. Rồi Taj al-Muluk xuống ngựa bên bờ nước, truyền đem thú săn đến trước mặt mình, và chia nó ra sau khi đã để riêng những con tốt nhất cho cha mình, vua Sulayman Shah, rồi phái người đem thú săn đến cho ngài; và một phần chàng phân phát cho các quan trong triều mình. Chàng qua đêm tại nơi ấy, và khi bình minh ló rạng, có một đoàn thương nhân đi tới, dẫn theo nô lệ da đen và tôi tớ da trắng, rồi dừng lại bên nước và bãi xanh. Khi Taj al-Muluk thấy họ, chàng nói với một người bạn đồng hành, “Hãy đem cho ta tin tức về những người kia và hỏi họ vì sao họ dừng lại nơi này.”[FN#474] Vậy sứ giả đi đến chỗ họ và nói với họ, “Hãy cho ta biết các ngươi là ai, và trả lời ta không chậm trễ.” Họ đáp, “Chúng tôi là thương nhân và dừng lại để nghỉ, bởi trạm kế tiếp còn xa, và chúng tôi ở đây vì tin cậy vua Sulayman Shah cùng con trai ngài, Taj al-Muluk, và chúng tôi biết rằng tất cả những ai dừng chân trong lãnh thổ của ngài đều được bình an và an toàn; hơn nữa, chúng tôi có theo những hàng hóa quý giá mà chúng tôi đem đến cho Hoàng tử.” Vậy sứ giả trở về và kể những tin này cho con trai nhà vua; chàng nghe tình hình và những lời thương nhân đáp, bèn nói, “Nếu họ đã đem hàng đến vì ta, ta sẽ không vào thành cũng không rời khỏi đây cho tới khi thấy nó được bày ra cho ta xem.” Rồi chàng lên ngựa và cưỡi đến đoàn lữ hành, các Mameluke theo sau chàng cho tới khi chàng tới nơi. Bấy giờ các thương nhân đứng dậy đón chàng và cầu xin cho chàng sự trợ giúp cùng ân huệ của Thượng Đế với vinh quang và đức hạnh lâu bền; sau đó họ dựng cho chàng một lầu trướng bằng satin đỏ, thêu ngọc trai và châu báu, bên trong trải cho chàng một divan vương giả trên tấm thảm lụa có phần đầu trên thêu ngọc lục bảo đặt trong vàng. Ở đó Taj al-Muluk ngồi xuống trong khi các tôi tớ da trắng đứng hầu chàng, và phái người truyền các thương nhân đem ra mọi thứ họ có. Theo lệnh, họ mang hàng hóa ra, bày toàn bộ, và chàng xem, lấy thứ mình thích, trả giá cho họ. Rồi chàng nhìn quanh đoàn lữ hành, lên ngựa trở lại và sắp cưỡi đi tiếp thì ánh mắt chàng rơi vào một thiếu niên đẹp trai trong y phục tươm tất, có thân hình thanh nhã và cân đối, vầng trán trắng như hoa và gương mặt tựa trăng, chỉ hiềm sắc đẹp của chàng đã hao mòn, sắc vàng phủ lên đôi má vì chia lìa những người chàng yêu;—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm mười một đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng khi Taj Al-Muluk nhìn quanh đoàn lữ hành, chàng thấy một thiếu niên đẹp trai trong y phục gọn gàng, dáng vẻ cân đối, trán như hoa và mặt như trăng, chỉ hiềm sắc đẹp của chàng đã hao mòn, sắc vàng phủ đôi má vì chia lìa những người chàng yêu; tiếng rên rỉ than van của chàng thật lớn, và lệ tuôn từ mí mắt khi chàng lặp lại những câu đôi này,
“Xa cách thật dài; Lo âu và Sợ hãi thật đau, * Và lệ không ngừng, ôi bạn, mắt ta tuôn chảy:
Phải, ta đã từ biệt tim mình trong ngày ly biệt * Và không tim, không hy vọng, nay ta ở lại cô đơn:
Hãy dừng lại, ôi bạn ta, cùng ta tiễn biệt một người * Mà lời có thể chữa ta, hồi phục sức khỏe ta!”
Nay khi thiếu niên ngâm xong thơ, chàng khóc một lúc rồi ngã xuống bất tỉnh, trong khi Taj al-Muluk nhìn chàng và kinh ngạc trước tình trạng của chàng. Rồi khi tỉnh lại, chàng nhìn trân trối với vẻ mất trí, và ngâm những câu đôi này,
“Hãy coi chừng ánh mắt nàng, ta khuyên ngươi, nó như phù thủy, * Không ai thoát không thương tổn khỏi những mũi tên mắt liếc ấy:
Quả thật mắt đen với ánh nhìn uể oải buồn ngủ * Đâm sâu hơn gươm trắng, dù gươm có cắn thế nào.
Chớ để giác quan ngươi bị lời ngọt của nàng mê hoặc, * Cơn sốt âm ỉ của nàng sẽ lên men trong ý nghĩ và hồn phách:
Người đẹp sườn mềm[FN#475], nếu lụa chỉ ép lên da nàng, * Nó cũng sẽ rút máu đỏ từ đó, như chính ngươi có thể thấy.
Nàng dè sẻn những duyên sắc ngụ giữa cổ và vòng chân, * Ôi! hương nào khác khiến ta vui sướng đến thế?[FN#476]”
Rồi chàng nức một tiếng nức nở lớn và ngất đi. Nhưng khi Taj al-Muluk thấy chàng trong cảnh này, chàng bối rối về tình trạng của chàng ta và bước đến gần; và khi thiếu niên tỉnh lại, thấy con trai nhà vua đứng bên đầu mình, chàng bật dậy và hôn đất trước tay chàng. Taj al-Muluk hỏi chàng, “Vì sao ngươi không cho chúng ta xem hàng hóa của ngươi?” và chàng đáp, “Thưa chúa công, trong kho hàng của thần chẳng có gì xứng với uy nghi cao cả của ngài.” Hoàng tử nói, “Nhất định ngươi phải cho ta xem những gì ngươi có và cho ta biết cảnh ngộ của ngươi; vì ta thấy ngươi mắt đầy lệ và tim nặng trĩu. Nếu ngươi bị áp bức, chúng ta sẽ chấm dứt sự áp bức của ngươi, và nếu ngươi mắc nợ, chúng ta sẽ trả nợ cho ngươi; vì quả thật tim ta cháy lên khi thấy ngươi, từ lần đầu ta đặt mắt lên ngươi.”[FN#477] Rồi Taj al-Muluk truyền bày ghế, và họ đem cho chàng một chiếc ghế bằng ngà voi và gỗ mun, có lưới vàng và lụa, rồi trải một tấm thảm lụa cho chân chàng. Vậy chàng ngồi xuống ghế và bảo thiếu niên ngồi trên tấm thảm, rồi nói với chàng, “Hãy cho ta xem hàng buôn của ngươi!” Người thương nhân trẻ đáp, “Thưa chúa công, xin đừng nhắc việc này với thần, vì hàng của thần không xứng với ngài.” Taj al-Muluk đáp, “Việc này nhất định phải như vậy!”; rồi truyền vài tiểu đồng đi lấy hàng. Vậy họ đem chúng đến bất chấp chàng ta; và khi chàng ta thấy chúng, nước mắt từ mắt chàng tuôn ra, chàng khóc, thở dài và than thở: tiếng nức nghẹn dâng trong cổ, và chàng lặp lại những câu đôi này,
“Nhân điều mí mắt nàng tỏ bởi Kohl và duyên đỏng đảnh! * Nhân điều dáng nàng phô bởi cân đối mềm mại!
Nhân điều đôi môi nhỏ nàng cất giữ là mật sương và rượu! * Nhân điều tâm trí nàng trang điểm bằng ân cần dịu dàng!
Được thấy nàng trong mộng cảnh, ôi hy vọng của ta! vượt xa * Cuộc thoát hiểm vui nhất khỏi tai ương kinh khiếp nhất.”
Rồi thiếu niên mở các kiện hàng của mình và bày từng món hàng trước Taj Al-Muluk, món này đến món khác, và trong số đó chàng lấy ra một áo dài bằng satin dệt hoa vàng, đáng giá hai nghìn dinar. Khi chàng mở áo, một mảnh vải lanh rơi khỏi các nếp gấp. Ngay khi người thương nhân trẻ thấy vậy, chàng vội chộp mảnh vải lanh và giấu dưới đùi mình; lý trí chàng đi lạc, và chàng bắt đầu ngâm thơ,
“Khi nào tim này mới được chữa khỏi bởi nàng, tim mãi ở trong khổ đau? * So với nàng, các sao Pleiad còn có cơ gặp may hơn
Chia lìa và lưu đày, đau nhớ mong và lửa tình yêu, * Trì hoãn[FN#478] và chậm trễ, các tai ách này làm đời ta suy sụp:
Đoàn tụ không khiến ta sống trong vui, chia ly cũng không giết ta bằng sầu, * Du hành chẳng kéo ta gần nàng hơn, nàng cũng chẳng đến gần hơn:
Ở nàng không thể tìm công lý, trong nàng chẳng có gì vội vã, * Bên nàng không được ân sủng, trốn khỏi nàng ta cũng chẳng biết:
Vì tình yêu nàng, mọi lối đi ra và trở lại đều chật hẹp * Đối với ta, và ta bối rối đau đớn không biết phải đi đâu.”
Taj al-Muluk kinh ngạc vô cùng trước thơ của chàng và không thể hiểu nguyên nhân. Nhưng khi thiếu niên chộp mảnh vải lanh và đặt dưới đùi, chàng hỏi chàng ta, “Mảnh vải lanh ấy là gì?” Người thương nhân đáp, “Thưa chúa công, ngài không có việc gì với mảnh này.” Con trai nhà vua nói, “Hãy cho ta xem nó”; còn người thương nhân nói, “Thưa chúa công, thần đã từ chối cho ngài xem hàng chính vì mảnh vải lanh này; bởi thần không thể để ngài nhìn nó.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói,
Khi đêm thứ một trăm mười hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ nói với Taj al-Muluk, “Thần không từ chối cho ngài xem hàng ngoài nguyên do này, vì thần không thể để ngài nhìn nó.” Bấy giờ Taj al Muluk đáp lại, “Bằng mọi giá ta phải và sẽ xem nó”; rồi chàng nài ép và nổi giận. Vậy thiếu niên rút nó ra khỏi dưới đùi, rồi khóc, rên rỉ và tăng gấp đôi tiếng thở dài cùng than van, và lặp lại những vần này,
“Nay chớ trách chàng; vì trách chỉ đem bực bội và đau! * Quả thật ta đã nói thật với chàng mà chẳng thể đến tai chàng:
Cầu Allah gìn giữ mặt trăng của ta mọc trong thung lũng * Bên trại chúng ta, khỏi chiếc áo buông như đồng trời rộng:[FN#479]
Ta rời chàng, nhưng nếu Tình Yêu ban cho ta * Chút bình yên trong đời, ta đã chẳng bao giờ rời chàng:
Chàng nài nỉ vì ta bao lâu trong buổi sáng chia lìa, * Khi trên má chàng và má ta lệ tuôn như mưa rơi:
Cầu Allah đừng làm ta nói dối: áo bào lời bào chữa của ta * Đã bị cuộc chia lìa này xé rách, nhưng ta sẽ vá áo ấy lại!
Không giường nào dễ chịu cho bên sườn ta, và cũng vậy * Chẳng gì làm chàng dịu bớt khi nằm một mình không có ta:
Thời Gian bằng bàn tay điềm dữ đã tác động giữa hai ta, * Khiến niềm vui đang tăng của ta tàn và của chàng cũng tàn,
Và rót toàn sầu cùng khổ, khi Thời Gian định đội vương miện * Lên chén nó bắt ta uống và trao cho chàng cạn.”
Khi chàng ngâm xong, Taj al-Muluk nói, “Ta thấy hành vi của ngươi không có kết quả; vậy hãy nói ta nghe vì sao ngươi khóc khi thấy mảnh giẻ này!” Khi người thương nhân trẻ nghe nhắc đến mảnh vải lanh, chàng thở dài và đáp, “Thưa chúa công, chuyện của thần thật kỳ lạ và cảnh ngộ của thần vượt ngoài lẽ thường, liên quan đến mảnh vải lanh này, đến nàng mà thần đem nó từ nơi nàng, và đến nàng đã thêu trên đó những hình cùng biểu tượng này.” Ngay đó, chàng trải mảnh vải lanh ra, và kìa, trên đó có hình một con linh dương thêu bằng lụa và làm bằng vàng đỏ, đối diện nó là một con linh dương khác vẽ bằng bạc, có một vòng cổ bằng vàng đỏ và ba hạt tù và[FN#480] bằng chrysolite trên vòng. Khi Taj al-Muluk thấy vẻ đẹp của những hình ấy, chàng thốt lên, “Vinh quang thay Allah, Đấng dạy con người điều nó không biết!”[FN#481] Và tim chàng khao khát nghe câu chuyện của thiếu niên; vậy chàng nói với chàng ta, “Hãy kể cho ta chuyện của ngươi với nàng từng sở hữu những con linh dương này.” Người trẻ đáp: “Xin nghe, thưa chúa công, chuyện
Cha tôi là một thương nhân giàu có, và Allah chẳng ban cho ông đứa con nào ngoài tôi; nhưng tôi có một người em họ, tên là Azízah, con gái của chú ruột tôi, và hai chúng tôi được nuôi lớn trong cùng một nhà; vì cha nàng đã chết, và trước khi mất, ông đã thỏa thuận với cha tôi rằng tôi sẽ cưới nàng. Vậy khi tôi đến tuổi thành nhân và nàng đến tuổi thiếu nữ, họ không tách nàng khỏi tôi, cũng chẳng tách tôi khỏi nàng, cho tới cuối cùng cha tôi nói với mẹ tôi rằng, “Ngay năm nay chúng ta sẽ lập khế ước hôn nhân giữa Aziz và Azizah.” Vậy sau khi đã đồng ý việc ấy, ông bắt tay chuẩn bị đồ đạc cho tiệc cưới. Còn chúng tôi vẫn không ngừng ngủ trên cùng một tấm thảm, chẳng biết gì về sự việc, dù nàng suy nghĩ sâu hơn, thông minh hơn và nhanh trí hơn tôi. Nay khi cha tôi đã chuẩn bị xong, và chẳng còn việc gì cho ông ngoài viết khế ước, cũng chẳng còn gì cho tôi ngoài việc hoàn tất hôn nhân với em họ tôi, ông định lễ cưới vào một ngày thứ Sáu nọ, sau buổi cầu nguyện công cộng; rồi đi khắp các thân hữu trong giới thương nhân và những người khác, báo cho họ biết việc ấy, trong khi mẹ tôi đi ra mời các bạn nữ của bà và triệu họ hàng thân tộc. Khi ngày thứ Sáu đến, họ lau dọn đại sảnh, chuẩn bị đón khách và rửa sàn cẩm thạch; rồi họ trải thảm quanh nhà chúng tôi và bày lên đó những thứ cần thiết, sau khi đã treo trên tường các tấm vải vàng. Nay mọi người đã hẹn sẽ đến nhà chúng tôi sau buổi cầu nguyện thứ Sáu; vì vậy cha tôi đi ra và truyền làm các món mứt bánh cùng món đường ngọt, và chẳng còn gì phải làm ngoài lập khế ước. Rồi mẹ tôi sai tôi đến nhà tắm và gửi theo tôi một bộ áo mới thuộc loại giàu sang nhất; và khi ra khỏi Hammam, tôi mặc bộ y phục ấy, thơm đến nỗi khi tôi đi dọc đường, từ áo quần tỏa ra một hương ngát dễ chịu làm thơm cả lề đường. Tôi vốn định đi tới đại thánh đường thì chợt nhớ đến một người bạn của mình và quay lại tìm chàng, để chàng có mặt khi khế ước được viết; tôi tự nhủ, “Việc này sẽ chiếm ta cho tới gần giờ cầu nguyện cộng đoàn.” Vậy tôi đi tiếp và vào một ngõ nhỏ mà trước đây tôi chưa từng bước vào, mồ hôi đổ ra đầm đìa vì tác dụng của nhà tắm và áo mới trên người; mồ hôi chảy xuống, trong khi mùi hương từ y phục tôi lan tỏa ra ngoài: vì vậy tôi ngồi xuống ở đầu trên của con ngõ, nghỉ trên một băng đá, sau khi trải dưới mình một chiếc khăn thêu mà tôi mang theo. Sức nóng càng lúc càng đè nặng lên tôi, khiến trán tôi đổ mồ hôi, từng giọt chảy dọc đôi má; nhưng tôi không thể lau mặt bằng khăn của mình vì nó đã được trải dưới tôi. Tôi vừa định lấy vạt áo lau má thì bất ngờ từ trên cao rơi xuống tôi một chiếc khăn trắng, mềm khi chạm hơn cả gió mai và đẹp mắt hơn cả phương thuốc chữa lành người bệnh. Tôi cầm nó trong tay và ngẩng đầu lên xem nó rơi từ đâu, thì mắt tôi gặp mắt của người phu nhân sở hữu những con linh dương này.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm mười ba đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng thiếu niên tiếp lời với Taj al-Muluk: “Vậy tôi ngẩng đầu lên xem chiếc khăn này rơi từ đâu, thì mắt tôi gặp mắt của người phu nhân sở hữu những con linh dương này. Và kìa! nàng đang nhìn ra từ một cửa nhỏ trên khung lưới đồng, và mắt tôi chưa từng thấy ai đẹp hơn nàng, nói tóm lại lưỡi tôi bất lực trước việc miêu tả dung sắc nàng. Khi nàng bắt gặp tôi đang nhìn mình, nàng đặt ngón trỏ vào miệng, rồi ghép ngón giữa với ngón làm chứng[FN#483] và đặt chúng lên ngực, giữa đôi vú; sau đó nàng rút đầu vào, đóng cánh cửa nhỏ lại và đi mất. Bấy giờ lửa bùng lên và chất chồng trong tim tôi, đau đớn của tôi càng lớn; một cái nhìn ấy khiến tôi phải thở dài nghìn lần, và tôi ở lại trong bối rối, vì chẳng nghe nàng nói một lời nào, cũng không hiểu ý nghĩa dấu hiệu của nàng. Tôi nhìn cửa sổ lần thứ hai, nhưng thấy nó đã đóng, và kiên nhẫn đợi tới khi mặt trời lặn, nhưng không cảm thấy một âm thanh nào và chẳng thấy ai trong tầm mắt. Vậy khi tôi tuyệt vọng không còn thấy nàng nữa, tôi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cầm chiếc khăn tay lên và mở nó ra, thì từ đó tỏa ra một mùi xạ hương khiến tôi vui thích đến nỗi tôi như người ở trong Thiên Đường.[FN#484] Rồi tôi trải nó trước mặt mình và từ đó rơi ra một cuộn giấy nhỏ tinh tế; bấy giờ tôi mở tờ giấy được xông hương thơm ngát, và trong đó có viết những câu đôi này,
“Ta gửi đến chàng một cuộn thư mang lời than tình ái của ta, * Viết bằng nét tay mảnh đẹp; vì chữ viết chứng tỏ tài người:
Rồi bạn ta nói với ta, ‘Sao chữ nàng lại thế này; * Mảnh quá, nét quá mỏng, thật khó đọc?’
Ta đáp, ‘Vì ta đã bị kéo mảnh, hao gầy, hóa mỏng, * Chữ người yêu phải như vậy, vì Tình Yêu muốn theo ý mình.’”
Và sau khi đưa mắt nhìn vẻ đẹp của chiếc khăn,[FN#485] tôi thấy trên một trong hai đường viền của nó có thêu bằng kim những câu đôi sau,
“Tơ má chàng viết xuống (ôi đẹp thay người thư ký tốt lành!) * Hai dòng trên mặt chàng như trên bảng, bằng nét Rayhán:[FN#486]
Ôi kỳ diệu hoang đường thay Mặt Trăng khi chàng bước ra! * Và khi chàng nghiêng mình, ôi hổ thay mọi nhành liễu mềm!”
Và trên đường viền đối diện có vẽ hai câu đôi này,
“Tơ má chàng viết trên má chàng bằng long diên hương trên ngọc trai * Hai dòng, như mun nằm trên táo, kiểu dáng đẹp nhất:
Sự tàn sát ở trong đôi mắt uể oải kia mỗi khi chúng trao một ánh nhìn, * Và men say ở mỗi bên má, chẳng ở bất cứ rượu nào.”
Khi tôi đọc thơ trên chiếc khăn tay, lửa tình phóng vào tim tôi, nỗi nhớ và héo hon tăng gấp đôi đau đớn. Vậy tôi lấy chiếc khăn và cuộn giấy rồi trở về nhà, chẳng biết cách nào để đạt điều mình muốn, vì tôi bất lực trong việc điều khiển chuyện yêu đương và không có kinh nghiệm giải nghĩa ám hiệu cùng dấu hiệu. Tôi chưa về tới nhà thì đêm đã khuya lắm, và tôi thấy con gái chú tôi đang ngồi khóc. Nhưng vừa thấy tôi, nàng lau nước mắt rồi đến gần tôi, cởi áo đi đường cho tôi và hỏi nguyên do tôi vắng mặt, nói rằng, “Tất cả mọi người, các Emir, bậc danh giá, thương nhân và những người khác, đều đã tụ họp trong nhà chúng ta; Kazi và các nhân chứng cũng đã có mặt đúng giờ định. Họ ăn uống và nán lại một lúc, ngồi chờ ngươi xuất hiện để viết khế ước; và khi tuyệt vọng vì ngươi không có mặt, họ tản ra và đi đường họ.” Và nàng nói thêm, “Quả thật cha ngươi giận dữ vô cùng vì việc này, và thề rằng ông sẽ không tổ chức hôn lễ của chúng ta ngoài năm tới, bởi ông đã tiêu vào lễ hội này một kho tiền lớn.” Rồi nàng kết bằng câu hỏi, “Hôm nay chuyện gì xảy đến với ngươi khiến ngươi chậm trễ đến giờ này? Vì sao ngươi để xảy ra điều đã xảy ra vì sự vắng mặt của mình?” Tôi đáp, “Ôi con gái chú ta, đừng hỏi ta về điều đã xảy đến với ta.”[FN#487] Rồi tôi kể cho nàng tất cả những gì đã qua từ đầu đến cuối, và cho nàng xem chiếc khăn tay. Nàng lấy cuộn giấy và đọc những gì viết trong đó; nước mắt chảy xuống đôi má nàng và nàng lặp lại những khổ năm câu này,
“Ai nói Tình Yêu ban đầu đến bởi ý chí tự do, * Hãy bảo hắn: Ngươi nói dối! Tình Yêu là sầu và khổ:
Nhưng sầu khổ ấy sẽ không kéo theo điều hổ thẹn; * Mọi niên giám đều dạy chúng ta một điều như nhau
Đồng tiền tốt đang lưu thông cắt đồng tiền ta không thể nạo!”
“Nếu ngươi thích, hãy nói có khoái lạc trong đau đớn của mình, * Hãy thấy những trò đùa của Số Mệnh là vui tươi hân hoan:
Hoặc phúc lành hạnh phúc trong tai ách của kẻ bất hạnh, * Dù vui hay buồn, với cùng sức mạnh ngang nhau:
Giữa câu và phản câu, ta rối thành một đống!”
“Nhưng kẻ kia, dầu vậy, người có ngày tháng sáng như hè, * Người mà thiếu nữ luôn chào bằng niềm vui môi cười;
Người được gió thơm quạt mát ở mọi chốn * Và giành được bất cứ điều gì chàng muốn, kẻ hạnh phúc ấy
Chẳng bao giờ nên giữ tim hèn nhát máu trắng!”
Rồi nàng hỏi tôi, “Nàng đã nói gì, và đã làm dấu gì với ngươi?” Tôi đáp, “Nàng không thốt một lời, mà đặt ngón trỏ vào miệng, rồi ghép nó với ngón giữa, đặt cả hai ngón lên ngực và chỉ xuống đất. Sau đó nàng rút đầu vào và đóng cửa nhỏ; từ đó tôi không thấy nàng nữa. Tuy nhiên, nàng đã đem tim tôi đi cùng nàng, nên tôi ngồi tới khi mặt trời lặn, chờ nàng lại nhìn ra cửa sổ; nhưng nàng không làm vậy; và khi tuyệt vọng về nàng, tôi đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi trở về nhà. Đó là chuyện của tôi, và tôi cầu xin nàng giúp tôi trong tai họa đau đớn này.” Nghe vậy nàng ngẩng mặt lên nhìn tôi và nói, “Ôi con trai chú ta, nếu ngươi muốn mắt ta, ta sẽ xé nó khỏi mí mắt vì ngươi, và tất nhiên ta không thể không giúp ngươi đạt ước muốn, cũng giúp nàng đạt ước muốn của nàng; vì nàng bị đắm chìm trong đam mê vì ngươi cũng như ngươi vì nàng.” Tôi hỏi, “Vậy lời giải cho các dấu hiệu của nàng là gì?” Azizah đáp, “Việc nàng đặt ngón tay vào miệng[FN#488] tỏ rằng ngươi đối với nàng như linh hồn đối với thân thể, và nàng muốn cắn vào sự hợp nhất với ngươi bằng răng khôn của mình. Còn chiếc khăn, nó biểu thị hơi sống của nàng đã buộc vào ngươi. Còn việc đặt hai ngón tay lên ngực giữa đôi vú, lời giải là nàng nói: ‘Cảnh thấy chàng có thể xua tan nỗi sầu của ta.’ Vì hãy biết, ôi em họ của ta, rằng nàng yêu ngươi và nàng tin cậy ở ngươi. Đây là lời giải của ta cho các dấu hiệu của nàng; nếu ta có thể tự do đến đi tùy ý, ta sẽ đưa ngươi và nàng đến với nhau trong thời gian ngắn nhất, và che cả hai ngươi bằng vạt áo của ta.” Nghe những lời này, tôi cảm tạ nàng (người thương nhân trẻ kể tiếp) vì đã nói như vậy, và tự nhủ, “Ta sẽ đợi hai ngày.” Vậy tôi ở trong nhà hai ngày, chẳng ra ngoài cũng chẳng vào trong; chẳng ăn cũng chẳng uống, mà đặt đầu trên lòng em họ tôi, trong khi nàng an ủi tôi và nói với tôi, “Hãy vững lòng và mạnh tim, hãy hy vọng điều tốt nhất!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói,
Khi đêm thứ một trăm mười bốn đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng thiếu niên kể tiếp với Taj al-Muluk:—“Và khi hai ngày đã qua, nàng nói với tôi, “Hãy vui mừng và lau mắt khỏi lệ, lấy can đảm mặc áo quần rồi đi gặp nàng, theo đúng lời hẹn.” Rồi nàng đứng dậy thay áo quần cho tôi và xông hương tôi bằng khói trầm. Vậy tôi tự gắng gượng và làm tim mình mạnh lên, rồi đi ra, bước mãi cho tới khi đến con ngõ nhỏ, nơi tôi ngồi trên băng ghế một lúc. Và kìa, cửa nhỏ bỗng mở, tôi ngước nhìn lên, thấy nàng, rồi ngã xuống bất tỉnh. Khi tỉnh lại, tôi gọi nghị lực về và lấy can đảm nhìn nàng lần nữa, rồi lại mất ý thức với thế giới quanh mình. Sau đó tôi tỉnh lại và nhìn nàng, thấy nàng cầm trong tay một chiếc gương và một chiếc khăn đỏ. Nay khi nàng bắt gặp ánh mắt tôi, nàng để lộ cẳng tay, mở năm ngón tay và đánh vào ngực mình bằng lòng bàn tay cùng các ngón; rồi sau đó nàng giơ tay lên, cầm chiếc gương ra ngoài cửa nhỏ, nàng lấy chiếc khăn đỏ và lui vào phòng cùng nó, nhưng lát sau trở lại, đưa tay cầm khăn ra, thả nó xuống phía con hẻm ba lần khác nhau, nhúng xuống và nâng lên cũng ngần ấy lần. Rồi nàng vắt nó ra, gấp trong hai tay, trong lúc ấy cúi đầu; sau đó nàng rút nó vào khỏi khung lưới, đóng cánh cửa nhỏ và đi mất không nói một lời; phải, nàng để tôi bàng hoàng, chẳng biết các dấu hiệu của nàng nghĩa là gì.[FN#489]. Tôi nán ngồi đó tới giờ ăn tối và không về nhà cho tới gần nửa đêm; ở đó tôi thấy con gái chú tôi hai tay chống má, mí mắt tuôn lệ; nàng đang lặp lại những câu đôi này,
“Khốn thay ta! sao kẻ trách lại khiến ngươi cúi mình chịu trách? * Làm sao được an ủi vì ngươi, nhành mềm mại đến thế?
Hỡi hiện thân sáng ngời! ngươi gặm nhấm sinh lực ta, và bắt * Tim ta cúi đầu trước sức mạnh đam mê thuần tưởng.[FN#490]
Những ánh liếc kiểu Turk[FN#491] của ngươi gieo tàn phá trong lõi ta, * Như gươm mài bóng chẳng bao giờ để lộ nền mỏng ở chỗ cong:
Ngươi đè nặng ta bằng gánh lo, trong khi ta chẳng có * Sức mang nổi áo lót mình, nên yếu đuối làm ta ngã quỵ:
Quả thật ta khóc lệ máu khi nghe kẻ trách nói; * ‘Lông mi trong mắt người yêu ngươi sẽ xuyên thủng ngươi!’
Ngươi có, ôi vương tử của mỹ sắc ta! một Kẻ Giám Sát,[FN#492] * Kẻ làm sai với ta, và một Gã Chải Ngựa[FN#493] đánh gục ta bằng mày cau.
Kẻ nói mọi sắc đẹp thuộc về Joseph thật đã nói dối xấu xa, * Trong vẻ đẹp của ngươi có bao nhiêu Joseph:
Ta buộc mình phải quay khỏi ngươi, trong nỗi sợ chết người * Trước những kẻ rình; và sức nào quay được mắt ta đi!”
Khi tôi nghe thơ nàng, phiền não tăng lên và lo âu trong tôi gấp bội, tôi ngã xuống một góc nhà; bấy giờ nàng vội đứng dậy, đến chỗ tôi, nâng tôi lên, cởi áo ngoài cho tôi và lau mặt tôi bằng tay áo nàng. Rồi nàng hỏi tôi chuyện gì đã xảy đến với tôi, và tôi tả cho nàng tất cả những gì đã xảy ra từ người kia. Nàng nói, “Ôi em họ ta, dấu hiệu nàng làm với lòng bàn tay và năm ngón tay, lời giải là: Hãy trở lại sau năm ngày; còn việc nàng đưa đầu ra khỏi cửa sổ, những cử chỉ với chiếc gương, việc thả xuống, nâng lên và vắt chiếc khăn đỏ,[FN#494] nghĩa là: Hãy ngồi trong tiệm thợ nhuộm cho tới khi sứ giả của ta đến với chàng.” Khi tôi nghe lời nàng, lửa bừng lên trong tim tôi và tôi thốt, “Ôi con gái chú ta, nàng nói đúng trong lời giải này; vì trong con đường ấy ta có thấy tiệm của một thợ nhuộm Do Thái.” Rồi tôi khóc, và nàng nói, “Hãy vui mừng và mạnh tim: thật vậy, những người khác bị tình yêu chiếm giữ nhiều năm và bền lòng chịu đựng sức nóng của đam mê, trong khi ngươi chỉ phải đợi một tuần; vậy sao lại thiếu nhẫn nại thế này?” Bấy giờ nàng tiếp tục làm tôi phấn chấn bằng lời nói an ủi và đem đồ ăn đến cho tôi: vậy tôi cầm một miếng và cố ăn nhưng không thể; tôi kiêng thịt và đồ uống, xa lạ với niềm an ủi của giấc ngủ, cho tới khi sắc mặt tôi vàng úa và tôi mất đi vẻ đẹp đẽ; vì trước đây tôi chưa từng yêu, cũng chưa từng nếm sức nóng của đam mê ngoài lần này. Vậy tôi đổ bệnh, và em họ tôi cũng bệnh vì tôi; nhưng mỗi đêm nàng kể cho tôi, để an ủi, những chuyện tình yêu và những người yêu nhau cho tới khi tôi ngủ thiếp đi; và bất cứ khi nào tôi thức dậy, tôi đều thấy nàng còn thức vì tôi, nước mắt chảy xuống đôi má. Việc này không ngừng cho tới khi năm ngày đã qua, khi em họ tôi đứng dậy, hâm nước rồi tắm cho tôi bằng nước ấy. Sau đó nàng mặc cho tôi bộ tốt nhất và nói với tôi, “Hãy đi gặp nàng, cầu Allah hoàn thành ước muốn của ngươi và đưa ngươi đến điều ngươi mong nơi người yêu!” Vậy tôi đi ra và không ngừng bước cho tới khi tới đầu trên của con ngõ nhỏ. Vì đó là ngày Sabbath[FN#495], tôi thấy tiệm thợ nhuộm khóa cửa và ngồi trước đó, cho tới khi nghe lời gọi cầu nguyện giữa buổi chiều. Rồi mặt trời ngả vàng và các Mu'ezzin[FN#496] xướng lời gọi cầu nguyện lúc mặt trời lặn, đêm xuống; nhưng tôi không thấy dấu hiệu nào, chẳng nghe một lời nào, cũng không biết tin gì về nàng. Vì vậy tôi sợ cho mạng mình khi ngồi đó một mình; cuối cùng tôi đứng dậy và bước về nhà, loạng choạng như người say. Khi tới nhà, tôi thấy em họ Azizah đứng đó, một tay nắm chiếc chốt đóng vào tường, tay kia đặt lên ngực; nàng đang thở dài, rên rỉ và lặp lại những câu đôi này,
“Nỗi nhớ của một cô gái Arab cô đơn không thân tộc * (Người nghiêng về nhành liễu Hijaz và sim hương,[FN#497]
Và khi gặp đoàn lữ hành, sẽ lấy lửa tình yêu nhóm sáng * Lửa trại dừng chân, dùng lệ đau và nhớ làm củi đập cháy)
Cũng không vượt quá nỗi nhớ của ta dành cho chàng, cũng chẳng tỏ lòng tận hiến hơn; nhưng chàng * Thấy tim ta hoàn toàn thuộc về mình, lại khinh tình yêu như tội nhục.”
Nay khi nàng ngâm xong thơ, nàng quay sang tôi, và thấy tôi, bèn lau nước mắt của nàng và nước mắt của tôi bằng tay áo. Rồi nàng mỉm cười với tôi và nói, “Ôi em họ ta, cầu Allah cho ngươi hưởng điều Người đã ban cho ngươi! Vì sao ngươi không qua đêm bên cạnh người yêu, và vì sao ngươi chưa thỏa ước muốn nơi nàng?” Khi nghe lời nàng, tôi đá vào ngực nàng một cú, khiến nàng ngã xuống đại sảnh, trán nàng đập vào mép nền cao và va vào một chiếc chốt gỗ trong đó. Tôi nhìn nàng và thấy trán nàng bị rách toạc, máu chảy ra,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm mười lăm đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ tiếp lời với Taj al-Muluk: “Nay khi tôi đá vào ngực con gái chú tôi, nàng ngã xuống mép nền cao trong đại sảnh và trán va vào một chốt gỗ. Vì vậy trán nàng bị rách toạc, máu chảy xuống, nhưng nàng im lặng và chẳng phát ra một tiếng nào.[FN#498] Lát sau nàng đứng lên, lấy giẻ vụn làm bùi nhùi, rồi cầm máu vết thương bằng nó, băng trán mình lại; sau đó nàng lau sạch máu đã rơi trên thảm, và mọi thứ như chưa từng có gì xảy ra. Lát sau nàng đến gần tôi và mỉm cười với tôi, nói bằng giọng dịu dàng, “Nhân Allah, ôi con trai chú ta, ta nói những lời này không phải để chế giễu ngươi hay nàng! Nhưng đầu ta bị đau và ta đã định cho chích máu, nay ngươi đã làm đầu ta nhẹ đi và trán ta dịu bớt; vậy hãy nói ta nghe hôm nay chuyện gì đã xảy ra với ngươi.” Bấy giờ tôi kể cho nàng tất cả những gì đã qua giữa tôi và người kia ngày ấy; và khi nghe lời tôi, nàng khóc rồi nói, “Ôi con trai chú ta, hãy vui mừng trước tin lành rằng ước muốn của ngươi sẽ được hoàn thành và mục đích của ngươi sẽ đạt tới. Quả thật đây là dấu hiệu chấp thuận; vì nàng chỉ tránh mặt bởi nàng muốn thử ngươi, để biết ngươi có nhẫn nại hay không, có chân thành trong tình yêu dành cho nàng hay không. Ngày mai hãy đến với nàng ở chỗ cũ và xem nàng làm dấu gì với ngươi; vì niềm vui của ngươi đã gần, và sự kết thúc nỗi buồn của ngươi đã kề bên.” Rồi nàng tiếp tục an ủi tôi; nhưng phiền não và lo âu của tôi không ngừng tăng thêm. Lát sau nàng đem đồ ăn đến cho tôi, tôi lấy chân đá văng, khiến thức ăn trong mọi đĩa văng tung tóe khắp nơi, và tôi nói, “Mọi kẻ yêu đều là kẻ điên; hắn không nghiêng về đồ ăn, cũng chẳng hưởng giấc ngủ.” Em họ Azizah của tôi đáp, “Nhân Allah, ôi con trai chú ta, quả thật đây chính là những dấu hiệu của tình yêu!” Và nước mắt tuôn xuống đôi má nàng khi nàng nhặt các mảnh vỡ của những chiếc đĩa và lau sạch thức ăn; rồi nàng ngồi xuống nói chuyện với tôi, trong khi tôi cầu Allah thúc bình minh mau đến. Cuối cùng, khi buổi sáng nổi lên với vẻ sáng rạng, tôi đi ra tìm nàng và vội đến con ngõ của nàng, ngồi xuống chiếc băng ghế ấy, thì kìa! cửa nhỏ mở ra và nàng đưa đầu ra cười. Rồi nàng biến vào trong, quay lại với một chiếc gương, một cái túi; và một chậu đầy cây xanh, tay nàng cầm một ngọn đèn. Việc đầu tiên nàng làm là lấy chiếc gương, đặt nó vào túi, buộc lại rồi ném ngược vào phòng; sau đó nàng buông tóc xuống che mặt và đặt ngọn đèn lên chậu hoa trong khoảnh khắc nháy mắt; rồi nàng cầm tất cả các vật ấy lên, đi mất và đóng cửa sổ mà không nói một lời. Tim tôi bị xé toạc bởi cảnh ấy, bởi những dấu hiệu bí mật của nàng, những bí ẩn nhiệm mầu của nàng và sự im lặng hoàn toàn của nàng; nhờ vậy nỗi nhớ trong tôi càng dữ dội, đam mê và rối loạn tăng gấp đôi. Vậy tôi quay bước trở lại, mắt đầy lệ và tim nặng trĩu, rồi về nhà, nơi tôi thấy con gái chú tôi đang ngồi quay mặt vào tường; vì tim nàng cháy bởi sầu đau và ghen tuông dằn vặt; dù tình nàng cấm nàng cho tôi biết nỗi nàng chịu vì đam mê và héo hon khi nàng thấy sự quá mức trong nỗi khao khát và rối loạn của tôi. Rồi tôi nhìn nàng và thấy trên đầu nàng có hai dải băng, một dải vì tai nạn trên trán nàng, dải kia phủ trên mắt do cơn đau nàng chịu vì khóc quá nhiều; và nàng ở trong cảnh khốn khổ, rơi lệ và lặp lại những câu đôi này,
“Ta đếm đêm; quả thật ta đếm hết đêm này đến đêm khác; * Vậy mà ta đã sống lâu trước khi học được phép đếm đau đớn như thế, ôi!
Bạn thân ơi, ta không hiểu được điều Allah vui lòng định * Cho Laylá, cũng không hiểu điều Allah định cho ta, ôi!
Trao nàng cho kẻ khác, còn cho ta tình yêu của nàng, * Mất mát nào ngoài mất Layla mà Người bắt ta mãi chịu, ôi!”
Và khi nàng ngâm xong, nàng nhìn về phía tôi, thấy tôi qua làn nước mắt, bèn lau nước mắt rồi vội đến gần tôi, nhưng vì tình yêu quá mức nên không thể nói. Vậy nàng im lặng một lúc rồi nói, “Ôi em họ ta, hãy nói ta nghe lần này chuyện gì đã xảy ra với ngươi và nàng.” Tôi kể cho nàng tất cả những gì đã qua và nàng nói, “Hãy nhẫn nại, vì thời điểm đoàn tụ của ngươi đã đến, và ngươi đã đạt mục tiêu hy vọng. Về dấu hiệu nàng làm với ngươi bằng chiếc gương mà nàng đặt vào túi, nó nói với ngươi: Khi mặt trời lặn; và việc nàng buông tóc xuống mặt có nghĩa là: Khi đêm gần đến, buông xuống màu đen của bóng tối và làm ánh ngày tối sầm, hãy đến đây. Còn cử chỉ của nàng với chậu cây xanh nghĩa là: Khi ngươi đến, hãy vào vườn hoa ở sau con đường; và dấu hiệu của nàng với ngọn đèn biểu thị: Khi ngươi vào vườn hoa, hãy đi xuống đó và tìm đến nơi ngươi thấy đèn sáng; rồi ngồi dưới đó mà đợi ta; vì tình yêu ngươi đang giết ta.” Khi tôi nghe những lời này từ em họ, tôi kêu lên vì đam mê quá độ và nói, “Nàng còn hứa hẹn ta bao lâu nữa, còn ta cứ đi đến chỗ nàng mà không đạt được ý mình, cũng chẳng thấy chút nghĩa thật nào trong lời giải của nàng.” Nghe vậy nàng cười và đáp, “Ngươi chỉ còn phải nhẫn nại trong phần còn lại của ngày này cho tới khi ánh sáng hóa tối và đêm đen đặc lại, rồi ngươi sẽ hưởng cuộc đoàn viên và hoàn thành hy vọng; quả thật mọi lời ta nói đều không dối trá.” Rồi nàng lặp lại hai câu đôi này,
“Hãy để ngày mở ra các nếp gấp và lớp xếp của chúng, * Và tránh ngôi nhà chuyên gây phiền não!
Biết bao lần khi niềm vui tưởng xa nhất * Thì ngươi lại ở gần giờ vui nhất.”
Rồi nàng đến gần tôi và bắt đầu an ủi tôi bằng lời êm dịu, nhưng không dám đem cho tôi thức ăn gì, vì sợ tôi nổi giận với nàng và hy vọng tôi có thể nghiêng về nàng; vậy khi đến bên tôi, nàng chỉ cởi áo ngoài của tôi và nói với tôi, “Hãy ngồi, ôi em họ, để ta làm ngươi khuây khỏa bằng chuyện trò cho tới cuối ngày, và nếu Allah Toàn năng muốn, ngay khi đêm xuống, ngươi sẽ ở cùng người yêu.” Nhưng tôi chẳng để ý đến nàng và không ngừng trông chờ bóng tối đến gần, nói, “Ôi Chúa, xin thúc đêm đến mau!” Và khi đêm buông xuống, con gái chú tôi khóc lóc thảm thiết rồi đưa tôi một vụn xạ hương tinh sạch, và nói với tôi, “Ôi em họ ta, hãy đặt vụn này vào miệng, và khi ngươi đã được đoàn tụ với người yêu, đã lấy được điều ngươi muốn nơi nàng và nàng đã ban cho ngươi ước muốn, hãy lặp lại với nàng câu đôi này,
‘Hỡi tất cả những người yêu! nhân Allah, hãy nói thật cho ta * Kẻ ấy phải làm gì khi tình yêu làm tuổi trẻ đau khổ?’”[FN#499]
Và nàng hôn tôi, bắt tôi thề không lặp lại câu đôi này cho tới khi tôi sắp rời người yêu, và tôi nói, “Nghe là vâng!” Khi đến giờ ăn tối, tôi đi ra và không ngừng bước cho tới khi đến vườn hoa, thấy cửa mở. Vậy tôi vào và, thấy một ánh sáng ở xa, đi về phía đó; đến nơi, tôi gặp một lầu đình lớn được vòm lại bằng một mái vòm ngà voi và gỗ mun, và ngọn đèn treo từ giữa mái vòm. Sàn trải thảm lụa thêu vàng bạc, và dưới ngọn đèn có một cây nến lớn đang cháy trong chân nến bằng vàng. Giữa lầu đình là một đài phun nước trang hoàng bằng mọi kiểu hình tượng;[FN#500] bên cạnh nó có một chiếc bàn phủ khăn lụa, trên mép bàn là một bình sứ lớn đầy rượu, cùng một chén pha lê khảm vàng. Gần tất cả những thứ ấy là một khay bạc lớn được đậy kín, và khi tôi mở ra, tôi thấy trong đó đủ mọi loại trái cây, sung và lựu, nho và cam, thanh yên và bưởi[FN#501], bày giữa vô vàn hoa thơm, như hồng, nhài, sim, tầm xuân, thủy tiên và mọi loại thảo mộc thơm ngát. Tôi bị nơi ấy mê hoặc và vui mừng vô hạn, mặc dù tôi không thấy một linh hồn sống nào ở đó, và nỗi sầu cùng lo âu của tôi dứt khỏi tôi.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm mười sáu đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ tiếp lời với Taj al-Muluk: “Tôi bị nơi ấy mê hoặc và vui mừng lớn lao, mặc dù ở đó tôi không thấy một linh hồn sống nào trong các tạo vật của Allah Toàn năng, cũng không thấy nô lệ hay tỳ nữ nào trông coi những thứ ấy hoặc canh giữ các tài sản này. Vậy tôi ngồi xuống trong lầu đình để chờ người yêu của tim tôi đến; nhưng giờ đầu của đêm trôi qua, rồi giờ thứ hai, rồi giờ thứ ba, mà nàng vẫn chưa tới. Bấy giờ cơn đói trở nên dữ dội trên tôi, bởi đã lâu tôi chưa nếm thức ăn vì cường độ của tình yêu; nhưng khi tôi thấy nơi ấy đúng như em họ tôi đã nói, và thấy sự thật trong lời giải của nàng về các dấu hiệu của người yêu tôi, tâm trí tôi được yên ổn và tôi cảm thấy cơn đói; hơn nữa, mùi đồ ăn trên bàn kích thích tôi ăn. Vậy, tin chắc sẽ đạt ước muốn, và vì đói lả, tôi bước tới bàn, nâng nắp đậy lên và thấy ở giữa một đĩa sứ chứa bốn con gà đỏ au vì nướng, tẩm gia vị; quanh đó là bốn đĩa nhỏ, một đĩa đựng mứt kẹo, một đĩa hạt lựu rim, đĩa thứ ba bánh hạnh nhân[FN#502] và đĩa thứ tư bánh rán mật; và đồ trong các đĩa nhỏ ấy có phần ngọt, có phần chua. Vậy tôi ăn bánh rán và một miếng thịt, rồi chuyển sang bánh hạnh nhân và ăn được bao nhiêu thì ăn; sau đó tôi vồ lấy mứt kẹo, nuốt một thìa hay hai hay ba hay bốn, cuối cùng là một phần con gà cùng một miếng gì đó nữa. Bởi vậy bụng tôi đầy, khớp xương tôi rã rời, và tôi trở nên quá buồn ngủ không thể thức; nên sau khi rửa tay, tôi đặt đầu lên một chiếc gối, và giấc ngủ thắng tôi; tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với mình sau đó, và tôi không thức dậy cho tới khi sức nóng của mặt trời thiêu đốt tôi, bởi mấy ngày qua tôi chưa từng nếm chút ngủ nào. Khi thức dậy, tôi thấy trên bụng mình có một miếng muối và một mẩu than; vậy tôi đứng lên, giũ áo quần và quay nhìn phải trái, nhưng không thấy ai; rồi phát hiện mình đã ngủ trên nền cẩm thạch, không có giường chiếu bên dưới. Tôi bối rối vì thế và khổ sở vô cùng; nước mắt chảy xuống má và tôi than thân. Rồi tôi trở về nhà, và khi bước vào, tôi thấy em họ đang đấm tay lên ngực, khóc những giọt lệ như mây mưa đổ xuống; và nàng ngâm những câu đôi này,
“Từ xứ người yêu ta thổi đến ngọn Zephyr mát ngọt, * Và với mỗi hơi thở, nó làm tình xưa bừng mới:
Ôi Zephyr của buổi sớm, hãy đến cho chúng ta thấy * Mỗi người yêu đều có phần mình, phần vui và phần khổ:
Giá ta giành được một ước muốn thân yêu nhất, chúng ta đã ôm nhau * Bằng vòng ôm, bằng ghì ngực mà những người yêu trìu mến biết.
Allah cấm, khi mặt em họ ta còn khuất chưa thấy, * Mọi niềm vui Thế Gian có thể cho hay tay Thời Gian ban tặng.
Ước gì Trời cho ta biết tim chàng có giống tim ta, * Tan chảy bởi lửa đam mê và chất nặng nợ nhớ mong.”
Khi thấy tôi, nàng vội đứng dậy, lau nước mắt rồi nói với tôi bằng lời mềm mại, rằng, “Ôi con trai chú ta, quả thật Allah đã ban ơn cho ngươi trong tình yêu, vì người ngươi yêu cũng yêu ngươi, trong khi ta trải thời gian mình bằng khóc lóc và than van vì chia lìa ngươi, kẻ trách mắng và quở trách ta; nhưng cầu Allah đừng trừng phạt ngươi vì ta!” Bấy giờ nàng mỉm cười với tôi một nụ cười trách móc và vuốt ve tôi; rồi cởi áo đi đường của tôi, nàng trải chúng ra và nói, “Nhân Allah, đây không phải hương của kẻ đã hưởng người yêu! Vậy hãy nói ta nghe chuyện gì đã xảy ra với ngươi, ôi em họ.” Tôi kể cho nàng tất cả những gì đã qua, và nàng lại mỉm cười một nụ cười trách móc rồi nói, “Quả thật tim ta đầy đau đớn; nhưng cầu cho kẻ muốn làm đau tim ngươi đừng sống! Quả thật người đàn bà này tự làm mình quý giá và khó khăn quá mức với ngươi, và nhân Allah, ôi con trai chú ta, ta sợ cho ngươi vì nàng.[FN#503] Hãy biết, ôi em họ, rằng ý nghĩa của muối là ngươi đã chìm trong ngủ như món ăn nhạt nhẽo, đáng ghét cho vị giác; và như thể nàng nói với ngươi: ‘Ngươi cần được ướp muối kẻo dạ dày tống ngươi ra; vì ngươi tự nhận là một trong những người yêu cao quý và chân thật; nhưng giấc ngủ là điều trái phép và không đúng với người yêu; bởi vậy tình yêu của ngươi chỉ là dối trá.’ Tuy nhiên, chính tình yêu của nàng dành cho ngươi mới là dối trá; vì nàng thấy ngươi ngủ mà không đánh thức ngươi, nếu tình nàng dành cho ngươi là thật, hẳn nàng đã đánh thức ngươi. Còn than, nó nghĩa là ‘Cầu Allah làm đen mặt ngươi’[FN#504], bởi ngươi làm ra dáng yêu đương giả dối, trong khi ngươi chẳng là gì ngoài một đứa trẻ và không có mục đích nào trong đời ngoài ăn uống và ngủ! Đó là lời giải các dấu hiệu của nàng, và cầu Allah Toàn năng cứu ngươi khỏi nàng!” Khi nghe lời em họ, tôi đấm tay lên ngực và kêu lên, “Nhân Allah, đây chính là sự thật, vì ta đã ngủ và những người yêu thì không ngủ! Quả thật ta đã phạm tội với bản thân mình, vì còn gì có thể hại ta hơn ăn và ngủ? Nay ta phải làm gì?” Rồi tôi khóc thảm thiết và nói với con gái chú tôi, “Hãy nói ta biết phải hành động thế nào và thương xót ta, để Allah thương xót nàng: bằng không ta sẽ chết.” Vì em họ tôi yêu tôi bằng tình yêu rất lớn,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm mười bảy đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ tiếp tục câu chuyện với Taj al-Muluk: “Bấy giờ tôi nói với con gái chú tôi, “Hãy cho ta biết phải làm gì và thương xót ta, để Allah thương xót nàng!” Vì con gái chú tôi yêu tôi bằng tình yêu lớn lao, nàng đáp, “Trên đầu và mắt ta! Nhưng, ôi em họ, ta lặp lại điều đã nói với ngươi nhiều lần: nếu ta có thể tùy ý ra vào, ta sẽ lập tức đưa hai người đến với nhau và che cả hai bằng vạt áo ta; và ta làm việc này cũng chỉ với hy vọng giành được thiện cảm của ngươi. Inshallah, ta sẽ dốc hết sức mình để hợp nhất hai người; nhưng hãy nghe lời ta và làm theo lệnh ta. Ngươi hãy đi đến đúng chỗ ấy và ngồi xuống nơi ngươi đã ngồi trước kia, đến giờ ăn tối thì đừng ăn, vì ăn uống đưa tới giấc ngủ; và hãy cẩn thận—đừng chợp mắt, vì nàng sẽ không đến với ngươi cho tới khi một phần tư đêm đã qua. Và cầu Đấng Toàn năng tránh khỏi ngươi sự tai hại của nàng!” Nay khi nghe những lời này, tôi vui mừng và cầu xin Allah thúc đêm đến mau; và ngay khi trời tối, tôi định đi, em họ tôi nói với tôi, “Khi ngươi đã gặp nàng, hãy lặp lại với nàng câu đôi ta đã dạy ngươi trước đây, vào lúc ngươi rời đi.” Tôi đáp, “Trên đầu và mắt ta!” rồi đi ra, tới khu vườn, nơi tôi thấy mọi thứ đã được chuẩn bị trong cùng tình trạng như đêm trước, với mọi thứ cần thiết gồm thịt và đồ uống, trái cây khô, hoa thơm và các thứ tương tự. Tôi bước lên lầu đình và ngửi mùi đồ ăn, hồn tôi ham muốn chúng; nhưng tôi nhẫn nhịn làm chủ mình một lúc, cho tới cuối cùng tôi không còn cưỡng lại cám dỗ được nữa. Vậy tôi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, bước đến bàn, nâng nắp đậy lên và thấy một đĩa thịt chim, xung quanh là bốn đĩa nhỏ đựng bốn món thịt khác nhau. Tôi ăn mỗi loại một miếng, ăn mứt kẹo tùy ý và một miếng thịt: rồi tôi uống từ đĩa nhỏ một thứ nước xốt vàng màu nghệ tây[FN#505], và vì thấy thích, tôi húp từng thìa cho tới khi thỏa mãn và bụng đầy. Bấy giờ mí mắt tôi sụp xuống; nên tôi lấy một chiếc gối đặt dưới đầu, nói, “Có lẽ ta có thể ngả lên nó mà không ngủ.” Rồi tôi nhắm mắt và ngủ, chẳng thức dậy cho tới khi mặt trời đã mọc, lúc ấy tôi thấy trên bụng mình có một khối xương,[FN#506] một que tip-cat đơn,[FN#507] hạt của một quả chà là xanh[FN#508] và một vỏ đậu carob. Trong nơi ấy không có đồ đạc hay bất cứ thứ gì khác, như thể hôm qua chẳng hề có gì ở đó. Vậy tôi đứng dậy, giũ tất cả những thứ ấy khỏi mình, rồi đi ra trong cơn giận; và khi về nhà, tôi thấy em họ mình đang rên rỉ và ngâm những câu đôi này,
“Một thân xác hao mòn, tim bị xuyên đến lõi, * Và lệ tuôn mãi xuống đôi má đáng thương của ta:
Người yêu được chữa bằng gần gũi; nhưng, nhưng vẫn * Chẳng gì ngoài điều đẹp có thể đến từ đóa hoa đẹp nhất:
Ôi em họ ta, ngươi đổ đầy hồn ta định mệnh, * Và vì những giọt lệ này mí mắt ta đau đớn vô cùng!”
Tôi trách mắng con gái chú tôi và mạt sát nàng, khiến nàng khóc; rồi lau nước mắt, nàng đến gần tôi, hôn tôi và bắt đầu ép tôi vào ngực nàng, trong khi tôi lùi lại khỏi nàng, tự trách mình. Rồi nàng nói với tôi, “Ôi em họ, dường như đêm nay ngươi lại ngủ?” Tôi đáp, “Phải; và khi thức dậy, ta thấy trên bụng mình một khối xương, một que tip-cat đơn, một hạt chà là xanh và một vỏ đậu carob, và ta không biết vì sao nàng làm vậy.” Rồi tôi khóc, bước đến gần nàng và nói, “Hãy giải nghĩa cho ta ý nàng trong việc làm ấy, nói ta biết ta phải hành động thế nào và giúp ta trong cảnh khốn cùng đau đớn.” Nàng đáp, “Trên đầu và mắt ta! Bằng que tip-cat đơn và khối xương mà nàng đặt lên bụng ngươi, nàng nói với ngươi: ‘Thân ngươi có mặt nhưng tim ngươi vắng mặt’; và nàng muốn nói: ‘Tình yêu không phải thế này: vậy đừng tính mình vào hàng những người yêu.’ Còn hạt chà là, như thể nàng nói với ngươi: ‘Nếu ngươi đang yêu, tim ngươi hẳn sẽ cháy bởi đam mê và ngươi sẽ không nếm thú vui của giấc ngủ; vì vị ngọt của tình yêu như chà là xanh[FN#509], nó thắp một hòn than lửa trong nội tạng.’ Còn vỏ đậu carob[FN#510] biểu thị với ngươi: ‘Tim người yêu đã mỏi mệt’; và bởi đó nàng nói: ‘Hãy kiên nhẫn trong chia lìa của chúng ta bằng sự kiên nhẫn của Job.’” Khi nghe lời giải này, lửa phóng vào sinh lực tôi như mũi lao, sầu muộn nhân đôi trong tim tôi và tôi kêu lên, nói, “Allah đã định giấc ngủ cho ta vì vận xấu của ta.” Rồi tôi nói với nàng, “Ôi em họ, nhân mạng sống của ta, hãy nghĩ cho ta một kế nào để ta đạt ý muốn nơi nàng!” Nàng khóc và đáp, “Ôi Aziz, ôi con trai chú ta, quả thật tim ta đầy những ý nghĩ buồn mà ta không thể nói: nhưng đêm nay ngươi lại hãy đi tới cùng chỗ ấy, hãy coi chừng đừng ngủ, và chắc chắn ngươi sẽ đạt ước muốn. Đây là lời khuyên của ta và bình an ở cùng ngươi!” Tôi nói, “Nếu Allah muốn, ta sẽ không ngủ, mà sẽ làm như nàng bảo.” Rồi em họ tôi đứng dậy, đem đồ ăn đến cho tôi, nói, “Hãy ăn ngay bây giờ những gì đủ cho ngươi, để không gì làm tim ngươi xao lãng.” Vậy tôi ăn no; và khi đêm đến, em họ tôi đứng dậy, đem đến cho tôi một bộ áo sang trọng và mặc cho tôi. Rồi nàng bắt tôi thề sẽ lặp lại với người yêu câu thơ nói trên và dặn tôi coi chừng ngủ. Vậy tôi rời nàng và đi tới khu vườn, bước lên chính lầu đình ấy, nơi tôi bận bịu giữ mí mắt mình mở bằng các ngón tay và gật gù khi đêm tối dần quanh tôi.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm mười tám đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ tiếp lời với Taj al Muluk: “Vậy tôi đi tới khu vườn, bước lên chính lầu đình ấy và bận mình ngắm các luống hoa, giữ mí mắt mở bằng những ngón tay và gật gù khi đêm tối dần quanh tôi. Lát sau tôi đói vì thức canh, và mùi thịt được gió đưa về phía tôi khiến lòng thèm ăn tăng lên: vậy tôi bước tới bàn, nhấc nắp đậy ra và ăn mỗi món một miếng, cùng một chút thịt; sau đó tôi quay sang bình rượu, tự nhủ: Ta sẽ uống một chén. Tôi uống chén ấy, rồi uống chén thứ hai và thứ ba, cho tới khi đã uống đủ mười chén, bấy giờ khí mát đánh vào tôi và tôi ngã xuống đất như người bị đốn. Tôi cứ nằm như vậy cho tới khi ngày lên, lúc tỉnh dậy thì thấy mình ở ngoài vườn, và trên bụng tôi có một con dao hàng thịt cùng một quả cân sắt một dram.[FN#511] Vì vậy tôi run lên, cầm chúng theo mình rồi về nhà, nơi tôi thấy em họ mình đang nói, “Quả thật, trong ngôi nhà này ta khốn khổ và sầu muộn, chẳng có ai trợ giúp ngoài nước mắt.” Nay khi tôi bước vào, tôi ngã dài xuống, ném con dao và quả cân dram khỏi tay rồi hoàn toàn ngất đi. Ngay khi tỉnh lại, tôi kể cho nàng việc đã xảy đến với mình và nói, “Quả thật, ta sẽ chẳng bao giờ được hưởng ước muốn của mình.” Nhưng khi nàng thấy nước mắt và đam mê của tôi, chúng làm nỗi khổ của nàng vì tôi tăng gấp bội, và nàng kêu lên, “Quả thật ta bất lực! Ta đã cảnh báo ngươi đừng ngủ; nhưng ngươi không chịu nghe lời ta cảnh báo, và lời ta chẳng ích gì cho ngươi.” Tôi đáp, “Nhân Allah, ta van nàng giải nghĩa cho ta ý nghĩa của con dao và quả cân sắt dram.” Em họ tôi đáp, “Bằng quả cân dram, nàng ám chỉ mắt phải của nàng,[FN#512] và nàng thề bởi nó mà nói: ‘Nhân Chúa của muôn loài và nhân mắt phải của ta! nếu ngươi lại đến đây rồi ngủ, ta sẽ cắt cổ ngươi bằng chính con dao này.’ Quả thật ta sợ cho ngươi, ôi em họ, trước ác ý của nàng; tim ta đầy thống khổ vì ngươi và ta không thể nói. Tuy nhiên, nếu ngươi có thể chắc mình sẽ không ngủ khi trở lại với nàng, hãy trở lại và coi chừng đừng ngủ, rồi ngươi sẽ đạt ước muốn; còn nếu khi trở lại với nàng mà ngươi vẫn ngủ như thói quen, chắc chắn nàng sẽ giết thịt ngươi.” Tôi hỏi, “Ta phải làm gì, ôi con gái chú ta: ta cầu xin nàng, nhân Allah, giúp ta trong tai họa này.” Nàng đáp, “Trên đầu và mắt ta! nếu ngươi chịu nghe lời ta và làm theo lệnh ta, ngươi sẽ đạt ý muốn.” Tôi nói, “Quả thật ta sẽ nghe lời nàng và làm theo lệnh nàng”; nàng nói, “Khi tới lúc ngươi phải đi, ta sẽ bảo ngươi.” Rồi nàng ép tôi vào ngực nàng, đặt tôi nằm trên giường, xoa bóp chân tôi cho tới khi cơn buồn ngủ thắng tôi và tôi chìm trong giấc ngủ, sau đó nàng lấy một chiếc quạt, ngồi ở đầu tôi, quạt trong tay, và nàng khóc cho tới khi áo quần ướt đẫm nước mắt. Nay khi nàng thấy tôi đã thức, nàng lau nước mắt rồi đem cho tôi ít đồ ăn và đặt trước mặt tôi. Tôi từ chối, nhưng nàng nói với tôi, “Chẳng phải ta đã bảo ngươi rằng ngươi phải làm theo lệnh ta sao? Ăn đi!” Vậy tôi ăn và không trái ý nàng, nàng tiếp tục đưa thức ăn vào miệng tôi, còn tôi nhai, cho tới khi tôi no. Rồi nàng cho tôi uống sherbet táo tàu[FN#513] và đường, rửa tay cho tôi và lau khô bằng khăn tay; sau đó nàng rảy nước hoa hồng lên tôi, và tôi ngồi với nàng một lúc trong tâm trạng tốt nhất. Khi bóng tối đã khép kín, nàng mặc áo cho tôi và nói với tôi, “Ôi con trai chú ta, hãy thức suốt đêm và đừng ngủ; vì đợt này nàng sẽ không đến với ngươi cho tới giờ cuối cùng của bóng tối, và nếu Allah muốn, đêm nay ngươi sẽ hợp nhất với nàng; nhưng đừng quên lời dặn của ta.” Rồi nàng khóc, và tim tôi đau vì nàng khóc quá nhiều, tôi hỏi, “Lời dặn nàng trao cho ta là gì?” Nàng đáp, “Khi ngươi từ biệt nàng, hãy lặp lại với nàng câu thơ đã nói trước đây.” Vậy, đầy niềm vui, tôi rời nàng và đi tới khu vườn, bước lên lầu đình, nơi vì đã no đủ thức ăn, tôi ngồi xuống canh thức cho tới khi một phần tư giờ tối đã qua. Đêm ấy đối với tôi dài dằng dặc như một năm: nhưng tôi vẫn thức cho tới khi nó đã qua ba phần tư, gà trống gáy và tôi đói lả vì thức lâu. Bấy giờ tôi bước tới bàn và ăn no, rồi đầu tôi nặng xuống và tôi muốn ngủ, thì kìa, từ xa xuất hiện một ánh sáng đang hướng về tôi. Tôi bật dậy, rửa tay và miệng, tự làm mình tỉnh táo; và chẳng bao lâu nàng tới cùng mười thiếu nữ, giữa họ nàng như trăng rằm giữa các vì sao. Nàng mặc áo sa-tanh xanh lá viền vàng đỏ, và nàng như lời thi sĩ nói,
“Nàng ngự trị trên tim chúng ta trong xiêm xanh màu cỏ, * Với khuy áo buông lơi và tóc dài xõa xuống.
Ta hỏi, ‘Tên nàng là gì?’ Nàng đáp, ‘Ta là nàng, * Kẻ đốt tim người yêu trên than hồng còn sống:’
Ta than cùng nàng về ngọn lửa tình yêu; * Nàng cười, ‘Ngươi rên với đá chỉ uổng lời!’
Ta nói, ‘Nếu tim nàng là đá cứng nhất, * Allah từng kéo suối ngọt nhất từ đá cứng mà ra.’”
Khi thấy tôi, nàng cười và nói, “Sao chàng còn thức, và giấc ngủ không thắng chàng? Vì chàng đã thức suốt đêm, ta biết chàng là người yêu; bởi thức đêm là dấu của những người yêu, những kẻ tỏ bày sức chịu đựng can trường trước dục vọng của mình.” Rồi nàng quay sang các tỳ nữ và ra dấu cho họ, họ liền rời khỏi nàng; bấy giờ nàng đến gần tôi, ép tôi vào ngực nàng và hôn tôi, trong khi tôi hôn nàng, nàng mút môi trên của tôi, còn tôi mút môi dưới của nàng. Tôi đặt tay lên eo nàng và ép lấy nó, và chúng tôi chỉ ngã xuống đất cùng một lúc. Rồi nàng cởi chiếc quần váy lót, nó tuột xuống tới mắt cá chân nàng, và chúng tôi lao vào ôm ghì, ôm ấp, đùa bỡn, nói lời êm dịu, cắn yêu, quấn chân vào nhau, đi vòng quanh Ngôi Nhà Thánh và các góc của nó,[FN#515] cho tới khi các khớp nàng mềm rũ vì khoái lạc tình yêu và nàng ngất đi. Tôi bước vào thánh vực, và quả thật đêm ấy là niềm vui cho linh hồn và sự an ủi cho mắt nhìn, như lời thi sĩ nói,
“Đêm ngọt ngào nhất trần gian có thể cho ta thấy, đêm ấy * Khi chén chuyền vòng quanh như được suối không ngừng nuôi dưỡng:
Ở đó ta cắt lìa hoàn toàn giữa mắt ta và giấc ngủ, * Và nối, lại nối hoa tai ta với vòng chân nàng.”[FN#516]
Chúng tôi nằm cùng nhau trong vòng ôm sát cho tới sáng, khi tôi muốn đi, nhưng nàng ngăn tôi lại và nói, “Hãy ở lại cho tới khi ta nói với chàng một điều”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm mười chín đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ tiếp tục kể với Taj al Muluk: “Khi tôi muốn đi, nàng ngăn tôi lại và nói, “Hãy ở lại, cho tới khi ta nói với chàng một điều và trao cho chàng một lời dặn.” Vậy tôi ở lại, trong khi nàng mở một chiếc khăn và rút ra mảnh vải lanh này rồi trải nó trước mặt tôi. Tôi thấy trên đó thêu hai hình linh dương này và hết sức ngưỡng mộ nó. Rồi tôi lấy mảnh vải lanh và ra đi, hân hoan, sau khi chúng tôi đã hẹn nhau rằng tôi sẽ đến thăm nàng mỗi đêm trong khu vườn; nhưng trong niềm vui, tôi quên lặp lại với nàng câu thơ em họ đã dạy tôi. Vì khi trao cho tôi mảnh vải lanh có những con linh dương, nàng đã nói với tôi, “Hãy giữ gìn nó cẩn thận, vì đây là tác phẩm của chị ta.” Tôi hỏi nàng, “Tên chị nàng là gì?”; và nàng đáp, “Tên chị ấy là Núr al-Hudá.” Khi tôi về với em họ, tôi thấy nàng đang nằm; nhưng vừa thấy tôi, nàng đứng dậy, nước mắt chảy khỏi mắt, rồi đến gần tôi, hôn lên ngực tôi và nói, “Ngươi có làm như ta đã dặn không? và có lặp lại câu thơ với nàng không?” “Ta quên mất,” tôi đáp; “và không gì đẩy nó khỏi trí ta ngoài hai con linh dương thêu này.” Rồi tôi ném mảnh vải lanh xuống sàn trước mặt nàng. Nàng đứng dậy rồi lại ngồi xuống, nhưng không thể tự kìm vì nôn nóng, và mắt nàng tràn lệ, trong khi nàng lặp lại hai câu đôi này,
“Ôi ngươi, kẻ tìm chia lìa, hãy bước nhẹ nhàng! * Đừng để Đôi kia lừa bằng xảo thuật:
Hãy rời đi nhẹ nhàng, bản tính của Số Mệnh là lừa gạt, * Và tận cùng của mọi cuộc gặp là chia tay.”
Và khi ngâm xong, nàng nói, “Ôi em họ ta, hãy đưa ta mảnh vải lanh này.” Vậy tôi đưa cho nàng, nàng cầm lấy, mở ra và thấy những gì trong đó. Khi giờ hẹn đến để tôi đi tới người yêu, con gái chú tôi nói với tôi, “Hãy đi, bình an theo ngươi; và khi ngươi sắp rời nàng, hãy đọc với nàng câu thơ ta đã dạy ngươi từ lâu mà ngươi đã quên.” Tôi nói, “Hãy nói lại cho ta”; và nàng lặp lại câu ấy. Rồi tôi đi tới khu vườn vào giờ thường lệ và vào lầu đình, nơi tôi thấy cô gái trẻ đang đợi tôi. Khi thấy tôi, nàng đứng dậy, hôn tôi và đặt tôi ngồi trên lòng nàng; rồi chúng tôi ăn uống và làm điều mình muốn như trước. Sáng ra, tôi lặp lại với nàng câu thơ của em họ tôi, như sau,
“Hỡi tất cả những người yêu! nhân Allah, hãy nói thật cho ta * Kẻ ấy phải làm gì khi Tình Yêu làm tuổi trẻ đau khổ?”
Khi nghe vậy, mắt nàng đầy lệ và nàng đáp lại rằng,
“Hãy gắng chữa cảnh mình, hãy che giấu sự thật, * Khiêm nhường nhẫn nại và cầu xin khoan hòa!”
Tôi ghi nhớ nó và trở về nhà, vui mừng vì đã làm theo lời dặn của em họ. Khi bước vào nhà, tôi thấy nàng đang nằm, mẹ tôi ở đầu nàng và khóc vì tình trạng nàng; nhưng ngay khi tôi vào với nàng, mẹ tôi nói với tôi, “Dịch hạch nhơ bẩn giáng xuống kẻ em họ như thế! Sao con có thể bỏ mặc con gái chú con đau ốm mà không hỏi nàng đau gì?” Nhưng khi em họ thấy tôi, nàng ngẩng đầu lên, ngồi dậy và hỏi tôi, “Ôi Aziz, ngươi có lặp lại với nàng câu đôi ta đã dạy không?” Tôi đáp, “Có, và khi nghe nó nàng khóc rồi ngâm đáp lại một câu đôi khác mà ta đã ghi nhớ.” Em họ tôi nói, “Hãy nói cho ta nghe.” Tôi làm vậy; và khi nghe, nàng khóc rất nhiều rồi lặp lại những câu sau,
“Làm sao tuổi trẻ chữa nỗi lo đang hủy đời mình, * Và mỗi ngày băm tim chàng thành từng mảnh?
Quả thật chàng muốn nhẫn nhịn, nhưng chẳng tìm thấy gì * Ngoài một trái tim mà tình yêu thấm đầy đau đớn.”
Rồi em họ tôi nói thêm, “Khi ngươi đến với nàng như thường lệ, hãy lặp lại với nàng cả hai câu đôi này mà ngươi đã nghe.” Tôi đáp, “Nghe và vâng lời!” rồi tới giờ thường lệ, tôi đi đến khu vườn, nơi giữa tình nhân tôi và tôi đã xảy ra những điều lưỡi không thể tả. Khi sắp rời nàng, tôi đọc với nàng hai câu đôi ấy của em họ; bấy giờ nước mắt chảy dài khỏi mắt nàng và nàng đáp,
“Nếu chàng thiếu nhẫn nại mà không che giấu được sự thật, * Ta thấy chẳng có thuốc chữa nào cho chàng ngoài Cái Chết!”
Tôi ghi nhớ chúng rồi trở về nhà, và khi vào với em họ, tôi thấy nàng ngã vào một cơn ngất, còn mẹ tôi ngồi ở đầu nàng. Khi nghe giọng tôi, nàng mở mắt và hỏi, “Ôi Aziz! ngươi có lặp lại với nàng hai câu đôi ấy không?” Tôi đáp, “Có; nhưng khi nghe chúng nàng khóc và nàng đáp bằng câu đôi này bắt đầu: Nếu chàng thiếu nhẫn nại, cho tới hết.” Và tôi lặp lại nó; bấy giờ em họ tôi lại ngất đi, và khi tỉnh lại, nàng ngâm hai câu đôi này,
“Nghe và vâng, bằng miệng hấp hối của ta * Ta chào kẻ chẳng bao giờ cho niềm vui đoàn tụ:
Lành thay mọi mối tình hạnh phúc, và lành thay * Người yêu khốn khổ chết trong cơn khát của mình!”
Lại khi đêm đến, tôi tới khu vườn như thường lệ, nơi tôi thấy cô gái trẻ đang đợi mình. Chúng tôi ngồi xuống ăn uống, sau đó làm tất cả những gì mình muốn và ngủ tới sáng; và khi tôi sắp đi, tôi lặp lại với nàng lời của em họ. Khi nghe câu đôi ấy, nàng kêu lớn và xúc động dữ dội, thốt lên, “Awáh! Awáh![FN#517] Nhân Allah, người nói những câu này đã chết rồi!” Rồi nàng khóc và nói với tôi, “Khốn cho chàng! Người nói những lời ấy có họ hàng thế nào với chàng?” Tôi đáp, “Nàng là con gái của anh em cha ta.” “Chàng nói dối,” nàng đáp; “nhân Allah, nếu nàng là em họ chàng, chàng hẳn đã dành cho nàng cùng thứ tình yêu mà nàng dành cho chàng! Chính chàng đã giết nàng, và cầu Đấng Toàn năng giết chàng như chàng đã giết nàng! Nhân Allah, nếu chàng nói với ta rằng chàng có một người em họ, ta đã không nhận chàng vào ân huệ của ta!” Tôi nói, “Quả thật chính nàng đã giải nghĩa cho tôi các dấu hiệu nàng làm, và chính nàng dạy tôi cách đến với nàng và tôi phải cư xử với nàng thế nào; nếu không có nàng, tôi đã chẳng bao giờ được hợp nhất với nàng.” Nàng liền hỏi tôi, “Vậy em họ chàng đã biết về chúng ta?”; và tôi đáp, “Có”; bấy giờ nàng kêu lên, “Cầu Allah gieo sầu cho tuổi trẻ của chàng, như chàng đã gieo sầu cho tuổi trẻ của nàng!” Rồi nàng quát tôi, “Bây giờ hãy đi xem nàng thế nào.” Vậy tôi ra đi, tim bối rối, và không ngừng bước cho tới khi tới con đường của chúng tôi, thì tôi nghe tiếng khóc than, và hỏi về việc ấy, người ta đáp, “Azizah, chúng tôi thấy nàng đã chết sau cửa.” Tôi vào nhà, và khi mẹ tôi thấy tôi, bà nói, “Cái chết của nàng nặng trên cổ con, và cầu Allah không tha tội cho con về máu của nàng!”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm hai mươi đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ tiếp lời với Taj al-Muluk: “Vậy tôi vào nhà và khi mẹ tôi thấy tôi, bà nói, “Cái chết của nàng nặng trên cổ con, và cầu Allah không tha tội cho con về máu của nàng! Dịch hạch giáng xuống kẻ em họ như thế!” Rồi cha tôi đến, chúng tôi liệm nàng, chuẩn bị cáng tang và chôn nàng; chúng tôi cho đọc trọn kinh Koran bên mộ nàng và ở lại bên mộ nàng ba ngày, sau đó trở về nhà, còn tôi đau buồn vì nàng thảm thiết. Rồi mẹ tôi đến với tôi và nói, “Ta muốn biết con đã làm gì nàng để làm tan nát tim nàng[FN#518], vì ôi con trai ta, ta đã hỏi nàng mọi lúc về nguyên do bệnh trạng của nàng, nhưng nàng chẳng nói với ta điều gì, cũng không cho ta biết chút gì về việc ấy. Vậy, nhân Allah, hãy nói cho ta biết con đã làm gì nàng khiến nàng phải chết.” Tôi nói, “Con chẳng làm gì.” Mẹ tôi nói, “Cầu Allah báo thù nàng trên con! Quả thật nàng chẳng nói với ta điều gì, mà giữ kín bí mật cho tới khi chết vì những nỗi khát khao tình yêu dành cho con; nhưng khi nàng chết, ta ở bên nàng, và nàng mở mắt nói với ta: ‘Ôi vợ của chú tôi, cầu Allah giữ con trai người vô tội trước máu tôi và đừng trừng phạt chàng vì điều chàng đã làm với tôi! Và nay Allah chuyển tôi khỏi ngôi nhà của thế giới phù du này sang ngôi nhà của thế giới bên kia, vốn là vĩnh cửu.’ Ta nói, ‘Ôi con gái của ta, cầu Allah gìn giữ con và gìn giữ tuổi trẻ của con!’ Và khi ta hỏi nàng về nguyên do bệnh tật, nàng không đáp; nhưng nàng mỉm cười và nói, ‘Ôi vợ của chú tôi, hãy dặn con trai người rằng bất cứ khi nào chàng muốn đi đến nơi chàng đi mỗi ngày, hãy lặp lại hai câu châm ngôn này khi chàng đi; ‘Trung tín là đẹp! Bất trung là xấu!’ Vì do tình thương dịu dàng của tôi dành cho chàng, tôi lo lắng cho chàng trong đời mình và sau khi chết.’ Rồi nàng đưa cho ta một vật để trao cho con và bắt ta thề rằng ta sẽ không trao nó cho tới khi thấy con khóc vì nàng và than khóc cái chết của nàng. Vật ấy ở chỗ ta; và khi ta đã thấy tình trạng của con như ta nói, ta sẽ giao nó cho con.” “Hãy cho con xem,” tôi kêu lên: nhưng bà không chịu. Rồi tôi phó mình cho khoái lạc tình yêu và chẳng nghĩ gì nữa về cái chết của em họ; vì trí tôi xáo động và tôi thèm được ở với người yêu suốt ngày suốt đêm.[FN#519] Vậy vừa nhận ra bóng tối buông xuống, tôi liền đi tới khu vườn, nơi tôi thấy cô gái trẻ đang ngồi trên than lửa vì quá nôn nóng. Ngay khi chắc rằng đã thấy tôi, nàng chạy tới với tôi, vòng tay quanh cổ tôi, hỏi thăm con gái chú tôi. Tôi đáp, “Nói thật thì nàng đã chết, và chúng tôi đã cho đọc các kinh Zikr cùng tụng kinh Koran cho nàng; nay đã bốn đêm, và đây là đêm thứ năm kể từ khi nàng ra đi.” Khi nghe vậy, nàng thét lớn, khóc và nói, “Chẳng phải ta đã bảo chàng rằng chàng đã giết nàng sao? Nếu chàng cho ta biết về nàng trước khi nàng chết, ta đã đền đáp nàng lòng tốt nàng đã làm cho ta, khi nàng phục vụ ta và hợp nhất chàng với ta; vì không có nàng, hai chúng ta đã chẳng bao giờ gặp nhau, và ta sợ rằng một tai họa nào đó sẽ giáng xuống chàng vì tội chàng đã phạm với nàng.” Tôi nói, “Nàng đã tha tội cho tôi trước khi chết”; rồi tôi lặp lại cho nàng điều mẹ tôi đã nói. Nàng nói, “Nhân Allah! khi chàng trở về với mẹ, hãy tìm hiểu vật gì bà giữ cho chàng.” Tôi đáp, “Mẹ tôi cũng nói với tôi: ‘Trước khi con gái chú con chết, nàng trao cho ta một lời dặn, rằng: Bất cứ khi nào con trai người muốn đi đến nơi chàng thường đi, hãy dạy chàng hai câu châm ngôn này: ‘Trung tín là đẹp; Bất trung là xấu!’” Khi người yêu tôi nghe vậy, nàng kêu lên, “Cầu lòng thương xót của Allah Toàn năng ở trên nàng! Quả thật nàng đã cứu chàng khỏi ta, vì ta đã định làm hại chàng, nhưng nay ta sẽ không hại chàng cũng không gây phiền cho chàng.” Tôi kinh ngạc về điều này và hỏi nàng, “Vậy trước đây nàng đã định làm gì ta, khi hai ta còn trong mối buộc tình yêu?” Nàng đáp, “Chàng mê muội vì ta; vì chàng còn trẻ trong đời và là một cậu trai non nớt; tim chàng trống không khỏi mưu mô và chàng không biết ác ý cùng lừa lọc của chúng ta. Nếu nàng còn sống, nàng sẽ bảo vệ chàng; vì nàng là nguyên do gìn giữ chàng, và nàng đã cứu chàng khỏi hủy diệt. Và nay ta dặn chàng đừng nói chuyện với bất cứ phụ nữ nào, cũng đừng bắt lời với một người nào thuộc giới chúng ta, dù trẻ hay già; và ta lại nói: Hãy coi chừng! vì chàng đơn giản và non nớt, chẳng biết các mánh khóe của đàn bà cùng ác ý của họ, và người giải nghĩa các dấu hiệu cho chàng đã chết. Quả thật ta sợ cho chàng, e chàng rơi vào điều ô nhục nào đó mà không tìm thấy ai cứu chàng khỏi nó, nay con gái chú chàng không còn nữa.”—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm hai mươi mốt đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ tiếp lời với Taj al-Muluk: “Rồi cô gái trẻ nói với tôi, “Ta sợ cho chàng, e chàng rơi vào điều ô nhục nào đó mà không tìm thấy ai cứu chàng khỏi nó. Than ôi cho em họ chàng và thương thay cho nàng! Ước gì ta đã biết nàng trước khi nàng chết, để ta có thể đền đáp bằng việc hầu hạ nàng vì sự phục vụ tốt đẹp nàng đã làm cho ta. Cầu lòng thương xót của Allah Toàn năng ở trên nàng, vì nàng đã giữ bí mật và không tiết lộ điều nàng chịu đựng, và nếu không có nàng, chàng đã chẳng bao giờ gặp ta; không, chẳng bao giờ! Nhưng có một điều ta muốn ở chàng.” Tôi hỏi, “Đó là gì?”; nàng đáp, “Đó là chàng đưa ta đến mộ nàng, để ta thăm nàng trong nấm mộ nơi nàng nằm và viết vài câu đôi lên đó.” Tôi đáp, “Ngày mai, nếu Allah muốn!”[FN#520] Đêm ấy tôi ngủ với nàng, và nàng cứ mỗi giờ lại nói, “Ước gì chàng đã nói cho ta biết về em họ chàng trước khi nàng chết!” Và tôi hỏi nàng, “Ý nghĩa hai câu châm ngôn nàng dạy ta là gì? ‘Trung tín là đẹp! Bất trung là xấu!’” Nhưng nàng không trả lời. Ngay khi trời sáng, nàng đứng dậy, cầm một túi tiền vàng và nói với tôi, “Đi, chỉ cho ta mộ nàng, để ta thăm mộ và khắc vài câu thơ lên đó, xây một mái vòm trên mộ và phó thác nàng cho lòng thương xót của Allah, đồng thời bố thí những dinar này cho linh hồn nàng.” Tôi đáp, “Nghe là vâng!”; rồi đi trước nàng, trong khi nàng theo sau, bố thí trên đường đi và nói với mọi người mà nàng ban phát hậu hĩnh, “Đây là của bố thí cho linh hồn Azizah, người đã giữ kín lời mình cho tới khi uống chén chết và chưa từng nói bí mật tình yêu của nàng.” Nàng không ngừng bố thí như vậy và nói, “cho linh hồn Azizah,” cho tới khi túi tiền cạn và chúng tôi đến mộ. Và khi nhìn thấy nấm mồ, nàng khóc và gieo mình lên đó; rồi rút ra một chiếc đục thép cùng một chiếc búa nhẹ, nàng dùng chúng khắc lên bia đầu mộ bằng nét chữ nhỏ đẹp những câu đôi này,
“Ta đi ngang một nấm mộ vỡ giữa khu vườn sáng đẹp, * Trên đó bảy đóa hoa Nu'uman[FN#521] đỏ thắm rực lên;
Ta hỏi, ‘Ai ngủ trong mộ này?’ Đất đáp lại rằng * ‘Trước người yêu bị chôn trong mộ Hades[FN#522], hãy cúi mình cung kính!’
Ta nói, ‘Cầu Allah giúp nàng, ôi người bị Tình Yêu giết, * Và ban cho nàng nhà trên Trời cùng cõi Thiên Đường cao!’
Khốn thay mọi người yêu, ngay cả khi đã chôn trong mộ, * Nơi giữa người sống, bụi đất nặng nề đè xuống!
Ta muốn trồng một khu vườn nở hoa quanh mộ nàng, * Và tưới từng bông bằng những giọt lệ chảy tự do!”
Rồi nàng quay đi trong nước mắt, và tôi cùng nàng trở về khu vườn, nơi nàng nói với tôi, “Nhân Allah! ta buộc chàng thề đừng bao giờ rời ta!” “Nghe là vâng,” tôi đáp. Rồi tôi phó trọn mình cho nàng và thường xuyên đến thăm nàng: nàng tốt lành và rộng rãi với tôi; và mỗi khi tôi qua đêm với nàng, nàng đều hết mực chiều chuộng tôi và hỏi tôi về hai câu châm ngôn mà em họ Azizah đã nói với mẹ tôi, còn tôi thì lặp lại với nàng. Mọi việc không ngừng như vậy, và tôi tiếp tục suốt một năm ăn uống, tận hưởng cuộc ái ân và thay đổi áo quần giàu sang, cho tới khi tôi trở nên thô nặng và béo mập, đến mức mất hết ý nghĩ sầu đau và than khóc, rồi quên sạch em họ Azizah. Vào ngày Năm Mới, tôi đi nhà tắm, nơi tôi làm mình tươi tỉnh và mặc một bộ áo xa hoa; rồi đi ra, tôi uống một chén rượu và ngửi hương áo mới được xông bằng nhiều thứ tinh dầu; vì vậy ngực tôi được mở rộng, bởi tôi không biết các trò của Định Mệnh cũng chẳng biết những đường lối đổi thay của Thời Gian. Khi giờ cầu nguyện đêm đến, tôi định đi tới người yêu; nhưng vì đã ngà ngà rượu, trên đường đến với nàng tôi không biết mình đi đâu, nên cơn say đưa tôi vào một ngõ nhỏ gọi là phố Syndic;[FN#523] và trong lúc tôi bước trên con phố ấy, kìa, tôi trông thấy một bà lão đang đi, một tay cầm cây nến thắp sáng, tay kia cầm một lá thư gấp lại.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm hai mươi hai đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ, tên là Aziz, tiếp lời với Taj al-Muluk:—Và khi tôi bước vào con đường gọi là phố Syndic, kìa, tôi trông thấy một bà lão đang đi với cây nến thắp sáng trong một tay, tay kia cầm một lá thư gấp lại, tôi đến gần bà và kìa! bà đang khóc và lặp lại những câu đôi này,
“Ôi người mang tin vui, khéo đến thay! Hoan nghênh! Kính chào! * Lời ngươi ngọt ngào với ta biết mấy, câu chuyện ngươi là bữa tiệc nào:
Ôi sứ giả từ người mà phúc lành của chàng ta yêu mến, * Cầu Chúa ban phúc cho ngươi lâu như gió mai mềm còn thở!”
Nay khi thấy tôi, bà hỏi, “Ôi con trai ta! con biết đọc không?”; và vì sốt sắng vô duyên, tôi đáp, “Có, bà cô già!” Bà đáp, “Vậy cầm lá thư này và đọc cho ta nghe.” Và khi bà đưa nó cho tôi, tôi cầm lấy, mở ra đọc cho bà nghe, kìa, đó là thư từ một người vắng mặt gửi cho bạn bè và những người yêu mến, những kẻ chàng chào hỏi; và khi bà nghe ý thư, bà vui mừng vì tin lành và chúc phúc cho tôi, nói, “Cầu Allah xua tan lo âu của con, như con đã xua tan lo âu của ta!” Rồi bà cầm lá thư và đi tiếp. Trong khi ấy, tôi bị thúc bởi tiếng gọi của tự nhiên nên ngồi xổm xuống để đi tiểu.[FN#524] Khi xong, tôi đứng lên, lau lỗ tiểu bằng một viên sỏi, rồi thả áo xuống, vừa định đi đường mình, thì bỗng bà lão lại đến gần tôi, cúi xuống trên tay tôi, hôn tay tôi và nói, “Ôi chúa công của tôi! cầu Chúa ban cho ngài niềm vui tuổi trẻ! Tôi khẩn cầu ngài đi với tôi vài bước tới tận cánh cửa kia, vì tôi đã nói với họ những gì ngài đọc cho tôi trong thư mà họ không tin, vậy xin đi với tôi hai bước và đọc cho họ lá thư từ phía sau cửa, rồi nhận những lời cầu nguyện của một phụ nữ chính trực.” Tôi hỏi, “Chuyện lá thư này là thế nào?”, bà đáp, “Ôi con trai ta, lá thư này từ con trai ta, nó đã vắng mặt suốt mười năm. Nó ra đi cùng một món hàng buôn và lưu lại lâu nơi xứ lạ, cho tới khi chúng ta tuyệt vọng về nó và tưởng nó đã chết. Nay sau tất cả sự chậm trễ ấy, lá thư này từ nó đến, và nó có một người em gái ngày đêm khóc vì nó; nên ta nói với nàng, ‘Nó mạnh khỏe và bình an.’ Nhưng nàng không chịu tin ta và tuyên bố, ‘Không cách nào khác ngoài việc mẹ phải đem đến cho con một người đọc lá thư này trước mặt con, để tim con yên ổn và trí con được thư thái.’ Con biết đó, ôi con trai ta, tất cả những ai yêu đều quen nghĩ điều dữ: vậy hãy đủ tốt bụng đi cùng ta và đọc cho nàng lá thư này, đứng sau bức màn, trong khi ta gọi em gái nó lắng nghe bên trong cửa, như vậy con sẽ xua tan nỗi lơ đãng của chúng ta và hoàn thành nhu cầu của chúng ta. Quả thật Đấng Sứ đồ của Allah (cầu Allah ban phúc và gìn giữ Người!) đã nói, ‘Ai làm nhẹ cho kẻ khốn khổ một trong những nỗi khốn của thế gian khốn khó này, Allah sẽ làm nhẹ cho người ấy một trăm nỗi khốn’; và theo một truyền thống khác, ‘Ai làm nhẹ cho anh em mình một trong những nỗi khốn của thế gian khốn khó này, Allah sẽ giải thoát người ấy khỏi bảy mươi hai nỗi khốn vào Ngày Phục Sinh.’ Và ta đã tìm đến con; vậy đừng làm ta thất vọng.” Tôi đáp, “Nghe là vâng: bà hãy đi trước tôi!” Vậy bà đi trước tôi và tôi theo bà một quãng ngắn, cho tới khi bà đến cổng một dinh thự lớn và đẹp đẽ, cửa bọc đồng.[FN#525] Tôi đứng sau cửa, trong khi bà lão cất tiếng gọi bằng tiếng Ba Tư, và trước khi tôi kịp biết, một thiếu nữ chạy tới với bước nhẹ nhàng lanh lẹ. Nàng xắn quần lên tới gối, nên tôi thấy một đôi bắp chân làm rối trí cả người suy tưởng lẫn kẻ nhẹ dạ, và chính tỳ nữ ấy giống như lời thi sĩ tả nàng,
“Ôi nàng để lộ bắp chân, khéo gợi hơn * Những điều cao hơn cho kẻ si tình điên dại vì đam mê!
Về phía người yêu, chiếc bát quay vòng và chạy đến; * Chén[FN#526] và người rót chén chỉ khiến ta hóa điên vì tình.”[FN#527]
Nay đôi chân ấy như hai cột thạch cao trang hoàng bằng vòng chân vàng, trên đó nạm đá quý. Và thiếu nữ đã nhét vạt áo choàng dưới nách và xắn tay áo lên đến khuỷu, nên tôi thấy cổ tay trắng của nàng, trên đó có hai đôi vòng với khóa bằng những viên ngọc trai lớn; quanh cổ nàng là một vòng cổ bằng bảo thạch quý giá. Tai nàng điểm đôi hoa tai ngọc trai, trên đầu nàng đội khăn[FN#528] gấm, mới tinh và thêu những viên đá quý. Và nàng đã nhét vạt áo lót vào dây quần vì đang bận một việc trong nhà. Vậy khi thấy nàng trong dáng ăn mặc ấy, tôi choáng váng trước sắc đẹp của nàng, vì nàng như một mặt trời chói lọi. Rồi nàng nói bằng lời dịu dàng, chọn lọc, tôi chưa từng nghe gì ngọt hơn, “Ôi mẹ tôi! đây có phải người đến đọc thư không?” “Chính là người ấy,” bà lão đáp; và nàng đưa tay cầm lá thư về phía tôi. Nay giữa nàng và cửa có khoảng nửa cây sào[FN#529]; vì vậy tôi vươn tay ra nhận lá thư từ nàng và thò đầu cùng vai vào trong cửa, nghĩ sẽ đến gần nàng rồi đọc thư, thì trước khi tôi biết ý định của nàng là gì, bà lão đã thúc đầu vào lưng tôi và đẩy tôi tới trước, lá thư còn trong tay, đến nỗi trước khi kịp suy nghĩ, tôi đã thấy mình ở giữa đại sảnh, vượt xa tiền đường. Rồi bà bước vào, nhanh hơn tia chớp mù mắt, và chẳng cần làm gì ngoài đóng cửa. Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm hai mươi ba đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng thiếu niên Aziz kể tiếp với Taj al-Muluk: “Khi bà lão đẩy tôi tới trước, tôi thấy mình, trước khi kịp nghĩ, đã ở trong tiền đường; và bà lão bước vào nhanh hơn tia chớp mù mắt, chẳng cần làm gì ngoài đóng cửa. Khi cô gái thấy tôi trong tiền đường, nàng đến gần tôi, ghì tôi vào ngực nàng và quăng tôi xuống sàn; rồi nàng ngồi dạng chân trên ngực tôi và nhào nắn bụng tôi bằng các ngón tay, cho tới khi tôi gần mất giác quan. Bấy giờ nàng cầm tay tôi và dẫn tôi, không thể cưỡng lại vì sức ép dữ dội của nàng, qua bảy tiền đường, trong khi bà lão đi trước chúng tôi với ngọn nến thắp sáng, cho tới khi chúng tôi đến một đại sảnh lớn có bốn bục cao, nơi một kỵ sĩ có thể chơi Polo.[FN#530] Ở đây nàng buông tôi ra, nói, “Hãy mở mắt ra.” Vậy tôi mở mắt, vẫn choáng váng vì nàng ôm ép quá mức, và thấy toàn bộ đại sảnh được xây bằng những thứ cẩm thạch và thạch cao đẹp nhất, mọi đồ đạc trong đó đều bằng lụa và gấm, ngay cả gối dựa và nệm. Trong đó còn có hai băng dài bằng đồng vàng và một trường kỷ bằng vàng đỏ, nạm ngọc trai cùng đá quý, chẳng xứng với ai ngoài các vua như ngài. Và nối với đại sảnh là các phòng khách nhỏ hơn; toàn bộ nơi ấy ngào ngạt sự giàu sang. Rồi nàng hỏi, “Ôi Aziz, điều nào đáng yêu hơn với chàng, sống hay chết?” “Sống,” tôi đáp; nàng nói, “Nếu sống đáng yêu hơn với chàng, hãy cưới ta.” Tôi nói, “Quả thật ta ghét cưới một người như nàng.” Nàng nói, “Nếu chàng cưới ta, ít nhất chàng sẽ được an toàn trước con gái của Dalílah Xảo Quyệt.”[FN#531] Tôi hỏi, “Con gái của Mụ Xảo Quyệt là ai?” Nghe vậy nàng cười và đáp, “Chính là kẻ đã bầu bạn với chàng suốt một năm bốn tháng nay (cầu Đấng Toàn năng hủy diệt nàng và giáng lên nàng một kẻ còn tệ hơn nàng!) Nhân Allah, chẳng có ai bội trá hơn nàng. Nàng đã giết bao nhiêu đàn ông trước chàng và đã làm những việc gì chứ. Ta không hiểu sao chàng ở trong sự bầu bạn của nàng suốt thời gian ấy, mà nàng vẫn chưa giết chàng hay làm hại chàng.” Khi nghe lời nàng, tôi hết sức kinh ngạc và nói, “Ôi phu nhân của tôi, ai khiến nàng biết nàng ta?” Nàng nói, “Ta biết nàng như thời đại biết những tai ương của nó; nhưng nay ta muốn chàng kể cho ta tất cả những gì đã qua giữa hai người, để ta biết nguyên do chàng được cứu khỏi nàng.” Vậy tôi kể cho nàng tất cả những gì đã xảy ra giữa chúng tôi, gồm cả chuyện em họ Azizah của tôi. Nàng tỏ lòng thương khi nghe chuyện cái chết, mắt nàng trào lệ, nàng vỗ tay này lên tay kia và kêu lên, Tuổi trẻ nàng đã mất trên đường của Allah,[FN#532] và cầu Chúa ban phúc cho nàng vì những việc lành của nàng! Nhân Allah, ôi Aziz, người đã chết vì chàng chính là nguyên do gìn giữ chàng khỏi con gái của Dalia Xảo Quyệt; nếu không có nàng, chàng đã hỏng rồi. Và nay nàng đã chết, ta sợ cho chàng trước sự bội trá và tai hại của Mụ Quỷ Quyệt; nhưng cổ họng ta nghẹn lại và ta không thể nói.” Tôi nói, Phải, nhân Allah: tất cả việc này đã xảy ra đúng như nàng nói.” Và nàng lắc đầu, kêu lên, “Ngày nay không còn ai giống Azizah.” Tôi tiếp tục, “Và trên giường chết, nàng dặn tôi lặp lại với người yêu hai câu châm ngôn này, ‘Trung tín là đẹp! Bất trung là xấu!’” Khi nghe tôi nói vậy, nàng thốt lên, “Ôi Aziz, nhân Allah chính những lời ấy đã cứu chàng khỏi chết dưới tay nàng; và nay tim ta được yên cho chàng trước nàng, vì nàng sẽ không bao giờ giết chàng, và con gái chú chàng đã gìn giữ chàng trong đời nàng lẫn sau khi chết. Nhân Allah, ta đã thèm muốn chàng ngày này qua ngày khác nhưng không thể tới được chàng cho tới lần này, khi ta lừa chàng và thắng mưu chàng; vì chàng là một thiếu niên non nớt[FN#533] và chẳng biết mưu chước của thiếu nữ hay quỷ kế chết người của các bà lão.” Tôi đáp, Không, nhân Allah!” Rồi nàng nói với tôi, “Hãy vui mừng và mắt hãy sáng; người chết đã tìm được ân sủng của Allah, còn người sống sẽ ở trong tình trạng tốt. Chàng là một thiếu niên đẹp đẽ, và ta không muốn chàng ngoài khuôn phép của Allah và Sứ đồ Người (cầu bình an và phúc lành ở trên Người!). Bất cứ chàng cần gì về tiền bạc và đồ đạc, chàng sẽ có ngay, không hạn chế, và ta sẽ không bắt chàng chịu bất cứ nhọc nhằn nào, không, chẳng bao giờ! vì nơi ta luôn có bánh nướng nóng và nước trong nồi. Tất cả điều ta cần ở chàng là chàng làm với ta đúng như gà trống làm.” Tôi hỏi, “Gà trống làm gì?” Nghe vậy nàng cười, vỗ tay và ngã ngửa vì quá vui, rồi nàng ngồi dậy, mỉm cười và nói, “Ôi ánh sáng của mắt ta, thật sự chàng không biết phận sự của gà trống là gì sao?” “Không, nhân Allah!” tôi đáp, và nàng nói, “Phận sự của gà trống là ăn uống và đạp mái.” Tôi đỏ mặt vì lời nàng và hỏi, “Đó là phận sự của gà trống sao?” “Phải,” nàng đáp; “và tất cả điều ta xin ở chàng lúc này là thắt lưng lại, làm ý chí mạnh lên và giao hoan hết sức mình.” Rồi nàng vỗ tay và cất tiếng gọi, nói, “Ôi mẹ tôi, hãy đưa những người ở cùng mẹ ra.” Và kìa, bà lão bước vào cùng bốn nhân chứng hợp pháp, tay mang một tấm màn lụa. Rồi bà thắp bốn cây nến, trong khi các nhân chứng chào tôi và ngồi xuống; cô gái che mình bằng tấm màn và ủy nhiệm một người trong họ thực hiện khế ước thay nàng. Vậy họ viết văn khế hôn nhân, và nàng làm chứng đã nhận toàn bộ khoản tiền định cho nàng, cả nửa trả trước lẫn nửa trả sau; và rằng nàng mắc nợ tôi số tiền mười nghìn dirham.—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Khi đêm thứ một trăm hai mươi bốn đến,
Nàng nói, Chuyện truyền đến thần, tâu đức vua cát tường, rằng người thương nhân trẻ tiếp lời với Taj al-Muluk: Khi họ viết xong khế ước hôn nhân, nàng làm chứng đã nhận toàn bộ khoản tiền định cho nàng, nửa trả trước và nửa trả sau, và rằng nàng mắc nợ tôi số tiền mười nghìn dirham. Nàng trả tiền công cho các nhân chứng rồi họ rút lui theo đường họ đã đến. Bấy giờ nàng đứng dậy, cởi bỏ áo quần và đứng trong chiếc áo lót bằng lụa mịn viền ren vàng, sau đó cởi quần, nắm tay tôi dẫn tôi lên trường kỷ, nói, “Không có tội gì trong cuộc nhập hợp hợp pháp.” Nàng nằm xuống trường kỷ, trải người trên lưng; và kéo tôi lên ngực mình, thở dài một tiếng rồi tiếp theo bằng một cái uốn mình theo kiểu e lệ. Rồi nàng kéo áo lót lên trên ngực, và khi tôi thấy nàng trong tư thế ấy, tôi không thể kìm mình khỏi đẩy nó vào nàng, sau khi đã mút môi nàng, trong khi nàng rên rỉ, giả vờ hổ thẹn và khóc mà chẳng có lệ, rồi nàng nói, “Ôi người yêu của em, hãy làm đi, và làm hết sức chàng!” Quả thật cảnh ấy làm tôi nhớ lời người đã nói,
“Khi ta kéo áo nàng lên khỏi mái âm môn, * Ta thấy nó chật như trí ta và tiền ta:
Vậy ta đẩy vào nửa đường, nàng thở dài thật lớn * Ta hỏi, ‘Sao thở dài thế?’: ‘Vì phần còn lại đó, anh yêu!’”
Và nàng lặp lại, “Ôi người yêu của em, hãy làm cho xong đi, vì em là nữ tỳ của chàng. Mạng em đặt trên chàng, nâng nó lên! hãy cho em, cho em tất cả! để em cầm nó trong tay và đẩy nó vào tận ruột gan mình!” Và nàng không ngừng kích động tôi bằng tiếng nức nở, thở dài và những tiếng kêu tình ái giữa những lần hôn hít và ôm ghì, cho tới giữa những tiếng rì rầm khoái lạc, chúng tôi đạt tới lạc thú tối thượng và tận cùng mà chúng tôi nhắm đến. Chúng tôi ngủ cùng nhau tới sáng, khi tôi muốn đi ra; nhưng kìa! nàng đến gần tôi, cười và nói, “Ấy! Ấy! chàng tưởng vào Hammam cũng như đi ra sao?[FN#534] Chàng cho rằng ta giống con gái của Dalilah Xảo Quyệt ư? Hãy coi chừng ý nghĩ ấy, vì chàng là chồng ta theo khế ước và theo luật. Nếu chàng còn say, hãy trở lại tỉnh trí, và biết rằng ngôi nhà nơi chàng đang ở chỉ mở một ngày trong mỗi năm. Hãy xuống nhìn cánh cửa lớn.” Vậy tôi đứng dậy đi xuống và thấy cửa đã khóa, đóng đinh kín, rồi trở lại nói với nàng việc khóa và đóng đinh ấy. “Ôi Aziz,” nàng nói, “Trong nhà này chúng ta có bột, thóc, trái cây và lựu; đường, thịt, cừu, gia cầm và các thứ tương tự đủ cho nhiều năm; và cửa sẽ không mở cho tới khi trọn một năm mười hai tháng trôi qua, và ta biết rõ chàng sẽ không thấy mình ở ngoài ngôi nhà này trước thời ấy.” Tôi nói, “Không có Uy nghi và không có Quyền lực nào ngoài Allah, Đấng Vinh Quang, Đấng Vĩ Đại!” “Và điều này hại gì được chàng,” nàng đáp, “khi chàng biết phận sự của gà trống, điều ta đã nói với chàng?” Rồi nàng cười, tôi cũng cười, và tôi thuận theo lời nàng nói, ở lại với nàng, làm phận sự gà trống, ăn uống và giao hoan suốt một năm đủ mười hai tháng, trong thời gian ấy nàng thụ thai bởi tôi, và tôi được phúc có một đứa con với nàng. Vào ngày Năm Mới, tôi nghe cửa mở, và kìa, người ta mang bánh, bột và đường vào. Bấy giờ tôi muốn đi ra, nhưng vợ tôi nói, “Hãy đợi tới giờ ăn tối rồi đi ra đúng như chàng đã vào.” Vậy tôi đợi tới giờ cầu nguyện đêm và sắp đi ra trong sợ hãi run rẩy, thì nàng ngăn tôi lại, nói, “Nhân Allah, em sẽ không để chàng đi cho tới khi chàng thề trở lại đêm nay trước khi cửa đóng.” Tôi đồng ý việc này, và nàng bắt tôi thề một lời thề trọng thể trên Gươm và Sách,[FN#535] lại thêm cả lời thề ly dị, rằng tôi sẽ trở lại với nàng. Rồi tôi rời nàng và đi thẳng tới khu vườn, thấy cửa mở như thường lệ; vì vậy tôi nổi giận và tự nhủ, “Ta đã vắng mặt trọn năm nay, rồi vô tình đến đây mà thấy nơi này vẫn mở như xưa! Ta tự hỏi thiếu nữ ấy còn ở đây như trước không? Ta nhất thiết phải vào xem trước khi về với mẹ ta, nhất là vì nay đã chạng vạng.” Vậy tôi bước vào vườn hoa,—Và Shahrazad nhận ra bình minh đã ló rạng, bèn ngừng lời kể được phép nói.
Hết Tập 2.
Chú thích Tập 2
[FN#1] Bổ sung cho chú thích 2, tr. 2, [FN#2 Tập 1] và chú thích 2, tr. 14, [FN#21 Tập 1] tập i., tôi có thể thêm rằng “Shahrázád,” trong Shams al-Loghat, là P.N. của một vị vua. L. Langlès (Les Voyages de Sindibâd Le Marin et La Ruse des Femmes, lần đầu phụ lục vào Grammar của Savary và in lại khổ 12mo. tr. 161 + 113, Imprimerie Royale, Paris, M.D.CCC.XIV) giải thích nó là Le cyprès, la beauté de la ville; và ông được (A. de Biberstein) Kazimirski (Enis el-Djelis Paris, Barrois, 1847) noi theo. Ouseley (Orient. Collect.) cho Shahrzád = sinh nơi thành thị; và những người khác cho là dạng Ả Rập hóa của Chehr-ázád (tự do nơi gương mặt, vẻ mặt ngay thẳng) tên gọi thân mật của Hoàng hậu Humay, về bà xem Terminal Essay. Tên của người em gái, mà Fihrist biến thành một Kahramánah, hay vú nuôi, thường viết sai là Dínár-zád, sẽ = con của những đồng tiền vàng, được giải phóng bằng những đồng tiền vàng, hoặc kẻ không cần những đồng tiền vàng: Dínzád = con của đức tin và Daynázád, do Langlès đề xuất, “thoát khỏi nợ nần (!)” Tôi đã chọn cách viết Dunyazad của Macnaghten. “Shahryar,” mà Scott viết một cách gớm ghiếc là “Shier-ear,” được Shams dịch là Vua của thế giới, quân chủ tuyệt đối và triều đình của Anushirwan, trong khi Burhán-i-Káti'a dịch là Vua của các Vua, và P.N. của một thành. Shahr-báz cũng là P.N. của một thành ở Samarcand.
[FN#2] Ả Rập. “Malik,” ở đây dùng như trong các sách truyện của chúng ta: “Pompey là một vị Vua khôn ngoan và hùng mạnh” Gesta Romanorum nói vậy. Vị vua này, như sẽ thấy, là một Nhiếp chính hay Thống đốc dưới quyền Harun al-Rashid. Trong truyện kế tiếp ông là Phó vương Damascus, nơi ông cũng được gọi là “Sultan.”
[FN#3] Bản Bull Edit. cho các câu thơ như sau:—-
Ngọn giáo là bút của chàng, và tim kẻ thù *
Là giấy của chàng, chàng nhúng vào máu làm mực;
Do vậy tổ tiên ta gọi giáo là Khattíyah, *
Nghĩa là nhờ nó người ta sẽ viết, ta nghĩ vậy.
Lối chơi chữ nằm ở “Khattíyah,” có thể nghĩa là một người viết (giống cái) và cũng là một ngọn giáo, từ Khatt-Hajar, một vùng trong tỉnh Al-Bahrayn (Vịnh Ba Tư), và Oman, nơi những cây tre Ấn Độ tốt nhất được đưa lên bờ và chế thành giáo. Imr al-Kays (Mu'allakah v. 4.) hát về “những ngọn giáo đen của chúng ta, làm vững chắc từ mía Khattiyan;” Al-Busírí nói về “những ngọn giáo nâu của Khatt;” cũng xem Lebid v. 50 và Hamásah tr. 26, 231, Antar ghi nhận “Giáo của Khatt” và “thương Rudaynian.” Rudaynah được nói là vợ của một Samhár nào đó, Ferrara của nghề làm thương; những người khác cho bà là vợ của Al-Ka'azab và xem Samhár là một thành ở Abyssinia nơi những vũ khí tốt nhất được chế tạo. Bút là Calamus hay Kalam (lau cắt làm bút), loại tốt nhất và cứng nhất được mang từ Java: chúng cần chuốt ngòi ít nhất. Hình thức tu từ trong văn bản gọi là Husn al-Ta'alíl, phép nguyên nhân luận của chúng ta; và đối với người Ả Rập nó đáng khâm phục như nó có vẻ ngớ ngẩn đối với chúng ta.
[FN#4] “Người yêu dân” là lời khen cao, có nghĩa hơn cả lòng nhân hậu và việc làm phúc. Giống như bác ái, nó che phủ một đám đông tội lỗi.
[FN#5] Câu văn này theo lối văn hoa cầu kỳ.
[FN#6] Ả Rập. “Rubb” = xi-rô, một từ được Âu hóa thành “Rob
Laffecteur.”
[FN#7] Septentriones hay bốn con bò và cỗ xe của chúng.
[FN#8] Danh sách này làm ta nhớ một cách tai hại đến “thiên văn học và cách dùng các quả địa cầu” . . . “Shakespeare và những chiếc ly nhạc.”
[FN#9] Bát cú xuất hiện trong Đêm xv. Tôi trích Torrens (tr. 360) để thay đổi.
[FN#10] Một công thức lịch sự khi kết thúc bằng lời đề nghị.
[FN#11] Để diễn tả “đổi khí hậu” của chúng ta, người phương Đông nói “đổi nước và không khí,” nước đứng trước.
[FN#12] “Mặt trời sẽ không đánh ngươi ban ngày, cũng không trăng ban đêm” (Thánh vịnh cxxi. 6). Người phương Đông vẫn tin vào tác động làm héo úa của tia trăng, điều mà người phương Bắc châu Âu, nhìn nó dưới những điều kiện khác, vui lòng phủ nhận. Tôi từng thấy một người Ả Rập khỏe mạnh tráng kiện, sau khi ngồi một giờ dưới ánh trăng, trông như người mới ra khỏi giường bệnh; và tôi biết một người Anh ở Ấn Độ có mặt bị tê liệt tạm thời vì ngủ phơi mặt dưới trăng.
[FN#13] Những người lai da đen và người da đen ở Zanzibar.
[FN#14] Tức là: Sao không làm tim ngươi mềm như hai bên sườn ngươi! Điều ngược lại được kể ở Paris thời Đế chế, khi một người đàn ông vô tình véo nhầm một nhân vật rất cao quý: “A, phu nhân! nếu tim bà cứng như (thứ ông ta đã véo) thì tôi là người mất mạng.”
[FN#15] “Na'íman” được nói với một người sau khi tắm hay cạo đầu: lời đáp đúng, vì ở phương Đông mọi dấu hiệu nghi lễ đều có dấu hiệu đáp lại, là “Cầu Allah làm lợi cho ngươi!” (Pilgrimage i. 11, iii. 285; Lane M. E. chaps. viii.; Caussin de Perceval's Arabic Grammar, v.v., v.v.) Tôi đã đưa ra một mẫu (Pilgrimage i., 122) không chỉ về dấu hiệu và dấu hiệu đáp lại, mà còn về đối đáp vần điệu vốn cào tình yêu. Hanien ! (dễ chịu cho ngươi! nói khi một người uống). Allah làm ngươi vui thích (Allah yuhanník mà người Arnaut và những kẻ côn đồ khác xuyên tạc thành Allah yaník, Allah giao hợp với ngươi); ngươi uống thay mười người! Ta là gà trống và ngươi là gà mái! (tức là một catamite thụ động) Không, ta là kẻ dày (dương vật đem lại khoái lạc) còn ngươi là kẻ mỏng! Và cứ thế với những lời đùa cợt rất khó chịu.
[FN#16] Trong bản cũ nàng được gọi là “Nàng Ba Tư Xinh Đẹp,” có lẽ do chủ nhân: tên nàng nghĩa là “Người Làm Vui Bạn Đồng Hành.”
[FN#17] Phát âm “Nooraddeen.” Tôi đưa tên như nó được viết trong
tiếng Ả Rập.
[FN#18] Trong giới Hồi giáo, như tôi đã nói, bị xem là hết sức nhục nhã khi tiếng khóc của phụ nữ có thể bị người ngoài nghe thấy.
[FN#19] Trong một trường hợp như thế này, người cha sẽ được Rasm (hay tập tục) biện minh, không phải luật Koran, khi chơi Brutus với con trai mình. Điều tương tự sẽ xảy ra trong một vụ dan díu bị phát hiện với một tỳ thiếp của cha và, trong những nhà rất nghiêm khắc, với một nữ nô.
[FN#20] Người phương Đông sợ “Zug” hay luồng gió lùa không kém người Đức; và còn có lý do tốt hơn. Gió lùa nguy hiểm nhất trong khí hậu nóng.
[FN#21] Tính Duy Nhất của Thần tính và sứ mệnh Sứ đồ của Mohammed.
[FN#22] Việc này chỉ làm trong trường hợp những người rất nghèo.
[FN#23] Lời cầu nguyện trên người chết không phổ quát trong Al-Islam; nhưng khi được đọc, chúng thiếu “sijdah” hay lễ phủ phục.
[FN#24] Hoặc, “Của người đầu tiên và người cuối cùng,” tức là Mohammed, người đã tuyên bố (và tuyên bố đúng) mình là “Ấn tín” hay đầu và cuối của mọi Tiên tri và Tiên tri tính. Vì hãy lưu ý rằng dù người Ả Rập ấy được xem là được linh ứng hay chỉ là kẻ mạo xưng, không ai đưa ra cùng một tuyên bố đã làm chuyển động thế giới kể từ sau ông. Ông J. Smith người Mormon (nêu một trong vô vàn) đã thử một cách táo bạo và thất bại.
[FN#25] Tức là những kẻ xu nịnh.
[FN#26] Trong một vấn đề, người Hồi giáo tương phản mạnh với người Cơ Đốc, bằng việc hết sức cẩn trọng noi theo gương nhà lập pháp của họ: do đó họ là những người Bảo thủ mẫu mực. Nhưng (châu Âu) Cơ Đốc giới ở đây, cũng như trong những việc khác, lại mâu thuẫn kỳ lạ: chẳng hạn, họ vẫn giữ “Lễ Cắt Bì,” và trên thực tế xem cắt bì là điều kinh hãi. Tuy nhiên, người Cơ Đốc phương Đông chưa hoàn toàn bỏ nó, và người Abyssinia, những người thấy nó là một phòng ngừa vệ sinh hữu ích, vẫn thực hành nó. Vì loét, giang mai và các bệnh hoa liễu khác vốn dễ chữa ở Ai Cập lại trở nên nguy hiểm trên vùng cao Ethiopia.
[FN#27] Ả Rập. “Sabab,” nghĩa gốc và vật chất của từ; do đó “một nguyên nhân,” v.v.
[FN#28] Như vậy chàng phá lời hứa với cha, và câu chuyện ám chỉ rằng báo ứng đã đến với chàng.
[FN#29] “Ôi người hành hương” (Ya Hájj) là lối xưng hô lịch sự ngay cả với những người chưa từng hành hương. Giống cái “Hájjah” (ở Ai Cập phát âm “Hággeh”) cũng được dùng tương tự.
[FN#30] Ả Rập. “usúl” = rễ, tức là ta không quên công việc của mình.
[FN#31] Người Hồi giáo từ Trung và Tây Bắc Phi.
(Pilgrimage i. 261; iii. 7, v.v.); “Jabarti” là người Abyssinia Hồi giáo.
[FN#32] Đây là một mẩu đùa được ưa chuộng và có thể kéo dài gần như vô hạn, chẳng hạn mọi thứ nâu không phải là cầy hương, cũng không phải mọi thứ sáng là kim cương; mọi thứ đen không phải than, mọi thứ trắng không phải phấn; mọi thứ đỏ không phải hồng ngọc, mọi thứ vàng không phải topaz; mọi thứ cổ dài không phải lạc đà, v.v., v.v., v.v.
[FN#33] Ông đặt cho chàng tên của ông nội; một tập tục quen thuộc.
[FN#34] Ả Rập. “Ma'janah,” một nơi làm gạch chưa nung (Tob = Tây Ban Nha Adobe) với trấu và rơm giập hay cháy sém. Việc dùng vật liệu này trong những xứ không mưa có từ thời xa xưa không thể nhớ, và từng tạo thành tường ngoài của đền Ai Cập.
[FN#35] Ả Rập. “Barsh,” một miếng chiếu tròn dùng bởi người nghèo làm chỗ ngồi. Tể tướng bằng cách ấy cho thấy ông đã bị hạ xuống tình cảnh của người làm chiếu.
[FN#36] Loài cỏ (một Poa gồm hai loài) đặt tên cho Wady Halfá (thường gọi “Halfah”), mà công chúng trong nước gần đây có lẽ đã nghe hơi quá nhiều. Burckhardt (Prov. 226) dịch là “lau khô”—-đủ sai.
[FN#37] Đường gân “Háshimi” này, như họ gọi, là một phát triển dị thường giữa hai mắt của nhà Abbas, thừa hưởng từ ông cố của Đấng Tiên tri; và người sau có nó rất lớn, phồng lên khi đáp lời và trong cơn thịnh nộ chiến trận. Tuy nhiên văn bản có thể đọc là “Mồ hôi của cơn giận,” v.v.
[FN#38] Torrens và Payne thích “Ilm” = tri thức hơn. Lane đúng hơn với “Alam” = một dấu hiệu, một lá cờ.
[FN#39] Các câu đã ở Đêm xi.: tôi trích Torrens (tr. 379) để thay đổi.
[FN#40] Vẫn còn là tập tục ở vùng Tigris-Euphrates, nơi nghề thuyền biển không thay đổi từ thời Xisisthrus-Noah, và từ lâu trước đó.
[FN#41] Để làm mát đồ bên trong.
[FN#42] Do đó Cung điện Khedivial gần Cairo “Kasr al-Nuzhah;” nghĩa đen “của Những Lạc Thú;” một trong những công trình Cairo mới mỏng manh đối lập kỳ lạ với kiến trúc Ai Cập cổ và ngay cả trung cổ, và đang phủ đất bằng những tàn tích hiện đại. Hãy so sánh giáo đường Mohammed Ali trong thành với Sultan Hasan cổ hơn. Một truyện dân gian kể rằng, khi người Turk chinh phục, Yáwúz Sultan Selim, lần đầu thăm Cairo, người ta dẫn ông đến Mosque Al-Ghúrí. “Đây là một Ká'ah (đại sảnh) tráng lệ!” ông nói. Khi vào Sultan Hasan, ông thốt, “Đây là một thành lũy!”; nhưng sau khi xem Mosque Al-Mu'ayyad ông kêu, “Đó là một nơi cầu nguyện thực sự, một chốn thích hợp để Tín đồ tôn thờ Đấng Vĩnh Hằng!”
[FN#43] Người làm vườn Ả Rập rất nhạy cảm về điểm này. Một người bạn của tôi trong một dịp tương tự đã được một ông già con cháu Adam nói bằng tiếng Ai Cập thực thụ, “Ya ibn al-Kalb! beta'mil ay?” (Ôi đồ con chó! ngươi đang làm gì vậy?).
[FN#44] “Gậy cọ xanh là từ những cây của Thiên Đường;” người Ả Rập nói theo lối Solomon nhưng không phải lời Solomon: như câu “Tiếc roi,” v.v. của chúng ta.
[FN#45] Người đi đường, lữ khách có quyền đòi lòng tốt của người ở nhà: do đó Abd al-Rahman al-Burai hát trong Bài Ode nổi tiếng của ông:—
Chàng có quyền trên những cư dân ở nơi họ sinh ra, *
Kẻ lang thang khắp thế gian, vì chàng thiếu một mái nhà.
Nó được đưa trong “First Footsteps in East Africa” của tôi (tr. 53-55).
[FN#46] Ông già tốt lành đối xử với chàng trai như một đứa trẻ mệt mỏi.
[FN#47] Trong trước tác Hồi giáo, chim bồ câu và cu đất phần lớn là giống cái, trong khi chim mái luôn câm và chỉ chim trống hót để gọi hay mua vui cho bạn đời.
[FN#48] Một so sánh thiếu thơm tho giữa Narcissus cổ điển với lòng trắng vàng trong mắt người da đen.
[FN#49] Một loài cây có than cháy với sức nóng dữ dội: Al-Hariri (Vth Séance). Loài Artemisia này giống liễu mặn nhưng nhỏ hơn và được xem là đặc trưng của Sa mạc Ả Rập. Một Badawi luôn vui khi lần đầu thấy Ghazá, sau khi đã xa vùng hoang dã của mình một thời gian. Ông Palgrave (i. 38) mô tả “Ghadá” là một loài Euphorbia có thân gỗ thường cao 5-6 feet và cành xanh mảnh dẻ mềm dẻo (?), “tạo thành một chùm lông, không kém duyên cho mắt nhìn, trong khi nó cung cấp chút nơi trú cho lữ khách, và thức ăn cho lạc đà của chàng.”
[FN#50] Ả Rập. “Sal'am” = S(alla) A(llah) a(layhi) wa S(allam); A(llah) b(less) h(im) a(nd) k(eep) = Allah gìn giữ và ban phúc cho người!
[FN#51] Con lừa bị xem là điềm xấu. Tôi đã ghi chú tiếng hí của nó ở nơi khác. Theo Mandeville, Quỷ không vào Hòm với Con Lừa, nhưng nó rời khỏi đó khi Noah nói “Benedicite.” Vào thời ông (A.D. 1322) và thời Benjamin of Tudela, người ta đã thấy và chạm vào con tàu trên Ararat, dãy núi Judi (Gordiæi); và điều này có từ Berosus (S.C. 250), người dĩ nhiên nói đến Hòm của Xisisthrus. Xem Josephus Ant. i. 3, 6; và Rodwell (Koran, tr. 65, 530).
[FN#52] Như sẽ xảy ra tại một “Zikr,” lời khẩn cầu hay kinh cầu. Những ai muốn thấy có thể làm được bao nhiêu với đề tài này hãy đọc “Pearls of the Faith, or Islam's Rosary, being the ninety-nine beautiful names of Allah” (Asmá-el-Husna) v.v. của Edwin Arnold: London, Trübner, 1883.
[FN#53] Tức là Sáki, thiếu niên rót chén hay người dâng chén. “Mặt trăng,” như tôi đã chỉ ra ở nơi khác, không phải lời khen trong tiếng Anh, nhưng là lời khen trong tiếng Ba Tư và Ả Rập.
[FN#54] Ông muốn nói chúng ta là “Záhirí,” tín đồ Hồi giáo thẳng thắn lương thiện, không phải “Bátiní,” những người ngộ đạo (tức kẻ bị ruồng bỏ) và vân vân, những người coi thường mọi vẻ ngoài và giáo luật bên ngoài. Điều này gợi ý ý kiến của ông về Shaykh Ibrahim và có thể ám chỉ dị giáo bị nghi ngờ của Ja'afar.
[FN#55] Nhân vật đáng kính này sẽ được ghi chú ở một trang sau.
[FN#56] Ả Rập. “Lisám,” đầu của “Kufiyah,” hay khăn trùm đầu vắt qua mặt dưới mắt và buộc chặt ở phía bên kia. Màn che miệng này dùng như mặt nạ (vì mắt không thể nhận ra) và bảo vệ khỏi nóng, lạnh và khát. Tôi cũng tin rằng che mắt bằng vật này, theo kiểu Badawi, tạo cảm giác mát, dù sao cũng là sự khác biệt rõ rệt về nhiệt độ biểu kiến; hơi giống một cặp kính tối màu hay nhìn biển từ bờ cát. (Pilgrimage i., 210 và 346.) “Lisám” của phụ nữ (màn che cằm) hay Yashmak được ghi chú ở i., 337.
[FN#57] Rất đặc trưng là sự thân mật này giữa người vĩ đại nhất thế giới khi ấy và thần dân nghèo khó của ông. Người đánh cá ám chỉ một thực hành của Al-Islam, do Khalif Omar thiết lập, rằng mọi người cai trị nên làm một nghề thủ công nào đó để khỏi động đến kho công. Vì thế Sultan Mu'ayyad của Cairo là một nhà thư pháp bán chữ viết của mình, và gương ông được các Sultan Thổ Mahmúd, Abd al-Majíd và Abd al-Azíz noi theo. Hoàng gia Đức thích nghề mộc và Louis XVI thích chế tác đồng hồ.
[FN#58] Không có gì lạ trong yêu cầu này. Nền dân chủ của chuyên chế san bằng mọi người bên ngoài phạm vi chính trị và tôn giáo.
[FN#59] “Wa'lláhi tayyib!” một lời cảm thán đặc trưng của người Hồi giáo Ai Cập.
[FN#60] Tên người đánh cá giả là Karím = Hào Phóng.
[FN#61] Một hành động hào phóng như vậy đối với người châu Âu gần như điên rồ, nhưng hoàn toàn đúng phong tục Ả Rập. Hãy chứng kiến truyện thường được trích về Hatim và con ngựa của ông. Theo lệ, người Ả Rập trái ngược với hào phóng, về điểm này thua xa người anh em họ Do Thái: do đó lý tưởng hào phóng của họ thuộc mức cao nhất. “Người hào phóng (tức rộng rãi) là bạn của Allah, dù hắn là tội nhân; và kẻ keo kiệt là kẻ thù của Allah, dù hắn là thánh!” Người Hồi giáo Ấn gọi kẻ bủn xỉn là Makhi-chús = kẻ hút ruồi. (Pilgrimage i. 242.)
[FN#62] Ả Rập. “Ammá ba'ad” (hay Wa ba'ad), một công thức mở đầu được cho là của Koss ibn Sa'idat al-Iyadi, giám mục Najrán (thị trấn ở Al-Yaman mà D'Herbelot gọi là Negiran) và một nhà thuyết giáo nổi tiếng thời Mohammed, do đó “hùng biện hơn Koss” (Maydání, Arab. Prov., 189). Ông là người đầu tiên đề địa chỉ thư bằng lời mở đầu “từ A. gửi B.”; và là người đầu tiên giảng từ bục giảng và chống vào gươm hay gậy khi diễn thuyết. Nhiều người Hồi giáo truy nguồn Ammá ba'ad từ Tiên tri David, dựa vào một đoạn trong Koran (xxxviii. 19).
[FN#63] Ả Rập. “Nusf” = nửa (một dirham): thường phát âm “nuss,” và đồng nghĩa với tiếng Ai Cập “Faddah” (= bạc), “Asper” Hy Lạp, và “paráh” Thổ. Nó là đồng tiền Ai Cập nhỏ nhất, làm bằng kim loại rất tệ, và vì có bốn mươi đồng trong một piastre, nó đáng gần một phần tư farthing.
[FN#64] Torrens và Lane quá sát nghĩa khiến Khalif trao cho cậu làm vườn bộ áo ông đang mặc, quên mất, như tác giả hay người chép, rằng ông đang mặc bộ đồ đầy rận của người đánh cá.
[FN#65] Là dấu hiệu bối rối, thất vọng và vân vân: không phải “cắn móng tay,” vốn là lối châu Âu và hoàn toàn không phải châu Á.
[FN#66] Xem những câu tương tự trong Đêm xiii. (i. 136); tình cảm ấy đã sáo.
[FN#67] Người Ả Rập vẫn đứng dưới cung điện người cai trị và hô to để thu hút sự chú ý của ông. Sayyid Sa'íd được biết là “Imán of Muskat” từng khuyến khích thực hành gia trưởng này. Mohammed nhiều lần phản đối hành vi thiếu lễ nghi như thế (Koran xciv. 11, v.v.). “Ba thời điểm riêng tư” (Koran cv. 57) là trước cầu nguyện bình minh, trong giờ ngủ trưa (chính ngọ) và sau cầu nguyện tối.
[FN#68] Các quan tòa của bốn trường phái chính thống.
[FN#69] Để không ai có thể thấy nó hay tìm được nó nữa.
[FN#70] Ả Rập. “Khatt Sharíf” = một thư hoàng gia tự tay viết: thuật ngữ vẫn được giữ ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng người châu Âu sẽ viết “Hatt.”
[FN#71] Nghĩa là “Mèo đực nhỏ;” dạng giảm thiểu của “Kitt” thường gọi Kutt hay
Gutt.
[FN#72] Ả Rập. “Matmúrah”—-tiếng Algeria “Matamor”—-một “silo,” trở nên quen thuộc với Anh nhờ phát minh “Ensilage.”
[FN#73] “Mustapha” cổ hơn = Mohammed. Học thuyết Cầu Bầu này bị tranh cãi dữ dội. (Pilgrimage ii. 77.) Vị Sứ đồ của Al-Islam dường như không thể quyết định dứt khoát về vấn đề này: và ý kiến hiện đại trong giới Hồi giáo dường như vay mượn từ Cơ Đốc giáo.
[FN#74] Lane (i. 486) lạ lùng nói, “Nơi máu đọng lại:” dù ông đã dịch đúng từ ấy trong Introduction (i. 41). Tôi đã ghi nhận rằng Nat'a được làm giống “Sufrah,” bằng da thuộc kỹ, có các vòng ở rìa, để một dây da luồn qua biến nó thành túi. Sufrah dùng đựng lương thực thường màu vàng, viền đen và có túi nhỏ cho dao hay thìa. (Pilgrimage i. 111.)
[FN#75] Chi tiết khó tin này cho thấy sự vĩ đại của Khalif.
[FN#76] “Cousin” ở đây là cách gọi thân mật, “coz” của chúng ta.
[FN#77] Tức là không cho họ một khoảnh khắc trì hoãn để thay áo.
[FN#78] Tức là theo bản tính, dòng dõi, máu huyết, de race của tôi.
[FN#79] Job của chúng ta. Các dịch giả Kinh Thánh tiếng Anh, mượn hệ thống chuyển tự của Luther (năm 1522), đã chuyển vào tiếng Anh chữ “j” của Đức có âm “i” hay “y”; ý định khiến chúng ta phát âm Yacob (hay Yakob), Yericho, Yimnites, Yob (hay Hiob) và Yudah. Tyndall, người sao chép Luther (1525-26), giữ âm thật bằng cách viết lacob, Ben Iamin và Iudas. Nhưng những người kế tục ông đáng tiếc quay lại lối Đức; chữ I đầu, từ thế kỷ xiii được kéo dài trang trí và uốn sang trái, trở thành phụ âm. Công chúng chấp nhận âm bản xứ của “j” (da) và vì thế ngôn ngữ cùng văn học của chúng ta bị làm nhục bởi những man di ngữ như “Jehovah” và “Jesus”; Dgehovah và Dgeesus thay cho Yehovah và Yesus. Các thế hệ giáo viên tương lai có thể sửa cái ác này; trong khi đó, phần đời còn lại của chúng ta phải chịu nghe
Gee-rusalem! Gee-rusalem! v.v.
Và chẳng có một lời nào biện hộ cho sự hư hỏng ấy ngoài việc, giống cách phát âm sai Latin của Tin Lành và lối phát âm kém của Erasmus đối với Hy Lạp, nó đã trở thành tiếng Anh, và góp chút sức nhỏ bé trong việc chia tách người Briton khỏi phần còn lại của thế giới văn minh.
[FN#80] Tôi nhắc lại, mặt trăng là giống đực trong các ngôn ngữ gọi là “Semitic.”
[FN#81] Tức là tải lạc đà, khoảng 300 lbs.; và cho đường dài 250 lbs.
[FN#82] Ả Rập. “Janázah,” chỉ gọi như vậy khi chở xác; nếu không thì là Na'ash, Sarír hay Tábút: Irán là xe tang lớn dùng chở các thủ lĩnh. Nó làm bằng ván hay khung gậy; nhưng có nhiều loại. (Lane, M. E. chaps. xxviii.)
[FN#83] Đi theo đoàn tang của một người Hồi giáo dù chỉ vài bước cũng là công đức.
[FN#84] Nếu không, chàng đã không thể tham gia cầu nguyện.
[FN#85] Ả Rập. “Halwá” làm từ đường, kem, hạnh nhân, v.v. Loại của
Maskat nổi tiếng khắp phương Đông.
[FN#86] Tức là “Camphor” đối với một người da đen, như chúng ta nói “Snowball,” bằng phép phản ngữ.
[FN#87] “May Mắn Nhỏ,” dạng giảm thiểu của “bakht” = may mắn, một từ Ba Tư được tự nhiên hóa ở Ai Cập.
[FN#88] Có, như tôi đã chỉ ra, không ít bộ lạc ăn thịt người ở Trung Phi và đôi khi họ lọt vào chợ nô lệ.
[FN#89] Tức là sau khi chúng ta chặn cửa.
[FN#90] Ả Rập. “Jáwísh” từ Thổ. Cháwúsh, Chiaoosh, một hạ sĩ, người truyền lệnh, sứ giả hoàng gia. Tôi gợi ý rằng đây là từ “Shálish” hay “Jálish” trong History of the Caliphs của Al-Siyuti (tr. 501), được Carlyle dịch “milites,” Schultens “Sagittarius” và Jarett “picked troops.”
[FN#91] Sự thân mật với các cậu nô lệ da đen này phổ biến ở Ai Cập và thường kết thúc như trong truyện: máu Ai Cập đủ pha với da đen để sinh ra khuynh hướng lai giống. Nhưng ở đây cô gái đã bị mẹ bỏ bê một cách tệ hại ở tuổi như mười.
[FN#92] Ả Rập. “Farj”; do đó một cách gọi khôi hài dành cho giới kia là “Zawi'l-furuj” (ngữ pháp là Zawátu'l- furúj) = habentes rimam, những kẻ có khe.
[FN#93] Tập tục cổ xưa đáng kính là kiểm tra tấm khăn hôn nhân vẫn còn được giữ một cách tôn giáo ở hầu hết các miền phương Đông; và trong các gia đình Hồi giáo cổ lỗ, nó được phơi công khai trong Harem để chứng minh rằng “tai họa trong nhà” (cô con gái) đã đến với chồng như một trinh nữ sạch. Ý tưởng chung cũng là không loại máu nào đánh lừa được các chuyên gia, hay bồi thẩm đoàn các bà hộ sinh, ngoại trừ máu của chim bồ câu non vốn giống hệt máu màng trinh— khi không bị soi dưới kính hiển vi. Niềm tin này phổ quát ở Nam Âu và tôi đã nghe nói đến nó ở Anh. Chi tiết thêm sẽ được đưa trong Đêm ccxi.
[FN#94] “Agha” Thổ. = sir, quý ông, như tôi đã nói, được dùng lịch sự để gọi một hoạn quan.
[FN#95] Như Bukhayt cho chúng ta biết, ông chỉ mất tinh hoàn, do đó erectio et distensio penis của ông như một cậu trai trước tuổi dậy thì và nó kéo dài chừng nào tim và tuần hoàn còn khỏe. Vì thế hoạn quan giữ được dương vật rất được quý trong Zenanah, nơi một số phụ nữ thích hắn hơn người đàn ông toàn vẹn, vì hắn thực hiện hành vi giống loài lâu dài. Về điều này sẽ nói thêm ở một trang sau.
[FN#96] Ở Ai Cập và Syria, từng có hoặc vẫn có tục xếp những dãy dài bát Trung Hoa đẹp trên các kệ chạy quanh phòng ở độ cao sáu hay bảy feet, tạo thành một đường phào tráng lệ. Tôi đã mua nhiều thứ ấy ở Damascus cho tới khi người dân, biết giá trị của chúng, đòi giá cấm mua.
[FN#97] Truyện này thú vị cũng như buồn cười, miêu tả tuyệt hảo những sự phô trương vẫn còn thực hành trong các gia đình Hồi giáo trung lưu khi gia trưởng qua đời. Tôi lại phải ghi rằng phụ nữ Ả Rập không muốn phơi phần sau đầu được che bằng “Tarhah” (khăn đầu) hơn là khuôn mặt, vốn ẩn bởi “Burka” hay túi mũi.
[FN#98] Tiếng cười kích động thường thấy của chủng tộc thần kinh này.
[FN#99] Ở đây người nô lệ từ chối được thả tự do rồi chết đói. Chủ làm vậy mà không có lý do đầy đủ bị xem là nhục nhã. Tôi còn nhớ rõ tiếng khóc than khắp Sind khi một lệnh của Sir Charles Napier thả tự do những người da đen mà lòng bác ái Anh quốc nhờ thế đã kết án phải chịu đói nếu không chết đói.
[FN#100] Việc giải phóng nô lệ, dựa trên luật La Mã, là một đề tài rộng được bàn trong Hidáyah và các sách kinh điển khác. Nô lệ ở đây nêu luật sai, nhưng lời đòi hỏi của hắn cho thấy sự hỗn xược “nigger” thật sự.
[FN#101] Điều này rất đúng với tự nhiên. Điều đáng chú ý nhất ở người Phi trung tâm hoang dã là sự phát triển khổng lồ của “tính phá hoại.” Ở Zanzibar tôi chưa từng thấy một nô lệ làm vỡ ly hay đĩa mà không nhăn răng cười hay khúc khích thỏa mãn.
[FN#102] Ả Rập. “Khassá-ni”; Khusyatáni (thường) là tinh hoàn, cũng gọi là “bayzatán” (hai quả trứng), một nghĩa nước đôi đã phát sinh nhiều chuyện. Chẳng hạn trong sách Ba Tư dí dỏm “Dozd o Kazi” (Tên Trộm và Quan Tòa), một kẻ cướp đường lột đồ nhà học giả và đề nghị trả lại áo quần nếu ông có thể hỏi hắn một câu đố về luật hay tôn giáo. Kazi (trong dân gian phần lớn là kẻ ngốc) thất bại, và vợ ông bảo ông mời người ấy đến ăn tối để thử trí với cùng điều kiện. Bà bắt đầu bằng lời khen và kết thúc bằng cách đưa ra năm quả trứng, muốn hắn chia đều cho ba người; và khi hắn bối rối, bà đưa mỗi người đàn ông một quả, lấy ba quả cho mình. Bấy giờ “Dozd” bỏ đi, mất chiến lợi phẩm đúng như sự ngu độn tột độ của hắn đáng chịu. Trong văn bản, hoạn quan Kafur được làm một “Sandali” hay kẻ nhẵn nhụi, nên hắn vô dụng với phụ nữ.
[FN#103] Ả Rập. “Khara,” từ thấp nhất có thể: Yá Khara! là lời sỉ nhục thông dụng nhất, cũng được phụ nữ đoan trang dùng. Tôi từng nghe một người nói nó với con trai bà.
[FN#104] Ả Rập. “Kámah,” một đơn vị chiều dài, một sải, cũng gọi là “Bá'a.” Cả hai đều bị bỏ sót trong quyển sách đáng buồn vì hời hợt kia, Lane's Modern Egyptians, App. B.
[FN#105] Tên các nữ nô của nàng, nghĩa là (theo thứ tự),
Hoa Vườn, Bình Minh (hay Xinh Đẹp), Cây Ngọc Trai (P. N. của
vợ Saladin), Ánh Sáng của (đúng) Hướng, Sao Mai,
Dâm Dật (= Shahwah, tôi cho đây là lời đùa), Lạc Thú,
Mứt Ngọt và Cô Xinh.
[FN#106] Cách xử lý tình địch này rất phổ biến trong Harem. Nhưng nó có khó khăn và nhìn chung sông được (và vẫn được) ưa chuộng hơn.
[FN#107] Người phương Đông không thích gì hơn uống rượu ở một nơi mờ tối u ám: ánh sáng rực rỡ nhất dường như tăng “khẩu vị uống” của chàng.
[FN#108] Chàng không ngủ với nàng vì chàng nghi có một bí mật cung đình nào đó gợi ý sự thận trọng, nàng cũng có lý do của mình.
[FN#109] Điều này ở Ai Cập gọi là “Allah.” (Lane M. E. chaps. i.)
[FN#110] Nó hẳn là một dải rộng như ruy-băng trên đó các chữ có thể được thêu.
[FN#111] Trong tiếng Ả Rập “chàng kêu.” Những chuyện nhỏ “Có, Có! và Không! Không!” này rất phổ biến trong người Ả Rập.
[FN#112] Ả Rập. “Maragha” nghĩa đen là cọ mặt lên chúng như chó nịnh chủ. Ghanim là một người yêu “mềm yếu” khác, một nhân vật ưa thích trong truyện Ả Rập; và để tương phản, cô gái đủ quyền uy.
[FN#113] Vì các Khalif Abbaside hậu duệ từ Al-Abbas, chú ruột Mohammed, văn bản nghĩa rõ hơn là “Ôi hậu duệ của chú Đấng Tiên tri!”
[FN#114] Phần khủng khiếp nhất của một belle passion ở phương Đông là người yêu không cho phép tình nhân rời mặt một giờ.
[FN#115] Khó giữ được những lối chơi chữ khốn khổ này. Trong nguyên bản có “Ôi chồi non (hay cành) của bụi capparis (aráki) đã bị tỉa hết lá và quả (tujna, tức là quả của ngươi, màng trinh, đã bị hái trước rồi, không phải bởi ta) Ta thấy ngươi (aráka) đang phạm tội với ta (tajní).
[FN#116] Dường như người viết quên rằng cờ và y phục Abbaside màu đen, ban đầu là dấu tang cho Imám Ibrahim bin Mohammed bị Khalif Ommiade Al-Marwan giết. Tang phục Ai Cập hiện đại, giống Ba Tư cổ, là màu chàm xanh đậm nhất; nhưng, như đã ghi trước, tập tục ấy không hề phổ quát.
[FN#117] Koran, chương iv. Ở phương Đông cũng như nơi khác, Quỷ trích Kinh Thánh.
[FN#118] Một người hầu trở về từ chuyến đi tỏ lòng kính trọng đúng mực với chủ bằng cách xuất hiện trước mặt ông trong bộ đồ đi đường chưa lau rửa.
[FN#119] Tên thứ nhất nghĩa là “Mây,” tên thứ hai “Nhành Liễu,” từ “Bán” hay “Khiláf” cây liễu Ai Cập (Salix Ægyptiaca Linn.) thường gọi là “Safsáf.” Forskal cho rằng “Bán” là một giống khác.
[FN#120] Ả Rập. “Ta'ám,” có nhiều nghĩa: trong lời nói hiện đại nó chỉ kê, hạt holcus.
[FN#121] Tức là “Ta biết rõ cách xử trí hắn.”
[FN#122] Cây Bút (tên chương Koran Ixviii.) và
Phiến Bảng Được Giữ Gìn (đã giải thích trước).
[FN#123] Những vụ cướp bóc này được tập tục cho phép. Chỉ vài năm trước, khi lính Thổ nổi loạn vì lương bị nợ (thường chậm nhiều năm), Pasha cai trị sẽ phóng hỏa thị trấn và cho phép binh lính cướp những gì họ muốn trong một thời gian định sẵn. Rochet (tự xưng D'Héricourt) mô tả rất buồn cười mưu mẹo này của Thống đốc Thổ ở Al-Hodaydah trong thế hệ trước. (Pilgrimage iii. 381.)
[FN#124] Một mộ tượng trưng khác, công dụng của nó là cho phụ nữ cơ hội tận hưởng thú tiêu khiển yêu thích: khóc lóc và than vãn cùng nhau.
[FN#125] Chỗ trọ của lữ khách nghèo, như nhà nguyện ở Iceland dành cho người giàu. Tôi thường hưởng lợi từ giáo đường, nhưng theo lệ nó khó chịu, vì chiếu không chỉ rách mà còn quá đông dân cư. Juvenal dường như ám chỉ Giáo đường Do Thái được dùng tương tự: “in quâ te quæro proseuchâ”? (iii. 296) và trong Công vụ iii. chúng ta thấy người què, mù và bất lực ở hiên Đền thờ.
[FN#126] Loại sâu bọ bẩn thỉu này được cho là sinh ra từ mồ hôi. Đó là một kỷ nguyên trong đời lữ khách văn minh khi chàng bắt được con rận đầu tiên.
[FN#127] Nông dân Hồi giáo là người tử tế và sẽ hy sinh nhiều cho một người lạ ốm đau, dù thuộc tín ngưỡng khác. Đó là một kiểu “pundonor” trong làng.
[FN#128] Sự đối xử như vậy với phụ nữ vô tội đã quá phổ biến dưới thời Khalifate và ở châu Âu đương thời.
[FN#129] Câu này cũng có thể nghĩa là, “Và Trời sẽ thưởng cho ngươi,” nhưng người chăn lạc đà thường không nhận hối phiếu trả trong tương lai.
[FN#130] Chàng cảm thấy mình bị đối xử như một xác chết.
[FN#131] Sự căm ghét Bệnh viện này trải khắp Nam
Âu, ngay cả ở những nơi nó không chính đáng.
[FN#132] Tầm quan trọng của chiếc gối (wisádah hay makhaddah) đối với người bệnh thường được nhận ra trong The Nights. “Chàng tìm đến gối” = lên giường bệnh.
[FN#133] Tức là để các bậc đáng kính, những người không làm việc cầu khẩn và phục vụ ấy miễn phí, có thể cầu nguyện cho chàng.
[FN#134] Người đọc sẽ nhận thấy trong The Nights việc thường nhắc đến các tiên báo thể chất này, quen thuộc với các nhà thôi miên.
[FN#135] Tên Ba Tư của hành tinh Saturn ở Tầng Trời Thứ Bảy. Ả Rập. “Zuhal”; Kiun hay Chiun trong Amos vi. 26.
[FN#136] Tức là “Tha lỗi cho tôi nếu tôi làm tổn thương ngươi”— một thành ngữ dân gian.
[FN#137] Một “sự quyến rũ,” một kẻ làm mê. Nghĩa kép đã được ghi trước đây.
[FN#138] Câu chuyện hiệp sĩ này, dài nhất trong The Nights (xliv.— cxlv.), khoảng một phần tám toàn bộ, không xuất hiện trong bản Bres. Edit. Lane, người thấy nó “đáng phản đối,” rút nó xuống còn hai đoạn, Azíz-cum-Azízah và Táj al-Mulúk. Mặt khác, nó đã được chuyển thành một tập (8vo, tr. 240) “Scharkan, Conte Arabe,” v.v. Traduit par M. Asselan Riche, v.v. Paris: Dondey-Dupré. 1829. Nó có những chỗ lê thê và đôi khi đủ dài dòng; nhưng thú vị như một so sánh giữa tinh thần hiệp sĩ của Al-Islam và hiệp sĩ lang thang châu Âu. Dù mọi nhân vật đều hư cấu, thời kỳ rõ ràng thuộc những ngày đầu Thập tự chinh. Cæsarea, thủ đô thứ hai của Palestine, bị chiếm dưới Khalifate của Omar (A.H. 19) rồi sau đó được thu hồi, được củng cố năm A.H. 353 = 963 làm căn cứ chống người Ả Rập bởi Hoàng đế Phocas, tiếng Ả Rập “Nakfúr” tức Nicephorus. Năm A.H. 498=1104, tàu Thập tự chinh gây nhiều hại bằng cướp bóc tàu buôn giữa Ai Cập và Syria, điều có ám chỉ trong truyện tình này. Nhưng người kể chưa quyết định hẳn mình đang nói về Cæsarea nào, và M. Riche bảo chúng ta rằng Césarée là một “ville de la Mauritanie, en Afrique” (tr. 20).
[FN#139] Vị Khalif Ommiade thứ năm trị vì A.H. 65-86 = 685-704.
[FN#140] Điều này không chỉ có nghĩa là không ai an toàn trước cơn giận của ông: hay có thể tới gần ông trong sức nóng trận chiến: nó là một hồi tưởng về “Vua Kulayb” đầy quyền uy, người thiết lập luật săn thú trong lãnh thổ của mình và không cho ai đến gần lửa trại của ông. Hơn nữa, Jinn thắp lửa để dụ lữ khách; nhưng nếu nạn nhân đủ táo bạo đối mặt, hắn mời chàng tận dụng hơi ấm.
[FN#141] Trung Hoa.
[FN#142] Jaxartes và Bactrus (các tên được dùng rất lỏng).
[FN#143] Đầy đủ là “Sharrun kána” tức là một điều ác (Sharr) đã đến thành hữu thể (kána), tức là “tai họa cho kẻ thù,” một tên ngoại giáo và hiệp sĩ. Anh hùng của Truyện tình “Al-Dalhamah” được mô tả như một quả bầu đắng (colocynth), một con rắn lục, một tai họa.
[FN#144] Đây là luật Hồi giáo (Koran chaps. iv. mượn nguyên thân từ Talmud) không cho phép một người đàn ông cưới một vợ nếu hắn không thể thỏa mãn nàng về mặt xác thịt. Hơn nữa, hắn phải phân phối vinh dự của mình ngang nhau và mỗi người vợ có quyền đối với đêm của nàng trừ khi chính nàng từ bỏ nó. Điều này đúng ngay cả với các phối ngẫu của Đấng Tiên tri; và tiểu sử của ông ghi nhận nhiều dịp các bà vợ nhường quyền của họ cho nhau. M. Riche tử tế cung cấp cho Vua la piquante francaise (tr. 15).
[FN#145] Vì vậy giáo đường nổi tiếng ở Stambul, lừng danh là nhà thờ lớn nhất thế giới, được người Hy Lạp biết là “Agia (phát âm Aya) Sophia” và người Hồi giáo gọi “Aya Sofíyeh” (Sự Khôn Ngoan Thánh) tức là Logos hay Ngôi Hai của Ba Ngôi (không phải một Nữ Thánh). Việc gửi một cô gái Cơ Đốc làm quà cho một người Hồi giáo, vào thời nay, sẽ bị xem là cực kỳ tai tiếng. Nhưng nó đã được làm bởi Mukaukis hay Thống đốc Coptic của Ai Cập (dưới Heraclius), người dĩ nhiên ghét người Hy Lạp. Nhân vật đáng kính này tặng hai thiếu nữ cho Mohammed; một tên Sírín và người kia Máriyah (Maria) mà Đấng Tiên tri dành riêng cho việc sử dụng đặc biệt của mình và nơi ở của nàng vẫn còn được chỉ ở Al-Medinah. Rev. Doctor Badger (loc. cit. tr. 972) đưa bản dịch một bức thư của Mohammed gửi Mukaukis này, viết bằng chữ Cufic ( ? ?) và đóng dấu “Mohammed, Sứ đồ của Allah.” Bạn tôi dường như tin rằng đó là bản gốc, nhưng về đề tài này ý kiến sẽ khác nhau. Tuy nhiên, nó cực kỳ thú vị, bắt đầu bằng “Bismillah,” v.v., và kết thúc (trước chữ ký) bằng một trích dẫn từ Koran (iii. 57); và nó có thể được giả định là công thức gửi đến các quân vương ngoại quốc bởi một Đấng Tiên tri đã thực chất trở thành “Vua của Ả Rập.”
[FN#146] Lời cầu nguyện trước “hành vi giống loài,” như tôi đã nói, vừa Hồi giáo vừa Cơ Đốc.
[FN#147] Exodus i. 16, được Lane trích (M. E., chaps. xxvii.).
Torrens trong Notes trích “Moon-calf” của Drayton:—
Hãy mang ghế sinh ra—không, cứ để nó đó;
Nàng đã lớn vượt quá mọi vòng đo,
Một phương cách mới nào khác hẳn phải giúp ta,
Nếu không nàng chẳng bao giờ có thể sinh con.
Đó là “ghế rên rỉ” trong Poor Robin's Almanac (1676), và ta thấy nó được nhắc đến ở Boccaccio, chiếc sedile cổ điển mà theo những kẻ giễu cợt đã tạo thành ngai giáo hoàng (một ghế curule) từ thời Nữ Giáo hoàng Joan, khi người ta cho là nên để một trong các Hồng y xác định rằng Đức Thánh Cha có đủ mọi công cụ của nam tính. Chiếc “Kursí al-wiládah” này có hình dạng đặc biệt, trên đó sản phụ được đặt ngồi. Có thể viết một tiểu luận hết sức thú vị về các tư thế khác nhau được ưa chuộng khi sinh nở, chẳng hạn người Ireland hoang dã vẫn đứng bằng cả bốn chi, như những “động vật thấp kém” gọi là vậy. Trong giới Hồi giáo ở Waday, v.v., một sợi dây được treo từ nóc lều, và người đàn bà đang chuyển dạ nắm lấy nó, đứng dạng chân cho tới khi bà đỡ đón lấy đứa trẻ.
[FN#148] Một số nhà Đông phương học gọi tiếng réo ngân ấy là “lullilooing,” được tạo ra bằng cách nâng giọng lên tới âm vực cao nhất rồi bẻ gãy nó bằng một chuỗi chạm rất nhanh của đầu lưỡi vào vòm miệng, những người khác gọi là “Ziraleet” và Zagaleet, và một lữ khách bảo chúng ta rằng nó bắt đầu tại lễ cưới của Isaac và Rebecca (!). Người Ả Rập gọi nó theo lối kinh điển là “Tahlíl” và theo lối thông tục là “Zaghrutah” (số nhiều Zaghárit), còn người Ba Tư gọi là “Kil.” Sau cùng trong Don Quixote ta có “Lelilies,” tiếng hô xung trận của người Moor (Duffield iii. 289). Tiến sĩ Buchanan ví nó với một con rắn phát ra âm thanh người, nhưng vị giáo sĩ tốt lành ấy nghe nó tại lễ hội Jagannath. (Pilgrimage iii. 197 )
[FN#149] Tức là “Ánh Sáng của Chốn Ấy” (hay vương quốc) và “Niềm Vui của
Thời Đại.”
[FN#150] Hoàn toàn phi lý khi trao cái tên Ba Tư anh hùng cổ Afridun hay Furaydun, kẻ hủy diệt Zohák hay Zahhák, cho một người Hy Lạp, nhưng những sai niên đại như thế là đặc trưng của The Nights và hiển nhiên được cố ý đưa vào. Xem Boccaccio, ix. 9.
[FN#151] Ả Rập. “Yunán” nghĩa đen là Ionia, được áp cho toàn bộ Hy Lạp, cả hải đảo lẫn lục địa, đặc biệt là Hy Lạp cổ.
[FN#152] Năm 1870, tại Sidon, tôi thấy một phát hiện gồm vài trăm đồng vàng
“Philippi” và “Alexanders.”
[FN#153] M. Riche có (tr. 21), “Ces talismans travaillés par le ciseau du célèbre Califaziri,” thêm trong chú thích, “Je pense que c'est un sculpteur Arabe.”
[FN#154] Lối nói vòng này, chứa một phủ định dường như vô dụng đối với chúng ta, lại thêm sức nhấn mạnh trong tiếng Ả Rập.
[FN#155] Mẩu thông tin địa lý này không có trong bản Bull
Edit.
[FN#156] Trong tiếng Ba Tư = một cái răng, từ dân gian.
[FN#157] Động tác sơ bộ này, trong tiếng Ba Tư gọi là Nakl-iiSafar, thường được nhắc đến. Cũng vậy, các tu sĩ Franciscan ở California, khi lên đường cho một hành trình dài qua sa mạc, đi ba vòng quanh tu viện rồi dựng lều ngủ đêm dưới chân tường nó.
[FN#158] Trong tiếng Ả Rập. “Khazinah” hay “Khaznah” nghĩa đen là kho báu, tượng trưng 1.000 “Kís” hay túi tiền (mỗi túi = £5). Tổng số trong văn bản là 7.000 túi X 5 = £35.000.
[FN#159] Lữ khách thường thích những địa điểm như vậy vì chúng được che gió, và đất mềm để dựng lều; nhưng nhiều người đã gặp nạn vì những dòng lũ bất ngờ sau mưa.
[FN#160] Ả Rập “Ghábah” không phải rừng theo nghĩa của chúng ta, mà là nơi nước lún xuống và cây cối (phần lớn là Mimosas), vốn nơi khác mọc thưa thớt, tạo thành một đám tương đối dày và tụ lại thành bụi rậm. Đây là nơi yêu thích của thú hoang vào buổi trưa nóng.
[FN#161] Vào nhiều thời kỳ khác nhau ở phương Đông, người Do Thái và Cơ Đốc nhân bị buộc mặc y phục đặc trưng, nhất là Zunnár hay dây đai.
[FN#162] Mô tả này mượn từ Tu viện Coptic, nơi luôn có một tháp canh hay thành giữ bên trong. Tu viện cổ nhất thế giới là Mar Antonios (Thánh Anthony Ẩn sĩ) không xa Suez. (Gold Mines of Midian, tr. 85.)
[FN#163] “Dawáhí,” số nhiều của Dáhiyah = một tai họa. Tước hiệu ấy nghĩa là “Bà Chúa của Những Bất Hạnh” hay Nữ vương của Tai Ương (đối với kẻ thù); và vị phu nhân khả kính, như sẽ thấy, hoàn toàn xứng đáng với tên mình, vốn được phát âm là Zát al-Dawáhí.
[FN#164] Ả Rập. “Kunfuz” = nhím gai hay nhím lông.
[FN#165] Những hoa mỹ lời nói này chỉ là cách thân mật, không phải lời sỉ nhục. Trong những xã hội nơi nam nữ bị tách biệt, lời nói trở nên hết sức tự do. “Étourdie que vous êtes,” M. Riche nói, làm dịu văn bản.
[FN#166] Ả Rập. “Zirt,” một từ thấp. Dạng tối thượng “Zarrát” (xì hơi nhất) hay, “Abu Zirt” (Cha của những cú xì hơi) là một thuật ngữ khôi hài trong đám Fellah ăn đậu và là một lời nhục mạ chết người giữa người Badawi (Đêm ccccx.). Người sau thích từ Taggáa hơn (Pilgrimage iii. 84). Chúng ta cũng không khinh từ này trong farthingale = pet en air.
[FN#167] Ả Rập. “đá” hắn, tức là bằng góc nhọn của bàn đạp hình xẻng. Tôi tránh những cách diễn đạt như “thúc cựa” và “chích qua đồng bằng,” vì dễ gây ý niệm sai.
[FN#168] Ả Rập. “Allaho Akbar!” khẩu hiệu Hồi giáo cổ điển.
[FN#169] Ngựa Ả Rập không bao giờ được dạy nhảy, nên nàng hoàn toàn an toàn ở bờ bên kia một con suối rộng chín feet.
[FN#170] “Batrík” (thường. Bitrík) = patricius, một tước hiệu trao cho
các hiệp sĩ Cơ Đốc chỉ huy mười nghìn người; Tarkhan (hay
Nobb) đứng đầu bốn nghìn, và Kaumas (Ả Rập. Káid) hai
trăm. Không nên nhầm nó với Batrak (hay
Batrik) = patriarcha. (Lane's Lex.)
[FN#171] Ả Rập. “Kázi al-Kuzát,” một loại Đại Pháp quan hay Chưởng ấn. Chức này được lập dưới thời Harun al-Rashid, người đặt danh xưng ấy cho Abú Yúsuf Ya'akub al-Ansári: vì thế ám chỉ này sai niên đại. Cũng vị Khalif ấy đã khiến các Olema mặc y phục như họ vẫn mặc.
[FN#172] Ám chỉ này thuộc Koran: “Hỡi loài người, nếu các ngươi nghi ngờ về sự phục sinh, hãy xét rằng Người trước hết tạo các ngươi từ bụi đất (Adam); sau đó từ tinh giống” (chaps. xxii.). Nhưng các ý niệm sinh lý học của Koran rất kỳ lạ. Nó cho rằng Mani hay tinh dịch nam ở trong thắt lưng, còn của phụ nữ ở xương ngực (chaps Ixxxvi.); rằng tinh giống pha trộn của cả hai (chaps. Ixxvi.) thụ tinh cho buồng trứng và đứa trẻ được nuôi qua rốn bằng máu kinh, do đó kinh nguyệt ngừng lại. Barzoi (Kalilah and Dímnah) nói:— “Tinh giống của đàn ông, rơi vào tử cung người đàn bà, được trộn với tinh giống và máu của nàng: khi nó đặc lại và đông vón, Tinh thần lay động nó và nó xoay trở như phô-mai lỏng; rồi nó rắn lại, các động mạch được hình thành, các chi được dựng nên và các khớp được phân biệt. Nếu đứa bé là nam, mặt nó đặt hướng về lưng mẹ; nếu là nữ, hướng về bụng mẹ.” (Tr. 262, bản dịch của Mr. L G.N. Keith-Falconer.) Nhưng có một tiền hiện kỳ lạ của thuyết tinh trùng. Ta đọc (Koran chaps. vii.), “Chúa của ngươi rút hậu duệ của họ từ thắt lưng các con trai của Adam;” và các nhà chú giải nói rằng Allah vuốt lưng Adam và rút từ thắt lưng ông mọi hậu duệ sẽ từng có của ông, dưới hình dạng những con kiến nhỏ; những kẻ ấy thú nhận sự lệ thuộc của họ vào Thượng Đế rồi được thả về nơi họ đã đến.” Từ hư cấu này có vẻ (Sale nói) học thuyết tiền tồn không xa lạ với người Mohammed, và có chút tương hợp giữa nó với thuyết hiện đại generatio ex animalculis in semine marium. Các thi sĩ gọi điều này là Yaum-i-Alast = Ngày Ta-không-phải (-Chúa của các ngươi ư)? mà Sir William Jones dịch một cách bất hạnh nhất là “Art thou not with thy Lord ?” (Alasta bi Rabbi-kum); và họ tạo ra một thị kiến huy hoàng về các linh hồn chưa nhập thể xuất hiện trong vô số triệu trước Đấng Tạo Hóa của họ.
[FN#173] Động tác mở đầu thông thường của một trận vật.
[FN#174] Trong vật phương Đông, điều này tính là một cú ngã công bằng. Cũng vậy Ajax ngã ngửa với Ulysses trên ngực. (Iliad xxxii., 700, v.v.)
[FN#175] Vì vậy cắn được cho phép giữa người Hy Lạp trong ἀνακλινοπάλη, cuộc vật cuối cùng trên mặt đất.
[FN#176] Được cho là tên các đô vật nổi tiếng. “Kayim” (không phải El-Kim như Torrens ghi) là thuật ngữ nay áp cho một người diễn trò hay “giáo sư” ảo thuật, người mua vui cho dân chúng ngoài phố bằng những trò dễ. (Lane, M. E., chaps. xx.)
[FN#177] Nghĩa đen “cười vào mặt hắn,” không có nghĩa khó chịu như trong tiếng Anh.
[FN#178] Ả Rập. “Abu riyáh” = một loại đồ chơi trẻ con. Nó là “Ρόμβος” của người Hy Lạp, “bull-roarer” của chúng ta, nổi tiếng ở Úc và nhiều vùng châu Phi.
[FN#179] Người của vùng phía nam Caspian gọi là “Biển của Daylam.” Nó có một lịch sử dài; về điều này xem D'Herbelot, mục “Dilem.”
[FN#180] Các tu viện Coptic ở Ai Cập vẫn ưa dùng những cầu kéo này bắc qua hào tháp giữ.
[FN#181] Koran iv., xxii. v.v., nghĩa là hợp pháp cưới phụ nữ bị bắt trong chiến tranh sau khi thanh tẩy cần thiết, dù chồng họ còn sống. Điều này không được phép với một phụ nữ tự do là Tín đồ Chân chính. Tôi đã ghi rằng nữ nô tỳ thiếp duy nhất được nhắc trong Koran là những “tù nhân do tay phải sở hữu” này.
[FN#182] Người đàn bà kiểu Amazon là nhân vật được ưa chuộng trong dân gian và là điểm tô cho thi ca từ Iliad đến thời hiện đại của chúng ta. Những nữ anh hùng như vậy, dường như xa lạ với người Ả Rập ngoại giáo, lại phổ biến trong các thời kỳ đầu của Al-Islam như Ockley và Gibbon chứng minh, và rằng giống ấy chưa tuyệt chủng có thể thấy trong Pilgrimage của tôi (iii. 55), nơi em gái Ibn Rumi quyết tâm báo thù máu cho anh mình.
[FN#183] Và Solomon nói, “Hỡi các quý nhân, ai trong các ngươi sẽ đem ngai của nàng đến cho ta?” Một thần linh khủng khiếp (tức một Ifrit của loài Jinn tên Dhakwan hay Sakhr khét tiếng) nói, “Tôi sẽ đem nó tới cho ngài trước khi ngài đứng dậy khỏi ghế (xử án); vì tôi có khả năng làm việc ấy, và có thể tin cậy” (Koran, xxvii. 38-39). Balkís hay Bilkís (Durrat al-Ghawwás nói) con gái Hozád bin Sharhabíl, thứ hai mươi hai trong danh sách các người cai trị Al-Yaman, theo một số người đã giết chồng mình, và trở thành, do sự vô tri Hồi giáo, “Nữ vương Sheba” trong Kinh Thánh. Người Abyssinia chuyển nàng từ Saba Ả Rập sang Ethiopia và biến nàng thành mẹ của Menelek bởi Solomon, vị quân chủ đầu tiên của họ; như vậy họ đòi cho hoàng gia của mình một niên đại cổ xưa mà so với nó mọi nhà đang trị vì trên thế giới đều là chuyện hôm qua. Niên đại của Tabábi'ah hay Tobbas chứng minh rằng Bilkis lịch sử trị vì Al-Yaman vào đầu kỷ nguyên Cơ Đốc.
[FN#184] Ả Rập. “Fass,” fiss hay fuss; viên ngọc gắn trong nhẫn; cũng áp cho một gò tròn en cabochon. Trong The Nights nó được dùng để chỉ “một viên ngọc đẹp.”
[FN#185] Sự nổi bật của các cơ mông này luôn được nhấn mạnh, vì được cho là hứa hẹn tốt ở bạn giường. Ở Somali-land, nơi người dân có chút đặc điểm steatopygia, một thanh niên giàu có, đủ sức hưởng xa xỉ ấy, sẽ cho các cô gái xếp hàng rồi chọn làm vợ cô nào nhô ra phía sau xa nhất.
[FN#186] “Bull” chỉ một nửa là của tôi.
[FN#187] Một thành ngữ Ả Rập được ưa chuộng, “mắt nóng” là mắt đầy lệ.
[FN#188] Tức là “San hô,” cành san hô, một tên ưa chuộng cho nữ nô, nhất là người da đen. Nó là “Morgiana” cổ hơn. Tôi không thấy vì sao Preston trong “Makamah (Séance) of Singar” của Al-Haríni lại dịch là ngọc trai, vì Golius cho “ngọc trai nhỏ,” trong khi rõ ràng nó là “san hô.” Richardson (Dissert. xlviii.) dường như có lý với tôi khi tìm thấy Pari (tiên nữ) Marjan của lịch sử Ba Tư anh hùng phản chiếu trong Fairy Morgain, người đã đưa King Arthur đi sau trận Camelon.
[FN#189] Ả Rập. “‘Ud Jalaki” = Jalak hay Jalik là một tên thơ và gần như lỗi thời của Damascus.
[FN#190] Suối trong Thiên Đường, nước của nó sẽ được uống với rượu “tinh khiết” pha và niêm phong bằng xạ hương (thay đất sét). Nó được gọi vậy vì đến từ “Sanam” (Sanima, là cao) đỉnh hay rặng cao nhất của Thiên Đường Hồi giáo (Koran lv. 78 và lxxxiii. 27). Ông Rodwell nói “nó được dẫn tới những phòng cao nhất trong các Lầu đình Thiên Đường.” (?)
[FN#191] Tính khí “cuồng loạn” này không hiếm ngay cả giữa những người Ả Rập dũng cảm nhất.
[FN#192] Một ý tưởng rõ ràng bắt nguồn từ Æolipyla (olla animatoria), phát minh của Hero Alexandrinus, cho thấy người Ai Cập cổ có thể ứng dụng động lực của hơi nước.
[FN#193] Kuthayyir ibn Abi Jumah, một thi sĩ và Ráwí hay Người kể chuyện lừng danh, được Ibn Khallikan nhắc đến; ông sống ở Al-Medinah và hát những nét quyến rũ của một nàng Azzah, do đó biệt hiệu Sáhib (người yêu của) Azzah. Vì ông mất năm A. H. 105 (=726), sự hiện diện của ông ở đây là một sai niên đại thô thiển; Sharrkan tưởng tượng nở rộ trước Khalifate của Abd al-Malik bin Marwán A. H. 65-86.
[FN#194] Jamíl bin Ma'amar, một thi sĩ và người yêu cùng thời với
Al-Kuthayrir.
[FN#195] Ả Rập. “Tafazzal,” một từ dùng thường xuyên trong trò chuyện = “xin làm ơn cho tôi,” v.v.
[FN#196] Từ này có một lịch sử dài. Từ Hy Lạp στίμμι hay στίβι là Latin stibium; trong khi Low Latin “antimonium” và tiếng Tây Ban Nha Althimod là phép đảo âm của Al-Ithmid. Các từ điển định nghĩa chất này là một loại đá từ đó antimony được điều chế, nhưng người Ả Rập hiểu là một khoáng chất bán thần thoại màu vàng, đi vào các mạch mắt và cho chúng thị lực như linh miêu. Nàng Anz nổi tiếng, biệt danh Zarká (mắt xanh) của Yamámah (Tỉnh) dùng nó; và theo một số người, phát minh Kohl. Khi bộ lạc (tiền sử) Jadis của nàng đã tiêu diệt toàn bộ giống đối địch Tasm, trừ Ribáh ibn Murrah; kẻ sống sót duy nhất chạy tới Tobba của Al-Yaman, người phái quân báo thù cho hắn. Vua ra lệnh cho người Himyarite chặt cành cây và dùng chúng làm màn che (lại Birnam wood). Zarká từ Utum, hay tháp lột, của nàng thấy quân đội cách ba chặng đường và kêu, “Ôi dân chúng, hoặc cây cối hoặc Himyar đang đến với các ngươi!” thêm vào, bằng vần Rajaz:—
Ta thề bởi Allah rằng cây cối đang bò tới, hoặc Himyar mang thứ gì đó mà hắn kéo theo!
Rồi nàng thấy một người đàn ông đang vá dép. Nhưng Jadis không tin; Cassandra bị giết và, khi mắt nàng bị khoét, các mạch được thấy đầy Ithmid. Do đó Al-Mutanabbi hát:
“Thị lực sắc hơn Zarká của Jau” (Yamámah).
Xem C. de Perceval i. 101; Arab. Prov. i. 192; và Chenery tr. 381.
(The Assemblies of Al-Hariri; London, Williams and Norgate, 1867).
Tôi đã hỏi han nhiều về bản chất thật của Ithmid và
không học được gì: ở Thượng Nile từ ấy = Kohl.
[FN#197] Màu thông thường của quân cờ ở phương Đông, nơi trò chơi thường được chơi trên vải hơn là bàn.
[FN#198] Ả Rập. “Al-fil,” con voi = tiếng Pháp fol hay fou và bishop của chúng ta. Tôi đã dẫn “elephant” từ Píl (Ba Tư cổ, Phạn. Pilu) và Ả Rập. Fil, với mạo từ Al-Fil, từ đó Hy Lạp ἐλέφας với hậu tố —as dành cho từ ngoại lai như Obod-as (Al Ubayd), Aretas (Al-Háris), v.v. Ông Isaac Taylor (The Alphabet i. 169), giữ điều vô lý cũ về “eleph-ant hay con thú giống bò (!) của châu Phi.” Giáo sư Sayce tìm thấy từ al-ab (hai ký tự riêng biệt) ở dòng 3, phía trên hình một con voi (Ấn Độ), trên tháp bia đen của Nimrod Mound, và gợi ý một nguồn gốc Assyria.
[FN#199] Ả Rập. “Shaukat” cũng có thể nghĩa là “niềm kiêu hãnh” hay “trụ cột” (của quân đội).
[FN#200] Nghĩa đen “đánh hắn vào các gân cổ.” Đây là nhát chém vai nổi tiếng (Tawash shuh), cùng với nhát chém chân (Kalam), đã tạo thành, và vẫn tạo thành, phần chính của lối tấn công phương Đông bằng gươm.
[FN#201] Ả Rập. “Dirás.” Người phương Đông không đập lúa bằng néo. Vật liệu được rải trên một sân tròn, san nhẵn bằng bùn khô ngoài trời và được tuốt bằng các dụng cụ khác nhau. Ở Ai Cập, loại ưa chuộng là một máy giống ghế gọi là “Norag,” chạy trên các tấm sắt và do bò đực hay bò cái kéo qua ngũ cốc. Tuy nhiên, nói chung người Hồi giáo thích Τρίβολον cổ điển cũ hơn, Tribulum của Virgil và Varro, một xe trượt bằng gỗ hình dép, gắn dưới đế bằng đinh sắt đầu lớn, hay mảnh sắc của đá lửa hoặc basalt. Nhờ vậy tạo ra “Tibn” hay rơm, thứ cỏ khô phổ quát của phương Đông, mà máy móc của chúng ta không thể bắt chước.
[FN#202] Những con số này có vẻ bị phóng đại thô thiển, nhưng chúng có thể xảy ra trong thời gươm và giáp: tại trận Saffayn, Khalif Ali được nói là đã đốn hạ năm trăm hai mươi ba người trong một đêm.
[FN#203] Ả Rập. “Bika'á”: do đó “Buka'ah” hay Cœlesyria.
[FN#204] Richardson trong từ điển xuất sắc của ông (chú thích 103), mà thói làm bộ hiện đại thấy là “phi khoa học,” dẫn một cách tuyệt vời từ này từ Ả Rập. “Khattáf,” kẻ chụp giật (tức phụ nữ), kẻ cưỡng đoạt. Nó rõ ràng là một biến dạng của “captivus” qua tiếng Ý và Pháp.
[FN#205] Những cuộc viếng thăm định kỳ và giống hội chợ tới các tu viện vẫn là tập tục; đặc biệt trong giới Cơ Đốc nhân Damascus.
[FN#206] Vì khi ấy long não chưa được biết đến.
[FN#207] “Kẻ cướp xác tàu” được biết khắp thế giới; và không chỉ người man rợ cho rằng tàu bị đẩy vào bờ trở thành tài sản của bờ.
[FN#208] Ả Rập. “Jokh”: nó không phải từ trong từ điển, nhưng là thuật ngữ duy nhất được dùng phổ biến cho dạ Âu châu.
[FN#209] Ngôi thứ hai số nhiều được dùng vì người viết muốn lôi các thần dân của người nhận thư vào việc này.
[FN#210] Phần này của cụm từ, có thể dường như không cần thiết với người châu Âu, hoàn toàn dễ hiểu với mọi nhà Đông phương học. Bạn có thể đọc nhiều bức thư phương Đông mà không hiểu nó. So sánh Boccacoo iv. 1.
[FN#211] Tức là chàng hết sức kích động.
[FN#212] Trong văn bản “Li-ajal a al-Taudi'a,” với mục đích farewelling, một lối Ai Cập hạ cấp; nhấn mạnh là “Kalám wáti.” (Pilgrimage iii. 330.)
[FN#213] Trong bản Mac. Edit. Sharrkan nói, một lỗi của người chép.
[FN#214] Farsakh (Đức. Stunde), một đơn vị thời gian hơn là khoảng cách, là một giờ đi đường hay tương đương, một league, một meile = ba dặm Anh stat. Từ này vẫn dùng ở Ba Tư, quê thật của nó, nhưng không ở nơi khác. Nó rất cổ, đã được Herodotus xác định như một đơn vị đo đường thẳng (ii. 5 và 6 ; v. 53), người tính nó là 30 furlong (= chiều dài luống cày, 8 trong một dặm stat.). Strabo (xi.) cho nó dao động từ 40 đến 60 stades (mỗi = 606 feet 9 inches), và ngay nay nó thay đổi giữa 1.500 đến 6.000 yards. Captain Francklin (Tour to Persia) ước tính nó = khoảng bốn dặm. (Pilgrimage ii. 113.)
[FN#215] Ả Rập. “Ashhab.” Tên màu sắc ít ỏi giữa các dân tộc bán văn minh, nhưng ở Ả Rập có một từ riêng cho mọi sắc thái lông ngựa.
[FN#216] Nàng đã nói với chàng “Ngươi bị đánh bại trong mọi sự!”
[FN#217] Cho thấy nàng vẫn còn là người Cơ Đốc.
[FN#218] Đây không phải tình cảm Badawi: các bậc honoratioren giữa dân hoang dã sẽ khinh trò gian như vậy; nhưng giữa người Ả Rập định cư, danh dự giữa nam và nữ không được biết đến và kiểu “hocussing” như vậy sẽ được xem là hoàn toàn công bằng.
[FN#219] Bàn rượu ngày nay phần lớn là một khay sơn mài với ly và chai, đĩa nhỏ đựng dưa muối và trái cây và có lẽ một bó hoa cùng thảo mộc thơm. Thời Khalifate, “dịch vụ rượu” ở quy mô lớn hơn.
[FN#220] Ở đây “Bhang” (gần như một thuật ngữ chung áp cho hellebore, v.v.) có thể là hyoscyamus hay henbane. Tuy vậy có các giống Cannabis, như Dakha ở Nam Phi, có khả năng gây tác động dữ dội nhất. Tôi thấy việc dùng loại thuốc này rất quen thuộc với người da đen ở miền Nam Hoa Kỳ và Brazil, dù ít chủ nhân của họ từng nghe về nó.
[FN#221] Trong giới Hồi giáo, đây là ám chỉ tới Adam, người đầu tiên “phạm tội với chính mình,” và do đó được gọi là “Safíyu'llah,” Người Tinh Khiết của Allah. (Pilgrimage iii. 333.)
[FN#222] Nghĩa là một người giận dữ, dữ dội.
[FN#223] Ả Rập. “Inshád,” có thể nghĩa là ngâm câu thơ của người khác hay ứng tác của chính mình. Ở Ai Cập hiện đại, “Munshid” là người hát hay ngâm thơ tại các Zikr (Lane M. E. chaps. xxiv.). Ở đây các câu thơ đủ tệ để được nàng Công chúa bất hạnh ứng tác.
[FN#224] Da người da đen mang màu bụi này khi lạnh, sợ hãi, ham muốn và các cảm xúc tinh thần khác.
[FN#225] Chàng so sánh ánh nhìn của nàng với lưỡi gươm Yamani, một lieu commun của thi ca phương Đông. Vũ khí nổi tiếng trong The Nights; nhưng dao gươm tốt nhất đến từ Ba Tư, như đồ sứ từ Trung Hoa đến Sana'á. Tuy nhiên ở đây đặc biệt ám chỉ tới thanh gươm “Samsam” hay “Samsamah.” Nó thuộc về Himyarite Tobba, Amru bin Ma'ad Kurb, và rơi vào tay Harun al-Rashid. Khi Hoàng đế Hy Lạp gửi tặng ông những lưỡi gươm ưu việt qua một dũng sĩ, Khalif, trước mặt các Sứ giả, cầm “Samsam” trong tay và chém đôi những thanh kia như thể chúng là bắp cải, mà lưỡi “Samsam” không hề tổn hại.
[FN#226] Nét bi cảm này thật sự Ả Rập. Cũng vậy trong “Romance of Dalhamah” (Lane, M. E. xxiii.), hài nhi Gundubah bú ngực người mẹ đã chết của nó và Vua kêu lên, “Nếu nàng đã phạm tội này, nàng đã không cho đứa trẻ sữa của nàng sau khi chết.”
[FN#227] Ả Rập. “Sadda'l-Aktár,” một thuật ngữ đủ gợi hình để giữ trong tiếng Anh. “Sadd,” như tôi đã nói, là tường hay đê, thuật ngữ áp cho đập lớn bằng thực vật thủy sinh cản trở việc đi lại trên Thượng Nile, hoa súng và các loài khác trôi theo dòng từ hồ (Victoria) Nyanza. Tôi có thể lưu ý rằng chúng ta không còn cần dẫn nguồn hoa súng lotus được người Ai Cập cổ dùng rộng rãi và bị người hiện đại bỏ bê tới mức gần như biến mất từ Ấn Độ nữa. Mọi bồn địa Trung Phi đều đầy Nymphæa và từ đó nó tìm đường xuống thung lũng Nile.
[FN#228] Ả Rập. “Al Marhúmah”: tương đương “late lamented” của chúng ta.
[FN#229] Thường phát âm “Mahmal,” và bởi người Ai Cập cùng Thổ là “Mehmel.” Lane (M. E. xxiv.) đã vẽ chiếc kiệu nữ vương này và tôi đã phác họa cùng mô tả nó trong Pilgrimage của mình (iii. 12).
[FN#230] Về những cơn nhiệt thành tôn giáo như vậy, xem Pilgrimage của tôi (iii. 254).
[FN#231] “Irák” (Mesopotamia) nghĩa là “một xứ bằng phẳng bên bờ một con sông.”
[FN#232] “Al Kuds,” hay “Bays al-Mukaddas,” vẫn là tên dân gian của Jerusalem, từ Heb. Yerushalaim ha-Kadushah (chú thích trên shekel của Simon Maccabeus).
[FN#233] “Hãy theo tôn giáo của Abraham” Koran nói (chaps. iii. 89). Abraham, tước hiệu “Khalílu'llah,” đứng kế Mohammed về phẩm vị, trước Isa. Tôi hầu như không cần nói rằng mộ ông không ở Jerusalem, cũng như chính ngôi mộ ở Hebron chưa bao giờ được viếng thăm. Ở đây người Hồi giáo (tự xưng) được những ghen tị của châu Âu cho phép đóng và che giấu một nơi thuộc về thế giới, đặc biệt thuộc về người Do Thái và Cơ Đốc. Các mộ, nếu có tồn tại, nằm trong một vòm hay hang dưới Giáo đường.
[FN#234] Abá, hay Abáyah, thường gọi Abayah, là áo choàng bằng lông, lông dê hay lông lạc đà; quá nổi tiếng để cần mô tả.
[FN#235] Ả Rập. “Al-Wakkád,” người châm và giữ lửa nhà tắm.
[FN#236] Ả Rập. “Má al-Khaláf” (hay “Khiláf”), một thứ hương thơm ốm yếu nhưng rất được chuộng, làm từ hoa của Salix Ægyptiaca.
[FN#237] Dùng như xà phòng; giống glasswort và các loài cây khác.
[FN#238] Tức là, “Ngươi vừa mới hồi phục thôi.”
[FN#239] “Nakh” là phát tiếng ùng ục “Ikh! Ikh!” cho tới khi lạc đà quỳ xuống. Do đó không gian gọi là “Barr al-Manákhah” ở Al-Medinah (Pilgrimage i. 222, ii. 91). Có một vốn từ lạc đà chính quy giữa người Ả Rập, được cấu tạo như “Gee” (đi nào!) của chúng ta, v.v., từ những từ có ý nghĩa bị mòn đi.
[FN#240] Ả Rập. “Laza,” Tầng Địa Ngục Thứ Hai dành cho người Do Thái.
[FN#241] Từ này đã được giải thích (vol. i. 112).[xem Tập 1, chú thích 199] Nó tầm thường, không xuất hiện trong Koran, vốn dùng “người Ả Rập của Sa mạc;” “người Ả Rập cư ngụ trong lều,” v.v. (chaps. ix. và xxxiii.). “A'arábi” là từ kinh điển và nguồn gốc của “Arab” bị tranh luận. Theo Pocock (Notæ Spec. Hist. Arab.): “Có nhiều ý kiến khác nhau về cách gọi người Ả Rập; nhưng chắc chắn nhất là ý kiến rút nó từ Arabah, một phần của vùng Tehama (thuộc Al-Medinah Pilgrimage ii. 118), mà cha họ Ismail sau đó cư trú.” Tehamah (sierra caliente) là vùng ven biển Al Hijaz, Đất Thánh của người Hồi giáo; và “Arabah” của nó, một dải rất nhỏ đặt tên cho một dải rất lớn, không được nhầm lẫn, như một số người đã làm, với Wady Arabah, cửa thoát cổ của Biển Chết. Việc dẫn “Arab” từ “Ya'arab,” một người con tưởng tượng của Joktan, là thần thoại. Trong tiếng Hebrew, Arabia có thể được gọi là “Eretz Ereb” (hay “Arab”) = đất phương Tây; nhưng trong tiếng Ả Rập “Gharb” (không phải Ereb) là Occident, và người Ả Rập có trước người Hebrew lâu.
[FN#242] “Khi kẻ thù của ngươi chìa tay ra với ngươi, hãy chặt nó nếu có thể, hoặc hôn nó,” Khalif al-Mansur nói rất khôn ngoan.
[FN#243] Tartur là một kiểu khăn xếp đặc biệt người Ả Rập phương Bắc đội và được thấy trong các bản khắc cũ. Ở Ai Cập hiện đại, thuật ngữ này áp cho những mũ phớt cao hình ổ đường mà phần lớn các Dervish chính quy ưa dùng. Burckhardt (Proverbs 194 và 398) cho đó là mũ cao bằng phớt hay lông thú thuộc về kỵ binh bất quy tắc gọi là Dely hay Delaty. Ở Dar For (Darfour), “Tartur” là mũ hình nón trang trí bằng hạt và vỏ cowrie, được Manghwah hay tên hề đội, tương ứng với “Khalbús” hay “Maskharah” Ai Cập và “Sutari” Thổ. Để xem minh họa, xem Plate iv. fig. 10 của Voyage au Darfour par Mohammed El Tounsy (Người Tunisian), Paris, Duprat, 1845.
[FN#244] Thuật ngữ này gợi hình và đúng; chúng ta nói “gnaw,” không hay bằng.
[FN#245] Ở đây nghĩa là một Trưởng lão, một Thủ lĩnh, v.v.; từ này gần như đã được tự nhiên hóa trong tiếng Anh. Tôi đã ghi rằng Abraham là “Shaykh” đầu tiên.
[FN#246] Việc nhắc tới cân gợi ý bụi của Dean Swift và tiền của Gold Coast. Điều ấy được làm, như tôi đã nói, vì tiền vàng ngoài việc bị “làm hao” còn mềm và nhanh mòn.
[FN#247] Giống cái của Nájí (một người giải thoát, một vị cứu tinh) = Salvadora.
[FN#248] Điều này, như tôi đã ghi, theo lệnh Koran (chaps. iv. 88). “Khi các ngươi được chào bằng một lời chào, hãy chào người ấy bằng một lời chào tốt hơn.” Lời đáp dài hơn cho “Bình an ở cùng (hay trên) ngươi!” vẫn là tập tục phổ quát. “Salem” được mỗi dân tộc phương Đông phát âm khác nhau đến mức lữ khách tinh ý sẽ dễ dàng biến nó thành một Shibboleth.
[FN#249] Người Badawi, vừa ngu vừa gian, bắt đầu sợ rằng hắn đã bắt cóc một cô gái thuộc gia đình thế tộc.
[FN#250] Những cuộc khám xét này, vì rất khiếm nhã, thường được thực hiện trong sự riêng tư nghiêm ngặt nhất. Điểm chính là chắc chắn về trinh tiết.
[FN#251] Điều này theo luật Hồi giáo nghiêm ngặt: người mua không được nhìn chỗ kín của cô gái cho tới khi nàng là của hắn, và hắn nên xoay xở qua một bà lão.
[FN#252] Nghĩa đen là thịnh nộ; nỗi khổ bóp nghẹt; trong tiếng Hindustani nó chỉ đơn giản nghĩa là giận.
[FN#253] Tức là Trời cấm ta bị một người đàn ông xa lạ chạm vào.
[FN#254] Dùng làm nhiên liệu và các mục đích khác, như làm “doss stick.”
[FN#255] Ả Rập “Yaftah'Allah,” lời đề nghị chưa đủ. Tên vô lại tham lam như một Badaw, hơn nữa hắn là kẻ nói dối, điều người Badawi không phải.
[FN#256] Trường phái thứ ba trong bốn trường phái Thần học Hồi giáo lớn, lấy tên từ Imam al-Sháfi'í (Mohammed ibn Idrís), người mất ở Ai Cập A.H. 204, và được chôn gần Cairo. (Sale's Prel. Disc. sect. viii.)
[FN#257] Hình thức Cabbala Hồi giáo, hay triết học siêu nghiệm của người Hebrew.
[FN#258] Ả Rập. “Bakh,” từ được Đấng Sứ đồ dùng với Ali, con rể Người. Nó là Latin “Euge.”
[FN#259] Độc giả đọc để giải trí nên “bỏ qua” các fadaïses của cô gái trẻ có học vấn cao này.
[FN#260] Có ba Vua Ba Tư mang tên này (Artaxerxes)
nghĩa là “Bột và sữa,” hay “sư tử cao.” Văn bản ám chỉ
Ardeshir Babegan, gọi vậy vì ông cưới con gái
Babak người chăn cừu, người sáng lập nhà Sassanides năm A.D. 202. Xem
D,Herberot, và Dabistan.
[FN#261] Ám chỉ câu tục ngữ, “Dân theo đức tin của Vua họ,”
“Cujus regio ejus religio” v.v.
[FN#262] Abbaside thứ hai, A.H. 136-158 (=754-775).
[FN#263] Người bạn đồng hành nổi tiếng của Mohammed, kế vị Abu Bakr trong Khalifate (A.H. 13-23=634-644). Người Sunni biết ông là Al-Adil Người Công Chính, còn người Shiah căm ghét ông vì sự soán đoạt, khổ hạnh và khắc nghiệt của ông. Người ta nói ông cười một lần và khóc một lần. Tiếng cười do nhớ lại cách ông ăn các thần-bột của mình (những ngẫu tượng của bộ lạc Hanifah) trong Thời Ngu Muội. Nước mắt do nhớ lại cách ông chôn sống con gái sơ sinh của mình, khi mộ đang được đào, nàng phủi bụi khỏi tóc và râu ông. Omar chắc chắn là một người vĩ đại, nhưng ông là một trong những hình tượng ít dễ mến nhất trong lịch sử Hồi giáo, vốn không dồi dào sự dễ mến. Với tôi ông gợi nhớ một Thanh giáo, một Covenanter thuộc kiểu chua chát và hẹp hòi nhất; và tôi không thể ngạc nhiên khi người Ba Tư ghê tởm ông và mắng chửi ông trong mọi dịp.
[FN#264] Khalif khắc khổ Omar, người có roi đáng sợ hơn gươm, là tác giả câu nói nổi tiếng “Hỏi ý kiến họ (nữ giới) rồi làm trái hẳn.”
[FN#265] “Danh dự giữa những tên trộm” của chúng ta.
[FN#266] Người kế vị thứ sáu của Mohammed và sáng lập Banu Umayyah hay Ommiades, gọi là “các con trai của bà mẹ nhỏ” từ tổ mẫu danh nghĩa của họ (A.H. 41-60=661-680). Về người vợ Badawi của ông, Maysun, và lời mắng chồng của nàng, xem Pilgrimage iii. 262.
[FN#267] Shaykh của bộ lạc, hay đúng hơn dân tộc cao quý, Banu Tamím, và một nhân vật nổi bật của thời ấy, biệt danh, không ai biết vì sao, “Cha của Biển.”
[FN#268] Điều này thiết yếu cho sạch sẽ ở xứ nóng: dù tắm nhiều đến đâu, lông cơ thể và lông dưới, nếu đặt dưới kính hiển vi, sẽ cho thấy ít nhiều sordes bám vào. Lông nách được nhổ vì nếu cạo, lông mọc gây ngứa và các thuốc rụng lông được xem là có hại. Ban đầu nhổ đau, nhưng da quen dần. Pecten được cạo, hoặc không dùng hoặc sau khi dùng thuốc rụng lông, về điều này sẽ nói ngay. Lông cơ thể được loại bỏ bằng “Takhfíf”; Libán Shámi (nhũ hương Syria), một thứ nhựa linh sam nhập từ Scio, được nấu chảy và để nguội thành miếng gạc. Nó được lướt qua mặt và mọi lông tơ dính vào đó bị nhổ tận gốc (Burckhardt No. 420). Không ít người Anh-Ấn đã chấp nhận các biện pháp phòng ngừa này.
[FN#269] Vị Khalif này là người cao, trắng, đẹp trai, có vẻ uy nghi đáng sợ. Omar thường nhìn ông và nói, “Đây là Cæsar của người Ả Rập,” trong khi vợ ông gọi ông là “con lừa được vỗ béo.”
[FN#270] Câu nói được gán cho Abraham khi bị “thử thách” bởi tính khí không tử tế của Sarah; “phụ nữ được tạo cứng và cong như xương sườn;” và phần thêm hiện đại là, “ai muốn nắn thẳng nàng, sẽ làm gãy nàng.”
[FN#271] Tức là “Khi sẵn sàng và cương lên.”
[FN#272] “Và trước hết hãy làm (trước khi vào với vợ các ngươi) một việc có thể ích lợi cho linh hồn các ngươi” hay, cho các ngươi: điều thiện của linh hồn. (Koran, chaps. ii. 223.) Do đó Ahnaf làm lời cầu nguyện này.
[FN#273] Dân gian nói rằng “Nói thật khiến Omar không còn bạn.” Mang tước hiệu “Người Công Chính,” ông bị Abu Lúlúah, tức Fírúz, một nô lệ (Magian ?) của Al-Maghírah, sát hại vì từ chối công lý cho hắn.
[FN#274] Thống đốc Bassorah dưới bốn Khalif đầu tiên. Xem
D'Herbelot mục “Aschári.”
[FN#275] Ziyad bin Abi Sufyan, anh em ngoài giá thú của Khalif
Mu'awiyah, sau này là thống đốc Bassorah, Cufa và Al-Hijaz.
[FN#276] Các vụ nổi loạn ở Kufah chủ yếu do lối gia đình trị cố ý của Khalif Othman bin Asákir, cuối cùng dẫn đến cái chết của ông. Phẩm chất chính của ông dường như là sắc đẹp cá nhân: “chưa từng thấy đàn ông hay đàn bà nào có gương mặt đẹp hơn ông, và ông là người tuấn tú nhất trong số đàn ông:” ông đặc biệt nổi tiếng vì răng đẹp, về già buộc quanh bằng dây vàng. Ông được mô tả tầm vóc trung bình, tay chân lớn, vai rộng, đùi nhiều thịt và cẳng tay dài có lông. Mặt ông ngả vàng và rỗ hoa; râu rậm và tóc xoăn, mà ông nhuộm vàng, rủ xuống dưới tai. Ông được gọi là “người viết Koran” vì bản hiệu đính M.S. của ông, và “Chúa của hai Ánh Sáng” vì ông cưới hai con gái của Đấng Tiên tri, Rukayyah và Umm Kulthum; và theo người Shi'ah, những người gọi ông là Othman-i-Lang hay “Othman què,” ông đã đối xử với họ rất tồi tệ. Họ biện minh cho cái chết của ông như hành vi của một Ijmá' al-Muslimín, đồng thuận chung của người Hồi giáo, vốn phê chuẩn “luật Lynch.” Nói chung Othman là một hình tượng nhỏ mọn trong lịch sử.
[FN#277] “Nár” (lửa) là một từ phải dùng dè dặt vì liên hệ của nó với Gehenna. Ví dụ người ta nói “đem cho ta ánh sáng, một cục than (bassah)” v.v.; nhưng nếu ngươi nói “đem cho ta lửa!” kẻ thù rất có thể nhận xét “Hắn muốn lửa ngay trước thời của hắn!” Lối nói lóng sẽ là “đem vị ngọt tới.” (Pilgrimage i. 121.)
[FN#278] Omar được mô tả là người nước da sáng và rất hồng hào, nhưng ông trở nên vàng nâu theo tuổi, khi ông cũng hói và bạc. Ông có ít lông trên má nhưng ria dài với đầu đỏ. Về tầm vóc, ông vượt trên dân chúng và chắc nịch cũng như cao. Một câu nói dân gian của Mohammed là, “Mọi người đàn ông (rất) cao đều ngu, trừ Omar, và mọi người đàn ông (rất) thấp đều là knave, trừ Ali.” Người Ba Tư, ghê tởm Omar, so sánh mọi thứ dài ngoằng, vụng về, lê thê với ông; họ sẽ nói, “Con đường này không bao giờ hết, như ruột của Omar.” Chúng ta biết ít về ngoại hình Ali ngoại trừ việc ông rất thấp và chắc, rộng và bụng đầy, nước da vàng nâu và cực kỳ nhiều lông, bộ râu dài trắng như bông lấp đầy khoảng giữa hai vai. Ông là một “Hercules bỏ túi,” và các truyện không thể tin, như chuyện về cổng Khaybar, được kể về sức mạnh của ông. Sau cùng, ông là Khalif duy nhất để lại gì đó cho văn học: “Cantiloquium” của ông nổi tiếng và ông đã để lại hơn một tác phẩm huyền bí và tiên tri. Xem Ockley về “Sentences” của ông và D'Herbelot s. D. “Ali” và “Gebr.” Ali là một hình tượng cao quý trong lịch sử Hồi giáo.
[FN#279] Sự giải phóng khỏi hậu quả tội lỗi của ông; hoặc có thể nghĩa là một cái chết thánh thiện.
[FN#280] Trận đánh gần Al-Medinah A.D. 625. Từ này bắt nguồn từ “shad” (một). Tôi đã mô tả địa điểm trong Pilgrimage của mình, (vol. ii. 227).
[FN#281] “Haphsa” trong các tác giả cổ hơn; con gái Omar và một trong các vợ của Mohammed, nổi tiếng vì liên hệ của bà với các bản thảo Koran. Từ bà hậu duệ (hay tự nhận hậu duệ) là nhà Hafsite trị vì Tunis và mở rộng quyền lực khắp nơi trên Maghrib (Mauritania), cho tới khi bị người Thổ tước đoạt.
[FN#282] Tức là khiêm nhường, không có dáng điệu vênh vang hay lướt đi thường lệ: nó tương ứng với đi hay bước nhẹ trong Kinh Thánh. (I Kings xxi. 27; Isaiah xxxviii. 15, v.v.)
[FN#283] Một nhà thần học của thế kỷ thứ bảy và thứ tám.
[FN#284] Tức là chuẩn bị cho mình bằng việc lành, nhất là bố thí, cho thế giới sau.
[FN#285] Một nhà thần học thế kỷ thứ tám.
[FN#286] Abd al-Aziz là Ommiade thứ tám (trị vì A.H. 99=717) và vị thứ năm trong các vị chính thống, nổi tiếng vì lòng mộ đạo ít thấy trong nhà ông. Câu nói nổi tiếng nhất của ông là, “Hãy chuyên cần suy ngẫm về cái chết: nếu ngươi đang trong cảnh chật hẹp, nó sẽ mở rộng cảnh ấy, và nếu đang sung túc, nó sẽ làm cảnh ấy chật lại trên ngươi.” Ông chết, được nói là do bị đầu độc, năm A.H 101,
[FN#287] Abu Bakr ban đầu gọi là Abd al-Ka'abah (nô lệ của Ka'abah), lấy tên Abdullah và mang biệt danh Abu Bakr (cha của trinh nữ) khi Mohammed, trước đó chỉ cưới góa phụ, lấy con gái ông, nàng Ayishah nổi tiếng hay tai tiếng. “Bikr” là dạng thường, nhưng “Bakr,” trước hết nghĩa là lạc đà non, được dùng ẩn dụ cho tuổi trẻ người (Lane's Lex. s. c.). Khalif đầu tiên là thương nhân vải, như nhiều thủ lĩnh Mecca. Ông được mô tả là rất trắng, trán lồi, mắt sâu và má mỏng, thân mảnh và hông gầy, khom lưng và mu bàn tay không thịt. Ông dùng thuốc nhuộm Henna và Katam cho râu. Người Ba Tư ghét ông, gọi ông là “Pir-i-Kaftár,” con linh cẩu cái già, và tin rằng ông lang thang trong sa mạc Ả Rập trong dục tình vĩnh viễn mà con đực phải thỏa mãn.
[FN#288] Các Ommiade thứ hai, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy.
[FN#289] Mẹ của Omar bin Abd al-Aziz là cháu gái của
Omar bin al-Khattab.
[FN#290] Anh của người kế vị Omar này, Yezid II.
[FN#291] Như tục ngữ Thổ “Cá bắt đầu thối từ đầu.”
[FN#292] Gọi các nô lệ.
[FN#293] Khi “Ngày Arafat” (mồng 9 Zú'l-Hijjah) rơi vào một ngày thứ Sáu. Về Hajj al-Akbar này, xem Pilgrimage iii. 226 của tôi. Nó thường bị các tác giả nhầm lẫn (ngay cả học giả M. Caussin de Perceval) với cuộc Hành hương thường, đối lập với Umrah, hay “Tiểu Hành Hương” (ibid. iii. 342, v.v.). Từ sau về nguyên nghĩa là sống chung với một phụ nữ trong nhà cha nàng, đối lập với ‘Ars hay dẫn nàng về nhà chồng: nó được áp cho việc thăm Meccah và thực hiện mọi nghi thức hành hương nhưng không vào mùa Hành hương. Do đó tước hiệu của nó “Hajj al-Asghar,” “Tiểu Hajj.” Nhưng “Umrah” cũng được áp cho một nghi lễ nhất định giữa hai đồi Safá (một tảng đá lớn cứng) và Marwah (đá đầy đá lửa), đi kèm Hajj và tôi đã mô tả (ibid. iii. 344). Tại Meccah tôi cũng nghe nói về hai nơi gọi là Al-Umrah, nơi Lớn hơn ở Wady Fátimah và nơi Nhỏ hơn ở nửa đường gần thành hơn (ibid. iii. 344).
[FN#294] Một mẫu khá rõ của lòng vị kỷ không xứng đáng mà mọi hệ thống tôn giáo trên thực tế gieo dạy. Ở đây một người cha mộ đạo bỏ con cái khốn khổ để cứu linh hồn bẩn thỉu của chính mình.
[FN#295] Thủ lĩnh Banú Tamín, một trong những bộ lạc cao quý nhất, xuất phát từ Tamím, chú của Kuraysh (Koreish); do đó các thi sĩ hát:—
Không thể có người con nào cao quý hơn Kuraysh,
Cũng không người chú nào cao quý hơn Tamím.
Tamín chí khí cao thượng được đem đối lập với Kays tâm địa hẹp hòi, kẻ cũng sinh ra một bộ lạc; do đó có câu nói về một người hoàn toàn bất nhất, “Bây giờ ngươi là Tamín rồi lát nữa lại là Kays ư?”
[FN#296] Biệt hiệu Al-Sakafi, Tổng trấn Al-Yaman và Irak.
[FN#297] Ommiade thứ mười (trị vì A H. 105-125 = 724-743).
[FN#298] Hay “mặc cho mình áo quần rách cũ,” tức là “trở thành Fakir” hay hành khất tôn giáo.
[FN#299] Mối loạn luân vô cớ trong vô tri này làm hỏng câu chuyện và cũng đáng ghê tởm đối với thị hiếu Hồi giáo như đối với Cơ Đốc giáo.
[FN#300] Đứa trẻ được đặt tên hoặc vào ngày sinh hoặc đúng một tuần sau ngày ấy. Người cha thì thầm tên ấy vào tai phải, thường thêm Azán hay lời gọi cầu nguyện, và lặp lại bên tai trái “Ikámah” hay câu thứ Sáu. Có nhiều quy tắc để chọn tên theo ngày trong tuần, hành tinh mọc, “Sortes Coranicæ,” v.v.
[FN#301] Giữa người Hồi giáo cũng như giữa người Cơ Đốc có bảy tội chết: thờ ngẫu tượng, giết người, vu cáo phụ nữ đoan trang là không trinh bạch, cướp của trẻ mồ côi, cho vay nặng lãi, đào ngũ trong Thánh Chiến và bất hiếu với cha mẹ. Sự khác biệt giữa hai tín ngưỡng thật đáng chú ý. Còn hiền giả chỉ biết ba điều: vô độ, ngu dốt và vị kỷ.
[FN#302] Nghĩa là, “Điều ấy đã được Định Mệnh an bài; nên nó xảy ra,” hợp ý nếu không gọn.
[FN#303] Loài lạc đà thấp, chắc, sẫm màu, lông dài và hai bướu đến từ “Bukhtar” (Bactria), miền “Đông phương” (Bakhtar) trên sông Amu hay Jayhun (Oxus); về sau gọi là Khorasan. Lạc đà hai bướu không bao giờ thấy ở Ả Rập trừ trong những đoàn buôn phương bắc, và nhắc đến nó sẽ là một thử thách khắc nghiệt đối với lòng tin của người Badawi.
[FN#304] “Kaylúlah” là giấc “chợp mắt” khoảng trưa: nó là một Sunnat hay Thực hành của Đấng Tiên tri, Người phán, “Hãy ngủ trưa, vì quả thật vào giờ này ma quỷ không ngủ.” “Aylúlain” là ngủ gà sau buổi cầu nguyện sáng (giấc “ngủ làm đẹp” của chúng ta), gây nặng nề và lười nhác: “Ghaylúlah” là ngủ gật khoảng 9 giờ sáng, sinh ra nghèo khổ và khốn cùng: “Kaylúlah” (với Kaf thanh hầu) là ngủ trước buổi cầu nguyện chiều, và “Faylúlah” là ngủ gà sau hoàng hôn—cả hai đều bị xem là hết sức có hại. (Pilgrimage ii 49.)
[FN#305] “Hamath” trong Kinh Thánh (Thành Cao) quá nổi tiếng để cần mô tả. Nó vẫn còn lừng danh vì các guồng nước được al-Hariri nhắc đến (hội của Banu Harám).
[FN#306] Khi họ nói, “Chớp lóe sáng trên đồi núi
Al-Yaman,” ám chỉ là phương nam, nơi
chớp mùa hạ được nhìn thấy. Al-Yaman (luôn có mạo từ) nghĩa là,
như tôi đã nói, vùng bên tay phải đối với người quay mặt về phía mặt trời mọc và
Al-Sham (Syria) là vùng bên tay trái.
[FN#307] Lại “chàng” thay cho “nàng,” vì tế nhị và ghen tuông trong việc công khai sắc đẹp hay tình trạng của “giới che màn.” Ngay cả ca sĩ công cộng cũng ngại dùng đại từ giống cái. Tuy nhiên như sẽ thấy, quy tắc này không phải luôn được giữ, và hầu như chẳng bao giờ trong thơ Badawi.
[FN#308] Lối chơi chữ bình thường trên “Nuzhat al-Zaman” = Niềm Vui của Thời Đại hay Thời Gian.
[FN#309] Độc giả sẽ thấy trong Pilgrimage của tôi (i. 305) một phác họa Takht-rawan hay kiệu đi đường, trong đó các nữ hành hương thường ngủ.
[FN#310] Trong thi ca nó giữ vị trí của Zephyr của chúng ta; và “Bád- i-Sabá” = Gió mai, được các thi sĩ Ba Tư thường hướng lời.
[FN#311] Ở đây hiện ra tính khí Ả Rập dễ kích động, thần kinh, cuồng loạn, gần như phát điên vì ở gần một mái nhà mà chàng đã bỏ trốn.
[FN#312] Zau al-Makan và Nuzhat al-Zaman.
[FN#313] Ý tưởng này cốt yếu là phương Đông, “Sư tử ở nhà và cừu non ở xứ người” là câu nói dân gian.
[FN#314] Ả Rập. “Hubb al-Watan” (= tình yêu nơi sinh, lòng ái quốc) mà Truyền thống nói “Min al-Imán” (= là một phần tôn giáo của con người).
[FN#315] Chàng được cho là nói en prince; và chàng nhượng bộ một lời cầu khi chàng khước từ một mệnh lệnh.
[FN#316] Trong những đoàn buôn như vậy mỗi nhóm phải giữ chỗ riêng, nếu không sẽ gặp rắc rối với lính canh và người gác.
[FN#317] Ông Payne (ii. 109) mượn câu trích này và câu tiếp theo từ bản Bull Edit. i. 386.
[FN#318] Về sự chuộc lỗi những lời thề thiếu suy xét, xem Koran (chaps. v.). Tôi không khỏi nghĩ rằng Al-Islam xử tội bội thề quá nhẹ: điều duy nhất ta có thể nói là nó cải thiện hơn Hindu giáo, vốn thực tế dường như để việc trừng phạt cho các thần.
[FN#319] “Kausar,” như đã nói, tượng trưng cho nectar cổ điển, Amrita của người Hindu.
[FN#320] Từ Bull Edit. i. 186. Câu đối trong Mac. Edit. i. 457 được áp dụng rất lung tung.
[FN#321] “Insula” của Sancho Panza.
[FN#322] Điều này lẽ ra phải khiến chàng yên tâm rằng chàng không gặp nguy hiểm.
[FN#323] Ở đây kết thúc câu chuyện mệt mỏi về anh em trai gái, và khúc hiệp sĩ lãng mạn lại bắt đầu, với những đoạn lạc đề Ả Rập quen thuộc.
[FN#324] Tôi đã dẫn từ này từ tiếng Ba Tư “rang” = màu sắc, sắc thái, loại.
[FN#325] Nếu không thì tất cả sẽ bị thay thế, như viên chức Hoa Kỳ dưới một Tổng thống mới.
[FN#326] Ả Rập. “Nímshah” từ tiếng Ba Tư Nímchah, một “nửa-gươm,” dao găm dài đeo ở thắt lưng. Richardson dẫn nó từ Namsh, nghĩa là lốm đốm (vân thép).
[FN#327] Thuật ngữ Ấn Độ chỉ một chiếc lều đủ lớn để che một đội kỵ binh.
[FN#328] Ả Rập. “Marhúm,” một công thức đã được ghi nhận trước. Nó vay mượn từ Do Thái giáo, “thuộc ký ức phúc lành” (sau tên người chết đáng kính, Prov. x. 17.); với phần thêm “cầu bình an đến với người,” đối lập với lời nguyền, “Cầu tên của kẻ ác mục nát!”
[FN#329] Những bài diễn thuyết của năm thiếu nữ chỉ nên được sinh viên đọc.
[FN#330] Tức là những người trông đợi “một đời khác và tốt hơn.”
[FN#331] Tước hiệu của Khalif Abu Bakr vì ông làm chứng chân thật cho sứ mệnh của Đấng Sứ đồ, hoặc, theo người khác, ông xác nhận “Mi'ráj” hay cuộc hành trình đêm lên Trời.
[FN#332] Tất cả điều này thuộc Koran (chaps. ii., v.v.).
[FN#333] Điều này hẳn đã áp dụng hơn một lần cho các “quan tòa treo cổ” ở Viễn Tây.
[FN#334] Một nhà truyền thống học và luật gia của Al-Medinah trong thế kỷ thứ bảy và thứ tám.
[FN#335] Alexander của Koran và các truyền thuyết phương Đông, không được nhầm với Alexander của Macedon. Ông sẽ được nhắc đến trong một Đêm sau.
[FN#336] Æsop, theo người Ả Rập: về ông, hay đúng hơn về hai
Lukman, sẽ nói ngay đây.
[FN#337] Koran ii. 185.
[FN#338] Mohammed.
[FN#339] Một trong các Asháb hay Bạn đồng hành của Mohammed.
[FN#340] Một nhà truyền thống học nổi tiếng tại Cufa trong thế kỷ thứ bảy.
[FN#341] Koran, chaps. lxxiv. I (và câu 8 tiếp theo). Tổng lãnh thiên thần Gabriel được cho là đang nói với Mohammed và không ít giáo sĩ tin rằng Surah (chương) này là chương đầu tiên được mặc khải. Ông Rodwell đặt nó là số ii. sau Fatrah hay khoảng lặng kế tiếp số xcvi. “Những cục máu đông.” Xem ấn bản thứ 2 của ông tr. 3 để biết thêm chi tiết.
[FN#342] Tức là nguy hiểm cho sức khỏe linh hồn.
[FN#343] Trong bản Mac. Edit. “Abd” thay cho “Sa'id.” Người sau là người da đen và sinh ở Cufa trong thế kỷ đầu tiên (A.H.) và vẫn nổi tiếng như một nhà truyền thống học.
[FN#344] Ả Rập. “Shirk,” đặt một kẻ ngang hàng với Allah, chủ yếu nhắm tới Cơ Đốc nhân và kẻ thờ ngẫu tượng, và ở mức nhẹ hơn tới người Do Thái và Guebres. Chúng ta thường Anh hóa nó là “polytheism,” vốn vụng về và truyền đạt sai ý.
[FN#345] Cháu nội của Khalif Ali. Ông là một trong các Imam
(Đại tư tế) của trường phái Shi'ah.
[FN#346] Một nhà truyền thống học lỗi lạc của thế kỷ thứ tám (A.D.).
[FN#347] Những lời cầu nguyện của Tháng Chay và Tháng Hành hương thường được nói ở những nơi đặc biệt bên ngoài thị trấn và thành phố; đó là Id(Eed-)gáh của Ấn Độ. Chúng có một bức tường chắn dài khoảng một trăm yards với hốc cầu nguyện trung tâm và ba bậc thông thường cho người thuyết giảng; và mỗi đầu được trang trí bằng một tháp minaret mô phỏng. Chúng cũng được gọi là Namáz-gah và một cái được Herklots phác họa (Plate iii. fig. 2). Mục đích của các chuyến đi tới đó trong Zu'l-Ka'adah và Zu'l-Hijjah là nhắc người Hồi giáo về “Ta'aríf,” hay việc đi từ Meccah đến Núi Arafat.
[FN#348] Ả Rập. “Al-Háfi,” trong tiếng Ai Cập cũng nghĩa là đau chân. Ông là một nhà khổ hạnh của thế kỷ thứ tám và thứ chín (A.D.). Ông kể một truyền thống về vị thánh chiến binh nổi tiếng Khálid bin Walíd, người được chôn giống như thi sĩ Ka'ab al-Ahbár gần Hums (Emessa), từng là Bœotia, Phrygia, Abdera, Suabia của Syria, nay là Halbun (phát âm Halbáun) gần Damascus. Tôi không thể giải thích vì sao vị quý tộc Kuraysh này (một hình tượng huy hoàng trong lịch sử Hồi giáo) lại được người Afghan nhận là đồng hương và làm cho nói Pukhtu hay Pushtu, thổ ngữ Ba Tư thô cổ của họ. Độc giả tò mò hãy xem Pilgrimage iii. 322 của tôi về cuộc đối thoại giữa Mohammed và Khalid. Lại có niềm tin phổ biến ở Ả Rập rằng người Anh gửi sứ bộ tới Đấng Tiên tri, cầu xin Khálid được phái đi cải đạo họ: không may Mohammed đã chết và “Ingríz” nuốt lời. Dân gian tin rằng không người có vũ trang nào có thể tới gần mộ Khálid; nhưng tôi cho rằng khẩu súng lục của tôi không được tính.
[FN#349] Khi ấy ông phải lại rửa mình trước khi tiếp tục cầu nguyện.
[FN#350] Bin Adham; một nhà khổ hạnh nổi tiếng khác của thế kỷ thứ tám.
Những ai tò mò về các tên không quan trọng này hãy tham khảo cuốn
Đại Từ điển Tiểu sử của Ibn Khallikan, do Baron
MacGuckin de Slane dịch (1842-45).
[FN#351] Như vậy biến Bishr thành “Imám” (artistes), nghĩa đen là người đứng phía trước. Trong Koran xvii. 74 nó nghĩa là “người lãnh đạo”: trong ii. 118 Allah làm Abraham thành một “Imam cho nhân loại.”
[FN#352] Một tình cảm được ưa chuộng ở phương Đông: ta thấy nó ngay đầu Gulistan của Sa'di: lời nói dối đem phúc còn hơn sự thật gây hại.
[FN#353] Một penny, một phần sáu của drachma.
[FN#354] Người sáng lập trường phái Hanbali, thứ tư (theo niên đại) trong bốn trường phái Hồi giáo chính thống. Khalif al-Mu'atasim bi'llah, con trai Harun al-Rashid, người tin rằng Koran đã được tạo ra chứ không phải một Logos (dù Logos là gì), đồng vĩnh hằng với Allah, đã đánh roi Imam này nghiêm khắc vì “khác ý kiến” (A.H. 220=833). Thực ra rất ít vị đáng kính nổi bật thời ấy thoát khỏi một cái vuốt ve của roi hay gươm.
[FN#355] Một học giả thế kỷ thứ tám tại Bassorah (A.D.).
[FN#356] Một nhà truyền thống học của Khorasan trong thế kỷ thứ chín (A.D.).
[FN#357] “Azal,” đối lập với “Abad,” vĩnh hằng không có kết thúc, vô hạn.
[FN#358] Koran lxvi. 6.
[FN#359] Một nhà truyền thống học của Al-Medinah, thế kỷ thứ tám (A.D.).
[FN#360] Ả Rập. “Músá”: từ Ai Cập là “Mesu,” “đứa trẻ” hay “cậu bé” (được nuôi trong cung điện?), và người Hebrew biến nó thành “Mosheh” hay “người được kéo ra khỏi nước;” “Mu” trong Ai Cập là nước, Ả Rập “Ma”; từ đó có lẽ người hiện đại đã dẫn dạng tiểu “Moyeh,” tiếng Ai Cập thông tục chỉ nước.
[FN#361] Koran, chaps. xxviii.: Shu'ayb là Jethro của chúng ta: Koran, chaps. vii. và xi. Ông Rodwell gợi ý (tr. 101) rằng tên này đã bị đổi từ Hobab (Numb. x. 29).
[FN#362] Ả Rập. “Taub” (Saub), áo dài thường được viết trong tiếng Anh là Tobe và được người Ai Cập phát âm như vậy. Nó được cả hai giới mặc (Lane, M. E. chaps. i. “Tob”) ở Ai Cập, và lan sâu vào lòng châu Phi Hồi giáo: tôi không thể so sánh nó với gì ngoài một chiếc áo ngủ dài nhuộm vàng bẩn bằng safflower và đẹp đẽ chẳng hơn áo choàng của người đánh xe.
[FN#363] Trong Koran không có gì về điều này; và nó là một phần thêm hết sức bất hạnh, vì Moses hoàn toàn và tự phụ phớt lờ “thế giới sau.”
[FN#364] Koran xxviii. 22-27. Mohammed rõ ràng đã nhầm lẫn giao ước giữa Laban và Jacob. (Gen. xxix. 15-39.)
[FN#365] Al-Hariri cũng nói vậy (Ass. of Sasan), “Người láng giềng trước ngôi nhà và người lữ khách trước chuyến đi.” Ở một số thành phố, láng giềng là cảnh sát trinh sát thực sự, ghi nhận mọi hành động và trấn áp các vụ tai tiếng (như hội hè trác táng, v.v.) bằng bàn tay mạnh mẽ và với đầy đủ sự đồng thuận của công luận cùng nhà chức trách. Việc yêu thương láng giềng này cho thấy dấu hiệu rõ ràng là được vay mượn từ Cơ Đốc giáo.
[FN#366] Al-Asamm, một nhà thần học của Balkh, thế kỷ thứ chín (A.D.).
[FN#367] Người sáng lập Trường phái Lớn tuổi, về điều này xem Sale Prel.
Disc. sect. viii.
[FN#368] Như vậy phụng sự Chúa bằng cách phạm tội với chính thân thể mình.
[FN#369] Một tiến sĩ luật Ai Cập (thế kỷ thứ chín).
[FN#370] Koran lxxvii. 35, 36. Đây là một trong những chương sớm nhất và thơ nhất của sách.
[FN#371] Abu Hanifah bị đánh roi vì từ chối nhận chức và bị giết trong ngục, người ta nói bằng thuốc độc (A.H. 150=A.D. 767), vì một phán quyết tư pháp cho phép nổi loạn chống lại Abbaside thứ hai, Al-Mansur, biệt danh Abu'l-Dawánik (Cha của Pence) vì lòng tham quá mức của ông.
[FN#372] “Lá rayba fí-hi” Koran (ii. 1) nói về chính nó; và câu nói ấy được dân gian áp cho mọi điều thuộc Đức Tin.
[FN#373] Ả Rập. “Rivál al-Ghayb,” phần nào giống “Himalayan Brothers” của mê tín hiện đại. Xem Herklots (Qanoon-e-Islam) để có mô tả dài và cẩn thận về những “Mardán-i-Ghayb” (Ba Tư), một “lớp người cưỡi mây,” vô hình, nhưng di chuyển theo quỹ đạo tròn quanh thế giới, và gợi nhớ “Lokapálas” của Hindu. Họ không nên ở trước mặt lữ khách hay bên phải người ấy, mà hoặc phía sau hoặc bên tay trái. Vì thế cần các bảng, câu đối tưởng niệm và nửa câu thơ để xác định vị trí, nếu không có sự đề phòng này, các chuyến đi dễ kết thúc tệ hại.
[FN#374] Một thứ kẹo đã được ghi nhận trước.
[FN#375] Bản lề cửa ở phương Đông là hai mấu nhô cho đầu trên và đầu dưới của cánh cửa xoay trong các hõm của xà ngang và ngưỡng cửa. Nó có vẻ là dạng nguyên thủy, vì ta thấy nó ở ngay trung tâm châu Phi. Trong các thành phố basalt của Hauran, nơi cửa làm bằng đá dày, chúng xoay dễ dàng trên các chốt này. Tôi cũng thấy chúng trong Thành phố chính thức (không phải đền thờ) của Palmyra, nhưng tất cả đều gãy.
[FN#376] Tác dụng của thuốc độc và của bùa chú đi kèm nó.
[FN#377] Vua Omar, người đã cưỡng hiếp nàng. Mọi thiện cảm của tôi đều dành cho bà lão đêm đêm trừng phạt kẻ dâm bạo vương giả.
[FN#378] Ả Rập. “Zunnár,” Hy Lạp. . Người Cơ Đốc và Do Thái bị các luật xa xỉ cuồng tín của Khalif Al-Mutawakkil (AD. 856) buộc phải đeo một dây đai da rộng nơi công cộng, do đó nó trở thành dấu hiệu của Đức Tin. Có lẽ nó bị nhầm với “Janeo” (sợi chỉ Brahman) và dây đai thiêng Parsi gọi là Kashti. (Dabistan i, 297, v.v.). Cả Mandeville và La Brocquière đều nói về “Christians of the Girdle, because they are all girt above,” ý chỉ Jacobites hay Nestorians.
[FN#379] “Siláh dár” (Ả Rập và Ba Tư) = một sĩ quan quân sự cấp cao; nghĩa đen là “người mang giáp khí,” được chọn vì dũng lực và đáng tin. Cũng vậy Jonathan có một “người trẻ” (dũng sĩ) mang giáp khí cho mình (I Sam. xiv. 1, 6 và 7); và Goliath có một người mang khiên đi trước hắn (ibid. xvii. 7, 41). Người ta sẽ không dễ quên tên Sulayman Agha, gọi là Silahdar, ở Ai Cập. (Lane M. E. chaps. iv.)
[FN#380] Chuyện ấy sẽ được kể về sau.
[FN#381] Người anh cả như vậy tự cho thấy mình là chư hầu và chứng tỏ mình là một người Hồi giáo tốt bằng cách không viện tới nội chiến.
[FN#382] Ả Rập. “Ghazwah,” Gallicism hư dạng, nay
Âu hóa = raid, foray.
[FN#383] Turk trong lối nói hiện đại nghĩa là một Turkoman, một pomade: dân định cư tự gọi mình là Osmanli hay Othmanli. Turkoman = giống Turk.
[FN#384] Ả Rập. “Nimsá;” người Đức phương nam, người Áo; từ Slav. “Nemica” (mọi người Đức), nghĩa đen là “Người câm” (nemac), vì họ không nói được tiếng Slav.
[FN#385] Ả Rập. “Dubárá” từ Slav. “Dubrovnik,” từ “Dub” (cây sồi) và “Dubrava” (rừng sồi). Ragusa, từng là đối thủ của Venice, làm phát sinh từ “Argosy.” D'Herbelot gọi nó là “Dobravenedik” hay “Venice Tốt,” tên Thổ, vì nó nộp triều cống khi Venice không chịu (?).
[FN#386] Ả Rập. “Jawarnah,” hay “Júrnah,” rõ ràng là Zara, một nơi có nhiều tên, Jadera (Hirtius de Bell. Alex. cap. 13), Jadra, Zadra (từ đó ra thuật ngữ hiện đại), Diadora, Diadosca và Jadrossa. Thành phố Liburnian quan trọng này phái ra nhiều tàu tuần tiễu trong thời Thập tự chinh; do đó người Ả Rập biết tên nó.
[FN#387] Ả Rập. “Banu'l-Asfar;” có thể nghĩa là “Mặt tái,” theo nghĩa “yeller girls” (New Orleans) và ý mà người Da Đỏ Bắc Mỹ muốn nói, hoặc, có thể, các dân có tóc vàng (hay đúng hơn màu sợi lanh) mà nay ta gọi là người Nga. Các chủng tộc Hindostan gọi người Anh không phải “người trắng,” mà là “người đỏ;” và lý do sẽ thấy ngay khi so sánh một Britisher với một Brahman Nágar đẳng cấp cao, mặt màu giấy da như thể hắn đã uống exsangue cuminum. Những Mặt Vàng trong văn bản tương ứng với Phạn. “Svetadvipa” — Đất Người Trắng.
[FN#388] Ả Rập. “Al-Musakhkham.” Không người Hồi giáo nào tin rằng Isa bị đóng đinh, và một tưởng tượng ưa chuộng là Judas, bị biến thành hình dạng Jesus, đã trả giá cho sự phản bội của mình. (Evangel. Barnabæ.) Vì thế sự phục sinh được gọi không phải “Kiyámah” mà là “Kumámah” = rác rưởi. Dị giáo này về Thập Tự họ chia sẻ với phái Docetes, “những con thú nhất định trong hình dạng người” (Ignatius nói), những kẻ cho rằng một bóng ma bị đóng đinh. Đến đây người Hồi giáo có lý, vì “Isa,” được thụ thai bằng thiên thần, mầu nhiệm và vô nhiễm, không thể như thế; nhưng họ tự mâu thuẫn khi giữ một chỗ trống gần mộ Mohammed cho thân xác Isa sau lần giáng lâm thứ hai của người như người báo trước Mohammed và Ngày Phán Xét. (Pilgrimage ii. 89.)
[FN#389] Một thầy bói, tư tế, đặc biệt Do Thái, và không thuộc bộ lạc Levi.
[FN#390] Lại từ thô tục nhất “Khara.” Ám chỉ tới câu nói bình dân,
“Ngươi ăn phân!” (tức ngươi nói nhảm).
Các tác giả Anh đứng đắn sửa thành, “Ngươi ăn đất:” và Lord
Beaconsfield làm nó lố bịch bằng cách biến thành “eating sand.”
[FN#391] Những lời vu khống ngớ ngẩn này, chỉ khiến chúng ta mỉm cười, lại kích động
người phương Đông đến cuồng nộ. Tôi đã thấy một người Hồi giáo điên lên vì giận khi nghe một
người Cơ Đốc nhại những lời mở đầu của Koran, “Bismillahi 'l-
Rahmáni 'l-Rahím, Mismish wa Kamar al-din,” dịch thô là,
“Nhân danh Allah, Đấng Thương Xót, Đấng Từ Bi! Mơ và mứt cam.” Ý tưởng về Holy Merde có thể được gợi ý bởi người Hindu: xem Mandeville, về archiprotopapaton (giáo phẩm) mang phân bò và nước tiểu tới cho Vua, người bôi chúng lên trán và ngực, &c. Và, khó tin thay, điều này vẫn được thực hành theo một kiểu nào đó bởi người Parsis, một trong những chủng tộc Á châu tiến bộ nhất và sắc sảo nhất.
[FN#392] Nghĩa là hắn đã đánh dấu trán mình bằng một thập tự (bằng tro?) như một số người làm vào Ash Wednesday.
[FN#393] Syria, “đất tay trái” như đã giải thích trước. Câu nói dân gian về dân xứ ấy là “Shámi shúmi!”—người Syria là khoai nhỏ (dịch ý theo kiểu Mỹ). Syrus, tên nô lệ thời La Mã, cũng chẳng mang tiếng tốt. Ở Al-Hijaz, người Syria được gọi là “Abú Shám” (Cha của Syria) và bị mắng là “Kẻ Lạm Dụng Muối” (kẻ phản bội). Tuy vậy nhiều câu nói của Mohammed được ghi lại để tôn vinh Syria, và đôi khi Người dùng các từ Syriac. Những từ ấy là “Bakh, bakh” (=euge, đã ghi trước), và “Kakh,” cùng họ với Latin Cacus và Caca mà thời chúng ta đã cắt thành “cack.” (Pilgrimage iii. 115)
[FN#394] Koran xiv. 34. “Chúng (Kẻ Không Tin) sẽ bị ném vào đó (tức Nhà Diệt Vong = Địa Ngục); và nó sẽ là một nơi cư ngụ bất hạnh.”
[FN#395] Nhát chém chân là món rất được kiếm sĩ phương Đông ưa chuộng, và một lưỡi gươm nặng dùng hai tay dễ dàng chặt đứt chân ngựa.
[FN#396] Mohammed nhiều lần tuyên bố (Koran lxi.) rằng người Cơ Đốc đã làm sai lệch đoạn văn (“Ta đi về cùng Cha ta và Đấng Paraclete sẽ đến,” John xvi. 7) hứa hẹn sự xuất hiện của Đấng An Ủi, (ibid. xiv. 20; xv. 26) bằng cách thay từ sau cho glorious, renowned, tức Ahmed hay Mohammed = người được ca ngợi. Điều này có thể đã được tìm thấy trong bản dịch Ả Rập các Phúc Âm do Warakah, anh em họ của vợ đầu Mohammed, thực hiện; và do đó trong Koran lxi. ta thấy Jesus tiên tri về một Đấng Sứ đồ “có tên là Ahmad.” Vì thế từ này đã được chèn vào Phúc Âm Ả Rập của Thánh Barnabas (Dabistan iii. 67). Người Hồi giáo chấp nhận Ngũ Kinh, Thánh Vịnh và Phúc Âm; nhưng khẳng định (Koran, passim.) rằng mọi bản còn tồn tại đều bị làm hư hỏng không thể cứu, và họ có lý. Moses, người được gán là tác giả Ngũ Kinh, lại ghi nhận chính cái chết và việc chôn cất của mình—“phép lạ càng lớn,” bà già Scotland nói. “Thánh Vịnh của David” trải qua một thời kỳ khoảng năm trăm năm, và có ba Isaiah được dân thường xem là một. Nhiều Phúc Âm ngụy kinh, tất cả từng được xem là chân thật và chính điển vào những thời và nơi khác nhau, chứng minh rằng bốn bản còn dùng được giữ lại vì chúng thiếu những phi lý hiển nhiên của các đối thủ bị loại bỏ.
[FN#397] Ả Rập. “ Labbayka; ” tiếng hô Hành hương (Đêm xxii.) mà trong tiếng Ả Rập là,
Labbayk' Allahumma, Labbayk'!
Lá Sharíka lake, Labbayk'!
Inna 'l-hamda w'al ni'amata lake wa'l mulk!
Labbayk' Allahumma, Labbayk'!
Một số người thêm “Con đây, và con tôn vinh Người, con trai của hai nô lệ của Người; phúc lành và điều thiện đều ở giữa hai tay Người.” Với “Talbiyah” người hành hương nên chúc phúc cho Đấng Tiên tri, cầu Allah ban Thiên Đường và kêu, “Bởi lòng thương xót của Người, xin tha chúng con khỏi đau đớn Lửa Địa Ngục!” (Pilgrimage iii. 232.) Labbayka xuất hiện trong các câu thơ gán cho Khalif Ali; vậy labba = hắn đối mặt, và yalubbu = nó đối mặt (như nhà này đối mặt nhà kia); sau cùng, hắn tuyên xưng sự quy phục Allah; trong nghĩa này, cùng với danh động từ “Talbiyah,” nó được Al- Hanri dùng (Pref. and Ass. of Su'adah).
[FN#398] Ả Rập. “Kissís” (số nhiều Kusús) từ ‘ .
[FN#399] Koran ii. “Con bò đỏ” hiển nhiên là “bò cái tơ đỏ” của
Barnabas, chaps. vii.
[FN#400] Ả Rập. “Al-Jásalík” = .
[FN#401] Điều này từ “Phúc Âm Thời Thơ Ấu” thứ nhất, trong đó Jesus nói với mẹ mình, “Quả thật ta là Jesus, Con của Thượng Đế, Ngôi Lời mà nàng đã sinh ra, như Thiên thần Gabriel đã tuyên bố với nàng; và Cha ta đã sai ta đến cứu thế giới” (chaps. i. 2.). Đoạn này hầu như được trích trong Koran (chaps. iii. 141), dĩ nhiên bỏ “Con của Thượng Đế.”
[FN#402] Mohammed để tóc dài tới dái tai nhưng không bao giờ thấp hơn.
[FN#403] Ả Rập. “Lisám,” tôi đã giải thích như một tấm che phần dưới mặt, làm bằng cách kéo góc khăn đầu qua đó (Pilgrimage i. 346). Lisám của người Tawárik châu Phi trùm mắt khiến người đàn ông phải ngửa mặt lên mới thấy, và quấn toàn bộ nửa dưới, chỉ để hở mũi. Và thứ này được nhiều đàn ông mang cả đêm lẫn ngày, chắc hẳn để tránh mắt ác. Các Sultan bản địa của Darfur, như các Sultan của Bornu và những xứ xa hơn về tây, dùng vải muslin trắng làm khăn che mặt: do đó cũng có các nghi thức khi khạc nhổ, v.v., v.v. Kúfiyah hay khăn đầu của người Ả Rập sớm tới châu Âu và trở thành Cuphia trong Low Latin; Escofia trong tiếng Tây Ban Nha; Cuffia hay Scuffia trong tiếng Ý; Escoffion, Scofion (Reine Marguerite) Coëffe (une pellicule, marque de bonheur), Coiffe và Coife, &c. trong tiếng Pháp; Curch hay Coif Scotland, đối lập với snood thiếu nữ, và sau cùng Coif của Sergeant-at-Law của chúng ta. Littré, bậc Học giả, người về uyên bác là né coiffé, đã bỏ lỡ nguồn gốc hiển nhiên này.
[FN#404] “Chém,” suốt sách, ám chỉ scymitar mà người Ả Rập không bao giờ dùng để đâm; và “đâm” ám chỉ giáo bộ binh và thương kỵ binh.
[FN#405] Một thành ngữ dân gian, tôi lặp lại, chỉ nỗi khiếp sợ và kinh hoàng cực độ.
[FN#406] Tên này thường áp cho một khu vực và thành phố nổi tiếng của Al Yaman, nơi “Koss kẻ hùng biện” là giám mục thời Mohammed: Negiran của D'Herbelot. Tuy nhiên ở đây là Najrán Syria (Nejrân trong Handbook khốn nạn của Giáo sĩ Porter), nay là một làng tồi tàn gần Lajjá núi lửa, khoảng một trăm hai mươi dặm đường chim bay về phía nam Damascus và do Druze và Cơ Đốc nhân giữ.
[FN#407] Kantár (quintal) gồm 100 ratls (Ibs.) = 98-99 Ibs. avoir.
[FN#408] Ả Rập. “Juráb (túi) mi'adat- ih (của bụng hắn),” “sự đông vón của tinh hoàn” vì sợ hãi thường được nhắc tới.
[FN#409] Rõ ràng ám chỉ ma thuật từng được người Do Thái trung cổ nghiên cứu rất sâu.
[FN#410] Ả Rập. “Sahákah,” nghĩa đen là cọ xát. Harem Hồi giáo là một trường lớn cho thứ “tình yêu Lesbian (mà tôi muốn gọi là Atossan)” này; nhưng động cơ của thực hành ấy nằm sâu hơn. Như giữa đàn ông, sự pha trộn tính khí nữ với nam dẫn tới kê gian, thì điều ngược lại khiến phụ nữ ưa giới mình. Những tribade này phần lớn được nhận biết qua các đặc điểm hình dạng và nét mặt, má và môi trên có lông, giọng khàn, mùi hircine và âm vật lớn nhô ra có khả năng cương, người Ả Rập gọi là “bazar,” do đó Tabzír = cắt bì hay cắt bỏ âm vật như vậy. Burckhardt (Prov. 436) dịch “Bazarah” là gái hư hay wench. Ông thêm “nguyên gốc nó chỉ labia mà dân Cairene cũng gọi là Zambúr và bị cắt bỏ khi còn gái nhỏ.” Xem thêm Lane, Lex. s.v.; Tabzír. Cả hai tác giả lẫn lộn việc cắt nymphæ với cắt bì âm vật (Zambúr). Al-Siyúti (Kitab al-Izá' fi'Ilm al-Nikah) có một chương rất thú vị về khoái lạc Sappho, vốn được châu Âu biết rõ như đã chứng minh bởi các tác phẩm như “Gamiani,” và “Anandria ou Confessions de Mademoiselle Sappho, avec la Clef,” Lesbos, 1718. Thủ dâm lan tràn tai hại: trong nhiều Harem và trường nữ, nến mỡ và các vật thay thế tương tự bị cấm vô ích, và chuối khi bị phát hiện bị cắt làm tư để vô dụng; tuy nhiên những năm gần đây Trung Hoa đã gửi sang những dương vật nhân tạo kỳ diệu bằng bàng quang nhồi, sừng và cả caoutchouc, chất liệu sau dĩ nhiên vay từ châu Âu.
[FN#411] Điều này được xem là một kích dục mạnh ở phương Đông. Vì thế các nam tín đồ khổ hạnh được khuyên tránh “hai thứ đỏ,” tức thịt và rượu; trong khi “hai thứ đỏ” làm hư đàn bà là vàng và nghệ tây, tức hương liệu. Do đó cũng có câu nói của Mohammed:— “Hương thơm cho đàn ông nên có mùi mà không màu; cho đàn bà nên có màu mà không mùi.” (Mishkát al-Masábíh ii. 361.)
[FN#412] Đây là “Hibás” hay dây mảnh bằng len mà
người Badawi buộc quanh chân, tôi tin là để tránh chuột rút.
(Pilgrimage iii. 78).
[FN#413] Kêu “La iláha illa 'llah.” (Không có thần nào ngoài
Thượng Đế.); về mặt thuật ngữ gọi là “Tahlíl.”
[FN#414] Tức là Người, thiên thần và quỷ, “Triloka” (ba giới người) của người Hindu. Alamín (số nhiều), không bao giờ Alamayn (số đôi), là Triregno được biểu thị bởi Vương miện Giáo hoàng, ba vương quốc Cơ Đốc là Thiên Đường, Địa Ngục và Luyện Ngục.
[FN#415] Matrahinna hay Mit-Rahinah là một ngôi làng nổi tiếng gần Memphis, tên bắt nguồn từ tiếng Ai Cập cổ Minat-ro-hinnu, cảng ở cửa kênh. Cho phép tôi nhận xét rằng hai trong ba từ này, “Minat” và “Ru,” vẫn phổ biến trong tiếng Ba Tư “Aryan.”
[FN#416] Kirámat, một dấu hiệu, một kỳ tích, đối lập với Mu'ujizah, phép lạ do một tiên tri thực hiện. Các Sufi giải thích thuật làm phép lạ này bằng việc Allah thay đổi một điều nào đó trong dòng thường của Tự nhiên để ưu đãi một tín đồ đặc biệt, và, theo một kiểu nào đó, đây là giáo lý Công giáo (Xem Dabistan, iii. 173).
[FN#417] Koran, x. 25, “cho tới khi đất nhận lấy y phục của nó và được điểm trang bằng các loài cây khác nhau.”
[FN#418] Tức là lớp lông non mọc trên má chàng trai.
[FN#419] Một chiến sĩ vì đức tin, và nay là một tước hiệu đặt sau tên, ví dụ Osmán Páshá Ghází, người mà báo chí Anh gọi là “Ghazi Osman.”
[FN#420] Tức là Vua Constantinople.
[FN#421] Cassia fistularis, một loại carob: “ Shambar” là
dạng Ả Rập của tiếng Ba Tư “ Chambar.”
[FN#422] Koran, ii. 149. Do đó có ý tưởng dân gian rằng các Tử đạo vẫn sống trong xác thịt. Xem Pilgrimage của tôi (ii. 110 và các nơi khác) về những hậu quả lãng mạn và đẹp như tranh của niềm tin ấy. Các Nhà chú giải (Jalál al-Dín, v.v.) chơi trò với lời Koran, “họ (các tử đạo) không chết mà còn sống” (iii. 179), bằng cách đặt các linh hồn hạnh phúc trong diều của chim xanh ăn trái cây và uống nước Thiên Đường; trong khi những kẻ bị nguyền và những kẻ (rất) ác bị gửi vào chim đen uống mủ máu và nước sôi Địa Ngục. Giữa người Hy Lạp, một thi thể còn nguyên lâu sau khi chết gợi Anathema Maranatha: với Cơ Đốc nhân Công giáo thì ngược lại (Boccaccio iv. 5, chuyện Chậu Húng quế). Về tín điều này xem Maundrell, Letter of 1698.
[FN#423] Tor là “Núi Sinai” trong Koran (xcv. 1). Tôi chỉ cần lặp lại ý kiến của mình về địa điểm hiện nay được gọi như vậy: “Rõ ràng Jebel Serbal chỉ có niên đại từ những ngày đầu Cơ Đốc giáo Coptic; Jebel Musa, đối thủ Hy Lạp của nó, nổi lên sau các thị kiến của Helena vào thế kỷ thứ tư; trong khi việc xây Tu viện bởi Justinian thuộc A.D 527. Ras Safsáfah, đối thủ của nó ở phía bắc, là chuyện hôm qua, và có thể gọi là phát minh của Robinson; còn Jebel Katerina, ở phía nam, là tài sản của Rüppell” (Midian Revisited i., 237). Vì vậy tôi sẽ gọi bán đảo “Sinaitic” là Bán đảo Paran thời cổ và Bán đảo Tor (từ cảng chính của nó) thời nay. Tôi vẫn tin chắc rằng Núi Sinai thật sẽ được tìm thấy tại Jabal Aráif, hay một ngọn cao không quan trọng nào đó ở phía bắc đường Hajj hiện đại từ Suez đến Akabah. Ngay cả về tên gọi (mà Koran viết “Sainá” và “Sínín”) cũng có tranh luận: Nó thường được dẫn từ gốc “Sanah” = sentis, bụi cây; nhưng điều này không thỏa đáng. Nhà Assyriology lỗi lạc của chúng ta, Giáo sư Sayce, muốn liên hệ nó với “Sin,” thần Mặt Trăng Assyria, như Núi Nebo với thần Mặt Trời, và ông kỳ vọng tìm thấy ở đó phế tích một đền thờ Mặt Trăng như một đền Mặt Trời đứng trên Ba'al Zapuna (Baal Zephon) hay Núi Casius cổ điển.
[FN#424] Ám chỉ phép lạ cây gậy của Aaron (món quà của Jethro) như được kể trong Koran (chapts. vii. 1., xx., v.v.), nơi các pháp sư Ai Cập ném xuống những dây thừng dày mà bằng ma thuật xoắn và cuộn như rắn.
[FN#425] Ả Rập. “Ayát,” nghĩa đen “dấu hiệu,” ở đây “các phép lạ của chân lý,” l. c. các câu Koranic đối lập với các chương. Hàng ngũ kẻ thù tượng trưng cho thứ sau, các nhát kiếm cho thứ trước—một lối thuyết giáo rất thuyết phục.
[FN#426] Lane (M. E. chapt.. iii.) cho thấy bằng một phác họa tư thế của người thờ phượng trong “Salám” này, được gửi tới, có người nói, các thiên thần hộ mệnh, người khác cho là tới mọi tín hữu huynh đệ và thiên thần.
[FN#427] Tức là nơi người Syria tìm thấy ông.
[FN#428] Tức là Dedianus được Ả Rập hóa; một tên vừa hiệp sĩ vừa bình dân.
[FN#429] Trong những truyện như vậy, Wazir thường là người sắc trí, tương phản với “dummy,” hay chủ nhân.
[FN#430] Bồ câu đưa thư được dùng rộng rãi thời này. Khalif Al-Násir li-Díni ‘lláh (trị vì A.H. 575=1180), theo Ibn Khaldún, rất thích chúng. Người Damascus hiện đại vẫn chuộng chúng. Người kế nhiệm tôi, Mr. Consul Kirby Green, đã viết một báo cáo xuất sắc về thú chơi bồ câu tại Damascus. Tác giả gọi là Maundeville hay Mandeville năm A. D. 1322 nói về bồ câu đưa thư ở Syria như một phương thức giao tiếp quen thuộc giữa lãnh chúa này với lãnh chúa khác.
[FN#431] Mohammed, người tuyên bố “Không có tu viện trong Al-Islam,” và về thực chất đã bãi bỏ tư tế, có ác cảm đặc biệt với kẻ cạo đầu (Ruhbán). Nhưng “Gens æterna in quâ nemo nascitur” (Pliny v. 17) vẫn xoay xở xuất hiện ngay trong Al-lslam, như Fakir, Dervish, Súfi, v.v. Về điều này sẽ nói thêm sau.
[FN#432] Tức là sự thánh thiện của bà ta sẽ tác động như một bùa mê.
[FN#433] Tập tục “hun khói đuổi ra” phổ biến giữa người Ả Rập: do đó cái gọi là “sự man rợ” của Marshal Pelissier. Công chúng thường quên rằng trong một chiến dịch, bổn phận đầu tiên của vị tướng là cứu người của mình bằng bất cứ thực hành nào mà luật chiến tranh công bằng không tuyệt đối cấm.
[FN#434] Tức là Mohammed, người hứa Thiên Đường và đe Địa Ngục.
[FN#435] Ả Rập. “Ahr” hay “ihr,” gian dâm hay ngoại tình, tức là vô đạo, bất tín như giữa người Hebrew (Isaiah xxiii.17).
[FN#436] Một dấu hiệu thất bại.
[FN#437] Trong tiếng Anh “last night”: tôi đã ghi rằng ngày Hồi giáo, như ngày Do Thái và Scandinavia, bắt đầu từ hoàng hôn; và “layl,” một đêm, thường được dùng để chỉ hai mươi bốn giờ giữa hoàng hôn và hoàng hôn, trong khi “yaum,” một ngày, trong nhiều trường hợp sẽ được chúng ta dịch là “ngày giao chiến.”
[FN#438] Lặp lại “Himalayan Brothers.”
[FN#439] Lại là Mohammed, người hứa Điều Tốt cho Người Tốt, và vice versâ.
[FN#440] Chúng là loại thơ tồi đáng buồn, như phần lớn các pièces d'occasion chèn vào The Nights.
[FN#441] Ở đây “Kahwah” (cà phê) được dùng theo nghĩa gốc là rượu cũ mạnh. Nguồn gốc là “Akhá” = fastidire fecit, gây chán ăn, Matambre (giết-đói) của người Iberia. Ngày xưa những người kỹ lưỡng gọi cà phê là “Kihwah” để phân biệt nó với “Kakwah,” rượu.
[FN#442] Tức là Mohammed, một tước hiệu thông thường.
[FN#443] Nghĩa là chí mạng đối với kẻ chế giễu và kẻ bất kính.
[FN#444] Tương đương câu “The Devil was sick,” v.v. của chúng ta.
[FN#445] Tức là đối với kẻ thù: người Da Đỏ Bắc Mỹ (gọi là vậy) dùng các dạng “lời nói đảo ngược” tương tự; và thổ dân Úc cũng chẳng thua gì họ.
[FN#446] Xem Tập i., tr. 154 (Đêm xvi.).
[FN#447] Ả Rập. “Sauf,” một tiểu từ chỉ tương lai gần, trong khi
“Sa-” chỉ một tương lai có thể rất xa.
[FN#448] Từ gốc “Shanh” = có con mắt mê hoặc, gây khiếp sợ. Người Ireland gọi kẻ mê hoặc là “eybitter” và nạn nhân (người cũng bị gieo vần tới chết) là “eybitten.”
[FN#449] Tức là không giống người sinh ra cao quý, mạnh mẽ chịu đựng áp lực chiến đấu.
[FN#450] Tức là của Abraham. Về Giếng Zemzem và Địa điểm của Abraham, xem Pilgrimage của tôi (iii. 171-175, v.v.), nơi tôi mô tả nước ấy có vị mặn-đắng, giống vị Epsom (iii. 203). Sir William Muir (trong tác phẩm xuất sắc về đời Mahomet, I. cclviii.) nhận xét rằng “hương vị của nước cũ đóng chai nhiều tháng không thể là tiêu chuẩn cho cùng nước ấy khi vừa múc lên;” nhưng các hộp thiếc hàn kín đầy nước múc trước đó hai tuần có thể mua ở Calcutta và nơi khác sau mùa Hành hương; và phân tích sẽ lập tức phát hiện muối.
[FN#451] Đua ngựa đã và vẫn là thú tiêu khiển ưa thích của những hippomanist, người Ả Rập; nhưng nó tương phản mạnh với hình thức văn minh của chúng ta, vì là cuộc thử sức bền hơn là tốc độ. Đấng Tiên tri được nói là đã giới hạn cá cược trong những lời này, “Sẽ không có cược trừ trên Kuff (chân lạc đà), Hafir (móng ngựa, lừa, v.v.) hay Nasal (đầu mũi tên hay đầu thương).”
[FN#452] Trong bản Mac. Edit. “Arman” = Armenia, đã xuất hiện trước đó. Tác giả hay người chép ở đây hiểu “Cæsarea” không phải Turris Stratonis cổ, thành của Herod đặt tên theo Augustus, mà là Cæsareia, thủ phủ Cappadocia (Pliny, vi. 3), nơi ngự trị vương giả trước đó gọi là Mazaca (Strabo).
[FN#453] Một thành ngữ nghĩa là “một kẻ rất ngu.”
[FN#454] Tức là Kána (đã là) má (điều mà) đã là (kána).
[FN#455] Một người con trai là “ngọn đèn của ngôi nhà tối.”
[FN#456] Khi dân Israel từ chối nhận Luật pháp (linh hồn của mọi Tiên tri, kể cả những người chưa sinh, đều hiện diện tại Giao ước), Allah nhổ bật ngọn núi (Sinai không được nhắc tới) tận gốc và lắc nó trên đầu họ để làm họ khiếp sợ, phán, “Hãy nhận Luật pháp mà chúng ta đã ban cho các ngươi với quyết tâm giữ nó” (Koran chaps. xlx. 170). Phần lớn câu chuyện này từ Talmud (Abodah Sar. 2, 2, Tract Sabbath, v.v.), từ đó Al-Islam vay mượn rất nhiều Do Thái giáo của nó, như nó lấy Cơ Đốc giáo từ Tân Ước Ngụy thư. Truyền thống này vẫn được dân Israel giữ, ông Rodwell nói (tr. 333), người quy nó cho một hiểu lầm Exod. xix. 17, được dịch đúng trong bản E. version “at the nether part of the mountain.”
[FN#457] Ả Rập. “Azghán” = kiệu lạc đà trong đó phụ nữ đi lại.
[FN#458] Tức là làm kẻ thù vui và bạn hữu kinh hoàng.
[FN#459] Mắt ông trở nên trắng (tức là mù) vì thương tiếc con trai Joseph (Koran, chaps. xii. 84). Ông lấy lại thị lực khi mặt ông được phủ bằng chiếc áo mà Gabriel đã trao cho chàng trai sau khi các anh em ném chàng xuống giếng.
[FN#460] “Vua Độc” (Ba Tư); hay “Vua Hoa” (Ả Rập).
[FN#461] Một ám chỉ tinh tế tới kích thước hông và phần sau của nàng, trong đó độ đầy đặn, như tôi đã nói, rất được ngưỡng mộ vì những lý do tốt nhất.
[FN#462] Mọi Tiên tri đều có một nghề thủ công, và nghề của David là làm áo giáp, mà ông phát minh, vì trước thời ông người ta dùng giáp tấm. Do đó “Allah làm mềm sắt cho ông” và trong tay ông nó trở nên như sáp (Koran xxi. xxxiv., v.v.). Vì thế một áo giáp tốt được gọi là “Davidean.” Tôi đã ghi nhận (First Footsteps, tr. 33 và nơi khác) sự tôn kính dành cho thợ rèn theo nguyên lý đã khiến Mulciber (Malik Kabir) thành một vị thần. Huyền thoại David phát minh giáp có thể phát sinh từ sự nghiệp chiến đấu đặc biệt của ông. Người Hồi giáo tôn kính Dáúd vì lòng sùng đạo phi thường của ông, và quan điểm này về tính cách ông chưa chấm dứt: một giáo sĩ hiện đại thích ông hơn “mọi nhân vật trong lịch sử.”
[FN#463] “Hãy đi đêm,” Đấng Tiên tri nói, “khi các tai họa của đất (bọ cạp, rắn, v.v.) không làm các ngươi khổ.” Tuy vậy hành quân đêm ở Ả Rập thật đáng ghét (Pilgrimage iii.).
[FN#464] Hình thức nghi lễ này gọi là “Istikbál” (đi ra chào) và được điều chỉnh bởi các luật lễ nghi nghiêm khắc nhất. Theo lệ, khoảng cách càng lớn (có thể tối thiểu là một bước) thì vinh dự càng cao. Người phương Đông vô cùng khinh miệt khách lạ không biết những yếu tố sinh tử này của lễ độ.
[FN#465] Tức là chàng sẽ là một Nimrod sa mạc và thú săn sẽ vui thích được chàng giết.
[FN#466] Điều này giúp giữ mắt trẻ nhỏ khỏi viêm.
[FN#467] Tức là Vương Miện của các Vua nơi Sự Ve Vuốt Ái Tình.
[FN#468] Lane (i. 531) dịch “lông tơ xám.” Người Ả Rập dùng
“Akhzar” (đúng ra “xanh”) trong nhiều nghĩa: tươi, sắc xám, v.v.
[FN#469] Ám chỉ các cờ đen nổi tiếng của nhà Abbas. Người Ba Tư mô tả việc lông mọc trên gương mặt trai trẻ đẹp bằng câu, “Má chàng để tang vì mất vẻ duyên của chúng.”
[FN#470] Ả Rập. “Káfir,” một từ Koranic nghĩa là Kẻ Không Tin, phân từ chủ động của Kufr = Bất tín, tức là bác bỏ sứ mệnh của Mohammed. Nó là lời xúc phạm và trong tiếng Thổ đã hạ cấp thành “Giaour.” Ở đây nó nghĩa là đen, như Hafiz xứ Shiraz gọi nốt ruồi trên má là “Hindu,” tức da sẫm và thờ ngẫu tượng.
[FN#471] Ám chỉ cuộc du hành của Moses (Koran chaps. xviii.) với Al-Khizr (“Tiên tri thường xanh”), người đã uống Suối Sự Sống và hưởng tuổi xuân tươi tốt, liên tục. Moses được trình bày như nhà tôn giáo ngoại tại và nông cạn; người của cái nhìn bên ngoài; Al-Khizr là người tinh thần và giác ngộ của nội kiến.
[FM#472] Linh miêu từng được dùng như sư tử ở Ai Cập cổ và báo Chita ở Ấn Độ: ngày nay tôi chưa từng thấy hay nghe nói về nó.
[FN#473] Ả Rập. “Sukúr,” từ đó ra “Saker” của chúng ta, chim ưng, không được nhầm với Falco Sacer cổ, Hy Lạp. . Nghề nuôi chim ưng, như mọi nghệ thuật, bắt đầu ở Ai Cập, là một chủ đề rộng khắp các xứ Hồi giáo. Tôi phải giới thiệu độc giả tới “Falconry in the Valley of the Indus” (Van Voorst, 1852) và một chú thích dài trong Pilgrimage iii. 71.
[FN#474] Dựng trại trong khoảng chó sủa tới được là thiếu kính trọng.
[FN#475] Người phương Đông đặt tầm quan trọng lớn vào sự mềm mại và trơn nhẵn của da, và họ có lý: một lớp biểu bì thô ráp làm hỏng cuộc vui với người đàn bà đẹp nhất.
[FN#476] Canticles vii. 8: Hosea xiv. 6.
[FN#477] Sức hút mê hồn của đồng loại với đồng loại.
[FN#478] Ả Rập. “Taswif” = nói “Sauf,” tôi sẽ làm sớm. Đó là một từ đẹp—về nguyên nghĩa.
[FN#479] Một ám chỉ rất gượng xa. Gương mặt người yêu hiện ra từ áo choàng không cài khuy là mặt trăng mọc trên trại trong lòng trũng (bat'há).
[FN#480] Ả Rập. “Kasabát” = “những cây sậy,” hạt dài, hạt ống.
[FN#481] Koran, xcvi. 5.
[FN#482] Cả hai từ (giống đực và giống cái) đều nghĩa là “yêu dấu, xuất sắc, rất quý.” Truyện này là dạng Ả Rập của “Patient Griselda” châu Âu và cho thấy một quan niệm cao hơn về lòng tận tụy nữ tính, vì Azizah, bất chấp việc khóc lóc mệt mỏi, là một cô gái thông minh cao, còn Aziz là một tên ngốc hư hỏng, yếu như nước và bướng như gió. Hiện tượng này (không hiếm trong đời) được giải thích bởi câu đối:—
Ta yêu tình yêu của ta với chữ S—
Vì chàng ngu ngốc và không trí tuệ.
Mối quyến luyến đằm thắm này của những người đàn bà thông minh đối với kẻ ngu chỉ có thể giải thích bằng luật dị biệt, vốn phần lớn chi phối những kết hợp tính dục trong các vấn đề thể chất; và sự xuất hiện của nó trong truyện đem lại nét mới lạ và điểm nhấn. Aziz chỉ có thể viện cớ sức mãnh liệt của đam mê, điều đã khiến chàng nổi bật như một kẻ biết yêu giữa đám đông đàn ông không thể yêu gì ngoài chính mình. Và chẳng ai có thể thương hại chàng vì đã mất một bộ phận mà chàng đã lạm dụng đến thế.
[FN#483] Ả Rập. “Sháhid,” ngón trỏ, ngón chỉ giơ lên để làm chứng: sự so sánh giữa tên phương Đông và phương Tây thật kỳ thú.
[FN#484] Xạ hương là một trong các hương thơm của Thiên Đường Hồi giáo; và “musky” rất thường được dùng trong thơ để chỉ sự thơm tho và màu nâu sẫm.
[FN#485] Ả Rập. “Mandíl”: các khăn này phần lớn có hình thuôn dài, hai cạnh ngắn được thêu vàng và lụa màu, thường có tua, còn hai cạnh kia để trơn.
[FN#486] Ả Rập. “Rayhání,” của Ocymum Basilicum hay húng quế thơm: một lối chữ viết thanh nhã, gọi vậy vì cây bút giống như một chiếc lá (?) Xem tập i. tr. 128. [Tập 1, chú thích 229 & 230]
[FN#487] Một thành ngữ nghĩa là “đã xảy ra điều gì đó bất thường.”
[FN#488] Một cử chỉ thường thấy trong đau buồn và hối tiếc: ở đây quý nương muốn cho thấy nàng thở dài vì khát khao được kết hợp với người yêu.
[FN#489] Lane (i. 608) có một chú thích giá trị về ngôn ngữ dấu hiệu, từ “Secretaire Turc” của M. du Vigneau, v.v. (Paris, 1688), Baron von Hammer-Purgstall (“Mines de ['Orient,” No. 1, Vienna, 1809) và “Comes du Cheykh El-Mohdy” của Marcel (Paris, 1833). Nó được thực hành ở châu Phi cũng như ở châu Á. Tại Abeokuta ở Yoruba, một người sẽ gửi một bức thư tượng trưng dưới dạng vỏ ốc cowry, hạt cọ và các nhân hạt khác xâu trên rơm lúa, và những trí óc sắc sảo liền giải được ý nghĩa. Một mẫu được đưa ở tr. 262 trong “Abbeokuta; or Sunrise within the Tropics” của Miss Tucker.
[FN#490] Ông Payne (ii. 227) dịch “Hawá al-'Urzí” là “tình yêu của Beni Udhra, một bộ lạc Ả Rập nổi tiếng vì đam mê và lòng tận tụy mà tình yêu được thực hành giữa họ.” Xem Đêm dclxxxiii. Tôi hiểu nó là “tình yêu có thể biện minh,” mà vì thiếu thuật ngữ tốt hơn, ở đây được dịch là “platonic.” Tuy nhiên, nó giống hơn với lối “bundling” cũ ở Wales và miền Bắc Anh; và cho phép mọi khoái lạc trừ một, những trò đùa tình mà người Pháp gọi là les plaisirs de la petite ode; một thuật ngữ mà người bạn già thân yêu Fred. Hankey của tôi dẫn từ la petite voie. Người Afghan biết nó dưới tên “Námzad-bází” hay trò chơi hứa hôn (Pilgrimage, ii. 56); người Abyssinia gọi là tình yêu bằng mắt; và người Kafir gọi là Slambuka a Shlabonka, về điều này xem nhà du hành Delegorgue.
[FN#491] “Turk” trong thơ Ả Rập và Ba Tư nghĩa là kẻ cướp bóc, tên cường đạo. Như Hafiz: “Agar án Turk-i-Shirázi ba-dast árad dil-i- márá,” Nếu người Shirazi ấy (ồ, kẻ Turk!) đoái hoài cầm lấy trái tim ta trong tay, v.v.
[FN#492] Ả Rập. “Názir,” một quản gia hay một con mắt (một “người nhìn”). Ý tưởng này mượn từ Al-Hariri (Assemblies, xiii.), và,—
[FN#493] Ả Rập. “Hájib,” một quan hầu phòng, một thị thần; cũng là lông mày. Xem Al-Hariri, ibid. xiii. và xxii.
[FN#494] Cử chỉ này tự nó đã nói rõ: đó là động tác của người thợ nhuộm nhuộm một tấm vải. Cửa hiệu “Sabbágh” thường là hốc nhỏ, mở ra đường và phô ra những chậu thuốc nhuộm khác nhau chìm xuống như “dog-laps” trong nền.
[FN#495] Ả Rập. “Sabt” (từ sabata, giữ Sabt) và Hebrew “Sabbath” đều nghĩa là ngày của Saturn, thứ Bảy, được chuyển bằng một quá trình không rõ khắp Cơ Đốc giới sang Chủ nhật. Sự thay đổi này là một trong những điều kỳ lạ nhất trong lịch sử tôn giáo. Nếu có một điều răn nào mạnh hơn mọi điều răn khác thì đó là “Giữ ngày thứ Bảy thánh.” Nó đã được giữ như vậy bởi Đấng Sáng lập Cơ Đốc giáo; mệnh lệnh ấy chưa bao giờ bị bãi bỏ, thế mà phần lớn Cơ Đốc nhân không biết rằng Sabbath, hay “Sawbath,” nghĩa là ngày của Saturn, “Shiyár” của người Ả Rập cổ. Và để hoàn tất sự hạ thấp của nó, “Sabbat” trong tiếng Pháp và tiếng Đức nghĩa là một criaillerie, một “trận om sòm,” một sự hỗn loạn, một lễ hội ghê tởm của Hexen (phù thủy). Sự phi lý quái dị này chỉ có thể giải thích bằng những sai lệch của lòng nhiệt thành giáo phái, của tinh thần phe phái trong tôn giáo.
[FN#496] Những người gọi tín đồ đến cầu nguyện. Người đầu tiên là Bilál, nô lệ Abyssinia được Abu Bakr mua và giải phóng. Tiếng gọi đơn giản của ông là “Ta làm chứng rằng không có Iláh (thần) nào ngoài Allah (Thượng Đế)! Hãy đến cầu nguyện!” Khalif Omar, với sự cho phép của Đấng Tiên tri, thêm vào, “Ta làm chứng rằng Mohammed là Sứ đồ của Allah.” Tiếng gọi cầu nguyện, đẹp đẽ và nhân bản, tương phản dễ chịu với tiếng chuông đồng chói tai, nay là
Allah là Toàn năng (hai lần).
Ta tuyên bố không có thần nào ngoài Allah (hai lần).
Hãy mau đến Cầu nguyện (Hayya=halumma).
Hãy mau đến Cứu rỗi (Faláh=thịnh vượng, Thiên Đường).
(“Hãy mau đến Khai trí,” một phần thêm của Shi'ah).
Cầu nguyện tốt hơn giấc ngủ (buổi sáng, cũng hai lần).
Không có thần nào ngoài Allah
Tiếng gọi cầu nguyện này được đặt lời tương tự nhưng phát âm và ngâm nga khác nhau khắp Al-Islam.
[FN#497] Tức là một chàng trai duyên dáng của Al-Hijaz, Thánh Địa Hồi giáo, nơi “các con trai” đòi hỏi đặc quyền riêng.
[FN#498] Ả Rập. “harf” = một chữ cái, như ta nói một âm tiết.
[FN#499] Nàng dùng giống đực “fatá,” để làm câu hỏi thêm bí ẩn.
[FN#500] Bồn phun nước thường được trang trí bằng một khảm thô bằng cẩm thạch đen và trắng với các nét điểm đỏ bằng đá hay gạch trong những hoa văn phức tạp.
[FN#501] Ả Rập. “Kubád” = shaddock (citrus decumana): quả cam khổng lồ mà Thuyền trưởng Shaddock mang từ Tây Ấn; đó là pompelmoose Anglo-Indian, thông tục pummelo. Vỏ ngâm trong rượu mạnh làm ra một thứ bitter tuyệt hảo. Các loài citronwort đến từ Ấn Độ, từ đó lan khắp miền nhiệt đới: chúng được đưa vào châu Âu lần đầu bởi người anh hùng Joam de Castro và trồng trong vườn của ông tại Cintra, nơi hậu duệ của chúng vẫn còn được thấy.
[FN#502] Ả Rập. “Bakláwah,” Thổ. “Baklává,” một loại bánh bột với hạnh nhân bóc vỏ giã nhỏ đặt giữa các lớp bột, nướng trong lò và cắt thành hình thoi. Nó vẫn còn phổ biến
[FN#503] Nỗi sợ chính đáng của nàng là cô gái trẻ kia có thể “khôn quá hóa dại” đối với gã anh em họ ngốc nghếch của nàng.
[FN#504] Lời nguyền chứa đầy ý nghĩa. Vào Ngày Phán Xét, người công chính sẽ sống lại với gương mặt rực sáng vinh quang: do đó có lời chúc, “Bayyaz' Allaho wajh-ak” (=Allah làm trắng gương mặt ngươi!). Nhưng kẻ ác sẽ hiện ra với mặt cháy đen và méo mó vì kinh hoàng (Koran xxiv.): vì thế “Cầu Thượng Đế làm đen trán ngươi!” Tôi có thể nhận xét rằng người phương Đông nguyền rủa, lời nguyền ở đâu cũng là ngôn ngữ của tính hủy diệt bị kích động; nhưng chỉ người phương Tây, chủ yếu là người Anh, mới swear, một thực hành hoàn toàn vô nghĩa. “Damn it” mà không chỉ rõ “it” là gì, nghe như lời của một đứa trẻ hư chỉ nóng lòng dùng một “từ xấu.” “Damn you!” thì khắp thế giới đều hiểu. Nó đã sinh ra “les goddams” ở Pháp, “Godámes” ở Brazil và “Gotáma” giữa người Somal ở Đông Phi, những kẻ học nó tại Aden,
[FN#505] Ả Rập. “Zardah,” thường là cơm nấu với nghệ tây và mật ong, từ Ba Tư. “Zard,” nghệ tây, vàng. Xem Đêm dcxii.
[FN#506] Thông tục gọi là “knuckle-bone,” về điều này tôi sẽ có đôi điều để nói.
[FN#507] Một mẩu gỗ dùng trong trò trẻ con gọi là “Táb,” giống trò tip-cat của chúng ta (Lane M. E. chaps. xvii.).
[FN#508] Ả Rập. “Balah,” quả chà là chưa chín, được xem là nhuận tràng và ăn khi trời nóng.
[FN#509] Lane (i. 611), trích Al-Kazwíní, ghi rằng hạt chà là được gọi là “Nawá” (tiểu “Nawáyah”), cũng nghĩa là xa cách, vắng mặt, chia lìa. Như vậy quý nương đe dọa từ bỏ người tình tham ăn và buồn ngủ của mình.
[FN#510] Vỏ đậu carob, ít thay đổi sau khi bị hái, là biểu tượng của sự kiên định.
[FN#511] Dirham này = 48 grains avoir.
[FN#512] Quả cân hẳn là tròn: còn “Hadíd” (=sắt) nghĩa là sắc hay xuyên thấu (Koran chaps. Vi]. 21). Lời “thề” kép được dùng để làm cho rất nghiêm trọng. Hơn nữa, sắt xua đuổi yêu ma: khi một vòi rồng hay quỷ cát (cũng gọi là Shaytán ở Ả Rập) đến gần, người ta chỉ ngón trỏ vào Jinn và nói, “Sắt đây, hỡi kẻ điềm gở!” Giữa người Ai Cập cổ, kim loại ấy bị xem là xui xẻo vì là xương của Typhon, 80 ở đây, có thể, ta có một trường hợp homeopathy sơ khai—similia similibus.
[FN#513] Có lẽ đã lên men thành một loại rượu. Quả nhạt vị (Unnáb) trông như một quả táo thu nhỏ, được dùng nhiều trong món hầm, v.v. Đó là quả (Nabak theo cổ ngữ Nabik) của Rhamnus Nabeca (hay Sidrat), cũng gọi là Zizyphus Jujuba, seu Spina Christi vì truyền thuyết cho rằng nó tạo thành vòng gai: trên thị trường Anh quả mận này gọi là Chinese Japonica. Tôi đã mô tả nó trong Pilgrimage ii. 205, và đã ghi nhận việc ngâm lá để rửa người chết (ibid. ii. 105): đây đặc biệt là công dụng của “Ber” ở Ấn Độ, nơi lá cây được mê tín xem là đặc biệt tinh khiết. Từ điển của chúng ta dịch “Sidr” là “Lote-tree”; và chẳng lạ gì những người tin vào văn Homeric cảm thấy mật họ nổi lên vì sự hiện thực hóa nghèo nàn như thế của huyền thoại huy hoàng. Các Homerid có lẽ ám chỉ Hashish hay Bhang.
[FN#514] Ả Rập. “Azrár”: cổ áo mở của Saub (“Tobe”) hay áo dài rộng là dấu hiệu. Khuy phương Đông cùng nguyên lý với khuy của chúng ta (cả hai đều thay chỗ fibula cổ điển); nhưng người Hồi giáo ưa một vòng móc (giống loại ta gắn “frogs”) và hoàn toàn không biết đến lỗ khuy.
[FN#515] Ám chỉ nghi thức đi vòng quanh Ngôi Nhà Thiêng tại Meccah: một sự bất kính đáng kể, xứng với Kneph-town (Canopus).
[FN#516] Hoa tai là dương vật và vòng chân là vương miện vinh quang của nó.
[FN#517] Tương đương “Alas! Alas!” của chúng ta, mà nhân tiện, chẳng ai bao giờ nói. “Awah,” như “Yauh,” nay là lời của phụ nữ dù được Al-Hariri dùng (Assembly of Basrah), và vì thế Al-awwáh = kẻ kêu vì đau buồn “Awáh.” Một dạng đối thoại ưa dùng là “Yehh” với âm bật hơi được nhấn mạnh, nhưng nó biểu thị kinh ngạc hơn là sầu khổ. Nó đi vào các sách du hành châu Âu.
[FN#518] Trong văn bản “làm vỡ túi mật nàng.”
[FN#519] Cái chết của Azizah được kể với nỗi thương cảm và sự giản dị thật Ả Rập: nó vẫn làm nước mắt rơi từ mắt người Badawi, và tôi chưa bao giờ đọc nó mà không thấy “nghẹn nơi cổ họng.”
[FN#520] Ả Rập. “Inshallah bukra!” một câu nói phổ biến khiến lữ khách kinh hãi.
[FN#521] Tôi đã giải thích “hoa Nu'uman” là anemone, trong tiếng Ả Rập Hy Lạp hóa là “Anúmiyá.” Ở đây chúng được rải trên mộ; thường hoa được trồng trong một luống đất nhỏ lõm vào mặt trên.
[FN#522] Ả Rập. “Barzakh,” nghĩa đen là một thanh chắn, một vách ngăn: trong Koran (chapts. xxiii. và xxxv.) là khoảng không hay nơi chốn giữa cái chết và sự phục sinh, nơi linh hồn được cất giữ. Nó tương ứng theo một kiểu nào đó với Hades cổ điển và Limbus (Limbo) của Cơ Đốc giới, ví dụ Limbus patrum, infantum, fatuorum. Nhưng không được nhầm nó với Al-A'aráf, Luyện ngục Hồi giáo.
[FN#523] Ả Rập. “Zukák al-Nakíb,” từ sau đã được giải thích là một thủ lĩnh, lãnh đạo, đầu mục.
[FN#524] Người Hồi giáo không bao giờ đứng vào những lúc như vậy, vì giọt nước tiểu bắn ra sẽ làm quần áo họ ô uế về nghi lễ: vì thế người kỹ lưỡng sẽ dùng gậy hay dao phá đất cứng trước mặt. Một người hành hương nào đó bị đồn là đã phạm lỗi này, điều hầu như không thể xảy ra trong y phục Hồi giáo. Một nhân vật cao cấp từng hỏi tôi có thật ông ta giết một người bắt gặp ông trong tư thế đứng hay không; và tôi ngạc nhiên nhận ra chuyện vu khống phi lý ấy đã hai mươi năm tuổi. Sau khi tiểu tiện, người Hồi giáo lau os penis bằng một đến ba mảnh đá, đất sét hoặc nắm đất, và phải làm Wuzu trước khi có thể cầu nguyện. Tournefort (Voyage au Levant iii. 335) kể một câu chuyện thú vị về một số Cơ Đốc nhân ở Constantinople rắc “Poivre-d'Inde” lên các viên đá trong một bức tường nơi người Hồi giáo thường cọ os penis để lau. Cũng tác giả ấy (ii. 336) tha thiết khuyên dịch chương Torcheculative của Rabelais (Lib i., chaps. 13) vì lợi ích của người Mohammedan.
[FN#525] Ả Rập. “Nuhás ahmar,” nghĩa đen là đồng đỏ.
[FN#526] Chén là phần ở giữa hai chân quý nương.
[FN#527] Chơi chữ trên “Sák” = bắp chân, hay chân, và “Sákí,” người dâng chén. Việc đi vòng (Tawáf) và chạy (Sa'i) ám chỉ nghi thức đi quanh Ka'abah, và chạy giữa Núi Safá và Marwah (Pilgrimage ii. 58, và iii. 343). Một người Hồi giáo sùng đạo sẽ xem ám chỉ này là hết sức bất kính.
[FN#528] Lane (i. 614) chưa bao giờ thấy một phụ nữ đội khăn như vậy khi đang deshabille. Nó hoặc được phủ trên đầu hoặc xoắn kiểu khăn quấn.
[FN#529] “Kasabah” dài khoảng hai fathoms theo thước dài, và đôi khi là 12 ½ feet; nhưng chiều dài đã bị giảm.
[FN#530] “Gậy và bóng,” hay hockey trên lưng ngựa (Polo) là một trong những trò chơi Ba Tư sớm nhất, như mọi bản minh họa của “Shahnámeh” của Firdausi cho thấy. Trò này được chơi với một Kurrah hay quả bóng nhỏ cầm tay và một gậy dài mảnh cong ở đầu, gọi trong tiếng Ba Tư là Chaugán và trong tiếng Ả Rập là Saulaján. Một nghĩa khác của từ được đưa trong Burhán-i-Káti do Vullers dịch (Lex. Persico-Latinum), một cây gậy bandy lớn có đầu cong, treo một quả cầu sắt, cũng gọi là Kaukabah (“morning-star” của chúng ta), và như chiếc ô, nó biểu thị các đại nhân trong triều. Cũng Kaukabah này đặc biệt làm nổi bật một trong các Marquesses of Waterford. Polo này tương ứng với folliculus, pallone, trò baloun (moyen âge) của châu Âu, nơi ngựa không phải là bạn đồng hành như thế của con người; và về nó các tác giả cổ đã hát:—
Folle decet pueros ludere, folle senes.
Ngày nay chúng ta nên đánh vần khác chữ “folle” của các bậc cao niên chơi bóng hay lawn-tennis.
[FN#531] “Dalíl” nghĩa là người dẫn đường; “Dalílah,” một phụ nữ dẫn lạc, một mụ mối. Xem Truyện Dalílah Xảo Quyệt, Đêm dcxcviii.
[FN#532] Tức là nàng là một tử đạo.
[FN#533] Ả Rập. “Ghashím,” một thuật ngữ bình dân và xúc phạm, “Johnny
Raw” của chúng ta. Cách dùng của nó được thấy trong Pilgrimage i. 110.
[FN#534] Người tắm trả tiền khi rời Hammam; tất cả đều vào mà không trả trước.
[FN#535] Tức là nàng bắt chàng thề trên gươm và trên Koran: đôi khi thêm một ổ bánh mì. Xem Lane (i. 615).
GIẤY PHÉP PROJECT GUTENBERG ĐẦY ĐỦ
VUI LÒNG ĐỌC PHẦN NÀY TRƯỚC KHI BẠN PHÂN PHỐI HOẶC SỬ DỤNG TÁC PHẨM NÀY
eBook này dành cho bất kỳ ai ở bất kỳ nơi nào tại Hoa Kỳ và hầu hết các nơi khác trên thế giới sử dụng miễn phí và hầu như không có hạn chế nào. Bạn có thể sao chép, cho đi hoặc tái sử dụng nó theo các điều khoản của Giấy phép Project Gutenberg đi kèm eBook này hoặc trực tuyến tại www.gutenberg.org. Nếu bạn không ở Hoa Kỳ, bạn sẽ phải kiểm tra luật của quốc gia nơi bạn cư trú trước khi sử dụng eBook này.